Kinh Nikāya Giảng Giải - Đạo Lộ Tu Học Tuần Tự 2 - Kinh Ganaka Moggallana - Trung Bộ III
Kinh Nikāya Giảng Giải
ĐẠO LỘ TU HỌC TUẦN TỰ 2
KINH GANAKA MOGGALLANA - TRUNG BỘ III
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Học thuộc kinh điển – y cứ kinh điển PAGEREF _Toc111813329 \h 1
II. Tiết độ trong ăn uống PAGEREF _Toc111813330 \h 4
I. Học thuộc kinh điển – y cứ kinh điển
Học kinh mà mạnh ai người nấy diễn dịch, chỉ cần sai một chữ thôi là chánh pháp bị nhiễu loạn. Tạng kinh Nikāya được truyền thừa gần 3000 năm nay vẫn còn giữ được là do các vị Tam Tạng pháp sư học thuộc lòng hơn 3000 bài kinh, còn bây giờ mạnh ai suy nghĩ rồi nói là không được, phải học chánh văn, những lời kinh này đi chung với pháp hành.
Ở thời Đức Phật tất cả đều phải học thuộc lòng mới nhớ để tu, chính vì sự học thuộc lòng nên chánh pháp sau gần 3000 năm mới còn, chúng ta thấy trong tạng kinh thường lập lại 3 lần để người học có thể nhớ được, nếu những pháp quan trọng mà không thuộc thì không tư duy quán chiếu được. Ví dụ nói định nghĩa ngũ uẩn mà không thuộc thì làm sao nhận diện năm uẩn? Không biết suy nghĩ là hành, rõ biết là thức, cảm giác là thọ, hình bóng là tưởng thì làm sao nhận diện? Nhận diện lẫn lộn các pháp thì sự tu học sẽ không chính xác cho nên có những chỗ nhận sự rõ biết là tâm nhưng cái rõ biết đó là thức, là sự sanh diệt của ngũ uẩn.
Vì thế nếu học không nghiêm túc, không thận trọng, không chính xác thì tu sai, mà tu sai thì dạy lại cho người ta cũng sai, chính vì vậy giáo pháp lần lần bị hỗn loạn và hoại diệt. Ví dụ hồi đó chưa học kinh Nikāya thì duyên sanh pháp là cái này sanh thì cái kia sanh, cái này có thì cái kia có, cái này không thì cái kia không, cái này diệt thì cái kia diệt nhưng trong kinh Nikāya không phải vậy.
Duyên sanh pháp của kinh Nikāya là do duyên có con mắt, có các sắc khởi lên sự rõ biết sắc, ba pháp này hội tụ, giao thoa tạo thành sự tiếp xúc của con mắt là nhãn xúc, khi con mắt tiếp xúc tạo ra cảm thọ, cảm giác, đó là thọ do nhãn xúc sanh. Khi nhìn cái gì đó mà mình thích hoặc không thích thì cảm giác thích, không thích đó là cảm thọ do con mắt tiếp xúc sanh khởi ra là ái, thủ hoặc sân. Những pháp này phải thuộc lòng để khi ngồi thiền hoặc ra tiếp duyên xúc cảnh mới nhận diện được các pháp đang vận hành trong tâm, còn không biết thì làm sao nhận diện được?
Lẫn lộn các pháp với nhau, mắt thì làm sao nghe được, lỗ tai thì làm sao thấy được? Vì thế con khuyến khích đại chúng phải học thuộc lòng những pháp quan trọng, giới luật rất quan trọng với người tu nhưng trong Nikāya không phải chỉ giữ những giới mình đã thọ mà còn là hộ trì căn, tức là phải có đầy đủ oai nghi chánh hạnh, vậy mà hỏi lại không nhớ gì hết, đó là sự xót xa cho chúng ta, chúng ta không xem trọng thánh pháp, không tôn trọng pháp bảo, những bài kinh con giới thiệu là những bài kinh cốt tủy, là đạo lộ tu tập, những điều con chia sẻ bây giờ các cô sẽ lấy đó làm hành trang suốt cuộc đời tu của mình, biết đâu sau này chúng ta không gặp nhau nữa thì sao?
Có nhiều chuyện bất ngờ có thể xảy ra, vô thường, bất trắc lắm, khi nghe vậy mà cười thì niềm tin về pháp của mình không có, đó là một sự thật. Mình chưa nhìn thấy được vô thường, chưa tin nên mình cười. Những người bị lũ lụt cuốn trôi mất tích có nghĩ rằng họ chết không? Những người bị tai nạn giao thông có nghĩ rằng họ sẽ bị không? Những người chết vì nhiễm dịch bệnh có nghĩ rằng họ chết vì dịch bệnh đang diễn ra không? Vậy mà nói vô thường lại cười, đó là không có lòng tin đối với pháp, mình nghĩ chuyện đó là chuyện xa xôi nhưng bất cứ lúc nào, bất cứ chỗ nào mình cũng có thể ngã xuống, khụy xuống. Sự quán tưởng về vô thường của mình chưa được bao nhiêu hết, sự quán tưởng về khổ của mình chưa được bao nhiêu, vừa buông cuốn kinh xuống là sống trong trạng thái của buông lung phóng dật, vừa ra khỏi chánh điện là sống với dục ái tham, vô minh, bản ngã. Thành ra chúng ta đang gặp tai họa mà không biết, cho nên phải cố gắng học cho kĩ, học thuộc lòng hộ trì căn.
Chúng ta học thuộc lòng rồi thực tập quán chiếu, nghiền ngẫm sẽ thấy kết quả bất ngờ. Tại sao chúng ta tu học hoài rồi không biết học cái gì, không biết tu tới đâu? Vì kiểu tu học bây giờ mà mạnh ai nấy vẽ, như vậy rồi đi tới đâu? Không đi theo thánh đạo của Đức Phật nên không diệt được tham sân si, vô minh, bản ngã. Không bám sát theo lời dạy của Đức Phật nên không có thành tựu. Trong công thức làm bánh đã quy định bao nhiêu kí bột, bao nhiêu kí đường, nước, màu… làm y theo công thức đó thì ra cái bánh, còn giờ nhớ mang máng, làm đại thì cũng ra cái bánh nhưng theo kiểu của mình. Đó là nói chuyện cực kì đơn giản thôi đã không thành công, hư chuyện chứ đừng nói gì đến giáo pháp tối thượng giải thoát, không phải chuyện đơn giản nghĩ ra rồi làm, bây giờ mạnh ai người nấy tự đưa ra pháp tu, người theo sau thì mù mờ như đi trong rừng rậm, trong khi Đức Phật chỉ có duy nhất một con đường, gọi là độc đạo, đó là Tứ Niệm Xứ.
“Có con đường độc nhất này, này các Tỳ-kheo, khiến cho các loài hữu tình được thanh tịnh, vượt qua được sầu bi, chấm dứt khổ ưu, chứng đạt chánh lý, chứng ngộ Niết-bàn. Con đường ấy tức là bốn niệm xứ”
(Tương Ưng Bộ, Tập V. Thiên Đại Phẩm, Chương III. Tương Ưng Niệm Xứ (a), I. Phẩm Ambapàli, I. Ambapàli)
Bây giờ chúng ta tu cái gì? Cho nên phải bám vào kinh nguyên chất của Đức Phật, bằng không chúng ta sẽ ở trong mê lộ. Nếu bây giờ có người hỏi tổng cương lĩnh của giáo pháp là gì thì mọi người có nói được không? Suốt cuộc đời Đức Phật dạy cái gì?
“Chư Tỳ-kheo, xưa cũng như nay, Ta chỉ nói lên sự khổ và sự diệt khổ.”
(Trung Bộ Kinh, 22. Kinh Ví dụ con rắn)
“Này các Tỳ-kheo, một sự thật các thầy cần phải cố gắng để thấy rõ được đây là khổ, đây là nguyên nhân của khổ, đây là sự chấm dứt khổ và đây là con đường đưa đến diệt tận khổ đau.”
(Tương Ưng Bộ, Tập V- Thiên Đại Phẩm, Chương XII. Tương Ưng Sự Thật, I. Phẩm Định).
Đây chính là sinh khổ, lão khổ, bệnh khổ, tử khổ, oán tắng hội khổ, ái biệt ly khổ, cầu bất đắc khổ, ngũ ấm xí thạnh khổ. Tóm lại năm thủ uẩn là khổ (chấp thủ năm uẩn là khổ). Nhưng làm sao để diệt khổ? Nếu nói dùng Bát Chánh Đạo hoặc chánh kiến để diệt khổ cũng chỉ là nói chung chung thôi, chúng ta phải học từ từ mới thấy được chứ không phải dễ để nắm vững được. Nếu chúng ta không nắm được ngũ uẩn, không nắm được cái tâm lậu hoặc của mình thì học suốt đời cũng không bước lên được thánh đạo, tức là con đường thật sự mà Đức Phật đã đi qua. Con đường thật sự Đức Phật đã đi qua trong riêng phần này là giới – định – tuệ nhưng chúng ta hiểu chữ giới rất nhỏ hẹp, không được đầy đủ. Hộ trì căn và tiết độ trong ăn uống chính là giới trong Nikāya.
II. Tiết độ trong ăn uống
“Này Bà-la-môn, sau khi Tỳ-kheo hộ trì các căn rồi, Như Lai mới huấn luyện vị ấy thêm như sau: "Hãy đến Tỳ-kheo, hãy tiết độ trong ăn uống, chơn chánh giác sát thọ dụng món ăn, không phải để vui đùa, không phải để đam mê, không phải để trang sức, không phải để tự làm đẹp mình, chỉ để thân này được duy trì, được bảo dưỡng, khỏi bị gia hại, để chấp trì Phạm hạnh, nghĩ rằng: "Như vậy ta diệt trừ các cảm thọ cũ và không cho khởi lên các cảm thọ mới; và ta sẽ không phạm lỗi lầm, sống được an ổn".”
(Trung Bộ Kinh, 107. Kinh Ganaka Moggallàna)
Con mời đại chúng nghe thêm bài "Cách ăn cơm của Đức Phật" trên trang linhquyphapan.vn, đây là một bài kinh cực kì hiếm hoi được nghe, có khi suốt đời tu của mình cũng không được biết đến. Trong bài đó nói đến cách ăn cơm của Đức Phật, đây là bát đức (8 đức) khi thọ thực thức ăn.
Chơn chánh giác sát thọ dụng món ăn, giác sát là tỉnh giác, quán sát, xem xét, quán chiếu một cách chân chánh trong khi ăn cơm, trong khi ăn uống. Thứ nhất là không phải để vui đùa, ăn không phải để vui chơi, vừa ăn vừa cười nói là cái ăn của người thế gian chứ không phải cái ăn của người tu, đây là tám sự thực hành trong khi thọ thực thứ ăn, từ Đức Phật cho đến các vị thánh Tăng khi ăn cơm đều phải thực thành theo những điều trong đây cho nên không phải ăn để vui vẻ, vui đùa. Thứ hai là không phải để đam mê, cho nên trong khi ăn phải quán duyên sanh pháp của thiệt căn. Do duyên có lưỡi, có thức ăn đưa vào tiếp xúc với lưỡi khởi lên sự rõ biết thức ăn, ba pháp này hội tụ, giao thoa gọi là thiệt xúc, sự tiếp xúc của lưỡi sanh ra thọ, thường thì đó là lạc thọ, để thức ăn vào lưỡi là xúc sanh thọ, thọ do thiệt xúc sanh tức là cảm thọ do lưỡi tiếp xúc thức ăn sanh khởi nên.
Khi sanh khởi lên lạc thọ sẽ có tham dục, một sự thúc giục để ăn nhanh, ăn cho mau, cái dục trong kinh Nikāya không phải chỉ là chuyện nam nữ mà nó còn bao trùm hết tất cả pháp. Trong tâm mình là một cảm giác thúc giục muốn cho mau, khi vừa nghe kẻng là gắp lia lia để vào lưỡi thấy thích là ái, nhai chưa xong đã gắp miếng thứ hai chờ sẵn làm tham. Như vậy là có đủ dục ái tham, Đức Phật nhai hết thức ăn trong miệng mới đưa thức ăn vào miệng tiếp, không bao giờ còn thức ăn trong miệng mà ngài đưa thức ăn lên miệng tiếp, vì như vậy là tham.
“Ngài ăn đồ ăn vừa phải (với cơm), không có bỏ miếng cơm, chỉ lựa miếng thức ăn. Tôn giả Gotama đưa miếng cơm quanh miệng hai ba lần rồi mới nuốt, không hột cơm nào được vào trong thân không bị nghiến nát, và không một hột cơm nào còn lại trong miệng trước khi ăn miếng cơm khác. Tôn giả Gotama không thưởng thức vị ăn khi ăn đồ ăn, không thưởng thức lòng tham vị. Tôn giả Gotama ăn đồ ăn có đầy đủ tám đức tánh, không phải để vui đùa, không phải để đam mê, không phải để trang sức, không phải để tự làm đẹp mình, mà chỉ để thân này được sống lâu và được bảo dưỡng, để (thân này) khỏi bị thương hại, để hỗ trợ Phạm hạnh, nghĩ rằng: "Như vậy, Ta diệt trừ các cảm thọ cũ và không cho khởi lên các cảm thọ mới, và Ta sẽ không lỗi lầm, sống được an ổn".”
(Trung Bộ Kinh, 91. Kinh Brahmàyu)
Nếu chúng ta thực hành theo đúng kinh Nikāya sẽ thấy rất vi tế và cẩn trọng, cần tu trong lúc ăn rất nhiều chứ không chỉ tu lúc ngồi thiền vì lúc ăn là dục tham ái đều hoạt động: Trong nội tâm là một sự thúc giục là dục, ăn thức ăn mà thấy thích là ái, muốn ăn thêm là tham. Khi ăn phải kiểm soát quai hàm, kiểm soát độ nhai, kiểm soát tiếng động nhai nuốt, kiểm soát cử chỉ hành vi vì không khéo tay áo nhúng vào đồ ăn, muỗng đũa rớt lẻng kẻng, những cái đó là không chánh niệm tỉnh giác và dục tham ái đang hoạt động.
Khi ra chơi giữa giờ học dục tham ái cũng hoạt động mà mình không thấy, chỉ có người thực hành ngũ uẩn mới thấy. Khi ra về dục tham ái hoạt động rất mạnh, nghe chuông hết giờ là đứng dậy bàn ghế xô lệch ầm ầm, đó là đứng dậy trong sự thúc giục. Vì thế khi học dòng pháp này rồi mình sẽ nghe những điều chưa từng nghe, sẽ thấy những điều chưa từng thấy và biết được những điều mình chưa từng biết, nhưng phải chịu khó mới được vì nó đánh thẳng vào hang ổ của dục tham ái để đạt được tâm thanh tịnh.
Không phải để trang sức, không phải để tự làm đẹp mình nghĩa là "no quá nhưng món này ăn đẹp da nên ráng ăn", ăn để làm đẹp. Uống sữa cho mập lên để da trắng thì đó là để trang sức, để làm đẹp. Tất cả những cách ăn đó không phải của bậc thánh đệ tử mà là cách ăn của phàm phu, ăn như vậy không xứng đáng được cúng dường, khi thọ nhận sự cúng dường bằng tâm dục tham ái, bằng tâm vui đùa, đam mê, làm đẹp thì món nợ này phải đền trả rất nặng vì đó là cái ăn không có tu tập, không phải là cách ăn của người xuất gia – đệ tử của bậc thánh, của khất sĩ.
Học bài này rồi khi ăn phải biết thực tập chánh quán thọ thực, không ăn uống lớn tiếng, đạo tràng Nikāya khi ăn uống không nghe tiếng khua của đũa muỗng, im lặng như đang ngồi thiền, nếu có nghe cũng rất nhỏ. Đây là những giới hạnh của người tu, nếu không thành tựu làm sao đi đến thiền định và trí tuệ, trong cái ăn mà mình còn không thấy dục tham ái vận hành, hoạt động, xâm chiếm, áp đảo thân tâm. Trong Bách Chúng Học có ghi không bươi trong bát mà ăn, không nhai nuốt lớn tiếng… thì những cái đó chính là phần giới trong kinh Nikāya, cái gốc của những thứ này chính là sự thúc giục, khoan khoái, thích thú, muốn thêm nhiều thì đó là dục tham ái, sân trong khi ăn.
Ví dụ mình thích món đó mà người kia lấy gần hết, miệng không nói ra nhưng trong bụng khó chịu, bực mình, cho nên phải kiểm soát trong khi ăn cơm, đó gọi là tiết độ trong ăn uống. Học cái này rồi cảm thấy xấu hổ vô cùng, đúng ra chúng ta ăn một ngày chỉ có một bữa mới đúng giới luật và phải đi khất thực nhưng do hoàn cảnh xã hội, phong tục nên chúng ta ăn một ngày hai bữa đã thấy kém rồi, vậy mà ăn đến ba bữa còn chưa thấy hài lòng, tối còn ăn nữa là quá tệ, trừ khi bệnh chứ còn ăn như vậy làm sao tu? Ăn một tô lớn, bụng phình ra thì làm sao ngồi thiền? Suốt ngày thì chạy lăng xăng, tất bật với công việc, học hành, tối đến lại ăn một bát mì to thì làm sao ngồi thiền?
Chỉ có đi ngủ thôi chứ tu gì nữa, các chư Tỳ-kheo thời Đức Phật đầu hôm, giữa đêm đều đi kinh hành, các ngài tu rất tinh tấn, nỗ lực, tinh cần vì thế mà thời Đức Phật không thiếu các bậc thánh Tăng, các bậc A-la-hán, còn mình thì sao? Mình không chịu học, không chịu thực hành pháp, cứ sống theo tập khí, thói quen, nghiệp của mình, được chỉ dẫn thì khó chịu "sao khó khăn quá vậy?", chỉ muốn được thoải mái để buông lung phóng dật, đưa vào khuôn phép của giới luật, oai nghi là sân, bản ngã thì làm sao tu thành tựu? Nhắc nhở một chút không giận thì buồn, nặng thì quải đãi đi luôn.
Cho nên trong phần ăn này là chỗ tu cực kì quan trọng, trước nay mình hiểu lầm ăn thì có gì để tu, thật chất khi ăn là chỗ để dục tham ái hoạt động mạnh mẽ. Vì thế mà nhìn cách ăn uống sẽ biết người đó tu tập ở mức độ nào, đi về giữa trời nắng nóng mà được cho ly nước cam, nước mía mát lạnh là tu ừng ực rồi bị sặc, đó là dục tham ái hoạt động, hớp một ngụm to mà nuốt không kịp là sặc nước vì trong tâm là sự thúc giục, đưa nước vào lưỡi là sự khoan khoái, thích thú nên muốn uống thêm, đó là dục tham ái hoạt động, xâm chiếm thân tâm mà mình không thấy, không biết nên mới gọi là vô minh.
Vô minh và khát ái đang vận hành trong mọi thời mọi chốn, mọi lúc mọi nơi mà mình không thấy, không biết. Vì thế không phải để vui đùa, không phải để đam mê, không phải để trang sức, không phải để tự làm đẹp mình, chỉ để thân này được duy trì, được bảo dưỡng, khỏi bị gia hại, để chấp trì Phạm hạnh (Trung Bộ Kinh, 107. Kinh Ganaka Moggallàna) là 8 công đức, 8 đức hạnh của một vị Tỳ-kheo khi thọ thực, hay còn gọi là bát đức. Mình ăn và tác ý "ăn để duy trì thân này, để nuôi dưỡng để mình giữ gìn được đời sống thanh tịnh để tu tập", không phải ăn để đam mê, thích thú, vui đùa cho nên mình phải hạn chế tối đa đi nhà hàng chay, chỉ khi kẹt lắm mới đi, vì đi ra đó ăn để tìm món ngon, chỗ đó là chỗ hưởng dục của người đời, trong thời đại này không nói tuyệt đối nhưng phải hạn chế tối đa. Như vậy ăn để duy trì thân này, nuôi dưỡng nó để giữ gìn, thực hành phạm hạnh đời sống trong sạch, thanh tịnh.
“Như vậy ta diệt trừ các cảm thọ cũ và không cho khởi lên các cảm thọ mới; và ta sẽ không phạm lỗi lầm, sống được an ổn.”
(Trung Bộ Kinh, 107. Kinh Ganaka Moggallàna)
Thế nào là diệt trừ các cảm thọ cũ? Khi lên ngồi thấy các món hiện lên trước mặt thì trong tâm hình bóng của những món ăn lúc trước hiện lên, cảm thọ khi ăn khởi lại trong tâm, tức là mình nhớ lại lúc trước mình ăn món này có cảm giác như vậy, ví dụ đưa tô bún riêu lên trước mặt mình nhớ lại lúc trước ăn bún riêu có cảm giác ra sao thì đó gọi là cảm thọ cũ, cảm giác, hình bóng, suy nghĩ khi ăn tô bún lúc trước khởi lại trong tâm, cái đó gọi là cảm thọ cũ và phải diệt nó.
Làm sao để diệt cảm thọ cũ? Mình phải quán "khi ăn khỏi miệng rồi bài tiết ra thành cái gì, những thứ này chỉ là đất, nước, gió, lửa thôi, không có gì để thích thú, đam mê trong này", tác ý để đánh đuổi cảm thọ ưa thích, dính mắc vào món đó, thì đó gọi là diệt cảm thọ cũ, không để thúc giục, khoan khoái bên trong. Mình ngồi vậy thôi chứ bên trong thân tâm là các pháp đang vận hành.
Thế nào là không cho sanh khởi cảm thọ mới? Bắt đầu ăn vào rồi phải tác ý, quán chiếu không ham thích, không mê đắm trong đó.
“Này các Tỳ-kheo, có bốn loại đồ ăn này khiến cho các loại sanh vật hay các loại chúng sanh được tồn tại hay khiến cho các loại sắp sanh thành được thọ sanh. Thế nào là bốn?
Đoàn thực hoặc thô hoặc tế,
Xúc thực,
Tư niệm thực,
Thức thực.
Này các Tỳ-kheo, bốn loại đồ ăn này khiến cho các loại sanh vật hay khiến cho các loại chúng sanh được tồn tại hay khiến cho các loại sắp sanh thành được thọ sanh.
Và này các Tỳ-kheo, bốn loại đồ ăn này do cái gì làm nhân, do cái gì tập khởi, do cái gì tác sanh, do cái gì làm cho hiện hữu? Bốn loại đồ ăn này do ái làm nhân, do ái tập khởi, do ái tác sanh, do ái làm hiện hữu.”
(Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (a), II. Phẩm Ðồ Ăn, XI. Các Loại Ðồ Ăn)
Hễ còn ái món ăn thì còn sanh tử, còn có thân này, đầu thai trở lại để ăn chứ không giải thoát khỏi sanh tử được, chính vì vậy phải diệt ái trong khi ăn, không còn ưa thích, đam mê nữa, vì thế một trong những pháp quán quan trọng trong kinh Nikāya chính là nhàm chán đối với thức ăn. Khi bưng bình bát đi khất thực, người ta có gì cho đó nên trong đó đủ mọi loại thức ăn: cơm, canh, bánh… đó là một sự phá ái trong vị giác vì thế mà pháp của Đức Phật rất thâm sâu chứ mình đừng nghĩ đơn giản, bình bát đó là một sự trộn chung mọi thứ thức ăn vì chỉ có một bình bát nên người ta cho gì đều để vào đó.
Mình đang bưng bình bát có cơm mà người ta cúng chè rồi mình bảo để riêng ra cho tôi cầm hay sao? Đổ chè vào chung với cơm, trong đó có đồ kho, điều này nhằm phá trừ cảm thọ cũ và không cho sanh cảm thọ mới, vì ăn như vậy thì làm sao ái được nữa, làm sao còn ưa thích, khoái chí trong đó, đâu phải đi khất thực một chỗ là người ta cúng đầy đủ mọi thứ cho mình, đi nhiều nơi được nhiều người cúng dường đủ mọi loại thứ ăn.
Chỗ thâm sâu ở đây chính là ái tập khởi nên tứ thực tập khởi, tứ thực tập khởi thì sanh tử tập khởi. Tại sao mình không giải thoát được khỏi sanh tử? Tại sao mình vẫn còn cái thân? Vì mình ham ăn, đầu thai lại để ăn, mình còn ưa thích, còn ham muốn, còn khao khát thì còn trở lại để tìm thứ đó, ái tận mới giải thoát được. Ví dụ khi mình thích món đồ nào thì món đồ đó phải ở gần mình, thích ăn cơm với tàu hủ chiên mà từ giờ về sau vĩnh viễn không có món đó chịu được không? Thích cái đó thì có cái đó, ái có mặt thì thủ có mặt, thủ có mặt thì hữu có mặt cho nên muốn giải thoát mà còn ham ăn thì khoan hãy giải thoát, trở lại để ăn nữa.
Chính vì vậy trong sự tu này phải nhiếp phục dục tham ái trong ăn uống, điều này khó hay dễ? Cho nên đừng tưởng mình tu giỏi rồi vênh váo, phải xấu hổ vì những lời Đức Phật dạy mình chưa làm được gì, phải trú trong cái tàm quý, đại tàm quý, phải lo lắng và sợ hãi khi chưa tu được các pháp Đức Phật đã dạy, đó gọi là diệt trừ cảm thọ cũ và không cho khởi lên cảm thọ mới, chỉ có một cách duy nhất là tác ý để diệt trừ cảm thọ mới, nếu không tác ý thì cũng đam mê, thích thú trong đó, món mình thích mà được ăn thì làm sao không khoái?
Có một vị cao Tăng đi dự lễ trai Tăng, trước khi vào lễ người ta rót sữa tươi để cúng dường, khi đang rót cho người ở kia thì ngài khát nước vì đường xa lại đi bộ, ngài chợt nhận thấy lòng mình có sự nôn nóng, thúc giục muốn rót sữa nhanh đến chỗ ngài để uống. Vì thấy tham dục sanh khởi trong tâm nên ngài đậy bình bát khi họ đến rót sữa tươi cho ngài, đậy bình bát tức là không nhận món đó, đó là nhiếp phục lòng dục đối với ăn uống. Nói như vậy có nghĩa là không ăn nhưng nhiếp phục lòng dục xong rồi sau đó mới dùng sữa, vì thế trong chánh quán thọ thực mà có dục tham ái khi ăn là phải ngưng lại, tác ý đánh đuổi, trừ dẹp xong rồi từ từ ăn.
Cho nên nhiếp phục dục tham ái trong khi ăn là dễ hay khó? Cực kì khó nhưng đó là đạo lộ của bậc thánh, bất cứ khi nào làm cái gì mà có dục tham ái, ác bất thiện pháp trong đó là không có tu tập, không có tinh cần, tinh tấn. Phải thực hành được như vậy sẽ không phạm lỗi lầm, sống được an ổn, vì thế tổng cương lĩnh của giáo pháp là "nhiếp phục dục tham, đoạn tận dục tham", đó là câu nói tóm thâu tất cả giáo pháp của Đức Phật, dục tham ở đây là dục tham đối với năm uẩn. Phải học thuộc lòng và thực tập rồi mình sẽ thấy dục tham ái vận hành như thế nào trong khi ăn, đó là cuộc chiến đấu trong nội tâm, như vậy mới gọi là thắng hàng ngàn quân địch tại bãi xa trường không bằng tự thắng chính mình, thắng mình mới là chiến công oanh liệt nhất.
Dầu tại bãi chiến trường
Thắng hàng ngàn quân địch,
Tự thắng mình tốt hơn,
Thật chiến thắng tối thượng
(Kinh Pháp Cú 08 – Phẩm Ngàn, kệ 103)
Thắng mình là thắng những cảm giác dục tham ái trong tâm, giờ học mà đem nước vào uống là không phù hợp, phải uống trước khi vào học hoặc uống khi ra chơi, đang nghe pháp mà lấy nước ra uống là không phù hợp. Học rồi từ từ mình sẽ kiểm soát được dục tham ái trong mọi cử chỉ hành vi, ngay cả nói cũng kiểm soát dục nói, không phải lúc nào cũng nói, sở dĩ ngồi học mà không im lặng được là dục sai khiến mình, cái dục thúc giục mình nói, không nói là chịu không nổi và mình để cho nói là mình đã thua nó, phải nhiếp phục được nó. Giờ ngồi thiền mà mình ngồi yên không được, hết nhúc nhích cựa quậy đến gãi tay, gãi chân thì đó là sự trạo cử, không nhiếp phục, chế ngự được nó là chịu thua nó. Sự tu học là nhiếp phục dục tham ái vận hành trong thân tâm, sau cùng là chế ngự, làm chủ và đoạn tận nó, sau này khi tu đến mức tất cả mọi việc do mình làm chủ chứ không để dục làm chủ, cuối cùng cứu cánh là đoạn tận tất cả dục tham ái, tất cả mọi việc đều sử dụng trí tuệ, đó là chỗ thâm sâu, còn dục ham học, ham ngồi thiền nghe pháp thì phải phát huy, đó là Dục Như Ý Túc. Chúng ta phải phân biệt hai dục, một cái là ác bất thiện pháp, một cái là thiện pháp để tu học.
Nguyện đem công đức này hướng về khắp tất cả đệ tử và chúng sanh đều trọn thành Phật đạo.
./.
ĐẠO LỘ TU HỌC TUẦN TỰ 2
KINH GANAKA MOGGALLANA - TRUNG BỘ III
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Học thuộc kinh điển – y cứ kinh điển PAGEREF _Toc111813329 \h 1
II. Tiết độ trong ăn uống PAGEREF _Toc111813330 \h 4
I. Học thuộc kinh điển – y cứ kinh điển
Học kinh mà mạnh ai người nấy diễn dịch, chỉ cần sai một chữ thôi là chánh pháp bị nhiễu loạn. Tạng kinh Nikāya được truyền thừa gần 3000 năm nay vẫn còn giữ được là do các vị Tam Tạng pháp sư học thuộc lòng hơn 3000 bài kinh, còn bây giờ mạnh ai suy nghĩ rồi nói là không được, phải học chánh văn, những lời kinh này đi chung với pháp hành.
Ở thời Đức Phật tất cả đều phải học thuộc lòng mới nhớ để tu, chính vì sự học thuộc lòng nên chánh pháp sau gần 3000 năm mới còn, chúng ta thấy trong tạng kinh thường lập lại 3 lần để người học có thể nhớ được, nếu những pháp quan trọng mà không thuộc thì không tư duy quán chiếu được. Ví dụ nói định nghĩa ngũ uẩn mà không thuộc thì làm sao nhận diện năm uẩn? Không biết suy nghĩ là hành, rõ biết là thức, cảm giác là thọ, hình bóng là tưởng thì làm sao nhận diện? Nhận diện lẫn lộn các pháp thì sự tu học sẽ không chính xác cho nên có những chỗ nhận sự rõ biết là tâm nhưng cái rõ biết đó là thức, là sự sanh diệt của ngũ uẩn.
Vì thế nếu học không nghiêm túc, không thận trọng, không chính xác thì tu sai, mà tu sai thì dạy lại cho người ta cũng sai, chính vì vậy giáo pháp lần lần bị hỗn loạn và hoại diệt. Ví dụ hồi đó chưa học kinh Nikāya thì duyên sanh pháp là cái này sanh thì cái kia sanh, cái này có thì cái kia có, cái này không thì cái kia không, cái này diệt thì cái kia diệt nhưng trong kinh Nikāya không phải vậy.
Duyên sanh pháp của kinh Nikāya là do duyên có con mắt, có các sắc khởi lên sự rõ biết sắc, ba pháp này hội tụ, giao thoa tạo thành sự tiếp xúc của con mắt là nhãn xúc, khi con mắt tiếp xúc tạo ra cảm thọ, cảm giác, đó là thọ do nhãn xúc sanh. Khi nhìn cái gì đó mà mình thích hoặc không thích thì cảm giác thích, không thích đó là cảm thọ do con mắt tiếp xúc sanh khởi ra là ái, thủ hoặc sân. Những pháp này phải thuộc lòng để khi ngồi thiền hoặc ra tiếp duyên xúc cảnh mới nhận diện được các pháp đang vận hành trong tâm, còn không biết thì làm sao nhận diện được?
Lẫn lộn các pháp với nhau, mắt thì làm sao nghe được, lỗ tai thì làm sao thấy được? Vì thế con khuyến khích đại chúng phải học thuộc lòng những pháp quan trọng, giới luật rất quan trọng với người tu nhưng trong Nikāya không phải chỉ giữ những giới mình đã thọ mà còn là hộ trì căn, tức là phải có đầy đủ oai nghi chánh hạnh, vậy mà hỏi lại không nhớ gì hết, đó là sự xót xa cho chúng ta, chúng ta không xem trọng thánh pháp, không tôn trọng pháp bảo, những bài kinh con giới thiệu là những bài kinh cốt tủy, là đạo lộ tu tập, những điều con chia sẻ bây giờ các cô sẽ lấy đó làm hành trang suốt cuộc đời tu của mình, biết đâu sau này chúng ta không gặp nhau nữa thì sao?
Có nhiều chuyện bất ngờ có thể xảy ra, vô thường, bất trắc lắm, khi nghe vậy mà cười thì niềm tin về pháp của mình không có, đó là một sự thật. Mình chưa nhìn thấy được vô thường, chưa tin nên mình cười. Những người bị lũ lụt cuốn trôi mất tích có nghĩ rằng họ chết không? Những người bị tai nạn giao thông có nghĩ rằng họ sẽ bị không? Những người chết vì nhiễm dịch bệnh có nghĩ rằng họ chết vì dịch bệnh đang diễn ra không? Vậy mà nói vô thường lại cười, đó là không có lòng tin đối với pháp, mình nghĩ chuyện đó là chuyện xa xôi nhưng bất cứ lúc nào, bất cứ chỗ nào mình cũng có thể ngã xuống, khụy xuống. Sự quán tưởng về vô thường của mình chưa được bao nhiêu hết, sự quán tưởng về khổ của mình chưa được bao nhiêu, vừa buông cuốn kinh xuống là sống trong trạng thái của buông lung phóng dật, vừa ra khỏi chánh điện là sống với dục ái tham, vô minh, bản ngã. Thành ra chúng ta đang gặp tai họa mà không biết, cho nên phải cố gắng học cho kĩ, học thuộc lòng hộ trì căn.
Chúng ta học thuộc lòng rồi thực tập quán chiếu, nghiền ngẫm sẽ thấy kết quả bất ngờ. Tại sao chúng ta tu học hoài rồi không biết học cái gì, không biết tu tới đâu? Vì kiểu tu học bây giờ mà mạnh ai nấy vẽ, như vậy rồi đi tới đâu? Không đi theo thánh đạo của Đức Phật nên không diệt được tham sân si, vô minh, bản ngã. Không bám sát theo lời dạy của Đức Phật nên không có thành tựu. Trong công thức làm bánh đã quy định bao nhiêu kí bột, bao nhiêu kí đường, nước, màu… làm y theo công thức đó thì ra cái bánh, còn giờ nhớ mang máng, làm đại thì cũng ra cái bánh nhưng theo kiểu của mình. Đó là nói chuyện cực kì đơn giản thôi đã không thành công, hư chuyện chứ đừng nói gì đến giáo pháp tối thượng giải thoát, không phải chuyện đơn giản nghĩ ra rồi làm, bây giờ mạnh ai người nấy tự đưa ra pháp tu, người theo sau thì mù mờ như đi trong rừng rậm, trong khi Đức Phật chỉ có duy nhất một con đường, gọi là độc đạo, đó là Tứ Niệm Xứ.
“Có con đường độc nhất này, này các Tỳ-kheo, khiến cho các loài hữu tình được thanh tịnh, vượt qua được sầu bi, chấm dứt khổ ưu, chứng đạt chánh lý, chứng ngộ Niết-bàn. Con đường ấy tức là bốn niệm xứ”
(Tương Ưng Bộ, Tập V. Thiên Đại Phẩm, Chương III. Tương Ưng Niệm Xứ (a), I. Phẩm Ambapàli, I. Ambapàli)
Bây giờ chúng ta tu cái gì? Cho nên phải bám vào kinh nguyên chất của Đức Phật, bằng không chúng ta sẽ ở trong mê lộ. Nếu bây giờ có người hỏi tổng cương lĩnh của giáo pháp là gì thì mọi người có nói được không? Suốt cuộc đời Đức Phật dạy cái gì?
“Chư Tỳ-kheo, xưa cũng như nay, Ta chỉ nói lên sự khổ và sự diệt khổ.”
(Trung Bộ Kinh, 22. Kinh Ví dụ con rắn)
“Này các Tỳ-kheo, một sự thật các thầy cần phải cố gắng để thấy rõ được đây là khổ, đây là nguyên nhân của khổ, đây là sự chấm dứt khổ và đây là con đường đưa đến diệt tận khổ đau.”
(Tương Ưng Bộ, Tập V- Thiên Đại Phẩm, Chương XII. Tương Ưng Sự Thật, I. Phẩm Định).
Đây chính là sinh khổ, lão khổ, bệnh khổ, tử khổ, oán tắng hội khổ, ái biệt ly khổ, cầu bất đắc khổ, ngũ ấm xí thạnh khổ. Tóm lại năm thủ uẩn là khổ (chấp thủ năm uẩn là khổ). Nhưng làm sao để diệt khổ? Nếu nói dùng Bát Chánh Đạo hoặc chánh kiến để diệt khổ cũng chỉ là nói chung chung thôi, chúng ta phải học từ từ mới thấy được chứ không phải dễ để nắm vững được. Nếu chúng ta không nắm được ngũ uẩn, không nắm được cái tâm lậu hoặc của mình thì học suốt đời cũng không bước lên được thánh đạo, tức là con đường thật sự mà Đức Phật đã đi qua. Con đường thật sự Đức Phật đã đi qua trong riêng phần này là giới – định – tuệ nhưng chúng ta hiểu chữ giới rất nhỏ hẹp, không được đầy đủ. Hộ trì căn và tiết độ trong ăn uống chính là giới trong Nikāya.
II. Tiết độ trong ăn uống
“Này Bà-la-môn, sau khi Tỳ-kheo hộ trì các căn rồi, Như Lai mới huấn luyện vị ấy thêm như sau: "Hãy đến Tỳ-kheo, hãy tiết độ trong ăn uống, chơn chánh giác sát thọ dụng món ăn, không phải để vui đùa, không phải để đam mê, không phải để trang sức, không phải để tự làm đẹp mình, chỉ để thân này được duy trì, được bảo dưỡng, khỏi bị gia hại, để chấp trì Phạm hạnh, nghĩ rằng: "Như vậy ta diệt trừ các cảm thọ cũ và không cho khởi lên các cảm thọ mới; và ta sẽ không phạm lỗi lầm, sống được an ổn".”
(Trung Bộ Kinh, 107. Kinh Ganaka Moggallàna)
Con mời đại chúng nghe thêm bài "Cách ăn cơm của Đức Phật" trên trang linhquyphapan.vn, đây là một bài kinh cực kì hiếm hoi được nghe, có khi suốt đời tu của mình cũng không được biết đến. Trong bài đó nói đến cách ăn cơm của Đức Phật, đây là bát đức (8 đức) khi thọ thực thức ăn.
Chơn chánh giác sát thọ dụng món ăn, giác sát là tỉnh giác, quán sát, xem xét, quán chiếu một cách chân chánh trong khi ăn cơm, trong khi ăn uống. Thứ nhất là không phải để vui đùa, ăn không phải để vui chơi, vừa ăn vừa cười nói là cái ăn của người thế gian chứ không phải cái ăn của người tu, đây là tám sự thực hành trong khi thọ thực thứ ăn, từ Đức Phật cho đến các vị thánh Tăng khi ăn cơm đều phải thực thành theo những điều trong đây cho nên không phải ăn để vui vẻ, vui đùa. Thứ hai là không phải để đam mê, cho nên trong khi ăn phải quán duyên sanh pháp của thiệt căn. Do duyên có lưỡi, có thức ăn đưa vào tiếp xúc với lưỡi khởi lên sự rõ biết thức ăn, ba pháp này hội tụ, giao thoa gọi là thiệt xúc, sự tiếp xúc của lưỡi sanh ra thọ, thường thì đó là lạc thọ, để thức ăn vào lưỡi là xúc sanh thọ, thọ do thiệt xúc sanh tức là cảm thọ do lưỡi tiếp xúc thức ăn sanh khởi nên.
Khi sanh khởi lên lạc thọ sẽ có tham dục, một sự thúc giục để ăn nhanh, ăn cho mau, cái dục trong kinh Nikāya không phải chỉ là chuyện nam nữ mà nó còn bao trùm hết tất cả pháp. Trong tâm mình là một cảm giác thúc giục muốn cho mau, khi vừa nghe kẻng là gắp lia lia để vào lưỡi thấy thích là ái, nhai chưa xong đã gắp miếng thứ hai chờ sẵn làm tham. Như vậy là có đủ dục ái tham, Đức Phật nhai hết thức ăn trong miệng mới đưa thức ăn vào miệng tiếp, không bao giờ còn thức ăn trong miệng mà ngài đưa thức ăn lên miệng tiếp, vì như vậy là tham.
“Ngài ăn đồ ăn vừa phải (với cơm), không có bỏ miếng cơm, chỉ lựa miếng thức ăn. Tôn giả Gotama đưa miếng cơm quanh miệng hai ba lần rồi mới nuốt, không hột cơm nào được vào trong thân không bị nghiến nát, và không một hột cơm nào còn lại trong miệng trước khi ăn miếng cơm khác. Tôn giả Gotama không thưởng thức vị ăn khi ăn đồ ăn, không thưởng thức lòng tham vị. Tôn giả Gotama ăn đồ ăn có đầy đủ tám đức tánh, không phải để vui đùa, không phải để đam mê, không phải để trang sức, không phải để tự làm đẹp mình, mà chỉ để thân này được sống lâu và được bảo dưỡng, để (thân này) khỏi bị thương hại, để hỗ trợ Phạm hạnh, nghĩ rằng: "Như vậy, Ta diệt trừ các cảm thọ cũ và không cho khởi lên các cảm thọ mới, và Ta sẽ không lỗi lầm, sống được an ổn".”
(Trung Bộ Kinh, 91. Kinh Brahmàyu)
Nếu chúng ta thực hành theo đúng kinh Nikāya sẽ thấy rất vi tế và cẩn trọng, cần tu trong lúc ăn rất nhiều chứ không chỉ tu lúc ngồi thiền vì lúc ăn là dục tham ái đều hoạt động: Trong nội tâm là một sự thúc giục là dục, ăn thức ăn mà thấy thích là ái, muốn ăn thêm là tham. Khi ăn phải kiểm soát quai hàm, kiểm soát độ nhai, kiểm soát tiếng động nhai nuốt, kiểm soát cử chỉ hành vi vì không khéo tay áo nhúng vào đồ ăn, muỗng đũa rớt lẻng kẻng, những cái đó là không chánh niệm tỉnh giác và dục tham ái đang hoạt động.
Khi ra chơi giữa giờ học dục tham ái cũng hoạt động mà mình không thấy, chỉ có người thực hành ngũ uẩn mới thấy. Khi ra về dục tham ái hoạt động rất mạnh, nghe chuông hết giờ là đứng dậy bàn ghế xô lệch ầm ầm, đó là đứng dậy trong sự thúc giục. Vì thế khi học dòng pháp này rồi mình sẽ nghe những điều chưa từng nghe, sẽ thấy những điều chưa từng thấy và biết được những điều mình chưa từng biết, nhưng phải chịu khó mới được vì nó đánh thẳng vào hang ổ của dục tham ái để đạt được tâm thanh tịnh.
Không phải để trang sức, không phải để tự làm đẹp mình nghĩa là "no quá nhưng món này ăn đẹp da nên ráng ăn", ăn để làm đẹp. Uống sữa cho mập lên để da trắng thì đó là để trang sức, để làm đẹp. Tất cả những cách ăn đó không phải của bậc thánh đệ tử mà là cách ăn của phàm phu, ăn như vậy không xứng đáng được cúng dường, khi thọ nhận sự cúng dường bằng tâm dục tham ái, bằng tâm vui đùa, đam mê, làm đẹp thì món nợ này phải đền trả rất nặng vì đó là cái ăn không có tu tập, không phải là cách ăn của người xuất gia – đệ tử của bậc thánh, của khất sĩ.
Học bài này rồi khi ăn phải biết thực tập chánh quán thọ thực, không ăn uống lớn tiếng, đạo tràng Nikāya khi ăn uống không nghe tiếng khua của đũa muỗng, im lặng như đang ngồi thiền, nếu có nghe cũng rất nhỏ. Đây là những giới hạnh của người tu, nếu không thành tựu làm sao đi đến thiền định và trí tuệ, trong cái ăn mà mình còn không thấy dục tham ái vận hành, hoạt động, xâm chiếm, áp đảo thân tâm. Trong Bách Chúng Học có ghi không bươi trong bát mà ăn, không nhai nuốt lớn tiếng… thì những cái đó chính là phần giới trong kinh Nikāya, cái gốc của những thứ này chính là sự thúc giục, khoan khoái, thích thú, muốn thêm nhiều thì đó là dục tham ái, sân trong khi ăn.
Ví dụ mình thích món đó mà người kia lấy gần hết, miệng không nói ra nhưng trong bụng khó chịu, bực mình, cho nên phải kiểm soát trong khi ăn cơm, đó gọi là tiết độ trong ăn uống. Học cái này rồi cảm thấy xấu hổ vô cùng, đúng ra chúng ta ăn một ngày chỉ có một bữa mới đúng giới luật và phải đi khất thực nhưng do hoàn cảnh xã hội, phong tục nên chúng ta ăn một ngày hai bữa đã thấy kém rồi, vậy mà ăn đến ba bữa còn chưa thấy hài lòng, tối còn ăn nữa là quá tệ, trừ khi bệnh chứ còn ăn như vậy làm sao tu? Ăn một tô lớn, bụng phình ra thì làm sao ngồi thiền? Suốt ngày thì chạy lăng xăng, tất bật với công việc, học hành, tối đến lại ăn một bát mì to thì làm sao ngồi thiền?
Chỉ có đi ngủ thôi chứ tu gì nữa, các chư Tỳ-kheo thời Đức Phật đầu hôm, giữa đêm đều đi kinh hành, các ngài tu rất tinh tấn, nỗ lực, tinh cần vì thế mà thời Đức Phật không thiếu các bậc thánh Tăng, các bậc A-la-hán, còn mình thì sao? Mình không chịu học, không chịu thực hành pháp, cứ sống theo tập khí, thói quen, nghiệp của mình, được chỉ dẫn thì khó chịu "sao khó khăn quá vậy?", chỉ muốn được thoải mái để buông lung phóng dật, đưa vào khuôn phép của giới luật, oai nghi là sân, bản ngã thì làm sao tu thành tựu? Nhắc nhở một chút không giận thì buồn, nặng thì quải đãi đi luôn.
Cho nên trong phần ăn này là chỗ tu cực kì quan trọng, trước nay mình hiểu lầm ăn thì có gì để tu, thật chất khi ăn là chỗ để dục tham ái hoạt động mạnh mẽ. Vì thế mà nhìn cách ăn uống sẽ biết người đó tu tập ở mức độ nào, đi về giữa trời nắng nóng mà được cho ly nước cam, nước mía mát lạnh là tu ừng ực rồi bị sặc, đó là dục tham ái hoạt động, hớp một ngụm to mà nuốt không kịp là sặc nước vì trong tâm là sự thúc giục, đưa nước vào lưỡi là sự khoan khoái, thích thú nên muốn uống thêm, đó là dục tham ái hoạt động, xâm chiếm thân tâm mà mình không thấy, không biết nên mới gọi là vô minh.
Vô minh và khát ái đang vận hành trong mọi thời mọi chốn, mọi lúc mọi nơi mà mình không thấy, không biết. Vì thế không phải để vui đùa, không phải để đam mê, không phải để trang sức, không phải để tự làm đẹp mình, chỉ để thân này được duy trì, được bảo dưỡng, khỏi bị gia hại, để chấp trì Phạm hạnh (Trung Bộ Kinh, 107. Kinh Ganaka Moggallàna) là 8 công đức, 8 đức hạnh của một vị Tỳ-kheo khi thọ thực, hay còn gọi là bát đức. Mình ăn và tác ý "ăn để duy trì thân này, để nuôi dưỡng để mình giữ gìn được đời sống thanh tịnh để tu tập", không phải ăn để đam mê, thích thú, vui đùa cho nên mình phải hạn chế tối đa đi nhà hàng chay, chỉ khi kẹt lắm mới đi, vì đi ra đó ăn để tìm món ngon, chỗ đó là chỗ hưởng dục của người đời, trong thời đại này không nói tuyệt đối nhưng phải hạn chế tối đa. Như vậy ăn để duy trì thân này, nuôi dưỡng nó để giữ gìn, thực hành phạm hạnh đời sống trong sạch, thanh tịnh.
“Như vậy ta diệt trừ các cảm thọ cũ và không cho khởi lên các cảm thọ mới; và ta sẽ không phạm lỗi lầm, sống được an ổn.”
(Trung Bộ Kinh, 107. Kinh Ganaka Moggallàna)
Thế nào là diệt trừ các cảm thọ cũ? Khi lên ngồi thấy các món hiện lên trước mặt thì trong tâm hình bóng của những món ăn lúc trước hiện lên, cảm thọ khi ăn khởi lại trong tâm, tức là mình nhớ lại lúc trước mình ăn món này có cảm giác như vậy, ví dụ đưa tô bún riêu lên trước mặt mình nhớ lại lúc trước ăn bún riêu có cảm giác ra sao thì đó gọi là cảm thọ cũ, cảm giác, hình bóng, suy nghĩ khi ăn tô bún lúc trước khởi lại trong tâm, cái đó gọi là cảm thọ cũ và phải diệt nó.
Làm sao để diệt cảm thọ cũ? Mình phải quán "khi ăn khỏi miệng rồi bài tiết ra thành cái gì, những thứ này chỉ là đất, nước, gió, lửa thôi, không có gì để thích thú, đam mê trong này", tác ý để đánh đuổi cảm thọ ưa thích, dính mắc vào món đó, thì đó gọi là diệt cảm thọ cũ, không để thúc giục, khoan khoái bên trong. Mình ngồi vậy thôi chứ bên trong thân tâm là các pháp đang vận hành.
Thế nào là không cho sanh khởi cảm thọ mới? Bắt đầu ăn vào rồi phải tác ý, quán chiếu không ham thích, không mê đắm trong đó.
“Này các Tỳ-kheo, có bốn loại đồ ăn này khiến cho các loại sanh vật hay các loại chúng sanh được tồn tại hay khiến cho các loại sắp sanh thành được thọ sanh. Thế nào là bốn?
Đoàn thực hoặc thô hoặc tế,
Xúc thực,
Tư niệm thực,
Thức thực.
Này các Tỳ-kheo, bốn loại đồ ăn này khiến cho các loại sanh vật hay khiến cho các loại chúng sanh được tồn tại hay khiến cho các loại sắp sanh thành được thọ sanh.
Và này các Tỳ-kheo, bốn loại đồ ăn này do cái gì làm nhân, do cái gì tập khởi, do cái gì tác sanh, do cái gì làm cho hiện hữu? Bốn loại đồ ăn này do ái làm nhân, do ái tập khởi, do ái tác sanh, do ái làm hiện hữu.”
(Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (a), II. Phẩm Ðồ Ăn, XI. Các Loại Ðồ Ăn)
Hễ còn ái món ăn thì còn sanh tử, còn có thân này, đầu thai trở lại để ăn chứ không giải thoát khỏi sanh tử được, chính vì vậy phải diệt ái trong khi ăn, không còn ưa thích, đam mê nữa, vì thế một trong những pháp quán quan trọng trong kinh Nikāya chính là nhàm chán đối với thức ăn. Khi bưng bình bát đi khất thực, người ta có gì cho đó nên trong đó đủ mọi loại thức ăn: cơm, canh, bánh… đó là một sự phá ái trong vị giác vì thế mà pháp của Đức Phật rất thâm sâu chứ mình đừng nghĩ đơn giản, bình bát đó là một sự trộn chung mọi thứ thức ăn vì chỉ có một bình bát nên người ta cho gì đều để vào đó.
Mình đang bưng bình bát có cơm mà người ta cúng chè rồi mình bảo để riêng ra cho tôi cầm hay sao? Đổ chè vào chung với cơm, trong đó có đồ kho, điều này nhằm phá trừ cảm thọ cũ và không cho sanh cảm thọ mới, vì ăn như vậy thì làm sao ái được nữa, làm sao còn ưa thích, khoái chí trong đó, đâu phải đi khất thực một chỗ là người ta cúng đầy đủ mọi thứ cho mình, đi nhiều nơi được nhiều người cúng dường đủ mọi loại thứ ăn.
Chỗ thâm sâu ở đây chính là ái tập khởi nên tứ thực tập khởi, tứ thực tập khởi thì sanh tử tập khởi. Tại sao mình không giải thoát được khỏi sanh tử? Tại sao mình vẫn còn cái thân? Vì mình ham ăn, đầu thai lại để ăn, mình còn ưa thích, còn ham muốn, còn khao khát thì còn trở lại để tìm thứ đó, ái tận mới giải thoát được. Ví dụ khi mình thích món đồ nào thì món đồ đó phải ở gần mình, thích ăn cơm với tàu hủ chiên mà từ giờ về sau vĩnh viễn không có món đó chịu được không? Thích cái đó thì có cái đó, ái có mặt thì thủ có mặt, thủ có mặt thì hữu có mặt cho nên muốn giải thoát mà còn ham ăn thì khoan hãy giải thoát, trở lại để ăn nữa.
Chính vì vậy trong sự tu này phải nhiếp phục dục tham ái trong ăn uống, điều này khó hay dễ? Cho nên đừng tưởng mình tu giỏi rồi vênh váo, phải xấu hổ vì những lời Đức Phật dạy mình chưa làm được gì, phải trú trong cái tàm quý, đại tàm quý, phải lo lắng và sợ hãi khi chưa tu được các pháp Đức Phật đã dạy, đó gọi là diệt trừ cảm thọ cũ và không cho khởi lên cảm thọ mới, chỉ có một cách duy nhất là tác ý để diệt trừ cảm thọ mới, nếu không tác ý thì cũng đam mê, thích thú trong đó, món mình thích mà được ăn thì làm sao không khoái?
Có một vị cao Tăng đi dự lễ trai Tăng, trước khi vào lễ người ta rót sữa tươi để cúng dường, khi đang rót cho người ở kia thì ngài khát nước vì đường xa lại đi bộ, ngài chợt nhận thấy lòng mình có sự nôn nóng, thúc giục muốn rót sữa nhanh đến chỗ ngài để uống. Vì thấy tham dục sanh khởi trong tâm nên ngài đậy bình bát khi họ đến rót sữa tươi cho ngài, đậy bình bát tức là không nhận món đó, đó là nhiếp phục lòng dục đối với ăn uống. Nói như vậy có nghĩa là không ăn nhưng nhiếp phục lòng dục xong rồi sau đó mới dùng sữa, vì thế trong chánh quán thọ thực mà có dục tham ái khi ăn là phải ngưng lại, tác ý đánh đuổi, trừ dẹp xong rồi từ từ ăn.
Cho nên nhiếp phục dục tham ái trong khi ăn là dễ hay khó? Cực kì khó nhưng đó là đạo lộ của bậc thánh, bất cứ khi nào làm cái gì mà có dục tham ái, ác bất thiện pháp trong đó là không có tu tập, không có tinh cần, tinh tấn. Phải thực hành được như vậy sẽ không phạm lỗi lầm, sống được an ổn, vì thế tổng cương lĩnh của giáo pháp là "nhiếp phục dục tham, đoạn tận dục tham", đó là câu nói tóm thâu tất cả giáo pháp của Đức Phật, dục tham ở đây là dục tham đối với năm uẩn. Phải học thuộc lòng và thực tập rồi mình sẽ thấy dục tham ái vận hành như thế nào trong khi ăn, đó là cuộc chiến đấu trong nội tâm, như vậy mới gọi là thắng hàng ngàn quân địch tại bãi xa trường không bằng tự thắng chính mình, thắng mình mới là chiến công oanh liệt nhất.
Dầu tại bãi chiến trường
Thắng hàng ngàn quân địch,
Tự thắng mình tốt hơn,
Thật chiến thắng tối thượng
(Kinh Pháp Cú 08 – Phẩm Ngàn, kệ 103)
Thắng mình là thắng những cảm giác dục tham ái trong tâm, giờ học mà đem nước vào uống là không phù hợp, phải uống trước khi vào học hoặc uống khi ra chơi, đang nghe pháp mà lấy nước ra uống là không phù hợp. Học rồi từ từ mình sẽ kiểm soát được dục tham ái trong mọi cử chỉ hành vi, ngay cả nói cũng kiểm soát dục nói, không phải lúc nào cũng nói, sở dĩ ngồi học mà không im lặng được là dục sai khiến mình, cái dục thúc giục mình nói, không nói là chịu không nổi và mình để cho nói là mình đã thua nó, phải nhiếp phục được nó. Giờ ngồi thiền mà mình ngồi yên không được, hết nhúc nhích cựa quậy đến gãi tay, gãi chân thì đó là sự trạo cử, không nhiếp phục, chế ngự được nó là chịu thua nó. Sự tu học là nhiếp phục dục tham ái vận hành trong thân tâm, sau cùng là chế ngự, làm chủ và đoạn tận nó, sau này khi tu đến mức tất cả mọi việc do mình làm chủ chứ không để dục làm chủ, cuối cùng cứu cánh là đoạn tận tất cả dục tham ái, tất cả mọi việc đều sử dụng trí tuệ, đó là chỗ thâm sâu, còn dục ham học, ham ngồi thiền nghe pháp thì phải phát huy, đó là Dục Như Ý Túc. Chúng ta phải phân biệt hai dục, một cái là ác bất thiện pháp, một cái là thiện pháp để tu học.
Nguyện đem công đức này hướng về khắp tất cả đệ tử và chúng sanh đều trọn thành Phật đạo.
./.