Nghiệp & Quả Báo 14
Kinh Nikāya Giảng Giải
Nghiệp & Quả Báo 14
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Cõi tái sanh PAGEREF _Toc154853706 \h 1
II. Trừ khử sân hận PAGEREF _Toc154853707 \h 6
III. Phòng hộ PAGEREF _Toc154853708 \h 9
IV. Thưa hỏi Pháp PAGEREF _Toc154853709 \h 12
I. Cõi tái sanh
Hôm nay chúng ta sẽ qua bài kinh "Người đất phương tây hay người đã chết" nằm trong Tương Ưng Bộ, tập IV. Nội dung trong bài kinh này cho chúng ta biết có thể mong muốn hay quyết định nơi thọ sanh ở đời sau của chúng hữu tình hay không.
"Một thời Thế Tôn trú ở Nàlandà, tại rừng Pàvàrikamba.
Rồi thôn trưởng Asibandhakaputta đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
Ngồi xuống một bên, thôn trưởng Asibandhakaputta bạch Thế Tôn:
-- Bạch Thế Tôn, các vị Bà-la-môn trú đất phương Tây, mang theo bình nước, đeo vòng hoa huệ (sevàla), nhờ nước được thanh tịnh. Những người thờ lửa, khi một người đã chết, đã mệnh chung, họ nhắc bổng và mang vị ấy ra ngoài (uyyàpenti), kêu tên vị ấy lên, và dẫn vị ấy vào Thiên giới" (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương VIII. Tương Ưng Thôn Trưởng, VI. Người Ðất Phương Tây hay Người Ðã Chết)
Ông thôn trưởng này nêu ra hai trường hợp, trường hợp thứ nhất là dùng nước để làm cho con người được thanh tịnh, trong sạch, trường hợp thứ hai là dùng lửa, kêu tên lên để được lên cõi trời. Vị thôn trưởng này đang so sánh, một người dùng nước để làm cho trong sạch, một người dùng lửa để lên cõi trời, còn Thế Tôn là bậc tôn quý nhất đời, là bậc giác ngộ cứu cánh cùng cực thì ngài có thể làm thế nào để chúng sanh trên thế giới này được sanh vào cõi trời hoặc được làm người.
"Còn Thế Tôn, bạch Thế Tôn, là bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Thế Tôn có thể làm như thế nào cho toàn thể thế giới, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên thiện thú, Thiên giới, cõi đời này?
-- Vậy, này Thôn trưởng, ở đây, Ta sẽ hỏi Ông. Nếu Ông kham nhẫn hãy trả lời.
Này Thôn trưởng, Ông nghĩ thế nào? Ở đây, một người sát sanh, lấy của không cho, sống theo tà hạnh trong các dục, nói láo, nói hai lưỡi, nói lời độc ác, nói lời phù phiếm, tham lam, sân hận, theo tà kiến. Rồi một quần chúng đông đảo, tụ tập, tụ họp lại, cầu khẩn, tán dương, chấp tay đi cùng khắp và nói rằng: 'Mong người này, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên thiện thú, Thiên giới, cõi đời này!' Ông nghĩ thế nào, này Thôn trưởng, người ấy do nhân cầu khẩn của đại quần chúng ấy, hay do nhân tán dương, hay do nhân chấp tay đi cùng khắp, sau khi thân hoại mạng chung, người ấy được sanh lên thiện thú, Thiên giới, cõi đời này?
-- Thưa không, bạch Thế Tôn" (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương VIII. Tương Ưng Thôn Trưởng, VI. Người Ðất Phương Tây hay Người Ðã Chết)
Thế Tôn hỏi lại vị thôn trưởng nếu một người phạm vào 10 nghiệp ác: sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, nói láo, nói hai lưỡi, nói lời ác độc, nói lời phù phiếm, tham lam, sân hận, tà kiến thì khi người này sắp chết có rất đông người xung quanh đứng cầu nguyện, lạy lục, ca ngợi, tán dương hay chấp tay đi xung quanh thì có được lên cõi lành, cõi trời hay được làm người không? Vị thôn trưởng trả lời không thể có chuyện đó được.
"-- Ví như, này Thôn trưởng, có người lấy một tảng đá lớn ném xuống một hồ nước sâu. Rồi một quần chúng đông đảo, tụ tập, tụ họp lại, cầu khẩn, tán dương, chấp tay đi cùng khắp và nói rằng: 'Hãy đứng lên, tảng đá lớn! Hãy nổi lên, tảng đá lớn! Hãy trôi vào bờ, này tảng đá lớn!' Ông nghĩ thế nào, này Thôn trưởng, tảng đá lớn ấy do nhân cầu khẩn của đại quần chúng ấy, hay do nhân tán dương, hay do nhân chấp tay đi cùng khắp, có thể trồi lên, hay nổi lên, hay trôi dạt vào bờ không?
-- Thưa không, bạch Thế Tôn" (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương VIII. Tương Ưng Thôn Trưởng, VI. Người Ðất Phương Tây hay Người Ðã Chết)
Đứng xung quanh tảng đá rơi xuống nước để cầu khẩn, chắp tay lạy lục để tảng đá đó trồi lên thì có được không? Vị thôn trưởng trả lời không thể được.
"-- Cũng vậy, này Thôn trưởng, người nào sát sanh, lấy của không cho, sống theo tà hạnh trong các dục, nói láo, nói hai lưỡi, nói lời độc ác, nói lời phù phiếm, tham lam, sân hận, theo tà kiến. Rồi một quần chúng đông đảo, tụ tập, tụ họp lại, cầu khẩn, tán dương, chấp tay đi cùng khắp và nói rằng: 'Mong người này, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên thiện thú, Thiên giới, cõi đời này!' Nhưng người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục" (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương VIII. Tương Ưng Thôn Trưởng, VI. Người Ðất Phương Tây hay Người Ðã Chết)
Cái gì nặng thì sẽ chìm xuống, thập ác là thân 3, miệng 4, ý 3 là những cái xấu ác, bất thiện, tội lỗi, nó nặng nề giống như tảng đá to lớn chìm sâu xuống, không thể nổi lên, không thể trôi vào bờ được cho nên cái gì nặng sẽ chìm xuống. Người đã gây ra thập ác dù cho có đông đảo người tụ tập tán dương, cầu khẩn người này sau khi chết cũng không sanh vào cõi lành, sanh vào cõi người. Người nào phải sanh vào cõi dữ vì ác nghiệp sẽ đưa đến ác quả báo, ác dị thục của nghiệp, đó là khổ đau, là đen tối, là chìm đắm trong địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, trong tam đồ ác đạo.
Bài kinh này là cả một hệ nhân quả minh bạch, tỏ tường, trong sáng, rõ ràng, không phải dễ chấp nhận được mà phải là một người Thánh đệ tử có tâm ngay thẳng, chánh trực, tin chắc nhân quả thì mới chấp nhận tuyệt đối, nếu không học vậy thôi, nếu có hữu sự thì vẫn theo mê tín, theo tà kiến. Mình hiểu mọi chuyện là như vậy nhưng khi đụng chuyện mình vẫn làm theo mê tín, theo mê mờ, si mê, không đúng với chánh pháp. Để một người thật sự chấp nhận nhân quả, thật sự thấy biết về nghiệp là cả một trí tuệ thẩm thấu thâm sâu, đầy đủ trong đời sống, trong thân – miệng – ý của mình, trong sáu căn, ba nghiệp, ngũ uẩn.
"Ông nghĩ thế nào, này Thôn trưởng? Ở đây, có người từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ sống tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ nói lời độc ác, từ bỏ nói lời phù phiếm, không có tham, không có sân hận, có chánh tri kiến. Rồi một quần chúng đông đảo, tụ tập, tụ họp lại, cầu khẩn, tán dương, chấp tay đi cùng khắp và nói rằng: 'Mong người này, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục!' Ông nghĩ thế nào, này Thôn trưởng, người ấy do nhân cầu khẩn của quần chúng đông đảo ấy, hay do nhân tán dương, hay do nhân chấp tay đi cùng khắp, sau khi thân hoại mạng chung, có thể sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục không?
-- Thưa không, bạch Thế Tôn" (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương VIII. Tương Ưng Thôn Trưởng, VI. Người Ðất Phương Tây hay Người Ðã Chết)
Trong kinh dùng từ "từ bỏ" chứ không phải như chúng ta trước nay đều nói "không được", khi ý thức được, nhận thức được kết quả của nó là bất an, đau khổ, tai họa, nguy hiểm, nguy hại trong những nghiệp ác bất thiện đó, mình không muốn phải nhận lấy những kết quả thảm khốc, sầu đau, hiểm nạn như vậy cho nên mình từ bỏ sát sanh.
Không phải có bất kì ai cấm mình không được sát sanh mà là mình nương vào lời dạy của Đức Phật, nương vào Thánh trí huệ của Đức Phật, nương vào sự chứng đạt, chứng ngộ, chứng đắc về nghiệp và quả báo của Đức Phật mà mình thấy biết được những sự giết hại mạng chúng sanh, những cái lấy của không cho, tà hạnh, tà dâm, những sự nói láo, nói lưỡi hai chiều, nói lời hung ác sẽ đem đến khổ sở, bất an, tai nạn, hiểm nguy trong hiện tại và tương lai, mình tin chắc vào điều đó, mình rõ ràng, minh bạch được điều đó cho nên mình từ bỏ, không muốn có những hậu quả như vậy nữa. Một người từ bỏ thập ác, từ bỏ thân 3, miệng 4, ý 3, không tham, không sân hận, có chánh kiến nhưng mọi người chắp tay tán dương, cầu khẩn rằng người này sau khi thân hoại mạng chung xuống địa ngục, rơi vào đọa xứ hay đi vào cõi dữ, tam đồ ác đạo thì có không? Tất nhiên là không.
"-- Ví như, này Thôn trưởng, có người nhận chìm một ghè sữa đông (sappi) hay một ghè dầu vào trong một hồ nước sâu rồi đập bể ghè ấy. Ở đây, ghè ấy trở thành từng miếng vụn, hay từng mảnh vụn và chìm xuống nước. Còn sữa đông hay dầu thời nổi lên trên. Rồi một quần chúng đông đảo, tụ tập, tụ họp lại, cầu khẩn, tán dương, chấp tay đi cùng khắp và nói: 'Hãy chìm xuống, này sữa đông và dầu! Hãy chìm sâu xuống, này sữa đông và dầu. Hãy chìm xuống tận đáy, này sữa đông và dầu!'. Ông nghĩ thế nào, này Thôn trưởng, sữa đông ấy, dầu ấy, có do nhân cầu khẩn của đám quần chúng đông đảo ấy, do nhân tán dương, do nhân chấp tay đi cùng khắp của quần chúng đông đảo ấy nên bị chìm xuống, hay chìm sâu xuống, hay đi xuống tận đáy không?
-- Thưa không, bạch Thế Tôn" (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương VIII. Tương Ưng Thôn Trưởng, VI. Người Ðất Phương Tây hay Người Ðã Chết)
Cái gì nhẹ sẽ nổi lên cho nên dù cho có nhiều người đúng xung quanh chấp tay khấn vái cũng không thể làm cho sữa hay dầu bị chìm xuống.
"-- Cũng vậy, này Thôn trưởng, có người từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ sống tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ nói lời độc ác, từ bỏ nói lời phù phiếm, không có tham, không có sân, theo chánh tri kiến. Rồi một quần chúng đông đảo, tụ tập, tụ họp lại, cầu khẩn, tán dương, chấp tay đi cùng khắp và nói: 'Mong rằng người này, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục!' Nhưng người ấy sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh lên thiện thú, Thiên giới, cõi đời này.
Khi nghe nói vậy, thôn trưởng Asibandhakaputta bạch Thế Tôn:
-- Thật là vi diệu, bạch Thế Tôn! Thật là vi diệu, bạch Thế Tôn! Bạch Thế Tôn, như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình bày, giải thích. Bạch Thế Tôn, con nay xin quy y Phật, Pháp và chúng Tăng. Mong Thế Tôn nhận con làm đệ tử cư sĩ, từ nay trở đi cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng! (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương VIII. Tương Ưng Thôn Trưởng, VI. Người Ðất Phương Tây hay Người Ðã Chết)
Qua đây chúng ta thấy được nội dung bài kinh này, cái gì nặng sẽ chìm, cái gì nhẹ sẽ nổi lên nhưng cái gì nặng, cái gì nhẹ? Chúng ta hiện tại đang nặng hay đang nhẹ? Một người dùng nước để làm sạch, một người dùng lửa để sanh lên thiên giới nhưng nước có làm sạch được thân tâm không? Nước có thể làm sạch được thân nhưng không thể làm sạch được tâm, chỉ có nước pháp mới có thể tẩy rửa được cấu uế nội tâm.
II. Trừ khử sân hận
Cho đến bây giờ dòng sông Hằng bị ô nhiễm đến vậy, thiêu xác người ngoài đó nhưng vẫn có nhiều người ra đó tắm giặt, chúng ta ngày hôm nay cũng có phương pháp sái tịnh, hình ảnh quý thầy dùng cành hoa hoặc cành trúc nhúng nước rồi rưới lên đồ vật, đó là biểu tượng nhằm nhắc nhở mình phải dùng dòng Thánh thủy, Thánh pháp, nước trong sạch của Thánh pháp mới có khả năng tẩy rửa những cấu nhiễm, dơ bẩn, ô uế bên trong tâm chúng ta chứ không phải mình được sái tịnh là hết tội. Hình ảnh đó nhắc nhở mình hãy dùng nước pháp để rửa tâm.
Rằm tháng 10 con lấy hình ảnh của tôn giả Xá-lợi-phất ví dụ trong kinh, ngài dạy trong rất nhiều pháp để giúp mình trừ khử sân hận. Có một cách ngài dạy quán tâm như một hồ nước trong xanh, sạch mát, ngọt ngào rộng lớn hằng trăm cây số, những người nóng bức giữa trưa hè, họ đang mệt lả, đang nhiệt não thì gặp được hồ nước trong xanh, sạch mát, ngọt ngào, xung quanh có sen nở, họ lấy nước rửa tay, rửa mặt rồi uống, sau khi uống thì họ đắm chìm cả thân hình xuống hồ để tắm mát. Ngài mượn hình ảnh đó để quán tâm là một hồ sen vĩ đại, chính cảm thọ trong xanh, sạch mát, ngọt ngào, đẹp đẽ đó sẽ làm cho những cái nhiệt não, bức xúc, ghim gút, sân hận, đấu đá… sẽ bị cảm giác ngọt ngào, mát dịu, thanh lương này tẩy rửa, làm cho lắng dịu, trong sạch, mát mẻ, đó là thánh thủy rửa tâm dơ, là nước pháp dùng để rửa tâm dơ.
Tình thương sống trong ta,
Hiền tâm sống trong ta.
Tình thương có trong ta,
Hiền tâm có trong ta.
Ta có nhiều tình thương
Tình thương cảm thân này
Tình thương cảm thọ này
Thọ này ta hiểu thương.
Chúng ta làm cho phát khởi, sanh khởi, làm cho nó hiện hữu tâm từ, sau đó làm cho nó phát triển lớn mạnh và cuối cùng là làm cho thấm đẫm, thẩm thấu trong từng lỗ chân lông, từng huyết quản, từng hơi thở, thấm vào tim, vào gan, vào tủy của mình. Trong mỗi cách nghe, cách nhìn, cách nói đều là sự hiền thiện, dòng nước mát của cảm thọ ngọt ngào, dễ chịu, nhẹ nhàng, thanh lương đó thường xuyên có mặt trong mình, bất cứ khi nào mình cần là có mặt như nước cam lồ trong tịnh bình, dùng cành trúc nhúng vào rồi rưới ra.
Cam lồ là sương ngọt, nước pháp tức là tâm hiền, tâm từ, tâm dễ chịu, chúng ta cứ quay về cảm thọ là có hết nhưng muốn có cảm thọ đó thì phải có sự tác ý, muốn sự tác ý đó được lớn mạnh thì phải niệm thường xuyên cho nên mình cần phải nhớ từ cảm thọ rồi tác ý, từ sự tác ý đó phải ghi nhớ thường xuyên và liên tục.
"Này chư Hiền, các pháp lấy dục làm căn bản. Tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi. Tất cả pháp lấy xúc làm tập khởi. Tất cả pháp lấy thọ làm chỗ tụ hội. Tất cả pháp lấy định làm thượng thủ. Tất cả pháp lấy niệm làm tăng thượng. Tất cả pháp lấy tuệ làm tối thượng. Tất cả pháp lấy giải thoát làm lõi cây" (Tăng Chi Bộ, Chương VIII. Tám Pháp, IX. Phẩm Niệm, (III). Cội Rễ Của Sự Vật)
Mình hướng vào trong cảm thọ để sanh khởi lên những lời tác ý và phải nhớ tác ý thường xuyên, cảm thọ – tác ý – chánh niệm thì tự động trong người mình lúc nào cũng có nước mát, lúc nào cũng có thanh lương địa, thanh lương thủy, đều có thanh phong minh nguyệt, thân tâm mình lúc nào cũng tươi mát, tươi nhuận, tươi trẻ, tươi đẹp vì mình tắm trong hồ sen vĩ đại, trong xanh, thơm mát, mình không có chết khát, mình không có tiều tụy, không bị nhiệt não như những kẻ vô văn phàm phu bị khốn cùng trong những cảm thọ sân si, sân hận, đấu đá, hơn thua. Mình có nước pháp, mình có thánh thủy, mình có cam lồ, mình có mảnh đất mát mẻ, có khí hậu trong lành, có nội tâm mạnh khỏe, có cảm thọ dạt dào tình thương, mình có cảm thọ ngọt ngào của lòng từ, đó gọi là dùng nước pháp rửa tâm.
Như vậy cũng là nước như lại khác nhau hoàn toàn, nước bình thường tắm một ngày 5-7 lần cho sạch, còn ở đây là dùng nước pháp có khả năng tẩy rửa các cấu nhiễm nội tâm, các cấu uế của nội tâm được tẩy sạch, được làm cho trong sạch, dùng thân tâm thanh tịnh, tươi mát, tươi trẻ của những cảm thọ hiền thiện đó, tu như vậy rất hạnh phúc, dễ chịu, ngọt ngào, dễ thương, an lành. Đối với lửa thì mình không dùng lửa của bếp gas, lửa từ củi, dầu mà dùng lửa của Thánh trí tuệ là nhiệt tâm, tinh cần, chánh niệm, tỉnh giác, là một trái tim rực lửa bằng tất cả tấm lòng cảm nhận được sự vô thường, khổ đau, tai họa của đời sống này, bằng tất cả trái tim cảm nhận được sự thật bốn Thánh trí ngũ uẩn, bốn Thánh trí lậu hoặc, bốn sự thật của cuộc đời này, bốn sự thật của thân tâm này, bốn sự thật của đời sống này, bốn sự thật của khổ đau.
Mình xót xa và xót thương cho chính mình và hữu tình chúng sanh, bằng ngọn lửa trí tuệ đó, bằng ánh sáng trí tuệ đó, bằng đôi mắt trí tuệ đó, bằng một ánh nhìn xuyên thủng, xuyên phá, xuyên thấu qua hết tất cả những đời sống ngũ uẩn tứ đại vô thường này, những đời sống vô minh, khổ đau, tham ái, chấp thủ này. Mình dùng ngọn lửa trí tuệ đó để đốt cháy những rác bẩn, rác rưởi trong tâm mình, không để cho tâm mình trở thành đống rác, thùng rác, trở thành một bãi rác to lớn, đó là sức mạnh trong sự tu học chứ không phải dựa vào sự cầu nguyện, van xin.
III. Phòng hộ
Xin ai cho mình thoát khổ trong khi mình đầy rẫy tham, sân, si? Xin ai cho mình từ bi? Xin ai làm cho mình trong sạch trong khi mình chất chứa đầy uế nhiễm? Cho nên mình không cần nhờ vả thầy này cô kia, mình cứ lo sợ mai này không ai đến hộ niệm cho mình mà mình không biết chính mình mới là người hộ niệm quan trọng nhất nhưng không phải hộ niệm lúc chết mà là hộ niệm ngay trong giây phút này.
Hộ là hộ trì, bảo hộ nhưng hộ trì cái gì, bảo hộ cái gì? Chính là phòng hộ, bảo vệ mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý. Canh chừng, quản lý, hộ trì nói đơn giản là thân – miệng – ý và thực hành chánh niệm cho nên gọi là hộ niệm, đó là sự hộ niệm của Đức Phật chứ không phải như bây giờ đợi đến khi gần chết rồi mới đến niệm Phật cho nghe.
Ngay giây phút này, ngay khoảnh khắc này mình biết giữ gìn con mắt khi nhìn ngó, không liếc ngang liếc dọc, không lườm nguýt, trừng trợn, giữ ánh mắt đoan chánh, trong sáng, hiền lành, muốn giữ được như vậy thì đầu tiên mình phải hộ sau đó là niệm, tức là sự nhớ nghĩ, nhắc nhở bản thân "đây là con mắt thương, con mắt từ bi", đây là sự hộ niệm con mắt. Hộ niệm lỗ tai là khi nghe chuyện gì hoặc khi nghe tiếng gì đó phải thấy rõ được duyên sanh pháp, phải thấy rõ được nhĩ căn, thanh trần, nhĩ thức, nhĩ xúc, thấy rõ được thọ do nhĩ xúc sanh, thấy rõ được thanh tưởng, thanh tư, mình nhớ chánh niệm không để chạy theo những âm thanh hướng ngoại, tuy nghe những âm thanh khó chịu nhưng mình vẫn an tịnh, lắng dịu, ngọt ngào, thanh lương.
"Lành thay, phòng hộ mắt!
Lành thay, phòng hộ tai.
Lành thay, phòng hộ mũi,
Lành thay, phòng hộ lưỡi"
(Kinh Pháp Cú 25 – Phẩm Tỳ-kheo, kệ 360)
"Lành thay, phòng hộ thân!
Lành thay, phòng hộ lời,
Lành thay, phòng hộ ý.
Lành thay, phòng tất cả.
Tỳ-kheo phòng tất cả.
Thoát được mọi khổ đau"
(Kinh Pháp Cú 25 – Phẩm Tỳ-kheo, kệ 361)
Đây là phương pháp hộ niệm của Đức Phật, phòng hộ mũi lưỡi khi nếm, khi ăn, khi nói, khi phát ngôn đều phải cẩn trọng. Khi nói đừng để hậu quả của nó làm cho mình hối hận, hối tiếc, trạo hối, làm cho mình ray rứt vì nói ra mà không có chánh niệm, không từ tâm. Phải tác ý "miệng này phải nói như hoa như mật chứ đừng nói như phân", đó là sự hộ niệm cái miệng, tự mình hộ niệm cho mình, tự mình phòng hộ cho mình, tự mình bảo vệ cho mình, tự mình làm cho mình trong sạch, tự mình làm cho mình thanh tịnh.
Thói quen của chúng sanh hữu tình là dựa dẫm, tánh làm biếng, không chịu trách nhiệm với hành động của chính mình, mê tín, lười biếng, buông lung phóng dật, không đứng bằng đôi chân của mình, không nhìn chánh trực, ngay thẳng vào sự thật của vấn đề nên mãi sống trong sự lừa gạt, lừa đảo, sống trong bóng đêm nhưng không phải đồ vật, con người bên ngoài lừa mình mà chuyện lớn nhất là những cảm giác, nghĩ tưởng bên trong lừa mình.
Chính những suy nghĩ của mình lừa mình, chính những hình bóng trong tâm lừa mình, chính nhận thức sai lầm của mình lừa mình. Đây mới là cú lừa ngoạn mục nhất, cay đắng nhất, đau đớn nhất, đó là chính mình lừa mình, do mình không thành tựu cái thấy đúng của bậc Thánh, cái thấy chính xác về sự thật, về bản chất của thân tâm tứ đại ngũ uẩn này nên mình sống trong lừa dối, lừa gạt, lừa phỉnh.
Tất cả chúng sanh nếu chưa mở được con mắt pháp thì đều sống trong sự lừa gạt, lừa dối, lừa đảo, bên ngoài lừa là chuyện nhỏ, bên trong con người mình lừa mình mới là chuyện lớn nhưng mình có đủ con mắt để nhìn thấy sự lừa phỉnh đó thì mình mới là đệ tử của bậc Thánh, mở được con mắt pháp, mở đạo nhãn, mở tuệ nhãn, mở minh nhãn, minh kiến, pháp nhãn, trí nhãn, gọi là quang sanh, minh sanh, trí sanh, tuệ sanh để thấy được sự lừa đảo thâm sâu, tế nhị, sâu sắc bên trong những suy nghĩ của mình, những lời nói lầm thầm, những hình bóng, cảm giác, nhận thức, từ đó thấy rõ được sự lừa đảo này, thấy được cái thân bất tịnh, vô thường, bệnh hoạn này.
Khi mình có sự phòng hộ, hộ niệm mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý như vậy từng ngày, từng tháng, từng năm cho đến nhiều năm khi đến lúc lâm chung sẽ không cần ai hộ niệm cho mình cả. Người yếu mới cần cây gậy, người đi không nổi mới cần người dìu, còn người đi khỏe không cần gậy, không cần ai đỡ cho nên với bài kinh này Đức Phật cho mình một sức mạnh, một trí tuệ về nhân quả, về nghiệp báo, về chánh kiến, về cái thấy đúng của bậc Thánh, tất rõ ràng, minh bạch, cái gì nặng thì chìm xuống, cái gì nhẹ thì nổi lên, không có gì là mơ hồ, khó hiểu. Mười nghiệp ác là nặng, là tảng đá chìm xuống, từ bỏ mười nghiệp ác đó là nhẹ, là nổi lên, chìm xuống địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, nổi lên cõi người, cõi trời, các nơi cư trú của bậc Thánh.
Vị thôn trưởng nói Đức Phật là bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác thì có thể làm gì để toàn thể thế giới sau khi chết đi được sanh lên cõi lành, cõi người, cõi trời không. Đức Phật không trả lời câu hỏi đó, làm sao có thể làm được, dầu thì nổi, đá thì chìm, chúng ta thấy được nước lửa của Thánh pháp và thấy được sự giáo huấn của Đức Như Lai, một sự giáo hóa rất minh bạch, rõ ràng, cụ thể, không có vấn đề gì khó hiểu ở đây cho nên sau khi nghe xong vị thôn trưởng đã thốt lên "Thật là vi diệu, bạch Thế Tôn! Thật là vi diệu, bạch Thế Tôn!".
Chúng sanh lầm lạc đi trong vô minh, đi trong bóng đêm, đi trong si ám bây giờ được Thế Tôn chỉ đường, đem ánh sáng vào trong bóng tối để mình thấy được những gì trước nay chưa thấy, thôn trưởng muốn trở về nương tựa nơi Đức Thế Tôn, trở về nương tựa vào đạo lộ diệt khổ của ngài đã chứng đắc là pháp và con đường diệt khổ, xin nương tựa vào bốn đôi tám chúng hiền Thánh Tăng, mong bậc tôn kính nhất trên đời nhận con làm đệ tử, từ nay cho đến khi tàn hơi tức là mạng chung con trọn đời quy ngưỡng. Con chọn quay về với Thế Tôn, quay về với sự thật tối thượng mà ngài đã chứng ngộ, quay về với bậc có tâm hiền trí, hiền đức, hiền lương của bậc hiền Thánh, từ nay cho đến mạng chung kết thúc cuộc đời con xin nương tựa vào chánh pháp, chúng Tăng.
Chúng ta cứ lấy chuẩn mực tu tập hằng ngày để kiểm tra xem mình đang nhẹ hay nặng, nổi hay chìm, làm việc này là tội hay phước, tốt hay xấu, suy nghĩ về dục, về sân là nặng hay nhẹ, là nghiệp trắng hay nghiệp đen. Tự chúng ta sẽ cân nhắc, tự chúng ta sẽ tác ý, tự chúng ta sẽ như lý quán sát, tự chúng ta sẽ thấy được nặng hay nhẹ, tự chúng ta sẽ biết mình nổi hay chìm ngay trong hiện tại chứ không cần đợi đến khi mất. Qua bài kinh này con kính chúc cho tất cả chư tôn đức và chư hiền giả từ bỏ những gì nặng nề, sống với những gì nhẹ nhàng, ngọt ngào, an lạc, thanh tịnh và bình yên.
IV. Thưa hỏi Pháp
Phật tử 1: Lần đầu tiên con xin tri ân bài giảng của thượng tọa giảng rất hay và ý nghĩa. Con chưa hiểu ý nghĩa của từ "bốn đôi tám chúng", xin thượng tọa từ bi chỉ dạy cho chúng con ạ. Con xin hết.
Sư Phụ: Bốn đôi tám chúng là bốn Thánh quả và bốn bậc hướng đến bốn Thánh quả đó. Nói đơn giản là sơ quả, nhị quả, tam quả và tứ quả Thánh thì sẽ có bốn bậc hướng đến sơ quả, hướng đến nhị quả, hướng đến tam quả và hướng đến tứ quả, như vậy gọi là bốn đôi tám chúng. Bậc Thánh thứ nhất là Tu-đà-hoàn, thứ hai là Tư-đà-hàm, thứ ba là A-na-hàm và cuối cùng là A-la-hán.
Bậc Thánh thứ nhất là bậc thấy được sự khổ đau của ngũ uẩn một cách tuyệt đối, đầy đủ, không còn ngờ vực gì nữa, tịnh tín bất động đối với Đức Phật. Bậc Thánh thứ hai, thứ ba là dọn những cấu nhiễm của tâm. Bậc Thánh thứ tư là dọn xong hoàn toàn. Còn bốn hướng là đang hướng tới chứ chưa đạt được thì gọi là bốn hướng, bốn quả, bốn đôi tám chúng hiền Thánh, Đức Phật chỉ công nhận bốn đôi tám chúng này là đệ tử của ngài thôi, còn tuy là mình xuất gia, cũng thọ giới hoặc cư sĩ nhưng chưa đạt được những đức tánh mà ngài nói thì cũng chưa chánh thức là đệ tử Phật. Đức Phật định nghĩa đệ tử ngài phải là trực tâm, trực hạnh, diệu hạnh, chân chánh hạnh, ứng lý hạnh.
"Diệu hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Trực hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Ứng lý hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Chơn chánh hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Tức là bốn đôi tám chúng. Chúng đệ tử của Thế Tôn là đáng cung kính, đáng cúng dường, đáng tôn trọng, đáng được chấp tay, là phước điền vô thượng ở đời" (Tương Ưng Bộ, Tập V- Thiên Đại Phẩm, Chương XI. Tương Ưng Dự Lưu (a), I. Phẩm Veludvàra, I. Vua)
Phật tử 1: Con xin tri ân lời giảng dạy của thượng tọa.
Phật tử 2: A-di-đà Phật, con xin tri ân bài giảng của thầy rất ý nghĩa. Cho con xin hỏi nhận thức sai lầm là lừa mình thì làm sao đừng để lừa dối mình được?
Sư Phụ: Cái này có nhiều cấp độ, đầu tiên phải học nhận diện ngũ uẩn để biết được sắc; thọ; tưởng; hành; thức. Sau khi nhận diện ngũ uẩn thấy được tham, sân, si, vô minh, bản ngã trong ngũ uẩn thì mình sẽ biết được mình là người bị lừa và bị lừa như thế nào, còn nếu không nhận diện ngũ uẩn thì không thể biết được, chỉ biết cái lừa thông thường của phàm phu thôi, còn cái lừa trong kinh Nikāya nói là cái lừa rất tế nhị. Ví dụ đến giờ tu thì trong tâm nói lầm thầm "thôi nghỉ đi, bệnh à" thế là mình làm biếng, nằm ngủ tiếp. Những lúc mình nghe về giới hoặc nghe sự góp ý, chỉ trích những sai lầm thì bản ngã trong tâm mình chống đối "tu gì khó quá vậy", những cái này là chướng ngại ngăn bước tiến đạo tăng thượng những pháp Thánh hiền của mình. Mình rất dễ bị những tư tưởng, suy nghĩ, cảm giác đó dẫn dắt cho nên chỉ có người tu có nhận diện ngũ uẩn với một cái tâm rất chân chánh, tha thiết chân thành tu học thì mới làm được.
./.
Nghiệp & Quả Báo 14
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Cõi tái sanh PAGEREF _Toc154853706 \h 1
II. Trừ khử sân hận PAGEREF _Toc154853707 \h 6
III. Phòng hộ PAGEREF _Toc154853708 \h 9
IV. Thưa hỏi Pháp PAGEREF _Toc154853709 \h 12
I. Cõi tái sanh
Hôm nay chúng ta sẽ qua bài kinh "Người đất phương tây hay người đã chết" nằm trong Tương Ưng Bộ, tập IV. Nội dung trong bài kinh này cho chúng ta biết có thể mong muốn hay quyết định nơi thọ sanh ở đời sau của chúng hữu tình hay không.
"Một thời Thế Tôn trú ở Nàlandà, tại rừng Pàvàrikamba.
Rồi thôn trưởng Asibandhakaputta đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
Ngồi xuống một bên, thôn trưởng Asibandhakaputta bạch Thế Tôn:
-- Bạch Thế Tôn, các vị Bà-la-môn trú đất phương Tây, mang theo bình nước, đeo vòng hoa huệ (sevàla), nhờ nước được thanh tịnh. Những người thờ lửa, khi một người đã chết, đã mệnh chung, họ nhắc bổng và mang vị ấy ra ngoài (uyyàpenti), kêu tên vị ấy lên, và dẫn vị ấy vào Thiên giới" (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương VIII. Tương Ưng Thôn Trưởng, VI. Người Ðất Phương Tây hay Người Ðã Chết)
Ông thôn trưởng này nêu ra hai trường hợp, trường hợp thứ nhất là dùng nước để làm cho con người được thanh tịnh, trong sạch, trường hợp thứ hai là dùng lửa, kêu tên lên để được lên cõi trời. Vị thôn trưởng này đang so sánh, một người dùng nước để làm cho trong sạch, một người dùng lửa để lên cõi trời, còn Thế Tôn là bậc tôn quý nhất đời, là bậc giác ngộ cứu cánh cùng cực thì ngài có thể làm thế nào để chúng sanh trên thế giới này được sanh vào cõi trời hoặc được làm người.
"Còn Thế Tôn, bạch Thế Tôn, là bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Thế Tôn có thể làm như thế nào cho toàn thể thế giới, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên thiện thú, Thiên giới, cõi đời này?
-- Vậy, này Thôn trưởng, ở đây, Ta sẽ hỏi Ông. Nếu Ông kham nhẫn hãy trả lời.
Này Thôn trưởng, Ông nghĩ thế nào? Ở đây, một người sát sanh, lấy của không cho, sống theo tà hạnh trong các dục, nói láo, nói hai lưỡi, nói lời độc ác, nói lời phù phiếm, tham lam, sân hận, theo tà kiến. Rồi một quần chúng đông đảo, tụ tập, tụ họp lại, cầu khẩn, tán dương, chấp tay đi cùng khắp và nói rằng: 'Mong người này, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên thiện thú, Thiên giới, cõi đời này!' Ông nghĩ thế nào, này Thôn trưởng, người ấy do nhân cầu khẩn của đại quần chúng ấy, hay do nhân tán dương, hay do nhân chấp tay đi cùng khắp, sau khi thân hoại mạng chung, người ấy được sanh lên thiện thú, Thiên giới, cõi đời này?
-- Thưa không, bạch Thế Tôn" (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương VIII. Tương Ưng Thôn Trưởng, VI. Người Ðất Phương Tây hay Người Ðã Chết)
Thế Tôn hỏi lại vị thôn trưởng nếu một người phạm vào 10 nghiệp ác: sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, nói láo, nói hai lưỡi, nói lời ác độc, nói lời phù phiếm, tham lam, sân hận, tà kiến thì khi người này sắp chết có rất đông người xung quanh đứng cầu nguyện, lạy lục, ca ngợi, tán dương hay chấp tay đi xung quanh thì có được lên cõi lành, cõi trời hay được làm người không? Vị thôn trưởng trả lời không thể có chuyện đó được.
"-- Ví như, này Thôn trưởng, có người lấy một tảng đá lớn ném xuống một hồ nước sâu. Rồi một quần chúng đông đảo, tụ tập, tụ họp lại, cầu khẩn, tán dương, chấp tay đi cùng khắp và nói rằng: 'Hãy đứng lên, tảng đá lớn! Hãy nổi lên, tảng đá lớn! Hãy trôi vào bờ, này tảng đá lớn!' Ông nghĩ thế nào, này Thôn trưởng, tảng đá lớn ấy do nhân cầu khẩn của đại quần chúng ấy, hay do nhân tán dương, hay do nhân chấp tay đi cùng khắp, có thể trồi lên, hay nổi lên, hay trôi dạt vào bờ không?
-- Thưa không, bạch Thế Tôn" (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương VIII. Tương Ưng Thôn Trưởng, VI. Người Ðất Phương Tây hay Người Ðã Chết)
Đứng xung quanh tảng đá rơi xuống nước để cầu khẩn, chắp tay lạy lục để tảng đá đó trồi lên thì có được không? Vị thôn trưởng trả lời không thể được.
"-- Cũng vậy, này Thôn trưởng, người nào sát sanh, lấy của không cho, sống theo tà hạnh trong các dục, nói láo, nói hai lưỡi, nói lời độc ác, nói lời phù phiếm, tham lam, sân hận, theo tà kiến. Rồi một quần chúng đông đảo, tụ tập, tụ họp lại, cầu khẩn, tán dương, chấp tay đi cùng khắp và nói rằng: 'Mong người này, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên thiện thú, Thiên giới, cõi đời này!' Nhưng người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục" (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương VIII. Tương Ưng Thôn Trưởng, VI. Người Ðất Phương Tây hay Người Ðã Chết)
Cái gì nặng thì sẽ chìm xuống, thập ác là thân 3, miệng 4, ý 3 là những cái xấu ác, bất thiện, tội lỗi, nó nặng nề giống như tảng đá to lớn chìm sâu xuống, không thể nổi lên, không thể trôi vào bờ được cho nên cái gì nặng sẽ chìm xuống. Người đã gây ra thập ác dù cho có đông đảo người tụ tập tán dương, cầu khẩn người này sau khi chết cũng không sanh vào cõi lành, sanh vào cõi người. Người nào phải sanh vào cõi dữ vì ác nghiệp sẽ đưa đến ác quả báo, ác dị thục của nghiệp, đó là khổ đau, là đen tối, là chìm đắm trong địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, trong tam đồ ác đạo.
Bài kinh này là cả một hệ nhân quả minh bạch, tỏ tường, trong sáng, rõ ràng, không phải dễ chấp nhận được mà phải là một người Thánh đệ tử có tâm ngay thẳng, chánh trực, tin chắc nhân quả thì mới chấp nhận tuyệt đối, nếu không học vậy thôi, nếu có hữu sự thì vẫn theo mê tín, theo tà kiến. Mình hiểu mọi chuyện là như vậy nhưng khi đụng chuyện mình vẫn làm theo mê tín, theo mê mờ, si mê, không đúng với chánh pháp. Để một người thật sự chấp nhận nhân quả, thật sự thấy biết về nghiệp là cả một trí tuệ thẩm thấu thâm sâu, đầy đủ trong đời sống, trong thân – miệng – ý của mình, trong sáu căn, ba nghiệp, ngũ uẩn.
"Ông nghĩ thế nào, này Thôn trưởng? Ở đây, có người từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ sống tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ nói lời độc ác, từ bỏ nói lời phù phiếm, không có tham, không có sân hận, có chánh tri kiến. Rồi một quần chúng đông đảo, tụ tập, tụ họp lại, cầu khẩn, tán dương, chấp tay đi cùng khắp và nói rằng: 'Mong người này, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục!' Ông nghĩ thế nào, này Thôn trưởng, người ấy do nhân cầu khẩn của quần chúng đông đảo ấy, hay do nhân tán dương, hay do nhân chấp tay đi cùng khắp, sau khi thân hoại mạng chung, có thể sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục không?
-- Thưa không, bạch Thế Tôn" (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương VIII. Tương Ưng Thôn Trưởng, VI. Người Ðất Phương Tây hay Người Ðã Chết)
Trong kinh dùng từ "từ bỏ" chứ không phải như chúng ta trước nay đều nói "không được", khi ý thức được, nhận thức được kết quả của nó là bất an, đau khổ, tai họa, nguy hiểm, nguy hại trong những nghiệp ác bất thiện đó, mình không muốn phải nhận lấy những kết quả thảm khốc, sầu đau, hiểm nạn như vậy cho nên mình từ bỏ sát sanh.
Không phải có bất kì ai cấm mình không được sát sanh mà là mình nương vào lời dạy của Đức Phật, nương vào Thánh trí huệ của Đức Phật, nương vào sự chứng đạt, chứng ngộ, chứng đắc về nghiệp và quả báo của Đức Phật mà mình thấy biết được những sự giết hại mạng chúng sanh, những cái lấy của không cho, tà hạnh, tà dâm, những sự nói láo, nói lưỡi hai chiều, nói lời hung ác sẽ đem đến khổ sở, bất an, tai nạn, hiểm nguy trong hiện tại và tương lai, mình tin chắc vào điều đó, mình rõ ràng, minh bạch được điều đó cho nên mình từ bỏ, không muốn có những hậu quả như vậy nữa. Một người từ bỏ thập ác, từ bỏ thân 3, miệng 4, ý 3, không tham, không sân hận, có chánh kiến nhưng mọi người chắp tay tán dương, cầu khẩn rằng người này sau khi thân hoại mạng chung xuống địa ngục, rơi vào đọa xứ hay đi vào cõi dữ, tam đồ ác đạo thì có không? Tất nhiên là không.
"-- Ví như, này Thôn trưởng, có người nhận chìm một ghè sữa đông (sappi) hay một ghè dầu vào trong một hồ nước sâu rồi đập bể ghè ấy. Ở đây, ghè ấy trở thành từng miếng vụn, hay từng mảnh vụn và chìm xuống nước. Còn sữa đông hay dầu thời nổi lên trên. Rồi một quần chúng đông đảo, tụ tập, tụ họp lại, cầu khẩn, tán dương, chấp tay đi cùng khắp và nói: 'Hãy chìm xuống, này sữa đông và dầu! Hãy chìm sâu xuống, này sữa đông và dầu. Hãy chìm xuống tận đáy, này sữa đông và dầu!'. Ông nghĩ thế nào, này Thôn trưởng, sữa đông ấy, dầu ấy, có do nhân cầu khẩn của đám quần chúng đông đảo ấy, do nhân tán dương, do nhân chấp tay đi cùng khắp của quần chúng đông đảo ấy nên bị chìm xuống, hay chìm sâu xuống, hay đi xuống tận đáy không?
-- Thưa không, bạch Thế Tôn" (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương VIII. Tương Ưng Thôn Trưởng, VI. Người Ðất Phương Tây hay Người Ðã Chết)
Cái gì nhẹ sẽ nổi lên cho nên dù cho có nhiều người đúng xung quanh chấp tay khấn vái cũng không thể làm cho sữa hay dầu bị chìm xuống.
"-- Cũng vậy, này Thôn trưởng, có người từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ sống tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ nói lời độc ác, từ bỏ nói lời phù phiếm, không có tham, không có sân, theo chánh tri kiến. Rồi một quần chúng đông đảo, tụ tập, tụ họp lại, cầu khẩn, tán dương, chấp tay đi cùng khắp và nói: 'Mong rằng người này, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục!' Nhưng người ấy sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh lên thiện thú, Thiên giới, cõi đời này.
Khi nghe nói vậy, thôn trưởng Asibandhakaputta bạch Thế Tôn:
-- Thật là vi diệu, bạch Thế Tôn! Thật là vi diệu, bạch Thế Tôn! Bạch Thế Tôn, như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình bày, giải thích. Bạch Thế Tôn, con nay xin quy y Phật, Pháp và chúng Tăng. Mong Thế Tôn nhận con làm đệ tử cư sĩ, từ nay trở đi cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng! (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương VIII. Tương Ưng Thôn Trưởng, VI. Người Ðất Phương Tây hay Người Ðã Chết)
Qua đây chúng ta thấy được nội dung bài kinh này, cái gì nặng sẽ chìm, cái gì nhẹ sẽ nổi lên nhưng cái gì nặng, cái gì nhẹ? Chúng ta hiện tại đang nặng hay đang nhẹ? Một người dùng nước để làm sạch, một người dùng lửa để sanh lên thiên giới nhưng nước có làm sạch được thân tâm không? Nước có thể làm sạch được thân nhưng không thể làm sạch được tâm, chỉ có nước pháp mới có thể tẩy rửa được cấu uế nội tâm.
II. Trừ khử sân hận
Cho đến bây giờ dòng sông Hằng bị ô nhiễm đến vậy, thiêu xác người ngoài đó nhưng vẫn có nhiều người ra đó tắm giặt, chúng ta ngày hôm nay cũng có phương pháp sái tịnh, hình ảnh quý thầy dùng cành hoa hoặc cành trúc nhúng nước rồi rưới lên đồ vật, đó là biểu tượng nhằm nhắc nhở mình phải dùng dòng Thánh thủy, Thánh pháp, nước trong sạch của Thánh pháp mới có khả năng tẩy rửa những cấu nhiễm, dơ bẩn, ô uế bên trong tâm chúng ta chứ không phải mình được sái tịnh là hết tội. Hình ảnh đó nhắc nhở mình hãy dùng nước pháp để rửa tâm.
Rằm tháng 10 con lấy hình ảnh của tôn giả Xá-lợi-phất ví dụ trong kinh, ngài dạy trong rất nhiều pháp để giúp mình trừ khử sân hận. Có một cách ngài dạy quán tâm như một hồ nước trong xanh, sạch mát, ngọt ngào rộng lớn hằng trăm cây số, những người nóng bức giữa trưa hè, họ đang mệt lả, đang nhiệt não thì gặp được hồ nước trong xanh, sạch mát, ngọt ngào, xung quanh có sen nở, họ lấy nước rửa tay, rửa mặt rồi uống, sau khi uống thì họ đắm chìm cả thân hình xuống hồ để tắm mát. Ngài mượn hình ảnh đó để quán tâm là một hồ sen vĩ đại, chính cảm thọ trong xanh, sạch mát, ngọt ngào, đẹp đẽ đó sẽ làm cho những cái nhiệt não, bức xúc, ghim gút, sân hận, đấu đá… sẽ bị cảm giác ngọt ngào, mát dịu, thanh lương này tẩy rửa, làm cho lắng dịu, trong sạch, mát mẻ, đó là thánh thủy rửa tâm dơ, là nước pháp dùng để rửa tâm dơ.
Tình thương sống trong ta,
Hiền tâm sống trong ta.
Tình thương có trong ta,
Hiền tâm có trong ta.
Ta có nhiều tình thương
Tình thương cảm thân này
Tình thương cảm thọ này
Thọ này ta hiểu thương.
Chúng ta làm cho phát khởi, sanh khởi, làm cho nó hiện hữu tâm từ, sau đó làm cho nó phát triển lớn mạnh và cuối cùng là làm cho thấm đẫm, thẩm thấu trong từng lỗ chân lông, từng huyết quản, từng hơi thở, thấm vào tim, vào gan, vào tủy của mình. Trong mỗi cách nghe, cách nhìn, cách nói đều là sự hiền thiện, dòng nước mát của cảm thọ ngọt ngào, dễ chịu, nhẹ nhàng, thanh lương đó thường xuyên có mặt trong mình, bất cứ khi nào mình cần là có mặt như nước cam lồ trong tịnh bình, dùng cành trúc nhúng vào rồi rưới ra.
Cam lồ là sương ngọt, nước pháp tức là tâm hiền, tâm từ, tâm dễ chịu, chúng ta cứ quay về cảm thọ là có hết nhưng muốn có cảm thọ đó thì phải có sự tác ý, muốn sự tác ý đó được lớn mạnh thì phải niệm thường xuyên cho nên mình cần phải nhớ từ cảm thọ rồi tác ý, từ sự tác ý đó phải ghi nhớ thường xuyên và liên tục.
"Này chư Hiền, các pháp lấy dục làm căn bản. Tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi. Tất cả pháp lấy xúc làm tập khởi. Tất cả pháp lấy thọ làm chỗ tụ hội. Tất cả pháp lấy định làm thượng thủ. Tất cả pháp lấy niệm làm tăng thượng. Tất cả pháp lấy tuệ làm tối thượng. Tất cả pháp lấy giải thoát làm lõi cây" (Tăng Chi Bộ, Chương VIII. Tám Pháp, IX. Phẩm Niệm, (III). Cội Rễ Của Sự Vật)
Mình hướng vào trong cảm thọ để sanh khởi lên những lời tác ý và phải nhớ tác ý thường xuyên, cảm thọ – tác ý – chánh niệm thì tự động trong người mình lúc nào cũng có nước mát, lúc nào cũng có thanh lương địa, thanh lương thủy, đều có thanh phong minh nguyệt, thân tâm mình lúc nào cũng tươi mát, tươi nhuận, tươi trẻ, tươi đẹp vì mình tắm trong hồ sen vĩ đại, trong xanh, thơm mát, mình không có chết khát, mình không có tiều tụy, không bị nhiệt não như những kẻ vô văn phàm phu bị khốn cùng trong những cảm thọ sân si, sân hận, đấu đá, hơn thua. Mình có nước pháp, mình có thánh thủy, mình có cam lồ, mình có mảnh đất mát mẻ, có khí hậu trong lành, có nội tâm mạnh khỏe, có cảm thọ dạt dào tình thương, mình có cảm thọ ngọt ngào của lòng từ, đó gọi là dùng nước pháp rửa tâm.
Như vậy cũng là nước như lại khác nhau hoàn toàn, nước bình thường tắm một ngày 5-7 lần cho sạch, còn ở đây là dùng nước pháp có khả năng tẩy rửa các cấu nhiễm nội tâm, các cấu uế của nội tâm được tẩy sạch, được làm cho trong sạch, dùng thân tâm thanh tịnh, tươi mát, tươi trẻ của những cảm thọ hiền thiện đó, tu như vậy rất hạnh phúc, dễ chịu, ngọt ngào, dễ thương, an lành. Đối với lửa thì mình không dùng lửa của bếp gas, lửa từ củi, dầu mà dùng lửa của Thánh trí tuệ là nhiệt tâm, tinh cần, chánh niệm, tỉnh giác, là một trái tim rực lửa bằng tất cả tấm lòng cảm nhận được sự vô thường, khổ đau, tai họa của đời sống này, bằng tất cả trái tim cảm nhận được sự thật bốn Thánh trí ngũ uẩn, bốn Thánh trí lậu hoặc, bốn sự thật của cuộc đời này, bốn sự thật của thân tâm này, bốn sự thật của đời sống này, bốn sự thật của khổ đau.
Mình xót xa và xót thương cho chính mình và hữu tình chúng sanh, bằng ngọn lửa trí tuệ đó, bằng ánh sáng trí tuệ đó, bằng đôi mắt trí tuệ đó, bằng một ánh nhìn xuyên thủng, xuyên phá, xuyên thấu qua hết tất cả những đời sống ngũ uẩn tứ đại vô thường này, những đời sống vô minh, khổ đau, tham ái, chấp thủ này. Mình dùng ngọn lửa trí tuệ đó để đốt cháy những rác bẩn, rác rưởi trong tâm mình, không để cho tâm mình trở thành đống rác, thùng rác, trở thành một bãi rác to lớn, đó là sức mạnh trong sự tu học chứ không phải dựa vào sự cầu nguyện, van xin.
III. Phòng hộ
Xin ai cho mình thoát khổ trong khi mình đầy rẫy tham, sân, si? Xin ai cho mình từ bi? Xin ai làm cho mình trong sạch trong khi mình chất chứa đầy uế nhiễm? Cho nên mình không cần nhờ vả thầy này cô kia, mình cứ lo sợ mai này không ai đến hộ niệm cho mình mà mình không biết chính mình mới là người hộ niệm quan trọng nhất nhưng không phải hộ niệm lúc chết mà là hộ niệm ngay trong giây phút này.
Hộ là hộ trì, bảo hộ nhưng hộ trì cái gì, bảo hộ cái gì? Chính là phòng hộ, bảo vệ mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý. Canh chừng, quản lý, hộ trì nói đơn giản là thân – miệng – ý và thực hành chánh niệm cho nên gọi là hộ niệm, đó là sự hộ niệm của Đức Phật chứ không phải như bây giờ đợi đến khi gần chết rồi mới đến niệm Phật cho nghe.
Ngay giây phút này, ngay khoảnh khắc này mình biết giữ gìn con mắt khi nhìn ngó, không liếc ngang liếc dọc, không lườm nguýt, trừng trợn, giữ ánh mắt đoan chánh, trong sáng, hiền lành, muốn giữ được như vậy thì đầu tiên mình phải hộ sau đó là niệm, tức là sự nhớ nghĩ, nhắc nhở bản thân "đây là con mắt thương, con mắt từ bi", đây là sự hộ niệm con mắt. Hộ niệm lỗ tai là khi nghe chuyện gì hoặc khi nghe tiếng gì đó phải thấy rõ được duyên sanh pháp, phải thấy rõ được nhĩ căn, thanh trần, nhĩ thức, nhĩ xúc, thấy rõ được thọ do nhĩ xúc sanh, thấy rõ được thanh tưởng, thanh tư, mình nhớ chánh niệm không để chạy theo những âm thanh hướng ngoại, tuy nghe những âm thanh khó chịu nhưng mình vẫn an tịnh, lắng dịu, ngọt ngào, thanh lương.
"Lành thay, phòng hộ mắt!
Lành thay, phòng hộ tai.
Lành thay, phòng hộ mũi,
Lành thay, phòng hộ lưỡi"
(Kinh Pháp Cú 25 – Phẩm Tỳ-kheo, kệ 360)
"Lành thay, phòng hộ thân!
Lành thay, phòng hộ lời,
Lành thay, phòng hộ ý.
Lành thay, phòng tất cả.
Tỳ-kheo phòng tất cả.
Thoát được mọi khổ đau"
(Kinh Pháp Cú 25 – Phẩm Tỳ-kheo, kệ 361)
Đây là phương pháp hộ niệm của Đức Phật, phòng hộ mũi lưỡi khi nếm, khi ăn, khi nói, khi phát ngôn đều phải cẩn trọng. Khi nói đừng để hậu quả của nó làm cho mình hối hận, hối tiếc, trạo hối, làm cho mình ray rứt vì nói ra mà không có chánh niệm, không từ tâm. Phải tác ý "miệng này phải nói như hoa như mật chứ đừng nói như phân", đó là sự hộ niệm cái miệng, tự mình hộ niệm cho mình, tự mình phòng hộ cho mình, tự mình bảo vệ cho mình, tự mình làm cho mình trong sạch, tự mình làm cho mình thanh tịnh.
Thói quen của chúng sanh hữu tình là dựa dẫm, tánh làm biếng, không chịu trách nhiệm với hành động của chính mình, mê tín, lười biếng, buông lung phóng dật, không đứng bằng đôi chân của mình, không nhìn chánh trực, ngay thẳng vào sự thật của vấn đề nên mãi sống trong sự lừa gạt, lừa đảo, sống trong bóng đêm nhưng không phải đồ vật, con người bên ngoài lừa mình mà chuyện lớn nhất là những cảm giác, nghĩ tưởng bên trong lừa mình.
Chính những suy nghĩ của mình lừa mình, chính những hình bóng trong tâm lừa mình, chính nhận thức sai lầm của mình lừa mình. Đây mới là cú lừa ngoạn mục nhất, cay đắng nhất, đau đớn nhất, đó là chính mình lừa mình, do mình không thành tựu cái thấy đúng của bậc Thánh, cái thấy chính xác về sự thật, về bản chất của thân tâm tứ đại ngũ uẩn này nên mình sống trong lừa dối, lừa gạt, lừa phỉnh.
Tất cả chúng sanh nếu chưa mở được con mắt pháp thì đều sống trong sự lừa gạt, lừa dối, lừa đảo, bên ngoài lừa là chuyện nhỏ, bên trong con người mình lừa mình mới là chuyện lớn nhưng mình có đủ con mắt để nhìn thấy sự lừa phỉnh đó thì mình mới là đệ tử của bậc Thánh, mở được con mắt pháp, mở đạo nhãn, mở tuệ nhãn, mở minh nhãn, minh kiến, pháp nhãn, trí nhãn, gọi là quang sanh, minh sanh, trí sanh, tuệ sanh để thấy được sự lừa đảo thâm sâu, tế nhị, sâu sắc bên trong những suy nghĩ của mình, những lời nói lầm thầm, những hình bóng, cảm giác, nhận thức, từ đó thấy rõ được sự lừa đảo này, thấy được cái thân bất tịnh, vô thường, bệnh hoạn này.
Khi mình có sự phòng hộ, hộ niệm mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý như vậy từng ngày, từng tháng, từng năm cho đến nhiều năm khi đến lúc lâm chung sẽ không cần ai hộ niệm cho mình cả. Người yếu mới cần cây gậy, người đi không nổi mới cần người dìu, còn người đi khỏe không cần gậy, không cần ai đỡ cho nên với bài kinh này Đức Phật cho mình một sức mạnh, một trí tuệ về nhân quả, về nghiệp báo, về chánh kiến, về cái thấy đúng của bậc Thánh, tất rõ ràng, minh bạch, cái gì nặng thì chìm xuống, cái gì nhẹ thì nổi lên, không có gì là mơ hồ, khó hiểu. Mười nghiệp ác là nặng, là tảng đá chìm xuống, từ bỏ mười nghiệp ác đó là nhẹ, là nổi lên, chìm xuống địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, nổi lên cõi người, cõi trời, các nơi cư trú của bậc Thánh.
Vị thôn trưởng nói Đức Phật là bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác thì có thể làm gì để toàn thể thế giới sau khi chết đi được sanh lên cõi lành, cõi người, cõi trời không. Đức Phật không trả lời câu hỏi đó, làm sao có thể làm được, dầu thì nổi, đá thì chìm, chúng ta thấy được nước lửa của Thánh pháp và thấy được sự giáo huấn của Đức Như Lai, một sự giáo hóa rất minh bạch, rõ ràng, cụ thể, không có vấn đề gì khó hiểu ở đây cho nên sau khi nghe xong vị thôn trưởng đã thốt lên "Thật là vi diệu, bạch Thế Tôn! Thật là vi diệu, bạch Thế Tôn!".
Chúng sanh lầm lạc đi trong vô minh, đi trong bóng đêm, đi trong si ám bây giờ được Thế Tôn chỉ đường, đem ánh sáng vào trong bóng tối để mình thấy được những gì trước nay chưa thấy, thôn trưởng muốn trở về nương tựa nơi Đức Thế Tôn, trở về nương tựa vào đạo lộ diệt khổ của ngài đã chứng đắc là pháp và con đường diệt khổ, xin nương tựa vào bốn đôi tám chúng hiền Thánh Tăng, mong bậc tôn kính nhất trên đời nhận con làm đệ tử, từ nay cho đến khi tàn hơi tức là mạng chung con trọn đời quy ngưỡng. Con chọn quay về với Thế Tôn, quay về với sự thật tối thượng mà ngài đã chứng ngộ, quay về với bậc có tâm hiền trí, hiền đức, hiền lương của bậc hiền Thánh, từ nay cho đến mạng chung kết thúc cuộc đời con xin nương tựa vào chánh pháp, chúng Tăng.
Chúng ta cứ lấy chuẩn mực tu tập hằng ngày để kiểm tra xem mình đang nhẹ hay nặng, nổi hay chìm, làm việc này là tội hay phước, tốt hay xấu, suy nghĩ về dục, về sân là nặng hay nhẹ, là nghiệp trắng hay nghiệp đen. Tự chúng ta sẽ cân nhắc, tự chúng ta sẽ tác ý, tự chúng ta sẽ như lý quán sát, tự chúng ta sẽ thấy được nặng hay nhẹ, tự chúng ta sẽ biết mình nổi hay chìm ngay trong hiện tại chứ không cần đợi đến khi mất. Qua bài kinh này con kính chúc cho tất cả chư tôn đức và chư hiền giả từ bỏ những gì nặng nề, sống với những gì nhẹ nhàng, ngọt ngào, an lạc, thanh tịnh và bình yên.
IV. Thưa hỏi Pháp
Phật tử 1: Lần đầu tiên con xin tri ân bài giảng của thượng tọa giảng rất hay và ý nghĩa. Con chưa hiểu ý nghĩa của từ "bốn đôi tám chúng", xin thượng tọa từ bi chỉ dạy cho chúng con ạ. Con xin hết.
Sư Phụ: Bốn đôi tám chúng là bốn Thánh quả và bốn bậc hướng đến bốn Thánh quả đó. Nói đơn giản là sơ quả, nhị quả, tam quả và tứ quả Thánh thì sẽ có bốn bậc hướng đến sơ quả, hướng đến nhị quả, hướng đến tam quả và hướng đến tứ quả, như vậy gọi là bốn đôi tám chúng. Bậc Thánh thứ nhất là Tu-đà-hoàn, thứ hai là Tư-đà-hàm, thứ ba là A-na-hàm và cuối cùng là A-la-hán.
Bậc Thánh thứ nhất là bậc thấy được sự khổ đau của ngũ uẩn một cách tuyệt đối, đầy đủ, không còn ngờ vực gì nữa, tịnh tín bất động đối với Đức Phật. Bậc Thánh thứ hai, thứ ba là dọn những cấu nhiễm của tâm. Bậc Thánh thứ tư là dọn xong hoàn toàn. Còn bốn hướng là đang hướng tới chứ chưa đạt được thì gọi là bốn hướng, bốn quả, bốn đôi tám chúng hiền Thánh, Đức Phật chỉ công nhận bốn đôi tám chúng này là đệ tử của ngài thôi, còn tuy là mình xuất gia, cũng thọ giới hoặc cư sĩ nhưng chưa đạt được những đức tánh mà ngài nói thì cũng chưa chánh thức là đệ tử Phật. Đức Phật định nghĩa đệ tử ngài phải là trực tâm, trực hạnh, diệu hạnh, chân chánh hạnh, ứng lý hạnh.
"Diệu hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Trực hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Ứng lý hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Chơn chánh hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Tức là bốn đôi tám chúng. Chúng đệ tử của Thế Tôn là đáng cung kính, đáng cúng dường, đáng tôn trọng, đáng được chấp tay, là phước điền vô thượng ở đời" (Tương Ưng Bộ, Tập V- Thiên Đại Phẩm, Chương XI. Tương Ưng Dự Lưu (a), I. Phẩm Veludvàra, I. Vua)
Phật tử 1: Con xin tri ân lời giảng dạy của thượng tọa.
Phật tử 2: A-di-đà Phật, con xin tri ân bài giảng của thầy rất ý nghĩa. Cho con xin hỏi nhận thức sai lầm là lừa mình thì làm sao đừng để lừa dối mình được?
Sư Phụ: Cái này có nhiều cấp độ, đầu tiên phải học nhận diện ngũ uẩn để biết được sắc; thọ; tưởng; hành; thức. Sau khi nhận diện ngũ uẩn thấy được tham, sân, si, vô minh, bản ngã trong ngũ uẩn thì mình sẽ biết được mình là người bị lừa và bị lừa như thế nào, còn nếu không nhận diện ngũ uẩn thì không thể biết được, chỉ biết cái lừa thông thường của phàm phu thôi, còn cái lừa trong kinh Nikāya nói là cái lừa rất tế nhị. Ví dụ đến giờ tu thì trong tâm nói lầm thầm "thôi nghỉ đi, bệnh à" thế là mình làm biếng, nằm ngủ tiếp. Những lúc mình nghe về giới hoặc nghe sự góp ý, chỉ trích những sai lầm thì bản ngã trong tâm mình chống đối "tu gì khó quá vậy", những cái này là chướng ngại ngăn bước tiến đạo tăng thượng những pháp Thánh hiền của mình. Mình rất dễ bị những tư tưởng, suy nghĩ, cảm giác đó dẫn dắt cho nên chỉ có người tu có nhận diện ngũ uẩn với một cái tâm rất chân chánh, tha thiết chân thành tu học thì mới làm được.
./.