Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Dự Lưu 1 - Thống Lãnh Địa Cầu Không Bằng 1-16 Quả Dự Lưu-Phá Thân Kiến- Kinh Sáu Sáu-Trung Bộ

2026-03-03 00:54:08
Nikāya Dự Lưu 1

Thống Lãnh Địa Cầu Không Bằng 1/16 Quả Dự Lưu

Phá Thân Kiến?

Kinh Sáu Sáu-Trung Bộ

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Bốn Pháp Dự Lưu PAGEREF _Toc201584282 \h 1

II. Khuyến tu PAGEREF _Toc201584283 \h 4

III. Duyên sanh pháp PAGEREF _Toc201584284 \h 8

IV. Vô thường – khổ – vô ngã PAGEREF _Toc201584285 \h 14

I. Bốn Pháp Dự Lưu

Lợi ích còn gấp mười sáu lần người thống trị cả địa cầu này, người đó cũng chỉ là một cái ví dụ thôi chứ không có lấy cái gì ví dụ được đối với một người Nhập Lưu, tức là người thật sự nhìn thấy được ngũ uẩn này, người thật sự thành tựu được chánh kiến, thật sự tham dự vào dòng chảy trí tuệ của bậc thánh thì người này hạnh phúc lắm, không có cái gì ở trên thế gian này có thể diễn tả được hết.

"Sàvatthi. Ở đấy... nói như sau:

-- Dầu cho, này các Tỳ-kheo, một vị Chuyển luân vương làm chủ tể và cai trị bốn châu, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên thiện thú, thiên giới, thế giới này, cộng trú với chư Thiên ở cõi Ba mươi ba; tại đấy, vị ấy trú trong rừng Nandana, được chúng Thiên nữ đoanh vây, được đầy đủ, được cung cấp, được bao bọc năm thiên dục công đức, nhưng không được đầy đủ bốn pháp; tuy vậy, vị ấy chưa được giải thoát khỏi địa ngục, chưa được giải thoát khỏi sanh vào loài bàng sanh, chưa giải thoát khỏi ngạ quỷ, và chưa thoát khỏi ác sanh, ác thú, đọa xứ" (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương XI. Tương Ưng Dự Lưu (a), I. Phẩm Veludvàra, I. Vua)

Dù cho người này làm chuyển luân thánh vương, được sanh lên cõi trời ba mươi ba, bao nhiêu chúng thiên đoanh vây, được bao bọc bởi năm thiên dục công đức, nghĩa là có được đầy đủ những thú vui của cõi trời chứ không phải thú vui thấp hèn, hèn hạ của thế gian nhưng người này không có đầy đủ bốn pháp cho nên người này chưa có được thoát khỏi địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, ác thú, đọa xứ, khổ cảnh.

"Nhưng này các Tỳ-kheo, vị Thánh đệ tử, dầu muốn sống bằng các miếng ăn khất thực, đắp với y nhiều tấm (nantakàni); vị ấy đầy đủ bốn pháp. Và vị ấy được giải thoát khỏi địa ngục, được giải thoát khỏi sanh vào loài bàng sanh, được giải thoát khỏi cõi ngạ quỷ, được giải thoát khỏi ác sanh, ác thú, đọa xứ" (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương XI. Tương Ưng Dự Lưu (a), I. Phẩm Veludvàra, I. Vua)

Ăn thì đi xin, mặc thì mặc áo vá nhưng có đầy đủ bốn pháp, còn vị vua trời lại không có đầy đủ bốn pháp cho nên vị vua trời vẫn có khả năng rơi vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, ác thú, đọa xứ, khổ cảnh. Vị đệ tử Phật ăn cơm nguội, mặc áo rách, ở chòi tranh nhưng có đầy đủ bốn pháp cho nên vị này chắc chắn không rơi vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, Thế Tôn bảo chứng, bảo đảm, bảo an, bảo toàn, xác quyết bốn pháp đó

"Thế nào là bốn?

Ở đây, này các Tỳ-kheo, vị Thánh đệ tử thành tựu lòng tin bất động đối với đức Phật: 'Ðây bậc Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn'.

Vị ấy thành tựu lòng tin bất động đối với Pháp: 'Pháp do Thế Tôn khéo thuyết, thiết thực hiện tại, có hiệu quả tức thời, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu'.

Vị ấy thành tựu lòng tin bất động đối với chúng Tăng: 'Diệu hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Trực hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Ứng lý hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Chơn chánh hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Tức là bốn đôi tám chúng. Chúng đệ tử của Thế Tôn là đáng cung kính, đáng cúng dường, đáng tôn trọng, đáng được chấp tay, là phước điền vô thượng ở đời'.

Vị ấy thành tựu các giới được các bậc Thánh ái kính, không bị phá hoại, không bị đâm cắt, không bị nhiễm ô, không bị uế nhiễm, đem lại giải thoát, được người trí tán thán, không bị chấp thủ, đưa đến Thiền định.

Vị ấy thành tựu bốn pháp này" (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương XI. Tương Ưng Dự Lưu (a), I. Phẩm Veludvàra, I. Vua)

Vị thánh đệ tử thành tựu lòng tin bất động đối với Đức Phật, vị thánh đệ tử thành tựu lòng tin bất động đối với pháp, vị thánh đệ tử thành tựu lòng tin bất động đối với chúng Tăng, vị thánh đệ tử thành tựu lòng tin bất động đối với các giới được các bậc thánh ái kính.

"Và này các Tỳ-kheo, có sự lợi đắc của bốn châu và sự lợi đắc của bốn pháp. Sự lợi đắc bốn châu không đáng giá (agahati) một phần mười sáu lợi đắc bốn pháp" (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương XI. Tương Ưng Dự Lưu (a), I. Phẩm Veludvàra, I. Vua)

Tức là một người có hết các tài sản trên hành tinh này, thống trị cả địa cầu nhưng mà người này không có được bốn pháp, tức là bốn Dự Lưu phần, tin Phật, tin pháp, tin Tăng và đầy đủ các giới thì cái ông gọi là chuyển luân thánh vương, ông vua thống trị địa cầu hay là vua trời, phàm phu thiên mà không có bốn cái pháp này, không có bốn Dự Lưu phần này dù cho có được làm vua trời, có làm chủ quả đất này đi nữa cũng không bằng một phần mười sáu, nói dễ hiểu là không bằng một phần trăm, một phần mười của người thành tựu bốn pháp Dự Lưu phần. Tuy là người thành tựu bốn pháp này, bốn Dự Lưu phần này là ăn cơm hẩm, mặc áo vá, là chìa cái bát đi ăn xin nhưng người này được lợi ích còn hơn cả trăm ngàn lần người thống trị cả địa cầu.

Học bài kinh này để thấy được mình đang đi trên con đường nào, mình đang được cái gì, mình đã được cái gì, mình sẽ được cái gì, thánh đệ tử của Đức Phật là siêu thế, là một chúng hội siêu thế, không có một chúng hội nào trên hành tinh này hay là nhiều hành tinh khác có thể so sánh được với chúng hội đệ tử của Đức Phật. Cho nên bài kinh này cho chúng ta thấy được con đường chúng ta đang đi, chúng ta đã đi, chúng ta sẽ đi là quang minh, sáng lạn, cao thượng, siêu việt, siêu thế. Chúng ta nghe tên những cái vị đứng đầu những quốc gia phát triển nhất thế giới rất vĩ đại nhưng lại chẳng là gì so với một vị chuyển luân thánh vương tức là cái người cai trị cả quả đất, một vị cai trị cả quả đất này, cả cái địa cầu này so với một vị vua trời thì chẳng có là cái gì hết. Các vị vua trời đi ra đi vào nhìn xuống một cái là mình chết hết rồi, thậm chí có cõi trời là một ngày trên đó là tới năm trăm năm, một ngàn năm, mấy ngàn năm dưới nhân gian, mạng sống con người thật là ngắn ngủi, thật là nhỏ bé, thật là nhiều khổ đau, nhiều ưu não.

Cho nên một cái vị vua thống lĩnh cả địa cầu không là gì so với vua trời, so với thiện vương, phạm thiên, như vậy mà Đức Phật nói một vị sanh lên thống lãnh baba tầng trời, trong đó là đầy đủ các thiên nữ, được bao bọc bởi năm thiên dục công đức, sắc; thanh; hương; vị; xúc đều tối thượng hết, thiên sắc, thiên hương, thiên vị, thiên xúc nhưng lại không có bốn Dự Lưu phần. Đó là lý do tại sao ngày nào chúng ta vô trước khi nghe pháp cũng niệm Phật, niệm pháp, niệm Tăng, niệm giới là nhằm nhắc nhở chúng ta tác ý, ghi khắc là mình tu tập cho đầy đủ bốn cái pháp tối thượng, bốn cái pháp đó là thượng nhân pháp, cái pháp của thánh hiền. Một vị đầy đủ bốn cái điều kiện, đầy đủ ba lòng tin, giữ gìn các giới hạn như vậy thì vị này tuy là sống bằng miếng ăn khất thực, ôm bình bát chìa tay đi xin ăn cho nên con để chúng ta mỗi ngày ôm bình bát xuống bếp lấy cơm là nhằm giữ gìn thánh sản của Đức Phật, thánh vật của Đức Phật, thánh pháp của Đức Phật, thánh quy của Đức Phật, thánh trí của Đức Phật, thánh đạo của Đức Phật. Nếu mà bây giờ mình cứ dọn mâm ra leo lên ngồi đó thì mình quên hết, mình đi như vậy là nhắc mình quay trở về cái bản vị của người khất sĩ, bản vị nghĩa là vị trí thật sự của mình là kẻ ăn xin.

Tay ôm bình bát đi ăn xin như vậy, mặc quần áo cũ kỹ, nhận sự bố thí của người khác, sắp tới chúng ta có buổi lễ dâng y là do các Phật tử quý mến mong muốn được dâng pháp y cho các thầy, các cô, chư tôn đức ở Linh Quy Pháp Ấn thì con chứ con cũng không có tập ra cái chương trình, Chúng ta được cho những cái áo quần để mặc, cơm chúng ta đi xin để ăn nhưng điều đặc biệt tối thượng là chúng ta có đầy đủ bốn pháp, đầy đủ lòng tin vào sự giác ngộ, sự chứng ngộ của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, tin tuyệt đối vào Tứ Thánh Đế, bốn thánh trí, xác quyết trọn vẹn vào trong sự thật về khổ mà các bậc thánh chứng ngộ và tuyên thuyết, trình bày, hiển thị, minh thị, chúng ta có lòng tin tuyệt đối, đây là gốc để thành tựu các pháp khác.

II. Khuyến tu

Tự động khi mà chúng ta tin tuyệt đối và sự giác ngộ của Đức Phật thì ngài nói bao nhiêu đó là đủ cho mình Dự Lưu, mình tin tuyệt đối vào sự giác ngộ của Đức Phật thì đương nhiên mình phải tin Phật, các vị thực hành thành tựu cái sự giác ngộ đó là đương nhiên là tin Tăng và khi mình đã thấy được cái đạo lộ, cái con đường như vậy thì chắc chắn mình phải lìa xa những cái ác và bất thiện pháp, đó là mình thực hành các giới.

Tin vào sự chứng ngộ Đức Phật tức là tin pháp, pháp là do Đức phật chứng ngộ, Đức Phật nói ra cho nên chắc chắn là mình phải tin Phật thì mình mới tin khi giác ngộ của Đức Phật. Những vị Tăng ở đây tức là bốn đôi tám chúng thành tựu trên con đường đó là chắc chắn mình phải tin. Khi mình đã thấy được cái sự khổ, nguyên nhân của khổ ở bên trong con người của mình thì tự cái pháp nó vận hành là nó không muốn để cho mình, đưa mình vào chỗ tối tăm.

Ma đưa lối quỷ dẫn đường

Lại vào những chỗ đoạn trường mà đi.

Chúng ta không có đi vào cái chỗ đoạn trường đó, cái chỗ khổ, chỗ nguyên nhân của khổ mà chúng ta sẽ có một sự né tránh, có một sự lẩn tránh, có sự tránh xa ra, có một sự muốn thoát ra, đó là viễn ly sanh, xuất ly sanh, thoát ly sanh, xuất ly đạo lộ được sanh khởi, được thiết lập, hình thành, lớn mạnh ở trong thân tâm chúng ta. Một người đầy đủ bốn Dự Lưu phần này rồi thì ông trời cũng không thể so sánh nổi, hạnh phúc không? Ông trời cũng phải lạy dưới chân người đó, người đó là người đáng để cho chúng ta chắp tay, cúng dường giữa nhân thiên trong tam giới. Dù cho có vui dưới đất hay vui trên trời đi nữa mà nếu mình không phải là bậc thánh đệ tử ông, không có thành tựu chánh kiến thì vẫn lao đầu vào ở trong năm thủ uẩn, vẫn yêu thích, vẫn khoan khoái, vẫn chấp thủ, vẫn gầy dựng sắc; thọ; tưởng; hành; thức, vẫn phát triển sắc; thọ; tưởng; hành; thức, vẫn nắm giữ sắc; thọ; tưởng; hành; thức, vẫn cho sắc; thọ; tưởng; hành; thức là mình, là của mình, là tự ngã của mình, vẫn tiếp tục ở trong nước mắt, sầu, bi, khổ, ưu, não, tủi hờn.

Vì thế một người đầy đủ bốn pháp này là vị tối thượng của nhân thiên, chúng ta thật sự là đại gia trong thánh pháp nếu chúng ta có đầy đủ bốn pháp này, chúng ta là đại hào phú, đại phú gia, là hào phú, là tỷ phú, triệu phú trong chánh pháp, nghèo cho nên thân thường mang áo vá, ăn cơm nguội, ở nhà tranh, nhà tre mà trong tâm thì chứa đựng một cái kho thế gian chí bảo, pháp tạng, kho tàng chánh pháp, kho tàng kim cương thánh trí trong tâm, trong tâm thì có cả một kho kim cương thánh tuệ. Không có gì buồn bã, chán nản ở đây, phải hạnh phúc, hân hoan, vui sướng, mình đi trên một đạo lộ mà ông trời còn phải ngưỡng mộ cho nên đó là động lực mà con dám bỏ hết tất cả thế tình, thế sự, bao nhiêu người quay lưng lại cũng không là gì, ông trời còn phải ngưỡng mộ đạo lộ của bậc thánh thì tất cả những cái ở thế gian này đều là vô tình, vô nghĩa, vô thường, vô ngã, vô giá trị.

Một người làm chủ cả quả địa cầu thì khủng khiếp đến cỡ nào thế mà vẫn không bằng một phần mười sáu của người có đầy đủ bốn Dự Lưu phần. Chúng ta có thấy sự cao thượng, thánh thiện không? Đây là lời của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, đây là thánh chỉ, chúng ta phải viễn ly, xuất ly, xả ly, đoạn ly, ly tham, đáng để mình từ bỏ cha mẹ, đáng để mình từ bỏ gia đình, đáng để mình từ bỏ những danh lợi thấp hèn, đáng để mình từ bỏ những chuyện vô ích, vô nghĩa. Thế gian này là gì đối với bốn Dự Lưu phần này? Quý vị nghĩ xem trên thế giới này có cái gì đấu nổi với bốn Dự Lưu phần này? Chúng ta không có tranh giành với những cái sự hạ liệt của phàm phu, sự tầm thường có thế tục mà chúng ta phải tranh đấu siêu phàm nhập thánh.

Chúng ta phải tranh thử thực hiện Tứ Niệm Xứ, chúng ta phải tranh giành với con quỷ vô thường, chúng ta phải tranh đoạt những cái thời gian, những khoảng khắc như vậy để mình sống với pháp, chúng ta phải chiến tranh với cái bọn ác độc tham, sân, si trong tâm chúng ta, chúng ta không cạnh tranh, đấu tranh, chiến tranh với bất cứ một ai ở ngoài, chúng ta chỉ tranh đấu với tự thân của mình, nội tâm của mình, chúng ta phải thắng, phải chiến thắng, nhất định là phải chiến thắng. Nếu có tranh là tranh như vậy, chứ không có tranh hơn, tranh thua, cao thấp với thế gian, tất cả đều là vô nghĩa, đều là kẻ mê, kẻ điên, kẻ ngu, kẻ mù. Chúng ta tranh để xem ai đạt thánh quả trước, ai Nhập Lưu trước, ai nhìn thấy khổ viên mãn trước, ai từ bỏ một cách hoàn toàn trước, ai xả ly một cách trọn vẹn về năm thủ uẩn này một cách trọn vẹn, mạnh mẽ, mau chóng, nhanh lẹ. Hãy cạnh tranh cái này, tuyệt vời lắm.

Con thấy quý vị cứ lên núi xuống núi, chạy vô rồi chạy ra là thấy thương lắm, sao không mạnh mẽ lên, mình biết mình làm một điều thiêng liêng lắm, ý nghĩa lắm, giá trị, lợi ích vĩ đại, siêu thế. Nhiều khi mình không hiểu, mình không thấy, mình không biết nó quý giá đến cỡ nào, có giá trị đến cỡ nào, nó lợi ích đến cỡ nào, nó vĩ đại, cao siêu đến cỡ nào khi mình tin chắc vào khổ thánh trí bất động. Có khi khách đến ngồi nói từ đầu đến cuối, con ngồi nghe rồi kết luận "đây là khổ", nói một hồi cũng là khổ thôi chứ không có gì khác, muốn tìm phương pháp giải quyết khổ nếu nghe thì chỉ, không thì thôi. Còn gì khác ngoài khổ và con đường diệt khổ nữa?

Có một chú người Pháp hay lên núi mình thăm viếng, chú đi cầu đạo toàn cầu, tu học rất là tinh tấn. Chú chào con thì con thấy trên tay chú có đeo xâu chuỗi hình cái đầu lâu, con hỏi chú có biết ý nghĩa của xâu chuỗi này không thì chú nói qua nói lại thì con nói chú chưa hiểu được ý nghĩa thật sự của xâu chuỗi này, lúc đó con chia sẻ thành một bài pháp. Xâu chuỗi đó người ta làm bằng xương động vật ở bên Tây Tạng, người ta tạo ra cái hình của cái đầu lâu, khi cầm xâu chuỗi đó lên mình phải biết rằng mình sẽ chết và gương mặt này sẽ trở thành cái đầu lâu. Khi cầm xâu chuỗi đó lên phải thực hành Thân Hành Niệm, khi con chia sẻ hết thì chú cúng dường xâu chuỗi đó nhưng con không nhận vì con thấy không phải thời, khi cầm xâu chuỗi lên phải biết mình đã chết, mình đang chết và mình sẽ chết và cái đầu lâu này thay thế cho gương mặt này, cho lớp da này và hiện tại trên gương mặt mình cũng là cái đầu lâu mà mình không thấy thôi.

Bản chất của thân này là như thế, bản tánh là như thế, không thể vượt qua khỏi tính chất đó. Đời sống này kết thúc trong một cái đầu sọ, kết thúc trong sự chết, kết thúc trong sự diệt vong, tiêu ma, hủy hoại, hoại diệt. Con hỏi chú từ khi chú cầm xâu chuỗi cho đến khi chú bỏ xâu chuỗi xuống có nhớ được điều này không, đây cũng là khổ, nói lên sự sanh diệt của đời sống này, nói lên bản chất của sinh mạng này, nói lên sự kết cục của hình hài này, nói lên chung cuộc của nhân sinh của kiếp người này là khổ, đó là cái xâu chuỗi mang hình đầu lâu nhắc nhở cho chúng ta đừng có quên. Lúc nào chúng ta nhớ cái đầu lâu này là mình lúc đó là chúng ta tỉnh, chúng ta giác, lúc nào chúng ta quên cái đầu lâu mà chúng ta chỉ nhìn thấy gương mặt này là lúc đó chúng ta hôn mê, chúng ta ngủ gục, chúng ta mù lòa, chúng ta vô minh, tham ái, chấp thủ và khổ đau cho nên cái xâu chuỗi đó là đầy đủ Tứ Thánh Đế, đầy đủ sự khổ và sự diệt khổ.

Hình ảnh bộ xương để ở thiền đường là đầy đủ tất cả các pháp, sự sanh diệt, sanh tử, Thân Thành Niệm hương vị của bất tử, sự đau khổ của đời sống này, phơi bày bản chất thật sự của cái thân xác, của hình hài này, của thế giới này. Tâm mình sẽ ly tham, sẽ nhàm chán, sẽ từ bỏ, sẽ đoạn diệt đối với những nguyên nhân của khổ, Đức Phật nói khi mình thấy được khổ là đồng thời mình cũng thấy được nguyên nhân của khổ, đồng thời mình sẽ thấy được đạo lộ diệt khổ. Ai thấy được khổ thì người đó cũng thấy được khổ tập, thấy được khổ diệt và thấy được con đường đưa đến khổ diệt, một nỗ lực cần phải làm để thấy được khổ, thấy được nguyên nhân của khổ, thấy được sự chấm dứt khổ và đạo lộ con đường đưa đến sự chấm dứt khổ.

Hằng ngày mình phải tác ý như vậy, đừng quên cái khổ, mình mang vác một cái tấm thân đó có thấy khổ không, đau nhức, mệt mỏi, buồn ngủ. Nhiều khi con ngồi nhìn con mắt các vị cứ nhướng lên, chiến đấu với cơn buồn ngủ thì thấy thật là khổ. Chỉ riêng cái buồn ngủ cũng khổ, ngồi cũng khổ, ăn cũng khổ, ngủ cũng khổ, làm cũng khổ, chơi cũng khổ chứ không phải chỉ có sướng, người ta đâu có thấy đi chơi là khổ, mình phải thấy được mọi sự hiện hữu đều nằm trong đau khổ. Đúng ra giờ này con ở trên Himalaya, đã chuẩn bị sẵn sàng hết rồi nhưng cuối cùng duyên lại thiếu, năm mươi tám người chết do sạt lở đất bên Ấn Độ, con muốn chúng ta không ngừng nỗ lực, không ngừng hướng thượng, không chấp nhận trạng thái đang có này.

Khắp nơi trên thế giới, Ấn Độ, Philippines chìm ngập trong lũ lụt, xe trôi như lục bình, nhà bị thổi bay hết, mấy năm qua chư từng có trận lũ lụt, mưa bão như vậy, gió thổi bay xe, bay nhà hết, con vừa nhắn tin hỏi thăm các sư cô bên Hawaii vì bên đó bị cháy cả thành phố và khắp nơi là tan thương, là biển lửa là sụp đổ, là đổ nát, là dịch bệnh, là chiến tranh, động đất, thiên tai, lũ lụt. Chúng ta được an lành ngồi đây tu học thì quý biết bao mà nói cho nên chúng ta phải hết sức là trân trọng, trân quý từng khoảnh khắc trong sự tu học này. Chết mất xác, mất nhà, mất cửa, miền tây bị sạt lở, miền trung bị mưa bão làm hư mấy ngàn hecta hoa màu của nông dân, một chuyến tàu chở vài ngàn tấn gạo bị chìm trong khi gạo đang lên giá, sắp tới đây sẽ đói khổ.

Nhưng không cần đợi sắp tới mà hiện nay trên toàn cầu đang khủng hoảng lương thực, khủng hoảng chiến tranh, khủng hoảng thiên tai, những thiên tai chưa từng có trong lịch sử, những sông băng, những tảng băng ở Bắc Cực bây giờ tan chảy ra có thể nhấn chìm nhiều nơi vậy mà người ta lại chạy đến du lịch để sau này có thể không còn nhìn thấy nữa. Toàn cầu biến động tất cả về mọi hệ sinh thái, về môi trường, về khí hậu, về thời tiết, về ô nhiễm, về địa chấn, sóng thần, lũ lụt, chiến tranh, hoạn nạn, dịch bệnh, thiên tai, thiên hạ đại loạn, lòng người hiểm ác, hung tàn, dữ tàn. Ở bên trong thân tâm là rực lửa, con mắt rực lửa, trái tim rực lửa, tai, miệng, lưỡi đều rực lửa, cả tấm thân rực lửa, đụng vô cái là nó cháy đỏ, hỏa thiêu, hủy diệt mọi thứ.

Thật sự là lo lắng và sợ hãi. Chúng ta phải quán chiếu và tư duy như vậy, không để mình trú trong cảm thọ đơ đơ, trơ trơ, phải tu như chạy giặc, trong tâm thái lúc nào cũng như chạy giặc, không được để cho an nhàn, thảnh thơi. Bệnh tới rồi, tai nạn tới rồi, dục ái, tham, sân, si dập tới rồi, nó đè đầu cưỡi cổ mình rồi mà mình cứ nhởn nhơ, bản ngã, vô minh thì chồng chất, nó bao phủ, bịt tai, che mắt mình hết. Chúng ta phải tác ý, tác ý và tác ý thì pháp mới sanh khởi, mình phải tiếp xúc trong pháp, tiếp xúc trong trí tuệ.

III. Duyên sanh pháp

"Như vầy tôi nghe.

Một thời, Thế Tôn trú ở Savatthi (Xá-vệ), Jetavana (Kỳ-đà Lâm) tại tinh xá ông Anathapindika (Cấp Cô Ðộc).

Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỳ-kheo: 'Này các Tỳ-kheo'.

-- 'Thưa vâng, Bạch Thế Tôn'. Các Tỳ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.

Thế Tôn nói như sau:

-- Này các Tỳ-kheo, Ta sẽ giảng pháp cho các Ông, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn. Ta sẽ nói lên Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn, thanh tịnh, tức là sáu sáu. Hãy nghe và suy nghiệm kỹ, Ta sẽ giảng.

-- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Các vị Tỳ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:

-- Sáu nội xứ cần phải được biết. Sáu ngoại xứ cần phải được biết. Sáu thức thân cần phải được biết. Sáu xúc thân cần phải được biết. Sáu thọ thân cần phải được biết. Sáu ái thân cần phải được biết.

Khi được nói đến: 'Sáu nội xứ cần phải được biết', do duyên gì được nói đến như vậy? Nhãn xứ, nhĩ xứ, tỷ xứ, thiệt xứ, thân xứ, ý xứ. Khi được nói đến: 'Sáu nội xứ cần phải được biết', chính do duyên này được nói đến như vậy. Ðây là sáu sáu thứ nhất" (Trung Bộ Kinh, 148. Kinh Sáu sáu)

Đây là mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý, do mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý nằm ngay trên thân thể mình cho nên gọi là sáu nội xứ, sáu chỗ bên trong. Đầu tiên là phải biết chính mình trước, phải biết được sáu chỗ mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý, phải nhận diện được nó. Chúng ta thấy trí tuệ của Đức Phật tối thượng, vi diệu không? Ngài mở ra cho mình từng bộ phận để mình đừng có ảo tưởng là nguyên khối tưởng, nhất ngã tưởng. Ngài mở ra sáu thứ riêng biệt, con mắt là khác, cái lỗ tai là khác, lỗ mũi là khác, cái lưỡi là khác, cái thân là khác, cái ý là khác, còn phàm phu là cho rằng đây là tôi, là nguyên khối tưởng, tự ngã tưởng, bản ngã tưởng. Mắt; tai; mũi; lưỡi; thân làm bằng tứ đại đất, nước, gió, lửa.

"Khi được nói đến: 'Sáu ngoại xứ cần phải được biết', do duyên gì được nói đến như vậy? Sắc xứ, thanh xứ, hương xứ, vị xứ, xúc xứ, pháp xứ. Khi được nói đến: 'Sáu ngoại xứ cần phải được biết', chính do duyên này được nói đến như vậy. Ðây là sáu sáu thứ hai" (Trung Bộ Kinh, 148. Kinh Sáu sáu)

Đây là sáu cái ở ngoài đối ngược với sáu cái bên trong, tức là đối với con mắt là sắc, đối với lỗ tai là tiếng, đối với mũi là mùi, đối với lưỡi là vị, đối với cái thân là sự đụng chạm, tiếp xúc, đối với cái ý là pháp. Bên trong có mắt thì bên ngoài có sắc, bên trong có tai thì bên ngoài có tiếng, bên trong là mũi thì bên ngoài có mùi, bên trong cái lưỡi thì bên ngoài có vị, cái thân thì có xúc chạm, cái ý đối lại pháp, tức là thọ; tưởng; hành, những hình bóng, cảm xúc và suy nghĩ. Hình bóng, cảm xúc, suy nghĩ là do tiếp xúc bên ngoài cho nên gọi là pháp trần, đó là sáu ngoại xứ.

"Khi được nói đến: 'Sáu thức thân cần phải được biết', do duyên gì được nói đến như vậy? Do duyên mắt và do duyên các sắc, khởi lên nhãn thức. Do duyên tai và do duyên các tiếng, khởi lên nhĩ thức. Do duyên mũi và do duyên các hương, khởi lên tỷ thức. Do duyên lưỡi và do duyên các vị, khởi lên thiệt thức. Do duyên thân và do duyên các xúc, khởi lên thân thức. Do duyên ý và do duyên các pháp, khởi lên ý thức. Khi được nói đến: 'Sáu thức thân cần phải được biết', chính do duyên này được nói đến như vậy. Ðây là sáu sáu thứ ba" (Trung Bộ Kinh, 148. Kinh Sáu sáu)

Bây giờ là bắt đầu Đức Phật mở từng bộ phận ra cho chúng ta thấy. Tại sao mình thấy? Là do có mắt, có sắc khởi lên sự rõ biết nhãn thức tức là thấy, khi bịt mắt lại là không thấy được, chỉ cần thiếu duyên là không thấy cho nên cái thấy này là duyên sanh, là vô thường, nó là vô ngã. Do duyên có tai và âm thanh, khởi lên sự rõ biết âm thanh gọi là nhĩ thức. Do duyên có mũi và mùi, khởi lên tỷ thức là sự rõ biết các mùi, khi mình ngửi mùi thì mình có thấy được duyên sanh pháp không hay ngửi mùi chỉ biết thơm quá, thối quá không, lúc đó mình có nhận diện duyên sanh pháp không, có thấy sự vận hành của các pháp không hay mình bị cuốn vào đó, mình bị hôn mê, đam mê và ngu mê, sống với tâm mê.

Khi con mắt nhìn thấy là mình biết do duyên có con mắt, có sắc khởi lên sự rõ biết các sắc nên phải cẩn thận, coi chừng, đó là mình có sự nhận diện trong ngoài. Cái thức là sự rõ biết, do duyên lưỡi có vị đồ ăn sanh khởi lên sự rõ biết vị thì đó là thiệt thức, do duyên có thân, do duyên các xúc đụng chạm khởi lên thân thức là sự rõ biết cái đụng chạm đó. Mình phải tập nhận diện sáu thức thân, khi nhận diện thì cái nào ra cái đó, Đức Phật mở ra cho mình giống như trái sầu riêng, ngài dùng con dao thánh trí mở nó ra, chẻ ra từng múi, lấy ra từng múi cho chúng ta thấy có cái nào là cái tôi, cái ta to đùng đâu. Do có một sự để ý vào bên trong thì mình thấy có hình bóng, cảm giác và suy nghĩ, do duyên có ý và do duyên có các pháp sanh khởi lên sự rõ biết về hình bóng, suy nghĩ và cảm giác đang có mặt bên trong.

"Khi được nói đến: 'Sáu xúc thân cần phải được biết', do duyên gì được nói đến như vậy? Do duyên mắt và do duyên các sắc, khởi lên nhãn thức. Sự gặp gỡ của ba pháp này là xúc. Do duyên tai và do duyên các tiếng, khởi lên nhĩ thức. Sự gặp gỡ của ba pháp này là xúc. Do duyên mũi và do duyên các hương, khởi lên tỷ thức. Sự gặp gỡ của ba pháp này là xúc. Do duyên lưỡi và do duyên các vị, khởi lên thiệt thức. Sự gặp gỡ của ba pháp này là xúc. Do duyên thân và do duyên các xúc, khởi lên thân thức. Sự gặp gỡ của ba pháp này là xúc. Do duyên ý và do duyên các pháp, khởi lên ý thức. Sự gặp gỡ của ba pháp này là xúc. Khi được nói đến: 'Sáu xúc thân cần phải được biết', chính do duyên này được nói đến như vậy. Ðây là sáu sáu thứ tư" (Trung Bộ Kinh, 148. Kinh Sáu sáu)

Chúng ta phải thuộc hết duyên sanh pháp này thì mới nhận diện, mới tu được. Mình phải tập an tịnh, lắng dịu mới nhìn thấy ra được cái này là bộ máy vận hành, gọi là cơ thể. Mình không có biết sử dụng đúng cho nên nó làm cho mình mệt mỏi, khổ đau, mình biết sử dụng nó đúng, các bậc thánh sử dụng đúng vì các ngài có học của Đức Phật cho nên các ngài sử dụng cơ thể này đúng đem lại lợi ích, đem lại hạnh phúc, an lạc cho mình, cho người. Mình sử dụng không đúng, mình không biết cách, chẳng hạn như xe phân phối rất là cao, mình leo lên rồi đề ga phóng mạnh là té ngã, thành ra phải biết cái cơ thể, bộ máy này, cấu tạo của nó, sự vận hành của có, cái guồng máy của nó có những gì, kết cấu ra sao. Bài kinh này là sự Chánh Đẳng Chánh Giác tối thượng của Đức Phật, Đức Phật nhìn trong nhìn ngoài, nhìn chặng giữa, nhìn tất cả mọi thứ, thấy hết tất cả những yếu tố kết hợp, cấu thành, hình thành, guồng máy vận hành của căn – trần – thức – xứ – giới – uẩn, guồng máy vận hành của ngũ uẩn sắc; thọ; tưởng; hành; thức, guồng máy vận hành của tham, sân, si, vô minh, bản ngã là ngài thấy biết hết thấu đáo, tường tận, tinh vi, nhỏ nhiệm tất cả mọi phương diện, góc độ, khía cạnh của các pháp. Như vậy mới gọi là Thế Gian Giải, bậc pháp vương, bậc thấu suốt tất cả các pháp, chính là pháp trong thân tâm mình.

Chúng ta có thấy tuyệt diệu, tối thượng không, vậy mà không chịu học, cái vô minh của mình thật sự quá nặng. Học với Phật mà không chịu, học với bậc đại giác mà không chịu, đi tìm người mù cho nên mình cũng mù luôn, bậc sáng mắt, gọi là nhân thiên nhãn mục, là mắt sáng của trời người mà không chịu đi theo, lại đi theo mấy thằng mù, mấy bà mù. Khổ chưa? Nhiều khi thấy xót xa, mình học bộ Nikāya này tới chết, đời sau ôm tiếp cho đến khi thành tựu đoạn tận các lậu hoặc, không tìm ai nữa vì nó đã quá rõ rõ ràng ràng, minh minh bạch bạch, trong trong sáng sáng, tỏ tỏ tường tường như nhật nguyệt ngự giữa thiên không, chỉ có người mù mới không thấy thôi.

"Khi được nói đến: 'Sáu thọ thân cần phải được biết', do duyên gì được nói đến như vậy? Do duyên mắt và do duyên các sắc, khởi lên nhãn thức. Sự gặp gỡ của ba pháp này là xúc. Do duyên xúc là thọ. Do duyên tai và do duyên các tiếng, khởi lên nhĩ thức... Do duyên mũi và do duyên các hương, khởi lên tỷ thức... Do duyên lưỡi và do duyên các vị, khởi lên thiệt thức... Do duyên thân và do duyên các xúc, khởi lên thân thức... Do duyên ý và do duyên các pháp, khởi lên ý thức. Sự gặp gỡ của ba pháp này là xúc. Do duyên xúc là thọ. Khi được nói đến: 'Sáu thọ thân cần phải được biết', chính do duyên này được nói đến như vậy. Ðây là sáu sáu thứ năm" (Trung Bộ Kinh, 148. Kinh Sáu sáu)

Do có tiếp xúc nên sanh ra cảm thọ, do có con mắt, có người đẹp nên sanh ra cái thấy rồi thích thú, nói ngắn gọi là nhìn thấy người đẹp nên thích, nhìn thấy cảnh đẹp nên khoái, đó là Đức Phật chỉ ra sự vận hành của bộ máy, của guồng máy. Đức Thế Tôn chỉ ra cho mình không còn sót chỗ nào, do có tai nghe bản nhạc Hương Lan, Tuấn Vũ, Giao Linh, gặp trời mưa nữa là thọ khởi lên, do có lỗ tai, có tiếng nhạc, có sự rõ biết tiếng nhạc đó là sự tiếp xúc của lỗ tai sanh ra cảm thọ, cảm giác rồi bắt đầu nhớ chuyện xưa.

"Ở đây, này các Tỳ-kheo, có người đi nghe tiếng trống, đi nghe tiếng sáo, đi nghe tiếng ca, hay đi nghe tiếng cao thấp khác nhau, hay đi nghe pháp các Sa-môn hay Bà-la-môn có tà kiến, tà hạnh. Này các Tỳ-kheo, đây có phải là nghe không? Ta nói rằng: 'Ðây là không nghe'. Sự nghe ấy, này các Tỳ-kheo, là hạ liệt, là hèn hạ, là phàm phu, không xứng Thánh hạnh, không liên hệ đến mục đích, không đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Này các Tỳ-kheo, ai đi đến để nghe pháp của Như Lai hay của đệ tử Như Lai, với lòng tin an trú, với lòng ái mộ an trú, nhứt hướng thuần tín, thời này các Tỳ-kheo, đây là sự nghe vô thượng, đưa đến thanh tịnh cho các loài chúng sanh, vượt qua sầu bi, chấm dứt khổ ưu, đạt được chánh lý, chứng ngộ Niết-bàn, tức là đi nghe pháp của Như Lai hay của đệ tử Như Lai, với lòng tin an trú, với lòng ái mộ an trú, nhứt hướng thuần tín" (Tăng Chi Bộ, Chương VI – Sáu Pháp, III. Phẩm Trên Tất Cả, (X). Trên Tất Cả)

Dù có nghe tất cả những gì của thế gian cũng không gọi là nghe, chỉ có nghe thánh pháp mới là cái nghe tối thượng, vô thượng, cao thượng, đây là cái đáng nghe, cần nghe, phải nghe, đi cầu tìm để nghe, bỏ sinh mạng để được nghe.

"Khi được nói đến: 'Sáu ái thân cần phải được biết', do duyên gì được nói đến như vậy? Do duyên mắt và duyên các sắc, khởi lên nhãn thức. Sự gặp gỡ của ba pháp này là xúc. Do duyên xúc là thọ. Do duyên thọ là ái. Do duyên tai và do duyên các tiếng, khởi lên nhĩ thức... Do duyên mũi và do duyên các hương, khởi lên tỷ thức... Do duyên lưỡi và do duyên các vị, khởi lên thiệt thức... Do duyên thân và do duyên các xúc, khởi lên thân thức... Do duyên ý và do duyên các pháp, khởi lên ý thức. Sự gặp gỡ của ba pháp này là xúc. Do duyên xúc là thọ. Do duyên thọ là ái. Khi được nói đến: 'Sáu ái thân cần phải được biết', chính do duyên này được nói đến như vậy. Ðây là sáu sáu thứ sáu" (Trung Bộ Kinh, 148. Kinh Sáu sáu)

Đây là định lý chứng ngộ của Đức Phật, do duyên có lưỡi, có món đồ ăn ngon chạm vào lưỡi, có sự rõ biết về đồ ăn ngon, ba cái này giao thoa, gặp gỡ, tiếp xúc sanh ra cảm giác khoái, thích hoặc là ghét, bực bội, không vừa ý, hoặc là không ghét cũng không thích gọi là trơ trơ. Nếu không có chánh niệm tỉnh giác là mình bị dính vào cả ba thọ, tham tùy miên, sân tùy miên và vô minh tùy miên, nếu lúc đó mình không thấy cái lưỡi, không thấy món ăn ngon, không thấy sự rõ biết của lưỡi, không thấy sự tiếp xúc của ba cái đó, không thấy thọ sanh ra, không thấy dục, tham, ái hay sân hận, tất cả đều không thấy mà chỉ biết ngon hoặc dở thì đó là mù, là đui, là tâm hôn mê, vô minh. Như vậy học thánh trí huệ của Đức Phật nhưng lại sống với phàm tình, không sống với thánh trí thì thật uổng phí công mình đi học, uổng công mình đi tu, uổng công Đức Phật vắt hết tim, gan, máu, tủy, uổng công các bậc thánh giả đem hết cả tấm lòng huyết lệ trao gửi cho mình rồi mình để đó, không ứng dụng, không thực hành, quán chiếu gì cả.

Cho nên căn – trần – thức – xúc – thọ – ái, chúng ta có sáu căn, sáu trần, sáu thức, sáu xúc, sáu thọ, sáu ái, như vậy là ba mươi sáu pháp vận hành. Mỗi một cái nhìn, cái nghe, cái ngửi, cái nếm của mình, sự đụng chạm của mình có đến ba mươi sáu pháp sanh khởi, vận hành. Nghe cũng thích, ngắm cũng ưa, nếm cũng khoái, tiếp xúc, đụng chạm thì mê, ngửi rồi cũng bị dính mắc, bây giờ mình phải soi rọi, Đức Phật dùng chữ "cần phải được biết", mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý cần phải được biết. Biết ở đây là tuệ tri, biết bằng trí tuệ, đừng để nó lừa mình. Sắc; thanh; hương; vị; xúc; pháp cũng cần phải được biết, sáu cái ở chặng giữa là nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức cũng cần phải được rõ biết, đó là căn – trần – thức phải rõ biết khi chúng nó gặp gỡ, giao thoa, hội tụ. Phải rõ biết khi sanh khởi ra cảm thọ, phải tỉnh thức chánh niệm khi yêu thích, khoan khoái.

Tại sao ở đây Đức Phật không nói về sân mà lại nói về ái? Vì thích nhiều hơn, cái gì cũng khoái, cái gì cũng muốn thành ra cái ái này bao trùm, cái sân giận ít còn cái ái ngấm ngầm bên trong, tùy miên bên trong, nó sâu sắc, âm ỉ, nó ăn sâu vào bên trong, phải thấy cái ái sanh khởi khi tiếp xúc. Đó là sáu sáu, trong một cái nhìn, cái nghe, cái ngửi, cái nếm, tiếp xúc của mình là ba mươi sáu pháp sanh khởi, vận hành cho nên phải tập vận hành, tập nhận diện, chia chẻ nó ra cho rõ ràng từng cái, đừng cho nó lẫn lộn.

IV. Vô thường – khổ – vô ngã

"Nếu ai nói rằng: 'Mắt là tự ngã', như vậy là không hợp lý. Sự sanh và sự diệt của mắt đã được thấy. Vì rằng sự sanh và sự diệt của mắt đã được thấy, nên phải đưa đến kết luận: 'Tự ngã sanh và diệt ở nơi tôi'. Do vậy, nếu ai nói rằng: 'Mắt là tự ngã', như vậy là không hợp lý. Như vậy, con mắt là vô ngã" (Trung Bộ Kinh, 148. Kinh Sáu sáu)

Con mắt này sẽ đi đến mờ tối, sẽ bị cận thị, viễn thị, loạn thị, khiếm thị, đó là sự sanh và sự diệt của mắt của mắt đã được thấy. Bây giờ tin nhắn tới chữ nhỏ mắt con đọc không ra, sắp tới phải mang kính vào rồi, con mắt này là vô ngã, không có gì chắc chắn cả, nó là tàn hoại, hủy hoại, hoại diệt, tiêu tan. Nói cho dễ hiểu là cái mình này, là cái thân này, nếu ai nói là tôi là cái thân là không hợp lý tại vì cái thân này sẽ già nua, bệnh tật, tan nát, rã rời, hoại diệt, sự sanh và sự diệt của thân này đã được thấy bằng Thân Hành Niệm, bằng sự quán thân trên thân. Cái thân này là pháp sanh diệt, là pháp vô thường cho nên ai nói thân này là tôi, là tự ngã của tôi là không hợp lý, là sai như vậy con mắt này là vô ngã, cái thân này cũng là vô ngã, cái sắc là vô ngã, những thứ ngoài thân cũng vậy, sự rõ biết ở nơi con mắt cũng là vô ngã, đủ duyên mới rõ biết. Các vị ngồi đây có người còn nhỏ tuổi đã mang mắt kính thật dày, khi mới sanh ra đâu có mang kính, vì con mắt này vô ngã, vì nhãn thức, sự rõ biết của con mắt này, cái thấy này là duyên sanh, là vô thường nên nó sẽ biến hoại theo cái nhân, theo cái duyên, theo cái nghiệp của nó, nó là pháp biến hoại, là pháp duyên sanh.

Con mắt đã không có thật, đối tượng của nó cũng không có thật, là duyên sanh, vô thường, sự rõ biết của nó cũng không có thật, nó là kết hợp, lắp ráp, nương dựa cho nên sự tiếp xúc của ba cái này làm sao có thật vì vậy nhãn xúc là vô ngã. Khi sự tiếp xúc không có thật, không có ngã, không có tự thể thì sanh khởi lên cái gì làm sao có ngã được, nhãn xúc là vô ngã, thọ là vô ngã, ái là vô ngã, sự tiếp xúc của nó là trống rỗng, nếu nó sanh khởi lên cảm thọ gì thì những cảm thọ, cảm xúc, cảm giác đó là trống rỗng. Nếu có sanh ra yêu thích thì cái yêu thích đó cũng trống không cho nên mới thương rồi mới ghét, mới sáng thương chiều ghét, sáng thân mà giờ thành sơ, mới làm bạn đã trở thành thù, mới vừa anh anh em em, huynh huynh đệ đệ mà giờ đánh nhau, đập bàn đập ghế vì tất cả là vô ngã, chỉ có vô mình nghiệp với nhân quả thôi chứ không có cái ngã nào trong đó. Vì không thấy không biết ngũ uẩn, không thấy không biết sự vận hành của nhân duyên nghiệp quả cho nên nó sẽ đổi thay liên tục theo các cảm thọ cho nên nó là một đống bùi nhùi rối rắm.

"Này Ananda, chính vì không giác ngộ, không thâm hiểu giáo pháp này mà chúng sanh hiện tại bị rối loạn như một ổ kén, rối ren như một ống chỉ, giống như cỏ munja và lau sậy babaja (ba-ba-la) không thể nào ra khỏi khổ xứ, ác thú, đọa xứ, sanh tử" (Trường Bộ Kinh, 15. Kinh Ðại duyên)

Thế Tôn gọi chúng sanh giống như tổ kén, giống như đống chỉ rối bời như tơ vò trăm mối không biết chỗ nào gỡ ra, nếu không có thánh trí của Đức Phật gỡ ra căn – trần – thức – xứ – thọ – ái – giới – uẩn này, đây là quy trình vận hành sự chứng ngộ của đức Chánh Đẳng Chánh Giác như vậy là nó hôn mê rồi, nó ngu mê, say mê, sống trong tâm mê, không thấy được sự trống rỗng.

Bản chất cuộc đời là trống rỗng,

Bản chất cuộc đời là trống không,

Bản chất cuộc đời là cảnh mộng,

Dễ dàng tan biến vào hư không

Những câu này là thánh trí tuệ, Đức Thế Tôn nói rất kĩ trong bài kinh này mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý này mà cho là tôi, là của tôi là không hợp lý, sự sanh và sự diệt đã được thấy, như vậy mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý này là vô ngã, là trống không, là trống rỗng. Giống như cây chuối bị lột ra từng bẹ chuối, đến cuối cùng không có cái lõi gì cả mà chỉ mềm nhũng, không có lõi cây trong bẹ chuối, không có lõi cây trong bắp chuối. Ý là vô ngã, các pháp là vô ngã, thọ; tưởng; hành bên trong là trống rỗng, trống không, là duyên sanh, là vô thường, là đổi thay, là tan hoại. Đây là những vấn đề để mình thiền quán, mình phải tự về để quán thêm, nghiền ngẫm thêm, ghi chép ra những cái mình cảm thọ được, mình quán chiếu được vì đây đều là những định lý, khẩu quyết.

"Nếu có ai nói rằng: 'Ý xúc là tự ngã', như vậy là không hợp lý. Sự sanh và sự diệt của ý xúc đã được thấy. Vì rằng sự sanh và sự diệt của ý xúc đã được thấy, nên phải đưa đến kết luận: 'Tự ngã sanh và diệt ở nơi tôi'. Do vậy, nếu có ai nói rằng: 'Ý xúc là tự ngã', như vậy là không hợp lý. Như vậy, ý là vô ngã, các pháp là vô ngã, ý thức là vô ngã, ý xúc là vô ngã.

Nếu có ai nói rằng: 'Thọ là tự ngã', như vậy là không hợp lý. Sự sanh và sự diệt của thọ đã dược thấy. Vì rằng sự sanh và sự diệt của thọ đã được thấy, nên đưa phải đưa đến kết luận: 'Tự ngã sanh và diệt ở nơi tôi'. Do vậy, nếu có ai nói rằng: 'Thọ là tự ngã', như vậy là không hợp lý. Như vậy, ý là vô ngã, các pháp là vô ngã, ý thức là vô ngã, ý xúc là vô ngã, thọ là vô ngã.

Nếu có ai nói rằng: 'Ái là tự ngã', như vậy là không hợp lý. Sự sanh và sự diệt của ái đã được thấy. Vì rằng sự sanh và sự diệt của ái đã được thấy, nên phải đưa đến kết luận: 'Tự ngã sanh và diệt ở nơi tôi'. Do vậy, nếu có ai nói rằng: 'Ái là tự ngã", như vậy là không hợp lý. Như vậy, ý là vô ngã, các pháp là vô ngã, ý thức là vô ngã, ý xúc là vô ngã, thọ là vô ngã, ái là vô ngã" (Trung Bộ Kinh, 148. Kinh Sáu sáu)

Cái sự thấy rõ được những hình bóng, suy nghĩ bên trong cũng là trống rỗng, sự tiếp xúc để sanh khởi lên những cảm giác tham muốn, yêu thích cũng là trống rỗng, trống không, giả dối, hư ảo, hư huyễn, là ảo tưởng, là hư vô. Sự yêu thích cũng là trống rỗng, sự đam mê, thèm khát, đói khát cũng trống rỗng nhưng cái trống rỗng làm cho mình khổ đau, nó sai khiến mình, cái trống rỗng vô nghĩa, vô ngã đó hành hạ, đày đọa mình, nó đè đầu cưỡi cổ mình. Mình phải thấy được bản chất trống rỗng của nó để mình thoát ra, từ bỏ, diệt tận, tẩy sạch nó một cách hoàn toàn.

"Này các Tỳ-kheo, nhưng đây là con đường đưa đến sự tập khởi của thân kiến. Ai quán mắt là: 'Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi'. Ai quán các sắc... Ai quán nhãn thức... Ai quán nhãn xúc... Ai quán thọ... Ai quán ái... Ai quán tai... Ai quán mũi... Ai quán lưỡi... Ai quán thân... Ai quán ý... Ai quán các pháp... Ai quán ý thức... Ai quán ý xúc... Ai quán ái: 'Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi'." (Trung Bộ Kinh, 148. Kinh Sáu sáu)

Ai cho sự tiếp xúc của con mắt này, các cảm giác sanh khởi lên sau khi tiếp xúc đó là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi thì người đó đang đi trên con đường hôn mê, con đường đầy gai góc, đầy nguy hiểm, sợ hãi, con đường đầy bất an, lo lắng và khổ sầu, là con đường của thân kiếp, chấp thủ, hôn ám, vô minh. Ai cho rằng những cái đó là tôi, là của tôi thì người đó đang đi trên con đường gai góc, vực thẳm, vực sâu. Nếu mình cho rằng mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý, sắc; thanh; hương; vị; xúc; pháp này, sự rõ biết, thấy, nghe, ngửi, nếm, sự tiếp xúc sanh khởi ra cảm giác này mà cho nó là tôi, là của tôi thì người ấy đang đi trên con đường đến sự tập khởi của thân kiến, đang làm cho cái mê lầm này to tướng thêm, đang làm cho cái bóng đêm càng bao phủ lên thêm, đang làm cho con đường khổ đau dài thêm vô cùng vô tận không có ngày kết.

"Nhưng này các Tỳ-kheo, đây là con đường đưa đến sự đoạn diệt của thân kiến. Ai quán mắt: 'Cái này không phải là của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi'. Ai quán sắc... Ai quán nhãn thức... Ai quán nhãn xúc... Ai quán thọ... Ai quán ái... Ai quán tai... Ai quán mũi... Ai quán lưỡi... Ai quán thân... Ai quán ý... Ai quán các pháp... Ai quán ý thức... Ai quán ý xúc... Ai quán thọ... Ai quán ái: 'Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi'." (Trung Bộ Kinh, 148. Kinh Sáu sáu)

Ai cho rằng con mắt này không phải của tôi, con mắt này không phải là tôi, con mắt này không phải tự ngã của tôi, ai quán sát, quán chiếu, ai cho rằng các sắc này, hình hài này, những đồ vật, tài sản này không phải tôi, không phải của tôi, không phải tự ngã của tôi, ai cho rằng cái thấy này không phải là tôi, không phải của tôi, không phải tự ngã của tôi thì người đó đang đi trên con đường diệt khổ, chấm dứt khổ đau, vượt khỏi sầu bi, thành tựu chánh trí, chứng ngộ Niết-bàn. Các cảm giác khi thấy, khi nghe, khi ngửi, khi nếm, có những cái cảm thọ sanh khởi lên mà ai thấy những cảm thọ đó, những cái tiếp xúc đó, những cái thấy, nghe, ngửi, nếm đó, cảm giác, cảm xúc đó không phải tôi, không phải của tôi, không có gì là tự ngã của tôi trong đó hết, nó chỉ là một mớ lắp ráp, duyên sanh, trống rỗng, vô thường, ai nhìn thấy được như vậy người đó đi trên con đường đoạn diệt thân kiến, đi trên con đường phá tan mê lầm, chấm dứt khổ đau, loại bỏ hoàn toàn ý nghĩ, tư tưởng, cái nhận thức tôi, của tôi, tự ngã của tôi ra khỏi căn – trần – thức – xúc – thọ – ái .

"Này các Tỳ-kheo, do duyên mắt và do duyên các sắc, khởi lên nhãn thức. Sự gặp gỡ của ba pháp này là xúc. Do duyên xúc, khởi lên lạc thọ, khổ thọ hay bất khổ bất lạc thọ. Vị ấy do cảm xúc lạc thọ, mà hoan hỷ, tán thán, trú ở ái trước; tham tùy miên của vị ấy tùy tăng. Vị ấy do cảm xúc khổ thọ, mà sầu muộn, than van, than khóc, đập ngực, rơi vào bất tỉnh; sân tùy miên của vị ấy tùy tăng. Vị ấy do cảm xúc bất khổ bất lạc thọ, mà không như thật biết sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly khỏi cảm thọ ấy; vô minh tùy miên của vị ấy tùy tăng. Này các Tỳ-kheo, vị ấy chính do không đoạn tận tham tùy miên đối với lạc thọ, do không tẩy trừ sân tùy miên đối với khổ thọ, do không nhổ lên vô minh tùy miên đối với bất khổ bất lạc thọ, không đoạn tận vô minh, không làm cho minh khởi lên, có thể ngay trong hiện tại là người chấm dứt đau khổ, sự kiện như vậy không xảy ra" (Trung Bộ Kinh, 148. Kinh Sáu sáu)

Nếu thấy cái gì đẹp mà khởi lên cảm giác khoan khoái, thích thú, khen ngợi thì tâm mình trú trong sự yêu thích, dính mắc, mỗi lần như vậy thì mỗi lần tham tùy miên tăng lên, cái tham đi theo miên man trong cảm thọ tăng lên, mỗi lần thấy thích, khoái thì cái tham tăng lên. Khi gặp cảnh khổ, không vừa ý, không hài lòng, sân hận, khó chịu thì cái sân tùy miên tăng lên, mình chấp nhận cảm thọ khó chịu, cho rằng tôi đang giận, tôi đang sân, tôi đang bực, mỗi lần như vậy thì cảm thọ giận lớn thêm giống như mình đang cho nó ăn, mình đang nuôi dưỡng tham, sân, si. Mỗi lần mình thích, khoái là đang cho cái tham ăn, mình gặp cảnh bực bội, khó chịu mà mình chấp nhận cái bực bội, khó chịu đó, không đánh đuổi nó ra là mình chấp nhận cái sân, mình đang cho nó ăn để nó hành hạ, làm khổ đau mình, đánh đuổi nó hay không đều do mình quyết định.

Khi vị ấy cảm xúc với một cái cảm giác không khổ không vui, đều đều thường thường đó mà không như thật biết sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly, không thành tựu năm cái trí tuệ đối với các cảm thọ thì vô minh tùy miên sẽ tăng lên. Mỗi lần mình sống với cảm giác thường thường, an an ổn ổn, yên yên lành lành, mình cho cái này là tôi, tôi đang yên ổn lắm, tôi đang ngon lành lắm, tôi đang bình thường, tôi đang khỏe mạnh, tôi đang ở đây có chuyện gì đâu mà khổ thì cái đó không như thật biết được sự tập khởi của cảm thọ. Tại sao có cảm thọ yên yên ổn ổn đó không biết, không biết được sự đoạn diệt của cảm thọ đó, không biết được vị ngọt ở trong cái yên yên lành lành đó, sự nguy hiểm trong đó mình cũng không thấy, mình không biết phương pháp thoát ra khỏi cảm thọ đó thì vô minh sẽ càng ngày càng phát triển lên.

Trong cảm giác an an ổn ổn, yên yên lành lành đó, trơ trơ, sống ẩn dương nương Phật, qua ngày đoạn tháng là vô minh càng mập ra, càng bành trướng lên, nó xâm chiếm áp đảo, chế ngự hoàn toàn thân tâm mình mà không biết, đó gọi là vô minh tùy miên của vị ấy tùy tâm. Nếu không khéo là mình cho tham, sân, si ăn hằng ngày mà mình không biết, mình tưởng là mình tu, nếu mình biết thì mình trị tội nó, mình đánh đuổi nó, chiến đấu với nó và cuối cùng mình diệt tận nó, tẩy sạch nó một cách hoàn toàn. Bài kinh sáu sáu này là tối thượng thánh trí, nó phơi bày hết tất cả những yếu tố cấu thành sự vận hành của tâm thức theo hai chiều hướng thân kiến đoạn diệt và thân kiến phát triển, theo hai chiều hướng mê ngộ, thánh phàm, tỉnh giác và vô minh, trong đây là cả một sự chứng ngộ của Đức Phật và đạo lộ hành trì thánh pháp trong này.

Tâm biết ơn này tỏa rộng

Cùng khắp thế giới này

Tâm biết ơn này tỏa rộng

Khắp trời đất bao la.

./.