Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Soi Gương Rửa Mặt - Cháy Khăn - Cháy Đầu - Kinh Tổn Giảm 4

2026-03-03 00:54:11
Soi Gương Rửa Mặt

Cháy Khăn – Cháy Đầu

Thích Minh Thành

Ngày 25 tháng 04 năm 2022

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Pháp hỷ PAGEREF _Toc103610540 \h 1

II. Đột phá, tiến bộ trong tu học PAGEREF _Toc103610541 \h 6

III. Cháy khăn – cháy đầu PAGEREF _Toc103610542 \h 9

I. Pháp hỷ

Thứ nhất là “Có phải ta sống nhiều với không tham, không biết trong ta có pháp này hay không có?”

Thứ hai “Có phải ta sống nhiều với tâm không sân? Không biết trong ta có pháp này hay không có?”

Thứ ba là “Có phải ta sống nhiều với hôn trầm thụy miên đã từ bỏ? Không biết trong ta có pháp này hay không có?”

Thứ tư là “Có phải ta sống nhiều với không trạo cử? Không biết trong ta có pháp này hay không có?”

Thứ năm là “Có phải ta sống nhiều với nghi ngờ đã được vượt qua? Không biết trong ta có pháp này hay không có?”

Đây là năm triền cái: tham, sân, hôn trầm, trạo cử, hoài nghi. Đầu tiên chúng ta kiểm tra lại trong năm triền cái đó mình có nhiều hay không? Có hay không? Nếu có thì mình phải nhiếp phục, chế ngự, đoạn tận. Chắc chắn là chúng ta có và có nhiều, thậm chí là không biết, mình đang ở trong năm triền cái mà mình không biết vì vô minh nặng và phóng dật nặng mà mình không quán ngũ uẩn, không nhận diện thân tân nên lúc mình trạo cử, buông lung, thả lỏng các căn thì lúc đó mình cũng không biết là mình đang thả lỏng. Nếu mình biết thì mình có chánh niệm tỉnh giác và mình quay trở lại thức tỉnh, chế ngự, còn nhiều lúc mình không biết thì đã nhập cuộc với nó làm một.

Khi chúng ta nổi giận lên thì có biết là mình đang giận không? Có khi biết nhưng có khi quên mình và đi theo cảm giác giận đó luôn, hoặc có khi biết nhưng không đủ sức để chế ngự, nhiếp phục, giải phá cảm thọ sân đó. Chính vì vậy chúng ta phải tu tập tâm từ cho sâu sắc, vững chắc, kiên cố, rộng lớn, vô lượng vô biên.

Đó là năm triền cái, tiếp theo là:

“Có phải ta sống nhiều với không phẫn nộ? Không biết trong ta có pháp này hay không có?”

Từ giận là nhẹ nhưng phẫn nộ là mạnh, thô, tâm sân thô tháo. Giận có khi để trong bụng hay nói ra vài lời, hoặc biểu hiện nhiều hay ít, hoặc không biểu hiện. Còn phẫn nộ là bung ra ngoài cảm thọ của mình, giống như nồi nước sôi trào ra. Chúng ta lâu lâu vẫn còn không? Nếu mình còn phẫn nộ thì sự tu của mình còn yếu, đó là thô trọng, nếu là tâm từ chưa được tu tập thì phẫn nộ còn nhiều.

Trên là pháp thứ sáu, pháp thứ bảy là:

“Có phải ta sống nhiều với tâm không nhiễm ô? Không biết trong ta có pháp này hay không có?”

Là xem tâm của mình có nhiễm ô hay không nhiễm ô? Chúng ta về cần nghe lại trên trang Linh Quy Pháp Ấn, ghi chép lại, tiêu đề là Soi gương rửa mặt, kinh Tổn giảm, hôm nay là buổi thứ tư.

Pháp thứ tám là:

“Có phải ta sống nhiều với tâm không nhiễm ô? Không biết trong ta có pháp này hay không có?”

Nội tâm pháp hỷ là trong lòng mình có một sự vui, phấn khởi, hoan hỷ, hạnh phúc, thích thú, hân hoan, sung sướng đối với Thánh pháp, đối với sự thật mà Đức Phật đã truyền trao cho mình, mình cảm thấy thích thú, hân hoan, phấn khởi, hạnh phúc, sung sướng, hoan hỷ. Điều này rất quan trọng, người tu nếu không có điều này thì sẽ chạy đi tìm những cái vui của phàm tục. Khi mình có được pháp hỷ thì dần dần mình mới lìa được dục lạc, nếu mình không có niềm vui, hạnh phúc trong pháp thì mình sẽ tìm niềm vui ở ngoài đời, là những niềm vui tầm thường, thấp hèn, hạ liệt, phàm phu ở trong năm dục.

Ví dụ mình muốn tìm niềm vui trong nấu các món ăn ngon, bày ra cái này cái kia, tiệc, trai tăng, đám dỗ, sinh nhật thì rất thích thú, những cái vui đó là vui của phàm tục, hạ liệt, thấp hèn, của phàm phu, không phải là cái vui của bậc thánh. Mình tu, xuất gia là mình tìm cái vui của viễn ly lạc, siêu thế lạc, chánh giác lạc, pháp hỷ, thiền việt. Ý nói mình vui khi nghe được giáo pháp chân chánh, sâu sắc, chân lý, thẩm thấu về sự thật của thân tâm, mình hân hoan, phấn khởi, hạnh phúc, sung sướng, thích thú, hỷ lạc suốt ngày, suốt tuần, suốt tháng, thậm chí là suốt năm.

Đó là nội tâm pháp hỷ. Chúng ta có khi nào vui suốt cả ngày khi nghe được một bài pháp nào đó hay đọc được một bài kinh nào đó mà thấm thía nghĩa lý trong đó? Và mình sung sướng, hạnh phúc, hân hoan, thích thú, hoan hỷ suốt một ngày không? Đó là chúng ta chưa có nội tâm pháp hỷ, chỉ vui được một chút lúc nghe, buông ra là đã mất, chưa có được nội tâm pháp hỷ - niềm vui của Chánh pháp trong tâm của mình.

Khi đó, lúc nào mình nghĩ về pháp thì cũng thích thú, hân hoan, phấn khởi, sung sướng, hạnh phúc, thậm chí là toàn thân chấn động, rung cảm, chấn cảm, thậm chí nước mắt trào ra. Đó là nội tâm pháp hỷ.

Trong đạo tràng Nikāya của Minh Thành thường xuyên, thậm chí mỗi ngày trình pháp là mỗi ngày khóc giàn giụa đầy mặt. Có nhiều người không biết hỏi “Tại sao tu mà cứ khóc lóc?” Không phải vậy, nội tâm pháp hỷ là hạnh phúc, những giọt nước mắt đó không phải là đau khổ, sầu bi mà đó là những giọt nước mắt hạnh phúc, cảm động, chấn động, xúc động mạnh, rung cảm, kinh chấn trong cảm thọ.

Vì họ thấy được những điều chưa thấy, nghe được những điều chưa nghe, hiểu được những điều chưa hiểu, thấu suốt được những điều chưa bao giờ thấu suốt được, lúc đó tâm chấn động từng lỗ chân lông dựng đứng, toàn thân của hành giả đó rung chấn, chấn cảm hết, nước mắt đầm đìa, hạnh phúc không thể nào diễn tả nổi. Đây là điều thường xuyên trong đạo tràng Nikāya.

Chúng ta lên xem bảy buổi Nhật ký tu học và trình pháp Nikāya thì chúng ta sẽ thấy bài nào cũng nước mắt đầm đìa trong hạnh phúc, sung sướng, chấn động, chấn cảm, kinh chấn. Giống như bài kinh Thủ chuyển, tức là sự chấp thủ, bị rung chuyển.

Khi nắm chặt vào năm thủ uẩn, tâm mê, tâm chấp ngã, tâm ngu, tâm si, tâm bản ngã bị chấn động, bị Thánh trí huệ, lời pháp của Đức Phật rung chấn, lung lay, chấn động nên có những dòng lệ tuôn trào ra, xúc cảm trước sự thật, trước Thánh pháp, trước trí tuệ, trước những sự chứng ngộ thâm sâu của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác tuyên thuyết. Đó là nội tâm pháp hỷ.

Mỗi khi mình nhớ về vô thường, về cái khổ, sự từ bi, tâm hỷ, tâm xả, thì khi mình tác ý là trong người hân hoan, dâng trào cảm xúc lên hết, đó là nội tâm pháp hỷ. Chúng ta đã nếm được như vậy chút nào không? Có hay không? Ít hay nhiều? Phải nhiều lên vì ít không đủ. Vì những người có nội tâm pháp hỷ thì mỗi lần nghe pháp mình nhìn gương mặt, cử chỉ thôi là biết được người đó có nội tâm pháp hỷ, họ giống như đói mà được ăn, khát mà được uống. Giống như giữa trời nắng hạ mà họ được nấp vào trong một tán cây cổ thụ mát mẻ, giống như một người bị nhiệt não, nóng bức mà được tắm trong hồ trong, xanh, sạch, mát, được ngâm mình trong dòng nước thanh lương của diệu pháp.

Trong khi nghe pháp họ thích thú như vậy, sung sướng như vậy, phấn khởi, hân hoan như vậy. Không phải như khi nghe pháp, bên trên này giảng rất nhiều nhưng bên dưới không tiếp thu được, nhìn thấy thảm, tội nghiệp, đó là chưa có được nội tâm pháp hỷ. Người có được nội tâm pháp hỷ là có khi ngồi cùng chia sẻ pháp, bàn luận pháp làm luôn một lúc mười tiếng đồng hồ, bỏ ăn, bỏ uống nhưng vẫn khỏe, hạnh phúc, sung sướng suốt thời gian đó.

Lúc Minh Thành đi qua Hồng Kông, gặp gỡ trụ trì chùa Diệu Pháp, hòa thượng ngồi nói chuyện với Minh Thành mười tiếng, khách vào hòa thượng cũng không tiếp mà chỉ ngồi đó nói pháp.

Người được thiền cứ ngồi thiền hoài như vậy từ sáng đến trưa, đến chiều, ngồi thấy vui sướng, hạnh phúc trong đó gọi là thiền duyệt. Kia là pháp hỷ, mình tu mà không có hai điều này thì cũng giống như một tấm thân lê lết, khô khan, tiều tụy, suy dinh dưỡng, ốm yếu, gầy mòn, khô héo, không thấy hạnh phúc trong pháp mà lại thấy hạnh phúc trong ăn, chơi, chụp hình, nói chuyện phiếm. Đó gọi là phàm phu lạc, niềm vui thấp hèn, đê tiện, hèn hạ, thấp kém, không phải là niềm vui của bậc xuất gia. Niềm vui của bậc xuất gia là viễn ly lạc, xuất ly lạc, Chánh Giác lạc, siêu thế lạc, pháp hỷ lạ, thiền duyệt.

Làm sao mình tưới tẩm, nuôi dưỡng được niềm vui này thì mình mới có cơ hội thăng tấn trong giáo pháp. Ở Linh Quy, mỗi buổi sáng mọi người đều đọc thuộc lòng kinh Nikāya, mỗi người phải đọc một bài, một đoạn. Có nhiều vị đọc nhưng nước mắt tuôn trào ngay chỗ đọc. Nước mắt đó không phải là sầu bi, u não, đau khổ mà là hạnh phúc, sung sướng vì họ cảm thọ được lời dạy thâm sâu, thần diệu, tối thượng của Đức Phật.

Vậy nên từng tế bào bên trong, từng lỗ chân lông, huyết quản, mạch máo, từng làn da, thớ thịt rung chấn, chấn động mạnh thì như vậy làm sao tụng kinh mà ngủ gục được? Lúc đó nó đánh tan năm triền cái, nội tâm pháp hỷ sung mãn, chúng ta phải làm sao để có được niềm vui này. Chúng ta học pháp, ngồi thiền hay tụng kinh mà tâm cứ trơ trơ như vậy là trú trong cảm thọ bất khổ bất lạc, là si, vô minh. Chính vì cảm thọ bất khổ bất lạc, không khổ không vui, thường thường, đều đều nên làm cho cảm thọ của mình bị chay lì, nhàm chán đối với pháp, từ từ sẽ rơi xuống gọi là thoái đọa trong Chánh Pháp. Dần dà chúng ta nghe và tụng rồi lại không cảm thấy cảm thọ, cảm xúc gì.

Vậy nên hôm nay chúng ta quan trọng về nội tâm pháp hỷ, nội tâm an chỉ, tối thắng tuệ pháp quán, ba điều này rất quan trọng.

Đầu tiên là chúng ta phải có được hạnh phúc, sung sướng, hoan hỷ, hân hoan, thích thú, phấn khởi khi mình nghe pháp, suy tư pháp, quán chiếu pháp, nghiền ngẫm, tư duy pháp, gặm nhấm những giáo pháp mà Đức Phật đã dạy cho mình, để mình ăn, ngủ, nằm, nói, thức, đi, đứng, ngồi với nó bất cứ lúc nào. Những chủ đề, giáo pháp đó thấm vào từng làn da, thớ thịt, từng lỗ chân lông, huyết quản, mạch máu, hơi thở, đi vào trong tủy não, tâm can của mình. Sau đó mình sẽ có được niềm vui, hạnh phúc ở trong sự thật, trong Thánh giáo, Thánh pháp, Thánh trí tuệ đó.

Làm sao để tìm được nội tâm pháp hỷ, sau đó từ pháp hỷ, niềm vui, hạnh phúc trong Chánh Pháp sự thật này dần dần giải phá, giải tỏa, giải phóng những lòng đam mê, ham muốn, thích thú những niềm vui thấp hèn, phàm phu, tục tử, hạ liệt của ngũ dục thế gian. Không còn thích ăn uống, tiệc tùng, lễ hội, đi chơi, chụp hình, nói chuyện phù phiếm… Mà nó thích thú ở trong Chánh Pháp, thích thú trong sự thật, sự đàm luận về pháp, nghe pháp, tư duy pháp, quán chiếu pháp.

Như trong kinh Pháp Cú:

“Vị Tỳ-kheo này sống với pháp, tư duy với pháp, ngày đêm trong pháp, hân hoan đối với pháp, đó là nội tâm pháp hỷ.”

Người có điều trên khi nhìn mặt sẽ biết ngay, mặt lúc nào cũng tươi như hoa sen nở khi nghe pháp. Còn khi ngồi thiền thì nó rực cháy, cháy sáng, bừng sáng lên, còn người không có các điều trên thì chỉ nhìn đơ đơ vậy. Hay như vậy là xong, cả đời tu xem như tiêu tùng, bị gọi là phế nhân, phế vật trong giáo pháp, là đồ bỏ, không thể tăng thượng trong giới đức, thiền định, trong trí tuệ, trong sự giải thoát của bậc Thánh, trong sự tri kiến, giải thoát của bậc Thánh.

II. Đột phá, tiến bộ trong tu học

Phế nhân, phế vật, phế thải, phế liệu, phế phẩm… đều là đồ bỏ, tuy vẫn có đi đứng, ngồi, nằm, nói chuyện nhưng không có phần trong các Thánh quả, Thánh đạo, Thánh trí. Vậy nên trong sự tu tập này, chúng ta phải nỗ lực rất nhiều, để tâm rất nhiều, tư duy, tinh cần, tinh tấn, nhiệt tâm tha thiết, chăm chăm niệm đạo, ngày đêm tư duy, quán chiếu, ưu tư, khắc khoải, lo âu. Không phải như tu chơi chơi chờ ngày qua đời, chờ covid, tai nạn giao thông,rồi tới ngày chờ vào lò thiêu… Nhận diện ngũ uẩn, diệt tham, sân, si, thoát ly sanh tử.

Vậy nên trong sự tu của chúng ta lâu lâu có những cái bất ngờ như vậy. Như tu mà cứ đều đều, ngồi một lúc thì rạp xuống hết. Trong sự tu của mình lâu lâu nên có một cú đột phá, vượt lên, tự tạo cho mình những khó khăn, trắc trở để tiến bộ.

Minh Thành xin thưa là Minh Thành đã xuất gia lần thứ năm, không phải chỉ xuất gia một lần lúc cạo tóc, tự đặt cho mình những chặn đường để đột phá. Như lúc Minh Thành ở quê, sư phụ đưa cho bốn cuốn luật tiểu: tỳ ni, sa di, quân y, cảnh xá và bảo học những cuốn đó trong sáu tháng. Minh Thành cảm ơn sư phụ nhưng suy nghĩ là ngày đêm quét lá đa, lau chùa, tụng hai thời công phu thì Minh Thành không chịu vậy, lúc đó sư phụ ngăn cản nhưng Minh Thành quyết định là phải đi lên thành phố để học, đó là xuất gia lần thứ hai.

Khi lên thành phố, lần đầu tiên gặp hòa thượng hiệu trưởng giảng trường hạ tại chùa Bửu Liên thì lúc đó Minh Thành như mở ra được một chân trời mới “A, xuất gia thì phải như vầy, phải giảng pháp, giảng kinh, phải làm pháp sư, giảng sư chứ không phải là đi tụng đám, thầy cúng.” Minh Thành đặt mục tiêu cho mình là phải trở thành một người thông thạo kinh điển, giảng sư, pháp sư. Nhưng một thời gian rồi Minh Thành thấy như vầy vẫn chưa được, phải đột phá thêm.

Sau khi nghe được “Mười năm của hòa thượng Thượng Thanh Hạ Từ”, nghe suốt mười năm, một ngày tám tiếng thì Minh Thành nghĩ rằng “Đúng rồi, giờ đi tu không phải là nói không mà phải làm một người hành giả, phải có tu chứng, thành tựu”. Nên Minh Thành tự đặt ra cho mình bước ngoặt tiếp theo, để mục đích, chỗ nhắm, mục tiêu mà mình tiến tới là phải trở thành một người hành giả, ít nhất là phải có được thành tựu trong pháp hành.

Lần xuất gia tiếp theo thứ ba là bỏ thành phố để đi lên Thiền Viện Trúc Lâm, lúc đó đang học trung cấp ở chùa Vĩnh Nghiêm năm 1994. Rất nhiều khó khăn, nhân duyên trở về rồi đi lên Linh Quy Pháp Ấn là xuất gia lần thứ tư, lập nên Linh Quy Pháp Ấn và xây một am trên đỉnh núi. Lúc đó đang giảng dạy tại trường Phật học lại bỏ và lên núi ở cất am tranh. Giờ chuẩn bị xuất gia lần thứ năm thì các cô có thể không gặp lại Minh Thành nữa vì Minh Thành đang chuẩn bị cho chương trình xuất gia lần thứ năm. Tức là cứ tiếp tục, đặt mục tiêu, chỗ nhấn để cho mình cứ hướng tới hoài mà không cho mình đi ngang, phải đi lên, nếu không đi ngang, không đi lên thì đã bị rơi xuống vực.

Vậy nên phải có những cú đột phá, phải đặt cho mình những mục tiêu mới, không thể sống đều đều như lúc bình trôi sông, khi nước chảy lên thì mình đi lên, nước chảy xuống thì mình đi xuống, sống đơ đơ, ngơ ngơ như con gà mờ, phải đặt cho mình những khó khăn, sự cố gắng.

Lúc đó ở Bình Dương vừa lên thành phố mới, Minh Thành có công việc đi lên đó mua các bàn ghế bằng tre thì thấy ở giữa đường, nơi trung tâm bùng binh có dòng chữ “Luôn luôn thay đổi để phát triển”. Chỉ thấy hàng chữ đó thôi là hoát nhiên đại ngộ. Giờ mình tu mà cứ làm y đúc như vậy, xưa bài nay làm ra sao mình vậy thì mình sẽ đứng lại hai ngàn năm, mình không phát triển, vì không thay đổi thì làm sao phát triển?

Mình cứ lên hai thời là tu xong rồi, trả bài cho Phật, đọc xong cũng không biết được mình đang đọc cái gì. Vậy nên thay đổi ở đây không phải là thay đổi chạy theo ở đời mà là thay đổi trong tăng thượng giới học, tâm học, tuệ học, tăng thượng Thánh chánh định, Thánh giải thoát, làm cho mình luôn luôn đổi mới, luôn luôn thay đổi, luôn luôn tiến tới, không dừng lại trong thiện pháp, như Đức Phật đã dạy: “Này các Tỳ-kheo, ta không tán thán Tỳ-kheo dừng lại, đứng lại ở trong thiện pháp.”

Nên mình chỉ mới học được một chút, hiểu một chút thì nói rằng “Giờ tôi ngon, tôi biết được Phật pháp hết trơn!” Như vậy là mình “chết” ngay.

Minh Thành thưa với các cô Minh Thành đã xuất gia được ba mươi năm, đến bây giờ vẫn cầu học, không tự mãn với thấy biết, hiểu hành trì của mình, cảm thấy tàm quý, xấu hổ, nhục nhã, hèn hạ đối với các bậc Thánh, đối với các bậc đạo sư của mình, các bậc hiền trí, tôn đức. Nhìn lại nội tâm mình lại thấy xấu hổ, nhục nhã, tàm quý, bẩn thỉu, hạ liệt, thấp hèn, ngu si, vô minh, không ngừng suy nghĩ như thế nào để phấn đấu, để tiến lên, bước lên, để thành tựu những pháp mà mình chưa thành tựu. Chứng đạt những pháp mà chưa chứng đạt, chứng đắc những điều mà mình chưa chứng đắc, chứng ngộ những gì mà mình chưa chứng ngộ.

“Này chư Hiền, nếu vị Tỷ-kheo trong khi quán sát, không thấy có trong tự ngã tất cả thiện pháp này, thời Tỷ-kheo ấy cần phải quyết định ước muốn, tinh tấn, nỗ lực, dõng mãnh, bất thối và chánh niệm, tỉnh giác, để có được tất cả thiện pháp này.”

Đó là lời ngài Xá-lợi-phất nói, vị tướng quân của Chánh pháp, bài kinh này do Ngài giảng.

Đó là mười tâm đã được nói, không tham, không sân, không trạo cử, không hôn trầm, không nghi ngờ, không phẫn nộ, không ô nhiễm, phải có được nội tâm pháp hỷ, nội tâm tịnh chỉ, tối thắng tuệ pháp quán. Nếu mười pháp này không thấy mình có thì mình phải quyết định ước muốn, nỗ lực tinh tấn, dũng mãnh, bất thoái tiến lên, chánh niệm tỉnh giác để được tất cả những pháp này. Không thể cứ tu nhưng đơ đơ, trơ trơ, đều đều, sống qua ngày như vậy là không phải, mà phải tự tạo cho mình động lực, tự đặt ra những chủ đề khó khăn, những bài toán cực kì khó để tự mình giải.

Ví dụ như giờ mình đang ngồi đây, mình quán, tự đặt ra trường hợp là ngày mai mình đi học bị xe tông, gãy một chân thì mình sẽ ra sao? Hay tự đặt trường hợp như bị vướng vào một chứng bệnh nan y, ung thư thì lúc đó mình như thế nào? Hay mình đặt trường hợp vài ngày sau ngày cha hay mẹ mất thì mình như thế nào, mình lấy cái gì để chống đỡ, lấy cái gì để cứu độ, giúp ích? Mình phải đặt ra những trường hợp như vậy để mình ngồi quán chiếu, đặt mình vào những trường hợp đó, đó là tối thắng tuệ pháp quán. Đó là pháp quán trí huệ cùng tột, cao thượng, tối thượng, thù thắng và đặt mình vào cảnh khổ đau, nguy nan, bất an, sợ hãi, hiểm họa, tai nạn, hoạn nạn, ách nạn, sanh tử, bệnh tật… Đặt vào những trường hợp đó để xem như thế nào.

III. Cháy khăn – cháy đầu

Chúng ta cứ sống đơ đơ, trơ trơ và nghĩ hôm nay như vầy, ngày sau cũng như vầy, tuần sau, tháng sau cũng như vầy thì đó là sống với vô minh, ngu si, sống với dại khờ, không thấy không biết.

“Ví như, này chư Hiền, khi khăn bị cháy hay khi đầu bị cháy, cần phải quyết định, ước muốn, tinh tấn, nỗ lực, dõng mãnh, bất thối và chánh niệm, tỉnh giác, để dập tắt khăn ấy hay đầu ấy.”

Khăn quấn cổ bị lửa cháy thì lập tức phải dập tắt ngay thôi đầu bị cháy, lửa lan vào, mình không có thời gian để đi nhìn ngó người ta, để thị phi, để chỉ trích người ta, để hơn thua, để tranh giành với ai. Là đầu mình đang bị cháy, khăn quấn cổ, áo mình đang bị cháy.

Chúng ta thấy ví dụ tuyệt diệu không? Đây là đề tài thiền quán, chủ đề thiền quán, công án thiền quán. Lấy ví dụ về đầu mình bị cháy, khăn quấn cổ, áo mình bị cháy thì lúc đó mình phải lập tức dập tắt nó bằng tất cả mọi khả năng mà mình có thể làm được.

“Cũng vậy, này chư Hiền, Tỷ-kheo ấy cần phải quyết định, ước muốn, tinh tấn, nỗ lực, dũng mãnh, bất thối, chánh niệm, tỉnh giác, để có được tất cả thiện pháp này.”

Đây là vế thứ nhất nói về người nhìn lại nhưng thấy mình không có những thiện pháp thì người đó phải cố gắng, nỗ lực tinh tấn như vậy. Giống như đầu bị cháy, khăn bị cháy, áo bị cháy.

Trường hợp thứ hai:

“Này chư Hiền, nếu Tỷ-kheo trong khi quán sát, thấy trong tự ngã có một số thiện pháp và không thấy có một số thiện pháp,”

Ý nói trong mười pháp này có cái có cái không và có thì có được một ít nhưng chưa có đầy đủ thì:

“Thời này chư Hiền, đối với các thiện pháp nào vị ấy thấy có trong tự ngã, vị ấy an trú trong các thiện pháp ấy.”

Ý nói, nếu những pháp đã có, thì vị này an trú trong thiện pháp đó thì ở trong đó, tu trong đó, thực hành, quán chiếu trong đó.

“Đối với các thiện pháp nào, vị ấy không thấy có trong tự ngã, vị ấy cần phải quyết định, ước muốn, tinh tấn, nỗ lực, dõng mãnh, bất thối và chánh niệm, tỉnh giác để có được tất cả thiện pháp này”

Khi nãy là ví dụ không có thì cũng phải nỗ lực giống như là khăn bị cháy, đầu bị cháy. Giờ thì có được một vài, một ít thì cũng phải nỗ lực tinh tấn giống như đầu bị cháy, khăn bị cháy.

“Ví như, này chư Hiền, khi khăn bị cháy hay khi đầu bị cháy, cần phải quyết định, ước muốn, tinh tấn, nỗ lực, dõng mãnh, bất thối và chánh niệm, tỉnh giác để dập tắt khăn ấy hay đầu ấy.”

“Này chư Hiền, nếu Tỷ-kheo trong khi quán sát, thấy tất cả pháp này đều có trong tự ngã, thời này chư Hiền, Tỷ-kheo ấy sau khi an trú trong tất cả thiện pháp này, cần phải nỗ lực chú tâm để đoạn diệt các lậu hoặc.”

(Bài kinh Tổn giảm – Phẩm Tâm của mình – Chương Mười pháp – Tăng Chi Bộ Kinh tập 4)

Khi viên mãn mười pháp đầy đủ hết tất cả thiện pháp đó thì không phải vậy là xong. Vì còn lậu hoặc, phiền não, cấu nhiễm tâm nên “cần phải nỗ lực chú tâm để đoạn diệt các lậu hoặc.” Câu nói này thật vi diệu, tối thượng, bậc Thánh A-la-hán mới có thể nói được điều này. Không phải tự mãn.

Chúng ta bây giờ trong người được mấy pháp? Và mình có cố gắng, nỗ lực, tinh tấn, dũng mãnh, bất thối không? Mình có tinh cần tinh tấn không? Mình có thấy là đầu mình, khăn mình đang bị cháy không? Hay là mình nhởn nhơ qua ngày, nói cười vui vẻ, thong thả, thảnh thơi, ăn no ngủ kĩ, mặc đẹp?

Đối với trí huệ của bậc Thánh, Thánh pháp, Thánh đạo thì mình đi được tới đâu? Mình nhìn lại “Thưa thầy, tham con cũng còn nhiều. Giận sân cũng còn nhiều quá! Trạo cử, lăn xăn, dao động, này là món ruột của con. Buồn ngủ (tùy miên), hôn trầm (ngủ gục) thì cũng thường lắm! Thưa thầy, cái nào con cũng có!”

Nhưng chỉ có cái tệ, không phải có cái tốt.

“Nghi ngờ pháp? Thì còn nhiều vấn đề con còn nghi ngờ. Phẫn nộ, sừng sộ cũng có. Tâm cấu nhiễm, lậu hoặc thì cái này khá! Nội tâm pháp hỷ thì không có thấy hỷ gì!”

Tu nhưng thất buồn hiu, tu thấy thật hẩm hiu, lẻ loi, nhất là mùa dịch này ở một mình chịu không nổi. Nội tâm an chỉ là một nội tâm yên ổn, dừng lặn. Nhưng “Nội tâm con dao động, nghĩ lung tung, lan tan, tối thắng tuệ pháp quán.” Chúng ta nên nhớ hình ảnh hôm trước là rửa mặt soi gương còn hôm nay là khăn cháy, đầu cháy, mau lo dập tắt, đó là hình ảnh để mình quán chiếu.

Khi nãy là pháp hỷ, giờ là tới thiền chỉ, tịnh chỉ, an chỉ, an ổn ở trong tâm, để nhiếp phục những trạo cử, dao động, lắm lời, lắm mồm, lắm miệng, nói nhiều, chế ngự và nhiếp phục. Lăn xăn dao động, ngồi không yên, ở một mình không yên, mở pháp lên nghe là không yên, cứ lăn xăn dao động, nên phải chế ngự, nhiếp phục, đoạn tận, triệt tiêu, triệt hạ nó, diệt tận nó, tập cho nội tâm một thân an tịnh, lắng dịu, trầm lặng.

Chúng ta có nghĩ rằng với công phu tu học như vậy thì chúng ta phải nỗ lực biết bao nhiêu không để đạt được các pháp? Giờ mình đã tu năm năm, mười năm rồi thì trong những pháp này mình đã thành tựu được pháp nào chưa? Hay viên mãn một pháp nào chưa? Đầy đủ hay khắm khá một pháp nào chưa? Hay chỉ gặp nhau rồi hỏi “Lên trụ trì chưa?” hay “Có mua xe chưa?” để làm gì?

Như vậy là không đúng pháp mà gặp nhau thì hỏi “Sư tỉ hôm nay có thấy khổ không?” thì nói “Có, tỉ thấy Khổ Thánh Đế, sáng giờ mới nổi sân nên khổ!”. “Tốt! Chúc mừng sư tỉ đã thấy khổ!”. Hay hỏi “Mấy ngày nay tu muội có thấy dục, tham vận hành không?” – “Dạ có! Nhiều lắm sư tỉ, thấy trong người còn thúc giục, nhiều ham muốn lắm!” – “Vậy là tốt, chúc mừng sư muội đã nhìn thấy được những cảm thọ thúc giục, ham muốn, dục ái!”

Còn nếu lên trình pháp và nói “Tôi giờ đã hết tham rồi!” là nói bốc phét, vậy nên tâm cứ phàm phu mãi, tâm dối trá, che đậy, ngụy biện, quanh co, giấu lỗi lầm, phải nói thật.

52:23-56:18: Sư cô trình pháp

Chúng ta cứ cố gắng học tập mỗi khi gặp nhau, nếu như các cô cùng hợp tác với Minh Thành cố gắng tu học thì mình còn gặp nhau lâu, còn nếu mình không hợp tác, không tinh tấn, không chịu thực hành thì mình không đủ duyên nên cũng là tùy duyên.

Trở lại vấn đề chúng ta đang nói, mình gặp nhau thì mình phải hỏi những pháp hành, đừng nói những lời phù phiếm bình thường của thế gian, rất uổng phí. Thật sự mỗi khi Minh Thành ngồi ở đây với các cô là bằng cả trái tim và tấm lòng của Minh Thành, không phải chỉ là một buổi học thông thường để trao đổi kiến thức. Mà là bằng tất cả tấm lòng, trái tim để mong cầu chúng ta cùng nhau thành tựu được Chánh tri kiến, tiếp nhận được trí tuệ tối thượng mà Đức Thế Tôn truyền trao. Ít nhất là sau khi chúng ta ra trường, chúng ta có được thấy biết chính xác về Phật pháp để mình tu không sai lạc, để mình hướng dẫn người khác không lầm lạc.

Bây giờ Chánh pháp rất khó để nghe được, dù thấy chùa mọc lên như nấm, tăng ni xuất gia thọ giới hàng ngàn, hàng vạn nhưng nếu học đúng Chánh pháp và thực hành đúng Chánh pháp thì rất khó. Vậy nên chúng ta nên cố gắng, nếu các cô thông cảm và hiểu được tấm lòng của Minh Thành thì các cô sẽ tự động cố gắng, ít nhất là trong giờ học.

Còn việc mình còn gặp nhau được bao lâu thì đó là nhân duyên, pháp duyên của chúng ta. Minh Thành thấy từ sau ngày dịch bệnh, quay trở lại thì Minh Thành thấy tinh thần học của lớp mình yếu kém, không năng nổ, không nhiệt tâm. Minh Thành cũng hơi buồn, không phải vì được gì mất gì mà các cô sẽ mất lợi ích cho chính tự thân của mình. Có thể từ đây cho tới ngày mình nhắm mắt, chưa chắc gì mình sẽ nghe được những lời dạy nguyên chất của Đức Phật, chỉ là giống chứ chưa phải là Chánh pháp.

Chánh pháp của Đức Phật là đánh thẳng vào các cảm thọ tham, sân, si, bản ngã của chúng ta, để diệt tận những cấu nhiễm đó. Đó là Chánh pháp của Đức Phật, bây giờ thì những điều này rất ít nghe, ít học. Giờ chúng ta thấy là phát huy những hình thức, hình tướng, màu sắc, lấy đó làm sự nghiệp, làm thành công, dần dần Chánh pháp mai một.

Nên Minh Thành mong rằng những lời chia sẻ chân thành, tha thiết của Minh Thành các cô cũng cảm nhận được đôi phần, cảm nhận được Chánh pháp, cảm nhận được trí tuệ của Đức Phật. Đối với bản thân này, bọt nước này, cục thịt thối đang ngồi đây là vô nghĩa, không là gì hết, chỉ có quan trọng là Thánh pháp. Đây chỉ là cục thịt thối đang ngồi đây, không có ông Minh Thành nào cả mà đây chỉ là một đống ruột, gan, phèo phổi, phân và nước tiểu. Đừng quan trọng Minh Thành, Minh Thành có thể làm nùi dẻ cho các cô đạp lên vẫn được, chẳng là gì trong cuộc đời này mà chỉ mong rằng các cô thấy được pháp, đó mới là tất cả tấm lòng của Minh Thành đối với các cô.

Mong rằng cảm thọ này sẽ được thấm đẫm thân tâm của chúng ta, những dòng cảm thọ ngọt ngào, từ ái, thương yêu, từ tâm này, bi mẫn này trong giây phút này sẽ thấm đượm từng lỗ chân lông, từng tế bào, từng huyết quản, từng hơi thở, sẽ thấm vào xương tủy của chúng ta, bằng sự hòa kính của tăng đoàn, bằng tình thương của bậc xuất gia.

“Linh sơn cốt nhục

Quyến thuộc bồ đề”

Bằng Thánh trí tuệ của Bốn đôi tám chúng Hiền Thánh của Đức Phật, mong rằng tất cả chúng ta đều hướng tâm về sự thấy biết tối thượng mà Đức Thế Tôn đã tuyên thuyết, lấy pháp làm chỗ tôn thờ, làm tài sản duy nhất cho đời tu của mình và tất cả mọi thứ khác đều là phù phiếm bọt bèo vô nghĩa.

Đừng nói chi chùa chiền, xe cộ, đất đai, ngay cả tấm thân này mà “rầm” thôi thì trở thành một đống bầy nhầy, đem quăng bỏ nhanh lúc nào lại mừng lúc đó, để lâu còn thối, bẩn thỉu. Không là gì, chỉ có thành tựu được Thánh tri kiến, Chánh tri kiến tối thượng thì cái đó mới là sự nghiệp vĩ đại, duy nhất của người xuất gia. Minh Thành rất mong.

Chúng ta cùng nhau trải tâm từ:

Tâm thương này trải rộng,

Cùng khắp thế giới này,

Tâm thương này tỏa rộng,

Khắp trời đất bao la.