Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Cái Gì Là Lõi Cây Sẽ Tồn Tại Lâu Dài - An Cư Kiết Hạ tại Chùa Hoằng Pháp

2026-03-03 00:54:09
Tinh Hoa Nikāya

Cái Gì Là Lõi Cây Sẽ Tồn Tại Lâu Dài

An Cư Kiết Hạ Tại Chùa Hoằng Pháp

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Hiểu về cảm thọ PAGEREF _Toc188285679 \h 1

II. Lợi ích khi tu tập cảm thọ PAGEREF _Toc188285680 \h 8

III. Khuyến tấn tu tập PAGEREF _Toc188285681 \h 12

I. Hiểu về cảm thọ

Con cúi đầu kính lễ hòa thượng đạo trưởng, kính lễ thầy trụ trì và kính lễ toàn thể chư tôn thiền đức Tăng. Kính thưa tất cả quý nam nữ Phật tử hiền trí. Sáng nay khi con đến chùa Hoằng Pháp được quý thầy dẫn đi một vòng, quý thầy chỉ cho con ở đây là những gốc cây bồ đề, đây là những gốc cây đa do tổ sư trồng, gốc cây rất là lớn trở thành cổ thụ, đại thọ. Khi con nghe nói con rất là cảm xúc, những gốc cây này là những gốc cây linh thiêng, là dấu ấn của tổ sư, là sự truyền thừa của các tôn đức, tiên đức.

Con nhớ lại khi Đức Thế Tôn còn tại thế, một hôm vua Ba-tư-nặc đang đi dạo ở trong vườn thượng uyển ở một cái hành cung, khi ngài đang đi dạo ngài nhìn thấy những cái gốc cây lớn có bóng mát và yên lặng, rất là tĩnh lặng, vua Ba-tư-nặc liền nhớ đến Đức Thế Tôn. Chính dưới gốc cây này Đức Thế Tôn bậc A-la-hán Chánh đẳng giác đã được sanh ra, đã được tu tập dưới gốc cây, đã được giác ngộ, thành đạo dưới gốc cây, chuyển pháp luân dưới gốc cây và nhập Niết-bàn dưới gốc cây. Vua Ba-tư-nặc nhớ Thế Tôn nên hỏi người đánh xe Thế Tôn đang ở đâu, người đánh xe thưa rằng Thế Tôn đang ở cách đây không xa lắm, khoảng chừng sáu mươi, bảy mươi cây số tính theo bây giờ, nhà vua hỏi có thể đến đó rồi về trong ngày không thì người đánh xe thưa rằng sẽ về kịp, nhà vua yêu cầu thắng yên ngựa đi thăm Thế Tôn.

Nhà vua đi đến thăm và đảnh lễ Thế Tôn, sau đó có những bài kinh rất là tuyệt diệu. Do thời gian chúng ta ở đây chúng ta chỉ điểm cái ý nghĩa, như vậy ở các nước Sri Lanka, Myanmar, Thái Lan, các nước Phật giáo nguyên thủy thờ cây bồ đề rất là trang trọng, rất là cung kính, coi đó là pháp bảo, biểu tượng của Đức Phật vì có những lúc Thế Tôn đi vắng do hoằng pháp thì vua, các đại thần, các vị cư sĩ nhớ Đức Phật không biết làm sao thì Thế Tôn nói ngài A-nan nhìn gốc cây bồ đề đó tức là thấy ta, khi bước vào trong đây con nhìn thấy cội bồ đề rất là lớn thì cảm xúc trào dâng, tức là khi mình nhìn thấy gốc cây là mình nhớ Phật. Đây là một pháp tu rất là thực tế, rất là gần gũi và bất cứ lúc nào chúng ta cũng có thể nhìn thấy gốc cây và niệm Phật. Lúc nghe quý thầy nói gốc cây đó thì tới giờ cảm xúc của Minh Thành chưa có tan. Trong kinh tạng Nikāya Đức Phật nói rằng cái gì là lỗi cây thì cái đó sẽ tồn tại lâu dài.

"Ta không sách tấn các Ông như người thợ gốm đối với các đồ gốm chưa nung, chưa được nung chín. Ta sẽ nói hết lời chỉ trích này đến lời chỉ trích khác, hết lời tán thán này đến lời tán thán khác. Cái gì là lõi cây, cái ấy sẽ đứng vững tồn tại" (Trung Bộ Kinh, 122. Kinh Ðại không)

Ngày hôm nay được sự chỉ dạy của hòa thượng đạo trưởng cũng như của thầy trụ trì, con về đây chia sẻ về cái lõi cây, không biết quý thầy và quý vị có hoan hỉ không ạ? Lõi cây ở đây chính là pháp hành của một người tu tức là cách hành trì của chúng ta, chỉ có sự thực hành mới đưa đến đạo và quả. Tất cả chúng ta trong sự tu hành hàng đệ tử của Phật được tôn xưng là bốn đôi tám chúng là ruộng phước vô thượng của chư thiên và loài người, trong bốn đôi tám chúng này gồm có bốn đạo và bốn quả. Đạo là những người đang đi, quả tức là những người đã đến, bốn đạo tức là sơ đạo, nhị đạo, tam đạo và tứ đạo, bốn quả tức là thánh quả thứ nhất, thánh quả thứ hai, thánh quả thứ ba, thánh quả thứ tư, bốn đạo bốn quả này ta gọi là bốn đôi tám vị hay là bốn đôi tám chúng hiền thánh của Đức Phật bao gồm cả cư sĩ.

Có những vị cư sĩ thời Đức Phật chứng Bất Lai, thánh quả thứ ba cho nên chữ "Thánh đệ tử" ở trong Nikāya bao gồm cả bốn chúng, trong đó có thánh cư sĩ. Như vậy thì làm sao để chúng ta có thể đi trên đạo và đạt đến quả? Đó là tất cả những lời dạy trong kinh tạng Nikāya, lần an cư kỳ trước cách đây mấy năm con về thì con có trình thưa lên chư tôn đức Tăng tại đây là phá chấp về sắc thủ uẩn, lần này con cũng muốn trình bày lên với chư tôn đức và các vị hiền trí là phá chấp thọ thủ uẩn. Đức Phật nói tất cả pháp hội tụ ở nơi cảm thọ, tất cả pháp quy tụ ở nơi cảm thọ, tức là mình muốn biết trong mình tâm mình có cái gì chỉ cần nhìn vô cảm giác là mình sẽ biết hết, cái cảm giác, hay là cái cảm thọ, hay cảm xúc này là trung tâm, là trọng tâm, là cốt lõi của tất cả các pháp ở trong năm thủ uẩn.

"Này chư Hiền, các pháp lấy dục làm căn bản. Tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi. Tất cả pháp lấy xúc làm tập khởi. Tất cả pháp lấy thọ làm chỗ tụ hội. Tất cả pháp lấy định làm thượng thủ. Tất cả pháp lấy niệm làm tăng thượng. Tất cả pháp lấy tuệ làm tối thượng. Tất cả pháp lấy giải thoát làm lõi cây" (Tăng Chi Bộ, Chương VIII. Tám Pháp, IX. Phẩm Niệm, (III). Cội Rễ Của Sự Vật)

Con người chúng ta hạnh phúc hay là đau khổ có phải đều là cảm giác không? Bây giờ tôi cảm thấy tôi sướng quá, bây giờ tôi cảm thấy tôi khổ quá, thì cái sướng hay khổ đều là cảm thọ. Mê ngộ, thánh phàm, nhiễm tịnh, thăng trầm đều là từ nơi cảm thọ hết, trong kinh tạng Nikāya thì Tứ Niệm Xứ là cực kỳ quan trọng, trong đó bốn chỗ mà mình thường nhớ nghĩ, quán xét đó là thân thể này, cảm giác nội tâm và những cái gì đang diễn biến trong tâm, người ta gọi là quán thân, quán thọ, quán tâm, quán pháp. Mình nói từ rất đơn giản là mình thường thường nhìn lại thân này, luôn luôn nhìn lại thân này thì phần này lần trước con đã có chia sẻ với chư tôn đức rồi, lần này chúng ta chú trọng vào trong thọ uẩn.

Phần thọ này rất là quan trọng, cốt lõi đời sống của chúng ta, tất cả đều được dẫn dắt, chi phối ở nơi cảm giác hết, nếu như chúng ta không biết thì cái này là một sự lãng quên. Chúng ta tu không có nắm được cái phần gốc, nói nôm na cho dễ nhớ là đầu tiên chúng ta phải biết tên tuổi của cảm thọ, kế đó chúng ta phải biết mặt mũi của cảm thọ, sau đó chúng ta biết tính tình của cảm thọ và cuối cùng chúng ta biết được bản chất của cảm thọ. Đầu tiên phải biết cái tên tức là mình phải biết thọ là thọ trước, ở trong cảm giác con người của mình Đức Phật nói có ba loại cảm giác, cảm giác vui, cảm giác khổ và cảm giác không vui không khổ. Tất cả đời sống của chúng sanh đều nằm trong ba loại cảm giác đó hết, hoặc là lúc đó mình vui, hoặc là lúc đó cảm giác khổ, buồn, hoặc là cảm giác không vui cũng không khổ.

Như vậy đầu tiên mình biết được tên gọi của cảm giác và bắt đầu nhận diện cảm giác. Nhận diện cảm giác thì pháp hành của chúng ta là an trú cảm giác toàn thân, ví dụ chúng ta đang ngồi thì xem cảm giác bây giờ đang như thế nào, cái đầu mình ra sao, kế đó cảm giác trên gương mặt có tươi không hay nó đang méo, mình cảm nhận bờ vai, cánh tay, từng ngón tay, lòng bàn tay của mình, mình cảm nhận dần dần đi xuống ngực rồi xương sống, lưng, mông, chân, ống chân, bàn chân, lòng bàn chân, mình rà một lượt từ trên đỉnh đầu cho tới gót chân, Đức Phật gọi là từ đảnh tóc cho tới gót chân. Tức là mình tập thường xuyên nhìn lại cảm giác toàn bộ cơ thể trong con người của mình, cái này rất quan trọng.

Tại sao mà chúng ta tu không được hoặc là khó tu? Bởi vì tâm thức quen của chúng sanh là cái tâm hướng ngoại, tức là con mắt luôn luôn nhìn ở ngoài, nó coi cái gì đẹp, nhìn cái này ngó cái kia, lỗ tai thì muốn nghe cái này nghe cái nọ, cái mũi thì nghe cái mùi, cái lưỡi thì nếm vị, tìm món ăn, thân của mình hướng đến sự tiếp xúc, xúc chạm, còn trong tâm ý mình là những cái hình bóng là tưởng, những suy nghĩ là hành và những cảm giác là thọ, cuối cùng là nhận thức. Như vậy ở bên ngoài là sắc; thanh; hương; vị; xúc, tâm mình luôn hướng ra ngoài nhìn coi cái này đẹp hay không đẹp, nghe cái tiếng đó hay hay dở, cái mùi đó thơm hay không thơm, món đó ngon hay dở.

Chỉ sai hữu niệm quên vô niệm,

Liền trái không sanh nhận có sanh.

Mũi đắm các hương, lưỡi tham vị,

Mắt mờ chúng sắc, tiếng mê tai.

Lang thang làm khách phong trần mãi,

Ngày cách quê hương muôn dặm trình.

(Trần Thái Tông - Khóa Hư Lục)

Tức là luôn luôn sáu căn của mình là hướng ngoại, nó muốn tìm kiếm đối tượng ở bên ngoài. Bây giờ bước đầu pháp hành Đức Phật dạy mình là quay trở về hướng nội, tức là mình quay trở về cảm nhận cảm giác trong con người của mình, cảm nhận từ đỉnh đầu cho tới gót chân đang có cảm giác gì và trong này chúng ta dễ dàng nhận ra các cảm thọ, nhận diện cảm giác. Chúng ta có ba cảm giác, cảm giác vui, cảm giác khổ và cảm giác không vui không khổ, hoặc là cảm giác dễ chịu, cảm giác khó chịu và cảm giác không dễ chịu không khó chịu. Cả hàng giờ, hàng ngày, hàng tuần, cả tháng, cả năm, cả chục năm, hai ba chục năm, năm chục năm, cả cuộc đời chúng ta không ra khỏi ba loại cảm giác này, trong ba cảm giác này Đức Phật chỉ cho mình cái hang ổ, cái xào huyệt, căn cứ địa của tham, sân, si.

Trong cái cảm giác vui sướng, dễ chịu lúc nào cũng có tham, nó nằm trong đó hết, ở trong cái cảm giác khổ, khó chịu, bực bội thì lúc nào cũng có cảm giác sân nó trú ẩn ở trong cái cảm giác khó chịu, cảm giác khổ này, cảm giác bực bội lúc nào sân nó cũng ở trong đó. Đức Phật dùng từ sân tùy miên, tùy là đi theo, miên là miên man, trong cảm giác khó chịu lúc nào cũng có sân nằm ở trong đó hết. Nếu mình chịu khó để ý, nhận diện thì mình sẽ thấy được, trong cảm giác không dễ chịu không khó chịu, hay là không khổ không vui, đều đều, thường thường thì lúc nào cũng có si tùy miên trong đó. Si tùy miên là một cái tâm ngơ ngơ, nó đơ đơ, nó trơ trơ, nó đi theo ở trong cái cảm giác thường thường, đều đều, bình bình.

Như vậy Đức Phật chỉ cho mình thấy được hang ổ của tham, sân, si và cái tham, sân, si đó là nói ở trong ba cái cảm thọ, còn nói về trên thân thì nó biểu hiện ở ba nơi. Bây giờ cái si nó biểu hiện ở đâu, cái sân nó biểu hiện ở đâu và cái tham dục, tham ái nó biểu hiện ở đâu? Bây giờ nhìn một người có thể biết được người đó đang si không? Si biểu hiện ở đâu? Biểu hiện ở đâu con mắt, nhìn vào con mắt thấy lờ đờ, còn ngủ gục là hôn trầm, si là khi nhìn vào ánh mắt của một người không có hồn, không có thần, không có sáng, con mắt lờ đờ, si biểu hiện ở trên cơ thể là ở nơi cái ánh mắt của mình, trên đầu của mình. Cái sân sanh khởi lên ở trong lồng ngực, từ nơi lồng ngực sẽ bốc hỏa lên, bốc lửa lên và từ lồng ngực mình bốc lên gương mặt của mình làm mặt đổi màu, mắt mình đỏ, lỗ tai mình lùng bùng, cái miệng bắt đầu phát ra những lời nói hết sức khó nghe, những lời nói bực bội, khó chịu, ghim gút, gắt gỏng, cọc cằn, những lời nói hung dữ, hung bạo, thô ác.

Như vậy ở trên cơ thể mình khi cảm thọ khó chịu cộng với cái sân đó thì biểu hiện đầu tiên là khỏi động ở nơi lồng ngực của mình. Cái dục tham ở chỗ phát dục của chúng ta, khi nó sanh khởi lên là nó có sự chuyển động. Đây là ba chỗ tham dục, sân hận và si mê nó biểu hiện ở trên thân chúng ta, nhớ rõ cái này vì nó hết sức quan trọng trong các pháp hành của mình. Nếu mình muốn nhiếp phục nó thì mình chỉ cần thường an trú cảm giác toàn thân, khi nó khởi động lên mình biết được liền, tự nhiên sao chỗ này nó nóng lên dữ vậy, trong lồng ngực mình nóng lên, nó phừng phừng lên là mình biết rồi, có một cảm giác sân. Lúc đó mình phải kêu "Thôi thọ ơi, cảm thọ ơi, cảm giác ơi, làm ơn lắng xuống, dịu xuống giùm cái đi, làm ơn lắng dịu xuống giùm cái đi. An Tịnh, lắng dịu đi, dễ chịu đi, ngọt ngào đi. Bây giờ nếu lửa này nó bốc lên thì chỉ có thiêu đốt thôi Chỉ có nhiệt não, chỉ có nóng bức, chỉ có là hủy diệt thôi chứ không có lợi ích gì hết, mình hướng vào, mình dùng con mắt tâm của mình, dùng cái con mắt trí tuệ của mình, gọi là pháp nhãn, đạo nhãn, trí nhãn của mình, con mắt tâm nhìn vào, mình hướng thẳng vào trong ngay cái chỗ lồng ngực mình kêu "An Tịnh, lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào".

Đừng đợi tới lúc tức giận mình mới kêu thì nó không nghe đâu, bình thường mình phải tập an trú cảm giác toàn thân, an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào. Khi mình tập như vậy thì từ từ sẽ quen, tới khi có những sự biểu hiện của sân giận, của bực bội thì lúc đó mình kêu mới có thể nghe được đôi phần, lúc đầu nó cũng chưa có nghe nhiều đâu nhưng mà từ từ mình thực tập thì cái gì cũng sẽ quen, cái quen lần, nó quen dần, rồi cái tâm mình từ từ nó sẽ nghe lời, nó sẽ ngoan, nó sẽ hiền, trong kinh dùng từ là nhu nhuyến, mềm mại, dễ sử dụng.

Một người thường uốn nắn cái tâm của mình, giáo dục cái tâm mình, dạy dỗ cái tâm mình, huấn luyện cái tâm, hoặc là tu cái tâm của mình thì cái tâm đó trở thành nhu nhuyến, mềm mại, dễ sử dụng. Khi mình kêu nó sẽ nghe, còn nếu mình không nhìn ra được cảm xúc, cảm giác, cảm thọ thì cảm thọ này sẽ xâm chiếm, nó áp đảo mình, lật đổ mình một cách hoàn toàn. Lúc đó mình không còn biết cái gì hết, không biết đây là cảm thọ, càng không biết trong cảm thọ nó có sân thì làm sao lúc đó mình nhiếp phục, chế ngự, hay là tẩy sạch, đoạn tận được cái sân hận ở trong tâm? Chúng ta thấy chỗ này rất quan trọng, đây là pháp hành của chúng ta.

Tại vì thường xuyên và liên tục khi mình đi, đứng, ngồi, nằm, thức, ngủ, nói chuyện, ăn cơm, uống trà, sinh hoạt, làm việc, giao tiếp mà mình luôn luôn lúc nào cũng phải để ý cảm giác cho con người đang như thế nào. Mắt mình giờ sao, lồng ngực của mình đang như thế nào, toàn bộ cơ thể của mình từ đảnh đầu tới gót chân của mình đang có cảm giác gì. Mình thường xuyên để ý cảm thọ như vậy, mình quán chiếu cảm thọ như vậy, mình để tâm cảm thọ, mình dòm xét cảm thọ, mình chăm sóc cái cảm thọ như vậy, mình tưới tẩm cho nó những cái cảm giác hiền thiện, hiền hòa, hiền hậu, hiền lương, hiền từ, hiền đức, hiền nhân, hiền trí như vậy thì chúng ta sẽ có một cảm giác rất là tuyệt vời. Chúng ta sẽ đổi cảm giác bức xúc, bực bội, cọc cằn, khó chịu, sân hận, hẹp hòi, nhỏ nhặt, nhỏ mọn, nhỏ nhoi, nhỏ hẹp thành cho một cảm giác lúc nào cũng an tịnh, lúc nào cũng lắng dịu, lúc nào cũng dễ chịu, lúc nào cũng ngọt ngào, lúc nào cũng tươi thắm, lúc nào cũng thanh lương, mát mẻ.

Con người như vậy có hạnh phúc không? Tại sao người đó dễ giận, dễ bực lắm, dễ cự lắm, dễ sân lắm? Bởi vì ở trong cảm thọ người này là những cục than, là những nhiên liệu, những chất dễ cháy cho nên chỉ cần một chút xíu lửa bên ngoài thôi là cháy liền. Đó là tại vì không biết tu cảm thọ, tức là mình không có thương mình, mình tự hành hạ mình, mình hành hạ người khác, mình làm khổ mình, mình làm khổ người khác, thậm chí mình hành xác mình, mình hành xác người khác bằng những cảm giác nóng bức, nhiệt não, khó chịu, bực bội, bức xúc, cộc cằn, sân hận, ganh tị, đố kỵ như vậy. Đức Thế Tôn gọi là tự hành hạ mình, hành hạ người khác, tự làm khổ mình, làm khổ người khác, tự hành tội mình, hành tội người khác.

Thương lâu rồi ta sống

Trong sự quên lãng mình

Ta bỏ quên cảm thọ

Nên để mình khổ đau

Ta chất chứa những cục than, ta cứ chất chứa những cái hố than hừng, ta cứ chất chứa những cái ngọn lửa trong này, trong cái ánh nhìn của ta là những cái ánh nhìn châm chích, những cái ánh bất thiện cảm, những cái ánh nhìn đố kỵ, ganh tị, những cái ánh nhìn hơn thua ở trong cái ánh mắt đó. Như vậy ta tự đưa những cục lửa than vào trong mắt ta, đưa những cục lửa than vào trong lỗ tai ta, đưa những cục lửa than vào trong tim ta, vào trong lồng ngực của ta, ta tự thiêu đốt mình bằng những cục than tức là những cảm thọ tiêu cực, những cảm thọ bức xúc, những cảm thọ bực bội, sân hận, nhìn ai cũng là khó ưa, khó chịu. Người ta nhìn lại mình như vậy thì bắt đầu mình bực bội lên, rồi cuối cùng nhiều khi ở chung trong một nơi giống như hành hạ nhau, hành tội với nhau, không có thương nha, không có nhìn nhau bằng cái ánh nhìn thiện cảm, không có nhìn nhau bằng con mắt thương, không có nhìn nhau bằng một ánh nhìn cảm thông, hiểu thương, tha thứ, từ tâm, từ ái, từ bi, từ hòa. Như vậy thì ta rất đáng thương.

II. Lợi ích khi tu tập cảm thọ

Bây giờ chúng ta tu cảm thọ này hay lắm, chúng ta tu cái này hay lắm, giống như ngày nào chúng ta cũng phải ra tưới cây, mỗi ngày chúng ta phải tưới cây, lâu lâu chúng ta bón phân, cũng vậy, nếu mình không chăm sóc cảm thọ của mình, cảm xúc, cảm giác của mình, mình không có tưới tẩm cho nó nước mát, những cái dòng cam lộ sương ngọt, mình không có nuôi nó bằng những cái pháp nhũ, những cái thánh nhũ, sữa pháp, sữa của bậc thánh, mình không có nuôi nó bằng những cảm giác từ ái, từ hòa, từ bi thì chính mình làm cho mình khổ đau. Bây giờ con xin hỏi quý thầy và tất cả quý Phật tử, khi mình nổi giận, mình nổi nóng lên thì ai khó chịu trước? Người mà mình giận họ chưa khó chịu nhưng mà mình khó chịu trước rồi, bây giờ nếu như mình giận chừng ba ngày thì mình khỏe không? Ăn có ngon, ngủ có yên không? Mình giận chừng ba tháng rất là mệt mỏi, rất là nóng bức, rất là nhiệt não.

Bây giờ mình bỏ cái giận xuống, mình thấy thương quá, thương sao là thương, thương ơi là thương, thương vô cùng thương, ai cũng nhìn thấy thương hết, cái tâm mình nó ngọt ngào, nó dễ chịu, nó rộng mở, nhìn vô mặt là mình biết liền người đó tu làm sao. Một cái tâm mà ở trong này nó tươi mát, trong này nó hiền hòa, ở trong này là một cái tâm hết sức là khiêm cung, từ ái, nhẹ nhàng, ngọt ngào, mình lại gần đó giống y như mình đứng gần máy điều hòa. Tại sao chúng ta ngồi trong đây hàng trăm người vẫn thấy dễ chịu? Là vì có máy điều hòa, còn nếu như bây giờ mình vô đây mà không có máy điều hòa, không có máy quạt gì hết thì chúng ta thấy có dễ chịu không? Cũng vậy, cái tâm của một người khó chịu, gặp ai cũng khó chịu hết là người đó chưa biết tu cảm thọ, chưa biết tu cảm giác, cảm xúc này. Mình ở gần với người như vậy là mệt lắm, khổ lắm, nhiều khi nhìn cái cũng bị rầy nữa.

Cho nên bây giờ có trường hợp chỉ nhìn nhau thôi mà giết nhau chết vì cho rằng người kia nhìn điểu, bây giờ chính là cái lúc mà tất cả chúng ta phải nỗ lực để tu cái cảm thọ hiền hòa này. Con mắt của mọi người đang bốc cháy, lỗ tai của chúng sanh đang bốc cháy, cái miệng này đang bốc cháy, con mắt bốc cháy nghĩa là nhìn nhau có thể giết hại lẫn nhau, cái lỗ tai bốc cháy là chỉ cần nghe mấy câu thôi là có thể xảy ra án mạng, đó là cái lỗ tai bốc lửa, cái miệng bốc cháy là chỉ cần nói qua nói lại một chút thôi thì có thể chung thân, tử hình, đổ máu, tan nhà nát cửa, huynh đệ tương tàn, thậm chí là phụ tử tình thâm chỉ trong vài lời nói thôi thì cái lửa từ ở trong cái miệng bốc ra đi đến đại nghịch bất đạo, bất hiếu, bất nhân bất nghĩa, vì lỗ tai bốc cháy, con mắt bốc cháy, cái miệng bốc cháy, cái thân bốc cháy cho nên có thể sẵn sàng liệng cái này, quăng cái kia, ẩu đả với nhau, đấu khẩu rồi đấu võ, chuyện bé xé ra to, to làm ra bự, bự làm ra hình sự. Tất cả đều đang bốc cháy.

Hoàn cảnh chúng ta là đang bốc cháy, biến đổi khí hậu toàn cầu, trong không khí chúng ta thở cũng độc, cũng đang bốc lửa, bốc cháy bởi vì chúng ta thấy nhất là năm nay những hiện tượng cực đoan, thời tiết cả thế giới chứ không phải riêng một quốc gia nào hết, chết hàng trăm, hàng ngàn, hàng nhiều ngàn, nhiều chục ngàn người vì khí hậu biến đổi nóng bức lên toàn cầu và cả cái địa cầu này đang bốc cháy trong những ngọn lửa của dục vọng, của sân hận, của bản ngã, ta đây, hơn thua, ganh tị, đố kỵ, sân si trong cuộc đời này. Thế Tôn nói ba cõi không yên giống như căn nhà rực lửa, vậy thì hơn bao giờ hết trong giai đoạn này chúng ta tu cái cảm giác mát dịu và hiền lương, ngọt ngào và từ ái, dễ thương để cùng hiểu với nhau, cảm thông với nhau, thương với nhau, sống cùng lục hòa kính với nhau. Hạnh phúc không?

Bây giờ quý vị về trường hạ chùa Hoằng Pháp, quý vị về bên cạnh chư Tăng, quý vị quỳ dưới chân của hòa thượng đạo trưởng, ở bên cạnh quý thầy, trụ trì, chư tôn đức, quý vị thấy dễ chịu không? Mát không? Ngọt ngào không? Hiền hòa không? An lạc không? Có cảm nhận được không? Chính là do sự tu tập ở trong cảm thọ của các ngài, trong cảm giác của các ngài, nó có một hấp dẫn lực, tức là sức thu hút. Bây giờ mình đang dưới nắng hè oi bức 39-40 độ C mà mình thấy một tàn cây đại cổ thụ thì mình có muốn đi liền vô đó không? Chúng ta đang ngồi dưới tàn cây của tổ sư, tàn cây của hòa thượng đạo trưởng, tàn cây của chư tôn đức.

Chúng ta đang ngồi dưới cái tàn cây đại bồ đề của bậc đại giác, bây giờ quý vị đang oi bức, đang khát nước, đang nhiệt não, đang nóng bức mà quý vị gặp một cái hồ nước một trăm cây số vuông vừa trong, vừa sạch, vừa xanh, vừa mát, xung quanh là sen nở rộ hết, sen ngàn cánh nở rộ hết, tỏa sắc, tỏa hương thì quý vị có muốn lại để rửa mặt hay là uống một ngụm nước không? Đây là Liên Trì Hải Hội, những khóa tu của chùa Hoằng Pháp chúng ta là Liên Trì Hải hội, là để cả hữu tình chúng sanh mười phương trở về tắm mát ở trong một hồ nước thanh lương, thanh tịnh, thanh sạch, thanh cao, cao thượng, thánh thiện là từ cái tâm Đức Phật truyền xuống các bậc thánh, truyền xuống hòa thượng đạo trưởng, truyền xuống thầy trụ trì, truyền xuống chư Tăng, truyền qua quý vị.

Cho nên buổi lễ quy y, làm lễ quán đảnh mà hòa thượng nhúng cành hoa vào ly nước rưới lên đầu tức là truyền thánh thủy cho mình. Đó là ý nghĩa của sự quán đảnh, là truyền dòng nước mát từ cái cảm thọ hiền thiện, thanh lương, ngọt ngào, hiểu thương thấm vào trong tim, có thấm vào tâm mình. Mọi người có cảm thọ, cảm xúc được không? Có cảm động được không? Cho nên sự tu tập cảm thọ này là hết sức quan trọng, một người không có tu tập cảm thọ ở chung ở trong chúng dễ giận hờn, dễ bức xúc, dễ bực bội lắm, cau có, ghim gút lắm, còn một người có tu hiền như cục bột, rất dễ thương, đừng có nói chi là bình thường dễ thương mà ngay những lúc hết sức khó chịu mà người này vẫn dễ chịu, gặp những người hết sức khó thương nhưng người này vẫn dễ thương. Như vậy quý vị thấy tu nó tuyệt vời không? Có muốn vậy không? Bây giờ muốn làm người dễ thương hay muốn làm người khó thương? Muốn dễ thương thì phải tu cảm giác dễ thương, bây giờ không tu mà đòi kết quả thì sao được.

Cho nên mình để ý cảm giác dễ chịu này, cảm giác hiền hòa này, mỗi ngày nhớ tưới nước vô, bón phân vô cho cái cây cảm giác của mình, cái cây bồ đề của mình. Cây bồ đề của mình nó lớn được bao nhiêu rồi? Phải làm sao cho nó lớn thật lớn, cây bồ đề cao lồng lộng che mát cả thế gian, hoa ưu bát nở ngọt ngào, rực rỡ, thơm tho cùng vũ trụ. Phải làm sao cho cái gốc bồ đề của mình ở bên trong nó được vững chắc, nó được lớn mạnh, nó trở thành cổ thụ, thành đại thọ chứ đừng có để mình tu riết rồi mất cái tâm bồ đề. Lúc đầu mới cạo đầu vô chùa dễ thương vô cùng, gặp mấy thầy xá cúi cái đầu hết mình luôn, nhưng tu chừng bốn-năm năm gặp mấy bậc tôn đức, mấy bậc lớn giống như không thấy, chỗ này chúng ta để ý, cái này rất hay.

Trong sự tu mình nó có lớn mạnh cái tâm bồ đề của mình hay không là nó biểu hiện từ trong những cử chỉ rất là nhỏ, chúng ta nhớ các bậc tôn đức, trí tuệ của các ngài thâm sâu lắm, ngài không cần nói gì đâu mà nhìn qua thôi là biết mình tu tiến, hay tu dậm chân, hay là tu thối lui là chỉ cần nhìn qua thôi, thậm chí nhìn ánh mắt của mình thôi không cần nói, nhìn cái mắt là biết đang có ý gì, huống hồ gì thánh trí ngũ uẩn là rất thâm sâu. Mình tu rồi mình sẽ cảm thọ được, mình tu tập cái cảm thọ này rất là tuyệt vời để làm cho con người mình mát mẻ. Bây giờ mình tiến sâu hơn nữa tính tình và bản chất của cảm thọ, tính tình của cảm thọ này là vô minh và khát ái, là căn cứ địa của sắc; thọ; tưởng; hành; thức này. Đây là một cái tâm mê, cái mà chúng ta cho rằng tôi đang thấy, đang nghe, đang hiểu, đang biết, đây là tôi đang hay, đang giỏi, đang tài lắm, cái thấy đó là cái thấy của vô minh, cái thấy đó là cái thấy của tâm mê, không có cái tôi nào đây hết.

III. Khuyến tấn tu tập

Mới vừa rồi có cô đi ra ngoài tháp Trầm Hương ở Nha Trang lên chụp hình đứng tạo dáng trợt chân một cái năm sáu bậc cầu thang, đập đầu chết ngay tại chỗ thì cái tôi ở đâu? Mới một phút trước thôi là tạo dáng, một phút sau thôi không còn một con người nữa, chỉ là một cái thây ma thôi, một cái xác chết nằm dài đó, tôi ở đâu, của tôi ở đâu, tự ngã của tôi ở đâu? Tất cả chỉ là ảo tưởng thôi, cái đống thịt đang ngồi đây được hợp lại từ năm nhóm, nhóm thứ nhất là cái đống thịt, máu, ruột, gan, phèo, phổi, bao tử, lá lách, dạ dày, phân và nước tiểu, đó là nhóm thứ nhất. Nhóm thứ hai là những cảm thọ nãy giờ chúng ta đang nói. Nhóm thứ ba là những cái hình bóng ở trong tâm, khi mình ngồi lại là hình bóng cái kia, hình bóng cái nọ, những hình bóng của người, của vật, của cảnh, đó là cái nhóm thứ ba là tưởng uẩn. Nhóm thứ tư là những lời nói lầm thầm suy nghĩ, đó là hành uẩn, hết nói cái này tới nói cái kia, hết nói cái kia đến nói cái nọ, hết nghĩ cái này đến nghĩ cái kia, hết nghĩ cái kia đến nghĩ cái nọ, đó nhóm thứ tư là hành uẩn, là sự tập hợp của các dòng suy nghĩ. Nhóm thứ năm là nhóm rõ biết thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc, biết.

Năm nhóm này là do duyên sanh, hội tụ, chỉ cần một cái gì trục trặc một chút thôi, đứt thở, đột quỵ, tai biến, ngã xuống là không còn một con người nữa, đây gọi là năm nhóm, là năm uẩn, ngũ uẩn. Bên trong năm nhóm này chất chứa rất nhiều cấu uế, nhìn thấy hiền vậy đó nhưng đụng vào rồi biết, bên trong là nhiều tham dục, nhiều sân hận, nhiều ngã mạn, kiêu mạn, Đức Thế Tôn nói rằng:

"Thành này làm bằng xương,

Quét tô bằng thịt máu,

Ở đây già và chết,

Mạn, lừa đảo chất chứa"

(Kinh Pháp Cú 11 – Phẩm Già, kệ 150)

Khung sườn của thân này làm bằng bộ xương, quét tô ở bên ngoài là thịt và máu, bên trong là già nua, bệnh tật, chết chóc, ngã mạn và dối gian. Chúng ta nhìn thấy hơn bao giờ hết xã hội ngày nay hằng ngày trên báo chí, trên tin tức đưa tin con người đầy rẫy tham dục kinh hoàng, khủng khiếp, con người đầy rẫy sân hận, hơn thua, đấu đá, thậm chí chuyện chẳng có gì, con gà nhà này chạy qua nhà kia mổ vào vườn rau vậy mà xảy ra án mạng, hoặc là tưới nước làm văng nước, văng mạt cưa qua nhà hàng xóm một chút thôi cũng có chuyện hình sự xảy ra. Chính vì vậy chúng ta phải nhìn thật kỹ cảm thọ này, cảm xúc, cảm giác này, nếu không thì "ma đưa lối, quỷ dẫn đường, lại tìm những chốn đoạn trường mà đi" (Truyện Kiều – Nguyễn Du). Chỉ cần một cái cảm giác bất thình lình nó sanh khởi lên mà mình không kiểm soát được, mình không nhận ra được, mình không biết đây là gọi là sân, đây là bản ngã, hơn thua, là muốn đấu tranh, cãi lộn, sân hận mình không nhìn thấy được mà nó bung ra là có chuyện, huynh đệ không còn, thầy trò có khi cũng trở mặt, cha con, mẹ con, anh chị em có thể trở thành kẻ thù. Một khi cái bản ngã sanh khởi, tâm tham, tâm sân hận nổi lên là cái gì cũng có thể làm được, đó là tính tình ở trong cái cảm xúc, cảm thọ này, cần phải hết sức cẩn thận.

Đức Phật gọi tâm này là tâm hoang vu, tâm uế nhiễm, tâm cấu uế, cái tâm này nhất định cần một sự thanh lọc, một sự thanh tẩy, làm cho nó được thanh tịnh, làm cho cái tâm này nó thanh cao, nó cao thượng, nó thánh thiện, thì nó phải có những phương pháp, cách thức hết sức là nhiệt tâm, tinh cần, chánh niệm tỉnh giác, hết sức là dốc sức, nỗ lực, làm bằng tất cả tấm lòng của mình chứ không phải tu sơ sơ, tu gieo duyên là được, mà phải nỗ lực cả một cuộc đời mới có thể thanh lọc được cái tâm cấu nhiễm. Khi đã thanh lọc được cái tâm cấu nhiễm thì trở thành các bậc hiền thánh, dự vào trong bốn đôi tám chúng hiền thánh, cho nên chúng ta phải chịu khó thường xuyên nhìn vào trong cảm giác của mình.

Bây giờ mình ví dụ những cái hết sức là gần gũi, thiết thực, thực tế, khi mình ăn một món mà mình thích thì mình thấy có sự thúc giục trong tâm không? Có thấy khoái không? Có muốn gắp nữa không? Lúc đó phải nhìn ra được đó là những cảm giác thúc giục. Khi mình ăn một món dở, tất cả mọi người được ăn món ngon nhưng chỉ có mình không được thì trong tâm sẽ thấy khó chịu, sân lên liền, miệng thì nói "tôi bình thường, tôi ăn cái gì cũng được" nhưng trong bụng là buồn hoặc là giận. Mình phải nhận diện được cái tham sân đó, cái hơn thua, bản ngã cũng vậy, lúc nào cũng muốn hơn người ta chứ không chịu thua, lúc nào cũng muốn giành phần đúng, phần hơn về mình, giành phần phải về mình, những cái tâm đó nhất định phải tìm cách làm cho nó lắng dịu xuống, phải hạ gục được những cái tâm đó, phải huấn luyện, giáo dục, dạy dỗ và sửa trị cái tâm đó đồng thời phải tứ vô lượng tâm, đây là bốn cái cảm thọ rộng lớn, vô lượng, từ vô lượng tâm, bi vô lượng tâm, hỷ vô lượng tâm, xả vô lượng tâm để đối trị cảm thọ tham, sân, si, dục ái, vô minh, bản ngã.

Bây giờ mình tu thế nào? Đâu tiên mình phải xót thương chính mình, hồi đó giờ mình nghĩ từ bi là đi thương người ta, không phải vậy, mình phải thương mình trước, mình không biết thương mình thì mình không thể thương người khác. Thương mình là thương cái gì? Tại sao cái tâm mình, cái cảm thọ mình nó cứ giận hoài vậy? Tại sao cái cảm giác của mình cứ hơn thua hoài vậy? Tại sao trong con người mình đi tu lâu rồi mà sao nó cũng còn ham còn muốn hoài vậy?

Thương lâu rồi ta sống

Trong sự quên lãng mình

Ta bỏ quên cảm thọ

Nên để mình khổ đau.

Nhìn lại mới thấy mình còn rất nhiều tham, mình còn rất nhiều sân, mình còn rất nhiều si mê và bản ngã, cho nên mình tự thấy rằng mình rất là đáng thương, mình mới là người đáng thương nhất hành tinh chứ không phải thương ai hết, thương chính mình. Mình thấy được mình là người đáng thương lắm, mình đau khổ vì tham, sân, si, mình đau khổ vì những cái dục ái trong con người của mình, mình đi tu đúng ra phải vượt qua, mình từ bỏ hết những cái này mà bây giờ nó vẫn còn, nó chế ngự, xâm chiếm, áp đảo mình, mình thấy như vậy thì mình thật là đáng thương và chúng sanh cũng như thế, cũng rất là đáng thương. Mình là tai nạn, là nạn nhân của tham, sân, si và người kế bên cạnh mình cũng là nạn nhân của tham, sân, si và tất cả hữu tình chúng sanh, cha mẹ, anh chị em mình cũng là nạn nhân của tham, sân, si, tất cả hữu tình chúng sanh trên cuộc đời này đều là nạn nhân của tham, sân, si và nạn nhân với nạn nhân là đồng cảnh ngộ với nhau nên cảm thông cho nhau, thương nhau đi, đừng có giận làm chi.

Hòa thượng đạo trưởng đề câu ngoài trước "cuộc đời đau khổ thương nhau không hết ở đó giận làm chi", khi mình hiểu được như vậy rồi mình mới trải được một tình thương mình từ đảnh đầu cho tới gót chân, từng làn da, thớ thịt thấm vào xương, ngấm vô trong tận tủy của mình là một cảm thọ thương thật là thương vì mình quá khổ rồi, những người ở cạnh mình cũng quá khổ giống như mình, họ bị tham, sân, si hành hạ, họ bị những cái dục ái đó nhai nghiến, họ bị những cái tâm bản ngã khống chế. Cho nên mình thương mình thật nhiều, mình thương người ở gần mình thật nhiều rồi thương anh chị, mẹ cha, ông bà, dòng tộc của mình, mình thương thật là thương vì chúng ta đồng cảnh ngộ là những nạn nhân của tham, sân, si. Sau đó mình trải tình thương này rộng lớn đến khắp tất cả mọi người, tất cả đều là đáng thương hết, tâm thương này rộng lớn.

Đầu tiên là khắp hết cơ thể của mình, cái cảm giác toàn thân mình cảm nhận được, kế đó lan tỏa ra cái tâm thương này phía trước mặt, tâm thương này lan tỏa vùng đất này, trời đất này, không gian này. Mình đứng ở đâu cũng tập trải tình thương của mình ra phía trước mặt tới tận chân trời, mình trải ra bên phải, bên trái, phía đằng sau, phía trên, phía dưới, cùng khắp mười phương. Mình an trú trong tâm thương rồi bung nó ra, nó lan ra, nó tỏa ra, nó trùm khắp hết tất cả mười phương, đứng ở đâu, ngồi ở đâu cũng tập trải từ vô lượng tâm khắp mười phương. Từ từ như vậy thì chính cảm thọ của từ bi, của tình thương rộng lớn này sẽ tẩy sạch những cái cảm thọ sân hận, bực tức, nó tẩy từ từ, nó rửa từ từ thì cuối mình thành tựu được tâm từ rộng lớn, cái tâm từ vô lượng. Muốn được như vậy thì phải tập và tập rất nhiều mới được.

Mình thực tập cái tâm bi để mình diệt cái tâm hại, cái tâm từ là để trị cái tâm sân, còn cái tâm bi là diệt tâm hại. Tâm bi là lòng xót thương, tâm từ là mình thương còn tâm bi là lòng xót xa, đau xót, thí dụ mình gặp một người già tám mươi tuổi mù lòa còn bán vé số thì thấy giống như có ai bóp trái tim của mình, thấy rất là xót xa cho cảnh đời như vậy, mù rồi bán vé số còn bị giật nữa. Mình xót xa, mình thấy những con người què quặt, câm ngọng, bị bệnh nan y ung thư, thậm chí là mình nhìn thấy những người ở lay lắt dưới dạ cầu, ở vỉa hè, những đứa trẻ mồ côi ở trong cô nhi viện hay là những người bị bệnh tâm thần thì lòng mình xót xa, đau xót, bi mẫn. Mình nghĩ rộng ra là tất cả những hình ảnh đó không phải chỉ là họ đâu mà đó là phản ảnh, phản chiếu nhiều đời, nhiều kiếp trong vòng luân hồi sinh tử này chính là mình, mình cũng đã từng như vậy. Trong Tương Ưng Vô Thỉ, Đức Phật nói không có một chúng sanh nào chưa từng làm cha mẹ, anh chị em mình trong vòng luân hồi này, Đức Phật nói mình đã từng bị giết hại vì tà dâm, mình đã từng bị bắt vì trộm cắp, mình đã từng bịa bao nhiêu những sự hành hạ vì sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, uống rượu trong vòng luân hồi này. Tất cả những cái cảnh khổ đó mình đều đã từng trải qua hết.

"-- Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỳ-kheo...

Này các Tỳ-kheo, thật không dễ gì tìm được một chúng sanh, trong thời gian dài này, lại không một lần đã làm mẹ...

Vì sao? Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỳ-kheo... là vừa đủ để được giải thoát đối với tất cả các hành" (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương IV. Tương Ưng Vô Thỉ (Anamatagga), II. Phẩm Thứ Hai, IV. Mẹ)

"-- Vô thỉ là luân hồi, này các Tỳ-kheo. Khởi điểm không thể nêu rõ, đối với sự lưu chuyển luân hồi của các chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc.

Này các Tỳ-kheo, thật không dễ gì tìm được một chúng sanh, trong thời gian dài này, lại không một lần đã làm con gái.

Vì sao? Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỳ-kheo. Khởi điểm không thể nêu rõ, này các Tỳ-kheo, đối với sự lưu chuyển luân hồi của các chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc.

Như vậy, trong thời gian này, này các Tỳ-kheo, các Ông chịu đựng khổ, chịu đựng thống khổ, chịu đựng tai họa, mộ phần càng ngày càng lớn lên. Cho đến như vậy, này các Tỳ-kheo, là vừa đủ để nhàm chán, là vừa đủ để từ bỏ, là vừa đủ để giải thoát đối với tất cả các hành" Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương IV. Tương Ưng Vô Thỉ (Anamatagga), II. Phẩm Thứ Hai, IX. Con Gái)

Mình khởi lên lòng xót thương, bi mẫn cho chính mình và cho khắp tất cả chúng sanh. Tâm xót thương này đầu tiên lan tỏa từ trái tim mình ra hết lồng ngực, sau đó lan tỏa ra ánh mắt, mũi, miệng, lỗ tai, lan ra toàn bộ não mình, lan tỏa xuống bàn chân, gót chân, toàn bộ cơ thể mình thấm nhuần cảm giác xót thương, bi mẫn đối với tự thân và đối với hữu tình chúng sanh. Lòng xót thương này lan tỏa cùng khắp phía trên, phía dưới, bề ngang, bề dọc, cùng khắp mười phương, đó là mình thực hành bi vô lượng tâm, như vậy tâm bi này sẽ diệt tâm hại, cái tâm muốn làm hại người khác.

Mình tu tập tâm hỷ là khi nghe pháp cảm thấy vui quá, ngồi thiền an tịnh quá, lễ phật lên tụng kinh hạnh phúc quá, giờ này bằng tuổi mình ở ngoài đời là đi chạy xe ôm sáng đêm, mới nãy chú taxi chở con lại đây là ngáp dài ngáp ngắn, hai mắt mở lên không nổi vì chạy sáng đêm, chú mới có đứa con tám tháng thôi. Có nhiều người như bạn học của mình có bốn đứa con, thậm chí là ba bà vợ, ra ngủ chuồng bò luôn mà bây giờ mình được ngồi đây, mình chưa thấy chứng đắc đạo quả nhưng ít nhất là mình cũng thoát sanh tử năm mươi phần trăm, tức là không có sinh con. Bây giờ cạo đầu vô chùa thôi là thấy đã giải thoát sinh tử năm mươi phần trăm rồi, là hạnh phúc rồi, còn tìm hạnh phúc nào ở đâu nữa.

Bây giờ trong mỗi bữa ăn của người ta là máu tanh, là sát sanh, còn mình ăn cơm rau đơn giản vẫn thấy vui quá vì tránh được cái nghiệp sát sanh, mình hạnh phúc khi mình được từ bỏ sát sanh. Khi ăn cơm phải tác ý như vậy, dù nó hết sức là đơn sơ, rau muống luộc với nước tương, không có gì hết mà mình ăn vẫn thấy vui, thấy ngon, thấy khỏe, thấy nhẹ, thấy an lạc, hạnh phúc, thấy thiện pháp trong cái ăn này. Mình hân hoan lên, mình lên ngồi thiền yên tĩnh thật là dễ chịu, ngồi yên thật là bình an, ngồi yên thật là lắng dịu, ngồi yên thật là linh thiêng, thật là tuyệt vời, thật là mầu nhiệm, thật là thánh thiện. Mình đang ngồi tập sự im lặng của bậc thánh, mình vui ở trong cái ngồi thiền, mình hạnh phúc trong ngồi thiền, mình ngồi mỉm cười bình an vì mình biết rằng giờ này những người đồng tuổi với mình không được ngồi như vậy, mình được ngồi như vậy thì tại sao mình không trân trọng giây phút này, không trân quý giây phút này, không trân kính giây phút này, không tôn kính, kính trọng giây phút này.

Mình không có lãng phí, mình không hoang phí, mình không phung phí, không có phí bỏ dầu cho một phút giây trong đời sống tu hành phạm hạnh thanh cao, cao thượng, thánh thiện. Như vậy mình vui khi được ngồi yên, vui vì được nghe pháp, vui gì biết giữ giới hạnh, vui gì mình biết tập nhìn tâm, mình vui thật là vui khi mình tu các thiện pháp, mình được thầy lành, bạn tốt, đại chúng hiền hòa, được một đạo tràng phạm vũ, huy hoàng, trang nghiêm, thanh tịnh chùa Hoằng Pháp tiếng tăm toàn thế giới.

Mình hạnh phúc với những thiện pháp mình đã có, đang có và sẽ có, mình tác ý như vậy để tu tâm hỷ và làm cho tâm hỷ này rộng lớn. Thí dụ như mình có ham muốn một cái gì đó mà mình nhiếp phục, diệt được cái ham muốn đó thì mình vui vì mình chiến thắng được cái ham này. Nếu mình giận huynh đệ cùng phòng thì tác ý "mình đi tu bỏ cha, bỏ mẹ vô đây để tu hay vô đây để giận?", mình tác ý diệt cái tâm giận đó và khởi tâm từ đối với người kia và cũng là đối với mình luôn, "tại sao mình còn giận? Mình đáng thương quá vậy", mình trải tâm từ xong, mình diệt sạch cái tâm giận đó mình cho mình vui lên, hạnh phúc quá, diệt được giận rồi, chiến thắng. Mình sẵn sàng lấy mấy cái bánh, mấy hột điều ra đãi huynh đệ vì hôm nay mình chiến thắng cái giận, tu vui như vậy đó.

Nếu mình có một cái tâm hơn thua với ai đó, bây giờ mình thấy mình giết được cái tâm hơn thua này, mình sẵn sàng nhúng nhường xuống, mình sẵn sàng chịu thua để cho người kia thắng mà tâm mình vẫn ngọt ngào, hiền hòa, cái này mình vượt lên trên thắng bại, đó là bậc thánh đệ tử. Mình biết tu cái này đó là mình hạnh phúc lắm, không biết tu thì lên ngồi thiền làm mặt buồn, thấy nản quá thì ai dám tu. Tu như vậy một thời gian là đứng tại chỗ, không thôi thối đọa, nhiều khi lâu lâu tự nhiên thấy mất tiêu, tóc mọc dài ra.

Có một câu chuyện tăng hộ về hai cậu cháu, vị chú tiểu này là cháu còn ông thầy là cậu mà ông thầy chứng A-la-hán rồi. Người cháu vô ông tu với ông cậu, bữa đó đi ngoài chợ người cháu được người ta cho hai xấp vải đem về cúng cho sư phụ một xấp, còn lại cho người cháu. Về đến nơi thì sư phụ bảo người cháu đi lại quạt cho sư phụ ngồi thiền, quý vị biết ở Ấn Độ nhiều muỗi, quạ lắm cho nên phải có chú tiểu kế bên để hầu.

Người cháu nghe sư phụ kêu lại quạt thì ngồi buồn vì tu có hai cậu cháu mà đem vải người ta cúng mà cậu không nói năng gì, thế là giận không tu nữa đi về cưới vợ đẻ hai đứa con. Hôm đó người cháu dẫn vợ con vào chào sư phụ, đến nơi thì hai vợ chồng giành bế đứa con một hồi thì đứa con rớt xuống đất, người chồng tức quá lấy cán quạt đòi đánh vợ thì ai ngờ đánh trúng đầu sư phụ. Nghe sư phụ la thì người cháu mở mắt ra mới biết nãy giờ mình đứng quạt mà vọng tưởng, bị phóng tâm, qua câu chuyện này chúng ta thấy sự tu của mình phải có sự hỷ lạc, hạnh phúc thì mình mới tu được, mới tu lâu, mình mới tu bền và mình mới tăng thượng ở trong giới, định, tuệ, có chân đứng ở trong pháp và luật.

Mình tu mà không thấy mùi vị, không thấy hương vị, không thấy thú vị, không có pháp vị, thiền vị, đạo vị gì cả, chỉ thấy nhạt nhẽo thì sự tu của mình sẽ không tiến. Mình tu mà thấy hạnh phúc, khoan khoái, sung sướng, mình hứng thú, thú vị, hương vị, pháp vị, thiền vị, đạo vị, mình thấy mình giải thoát vị, Niết-bàn vị, hoan hỉ, viễn ly, xuất ly, an lạc, Niết Bàn lạc, mình hưởng rất là nhiều cái sự an lạc, từng bước chân của mình cảm nhận được sự an lạc ở trong cảm thọ an tịnh, lắng dịu, ngọt ngào, thanh tịnh, thanh thoát, thanh cao, cao thượng, thánh thiện trong từng bước chân của mình, đó là mình tác ý tu tâm hỷ.

Cuối cùng mình tu tâm xả là mình tập buông xả từ từ, cái ăn, cái mặt, cái chỗ ngồi, cái khen chê, cái này nọ kia trong chúng, cúng dường, không cúng dường, được khen, được chê này nọ kia mình xả hết, mình nói mình đi tu đâu phải cần cái này. Mình đi tu để cầu giác ngộ chứ đâu phải cần mấy cái này, cho nên những cái lặt nhặt, nhỏ nhặt chút đỉnh này kia mình có thể buông xả một cách nhẹ nhàng, buông xả một cách dễ dàng, buông xả một cách chỉ trong cái chớp mắt, chỉ trong cái khảy móng tay là mình bỏ được ngay lập tức, không có mệt nhọc, không có khó khăn, không có phí sức khi mình tu tâm xả. Khi đã tu tâm một cách thuần thục, nhu nhuyến, mềm mại, dễ sử dụng, điêu luyện trong pháp thì nó sẽ trở thành lão luyện, chỉ cần trong một cái ánh nhìn, trong một cái tác ý của mình thôi là lập tức xả xuống được liền, đó là công phu tu tập thuần thục.

Như vậy mình lấy bốn tâm vô lượng này để phá tham, sân, si ở trong cảm thọ của mình, sau cùng tiến đến mức độ thâm sâu là phá bỏ cảm thọ, xả luôn cảm thọ vì Thế Tôn đã nói cái gì được cảm thọ đều nằm trong đau khổ.

"-- Lành thay, lành thay, này Tỳ-kheo! Này Tỳ-kheo, Ta nói rằng có ba thọ này: lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ. Ba thọ này được Ta nói đến. Nhưng này Tỳ-kheo, Ta lại nói: 'Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ'. Chính vì liên hệ đến tánh vô thường của các hành mà lời ấy được Ta nói lên: "Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ'. Chính vì liên hệ đến tánh đoạn tận, tánh tiêu vong, tánh ly tham, tánh đoạn diệt, tánh biến hoại của các hành mà lời ấy được Ta nói lên: 'Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ'". (Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương II. Tương Ưng Thọ, Phần Hai - Phẩm Sống Một Mình, I. Sống Một Mình)

Sau đó mình xả bỏ cảm thọ, đạt được tâm bất động giải thoát, tâm giải thoát, tuệ giải thoát và thành tựu cứu cánh phạm hạnh tối thượng của người xuất gia là xuất ly khỏi năm thủ uẩn, đạt được tâm bất động giải thoát, chánh giác. Đó là lộ trình thực tập, quán chiếu về cái lõi cây, quán chiếu về cảm thọ. Con mong rằng tất cả chư tôn đức cũng như các bậc hiền trí có thể dùng đây làm hành trang để mình thực tập và trong ba tháng an cư thì cầu chúc tất cả quý ngài thành tựu từ sơ quả, nhị quả, tam quả, tứ quả cũng như tất cả các Phật tử đều tham dự vào bốn đôi tám chúng hiền thánh, xứng đáng là người con Phật chân chánh trong ánh sáng tối thượng của chánh pháp thánh thiện này. Con mời tất cả chư tôn đức và chư Phật tử chúng ta đứng lên lễ ba lễ cảm tạ tam bảo.

./.