Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Chuyện Ma Thời Đức Phật - Tương Ưng Ác Ma 3A

2026-03-03 00:54:10
CHUYỆN MA THỜI ĐỨC PHẬT 3A

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Viễn ly dục lạc PAGEREF _Toc79424445 \h 1

II. Tỷ kheo Ni PAGEREF _Toc79424446 \h 4

III. Bài kinh Hàng Ma PAGEREF _Toc79424447 \h 8

I. Viễn ly dục lạc

Kính bạch quý thầy, quý sư cô và đại chúng, chuyên đề Tương Ưng Ác Ma là một đề tài bình dị, dễ hiểu, nên khi đặt là Tương Ưng Ác Ma thì người khác không hiểu, nên mới được đặt là Chuyện ma thời Đức Phật. Người ta nghĩ thời của Đức Phật thì chỉ có Phật thôi, vậy nên khi đọc kinh Nikāya thì mới thấy được sự thật, ở mặt trái.

Bài tiếp theo trong Tương Ưng Tỳ-kheo-ni nhưng có liên hệ tới Ác ma, trong Tương Ưng Bộ tập một, chương năm:

Khi đó Đức Thế Tôn ở trong vườn ông Cấp-cô-độc. Tên ông Cấp-cô-độc rất quen với chúng ta, nếu như ông không cúng dường với Đức Phật khu vườn thì đến giờ này chắc không ai biết đến ông ấy. Chúng ta thấy phước bố thí, cúng dường rồi sau đó, phát khởi lòng tin, nghe pháp và thực tập trí tuệ, cuối cùng ông thành tựu được Chánh Quả. Với sự hướng dẫn của các bậc Thánh tăng, ông rất xúc động trong bài kinh Giáo giới Cấp-cô-độc, bài kinh cuối cùng trong cuộc đời của ông.

Vậy nên pháp cơ bản của Đức Phật dạy là bố thí và cúng dường, giữ giới, cẩn thận đối với ác nghiệp, nghiệp quả rồi sau đó dạy tới quán nguy hiểm, tác hại, xuát ly của các dục rồi cuối cùng các Ngài tuyên thuyết về giáo pháp, các bậc Chánh Đẳng Giác tuyên dương thành Tứ Thánh Đế. Đó là lộ trình thuyết pháp của tất cả Chư Phật trong ba đời.

“1) Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn ở Sàvatthi, Jetavana, tại vườn ông Anàthapindika.

2) Tỷ-kheo-ni Alavikà, vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi vào Sàvatthi để khất thực. Khất thực ở Sàvatthi xong, sau buổi ăn, trên con đường khất thực trở về, Tỷ-kheo-ni đi đến rừng Andha để tìm sự yên tĩnh viễn ly.

3) Ác ma muốn làm Tỷ-kheo-ni Alavikà run sợ, hoảng sợ, lông tóc dựng ngược, muốn nàng từ bỏ yên tĩnh viễn ly, nên đi đến Tỷ-kheo-ni Alavikà và nói lên bài kệ:

Đời không có xuất ly,

Sống viễn ly làm gì?

Hãy trọn hưởng dục lạc,

Chớ hối hận về sau.”

Ác ma ý nói “Đời không có xuất ly” là “Trên đời này làm gì có giải thoát, không có giải thoát, sống rời xa nơi núi rừng làm chi, mà hãy hưởng dục lạc, đừng để phải hối hận về sau, để đến lúc chết thì không được hưởng nữa!” Chúng ta thấy Ác ma cứ dẫn dụ, câu dẫn người ta đi vào tham dục, dù cho hình thức không phải là răng nanh, mắt trợn, mặt mày dữ dẵn, hung ác mà là đẹp và khuyến khích người ta đi theo dục, là một hình thức khác của ma.

Chúng ta thấy ma ở nhiều nơi, đầy rẫy, ngay cả trong điện thoại.

“4) Tỷ-kheo-ni Alavikà suy nghĩ: "Ai đã nói lên bài kệ này? Người hay không phải người?"

5) Tỷ-kheo-ni Alavikà suy nghĩ: "Chính Ác ma muốn làm ta run sợ, hoảng sợ, lông tóc dựng ngược, muốn làm ta từ bỏ yên tĩnh viễn ly nên đã nói lên bài kệ đó".

6) Tỷ-kheo-ni Alavikà biết được: "Đấy là Ác ma", liền nói lên bài kệ:

Ở đời có xuất ly,

Nhờ trí tuệ, ta chứng.

Này Bà con phóng dật,

Biết sao được pháp ấy?

Ái dục như kiếm thương,

Đài chém đầu các uẩn.

Điều Ông gọi dục lạc,

Ta gọi là bất lạc.

7) Ác ma biết được: "Tỷ-kheo-ni Alavikà đã biết ta", nên buồn khổ, thất vọng, liền biến mất tại chỗ ấy.”

(Bài kinh Alavikà, Chương V. Tương Ưng Tỷ Kheo Ni - Tập I. Thiên Có Kệ

- Tương Ưng Bộ Kinh)

Vị Tỳ-kheo-ni Alavikà cũng là Thánh ni, ở đời có giải thoát, nhờ trí tuệ nên chứng đắc được. “Này Bà con phóng dật. Biết sao được pháp ấy?” Ý vị Tỳ-kheo-ni hỏi Ác ma làm sao ông ta biết được pháp đó, ông là dòng họ của buông lung phóng dật thì làm sao biết được pháp trí tuệ tối thượng, xuất ly giải thoát.

“Ái dục như kiếm thương. Đài chém đầu các uẩn.” Kiếm thương là thanh kiếm, đài là đoạn đầu đài, nơi để chém đầu những người tù nhân, nên ái dục là kiếm, gươm, dao, là chỗ để chém đầu các uẩn. Khi đó chúng sanh giàn giụa nước mắt và máu, chết chóc trong ái dục đó, nhưng lạ kì người ta lại đam mê điều đó, cả cuộc đời đi kiếm điều đó, nhưng đó lại là nguyên nhân để làm ra đau khổ, dù biết nó khổ nhưng ta cũng không bỏ được. Vì chính vị ngọt của nó.

Đây là chỗ khác biệt mà Đức Thế Tôn đã chứng ngộ, người ta không biết xuất ly đạo lộ, dù người ta muốn thoát ra thì làm sao để thoát? Vì sắc ám ảnh, những cảm giác ám ảnh, hình bóng trong tâm ám ảnh, suy nghĩ ám ảnh, nhận thức ám ảnh rồi quay cuồng trong đó, sắc dục, thọ dục, tưởng dục, hành dục, thức dục cùng với vô minh và khát ái thì làm sao tìm ra được con đường thoát ra? Bát tà đạo trùm xuống, chụp xuống thì làm sao thoát ra?

Vậy nên chỉ có Bậc Chánh Giác ra đời thì mới có xuất ly đạo lộ. Đây là nơi hi hữu, tối thượng của Chánh Pháp. Nếu không có Bậc Chánh Đẳng Chánh Giác ra đời thì không thể có con đường xuất ly, dù cho người ta có ly dục thì cũng là ly dục trên sự hình thức kiềm cọng, tránh né, duyên nhưng tùy miên vẫn ở đó, đến một lúc thì lại sanh khởi trở lại.

Trong Tiểu Bộ Kinh có những câu chuyện, có những vị tu chứng thần thông, những vị ẩn sĩ trong rừng, nhà Vua mời mỗi ngày đi khất thực thì mời Ngài vào trong cung thọ trai, có vị ẩn sĩ không đi bộ mà bay trong hư không rồi tới cung Vua để đáp xuống thọ trai. Một ngày bay ngang ngay lúc hoàng hậu đi tắm nên dục khởi, rơi xuống vì mất thần thông. Vậy nên tâm trong sạch thì thần thông mới còn, tâm chỉ cần sanh khởi dục là mất thần thông và té xuống.

Như vị đó thì đã nhiếp phục được dục thì mới chứng được thần thông, nhưng đến khi duyên khởi lên thì lúc đó mất thần thông. Vậy nên chỉ có bậc Chánh Đẳng Chánh Giác mới chỉ ra được con đường nhiếp phục và đoạn tận, diệt tận được thì chỉ có bậc Chánh Tri Kiến thì các bậc đó Đức Thế Tôn hướng dẫn mới thành được, chính là các bậc Thánh đệ tử của Ngài trong Bốn Đôi Tám Chúng. Nếu không thì chỉ nhiếp phục, tránh duyên, nằm xuống, nằm yên bên trong và khi có duyên lại sanh khởi.

Vậy nên sự tu tập của chúng ta mà “Giờ con yên ổn, con không thấy dục gì thì sao lại kêu quán Bất Tịnh?” Không phải như vậy, vì sự tu của thân hành niệm là diệt tận bên trong, moi móc thâm sâu trong thọ, tưởng, hành bên trong và phá luôn cảm thọ đó, nên mới gọi là các bậc Chánh Đẳng Chánh Giác. Tức là dù thấy là không có nhưng khi duyên khởi lên thì sẽ có, vậy nên mới có giáo pháp ly tham, ly dục, nơi thâm sâu của pháp.

“Điều Ông gọi dục lạc,

Ta gọi là bất lạc.”

Tức là điều Ác ma cho là vui sướng thì vị Alavikà cho là khổ đau.

II. Tỷ kheo Ni

Tiếp theo là một vị Tỳ-kheo-ni khác tên Somà nhưng cũng giống câu chuyện trên:

“1) Nhân duyên ở Sàvatthi.

Rồi Tỷ-kheo-ni Somà vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi vào Sàvatthi để khất thực.

2) Khất thực ở Sàvatthi xong, sau bữa ăn, trên con đường khất thực trở về, Tỷ-kheo-ni đi đến rừng Andha để nghỉ ban ngày. Sau khi đi sâu vào rừng, nàng ngồi dưới một gốc cây để nghỉ ban ngày.

3) Ác ma muốn làm Tỷ-kheo-ni Somà run sợ, hoảng sợ, lông tóc dựng ngược, muốn nàng từ bỏ Thiền định, liền đi đến Tỷ-kheo-ni Somà; sau khi đến, nói lên bài kệ với Tỷ-kheo-ni Somà:

Địa vị khó chứng đạt,

Chỉ Thánh nhân chứng đạt,

Trí nữ nhân hai ngón,

Sao hy vọng chứng đạt?”

Ý Ác ma muốn chê vị Tỳ-kheo-ni Somà là người nữ nên trí tuệ nhỏ bé, nhỏ hẹp, chỉ như hai ngón tay làm sao chứng đạt được Thánh nhân.

“4) Tỷ-kheo-ni Somà suy nghĩ: "Ai đã nói bài kệ này? Người hay không phải người?"

5) Tỷ-kheo-ni Somà suy nghĩ: "Đây là Ác ma muốn làm cho ta run sợ, hoảng sợ, lông tóc dựng ngược, muốn ta từ bỏ Thiền định, nên đã nói lên bài kệ đó".

6) Tỷ-kheo-ni Somà biết được: "Đây là Ác ma", liền nói lên bài kệ với Ác ma:

Nữ tánh chướng ngại gì,

Khi tâm khéo Thiền định,

Khi trí tuệ triển khai,

Chánh quán pháp vi diệu?

Ai tự mình tìm hỏi:

"Ta, nữ nhân, nam nhân,

Hay ta là ai khác?"

Xứng nói chuyện Ác ma,

Ác ma thật cân xứng.

7) Ác ma biết được: "Tỷ-kheo-ni Somà đã biết ta", nên buồn khổ, thất vọng, liền biến mất tại chỗ ấy.

(Bài kinh Somà, Chương V. Tương Ưng Tỷ Kheo Ni - Tập I. Thiên Có Kệ

- Tương Ưng Bộ Kinh)

Vị Tỳ-kheo-ni Somà ý nói “Người nữ thì có gì chướng ngại? Trong khi tâm khéo thiền định thì không có gì là không chứng ngại được. Người khai triển trí tuệ, quán chiếu pháp vi diệu thì làm sao phân biệt nam nữ ở đây?”

Thêm những chuyện khác nữa, như Ác ma đi tới gặp và nói với Tỷ-kheo-ni Kisà Gotamì:

“Sao nàng như mất con,

Một mình, mặt ứa lệ.

Hay một mình vào rừng,

Để tìm đàn ông nào?”

Ứa lệ là giống như khi thiền quán nước mắt giàn giụa, cảm xúc như vậy nhưng Ác ma lại hỏi “Sao giống như mất con. Vào rừng để tìm đàn ông nào?”. Chúng ta thấy là Ác ma cứ chọc phá, rù quến đủ kiểu các vị Tỳ-kheo-ni.

Khi đó Tỷ-kheo-ni Kisà Gotamì đáp lại:

“6) Tỷ-kheo-ni Kisà Gotamì biết được: "Đây là Ác ma", liền nói lên bài kệ với Ác ma:

Con hại, đã qua rồi,

Đàn ông đã chấm dứt,

Ta không sầu, không khóc,

Ta sợ gì các Ông?

Khắp nơi hỷ, ái đoạn,

Khối mê ám nát tan,

Chiến thắng quân thần chết,

Vô lậu, ta an trú.

7) Ác ma biết được: " Tỷ-kheo-ni Kisà Gotamì đã biết ta " nên buồn khổ, thất vọng, liền biến mất tại chỗ ấy.

(Bài kinh Gotamì, Chương V. Tương Ưng Tỷ Kheo Ni - Tập I. Thiên Có Kệ

- Tương Ưng Bộ Kinh)

Vị này cũng là Thánh ni A-la-hán. “Con hại, đã qua rồi” là con cái báo hại đã qua, “Đàn ông đã chấm dứt” là không còn tìm kiếm nữa. Nên “Ta không sầu, không khóc. Ta sợ gì các Ông?” ý nói Ác ma muốn làm vị Tỷ-kheo-ni Kisà Gotamì này sợ thì vị này không hề sợ, vì người là Thánh nữ, Thánh chúng của Đức Phật.

“Khắp nơi hỷ, ái đoạn,” là đối với tất cả các pháp, khắp nơi ý nói về sáu căn, sáu trần, sáu thức, đối với ngũ uẩn, tứ đại. Đối với các pháp đó, với sự hỷ và ái, sự yêu thích đó, thích thú, khoan khoái thì đã cắt đứt hết. “Khối mê ám nát tan” là vô minh đã bị phá vỡ nên “Chiến thắng quân thần chết. Vô lậu, ta an trú.”

Hằng ngày chúng ta có chiến như vậy không? Hay là buông gươm buông giáo? Trong mỗi ý niệm, cảm thọ, suy nghĩ của mình? Mình có tu thì mình mới có làm chiến sĩ, dũng sĩ còn nếu không tu thì là liệt sĩ, bại liệt, binh tàn tướng bại, là không bị đánh thua mà lại đi trốn.

III. Bài kinh Hàng Ma

Chúng ta qua bài kinh Hàng ma:

“Một thời Tôn giả Mahamoggallana trú giữa dân chúng Bhagga, tại Sumsumaragira, rừng Bhessakalavana, vườn Lộc Uyển. Lúc bấy giờ, Tôn giả Mahamoggallana đang đi kinh hành ngoài trời. Khi ấy Ác ma đi vào bụng Tôn giả Mahamoggallana, ở trong bao tử. Rồi Tôn giả Mahamoggallana nghĩ như sau: "Nay sao bụng của Ta lại nặng nặng như có gì chồng chất quá đầy?" Rồi Tôn giả Mahamoggallana từ chỗ kinh hành bước xuống, đi vào tự viện, và ngồi trên chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi, Tôn giả Mahamoggallana tự chánh niệm. Tôn giả Mahamoggallana thấy Ác ma, sau khi đi vào trong bụng, đang ở trong bao tử.”

Chúng ta thấy rằng suy nghĩ của chúng ta đang không đúng, mình cứ nghĩ Ngài Mục-kiền-liên là thần thông nhất nhì, không ai dám đụng tới Ngài, có thể động tới Ngài sẽ dùng la hán chưởng? Nhưng không phải vậy, các bậc Thánh rất từ bi, tâm của các Ngài rất hiền lành, không có một tâm nào ác hại ai. Còn nếu đụng vào mình mà mình có chút thần thông thì sao? Vậy nên tâm phàm phu khác với tâm của bậc Thánh, cứ đem tâm phàm để đo lường ý Thánh, chỉ là nghĩ oan cho các Ngài thôi. Nghĩ cho Ngài Mục-kiền-liên như vậy thì ma nào dám tới gần?

Nhưng không ngờ Ngài cũng cảm thấy là bụng đang nặng nặng, cũng khó chịu. Khi có chuyện là các Ngài đi ngồi thiền ngay, không như mình có chuyện đau là rên la. Ví dụ như khi bị sâu bắn, để như vậy thì ngứa gãi, càng gãi thì càng khó chịu mà mình ngồi thiền một lát thì mọi thứ sẽ lắng dịu, các cảm thọ an tịnh, lắng dịu xuống. Vậy nên khi cơ thể có chuyện gì đau là nên cố gắng ngồi thiền, đây cũng là một cách dạy mình.

Khi Ngài đã chánh niệm thì thấy được Ác ma đang ở trong bao tử, chúng ta có thấy được Tây Du Ký học từ đây? Tác giả Ngô Thừa Ân đã tìm hiểu về Phật giáo nhiều nên mới làm nên bộ phim đó.

“Thấy vậy, Tôn giả liền nói với Ác ma:

– Hãy đi ra, Ác ma! Hãy đi ra, Ác ma! Chớ có phiền nhiễu Như Lai và đệ tử Như Lai. Chớ có khiến cho Ngươi bị bất hạnh, đau khổ lâu dài!”

Chúng ta thấy Ngài nói rất từ tốn, nói bằng pháp chứ Ngài không có dùng thần thông. “Chớ có phiền nhiễu Như Lai và đệ tử Như Lai. Chớ có khiến cho Ngươi bị bất hạnh, đau khổ lâu dài!” ý nói không thể đùa giỡn với bậc Thánh, bậc đã đoạn tận các lậu hoặc, nếu ác ý với các Ngài thì sẽ gặp đau khổ lâu dài. Các Ngài không có tâm làm cho người ta khổ, nhưng người làm với tâm ác thì cái khổ sẽ gấp vạn, gấp tỉ lần đối với chúng sanh, phàm phu bình thường.

“Rồi Ác ma suy nghĩ: "Vị Sa-môn này không biết ta, không thấy ta, lại nói như sau: "Hãy đi ra, Ác ma! Hãy đi ra Ác ma! Chớ có phiền nhiễu Như Lai, và đệ tử Như Lai. Chớ có khiến cho Ngươi bị bất hạnh, đau khổ lâu dài". Chính vị Bổn sư cũng chưa biết ta mau như vậy, làm sao vị đệ tử này có thể biết ta được?"

Rồi Tôn giả Mahamoggallana lại nói với Ác ma như sau:

– Này Ác ma, ta biết Ngươi. Đừng có nghĩ rằng: "Vị ấy không biết ta". Ngươi là Ác ma. Này Ác ma, Ngươi nghĩ như sau: "Vị Sa-môn này không biết ta, không thấy ta, lại nói như sau: "Hãy đi ra, Ác ma! hãy đi ra Ác ma! Chớ có phiền nhiễu Như Lai và đệ tử Như Lai. Chớ có khiến cho Ngươi bị bất hạnh, đau khổ lâu dài!" Chính vị Bổn sư cũng không biết ta mau như vậy, làm sao vị đệ tử này có thể biết ta được?"

Rồi Ác ma suy nghĩ như sau: "Vị Sa-môn này biết ta, thấy ta và nói như sau: "Hãy đi ra, Ác ma! Hãy đi ra, Ác ma! Chớ có phiền nhiễu Như Lai và đệ tử Như Lai. Chớ có khiến cho Ngươi bị bất hạnh, đau khổ lâu dài"". Rồi Ác ma từ miệng Tôn giả Mahamoggallana bước ra, và đứng dựa nơi cửa (miệng?). Tôn giả Mahamoggallana thấy Ác ma đứng dựa nơi cửa thấy vậy, bèn nói Ác ma:

– Ác ma, ở đây, ta cũng thấy Ngươi. Ngươi chớ có nghĩ rằng: "Vị ấy không thấy ta". Này Ác ma, nay Ngươi đang đứng dựa nơi cửa (miệng?).

Này Ác ma, thuở xưa, ta là Ác ma tên là Dusi, và chị ta tên là Kali. Ngươi con trai chị ta. Như vậy Ngươi là cháu ta.”

Tức thuở xưa Ngài Mục-kiền-liên từng là ác ma, Ác ma lại là con của chị Ngài nên Ác ma lại là cháu của Ngài Mục-kiền-liên, ý nói Ác ma đừng làm phiền, đừng đùa giỡn với Ngài.

“Này Ác ma, lúc bấy giờ, Thế Tôn Kakusandha, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác ra đời. Thế Tôn Kakusandha, bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác có hai vị đệ tử tên là Vidhura, và Sanjiva, hai bậc tối thượng, hai bậc Hiền giả.

Này Ác ma, đối với các vị đệ tử của Thế Tôn Kakusandha, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác không một ai ở đây có thể bằng Tôn giả Vidhura về thuyết pháp. Này Ác ma, vì lý do này, Tôn giả Vidhura được gọi là Vidhura (Vô song). Còn Tôn giả Sanjiva là vị đi rừng, đi gốc cây, đi các chỗ không người và chứng Diệt thọ tưởng định không khó khăn gì.”

Tức một vị giỏi về thuyết pháp và một vị chứng đắc thọ tưởng định. Giống như hai vị Mục-kiền-liên và Sá-lợi-phất sau này, la hai vị chí thượng thanh văn, đại đệ tử lớn của Đức Phật ở thời quá khứ.

“Này Ác ma, thuở xưa, Tôn giả Sanjiva đang ngồi nhập Diệt thọ tưởng định dưới một gốc cây. Này Ác ma, các người chăn bò, chăn thú, làm ruộng, các lữ hành thấy Tôn giả Sanjiva đang ngồi nhập Diệt thọ tưởng định dưới một gốc cây, thấy vậy liền nói với nhau như sau: "Thật vị diệu thay, này các Tôn giả! Thật hy hữu thay, này các Tôn giả! Vị Sa-môn này chết mà vẫn ngồi. Chúng ta hãy hỏa táng ngài!" Rồi này Ác ma, các người chăn bò, chăn thú, làm ruộng, các lữ hành liền thâu lượm cỏ, củi và phân bò chồng lên thân Tôn giả Sanjiva, đốt lửa và bỏ đi. Này Ác ma, Tôn giả Sanjiva, sau khi đếm ấy đã tàn, liền xuất định, phủi áo, vào buổi sáng đắp y, cầm y bát vào làng khất thực.”

Nhập định là khi vào định này thì hơi thở không còn, toàn thân bất động. Như lúc Thế Tôn nhập định này thì đến năm trăm cỗ xe đi qua, sấm sét đánh chết mấy con trâu, con bò mà Đức Thế Tôn vẫn không nghe gì hết. Vì đó là đại định, không có gì làm các Ngài dao động, đã diệt thọ tưởng là không còn hình bóng, không còn gì trong tâm nữa. Định này là thâm sâu của bậc A-la-hán mới thành tựu được định này, diệt thọ tưởng.

“Này Ác ma, các người chăn bò, chăn thú, làm ruộng, các lữ hành thấy Tôn giả Sanjiva đang đi khất thực, thấy vậy liền nghĩ: "Thật vi diệu thay, này các Tôn giả! Thật hy hữu thay, này các Tôn giả! Vị Sa-môn này chết mà vẫn ngồi, nay được sống lại". Này Ác ma, vì lý do này, Tôn giả Sanjiva được xưng danh là Sanjiva, Sanjiva.

Này Ác ma, rồi Ác ma Dusi nghĩ như sau: "Ta không biết chỗ đến và chỗ đi của các vị Tỷ-kheo có giới hạnh và thiện pháp này. Vậy nay ta hãy nhập vào hàng Bà-la-môn gia chủ và nói như sau: "Hãy đến phỉ báng, mạ lỵ, thống trách và nhiễu hại các vị Tỷ-kheo có giới hạnh và thiện tánh. Do bị phỉ báng, mạ lỵ, thống trách và nhiễu hại bởi các Người, các vị ấy có thể đổi tâm và như vậy, Ác ma Dusi mới có dịp để chi phối họ."

Do Ác ma Dusi nghĩ là “Ta không biết chỗ đến và chỗ đi của các vị Tỷ-kheo có giới hạnh và thiện pháp này” vì tâm của các Ngài thanh tịnh, không đọc được thọ, tưởng, hành của các Ngài. Cũng như Ác ma mất đến bảy năm đi theo Đức Phật mà không tìm được ác, bất thiện pháp thì vị ác ma đời trước của ngài Mục-kiền-liên cũng nghĩ vậy, là không biết được tâm tư của các Ngài đó như thế nào.

Vậy nên Ác ma Dusi nghĩ là “hãy nhập vào hàng Bà-la-môn gia chủ” là mượn thân xác của các bậc Ba-la-môn để đi tới phỉ báng, mạ lỵ, mắng chửi những vị tu có giới hạnh. Khi các vị đó động tâm, thay đổi tâm thì lúc đó mới có dịp để chi phối, mới có thể hại được.

Vậy nên nếu chúng ta có tâm động thì là dịp cho ma làm hại, vậy mỗi ngày tâm của mình động bao nhiêu lần?

“Rồi này Ác ma, Ác ma Dusi nhập vào hàng Bà- la-môn gia chủ và phỉ báng, mạ lỵ, thống trách và nhiễu hại các vị Tỷ-kheo có giới hạnh và thiện tánh như sau: "Những kẻ trọc đầu, Sa-môn giả hiệu, tiện nô, hắc nô, sanh tự gót chân này. Họ nói: "Chúng tôi tu thiền, chúng tôi tu thiền" và với hai vai thụt xuống, với mặt cúi xuống, mê mê dại dại, tu thiền, mê thiền, si thiền, dại thiền.

Ví như con cú đậu trên cành cây, khi đang rình chuột; tu thiền, mê thiền, si thiền, dại thiền; cũng vậy, những kẻ trọc đầu, Sa-môn giả hiệu, tiện nô, hắc nô, sanh tự gót chân này. Chúng nói: "Chúng tôi tu thiền, chúng tôi tu thiền". Và với hai vai thụt xuống, với mặt cúi xuống, mê mê dại dại, tu thiền, mê thiền, si thiền, dại thiền.”

Thế nào là hắc nô? Là những người da đen làm nô lệ.

“Ví như con giả can trên bờ sông, khi đang rình cá; tu thiền, mê thiền, si thiền, dại thiền; cũng vậy, những kẻ trọc đầu... (như trên) ... dại thiền. Ví như con mèo ngồi bên đống rác, khi đang rình chuột; tu thiền, mê thiền, si thiền, dại thiền; cũng vậy, những kẻ trọc đầu... (như trên) ... dại thiền.

Ví như con lừa, gánh nặng được đặt xuống, đang tu thiền, mê thiền, si thiền, dại thiền; cũng vậy, những kẻ trọc đầu, Sa-môn giả hiệu, tiện nô, hắc nô, sanh tự gót chân này. Chúng nói: "Chúng tôi tu thiền, chúng tôi tu thiền", và với hai vai thụt xuống, với mặt cúi xuống, mê mê dại dại, tu thiền, mê thiền, si thiền, dại thiền". Này Ác ma lúc bấy giờ, phần lớn những người ấy sau khi thân hoại mạng chung phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.”

Những người gia chủ, Bà-la-môn dùng những từ phỉ báng, nói như vậy thì những người này phần lớn, sau khi chết thì rơi xuống cõi dữ, làm súc sanh, ngạ quỷ, địa ngục, đọa xứ. Là vì những vị đó đều là những bậc đã thành tựu, là những bậc hiền Thánh của Bốn đôi tám chúng. Nên dù chỉ là mượn thân xác để ủy nhục thôi, còn chính những vị đó thì lại không biết, vậy nên rất đau đớn, vì vô minh nên không biết. Như khi có thế lực nào mượn thân của mình làm mà mình lại không biết, nên khi tu sâu sắc thì mình sẽ thấy được rất nhiều. Những trạng thái trong thân tâm mình dị thường thì mình phải biết.

“Rồi này Ác ma, Thế Tôn Kakusandha, bậc A-lahán, Chánh Đẳng Giác gọi các Tỷ-kheo:

"– Này các Tỷ-kheo, những Bà-la-môn gia chủ bị Ác ma Dusi nhập vào và nói: "Hãy đến phỉ báng, mạ lỵ, thống trách và nhiễu hại các Tỷ-kheo có giới hạnh và thiện tánh. Do bị phỉ báng, mạ lụy, thống trách và nhiễu hại bởi các Người, các vị ấy có thể đổi tâm, và như vậy Ác ma Dusi mới có dịp để chi phối họ".

Này các Tỷ-kheo, hãy đến biến mãn một phương với tâm câu hữu với từ, rồi an trú, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, an trú biến mãn với tâm câu hữu với từ, quảng đại, vô biên, không hận, không sân. Với tâm câu hữu với bi... (như trên) ... với tâm câu hữu với hỷ... (như trên) ..., biến mãn một phương với tâm câu hữu với xả, rồi an trú; cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư.

Như vậy cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, an trú biến mãn với tâm câu hữu với xả, quảng đại, vô biên, không hận, không sân".

Rồi Ác ma, các Tỷ-kheo ấy được Thế Tôn Kakusandha, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác khuyến khích như vậy, khuyến giáo như vậy, đi đến khu rừng, đi đến gốc cây, đi đến các chỗ không vắng, biến mãn một phương với tâm câu hữu với từ rồi an trú; cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba; cũng vậy phương thứ tư.

Như vậy cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, an trú biến mãn với tâm câu hữu với từ, quảng đại, vô biên, không hận, không sân. Với tâm câu hữu với bi... (như trên) ... với tâm câu hữu với hỷ... (như trên) ...biến mãn một phương với tâm câu hữu với xả rồi an trú; cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy, cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, an trú biến mãn với tâm câu hữu với xả, quảng đại, vô biên, không hận, không sân.

Này Ác ma, rồi Mara Dusi suy nghĩ như sau: "Làm như vậy, ta không thể biết chỗ đến hay chỗ đi của các Tỷ-kheo có giới hạnh và thiện tánh. Vậy ta hãy nhập vào các Bà-la-môn gia chủ và nói như sau: "Hãy đến tán thán, tôn trọng, đảnh lễ cúng dường các Tỷ-kheo có giới hạnh và thiện tánh này. Do được tán thán, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường, các vị ấy có thể đổi tâm và như vậy, Ác ma Dusi mới có dịp để chi phối họ".”

Khi nãy Ác ma Dusi mắng chửi, giờ đến tán dương. Chúng ta thấy tâm động là bị Ác ma xâm chiếm.

“Rồi này Ác ma, Ác ma Dusi nhập vào các Bà- la-môn gia chủ và nói: "Hãy đến tán thán, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường các Tỷ-kheo có giới hạnh và thiện tánh. Những vị này được các Ngươi tán thán, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường có thể đổi tâm, và như vậy Ác ma Dusi mới có dịp để chi phối họ", Rồi này Ác ma, những Bà-la-môn gia chủ, bị Ác ma Dusi xâm nhập, tán thán, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường các Tỷ-kheo có giới hạnh và thiện tánh. Này Ác ma, sau một thời gian những vị này mạng chung và phần lớn sau khi thân hoại mạng chung được sanh lên thiện thú, Thiên giới và đời này.”

Chúng ta thấy rằng rất sợ quả báo, chỉ là mượn thân xác thôi nhưng nếu đó là hành động ác thì đọa ngạ quỷ, súc sanh, còn nếu hành động thiện thì sanh Thiên giới, phước báo, phước lành.

“Rồi này Ác ma, Thế Tôn Kakusamdha, bậc Ala-hán, Chánh Đẳng Giác gọi các Tỷ-kheo:

"– Này các Tỷ-kheo, các Bà-la-môn gia chủ bị Ác ma Dusi xâm nhập và nói như sau: "Các Người hãy đến tán thán, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường các Tỷ-kheo có giới hạnh và thiện tánh. Những vị này được các Người tán thán, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường có thể đổi tâm và như vậy Ác ma Dusi mới có dịp để chi phối họ". Này các Tỷ-kheo, các Người hãy sống quán bất tịnh trên thân, (quán) tưởng nhàm chán đối với các món ăn, (quán) tưởng bất khả lạc đối với tất cả thế gian, quán tánh vô thường đối với tất cả hành".”

Đây là những Thánh pháp ấn, gồm có quán Bất tịnh trên thân, quán nhàm chán món ăn, quán không đáng vui với tất cả thế gian, quán tính vô thường đối với tất cả các hành, hành là sự vận hành của ngũ uẩn. Quán bất tịnh trên thân là không sạch sẽ, quán nhàm chán món ăn, quán không đáng vui với tất cả thế gian, thế giới này, không có gì đáng vui, hãy nhàm chán và quán tính vô thường trên năm uẩn.

“Và này Ác ma, những Tỷ-kheo ấy được Thế Tôn Kakusandha khuyến khích như vậy, khuyến giáo như vậy, đi đến khu rừng, đi đến gốc cây, đi đến các chỗ trống vắng, sống quán (tánh) bất tịnh trên thân, (quán) tưởng nhàm chán đối với các món ăn, (quán) tưởng bất khả lạc đối với tất cả thế gian, quán tánh vô thường đối với tất cả hành.

Rồi này Ác ma, Thế Tôn Kakusandha, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, buổi sáng đắp y, mang y bát, với Tôn giả Vidhura là thị giả, đi vào làng để khất thực. Rồi này Ác ma, Ác ma Dusi nhập vào một đứa trẻ, cầm một hòn đá, đánh trên đầu Tôn giả Vidhura khiến bể đầu. Rồi này Ác ma, Tôn giả Vidhura với đầu bị bể và với máu chảy, vẫn đi sau lưng Thế Tôn Kakusandha, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác. Rồi này Ác ma, Thế Tôn Kakusandha bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác nhìn xung quanh với cái nhìn con voi chúa và suy nghĩ như sau: "Thật vậy, Ác ma Dusi không biết sự vừa phải".

Này Ác ma, khi Thế Tôn nhìn xung quanh, thì Ác ma Dusi liền từ chỗ ấy từ trần và sinh vào cõi địa ngục.”

(Kinh Hàng Ma, Trung Bộ Kinh)