Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Pháp Đàm Nikāya - Quán Chiếu 5 Thủ Uẩn 2

2026-03-03 00:52:09
Pháp Đàm Nikāya - Quán Chiếu 5 Thủ Uẩn 2

Thích Minh Thành

Ngày 02 tháng 5 năm 2022

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Hướng nội tu hành PAGEREF _Toc104443832 \h 1

II. Như Lý Tác Ý PAGEREF _Toc104443833 \h 4

III. Thánh trí ngũ uẩn PAGEREF _Toc104443834 \h 7

I. Hướng nội tu hành

Bữa nay cũng là bữa cuối để chúng ta An cư kiết hạ, cho nên Minh Thành muốn để cho các vị có những câu hỏi, nghi vấn, khó khăn trong sự tu học, pháp học, pháp hành hay là trong sinh hoạt Thiền môn, mình có gì bị nội kết, buồn phiền hay là mình tu không có tiến bộ được. Những thắc mắc về pháp học, pháp hành có thể nêu lên để hỏi. Tất cả câu hỏi được tổng kết lại thành một buổi chia sẻ cho chúng ta. Hỏi kỹ để làm hành trang trong ba tháng An cư, biết pháp hành.

Hành trang để mình thực hành trong ba tháng An cư này, mình tu gì, cần gì để hành trì trong suốt ba tháng? Chưa ai hỏi câu này, vậy lấy câu này làm câu hỏi cuối cùng.

Chúng ta sẽ đi vào phần trọng tâm trước, câu này quan trọng. Hàng ngày, chúng ta sống trong những cảm thọ tham – sân – si, vô minh và bản ngã nhưng chúng ta không biết, trừ khi nào mình nhận diện được Ngũ uẩn. Chính vì vậy mà tại sao lớp học của chúng ta rất là nhiều lần, con thưa với các Cô, làm bài tập về nhận diện Ngũ uẩn. Tại vì nếu không nhận diện cái đó thì không biết gì về tu hết. Có tu thì chỉ tu sơ sơ ngoài hình thức, hình tướng bên ngoài. Những phước thiện của nhân, Thiên mà mình không thấy được bản chất thật sự của thân tâm đang như thế nào nếu không thấy được Ngũ uẩn. Tại vì thân tâm mình là Ngũ uẩn, mà bây giờ mình không thấy thì làm sao tu được. Ở đây trong nhà, con chia sẻ hết lòng cho các Cô, không biết mình còn duyên như thế này hay không.

Chúng ta nhìn sự tu hiện nay, tu trên cái gì? Khuya tụng thời, tối tụng thời, giỏi hơn là chiều tụng thời hoặc là lạy sám hối, đi làm từ thiện chỗ này chỗ kia, tổ chức những khóa tu. Tu như vậy thì chừng nào mình hết tham – sân – si. Mình tụng mà không dính dáng gì, thậm chí đọc mà không hiểu gì.

Một bộ phim đi coi mà người ta bỏ tiền rất là nhiều hoặc là một trận bóng đá giải quốc tế chẳng hạn. Khi đi coi người ta có phấn khởi, hồ hởi, nhảy dựng, vỗ tay, sung sướng hay khổ đau khi thắng bại không, người ta có rất nhiều cảm xúc. Khi mình tụng có cảm xúc như vậy không, những thời tu của mình có cảm xúc như vậy không? Phần lớn là đọc cho hết bài, tụng cho xong mà không có cảm xúc, không thấy thích thú, hân hoan, phấn khởi, đau đớn, xót xa trong giờ tu của mình.

Tại sao mình đi chơi, du lịch mà thích, nó có cảm xúc, đó là thọ.

Bây giờ, sự tu của mình nếu không nhận diện Ngũ uẩn thì sự tu đặt ở trên bề ngoài, hướng ngoại. Đức Thế Tôn, Thái tử Tất Đạt Đa đâu cần phải có chùa, Ngài bỏ lâu đài đi, sự nghiệp đời tu của mình đâu phải cái chùa. Mình xây lên được một ngôi chùa, được bổ nhiệm trụ trì là mừng hết cỡ, xung quanh lại chúc mừng, sao không ai chúc mừng người đó thành tựu Chánh Tri Kiến, giác ngộ, thấu rõ bản chất của thế gian là trống không trống rỗng, từ bỏ. Mình xem cho kỹ sự tu học, không khéo là đi ngược lại với đời sống của Đức Phật. Sự thành công của người tu bây giờ là cái gì? Mình đối chiếu lại với kinh, với đời sống của các bậc Thánh chứ không đối chiếu với phàm phu được; nếu tu như vậy, mình mãi mãi ở trong địa vị của phàm phu, làm sao đi ra khỏi năm Uẩn. Mình xuất gia bao nhiêu năm nay, tụng bao nhiêu lần, ngồi bao nhiêu thời rồi, tâm mình có nhàm chán với Sắc uẩn chưa, có thấy thân này là nhơ nhớp, bất tịnh, hôi tanh, bẩn thỉu, nhàm chán chưa. Tâm có hướng tới sự rời xa, nhàm chán cái thân này không, có nhìn thấy được cái khổ trong thân này, nhìn được tất cả những bệnh tật, bất an, lo lắng, sợ hãi, thân này là rừng tội lỗi chưa hay là mình yêu, thích, khoái, ái rồi say đắm thân này, muốn tô bồi, vun vén, tưới tẩm, trang sức, trang điểm cho nó. Đó là thước đo thứ nhất.

Chúng ta đã học, định nghĩa “sắc” là gì? Thân người, đồ vật, cảnh vật, Tứ đại là sắc. Giáo pháp của Đức Phật phải là hai chữ “ly tham” đối với sắc. Mình đi bao nhiêu năm nay tới đâu trên con đường đó, thậm chí mình còn mê cái sắc hơn lúc còn chưa đi tu nữa, mê chùa bự, đẹp, mê cảnh đẹp. Thành ra, chúng ta không nắm vững được Chánh kiến thì càng tu càng xa đích mà mình muốn đến. Cho nên, phải biết được Thánh pháp ấn của Đức Phật là ly tham đối với Ngũ uẩn.

Thành quả đạt đến của người tu là tâm của mình không còn tham muốn đối với sắc – thọ - tưởng – hành – thức, nhàm chán, từ bỏ, thoát ra. Thấy được vị ngọt, sự nguy hại của nó và thấy được sự xuất ly khỏi nó, đó là ba loại trí tuệ.

Vị ngọt của sắc – thọ - tưởng – hành – thức là những cái gì mà sắc thân này, cảnh vật, đồ đạc đem lại cho mình ham muốn, thích thú, khoan khoái, vui sướng. Vị ngọt này làm cho chúng sanh say đắm, đảo điên, khổ sầu. Trong tất cả tam giới từ loài người cho đến Chư Thiên đều say đắm trong vị ngọt của Ngũ uẩn, vị ngọt của những sắc tướng. Cho nên tại sao chúng ta lại quán bất tịnh, Tứ đại, 32 thể trược, 9 giai đoạn của một thây chết là để phá sự yêu thích trong sắc uẩn, sắc pháp, sắc tướng, trong hình hài thể xác đó.

Chúng ta đi theo tổng cương lĩnh của Thánh pháp để tu trong ba tháng An cư, chứ con không bám sát từng câu hỏi. Nếu như lúc nào mà tâm không nhìn thấy được 3 khía cạnh vô thường, khổ đau và trống rỗng, vô ngã của Ngũ uẩn thì lúc đó là si.

Bất cứ lúc nào mình không thấy được thân thể, cảm giác, suy nghĩ, nhận thức này là bất an, khổ đau, biến hoại, tan rã. Bất cứ lúc nào mình không thấy như vậy thì lúc đó là si mê, vô minh, không có ánh sáng. Con thưa các Cô, cây quạt này màu nâu tối mà bây giờ nhìn nó là màu trắng sáng vậy là mình sáng suốt hay tối tăm, thấy hay không thấy. Nó là màu tối đen mà mình nhìn ra nói màu trắng, có phải si mê, vô minh không sáng suốt không. Sắc – thọ - tưởng – hành – thức là vô thường, bất an, khổ đau, bệnh hoạn, ung nhọt, tai họa, biến hoại, biến đổi, hủy hoại, hoại diệt mà mình thấy nó là đẹp; mình ham thích, khoan khoái, nắm giữ, khao khát, say đắm trong đó, vậy mình là vô minh hay minh trí, đó là si.

Một ngày mình thấy được chân lý đó bao nhiêu giờ đồng hồ và bao nhiêu giờ không thấy chân lý đó. Ngay cả khi mình đang ngồi thiền có thấy chân lý đó hay không, hay chỉ nhìn thấy sách, chữ, trang giấy trắng mực đen, đọc xong rồi đi xuống. Giờ tu là giờ mình nhìn ra thực tướng của thân tâm, bản chất của đời sống này, mình cho nó thấm đẫm, thấm đượm, cho đi vào tim, gan, xương, tủy sự cái thật về đau khổ. Phải nhìn vào trong những cảm thọ thúc giục, chẳng hạn như ngồi thiền mới nửa tiếng mà trong này thúc giục kêu đi đi, đứng dậy, đi ngủ, đi ăn, bước ra cho nó khỏe, mình thấy đó là khổ. Dục là sự thúc giục này là khổ, không cho mình tu, nó muốn mình buông lung, phóng dật, mình phải nhìn thấy khổ thâm sâu như vậy, chứ không phải khổ chỉ nhìn những người nghèo, người bệnh, người chết. Mình thấy trong này những suy nghĩ, suy tưởng về tham muốn, tham vọng, tham lam, tham dục, ái dục, phải thấy suy nghĩ đó là khổ đau, bất an, hạ liệt, bẩn thỉu, thấp hèn, tồi bại cho ta, khi ta xuất gia rồi mà có những ý nghĩ của phàm phu. Những dục vọng, tham muốn sanh khởi trong tâm thì mình phải tác ý như vậy, những suy nghĩ này là khổ đau, tội lỗi, đem lại bất an, phá hủy sự nghiệp đạo hạnh tu hành suốt đời của mình.

Đó là Chánh Tri Kiến của mình, ở trong những suy nghĩ của mình, phải đọc được tất cả những suy nghĩ đó, có dục, ái trong đó không. Sau khi nhận diện được Ngũ uẩn rồi thì sẽ thấy được lậu hoặc – chính là những cái hoạt động ngấm ngầm ở trong cảm giác nghĩ tưởng của mình, những mê lầm ngấm ngầm hoạt động vô lượng, vô biên kiếp trong thân tâm, mà không thấy biết nó qua mặt mình nên gọi là lậu hoặc. Nó rỉ chảy trong đó, dẫn dắt, xâm chiếm, áp đảo, giết hại mình. Rồi những cảm giác bức xúc, bực bội, sân hận với huynh đệ, những cảm giác này là khổ, ngu, si mê, vô minh, nhiệt não, nóng bức, thiêu đốt, đốt cháy, hủy hoại hết tất cả những gì thiện lành, từ tâm của ta. Những cảm giác này là khổ, tội lỗi. Mình đánh đuổi những cảm giác đó ra. Ai nói một câu hay nhìn mình một ánh mắt gì đó thì về là trong này phừng phừng, phẫn nộ, sừng sộ lên, thì mình thấy một hình bóng ở trong tâm phẫn nộ, sừng sộ, sân hận như vậy; hình bóng bản ngã này là ác độc, rắn độc. Những suy nghĩ, cảm giác, hình bóng mà tôi, ta cho mình là hơn, phải, hay, khinh thường người khác, khen mình chê người, cống cao, ngã mạn, dương dương tự đắc, theo những hình ảnh đó mình chỉ vô trong tâm nói đó là rắn độc.

II. Như Lý Tác Ý

Mình phải tác ý thật là mạnh, nói với tâm mê của mình “người không muốn làm, muốn làm chó phải không, tối ngày sủa hoài vậy”. Tâm sân hận, hơn thua, câu mâu, thị phi, mình tác ý mạnh trong đó “này hỡi tâm mê, tâm ngu si, người không muốn làm, muốn làm chó phải không, tối ngày câu mâ, gặp ai cũng sủa phải không” thì mới đánh đuổi được những cảm giác nghĩ tưởng, sân si, bản ngã, hơn thua, ganh tỵ, ích kỷ, hẹp hòi, tật đố. Đó là trí tuệ để nhìn thấy tất cả những lậu hoặc, cảm giác, nghĩ tưởng, rác bẩn, cấu nhiễm, cấu uế đang xâm chiếm, áp đảo, chế ngự ở trong thân tâm của mình. Đó là sức mạnh của trí tuệ gọi là tuệ lực, sức mạnh của Chánh tư duy, như lý tác ý. Chúng ta thấy sự tu hành sâu sắc không. Nếu mình không đọc từng ý nghĩ, lắng nghe từng cảm thọ, không soi rõ từng hình bóng trong tâm, tư tưởng của mình thì làm sao tu. Mình chỉ chạy hình thức bên ngoài cho đẹp, làm mệt rồi quạo, sân hận. Cả cuộc đời tu của mình không được gì hết.

Bây giờ, mình nghĩ đi bên ngoài trang hoàng đẹp lộng lẫy rồi xong ba, bốn, bảy ngày cũng tàn tạ hết, phải thu dọn tàn dư để lại. Mình ăn món ăn ngon cùng cực nhất thế giới rồi đi vào một phòng đưa ra những thứ hôi thúi và bẩn thỉu.

Hôm qua, đường nước ở trong thất của Minh Thành bị hư, toa-lét bấm nước không có, hai ngày chịu trận mới thấy sự khủng khiếp, kinh hãi. Những cái của mình đưa ra ngoài mà không được tống khứ đi ngay lập tức thì ở đó chịu trận giống như là khủng bố. Những thứ trong người mình đưa ra, không phải của người khác, không có nước để dội, phân và nước tiểu dồn xuống dưới đó mình nhìn thôi là muốn ói. Nhưng sự thật đó mình không chấp nhận, vô minh và tham ái không chấp nhận, ai lại mà nói “sao thầy hôi thúi quá vậy”, nếu mà không có tu, không biết quán bất tịnh, không nhìn ra sự thật, “sao ngồi kế cô hôi quá, đi qua bên kia ngồi đi”, sân, giận không. Thấy chưa, mà đó là sự thật mình hôi thật mà cũng giận, vô minh, bản ngã, tham ái, chấp thủ. Đúng ra, người có tu “đúng rồi, dạ thưa cô, con thấy cái thân con còn thúi nữa chứ không dừng lại ở chỗ hôi, cho nên cô nói nhắc nhở vậy con tu là đúng”. Cảm ơn, chắp tay xá. Như vậy là bậc Hiền trí trong Phật giáo. Tu tới đó chưa, khoan hãy nói việc cao siêu, tu được vậy, người ta nói mình thúi, mình nói “dạ, con thấy còn hơn nữa”. Còn đây mới nói “chị hôi quá” là đùng đùng nổi giận lên, đó là si, vô minh, chấp ngã, tham ái, chấp thủ, không chấp nhận sự thật, sống với sự giả dối, lừa gạt.

Thành ra, si mê, vô minh là khủng khiếp lắm. Chúng ta không nhận diện Ngũ uẩn là không có biết.

Khi con nói với các cô là chúng ta nhận diện si ở con mắt, gương mặt thì đó chỉ là tướng thô phù, mà chúng ta đang tỉnh táo như vậy, thậm chí tính toán rất là sắc bén nhưng mà tính trong vô minh, ngu si. Chứ mình đừng tưởng đâu là thông minh, bén nhạy, lanh lợi như vậy là hay, càng tạo nghiệp nhiều nữa. Một khi mình không thành tựu Chánh trí, Chánh Tri Kiến thì tất cả suy tính của mình đều ở trong vô minh, nghiệp, chúng ta thấy dễ sợ không, mình tưởng đâu là thông minh nhưng mà mình là vô minh, càng suy tính nhiều, mưu sĩ nhiều chừng nào càng tạo nghiệp nhiều chừng đó. Tại vì suy tính của mình là suy tính gì, ở đâu; suy tính tham ở trong 5 uẩn này. Căn bản của bất thiện, gốc rễ của tội ác là tham – sân - si, gốc rễ của tất cả tội ác trên cuộc đời này mà chúng ta suy tính cho giỏi để giành phần về mình, hại người khác thì nhân quả khủng khiếp lắm. Cho nên làm sao chúng ta có được minh trí, thiền quán, phải nhớ thôi không có cách nào khác. Nếu không nhớ thì mở pháp lên nghe hoài để cho nhắc mình tác ý, cho nên tại sao Đức Thế Tôn gọi đệ tử của Ngài là Đa văn Thánh đệ tử.

Chữ “Thánh” chỉ Đức Phật, chữ “đệ tử” là chúng ta, mà cũng chưa được chánh thức là Thánh đệ tử, phải bốn đôi tám chúng hiền thánh từ hướng Dự lưu cho đến A-la-hán mới chánh thức gọi là Thánh đệ tử - đệ tử chân chính của Đức Phật. Còn chúng ta chưa xứng đáng gọi là đệ tử của Phật nữa, chưa có vào 4 đôi 8 chúng, chỉ trên danh nghĩa thôi, mình đừng có tưởng vỗ ngực, xưng tên nói “tôi là Tỷ-kheo ni, Tỷ-kheo tăng mà nói tôi không phải đệ tử của Phật”, bản ngã thôi. Nếu mà thực sự là đệ tử của Phật, Thánh đệ tử phải từ hướng Dự lưu cho đến A-la-hán. Hướng dự lưu là người hướng đi ra khỏi 5 uẩn, tịnh tính, lòng tin đối với Tam bảo đã đi đến chỗ rất là thâm sâu, tịnh tính, bất động tức là Nhập lưu Tu-đà-hoàn.

Chúng ta bây giờ có hướng đến sự rời xa 5 uẩn không, tâm hướng đến sự viễn ly, rời xa, nhàm chán, từ bỏ Ngũ uẩn. Cái tâm đó mới được coi là tâm của người tu, Thánh đệ tử. Chúng ta thấy những thứ vô thường này trục trặc hoài, trong trạng thái bất an, bại hoại, cho nên mình cũng cứ bình thản, cứ giữ tâm mình ở trong pháp.

Thành ra, hàng ngày, chúng ta sống trong vô minh thường xuyên. Nếu lúc nào không thấy 5 uẩn mà thấy một cái tôi thì lúc đó là vô minh, si mê, bản ngã. Một ngày mình thấy cái cục này là sắc uẩn được mấy lần, mỗi một ngày mình nhìn vào cảm giác kêu tên của nó là thọ uẩn được mấy lần. Mỗi một lần tâm của mình hiện lên những hình bóng kêu nó là tưởng uẩn được mấy lần, nhận diện được bao nhiêu lần. Những suy nghĩ lầm thầm trong tâm mình kêu nó là hành uẩn, không phải tôi, của tôi, tự ngã của tôi, nó chỉ là Ngũ uẩn thôi, được mấy lần.

Nhận diện Ngũ uẩn, quên mất là vĩnh viễn sống trong đây, vô lượng vô biên kiếp. Chúng ta thấy dễ sợ không, chỉ cho bí kíp, Chánh pháp mà không chịu nỗ lực, ghi nhớ, thực tập.

Cho nên khi nào mà chúng ta nhìn thấy trong đây là sắc – thọ - tưởng – hành – thức thì lúc đó phá một phần vô minh, còn chỉ thấy cái tôi thôi thì lúc đó toàn diện vô minh. Tại vì có một cái tôi ở đây rồi thì tham – sân - si sẽ sanh khởi, không có cái tôi thì tham – sân - si sẽ từ từ lắng dịu, bản ngã tan biến dần dần, nhiếp phục chế ngự từ từ. Khi mình thấy được đây là sắc – thọ - tưởng – hành – thức thì đâu có cái tôi; nhưng để cho thấy được cái này là cả một công phu.

Bởi vì bây giờ Ngũ uẩn này là 5 Thủ uẩn dính chùm lại như vậy, suốt ngày đêm, suốt năm tháng, suốt đời suốt kiếp, nhiều đời nhiều kiếp, vô lượng vô biên kiếp. 5 Thủ uẩn làm sao để thoát ra nếu mình không biết nó, là chính nó, bản chất của nó. Chỗ này sâu sắc, lấy cái này làm bí kíp để về tu 3 tháng An cư, chứng Dự lưu thánh quả, tối thiểu cũng hướng Dự lưu làm bậc Thánh đệ tử - đệ tử của bậc Thánh.

Mình có nghĩ rằng học chút xíu đi về kiếm gì ăn không, “một hồi tôi đi về tôi kiếm gì tôi ăn”. Trong suy nghĩ của mình thì hình bóng lờ mờ của tự thân hiện ra, đó là tưởng uẩn, cũng là thân kiến - kiến chấp về thân. Tại sao chúng ta nghe tiếng chuông vẫn yên lặng, nếu bình thường khi nghe tiếng chuông thì trong đây nó rạo rực mà bây giờ vẫn an tịnh, lắng dịu, bình thường. Đó là sự biết và không biết tức là vô minh và minh trí, y chang vậy. Khi một vị thành tựu rồi, quán chiếu thấy rõ Ngũ uẩn rồi thì tiếng chuông giống như tiếng chửi vậy. Ngày bình thường nghe tiếng chuông là mình rạo rực, tham, còn khi nghe tiếng chửi thì mình sân. Một người đã hiểu tiếng chuông này là mình không dính dáng gì thì người đó không có tham sân, bình thản, an tịnh, lắng dịu. Tại sao bình thường chưa tới giờ còn 5 phút nữa là “nhón nhón”, nghe tiếng chuông là mình ngồi không yên. Bữa nay mình nghe chuông ra, mình cứ ngồi bình thản an nhiên, bất động, mình biết hiểu nó không dính dáng gì tới mình hết.

III. Thánh trí ngũ uẩn

Cũng vậy, mình nhận 5 uẩn này là mình, suy nghĩ gì cũng suy nghĩ ở trong đây, cảm giác gì cũng cảm giác ở trong đây, mình tưởng gì cũng tưởng ở trong đây, nhận thức gì cũng nhận thức ở trong đây. 

Đức Phật ví dụ con chó bị cột ở trong cây cột bởi một sợi dây thừng thì nó có đi đâu cũng xoay quanh cây cột đó, có nằm thì cũng gần với cây cột và sợi dây đó, nó ăn ngủ hay làm gì cũng chạy lòng vòng cây cột đó, không đi khỏi cây cột và sợi dây đó. Chúng sanh cũng vậy, có làm gì, nghĩ gì, nói gì, nhận thức gì cũng ở nơi trong Ngũ uẩn, chứ không ra khỏi Ngũ uẩn.

Bây giờ, có tiếng hát karaoke kế bên hát lớn lên, bên đây cự qua cự lại rồi lấy dao đâm chết, không có chuyện gì đáng hết. Tiền gửi xe có mấy đồng bạc, nói qua nói lại, giành qua giành lại rồi xảy ra án mạng. Mấy cái đó có ra khỏi này đâu. Mấy tờ tiền, miếng đất là sắc uẩn; cảm giác sân hận, tức giận lên là thọ uẩn. Cứ như vậy, sanh sanh tử tử, tử tử sanh sanh hoài không đi ra khỏi 5 Thủ uẩn này. Cho nên hôm nay tiếp tục quán 5 Thủ Uẩn phần 2, hôm trước chúng ta có một buổi quán 5 Thủ Uẩn phần 1.

Tất cả sự tu hành của mình là chỗ này đây, mình phải quán. Chữ “Thủ” này chết người, nắm giữ tôi, của tôi, tự ngã của tôi. Bây giờ có một người đứng bên kia chửi một cô tên Ổi, chửi bằng không còn một từ gì để nói hết trơn, mình ngồi kế bên nghe thấy không dính dáng gì tới mình hết, nhưng mà chửi trúng tên mình thì lúc đó mình ở trong này, sự chấp thủ, tôi ta ở trong này, rồi nó sanh ra tham – sân - si, bản ngã. 

Bây giờ, bước đầu tiên chúng ta phải nhận ra được đây là 5 nhóm chứ không phải một cái tôi. Phải thường xuyên, ở đâu cũng nhận diện Ngũ uẩn, khi đi, ăn cơm, nói chuyện, tụng kinh, ngồi thiền, lúc nào cũng nhìn coi 5 nhóm đó đang như thế nào, không có cái tôi trong đó, lúc đó dần dần mình mới phá được chấp ngã, vô minh, tâm si mê. Từ ở trong Ngũ uẩn, khi mình nhìn nhận ra Ngũ uẩn thì bước tiếp theo là nhận ra được lậu hoặc.

Bồ Tát Tất - Đạt - Đa khi ngồi dưới cội Bồ đề, Ngài chứng 4 Thánh trí về Ngũ uẩn và 4 Thánh trí về lậu hoặc. Sau đó, Ngài mới thành tựu vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

Đầu tiên là Ngài nhìn ra được 5 tổ hợp này, kế đó từ trong 5 tổ hợp Ngài nhìn ra được các mê lầm, ngấm ngầm vận hành, hoạt động, dẫn dắt, xâm chiếm, áp đảo ở trong 5 uẩn này. Nhìn ra được những cảm giác thúc giục, khao khát, thèm muốn, cảm giác bực bội, sân hận, cảm giác si ám, vô minh, cảm giác tôi ta, hơn thua, tranh giành của bản ngã. Ngài nhìn thấy hết tất cả những cái đó, từ cái thô đi đến những cái tế, vi tế nhỏ nhiệm mà những cái vi tế, nhỏ nhiệm này luôn qua mặt chúng ta, không thấy ra được, trừ khi nào nhận ra được Ngũ uẩn thì lúc đó mới thấy được lậu; hoặc giống như mình bước vô căn phòng rồi thì mới thấy được giảng đường, bàn ghế và những con người ngồi trong đây, dơ chỗ nào, rác ở đâu, trong xó, kẹt nào có con chuột, gián chết hay có rác như chai nước suối, chai nhựa, bao ni-lông…nếu đứng ở ngoài thì không thấy được.

Sau khi nhìn ra Ngũ uẩn thì tiếp theo là thấy được lậu hoặc, sau khi thấy được thì phải gia công dụng hạnh, tinh cần, tinh tấn để mà tu tập, tẩy sạch, giống như mình nhìn ra được căn nhà dơ bẩn, hôi thối như vậy mà mình đi đâu hai ba chục năm rồi về, thấy như vậy thì phải tổng vệ sinh, hốt dọn, quét, chùi rửa, lau… tiếp theo đó là tẩy sạch công tác vệ sinh. Khi thấy được những cái này một cách thấu đáo là bắt đầu đã thành tựu Chánh Tri Kiến, nhập lưu Thánh quả, thấy được các lậu hoặc, cấu nhiễm của tâm mình. Còn người bình thường phàm phu sẽ không thấy, tu càng ngày bản ngã càng lớn theo năm tháng, hình tướng, thời gian, chức vụ. Còn nếu tu đúng thì càng ngày người này càng thấy tâm mình dơ bẩn, cấu uế, lậu hoặc.

Đó là nói đây là tổng cương lĩnh của Kinh tạng Nikāya, là cách tu hành trong 3 tháng An cư, và khi chúng ta về An cư thì chúng ta nên nghe pháp thường xuyên. Hồi nãy, Minh Thành có nói tại sao gọi là Đa văn Thánh đệ tử. Vì nếu như mình không có nghe pháp thì lúc đó tâm của mình sẽ vào trạng thái này. Pháp nhắc nhở tác ý giúp cho mình nhớ Ngũ uẩn, vô thường, khổ đau, bất tịnh, bất an, vô ngã, tai họa; nhắc tới lúc không còn nghe nữa mà vẫn nhớ thì lúc đó mình trở thành Chánh niệm tỉnh giác, trí tuệ. Mà mình còn quên là phải còn nghe, tư duy, quán chiếu, thiền quán. Những bài thiền quán là Minh Thành đã đưa lên mạng rất là nhiều, chúng ta về chịu khó nghe cho nó thâm nhập không bao giờ quên nữa.

Chữ “liễu tri” này tạm chia làm 2 nghĩa. Một là nghĩa thông thường của văn tự, là biết rõ. Trong quyển Luật của mình hay dịch câu “như thế mà suốt biết”, chữ nghĩa của chữ này là biết rồi, biết rõ, biết tường tận, biết trọn vẹn. Còn lý của nó trong kinh Nikāya, chữ “liễu tri” là cái biết của trí tuệ. Trong kinh Nikāya, Đức Phật nêu mấy loại biết: Tưởng tri, thức tri và tuệ tri - liễu tri. Liễu tri là biết bằng trí tuệ, một cách thấu đáo, đầy đủ, trọn vẹn, tường tận, rốt ráo, bằng Thánh Trí tuệ. Chứ không phải biết thông thường. Tưởng tri là biết bằng tưởng tượng, cái biết này thường sai lắm cho nên mình mới nói “Ủa, tôi tưởng như vậy sao giờ lại như vậy”, chuyện không đúng với điều mình suy nghĩ, biết. Thức tri là những cái biết do kiến thức đem lại, do thấy, nghe, học hỏi, kinh nghiệm. Còn tuệ tri hay liễu tri là biết bằng trí tuệ do Đức Thế Tôn chứng ngộ, mình học được cái đó và đi theo lời chứng ngộ, quán chiếu, thấy biết đúng như vậy thì mới gọi là liễu tri. 

Ví dụ, Đức Phật nói thân này là 32 thể trược, nhơ nhớp, bất tịnh, y theo đó mình quán chiếu, nhìn, ngắm, suy tư, nghiền ngẫm, thâm nhập và cuối cùng, mình thấy biết đúng như vậy thì lúc đó là chứng nhập bằng trí tuệ, tuệ tri, liễu tri, thắng tri; là những từ trong kinh Nikāya nhưng mà cũng có nghĩa chung là biết đúng như sự thật của nó bằng trí huệ của bậc Thánh.

Trong kinh Nikāya không dùng từ “trung ấm” mà là “hương ấm” để chỉ cho một người chết rồi. Có một câu chuyện trong Tương Ưng Uẩn là một thầy Tỷ-kheo này khi nhập diệt, qua đời thì Đức Thế Tôn cùng các bậc Thánh, các Tỷ-kheo đi tới thì thầy này đã qua đời rồi. Đức Phật hỏi các Tỷ-kheo rằng các ông có thấy làn khói đen bay qua bay lại xung quanh thân Tỷ-kheo đó không, các thầy Tỷ-kheo nói rằng có. Đức Thế Tôn mới nói luồng khói đen đó là ác ma tìm “thức” của Tỷ-kheo đó. Nhưng mà Tỷ-kheo chứng Thánh quả A-la-hán cho nên tìm không được, tức là nhập Niết bàn, vượt ra khỏi Ngũ uẩn, không còn trong sắc – thọ - tưởng – hành – thức, từ bỏ và trở về cái tâm bất động giải thoát.

Đời sống của chúng ta là xung quanh sắc – thọ - tưởng – hành – thức này thôi, say đắm, khao khát, si mê, điên đảo, cuồng dại, điên loạn, ăn nhau, nuốt, chém, giết, hại, giành giật, chiến tranh nhau ở trong này. Đức Phật và các bậc Thánh nhìn cái này là ung nhọt, ghẻ lở, hố than hừng, đống phân; nhìn trong Ngũ uẩn này là mũi tên, rắn độc, khổ đau, bất an, sợ hãi, tai họa, hiểm họa, khổ nạn. Các bậc Thánh không ưa, thích, không hoan hỷ đối với 5 uẩn. Các Ngài muốn rời xa, thoát ra khỏi 5 uẩn còn chúng sanh là đam mê, say đắm, khao khát, thèm muốn, chém giết, giành giật, ăn nuốt với nhau ở trong này. Các bậc Thánh là đi ra khỏi.

Cho nên chúng ta thấy xác thân của mình chết rồi nhưng mà còn lại những cái vi tế, những thọ - tưởng – hành – thức đó cũng là động lực đẩy mình đi ra đời sau. Những cảm giác nghĩ tưởng trong tâm, nhận thức. Hình bóng trong tâm không có ai ngồi kế bên thấy được nhưng mà có cái tưởng của mình, cảm giác, suy nghĩ cũng vậy; mà các bậc Thánh nhìn thấy được thọ - tưởng – hành – thức của mình, vì các Ngài đã vượt qua tất cả các chướng ngại, chấp thủ trong đây rồi cho nên tự tại với tất cả Ngũ uẩn.

Chúng ta đang nói vấn đề giành giật, đâm chém, ăn tươi, nuốt sống, sát hại lẫn nhau thì mình đưa qua phần nghiệp này. Vì không biết được bản chất của Ngũ uẩn là vô thường, đau khổ, trống rỗng cho nên người ta giết hại, đâm chém, giành giật lẫn nhau tạo ra biết bao nhiêu ác nghiệp. Một suy nghĩ thôi cũng muốn hơn người khác mới được, một câu nói cũng phải lấn lướt người ta mới được. Ví dụ như huynh đệ với nhau mình xưng “con” cũng thấy khó chịu, “tại sao phải xưng con với bà đó”. Bản ngã không cho mình hiền thiện, khiêm hạ, cúi xuống mà lúc nào cũng cao lên ngọn cờ ngã mạn, hơn thua, từng ánh mắt, cử chỉ. Ví dụ như đang nói quăng đôi đũa, chén, tô… nghe “rổn” vậy. Thấy không? Đó là từng cử chỉ của nó, hơn thua, ta đây, giành phần thắng, phần hơn tạo ra những ác nghiệp.

Có khi một câu nói, hành động thôi nhưng để lại trong lòng đối phương một cảm giác suốt cuộc đời đau khổ, có khi tạt axit vào người thương tích 50 - 70%, không dám nhìn ai hết thành dị hình dị dạng. Một hành động thôi làm người ta đau khổ suốt đời, suốt kiếp và người làm cũng hối hận cho đến chết, tạo ra bao nhiêu thứ nghiệp vì không biết, không thấy được Ngũ uẩn. Nhiều nghiệp, vô số, vô lượng, vô biên những nghiệp sai biệt, từ những nghiệp đó dẫn dắt đi làm cô hồn, thú vật, làm con nhỏ nhỏ đi chích hút máu người ta. Sanh ra thân làm con gặp ai cũng sủa, nhào ra táp người ta. Vô lượng vô biên kiếp, mình từng làm những con đó rồi.

Thành ra, chúng ta thấy có những con người mà chất nghiệp tập khí, thói quen, nghiệp cũ quá khứ chưa hết. Họ sinh ra thân người nhưng mà có nguyên một cái bớt có lông con heo y chang vậy đó. Thậm chí, có những người sanh ra mình thấy giống như cọp, beo là chất thú trong người đó chưa có hết. Khủng khiếp không, có những người mình nhìn thấy là run sợ, khiếp sợ vì họ chất chứa những cảm thọ hung hăng, hung dữ, hung tàn, hung bạo, hung tợn, hung hãn, ác độc, tạo ra những cái nghiệp.

Rồi có những người như tiên giáng phàm, chất tiên còn trong đó, chất hiền, thiện, lành chưa có hết. Phước từ trên xuống, có từ dưới lên, còn mình thì thuộc hạng nào. Những nghiệp tàn dư còn sót lại ở đời trước còn tích tụ trên thân, có những người hiền khô, vô cùng hiền, ai nói gì như cục bột mà có người hung dữ, kinh sợ, kinh hãi, tu rồi mà còn dữ dằn. Có người những tập khí rất sắc bén nhanh nhạy; có người thì đơ đơ, ví dụ kêu từ đằng kia đi lại đi đỡ đẻ mà tới thì người ta thôi nôi, đầy tháng rồi. Có người nhanh nhẹn, nói một cái là có mặt liền. Tất cả là tập khí, cảm thọ của họ quân tập quen như vậy. Bây giờ, mình tu thì điều chỉnh các cảm thọ đó lại theo hướng của trí tuệ, nó đòi hỏi một nghị lực hết sức kiên cường, kiên trì, kiên định, kiên cố dữ lắm mới được, không đơn giản. Có những tập khí náo động như con khỉ, ngồi không yên mà tu rồi, chân cẳng tréo nguẩy lên, nhịp đùi, ngứa gãi, quay chỗ này chỗ kia, cốt khỉ, ngồi thiền không được. 

Tất cả, mình cần phải nhận diện Ngũ uẩn coi dòng cảm thọ, quán chiếu thân hành của mình, niệm oai nghi hành động rồi mới chế ngự, nhiếp phục từ từ mới tu được. Phải nhìn ra được từng chút những cái nhỏ nhiệm, vi tế trong tập khí, thói quen, tánh tình, các cảm thọ nghĩ tưởng của mình rồi chế ngự, nhiếp phục lần lần, quán chiếu, điều chỉnh, sửa chỉnh, tu chỉnh, chấn chỉnh, chỉnh lý. Đó là sự tu của mình, chứ không phải tu là đọc cho hết bài, tụng cho xong thời, đó là nghi thức, hình thức thôi. Nhìn sâu vào bên trong, những cảm giác nghĩ tưởng, tập tính, thói quen, nghiệp của mình; phát giác, phát hiện ra, chế ngự, nhiếp phục, phòng hộ, bảo vệ, điều chỉnh, chỉnh lý, tu sửa, tu chỉnh, chấn chỉnh, xử lý nó và đưa ra những phương pháp tác chiến, chiến lược để đánh từng tên giặc bên trong con người của mình. Giặc phiền não ở bên trong. Chúng ta thấy có nhiều giặc bên trong không, bao nhiêu.

Những cách ngồi thiền thì Minh Thành đã có hướng dẫn ở trên trang web Linh Quy Pháp Ấn, chúng ta coi “Nhập thất chia sẻ số 1” khoảng 20 phút, mở lên và ngồi theo, thực hành ba pháp. Cái này Minh Thành hướng dẫn cho chúng ta rất nhiều lần mỗi khi vào buổi học. Rõ biết ở trước mặt, cảm giác toàn thân và nội tâm tỉnh giác. Minh Thành chia sẽ rất là nhiều ở trên trang Linh Quy, chúng ta vào đó tìm bài chỉ cách ngồi thiền “thiền cho người mới bắt đầu”, “thực hành ba pháp”.

Trong sự tu học, chúng ta phải cố gắng nỗ lực nhiều chứ không phải xưa bày nay làm, ta sao mình vậy, đời tu của mình không đi đến đâu. Phải tha thiết đối với sự nghiệp tu hành của mình, nhiệt tâm, năng động, chủ động, suy tư, tầm cầu, tìm kiếm, khắc khoải ở trong lòng làm sao để cho mình mau, nhanh, tiến lẹ trong đời sống đạo hạnh, không chấp nhận những gì đang có mặt ở hiện tại. Đối với thức ăn, chỗ ở, tiện nghi thì mình chấp nhận nhưng đối với nội tâm đầy dãy tham – sân - si, bản ngã của chúng ta thì không chấp nhận. Chúng ta nhớ ít muốn và biết đủ đối với vật chất bên ngoài nhưng đối với pháp là có “tứ như ý túc” là phải dục, muốn chứ không phải tu là không muốn gì nữa, dục như ý túc, tinh tấn như ý túc, tâm như ý túc và tư duy như ý túc. Đây là 4 yếu tố, chìa khóa vàng mở ra cánh cửa thành công siêu phàm nhập Thánh cho người xuất gia và tất cả người cư sĩ tại gia; muốn tu của mình phải mạnh mẽ, phải đủ, mạnh, lớn làm một sức mạnh đẩy mình đi về phía trước thì sanh khởi ra tinh tấn như ý túc. Vì cái muốn đó mạnh nên phải thực hiện cái muốn đó thì gọi là tinh tấn như ý túc.

Không phải chỉ muốn ngồi thiền, đọc kinh Nikāya mà phải đọc, phải ngồi, cái muốn đó không đủ thì không thực hiện, cố gắng. Cho nên cái muốn đầy đủ thì nó thực hiện, cố gắng, nỗ lực, nhiệt tâm, tinh cần, tinh tấn; làm sức mạnh đẩy mình tới chỗ nỗ lực thực hiện. Khi thực hiện mình để tâm vào sự tu, sự học, từng chút từng chút, mỗi một cái nhỏ nhiệm, tập khí, thói quen, tính tình, tham – sân - si, bản ngã, tật xấu, khuyết điểm của mình. Để chế ngự, nhiếp phục, diệt tận, tẩy sạch nó một cách hoàn toàn. Như vậy, mình mới suy nghĩ bằng cách nào làm cho bằng được, mau, nhanh, lẹ đi đến thành công. Đó gọi là tư duy như ý túc.

Từ cái muốn tạo sức mạnh cho mình nỗ lực, trong khi nỗ lực không phải nhắm mắt làm càn mà phải để tâm trong sự tinh tấn đó, sau đó mình phải suy tư, suy nghĩ, tư duy làm thế nào để thành công một cách mau nhất, nhanh nhất, đầy đủ nhất, trọn vẹn viên mãn nhất thì đó là chìa khóa thành công của tất cả Thánh phàm. Đó là tứ như ý túc.

Cho nên trong ba tháng An cư, con mong các Cô phải thành tựu được hướng Dự lưu, tâm của mình hướng đến sự rời xa, viễn ly, nhàm chán, từ bỏ đối với Ngũ uẩn. Phải có cái tâm đó, khởi lên tâm đó mới được, quán chiếu Ngũ uẩn này là ung nhọt, vô thường, bất an, bệnh hoạn, đau khổ, lo lắng, sợ hãi, tai nạn, hiểm họa, khổ nạn, ách nạn, nguy nan, tội lỗi, ác nghiệp, mũi tên, rắn độc, hố than hừng, kẻ giết người; là cái mối cho người ta tranh giành, giành giật, xâu xé, đống lửa, đống khổ to lớn, đại khổ uẩn, không có gì vui sướng trong Ngũ uẩn này. Nhìn sâu, nhìn cho tận tường thì mình sẽ thấy có cái gì khổ cái nấy, có nhiều khổ nhiều, có ít khổ ít, có vừa khổ vừa, không có thì mới không khổ, tức là không có ở đây không phải là không có cái gì mà có cái tôi, không có ở đây là không có Ngũ uẩn luôn, vượt ra khỏi Ngũ uẩn thì mới hết khổ. Hễ còn cảm giác thì thế nào cũng tham – sân - si, vượt ra khỏi Ngũ uẩn mới thực sự là cứu cánh Niết bàn, an lạc tối thượng. Muốn thành tựu thấy, biết như vậy là cả một sự pháp học, pháp hành của mình, nỗ lực, cố gắng nhiều lắm, thiết tha dữ lắm chứ không phải lơ tơ mơ, tu chơi chơi chờ ngày qua đời. 

Làm sao chúng ta biết được. Hôm trước, con có nói “tối thắng tuệ pháp quán”, chúng ta phải quán là chiều nay đi về có thể không đến chùa, tối nay lên giường mình nằm ngủ có thể ngày mai không thức dậy được, bước lên máy bay có khả năng không còn trở lại chùa. Lúc nào cũng đặt mình vào những trường hợp vô thường, sanh tử như vậy. Bất cứ lúc nào, mình ăn miếng ăn có thể có những hóa chất, chất độc ăn vô có thể bị ung thư, không ham thích khoan khoái trong cái ăn. Tất cả mọi cái phải quán chiếu như vậy, sự nguy hiểm, nguy hại, bất an, khổ đau ở trong đó; từng cảm giác, suy nghĩ, hình bóng, nhận thức. 

Ví dụ như mình nghe người đó nói tin vỉa hè thì bực bội lên; bực bội, nghe này là khổ đau. Nếu không có nghe thì không khởi lên sân si, tại nhĩ xúc này mới nghe thôi là bực bội, khó chịu, ăn ngủ không được rồi. Lỗ tai khổ, âm thanh này khổ, sự tiếp xúc âm thanh với lỗ tai là khổ, những cảm thọ sanh lên là khổ, dày vò mình, tất cả là một đống khổ. Nhàm chán, không giận người nói đó mà nhàm chán chính lỗ tai, nghe, nhĩ thức của mình, những cảm xúc này; để mình thoát ra, viễn ly, xuất ly, xả ly ra. Tu như vậy đó, phá hết tất cả sáu căn, sáu trần, sáu xúc, sáu thức, sáu thọ, sáu ái, sáu tưởng, sáu tư, sáu tầm, sáu tướng; phá vỡ hết các pháp bằng Thánh Trí Tuệ. Trong Thánh Trí Huệ không có bất cứ một pháp nào có thể đứng vững trong đó, bị phá sập, phá đỗ hết thì mới đưa đến tâm bất động, giải thoát của người xuất gia.

Kính chúc tất cả các Cô trong ba tháng An cư này tăng thượng giới học, đức hạnh, tăng thượng tâm học, thiền định, tăng thượng tuệ học trí tuệ quán chiếu thiền quán, tăng thượng giải thoát Thánh uẩn, tăng thượng giải thoát tri kiến Thánh uẩn. Sau ba tháng An cư có chân đứng trong pháp và luật của Như Lai.

Tâm thương này tỏa rộng, cùng khắp thế giới này. Tâm thương này tỏa rộng, khắp trời đất bao la. Tâm thương này tỏa rộng, khắp trời đất bao la. Tâm thương này tỏa rộng, khắp trời đất bao la.