Như Lý Giác Sát - Người Mù Sáng Mắt 1A
SOI SÁNG NIKĀYA
NHƯ LÝ GIÁC SÁT
NGƯỜI MÙ SÁNG MẮT 1A
–Thích Minh Thành–
Kính thưa quý thầy, quý sư cô và toàn thể đại chúng cùng tất cả quý Phật tử. Minh Thành nhận được nhiều câu hỏi của quý Phật tử nên chúng ta sẽ chia sẻ từ từ.
Dạ, thưa thầy. Bạn con nói ba của bạn gần 80 tuổi, ông rất sợ và lo lắng dịch bệnh nên lúc nào cũng nghe chú Đại Bi để bớt sợ và tâm được an lạc nhưng bạn con nói rằng đừng cho ba nghe kinh kệ nữa mà mở bài nhạc ba thích nghe để tâm được an lạc. Con nói để ông nghe kinh hay nghe tụng chú tốt hơn vì nghe nhạc có sự thích thú trong tâm sẽ làm tăng dục, nếu bài dở thì tâm tăng sân, người nào hằng ngày cứ nghe hoặc xem những cái làm tăng lòng tham hoặc sân thì khi mạng chung sẽ đọa vào ba cõi ác. Bạn con nghe thì không tin.
Ông cụ 80 tuổi lo lắng về vấn đề dịch bệnh cho nên ông thường nghe chú Đại Bi cho bớt sợ nhưng con của ông cụ lại không cho nghe kinh nữa mà muốn mở nhạc cho ông cụ nghe để vui lên. Người bạn giải thích nếu nghe bài nhạc nào thích thú sẽ sanh lòng ưa thích, tham ái, còn bài nào không thích thì khó chịu và nếu sanh lòng tham ái, sân hận như vậy sau khi chết sẽ rơi ba cõi ác nhưng người con của ông cụ không tin. Trong cái vui có vui của thiện pháp và vui của bất thiện pháp chứ không phải cái vui nào cũng giống cái vui nào, hiện tại trong hoàn cảnh dịch bệnh có biết bao đau thương, khổ sầu, tang tóc và mọi người đang sống trong tâm bất an nên ông cụ muốn nghe những bài kinh kệ, tụng chú thì ít nhất cụ không hiểu biết nhưng tâm cũng bớt lo sợ, đó cũng là thiện pháp, chưa nói nếu cụ nghe được những bài kinh có ý nghĩa hoặc nghe những bài sám được quý thầy tụng đọc thì còn tốt hơn nữa. Lúc 10 tuổi Minh Thành nghe được những bài "sám Thảo Lư", "sám hồng trần" đến giờ vẫn không quên, những bài kinh sám đó rất có giá trị trong việc khuyến tu.
"Chốn thảo lư an cư dưỡng tánh,
Dốc một lòng nhập thánh siêu phàm,
Sắc tài danh lợi chẳng ham,
Thị phi phủi sạch, luận đàm mặc ai.
Tuyết ban mai lâu dài chi đó,
Thân người đời nào có bao lâu,
Nhộn nhàng trong cuộc bể dâu,
Xuân xanh mới đó bạc đầu rồi đây".
(Sám Thảo Lư – Sám hồi tâm I – Tổ sư Huệ Đăng)
Những bài đó Minh Thành đọc từ lúc 9-10 tuổi đến tận bây giờ vẫn không quên.
"Xin đừng đem dạ tưởng mà mơ
Trăm năm cuộc thế như cờ bị vây
Rút gươm huệ dứt dây tham ái
Kiếp tìm thầy cầu phái qui y.
Kiên trì ngũ giới tam qui,
Mở lòng từ nhẫn sân si phải chừa".
(Sám Thảo Lư – Sám hồi tâm I – Tổ sư Huệ Đăng)
Thảo lư là ngôi thảo am, là cái thất bằng cỏ tranh, "chốn thảo lư an cư dưỡng tánh" là ở yên trong am tranh để tu dưỡng tâm tánh. "Dốc một lòng nhập thánh siêu phàm" là điều chúng ta đang làm ở đây. "Nhộn nhàng trong cuộc bể dâu" là cái lăng xăng, bận rộn trong sự thay đổi, bể là biển nhưng lại đổi thành những cánh rừng, những hàng cây, cho nên những cuộc đổi thay gọi là bể dâu, bể dâu là nói gọn của một thành ngữ Hán "thương hải biến vi tang điền" nghĩa là biển xanh biến thành ruộng dâu, nói lên sự thay đổi vô thường của cuộc đời, thấy rộn ràng như vậy nhưng tích tắc là đổi thay. Những bài sám tụng như vậy rất có ý nghĩa khuyến thiện, khuyến tấn, khuyến tu, làm cho con người thức tỉnh, giác ngộ sự thật cuộc đời cho nên những bài kệ, bài chú, những câu niệm Phật cũng có những giá trị nhất định của nó. Chúng ta ngồi đây cũng từ cái chuông, cái mỏ của ông thầy tụng đám, người xưa bà nội Minh Thành mất thì gần nhà Minh Thành có ông thầy Tư chuyên đi tụng đám, ông đến tụng bài "sám hồng trần" với chất giọng nhựa nhựa, kéo dài câu tụng, lên giọng xuống giọng trầm bổng đến tận bây giờ Minh Thành vẫn không quên.
"Khi nào đứng đứng ngồi ngồi
Bây giờ thiêm thiếp như chồi cây khô
Khi nào du lịch giang hồ
Bây giờ nhắm mắt mà vô quan tài
Khi nào vợ vợ chồng chồng
Bây giờ trăng khuyết còn mong chi tròn
Khi nào cháu cháu con con
Bây giờ hai ngã nước non xa vời".
(Sám hồng trần)
Những bài sám kệ đó của các vị cao Tăng ngày xưa, có một số các ngài sáng tác, có một số các ngài diễn dịch trong các bài văn chữ Hán cho nên những lời kinh, câu kệ, câu chú có lợi ích nhất định, có giá trị ban đầu cho người học đạo pháp, vì vậy để ông cụ nghe lời kinh, tiếng kệ, câu chú là đúng và người Phật tử là bạn của con ông cụ giải thích cho bạn mình như vậy là đúng. Tại vì những lời nhạc chỉ toàn than thở, oán hờn, đau thương… chỉ toàn tham ái, sân si, nghe cái đó chỉ tăng thêm tham, thêm sân, thêm sầu khổ, làm tươi nhuận cho ái. Chúng ta ngồi đây nghe pháp chứ mở tình ca lên là tê tái cõi lòng, nhất là đối với tuổi trẻ, những hình bóng người xưa hiện về thì những bài nhạc đó sẽ tưới tẩm tươi tốt cho ái căn, gốc rễ của ái. Chính mình tu mấy chục năm mà vô tình đi xe Grab, xe đò mà tài xế mở nhạc tình ca Bolero là mình phải xin người ta tắt giùm vì đi xe chỉ toàn các thầy, nếu lúc đó không có chánh niệm tỉnh giác thì lập tức thọ; tưởng; hành sanh khởi chứ đừng nghĩ tu ngon lành rồi muốn mở gì là mở, mình sẽ đi theo lời nhạc đó lập tức. Cô Phật tử là người có hiếu với cha mẹ, trong "căn bản trí" có ghi hãy khuyến khích, khích lệ những người thân tin tưởng vào Đức Phật, vào chư Tăng, vào giới hạnh, khích lệ, đặt để người thân của mình vào trong sự thật Khổ Thánh Đế vô thường, vô ngã, đó là từ tâm, bi tâm, tình thương của mình đối với những bậc ân đức sinh thành, đối với những người có ơn, có nghĩa với mình. Phải thật khéo léo, khích lệ, hướng dẫn họ, thầy Pháp An được rất nhiều Phật tử trong nước, ngoài nước gọi về khen ngợi, chẳng những khen thầy Pháp An mà Minh Thành cũng được thơm lây vì ông cụ có tuổi rồi nhưng vẫn minh mẫn, trình pháp sắc bén, nắm được giáo pháp, cương lĩnh của pháp hành trong kinh tạng Nikāya, đó là do nghe nhiều chánh pháp. Lúc đầu ông lên núi vẫn còn sân, còn bản ngã nặng nề nhưng càng ngày càng đi vào dòng pháp thì càng lắng dịu, giảm bớt rất nhiều.
Câu hỏi tiếp theo là một người chị siêng năng thực hành pháp, nghe pháp nhưng tối ngủ nằm mơ hay thấy những người ghét, sân giận. Ở đây có ai như vậy không? Vì cái tâm khi nhiếp phục nhiều, an trú trong pháp nhiều, kiểm soát nhiều thì tâm bị kiểm soát nên không dám manh động, đến khi ngủ thì lúc đó những lậu hoặc, tập khí bung ra. Cái này có thường xuyên, nhiều khi ban ngày mình hiền khô nhưng tối ngủ lại thấy chiêm bao đang cãi nhau, giận dữ hoặc ăn chay 2-3 năm nhưng tối ngủ lại thấy ăn mặn ngon lành, thích thú, mình nhiếp phục tham muốn nhưng trong giấc ngủ lại thấy cảnh tượng của dục. Điều này là bình thường vì sức tự chủ trong giấc ngủ không được như lúc thức cho nên đó là những lúc lậu hoặc vận hành, hoạt động, bây giờ mình cứ tiếp tục an trú trong pháp, tiếp tục tu tâm từ, tâm bi cho đến khi đầy đủ và chánh niệm tỉnh giác được đầy đủ thì trong giấc chiêm bao cũng có chánh niệm tỉnh giác. Khi tu tinh tấn và chánh niệm tỉnh giác thường xuyên liên tục thì mình sẽ có chánh niệm tỉnh giác cả trong giấc chiêm bao, vì vậy cái ngủ với thức không khác nhau là bao cho nên hiện tại do mình thường xuyên an trú trong pháp, thường xuyên nhiếp phục tham, sân, si, bản ngã thì những thứ đó nằm xuống nhưng đến khi mình ngủ thì những lậu hoặc này trỗi dậy. Mình cứ tiếp tục an trú trong pháp, tiếp tục tu tập, tiếp tục trải tâm từ, tâm bi cho đến một lúc khi ngủ cũng có chánh niệm tỉnh giác, không nổi sân, nhiếp phục được dục tham. Lấy ví dụ cho dễ hiểu, khi có ba mẹ ở nhà thì con nít không dám quậy phá nhiều vì có sự quản lý, nhắc nhở nhưng khi ba mẹ đi vắng thì quậy phá, khóc la đòi cái này cái nọ như câu thành ngữ "vắng chủ nhà gà vọc niêu tôm", khi không có chủ ở nhà thì con gà nhảy lên cái niêu đựng tôm để vọc phá trong đó. Cái tâm mình cũng giống y như vậy, tức là khi vắng chủ nhà là lúc mình ngủ, mình mất chánh niệm tỉnh giác, mất sức tự chủ nên các lậu hoặc trỗi dậy nhưng cứ yên tâm, hãy tiếp tục hành trì, tiếp tục chánh niệm tỉnh giác, tiếp tục trải tâm từ, tâm bi cho đến khi trong giấc chiêm bao gặp cảnh đáng giận nhưng vẫn nhiếp phục được, vẫn có sự từ ái.
Câu hỏi này rất chân thật, thực tế:
Thầy ơi cho con hỏi khi quan sát tâm con thấy sự thúc giục trong tâm, đó có phải là dục không?
Chính xác, một cảm giác thúc giục chính là dục cho nên những gì Đức Phật nói rất rõ ràng, chỉ cần nhận diện năm uẩn, chỉ cần quay trở lại nhìn bên trong là các pháp hiện ra, mình sẽ thấy được bản chất của nó. Thúc giục muốn đi ăn, thúc giục muốn đi chơi, thúc giục muốn đi cự cãi, tất cả đều từ sự thúc giục bên trong nhưng nếu mình có sức nhiếp phục thì đó là sức mạnh vô địch.
"Dầu tại bãi chiến trường
Thắng hàng ngàn quân địch,
Tự thắng mình tốt hơn,
Thật chiến thắng tối thượng".
(Kinh Pháp Cú 08 – Phẩm Ngàn, kệ 103)
Thắng được chính mình là thắng được những cảm giác thúc giục bên trong. Tất cả chư Thiên và loài người đều gục ngã trước cái dục cho nên thiền định, thiền quán nhằm nhiếp phục sự thúc giục đó, Phật tử tâm sự với Minh Thành rằng thấy khâm phục sự nhập thất của các thầy vì nhập thất một lần cả tháng cho đến mấy tháng trong khi người Phật tử đó mới cách ly một tuần đã thấy thúc giục khó chịu, bực bội, trời mát có quạt máy nhưng vẫn đổ mồ hôi vì bên trong tâm là một sự nhiệt não, bức xúc, đã quen chạy ngoài đường làm này làm nọ mà bây giờ buộc phải ở trong nhà không chịu nổi nên mới cách ly được vài ngày thôi mà thấy khổ sở vô cùng. Người tu phải nhiếp phục sự thúc giục đó, đó mới là sức mạnh bên trong cho nên tại sao chúng ta lại kính trọng những người nhập thất, chưa biết họ tu đến đâu nhưng giữ được bản thân trong thất không ra ngoài cũng đã hơn người rồi. Nếu trong tâm có sự thúc giục xuống núi, thúc giục ra quán café ngồi thư giãn nhưng nếu mình nhiếp phục được thì mình chiến thắng, Đức Phật đã nói các pháp lấy dục làm căn bản.
"Này chư Hiền, các pháp lấy dục làm căn bản". (Tăng Chi Bộ, Chương VIII. Tám Pháp, IX. Phẩm Niệm, (III) Cội Rễ Của Sự Vật).
Cho nên những gì hiện hữu ra đây đều xuất phát từ sự thúc giục và phải kiểm tra cái thúc giục đó là thiện hay bất thiện, đó là chỗ quan trọng. Thúc giục đi nghe pháp, ngồi thiền, thúc giục đi làm những công việc thiện nguyện, hiếu thảo cha mẹ, chăm sóc anh chị em, ông bà cô chú, lo cho chồng con bằng tâm từ ái là thiện pháp, còn thúc giục đi đánh bài, ghi đề, đua xe, ăn chơi trác táng thì phải nhiếp phục. Điều đặc biệt là có chỗ Đức Phật nói là nhiếp phục dục, đoạn tận dục, diệt dục, chỗ khác Đức Phật nói Dục Như Ý Túc, đó là sự thúc giục, khao khát, ước vọng, mong muốn sắc bén tăng trưởng đạo đức, thiền định và trí tuệ, đó cũng là một loại dục nhưng là Dục Như Ý Túc, nếu không có sự thúc giục khao khát, mong muốn đó thì làm sao chúng ta tăng thượng được giới, tăng thượng được tâm, tăng thượng được tuệ? Vì thế cần thấy sự khác nhau giữa dục thiện và dục bất thiện, dục thiện thì phát huy, dục bất thiện thì nhiếp phục, diệt tận.
Có Phật tử hỏi về bảy giới, quang giới là phạm trù, lãnh vực của ánh sáng, tịnh giới là phạm trù của sự thanh tịnh, đây là những pháp thiền quán tưởng. Không vô biên, thức vô biên, phi tưởng và phi tưởng xứ, diệt thọ tưởng là những giới, quang là ánh sáng, tịnh là thanh tịnh.
Mô Phật! Kính bạch thầy, trong pháp hành làm sao phân biệt giữa niệm hơi thở và sự thở trong sinh lý bình thường.
Trong kinh Niệm Xứ, Đức Phật dạy mình thở vào biết đang thở vào, thở ra biết đang thở ra, hít vào dài hay ngắn mình biết dài hay ngắn, thở ra dài hay ngắn mình cũng biết đang thở ra dài hay ngắn.
"Này các Tỳ-kheo, ở đây, Tỳ-kheo đi đến khu rừng, đi đến gốc cây, hay đi đến ngôi nhà trống, và ngồi kiết già, lưng thẳng và an trú chánh niệm trước mặt. Tỉnh giác, vị ấy thở vô; tỉnh giác, vị ấy thở ra. Thở vô dài, vị ấy tuệ tri: 'Tôi thở vô dài'; hay thở ra dài, vị ấy tuệ tri: 'Tôi thở ra dài'; hay thở vô ngắn, vị ấy tuệ tri: 'Tôi thở vô ngắn'; hay thở ra ngắn, vị ấy tuệ tri: 'Tôi thở ra ngắn'. 'Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở vô', vị ấy tập; 'Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở ra', vị ấy tập; 'An tịnh toàn thân, tôi sẽ thở vô', vị ấy tập; 'An tịnh toàn thân, tôi sẽ thở ra', vị ấy tập". (Trung Bộ Kinh, 10. Kinh Niệm Xứ)
Mình có sự kiểm soát, có sự tỉnh thức, có sự nhận rõ chánh niệm tỉnh giác trong đó, mình biết hơi thở này là phong đại, mà phong đại là vô thường, trống không, chỉ là sự vận hành, luân chuyển của gió, không có một cái tự ngã tôi và của tôi trong hơi thở này, chỉ cần dừng hơi thở là sự sống chấm dứt. Như vậy trong hơi thở có sự tỉnh thức, có tâm trong sáng để nhìn thấy và có sự tác ý quán chiếu theo Thánh pháp thì đó là hơi thở trong Thân Hành Niệm. Nếu mình thở bình thường, không có ý thức hơi thở, không nhận biết hơi thở, thở trong sự vô thức, không thấy không biết nhưng có thấy có biết đi chăng nữa thì cái thở đó cũng có tự ngã của tôi trong đó, không thấy đó chỉ là pháp của phong đại, là sự vận hành của gió thì đó là cái thở bình thường của vô văn phàm phu, thở trong sự lãng quên, thở trong sự không tỉnh thức, không chánh niệm, không nhận biết, không thấy rõ bản chất của pháp. Thở trong chánh niệm tỉnh giác là đang thực hành pháp Thân Hành Niệm.
Trong sự hành thiền, khi có tiếp xúc, căn, trần, xúc, thọ phát sanh nhưng chỉ cần quan sát những thọ nào dẫn đến phiền não, tham, sân, si thì nhận diện, quan sát nhân duyên sanh diệt rồi dùng như lý tác ý. Dạ thưa thầy tác ý là bản ngã, tác ý sẽ sanh sân lần 2, vậy tiếp theo làm sao để tác ý không đụng bản ngã mà giảm bớt tham, sân si. Kính mong thầy chỉ dạy, con cảm niệm tri ân thầy.
Minh Thành đọc cho đủ chứ người này viết tin nhắn nhưng bị sai chính tả và thiếu chữ, tác ý nhưng chỉ còn mỗi chữ tác, cho nên trong việc viết tin nhắn cũng phải tu tập chánh niệm tỉnh giác chứ ghi như vầy là không có chánh niệm tỉnh giác, cái tu nằm ngay đây chứ không phải tu trên bàn thờ, trong thiền đường mà tu trong mỗi chữ viết phải có chánh niệm và tỉnh giác, viết phải rõ ràng, câu chữ mạch lạc, đây là Tứ Niệm Xứ chứ không còn ở trong thiền đường nữa mà trong những sinh hoạt hằng ngày.
Lỗ tai vừa nghe tiếng nói khởi lên rõ biết âm thanh, khi lỗ tai, âm thanh và sự rõ biết tiếp xúc, giao thoa thì sanh khởi cảm thọ khó chịu hoặc dễ chịu. Người đó nói nặng, chỉ trích làm mình sanh ra cảm giác sân hận, bực bội, lúc đó mình phải như lý giác sát, tỉnh giác và quán sát một cách công minh, liêm chánh đúng như sự thật đang diễn ra. Phải là như lý giác sát, nếu chỉ giác sát mà không có như lý sẽ giác sát theo tình, bênh vực bản thân mà bênh vực bản thân chính là tham ái. Vì vậy khi làm sai cái gì mà được thầy, được sư huynh, sư tỉ chỉ dạy mà mình không chịu nhận cái sai thì đó không phải là như lý giác sát, người này sẽ không tu được, cứ hễ nói động đến là họ sẽ viện dẫn vô số lý do bào chữa, vô số lời biện minh chứ không chịu nhận lỗi, như vậy là không như lý giác sát tâm của mình. Chỉ riêng việc nhìn một cách công chánh, liêm minh, chánh trực cái chánh kiến là cả một vấn đề, nếu không căn cứ vào pháp, không căn cứ vào Thánh trí thì lúc đó chỉ thấy theo tham ái, "tôi không có sai sao cứ nói tôi sai", nếu mình bênh vực bản thân thì mình sẽ không chấp nhận sự thật. Rất nhiều người bị như vậy, nếu con thấy ai như vậy chừng ba lần là con sẽ không nói nữa vì người đó không tu được, không sửa đổi được vì tu là sửa, mình nói cho họ sự thật bằng từ tâm mà họ sân si, chống đối, bản ngã thì nói làm gì nữa? Có nói cũng vô ích, nhiều khi lại phản tác dụng hại cho họ vì họ nổi sân lên thì họ khổ, nói tham ái thì khó hiểu nhưng khi nói "bênh vực bản thân" thì ai cũng hiểu. Sai rõ ràng như vậy, được chỉ dẫn mà cứ cãi tại người này tại người kia, ba lần như vậy là không nói đến nữa, đó là những lúc cần như lý giác sát, tỉnh tâm rồi soi rọi lại những cử chỉ, hành vi khi vấn đề xảy ra, nếu chưa thấy được cứ để yên rồi từ từ kiểm tra lại một ngày, hai ngày, ba ngày rồi mình trình bày cũng không muộn. Nếu cứ bênh vực bản thân thì "thương thay tâm mờ tối, chúng sanh đáng thương thay", thứ nhất là vô minh, thứ hai là tham ái, không thấy sự thật.
"Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỳ-kheo, khởi điểm không thể nêu rõ đối với lưu chuyển luân hồi của các chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc". (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương IV. Tương Ưng Vô Thỉ (Anamatagga), I. Phẩm Thứ Nhất, I. Cỏ Và Củi)
Những câu kinh này phải ngấm vào tim gan chứ không phải chỉ đọc trên môi là xong chuyện vì đó là một sự thật, nhưng mình có chấp nhận sự thật không? Vì vậy vấn đề quan trọng đầu tiên là nhận diện ngũ uẩn một cách công minh, chánh trực, trong sáng không bị nghiêng lệch vì cứ hễ thương hoặc ghét sẽ bị nghêng lệch, không thấy được sự thật. Ông bà đã nói "yêu nhau cau sáu bổ ba, ghét nhau cau sáu bổ ra làm mười", thương thì cho ăn nhiều, ghét thì cho ăn ít vì khi đã có tâm thương ghét sẽ bị nghiêng lệch chứ không còn cân bằng, bình đẳng nữa, đó là lý do người nào còn năm triền cái sẽ không thể Nhập Lưu, không thấy được sự thật. Triền cái thứ nhất là tham ái, mà ái là có thương ghét, sau đó còn sân, vì vậy muốn thấy đúng thì tâm phải bình đẳng, chánh trực, trong sáng không bị nghiêng, cũng vậy, khi nhìn trong tâm bớt bản ngã, bớt tham ái thì mới nhìn thấy các pháp trong tâm, nhận diện ngũ uẩn mới trong sáng, nếu còn vô minh, tham ái, còn bản ngã quá sâu dày thì nhận diện ngũ uẩn không chính xác, chỉ nhận diện được cái thô nhất thôi chứ đi vào cái vừa và tế thì không nhận ra được. Cũng như hồ nước, nếu nước trong thì nhìn xuống thấy tận đáy hồ, nếu hồ phủ đầy rong rêu, nước đục thì phải vớt rong rêu và làm sạch cặn mới thấy được đáy hồ.
"Lại nữa, này Bà-la-môn, khi trú với tâm bị hôn trầm thụy miên xâm chiếm, bị hôn trầm thụy miên chi phối, không như thật biết sự xuất ly khỏi hôn trầm thụy miên, đã khởi lên; trong khi ấy, người ấy không như thật biết và thấy lợi ích của mình; trong khi ấy, không như thật biết và thấy lợi ích của người; trong khi ấy, không như thật biết và thấy được lợi ích của cả hai, cho nên các chú thuật được học thuộc lòng lâu ngày lại không thể nhớ lên được, còn nói gì các chú thuật không được học thuộc lòng!
Ví như, này Bà-la-môn, một bát nước bị rong rêu che phủ. Ở đây, một người có mắt muốn ngắm nghía khuôn mặt của mình, không thể như thật biết và thấy được. Cũng vậy, này Bà-la-môn, trong khi trú với tâm bị hôn trầm thụy miên xâm chiếm... còn nói gì các chú thuật không được học thuộc lòng!
Lại nữa, này Bà-la-môn, khi trú với tâm bị trạo hối xâm chiếm, bị trạo hối chi phối, không như thật biết sự xuất ly khỏi trạo hối đã khởi lên; trong khi ấy, người ấy không như thật biết và thấy lợi ích của mình; trong khi ấy, không như thật biết và thấy lợi ích của người; trong khi ấy, không như thật biết và thấy được lợi ích của cả hai, cho nên các chú thuật được học thuộc lòng lâu ngày lại không thể nhớ lên được, còn nói gì các chú thuật không được học thuộc lòng!
Ví như, này Bà-la-môn, một bát nước bị gió thổi, dao động, chấn động, nổi sóng. Ở đây, một người có mắt muốn ngắm nghía khuôn mặt của mình, không thể như thật biết được và thấy được. Cũng vậy, này Bà-la-môn, trong khi trú với tâm bị trạo hối xâm chiếm... còn nói gì các chú thuật không được học thuộc lòng!
Lại nữa, này Bà-la-môn, khi trú với tâm bị nghi hoặc xâm chiếm, bị nghi hoặc chi phối, không như thật biết sự xuất ly ra khỏi nghi hoặc đã khởi lên; trong khi ấy, người ấy không như thật biết và thấy lợi ích của mình; trong khi ấy, không như thật biết và thấy lợi ích của người; trong khi ấy, không như thật biết và thấy được lợi ích của cả hai, cho nên các chú thuật được học thuộc lòng lâu ngày lại không thể nhớ lên được, còn nói gì các chú thuật không được học thuộc lòng!
Ví như, này Bà-la-môn, một bát nước bị khuấy động, khuấy đục, khuấy bùn, đặt trong bóng tối. Ở đây, một người có mắt muốn ngắm nghía khuôn mặt của mình, không thể như thật biết được và thấy được. Cũng vậy, này Bà-la-môn, trong khi trú với tâm bị nghi hoặc xâm chiếm, bị nghi hoặc chi phối... còn nói gì các chú thuật không được học thuộc lòng!" (Tăng Chi Bộ, Chương V- Năm Pháp, XX. Phẩm Bà-La-Môn, (III). Bà-La-Môn Sangarava)
Vô tham và tham ái của mình cũng giống như vậy vì thế những từ trong kinh là khẩu quyết, chỉ đọc qua loa "như lý tác ý", "như lý giác sát" thì làm sao hiểu nổi, dù hiểu chữ nghĩa nhưng khi tu cũng không hiểu được mà phải có người tu đúng hướng dẫn mình mới hiểu được. Như lý giác sát là tỉnh giác và quán sát đúng như sự thật đang diễn ra, sự thật như thế nào phải thấy như thế ấy thì mới thấy được tham, sân, si nguyên bản, mới thấy được trọn vẹn gốc rễ của nó, vì thế trở thành bậc lậu tận là chuyện không hề đơn giản, mắt thần của Dương Tiễn cũng chưa thấy được lậu hoặc mà phải là mắt Thánh mới thấy được, tức là pháp nhãn, trí nhãn, cái pháp và trí đó của bậc Chánh Đẳng Giác, còn pháp của người khác là không thể thấy được triệt để các lậu hoặc cho nên đừng bênh vực bản thân. Khi gặp những bậc thiện tri thức, những huynh đệ, thầy tổ chỉ lỗi thì phải bình tĩnh, lắng dịu để lắng nghe rồi từ từ quán sát, như lý giác sát cho sâu sắc rồi hãy thưa gửi sau chứ đừng nghe là phản bác, viện cớ, như vậy sẽ không học đạo được. Sau khi như lý giác sát xong mới dùng như lý tác ý, khi thấy được nó thuộc về dạng nào, là tham dục, sân hận hay tật đố, cống cao ngã mạn, vênh váo thì tùy vào loại đó mà có sự tác ý cho phù hợp, cũng như thầy thuốc bắt mạch sẽ biết trong nội tạng đang bị cái gì đó là như lý giác sát, sau khi biết được bệnh trạng như thế nào mới như lý tác ý cho thuốc đúng bệnh, bệnh nhân muốn trị gan nhưng thầy thuốc bắt mạch rồi cho thuốc thận vì thế làm sao bệnh nhân có thể biết nhiều bằng thầy thuốc. Nhiều khi mình nghĩ mình bị cái này cái kia nhưng thật ra là do vô minh, bậc thiện tri thức, bậc sáng mắt có pháp nhãn nhìn chính xác hơn mình vì người ta chuyên môn trị bệnh tâm, cho nên mình nghĩ mình như vậy nhưng không đúng, từ chỗ này mới phát ra cái kia, từ cái kia mới có ra cái nọ nhưng mình chỉ thấy 1 mà không thấy 2, vì thế đi vào nội tâm sẽ có rất nhiều vấn đề cần giải quyết chứ không đơn giản như mình nghĩ. Mình đi tu mà bị rầy la, nhắc nhở là do những thứ đơn giản mà mình làm không được thì đi vào những thứ thâm sâu hơn làm sao mình thực hành được, không thể nào làm nổi được.
./.
NHƯ LÝ GIÁC SÁT
NGƯỜI MÙ SÁNG MẮT 1A
–Thích Minh Thành–
Kính thưa quý thầy, quý sư cô và toàn thể đại chúng cùng tất cả quý Phật tử. Minh Thành nhận được nhiều câu hỏi của quý Phật tử nên chúng ta sẽ chia sẻ từ từ.
Dạ, thưa thầy. Bạn con nói ba của bạn gần 80 tuổi, ông rất sợ và lo lắng dịch bệnh nên lúc nào cũng nghe chú Đại Bi để bớt sợ và tâm được an lạc nhưng bạn con nói rằng đừng cho ba nghe kinh kệ nữa mà mở bài nhạc ba thích nghe để tâm được an lạc. Con nói để ông nghe kinh hay nghe tụng chú tốt hơn vì nghe nhạc có sự thích thú trong tâm sẽ làm tăng dục, nếu bài dở thì tâm tăng sân, người nào hằng ngày cứ nghe hoặc xem những cái làm tăng lòng tham hoặc sân thì khi mạng chung sẽ đọa vào ba cõi ác. Bạn con nghe thì không tin.
Ông cụ 80 tuổi lo lắng về vấn đề dịch bệnh cho nên ông thường nghe chú Đại Bi cho bớt sợ nhưng con của ông cụ lại không cho nghe kinh nữa mà muốn mở nhạc cho ông cụ nghe để vui lên. Người bạn giải thích nếu nghe bài nhạc nào thích thú sẽ sanh lòng ưa thích, tham ái, còn bài nào không thích thì khó chịu và nếu sanh lòng tham ái, sân hận như vậy sau khi chết sẽ rơi ba cõi ác nhưng người con của ông cụ không tin. Trong cái vui có vui của thiện pháp và vui của bất thiện pháp chứ không phải cái vui nào cũng giống cái vui nào, hiện tại trong hoàn cảnh dịch bệnh có biết bao đau thương, khổ sầu, tang tóc và mọi người đang sống trong tâm bất an nên ông cụ muốn nghe những bài kinh kệ, tụng chú thì ít nhất cụ không hiểu biết nhưng tâm cũng bớt lo sợ, đó cũng là thiện pháp, chưa nói nếu cụ nghe được những bài kinh có ý nghĩa hoặc nghe những bài sám được quý thầy tụng đọc thì còn tốt hơn nữa. Lúc 10 tuổi Minh Thành nghe được những bài "sám Thảo Lư", "sám hồng trần" đến giờ vẫn không quên, những bài kinh sám đó rất có giá trị trong việc khuyến tu.
"Chốn thảo lư an cư dưỡng tánh,
Dốc một lòng nhập thánh siêu phàm,
Sắc tài danh lợi chẳng ham,
Thị phi phủi sạch, luận đàm mặc ai.
Tuyết ban mai lâu dài chi đó,
Thân người đời nào có bao lâu,
Nhộn nhàng trong cuộc bể dâu,
Xuân xanh mới đó bạc đầu rồi đây".
(Sám Thảo Lư – Sám hồi tâm I – Tổ sư Huệ Đăng)
Những bài đó Minh Thành đọc từ lúc 9-10 tuổi đến tận bây giờ vẫn không quên.
"Xin đừng đem dạ tưởng mà mơ
Trăm năm cuộc thế như cờ bị vây
Rút gươm huệ dứt dây tham ái
Kiếp tìm thầy cầu phái qui y.
Kiên trì ngũ giới tam qui,
Mở lòng từ nhẫn sân si phải chừa".
(Sám Thảo Lư – Sám hồi tâm I – Tổ sư Huệ Đăng)
Thảo lư là ngôi thảo am, là cái thất bằng cỏ tranh, "chốn thảo lư an cư dưỡng tánh" là ở yên trong am tranh để tu dưỡng tâm tánh. "Dốc một lòng nhập thánh siêu phàm" là điều chúng ta đang làm ở đây. "Nhộn nhàng trong cuộc bể dâu" là cái lăng xăng, bận rộn trong sự thay đổi, bể là biển nhưng lại đổi thành những cánh rừng, những hàng cây, cho nên những cuộc đổi thay gọi là bể dâu, bể dâu là nói gọn của một thành ngữ Hán "thương hải biến vi tang điền" nghĩa là biển xanh biến thành ruộng dâu, nói lên sự thay đổi vô thường của cuộc đời, thấy rộn ràng như vậy nhưng tích tắc là đổi thay. Những bài sám tụng như vậy rất có ý nghĩa khuyến thiện, khuyến tấn, khuyến tu, làm cho con người thức tỉnh, giác ngộ sự thật cuộc đời cho nên những bài kệ, bài chú, những câu niệm Phật cũng có những giá trị nhất định của nó. Chúng ta ngồi đây cũng từ cái chuông, cái mỏ của ông thầy tụng đám, người xưa bà nội Minh Thành mất thì gần nhà Minh Thành có ông thầy Tư chuyên đi tụng đám, ông đến tụng bài "sám hồng trần" với chất giọng nhựa nhựa, kéo dài câu tụng, lên giọng xuống giọng trầm bổng đến tận bây giờ Minh Thành vẫn không quên.
"Khi nào đứng đứng ngồi ngồi
Bây giờ thiêm thiếp như chồi cây khô
Khi nào du lịch giang hồ
Bây giờ nhắm mắt mà vô quan tài
Khi nào vợ vợ chồng chồng
Bây giờ trăng khuyết còn mong chi tròn
Khi nào cháu cháu con con
Bây giờ hai ngã nước non xa vời".
(Sám hồng trần)
Những bài sám kệ đó của các vị cao Tăng ngày xưa, có một số các ngài sáng tác, có một số các ngài diễn dịch trong các bài văn chữ Hán cho nên những lời kinh, câu kệ, câu chú có lợi ích nhất định, có giá trị ban đầu cho người học đạo pháp, vì vậy để ông cụ nghe lời kinh, tiếng kệ, câu chú là đúng và người Phật tử là bạn của con ông cụ giải thích cho bạn mình như vậy là đúng. Tại vì những lời nhạc chỉ toàn than thở, oán hờn, đau thương… chỉ toàn tham ái, sân si, nghe cái đó chỉ tăng thêm tham, thêm sân, thêm sầu khổ, làm tươi nhuận cho ái. Chúng ta ngồi đây nghe pháp chứ mở tình ca lên là tê tái cõi lòng, nhất là đối với tuổi trẻ, những hình bóng người xưa hiện về thì những bài nhạc đó sẽ tưới tẩm tươi tốt cho ái căn, gốc rễ của ái. Chính mình tu mấy chục năm mà vô tình đi xe Grab, xe đò mà tài xế mở nhạc tình ca Bolero là mình phải xin người ta tắt giùm vì đi xe chỉ toàn các thầy, nếu lúc đó không có chánh niệm tỉnh giác thì lập tức thọ; tưởng; hành sanh khởi chứ đừng nghĩ tu ngon lành rồi muốn mở gì là mở, mình sẽ đi theo lời nhạc đó lập tức. Cô Phật tử là người có hiếu với cha mẹ, trong "căn bản trí" có ghi hãy khuyến khích, khích lệ những người thân tin tưởng vào Đức Phật, vào chư Tăng, vào giới hạnh, khích lệ, đặt để người thân của mình vào trong sự thật Khổ Thánh Đế vô thường, vô ngã, đó là từ tâm, bi tâm, tình thương của mình đối với những bậc ân đức sinh thành, đối với những người có ơn, có nghĩa với mình. Phải thật khéo léo, khích lệ, hướng dẫn họ, thầy Pháp An được rất nhiều Phật tử trong nước, ngoài nước gọi về khen ngợi, chẳng những khen thầy Pháp An mà Minh Thành cũng được thơm lây vì ông cụ có tuổi rồi nhưng vẫn minh mẫn, trình pháp sắc bén, nắm được giáo pháp, cương lĩnh của pháp hành trong kinh tạng Nikāya, đó là do nghe nhiều chánh pháp. Lúc đầu ông lên núi vẫn còn sân, còn bản ngã nặng nề nhưng càng ngày càng đi vào dòng pháp thì càng lắng dịu, giảm bớt rất nhiều.
Câu hỏi tiếp theo là một người chị siêng năng thực hành pháp, nghe pháp nhưng tối ngủ nằm mơ hay thấy những người ghét, sân giận. Ở đây có ai như vậy không? Vì cái tâm khi nhiếp phục nhiều, an trú trong pháp nhiều, kiểm soát nhiều thì tâm bị kiểm soát nên không dám manh động, đến khi ngủ thì lúc đó những lậu hoặc, tập khí bung ra. Cái này có thường xuyên, nhiều khi ban ngày mình hiền khô nhưng tối ngủ lại thấy chiêm bao đang cãi nhau, giận dữ hoặc ăn chay 2-3 năm nhưng tối ngủ lại thấy ăn mặn ngon lành, thích thú, mình nhiếp phục tham muốn nhưng trong giấc ngủ lại thấy cảnh tượng của dục. Điều này là bình thường vì sức tự chủ trong giấc ngủ không được như lúc thức cho nên đó là những lúc lậu hoặc vận hành, hoạt động, bây giờ mình cứ tiếp tục an trú trong pháp, tiếp tục tu tâm từ, tâm bi cho đến khi đầy đủ và chánh niệm tỉnh giác được đầy đủ thì trong giấc chiêm bao cũng có chánh niệm tỉnh giác. Khi tu tinh tấn và chánh niệm tỉnh giác thường xuyên liên tục thì mình sẽ có chánh niệm tỉnh giác cả trong giấc chiêm bao, vì vậy cái ngủ với thức không khác nhau là bao cho nên hiện tại do mình thường xuyên an trú trong pháp, thường xuyên nhiếp phục tham, sân, si, bản ngã thì những thứ đó nằm xuống nhưng đến khi mình ngủ thì những lậu hoặc này trỗi dậy. Mình cứ tiếp tục an trú trong pháp, tiếp tục tu tập, tiếp tục trải tâm từ, tâm bi cho đến một lúc khi ngủ cũng có chánh niệm tỉnh giác, không nổi sân, nhiếp phục được dục tham. Lấy ví dụ cho dễ hiểu, khi có ba mẹ ở nhà thì con nít không dám quậy phá nhiều vì có sự quản lý, nhắc nhở nhưng khi ba mẹ đi vắng thì quậy phá, khóc la đòi cái này cái nọ như câu thành ngữ "vắng chủ nhà gà vọc niêu tôm", khi không có chủ ở nhà thì con gà nhảy lên cái niêu đựng tôm để vọc phá trong đó. Cái tâm mình cũng giống y như vậy, tức là khi vắng chủ nhà là lúc mình ngủ, mình mất chánh niệm tỉnh giác, mất sức tự chủ nên các lậu hoặc trỗi dậy nhưng cứ yên tâm, hãy tiếp tục hành trì, tiếp tục chánh niệm tỉnh giác, tiếp tục trải tâm từ, tâm bi cho đến khi trong giấc chiêm bao gặp cảnh đáng giận nhưng vẫn nhiếp phục được, vẫn có sự từ ái.
Câu hỏi này rất chân thật, thực tế:
Thầy ơi cho con hỏi khi quan sát tâm con thấy sự thúc giục trong tâm, đó có phải là dục không?
Chính xác, một cảm giác thúc giục chính là dục cho nên những gì Đức Phật nói rất rõ ràng, chỉ cần nhận diện năm uẩn, chỉ cần quay trở lại nhìn bên trong là các pháp hiện ra, mình sẽ thấy được bản chất của nó. Thúc giục muốn đi ăn, thúc giục muốn đi chơi, thúc giục muốn đi cự cãi, tất cả đều từ sự thúc giục bên trong nhưng nếu mình có sức nhiếp phục thì đó là sức mạnh vô địch.
"Dầu tại bãi chiến trường
Thắng hàng ngàn quân địch,
Tự thắng mình tốt hơn,
Thật chiến thắng tối thượng".
(Kinh Pháp Cú 08 – Phẩm Ngàn, kệ 103)
Thắng được chính mình là thắng được những cảm giác thúc giục bên trong. Tất cả chư Thiên và loài người đều gục ngã trước cái dục cho nên thiền định, thiền quán nhằm nhiếp phục sự thúc giục đó, Phật tử tâm sự với Minh Thành rằng thấy khâm phục sự nhập thất của các thầy vì nhập thất một lần cả tháng cho đến mấy tháng trong khi người Phật tử đó mới cách ly một tuần đã thấy thúc giục khó chịu, bực bội, trời mát có quạt máy nhưng vẫn đổ mồ hôi vì bên trong tâm là một sự nhiệt não, bức xúc, đã quen chạy ngoài đường làm này làm nọ mà bây giờ buộc phải ở trong nhà không chịu nổi nên mới cách ly được vài ngày thôi mà thấy khổ sở vô cùng. Người tu phải nhiếp phục sự thúc giục đó, đó mới là sức mạnh bên trong cho nên tại sao chúng ta lại kính trọng những người nhập thất, chưa biết họ tu đến đâu nhưng giữ được bản thân trong thất không ra ngoài cũng đã hơn người rồi. Nếu trong tâm có sự thúc giục xuống núi, thúc giục ra quán café ngồi thư giãn nhưng nếu mình nhiếp phục được thì mình chiến thắng, Đức Phật đã nói các pháp lấy dục làm căn bản.
"Này chư Hiền, các pháp lấy dục làm căn bản". (Tăng Chi Bộ, Chương VIII. Tám Pháp, IX. Phẩm Niệm, (III) Cội Rễ Của Sự Vật).
Cho nên những gì hiện hữu ra đây đều xuất phát từ sự thúc giục và phải kiểm tra cái thúc giục đó là thiện hay bất thiện, đó là chỗ quan trọng. Thúc giục đi nghe pháp, ngồi thiền, thúc giục đi làm những công việc thiện nguyện, hiếu thảo cha mẹ, chăm sóc anh chị em, ông bà cô chú, lo cho chồng con bằng tâm từ ái là thiện pháp, còn thúc giục đi đánh bài, ghi đề, đua xe, ăn chơi trác táng thì phải nhiếp phục. Điều đặc biệt là có chỗ Đức Phật nói là nhiếp phục dục, đoạn tận dục, diệt dục, chỗ khác Đức Phật nói Dục Như Ý Túc, đó là sự thúc giục, khao khát, ước vọng, mong muốn sắc bén tăng trưởng đạo đức, thiền định và trí tuệ, đó cũng là một loại dục nhưng là Dục Như Ý Túc, nếu không có sự thúc giục khao khát, mong muốn đó thì làm sao chúng ta tăng thượng được giới, tăng thượng được tâm, tăng thượng được tuệ? Vì thế cần thấy sự khác nhau giữa dục thiện và dục bất thiện, dục thiện thì phát huy, dục bất thiện thì nhiếp phục, diệt tận.
Có Phật tử hỏi về bảy giới, quang giới là phạm trù, lãnh vực của ánh sáng, tịnh giới là phạm trù của sự thanh tịnh, đây là những pháp thiền quán tưởng. Không vô biên, thức vô biên, phi tưởng và phi tưởng xứ, diệt thọ tưởng là những giới, quang là ánh sáng, tịnh là thanh tịnh.
Mô Phật! Kính bạch thầy, trong pháp hành làm sao phân biệt giữa niệm hơi thở và sự thở trong sinh lý bình thường.
Trong kinh Niệm Xứ, Đức Phật dạy mình thở vào biết đang thở vào, thở ra biết đang thở ra, hít vào dài hay ngắn mình biết dài hay ngắn, thở ra dài hay ngắn mình cũng biết đang thở ra dài hay ngắn.
"Này các Tỳ-kheo, ở đây, Tỳ-kheo đi đến khu rừng, đi đến gốc cây, hay đi đến ngôi nhà trống, và ngồi kiết già, lưng thẳng và an trú chánh niệm trước mặt. Tỉnh giác, vị ấy thở vô; tỉnh giác, vị ấy thở ra. Thở vô dài, vị ấy tuệ tri: 'Tôi thở vô dài'; hay thở ra dài, vị ấy tuệ tri: 'Tôi thở ra dài'; hay thở vô ngắn, vị ấy tuệ tri: 'Tôi thở vô ngắn'; hay thở ra ngắn, vị ấy tuệ tri: 'Tôi thở ra ngắn'. 'Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở vô', vị ấy tập; 'Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở ra', vị ấy tập; 'An tịnh toàn thân, tôi sẽ thở vô', vị ấy tập; 'An tịnh toàn thân, tôi sẽ thở ra', vị ấy tập". (Trung Bộ Kinh, 10. Kinh Niệm Xứ)
Mình có sự kiểm soát, có sự tỉnh thức, có sự nhận rõ chánh niệm tỉnh giác trong đó, mình biết hơi thở này là phong đại, mà phong đại là vô thường, trống không, chỉ là sự vận hành, luân chuyển của gió, không có một cái tự ngã tôi và của tôi trong hơi thở này, chỉ cần dừng hơi thở là sự sống chấm dứt. Như vậy trong hơi thở có sự tỉnh thức, có tâm trong sáng để nhìn thấy và có sự tác ý quán chiếu theo Thánh pháp thì đó là hơi thở trong Thân Hành Niệm. Nếu mình thở bình thường, không có ý thức hơi thở, không nhận biết hơi thở, thở trong sự vô thức, không thấy không biết nhưng có thấy có biết đi chăng nữa thì cái thở đó cũng có tự ngã của tôi trong đó, không thấy đó chỉ là pháp của phong đại, là sự vận hành của gió thì đó là cái thở bình thường của vô văn phàm phu, thở trong sự lãng quên, thở trong sự không tỉnh thức, không chánh niệm, không nhận biết, không thấy rõ bản chất của pháp. Thở trong chánh niệm tỉnh giác là đang thực hành pháp Thân Hành Niệm.
Trong sự hành thiền, khi có tiếp xúc, căn, trần, xúc, thọ phát sanh nhưng chỉ cần quan sát những thọ nào dẫn đến phiền não, tham, sân, si thì nhận diện, quan sát nhân duyên sanh diệt rồi dùng như lý tác ý. Dạ thưa thầy tác ý là bản ngã, tác ý sẽ sanh sân lần 2, vậy tiếp theo làm sao để tác ý không đụng bản ngã mà giảm bớt tham, sân si. Kính mong thầy chỉ dạy, con cảm niệm tri ân thầy.
Minh Thành đọc cho đủ chứ người này viết tin nhắn nhưng bị sai chính tả và thiếu chữ, tác ý nhưng chỉ còn mỗi chữ tác, cho nên trong việc viết tin nhắn cũng phải tu tập chánh niệm tỉnh giác chứ ghi như vầy là không có chánh niệm tỉnh giác, cái tu nằm ngay đây chứ không phải tu trên bàn thờ, trong thiền đường mà tu trong mỗi chữ viết phải có chánh niệm và tỉnh giác, viết phải rõ ràng, câu chữ mạch lạc, đây là Tứ Niệm Xứ chứ không còn ở trong thiền đường nữa mà trong những sinh hoạt hằng ngày.
Lỗ tai vừa nghe tiếng nói khởi lên rõ biết âm thanh, khi lỗ tai, âm thanh và sự rõ biết tiếp xúc, giao thoa thì sanh khởi cảm thọ khó chịu hoặc dễ chịu. Người đó nói nặng, chỉ trích làm mình sanh ra cảm giác sân hận, bực bội, lúc đó mình phải như lý giác sát, tỉnh giác và quán sát một cách công minh, liêm chánh đúng như sự thật đang diễn ra. Phải là như lý giác sát, nếu chỉ giác sát mà không có như lý sẽ giác sát theo tình, bênh vực bản thân mà bênh vực bản thân chính là tham ái. Vì vậy khi làm sai cái gì mà được thầy, được sư huynh, sư tỉ chỉ dạy mà mình không chịu nhận cái sai thì đó không phải là như lý giác sát, người này sẽ không tu được, cứ hễ nói động đến là họ sẽ viện dẫn vô số lý do bào chữa, vô số lời biện minh chứ không chịu nhận lỗi, như vậy là không như lý giác sát tâm của mình. Chỉ riêng việc nhìn một cách công chánh, liêm minh, chánh trực cái chánh kiến là cả một vấn đề, nếu không căn cứ vào pháp, không căn cứ vào Thánh trí thì lúc đó chỉ thấy theo tham ái, "tôi không có sai sao cứ nói tôi sai", nếu mình bênh vực bản thân thì mình sẽ không chấp nhận sự thật. Rất nhiều người bị như vậy, nếu con thấy ai như vậy chừng ba lần là con sẽ không nói nữa vì người đó không tu được, không sửa đổi được vì tu là sửa, mình nói cho họ sự thật bằng từ tâm mà họ sân si, chống đối, bản ngã thì nói làm gì nữa? Có nói cũng vô ích, nhiều khi lại phản tác dụng hại cho họ vì họ nổi sân lên thì họ khổ, nói tham ái thì khó hiểu nhưng khi nói "bênh vực bản thân" thì ai cũng hiểu. Sai rõ ràng như vậy, được chỉ dẫn mà cứ cãi tại người này tại người kia, ba lần như vậy là không nói đến nữa, đó là những lúc cần như lý giác sát, tỉnh tâm rồi soi rọi lại những cử chỉ, hành vi khi vấn đề xảy ra, nếu chưa thấy được cứ để yên rồi từ từ kiểm tra lại một ngày, hai ngày, ba ngày rồi mình trình bày cũng không muộn. Nếu cứ bênh vực bản thân thì "thương thay tâm mờ tối, chúng sanh đáng thương thay", thứ nhất là vô minh, thứ hai là tham ái, không thấy sự thật.
"Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỳ-kheo, khởi điểm không thể nêu rõ đối với lưu chuyển luân hồi của các chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc". (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương IV. Tương Ưng Vô Thỉ (Anamatagga), I. Phẩm Thứ Nhất, I. Cỏ Và Củi)
Những câu kinh này phải ngấm vào tim gan chứ không phải chỉ đọc trên môi là xong chuyện vì đó là một sự thật, nhưng mình có chấp nhận sự thật không? Vì vậy vấn đề quan trọng đầu tiên là nhận diện ngũ uẩn một cách công minh, chánh trực, trong sáng không bị nghiêng lệch vì cứ hễ thương hoặc ghét sẽ bị nghêng lệch, không thấy được sự thật. Ông bà đã nói "yêu nhau cau sáu bổ ba, ghét nhau cau sáu bổ ra làm mười", thương thì cho ăn nhiều, ghét thì cho ăn ít vì khi đã có tâm thương ghét sẽ bị nghiêng lệch chứ không còn cân bằng, bình đẳng nữa, đó là lý do người nào còn năm triền cái sẽ không thể Nhập Lưu, không thấy được sự thật. Triền cái thứ nhất là tham ái, mà ái là có thương ghét, sau đó còn sân, vì vậy muốn thấy đúng thì tâm phải bình đẳng, chánh trực, trong sáng không bị nghiêng, cũng vậy, khi nhìn trong tâm bớt bản ngã, bớt tham ái thì mới nhìn thấy các pháp trong tâm, nhận diện ngũ uẩn mới trong sáng, nếu còn vô minh, tham ái, còn bản ngã quá sâu dày thì nhận diện ngũ uẩn không chính xác, chỉ nhận diện được cái thô nhất thôi chứ đi vào cái vừa và tế thì không nhận ra được. Cũng như hồ nước, nếu nước trong thì nhìn xuống thấy tận đáy hồ, nếu hồ phủ đầy rong rêu, nước đục thì phải vớt rong rêu và làm sạch cặn mới thấy được đáy hồ.
"Lại nữa, này Bà-la-môn, khi trú với tâm bị hôn trầm thụy miên xâm chiếm, bị hôn trầm thụy miên chi phối, không như thật biết sự xuất ly khỏi hôn trầm thụy miên, đã khởi lên; trong khi ấy, người ấy không như thật biết và thấy lợi ích của mình; trong khi ấy, không như thật biết và thấy lợi ích của người; trong khi ấy, không như thật biết và thấy được lợi ích của cả hai, cho nên các chú thuật được học thuộc lòng lâu ngày lại không thể nhớ lên được, còn nói gì các chú thuật không được học thuộc lòng!
Ví như, này Bà-la-môn, một bát nước bị rong rêu che phủ. Ở đây, một người có mắt muốn ngắm nghía khuôn mặt của mình, không thể như thật biết và thấy được. Cũng vậy, này Bà-la-môn, trong khi trú với tâm bị hôn trầm thụy miên xâm chiếm... còn nói gì các chú thuật không được học thuộc lòng!
Lại nữa, này Bà-la-môn, khi trú với tâm bị trạo hối xâm chiếm, bị trạo hối chi phối, không như thật biết sự xuất ly khỏi trạo hối đã khởi lên; trong khi ấy, người ấy không như thật biết và thấy lợi ích của mình; trong khi ấy, không như thật biết và thấy lợi ích của người; trong khi ấy, không như thật biết và thấy được lợi ích của cả hai, cho nên các chú thuật được học thuộc lòng lâu ngày lại không thể nhớ lên được, còn nói gì các chú thuật không được học thuộc lòng!
Ví như, này Bà-la-môn, một bát nước bị gió thổi, dao động, chấn động, nổi sóng. Ở đây, một người có mắt muốn ngắm nghía khuôn mặt của mình, không thể như thật biết được và thấy được. Cũng vậy, này Bà-la-môn, trong khi trú với tâm bị trạo hối xâm chiếm... còn nói gì các chú thuật không được học thuộc lòng!
Lại nữa, này Bà-la-môn, khi trú với tâm bị nghi hoặc xâm chiếm, bị nghi hoặc chi phối, không như thật biết sự xuất ly ra khỏi nghi hoặc đã khởi lên; trong khi ấy, người ấy không như thật biết và thấy lợi ích của mình; trong khi ấy, không như thật biết và thấy lợi ích của người; trong khi ấy, không như thật biết và thấy được lợi ích của cả hai, cho nên các chú thuật được học thuộc lòng lâu ngày lại không thể nhớ lên được, còn nói gì các chú thuật không được học thuộc lòng!
Ví như, này Bà-la-môn, một bát nước bị khuấy động, khuấy đục, khuấy bùn, đặt trong bóng tối. Ở đây, một người có mắt muốn ngắm nghía khuôn mặt của mình, không thể như thật biết được và thấy được. Cũng vậy, này Bà-la-môn, trong khi trú với tâm bị nghi hoặc xâm chiếm, bị nghi hoặc chi phối... còn nói gì các chú thuật không được học thuộc lòng!" (Tăng Chi Bộ, Chương V- Năm Pháp, XX. Phẩm Bà-La-Môn, (III). Bà-La-Môn Sangarava)
Vô tham và tham ái của mình cũng giống như vậy vì thế những từ trong kinh là khẩu quyết, chỉ đọc qua loa "như lý tác ý", "như lý giác sát" thì làm sao hiểu nổi, dù hiểu chữ nghĩa nhưng khi tu cũng không hiểu được mà phải có người tu đúng hướng dẫn mình mới hiểu được. Như lý giác sát là tỉnh giác và quán sát đúng như sự thật đang diễn ra, sự thật như thế nào phải thấy như thế ấy thì mới thấy được tham, sân, si nguyên bản, mới thấy được trọn vẹn gốc rễ của nó, vì thế trở thành bậc lậu tận là chuyện không hề đơn giản, mắt thần của Dương Tiễn cũng chưa thấy được lậu hoặc mà phải là mắt Thánh mới thấy được, tức là pháp nhãn, trí nhãn, cái pháp và trí đó của bậc Chánh Đẳng Giác, còn pháp của người khác là không thể thấy được triệt để các lậu hoặc cho nên đừng bênh vực bản thân. Khi gặp những bậc thiện tri thức, những huynh đệ, thầy tổ chỉ lỗi thì phải bình tĩnh, lắng dịu để lắng nghe rồi từ từ quán sát, như lý giác sát cho sâu sắc rồi hãy thưa gửi sau chứ đừng nghe là phản bác, viện cớ, như vậy sẽ không học đạo được. Sau khi như lý giác sát xong mới dùng như lý tác ý, khi thấy được nó thuộc về dạng nào, là tham dục, sân hận hay tật đố, cống cao ngã mạn, vênh váo thì tùy vào loại đó mà có sự tác ý cho phù hợp, cũng như thầy thuốc bắt mạch sẽ biết trong nội tạng đang bị cái gì đó là như lý giác sát, sau khi biết được bệnh trạng như thế nào mới như lý tác ý cho thuốc đúng bệnh, bệnh nhân muốn trị gan nhưng thầy thuốc bắt mạch rồi cho thuốc thận vì thế làm sao bệnh nhân có thể biết nhiều bằng thầy thuốc. Nhiều khi mình nghĩ mình bị cái này cái kia nhưng thật ra là do vô minh, bậc thiện tri thức, bậc sáng mắt có pháp nhãn nhìn chính xác hơn mình vì người ta chuyên môn trị bệnh tâm, cho nên mình nghĩ mình như vậy nhưng không đúng, từ chỗ này mới phát ra cái kia, từ cái kia mới có ra cái nọ nhưng mình chỉ thấy 1 mà không thấy 2, vì thế đi vào nội tâm sẽ có rất nhiều vấn đề cần giải quyết chứ không đơn giản như mình nghĩ. Mình đi tu mà bị rầy la, nhắc nhở là do những thứ đơn giản mà mình làm không được thì đi vào những thứ thâm sâu hơn làm sao mình thực hành được, không thể nào làm nổi được.
./.