THÁNH TRÍ LY THAM 2
Thánh trí ly tham 2
-THÍCH MINH THÀNH-
Pháp này rất thâm sâu, vi diệu, khó hiểu, khó chấp nhận và khó trình bày nên kẻ vô văn phàm phu không tin được. Nó quá thâm sâu, quá vi diệu, liên hệ đến không, an tịnh Thánh trí giác ngộ Niết-bàn, vượt khỏi giới phước của phàm phu, vượt khỏi cái thấy, cái nghe của cảm xúc, vượt khỏi suy nghĩ, hiểu biết, nhận thức của phàm phu. Mình Thành có suy nghĩ sau này ai muốn học thì về đây, bởi vì giờ con hiểu được phần nào khi Thế Tôn thành đạo và không muốn giảng pháp là do nó vượt ngoài tầm hiểu biết của chúng sanh.
Một cái da đầu mà cưa hộp sọ ra để một bên, lấy hết bộ não giống như một cái muỗng dừa trống không. Có bốn câu của cô Chơn Tín Toàn làm:
Thân này là trống rỗng
Thân này là trống không
Thân này là vô ngã
Thân này là hư không.
Ai cũng gọi đây là con mắt, ai cũng cho rằng con mắt này là tôi, là của tôi, ai cũng ưa thích con mắt, ai cũng say đắm trong con mắt, ai cũng đam mê, thích thú, hoan hỷ đối với con mắt. Khi con mắt, các sắc và sự rõ biết của nhãn thức hội tụ lại thì nó sanh ra cảm giác, đó là cảm giác khi con mắt tiếp xúc được sanh khởi, đó là thọ do nhãn xúc sanh. Mình nhận diện ngũ uẩn ở trong con mắt, tâm mình có những hình bóng về con mắt, đó là tưởng; những suy nghĩ về con mắt, đó là hành; nhận thức đó là con mắt của tôi, đó là thức; mình có cảm giác sanh khởi khi con mắt tiếp xúc, đó là thọ.
Lỗ tai cũng vậy, lỗ tai dính trên cái đầu của mình, gương mặt của mình thì đó là sắc. Khi ba pháp hội tụ thì nó sanh ra cảm xúc, cảm giác, cảm thọ; khi trong tâm mình có hình bóng về cái lỗ tai, đó là tưởng, tưởng về hình bóng của lỗ tai; mình cũng có những suy nghĩ về lỗ tai và mình có nhận thức rõ biết lỗ tai này là lỗ tai của mình, là hành và thức. Đó là mình nhận diện ngũ uẩn của đôi mắt và lỗ tai.
Bây giờ tới lỗ mũi, mình có thấy rõ được năm uẩn không? Lỗ mũi là sắc, là tứ đại. Khi tiếp xúc giữa lỗ mũi, mùi, sự rõ biết, ba pháp giao thoa như vậy nó sanh ra cảm xúc, đó là thọ do tỷ xúc sanh; khi tâm mình có hình bóng về cái lỗ mũi của mình, đó là tưởng; suy nghĩ về cái lỗ mũi, đó là hành; và mình nhận thức đây là lỗ mũi của mình, đó là thức. Như vậy là mình nhận diện ngũ uẩn của sáu căn: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Lưỡi, thân, ý cũng vậy.
Thân này là sắc, cảm giác khi thân này tiếp xúc là thọ; hình bóng về cái thân này ở trong tâm là tưởng; những suy nghĩ về thân là hành; những nhận thức rõ biết về thân này là thức. Chúng ta phối hợp ngũ uẩn với sáu căn, như vậy thì trăm người như một, vạn người như một. Nhưng tất cả vô văn phàm phu, chúng sanh đều cho rằng con mắt này, lỗ tai này, lỗ mũi này, cái lưỡi này, khuôn mặt này, nhận thức này: đây là tôi, đây là của tôi, đây là tự ngã của tôi. Đức Phật chứng ngộ không phải như vậy. Đức Phật chứng ngộ con mắt này là vô thường, là biến hoại, tan hoại. Lỗ tai, lỗ mũi, cái miệng, cái lưỡi, cái thân này cũng vậy. Mình đang ngồi như thế này, mà nói “Thân mình là hư không”, thì mình có chấp nhận được không? Đại đa số trăm ngàn người như một đều nói“Tại sao tôi ngồi đây mấy chục kí như vậy mà nói thân này là hư không, thân này là trống không, trống rỗng”. Vì vậy ta thấy trí tuệ của Đức Phật, sự giác ngộ Ngài vượt ngoài nhận thức của phàm phu, chính vậy mà Đức Phật khi chứng ngộ Ngài không muốn nói pháp là vì lẽ đó. Đức Phật nói:
Này các Tỷ-kheo, con mắt này là khổ, con mắt này là vô thường, con mắt này là trống rỗng, trống không. Cái lỗ mũi này, cái lỗ tai này, cái hình hài này, cái thân xác này là khổ. Con mắt là khổ, lỗ tai là khổ, lỗ mũi là khổ, cái miệng, cái lưỡi này là khổ, cái thân này là khổ, cái ý, nhận thức này là khổ.
Như vậy thì người bình thường làm sao chấp nhận được? Con thí dụ những cái hết sức thực tế để chúng ta quán chiếu, nhìn thấy. Mình giận người nào đó là do sao mà mình giận, có phải là vì nghe họ nói cái gì không, mà cái nghe đó là từ đâu? Từ lỗ tai, như vậy lỗ tai này là khổ, do nó nghe và chấp vào cái đó. Tại vì từ cái gốc bên trong là vô minh, tham ái, chấp ngã, thân kiến nó nhận thức sai lầm về thân cho nên mọi cái nó thấy, nó nghe, nó ngửi, nó nếm, xúc chạm, cảm giác, suy tư, nghĩ ngợi, nó nhận thức là nó đi theo chiều hướng của vô minh. Vì vô minh, vì tham ái mà con mắt này được sanh khởi; vì vô minh, vì tham ái mà lỗ tai nó hình thành; vì vô minh, vì tham ái mà lỗ mũi này, cái miệng, cái lưỡi, cái thân này được sanh khởi; vì vô minh, vì tham ái, vì chấp thủ, vì thân kiến mà nhận thức, cảm giác này được sanh khởi. Như vậy, toàn bộ sự sanh khởi đều đặt dưới cái nền của vô minh, tham ái vì thế tất cả sự vận hành và hoạt động của nó là trong vô minh, tham ái và chấp thủ. Cho nên khi nó thấy gì đó là nó phiền não, nó sân, hoặc nó tham ái, nó dục, khi nó nghe là nó bực, khi nó ngửi là nó muốn. Ngoại trừ bậc đa văn Thánh đệ tử có tu tập gặp bậc Thánh nhân, nghe Thánh pháp, tu tập Thánh đạo, thể nhập Thánh chúng, còn nếu không tất cả đều trong vòng xoáy lún chìm này.
Lúc nãy, con từ trong thất đi ra thì có một điều rất tuyệt vời. Khi con đi ngang nhà mát mà chúng ta nghe pháp, bỗng nhiên có một mùi hương ngào ngạt của hoa nguyệt quế, ngay lúc đó thọ do tỷ xúc sanh, tức là có một cảm giác được sanh khởi do lỗ mũi tiếp xúc với mùi hương của hoa nguyệt quế, lúc đó con cảm giác dễ chịu và thích. Con mới tác ý “Thích cái gì? Thích cái vô thường gì ở đây? Thích cái dễ chịu gì ở đây? Ham cái gì, mê cái gì? Trống rỗng, trống không, hư ảo”. Khi đó, con thấy rõ ràng một cảm giác ưa thích bị thoát ra khỏi thân tâm mình rồi mình đi một cách nhẹ nhàng. Ra ngoài đây có mấy cây thứ hai, mình không bị cảm giác đó, không bị ái, dục, tham giống như lúc mình không có Như lý tác ý. Con thấy hết sức sâu sắc và tuyệt diệu trong sự tu học của mình.
Trở lại vấn đề trong sự tu tập, chúng ta phải Như lý tác ý từng chút, từng chút một để nó gỡ từ từ, gỡ lần lần ra. Tới cuối cùng nó mới thoát ra hết tất cả ngũ uẩn, thoát ra khỏi sáu căn, sáu trần, sáu xúc, sáu thọ, sáu, thức, sáu ái, sáu tưởng, sáu tư, sáu tầm, sáu tứ. Cho nên phải gỡ từng chút, từng chút một như vậy. Còn nếu mình nghe bình thường thì mình không hiểu được con mắt này là khổ “Tại sao vậy, con mắt này là để nhìn thấy, không có mắt lấy gì mà nhìn thấy”. Cho nên con đưa nhật ký đó lên thì có một số Phật tử bình luận phía dưới liền: “Thưa thầy, thân này là vô thường, trống rỗng, hư không nhưng mà nó quan trọng. Có nó mới tu, chứ không có nó thì lấy gì tu”. Con yên lặng, không nói gì hết. Bởi vì, khi thấy được cái thân này là vô thường, trống rỗng thì đó là tu. Lúc nào mình nhìn thấy thân này là khổ thì lúc đó là mình tu.
Con mắt này có khổ không? Tại sao mình có con mắt này? Mình rất là ưa thích con mắt này, mình bị chấp thủ trong con mắt này, mình tham đắm trong con mắt này. Chẳng những mình tham đắm trong con mắt của mình mà mình còn tham đắm trong con mắt của những người khác. Do mình tham đắm con mắt này cho nên mình không đi ra khỏi con mắt này. Con mắt này là khổ. Đó là nói mới có một pháp thôi chứ còn nhiều lắm. Đức Phật nói cái sắc mà con mắt nó nhìn thấy đó là khổ, sự rõ biết các sắc là khổ, ba cái này nó xúc lại, hội tụ lại với nhau là khổ, nó sanh ra cảm giác là khổ. Cái này hết sức là thâm sâu, tu học nhiều khi hết một cuộc đời, cho tới pháp sư luôn chứ con không nói là người tu bình thường thì cũng chưa nắm được, nếu không đi vô dòng pháp Nikāya thì không thể hiểu nỗi cái này.
Toàn bộ thế giới ngũ uẩn này nó được sanh khởi và đứng vững là do tâm mê, tâm dục, tâm ái, tâm tham, tâm muốn, lòng khao, lòng khát, lòng chấp thủ nó bám trụ vô trong đây cho nên thế giới mới đứng vững, cho nên thân xác này mới đứng vững, mới hoạt động. Một khi lòng dục, lòng tham, lòng ái, lòng vô minh, lòng mê nó đã đi ra rồi thì thân này nó ngã xuống, đổ xuống, sụm xuống, sụp xuống một cách hoàn toàn. Nếu mình chỉ nhìn có một cái thôi thì mình không đủ sức để mà ly tham, phải nhìn hết căn, trần, thức, xúc, thọ, ái, thủ, như nãy con nói sáu căn, sáu trần, sáu thức, sáu xúc, sáu thọ, sáu ái, sáu tưởng, sáu tư, sáu tầm, sáu tứ. Tại sao Đức Phât phải nói 60 pháp như vậy, tại vì 6 pháp mình tu mình không chứng ngộ không nỗi. Cũng như bây giờ cách ly thì cách ly một người F0 – cách ly người nhiễm thôi, chứ tại sao cách ly người tiếp xúc với người nhiễm, rồi cách ly người tiếp xúc với người tiếp xúc với người bệnh, F1, F2 rồi F3. Cách ly người tiếp xúc đầu tiên thôi, nhưng người tiếp xúc với người bệnh rồi người đó đi tiếp xúc với một người khác, đưa đi cách ly hết. Thành ra, con dùng từ “Chiến thuật tâm linh của Như Lai”, vô học trong Tương Ưng Bộ Kinh rồi thì mình mới thấy, mình tu cái này rồi mình mới thấy, khủng khiếp lắm. Đức Phật vượt ngoài, vượt cao rất cao, mình ngẩng lên hoài mình cũng không thấy cái đỉnh, đó là Vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.
Bây giờ con hỏi thầy Pháp An, ông có khổ với con mắt này không? Nó nhọc nhèm, nó không thấy đường ông có khổ không? Nó bị đục thủy tinh thể, ông đi mổ ông thấy có đau khổ không? Đó, con mắt này là khổ. Còn những người mù có khổ với con mắt này không? Chính con mắt này nó khổ rồi chứ không phải là đợi cảm giác hay cái thấy biết sau đó mới phiền não. Nó có nhiều lớp, tức là căn, trần, thức cấu kết, nó mưu giới với nhau, nó mưu sĩ với nhau. Cho nên mình chỉ thấy một góc cạnh mà mình nói “thân này đâu có tội lỗi gì đâu”, thường người ta nghĩ như vậy, “cái thân này đâu có thiện hay ác mà do người đó hành động này kia nọ thôi”. Nhưng nếu không có thân này thì sao có đam mê vô cái thân này, dục cho ai, tham cho ai, sân vì ai, có phải vì cái thân này không? Nó tham có phải vì cái thân này nó tham không? Nó ái có phải vì cái thân này nó ái không? Nó dục có phải vì cái thân này nó dục không? Nó bản ngã có phải vì cái thân này nó bản ngã không? Biết bao nhiêu chứng bệnh về con mắt: loạn thị, viễn thị, cận thị, đục thủy tinh thể, đủ thứ hết...
Trong Tương Ưng Sáu Xứ con cảm nhận thấy rúng động, chấn động khi Đức Phật phơi bày hết tất cả thực tướng của vạn pháp của thế giới. Đức Phật nói “con mắt này là khổ”, bây giờ mình thí dụ cái thứ hai, Đức Phật nói “Này các Tỷ-kheo, các sắc là khổ”. Cha mẹ có một căn nhà thôi, giờ hai anh em tranh giành, nếu không khéo có khi sẽ xảy ra đấu đá, đánh đấm, thậm chí có khi hơn thế nữa, huynh đệ tương tàn, vậy có phải căn nhà đó nó làm khổ người ta không? Đừng nói là nhà, đến cả chùa cũng giành. Chùa đó là gì, có phải sắc không? Mà Đức Phật nói các sắc là khổ, cho nên phải bám sát 100% theo lời Đức Phật để mình quán chiếu thì mình mới khai mở Thánh tri kiến, Chánh tri kiến và thấy biết của mình mới chính xác. Nếu không mình lái một chút xíu thôi là nó sẽ qua cái phàm phu của mình.
Giờ ông thầy mới nằm xuống thôi thậm chí là chưa nằm xuống nữa, hay là mình nói xa hơn là ông vua, vừa nằm xuống một cái là dưới này giành ngay, huynh đệ có thể giết nhau để đoạt cái ngai vàng. Đó là tài sản lớn, giờ cái nhỏ hơn nữa là tài sản của ông đại gia, nhỏ hơn nữa là gia đình khá giả, nhỏ hơn nữa là gia đình bình thường, nhỏ hơn nữa là chỉ có mấy tấc đất thôi mà xảy ra 4, 5 án mạng. Vậy có phải miếng đất đó, cục vàng đó, khối tiền đó, cái ngai vàng đó có phải là khổ không? Đức Thế Tôn nói “Này các Tỷ-kheo, sắc là khổ, con mắt là khổ”. Không có con mắt, không thấy thì làm sao biết cái đó nó quý, rồi không có nhận thức bên trong, rõ biết cái đó giá trị thì sao mà giành. Vậy sao không giành cái đống thân đó đi, cái mộ trong nghĩa địa, nghĩa trang sao không giành? Thành ra con mắt, các sắc, sự rõ biết các sắc này là khổ. Nó thâm sâu lắm chứ không phải đơn giản như mình đọc rồi mình nghe phớt qua.
Sự rõ biết của con mắt tức là nhãn thức là khổ, sao kỳ vậy, từ nơi rõ biết của con mắt tại sao nó làm cho mình khổ? Bây giờ mình nhìn thấy người đó “đẹp dữ vậy ta”, trúng ngay cái gu của mình, rồi về ăn không ngon, ngủ không yên. Trong này nó thúc giục, nó vận hành những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ làm sao phải đi, làm sao phải tiếp xúc, làm sao phải đoạt cho được, phải có cho được người đó, không có người đó thì khổ, thậm chí là tương tư, thậm chí là tự giận chết. Như vậy câu “Này các Tỷ-kheo, sự rõ biết các sắc là khổ” nó thâm sâu vô cùng.
Bây giờ mình học sâu hơn nữa về nhiếp phục cảm thọ khi ba pháp hội tụ, con mắt, các sắc, sự rõ biết các sắc, nhãn xúc sanh ra cảm giác. Cảm giác mà nó sanh khởi khi con mắt tiếp xúc là khổ, tới giờ thì điều này nó thấm vô da, vô thịt, vô xương rôi vô tủy. Cho nên hồi xưa lúc chưa đi vô dòng pháp này, con đọc thì thấy Đức Phật nói “Quán cảm thọ khổ giống như mũi tên, quán cảm thọ vui nó là khổ, quán cảm thọ không vui không khổ nó vô thường, phải quán như vậy”, sao kỳ vậy? Cảm thọ khổ giống như mũi tên thì mình dễ hiểu là cảm thọ làm cho mình khổ, mình nhức nhói, mình đau đớn giống như mũi tên châm vô trong người mình. Nhưng tại sao lại quán cảm thọ vui nó là khổ, vui là sướng tại sao lại quán nó là khổ, rồi cũng quán cảm thọ không vui, không khổ là vô thường, tại sao? Những điều này đòi hỏi phải quán chiếu, phải chiêm nghiệm sâu sắc. Đức Phật nói kẻ vô văn phàm phu, khi có cảm thọ vui, lạc thọ giống như người bị trói buộc. Con hỏi thực tế mấy chú tập sự xuất gia, mấy chú công quả, bây giờ mình nhìn trong nội tâm những cảm giác mình từng kinh qua về dục nó có làm cho mình khổ không? Những cảm giác ngày xưa mình thấy vui sướng, thích thú bây giờ ngồi lại có thấy nó hành hạ mình khổ không, muốn vượt qua nó, muốn đánh tan hết tất cả những ám ảnh trong nội tâm của mình là dễ hay khó? Đó, cảm giác vui là khổ, tại vì mình bị trói buộc trong cảm giác vui.
Kẻ vô văn phàm phu, này các Tỷ-kheo, đối với cảm thọ khổ thọ, lạc thọ, bất khổ bất lạc thọ đều giống như người đang bị trói buộc.
Cảm thọ nào cũng bị dính hết. Bây giờ cảm thọ làm cho mình khổ, mình bực bội, mình sân hận lên, mình có bị trói buộc trong cảm thọ đó không? Người nào làm cho mình tức tối, mình hận thù thì mình cũng bị trói buộc trong cảm thọ, cảm giác đó luôn. Nó cực kỳ là thâm sâu, phải thực tập, quán chiếu, nhìn thấy bằng trí tuệ. Còn cảm thọ không khổ, không vui mình có bị trói buộc không? Thí dụ, mình sắp xả thiền, thì sư phụ lên giảng,“Sư phụ lên chi, xả thiền khỏe rồi, giờ lên bắt ngồi, 6 giờ nghỉ được rồi”. Thì đó là cảm thọ không khổ, không vui, đều đều, nó đang trói buộc cho nên giờ đổi một cái là mình khổ. Cứ đều đều, boong boong lên ăn, chen chen đi ngủ, mình bị trói trong cảm thọ đều đều đó, nên khi khác cái đều đều đó là mình khổ. Hiều và thấy được cái chỗ này không? Nhiều thí dụ lắm, mà cái đều đều này chết nhiều hơn là hai cái kia thô dễ thấy. Nhiều khi có Phật tử hay là Quý Thầy, Quý Cô, ngay cả bản thân mình thấy rằng“Con thấy con tu an ổn lắm, không có tham sân, mỗi ngày đến giờ tụng kinh thì con tụng kinh, tới giờ ngồi thiền thì con ngồi thiền, tới giờ ăn cơm thì con ăn cơm, đều đều, con không có chưởi ai, không có sân hận ai, cũng không dính mắc tình cảm với ai hết”, thì đó là cái chỗ chết. Đều đều như vậy thì có nhìn thấy cảm thọ không, có nhìn thấy tưởng, nhìn thấy hành không? Có nhìn thấy được sự tham ái, chấp thủ đối với ngũ uẩn không? Cái đều đều đó là cái gì đều đều? Thân kiến đều đều, vô mình phong tỏa đều đều, tham ái một đời sống an an, ổn ổn, lơ lơ, lửng lửng qua ngày như vậy đều đều.
Cho nên bình thường mình không quán chiếu cái khổ, cái bệnh, mình thấy mình không có khổ, mình khỏe mạnh đều đều “Từ nhỏ tới lớn, tôi không uống viên thuốc nào hết, tôi khỏe lắm”, tới chừng dịch bệnh thì lúc đó mình khổ vô cùng, lo lắng, sợ hãi vô cùng. Bây giờ tự thân của một người thường quán chiếu cái khổ về sanh, già, bệnh, chết tới khi dịch bệnh thì thấy cái này đúng rồi, cái này Đức Phật nói thì đúng rồi, hàng ngày mình đã thấy rồi, cái này chẳng qua càng làm rõ hơn chân lý Đức Phật dạy thôi, nó chứng thực cái vô thường, cái khổ của cuộc đời này thôi. Người đó không có khổ tại vì người đó thường thấy khổ cho nên khổ đến người ta không có khổ, còn người đều đều khi có biến động tới là người đó khổ. Cho nên mình rất dễ bị vướng vào cảm giác đều đều, không khổ không vui, cái này nguy hiểm lắm, đó là si, cứ trơ trơ vậy đó. Có mấy chú tâm sự “lúc đầu con tu con hăng hái, con thấy nhiệt huyết, nóng bỏng, con trào dâng nước mắt, cảm thọ cảm xúc hỷ lạc, nhưng tại sao bây giờ ở 6 tháng trong chùa rồi con thấy con trơ trơ”, như vậy là nguy hiểm. Phải làm cho sanh khởi lên, hun đúc lên những cảm giác, phải quán chiếu vô thường, khổ, quán chiếu về cha mẹ mình, quán chiếu người thân mình để phá được cảm giác trơ trơ, trơ lì, đều đều, bất khổ bất lạc thọ đó. Thành ra mình bị trói cột trong cái đều đều, cái bình thường là như vậy.
Đức Phật nói “Này các Tỷ-kheo, phàm tất cả cảm thọ đều nằm trong đau khổ”.
Câu này hồi đó Minh Thành học nhưng Minh Thành không có hiểu, thấy như vậy là bi quan, tiêu cực. Giờ con thí dụ, người này ở trong tù, ngày nào cũng được cho ăn miếng cơm, miếng rau thì người này thấy không có đồ ăn, khổ, vì ở nhà đồ ăn ngon, ăn sung mặc sướng. Nhưng khi người này có được một bữa ăn thịnh soạn thì vui không, tuy được món ăn ngon nhưng vẫn ở trong tù, dầu cho ăn ngon hay ăn dở thì cũng không tốt. Rồi có khi ăn ngon là chuẩn bị đem ra xử bắn hay là tiêm thuốc độc, nên chừng nào người này đi ra khỏi tù thì mới thật sự là vui. Cho nên bây giờ cảm giác của mình là khổ hay vui cũng vẫn giống như là tù nhân, mình phải thoát ngục. “Này các Tỷ-kheo, phàm tất cả cảm thọ đều nằm trong đau khổ”, tại vì cảm thọ trong vô minh, cảm thọ trong tham dục, tham ái, khát ái, cảm thọ trong tà kiến, trong thân kiến, trong vọng kiến, trong kiến chấp, chấp thủ, thì cảm thọ đó làm gì có lạc. Bây giờ một người bị nhiễm nCoV đang nằm trong bệnh viện, mình vô cho họ món quà đắt tiền, quà quý, họ đang nhiễm nặng, thở bằng máy thở, tuy còn nhận thức được nhưng họ vui sướng không? Sao được món quà quý, giá trị như thế mà không vui sướng, vì không xài được. Mình phải quán chiếu như vậy.
Cho nên chỗ này là chỗ thâm sâu, tại sao tất cả cảm thọ đều nằm trong đau khổ, ăn ngon hay ăn dở gì cũng là tử tù chung thân. Lúc nào mình cũng quán chiếu mình đang ở tù trong cái ngũ uẩn này, mình là nô lệ cho cái tham ái, tham dục này. Ngày nào mình chinh phục được nó, mình đánh gục được nó, mình hạ thủ, hạ xác, mình đạp nó mình đi lên thì ngày đó mới là ngày vui sướng. Ngày nào mình thật sự nhiếp phục được tham, sân, si, vô minh và bản ngã; thật sự đánh gục, làm cho nó tê liệt, bại liệt, mình phá tan, phá sạch, phá vỡ, phá tung ngôi nhà bằng đất của ngũ uẩn, của tứ đại này; ngày nào mình nhìn vô sắc này không phải là tôi, không phải của tôi, sắc này là khổ, sắc này là vô thường, sắc này là trống rỗng vô ngã; ngày nào mình đều nhìn tất cả các cảm thọ này là đồ mây khói, dầu cho một cảm thọ vui sanh khởi lên mình cũng không bị vướng mắc, hay là một cảm thọ khổ sanh khởi lên mình cũng không bị nó xâm chiếm, hay là cảm thọ bất khổ, bất lạc này mình cũng nhìn thấy trong đó một thứ vô thường, tất cả những cái tưởng, tất cả suy nghĩ, các hành mà ngay cái nhận thức rõ biết này mình cũng thấy nó là đồ trống rỗng, là trò ảo thuật thì ngày đó mới là ngày thoát ngục.
Mới hôm qua thôi, dưới miền Tây, những người công nhân xây tấm tường dài mấy chục thước, cao mười mấy thước, nó đổ xuống một cái làm chết một lượt 5-7 người. Trước đó, cũng có xảy ra tai nạn lao động như vậy và những người công nhân này cũng nói, cũng cười, cũng giỡn hớt khi họ đang làm, họ vui chứ, nhưng vui đó là vui trong vô minh. Họ không biết chút xíu nữa đây, 2-3 tiếng đồng hồ nữa đây, 30 phút nữa đây, 15 phút nữa đây tất cả những người bạn, anh em của mình sẽ bị đè, tắt hơi dưới đống tường đổ nát, dưới cả một khối gạch, đá, bê tông, họ không biết, nếu họ biết là họ tránh, họ đâu có bị như vậy. Những người nhiễm bệnh cũng vậy, họ nghĩ họ không có bệnh, bên các nước phương Tây, Âu Mỹ, nói những người bệnh mới đeo khẩu trang. Họ nhận thức không chính xác, không hiểu rõ sự nguy hiểm đúng mức của bệnh và cuối cùng không phải 10 người, không phải 100 người, không phải 1000 người, không phải chục ngàn người, mà là 100 ngàn người, 10 vạn người, nay đã lên gần 20 vạn người, khoảng 180 chục ngàn người chết, bị nhiễm gần 2 triệu 600 ngàn người. Tất cả chúng sanh không thấy được sự nguy hiểm, nguy hại, tác hại khủng khiếp của vô minh, tham ái, chấp thủ, chấp ngã, họ không biết nên toàn thế giới, khắp hành tinh bị đánh gục, bị xâm chiếm, bị áp đảo, bị làm cho thống khổ khắp cả vũ trụ, hoàn vũ này.
Chúng ta là những người đại phúc duyên mới nghe được Chánh pháp, hiểu được Chánh pháp, thực tập được Chánh pháp nên phải cố gắng phấn đấu, ý thức sâu sắc giá trị, ý nghĩa tối thượng của Thánh pháp. Từ đó, mình nỗ lực hành trì để thoát ra khỏi sắc, con mắt, sự rõ biết, cảm giác và những tham ái, sự chấp thủ sanh ra cái hiện hữu này; thoát ra khỏi căn, trần, thức, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, rồi sầu, bi, khổ, ưu não, sanh tử tiếp diễn, tiếp nối.
Tuyệt vời lắm, hãy cố gắng học và tu, mình sẽ thấy từng bước, từng bước đi ra khỏi thế giới này. Đi ra khỏi những suy nghĩ, cảm xúc, nhận thức thấp hèn, thấp kém, vô minh, mình sẽ bước vào trong ánh sáng, sẽ từ bỏ những thứ làm khổ người, khổ mình; mình đau, người đau; mình sầu, người sầu; mình bi, ưu não, và người khác bi, ưu não. Mình sẽ dần dần làm cho nó cạn kiệt, khô kiệt, làm cho nó diệt tận.
./.
-THÍCH MINH THÀNH-
Pháp này rất thâm sâu, vi diệu, khó hiểu, khó chấp nhận và khó trình bày nên kẻ vô văn phàm phu không tin được. Nó quá thâm sâu, quá vi diệu, liên hệ đến không, an tịnh Thánh trí giác ngộ Niết-bàn, vượt khỏi giới phước của phàm phu, vượt khỏi cái thấy, cái nghe của cảm xúc, vượt khỏi suy nghĩ, hiểu biết, nhận thức của phàm phu. Mình Thành có suy nghĩ sau này ai muốn học thì về đây, bởi vì giờ con hiểu được phần nào khi Thế Tôn thành đạo và không muốn giảng pháp là do nó vượt ngoài tầm hiểu biết của chúng sanh.
Một cái da đầu mà cưa hộp sọ ra để một bên, lấy hết bộ não giống như một cái muỗng dừa trống không. Có bốn câu của cô Chơn Tín Toàn làm:
Thân này là trống rỗng
Thân này là trống không
Thân này là vô ngã
Thân này là hư không.
Ai cũng gọi đây là con mắt, ai cũng cho rằng con mắt này là tôi, là của tôi, ai cũng ưa thích con mắt, ai cũng say đắm trong con mắt, ai cũng đam mê, thích thú, hoan hỷ đối với con mắt. Khi con mắt, các sắc và sự rõ biết của nhãn thức hội tụ lại thì nó sanh ra cảm giác, đó là cảm giác khi con mắt tiếp xúc được sanh khởi, đó là thọ do nhãn xúc sanh. Mình nhận diện ngũ uẩn ở trong con mắt, tâm mình có những hình bóng về con mắt, đó là tưởng; những suy nghĩ về con mắt, đó là hành; nhận thức đó là con mắt của tôi, đó là thức; mình có cảm giác sanh khởi khi con mắt tiếp xúc, đó là thọ.
Lỗ tai cũng vậy, lỗ tai dính trên cái đầu của mình, gương mặt của mình thì đó là sắc. Khi ba pháp hội tụ thì nó sanh ra cảm xúc, cảm giác, cảm thọ; khi trong tâm mình có hình bóng về cái lỗ tai, đó là tưởng, tưởng về hình bóng của lỗ tai; mình cũng có những suy nghĩ về lỗ tai và mình có nhận thức rõ biết lỗ tai này là lỗ tai của mình, là hành và thức. Đó là mình nhận diện ngũ uẩn của đôi mắt và lỗ tai.
Bây giờ tới lỗ mũi, mình có thấy rõ được năm uẩn không? Lỗ mũi là sắc, là tứ đại. Khi tiếp xúc giữa lỗ mũi, mùi, sự rõ biết, ba pháp giao thoa như vậy nó sanh ra cảm xúc, đó là thọ do tỷ xúc sanh; khi tâm mình có hình bóng về cái lỗ mũi của mình, đó là tưởng; suy nghĩ về cái lỗ mũi, đó là hành; và mình nhận thức đây là lỗ mũi của mình, đó là thức. Như vậy là mình nhận diện ngũ uẩn của sáu căn: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Lưỡi, thân, ý cũng vậy.
Thân này là sắc, cảm giác khi thân này tiếp xúc là thọ; hình bóng về cái thân này ở trong tâm là tưởng; những suy nghĩ về thân là hành; những nhận thức rõ biết về thân này là thức. Chúng ta phối hợp ngũ uẩn với sáu căn, như vậy thì trăm người như một, vạn người như một. Nhưng tất cả vô văn phàm phu, chúng sanh đều cho rằng con mắt này, lỗ tai này, lỗ mũi này, cái lưỡi này, khuôn mặt này, nhận thức này: đây là tôi, đây là của tôi, đây là tự ngã của tôi. Đức Phật chứng ngộ không phải như vậy. Đức Phật chứng ngộ con mắt này là vô thường, là biến hoại, tan hoại. Lỗ tai, lỗ mũi, cái miệng, cái lưỡi, cái thân này cũng vậy. Mình đang ngồi như thế này, mà nói “Thân mình là hư không”, thì mình có chấp nhận được không? Đại đa số trăm ngàn người như một đều nói“Tại sao tôi ngồi đây mấy chục kí như vậy mà nói thân này là hư không, thân này là trống không, trống rỗng”. Vì vậy ta thấy trí tuệ của Đức Phật, sự giác ngộ Ngài vượt ngoài nhận thức của phàm phu, chính vậy mà Đức Phật khi chứng ngộ Ngài không muốn nói pháp là vì lẽ đó. Đức Phật nói:
Này các Tỷ-kheo, con mắt này là khổ, con mắt này là vô thường, con mắt này là trống rỗng, trống không. Cái lỗ mũi này, cái lỗ tai này, cái hình hài này, cái thân xác này là khổ. Con mắt là khổ, lỗ tai là khổ, lỗ mũi là khổ, cái miệng, cái lưỡi này là khổ, cái thân này là khổ, cái ý, nhận thức này là khổ.
Như vậy thì người bình thường làm sao chấp nhận được? Con thí dụ những cái hết sức thực tế để chúng ta quán chiếu, nhìn thấy. Mình giận người nào đó là do sao mà mình giận, có phải là vì nghe họ nói cái gì không, mà cái nghe đó là từ đâu? Từ lỗ tai, như vậy lỗ tai này là khổ, do nó nghe và chấp vào cái đó. Tại vì từ cái gốc bên trong là vô minh, tham ái, chấp ngã, thân kiến nó nhận thức sai lầm về thân cho nên mọi cái nó thấy, nó nghe, nó ngửi, nó nếm, xúc chạm, cảm giác, suy tư, nghĩ ngợi, nó nhận thức là nó đi theo chiều hướng của vô minh. Vì vô minh, vì tham ái mà con mắt này được sanh khởi; vì vô minh, vì tham ái mà lỗ tai nó hình thành; vì vô minh, vì tham ái mà lỗ mũi này, cái miệng, cái lưỡi, cái thân này được sanh khởi; vì vô minh, vì tham ái, vì chấp thủ, vì thân kiến mà nhận thức, cảm giác này được sanh khởi. Như vậy, toàn bộ sự sanh khởi đều đặt dưới cái nền của vô minh, tham ái vì thế tất cả sự vận hành và hoạt động của nó là trong vô minh, tham ái và chấp thủ. Cho nên khi nó thấy gì đó là nó phiền não, nó sân, hoặc nó tham ái, nó dục, khi nó nghe là nó bực, khi nó ngửi là nó muốn. Ngoại trừ bậc đa văn Thánh đệ tử có tu tập gặp bậc Thánh nhân, nghe Thánh pháp, tu tập Thánh đạo, thể nhập Thánh chúng, còn nếu không tất cả đều trong vòng xoáy lún chìm này.
Lúc nãy, con từ trong thất đi ra thì có một điều rất tuyệt vời. Khi con đi ngang nhà mát mà chúng ta nghe pháp, bỗng nhiên có một mùi hương ngào ngạt của hoa nguyệt quế, ngay lúc đó thọ do tỷ xúc sanh, tức là có một cảm giác được sanh khởi do lỗ mũi tiếp xúc với mùi hương của hoa nguyệt quế, lúc đó con cảm giác dễ chịu và thích. Con mới tác ý “Thích cái gì? Thích cái vô thường gì ở đây? Thích cái dễ chịu gì ở đây? Ham cái gì, mê cái gì? Trống rỗng, trống không, hư ảo”. Khi đó, con thấy rõ ràng một cảm giác ưa thích bị thoát ra khỏi thân tâm mình rồi mình đi một cách nhẹ nhàng. Ra ngoài đây có mấy cây thứ hai, mình không bị cảm giác đó, không bị ái, dục, tham giống như lúc mình không có Như lý tác ý. Con thấy hết sức sâu sắc và tuyệt diệu trong sự tu học của mình.
Trở lại vấn đề trong sự tu tập, chúng ta phải Như lý tác ý từng chút, từng chút một để nó gỡ từ từ, gỡ lần lần ra. Tới cuối cùng nó mới thoát ra hết tất cả ngũ uẩn, thoát ra khỏi sáu căn, sáu trần, sáu xúc, sáu thọ, sáu, thức, sáu ái, sáu tưởng, sáu tư, sáu tầm, sáu tứ. Cho nên phải gỡ từng chút, từng chút một như vậy. Còn nếu mình nghe bình thường thì mình không hiểu được con mắt này là khổ “Tại sao vậy, con mắt này là để nhìn thấy, không có mắt lấy gì mà nhìn thấy”. Cho nên con đưa nhật ký đó lên thì có một số Phật tử bình luận phía dưới liền: “Thưa thầy, thân này là vô thường, trống rỗng, hư không nhưng mà nó quan trọng. Có nó mới tu, chứ không có nó thì lấy gì tu”. Con yên lặng, không nói gì hết. Bởi vì, khi thấy được cái thân này là vô thường, trống rỗng thì đó là tu. Lúc nào mình nhìn thấy thân này là khổ thì lúc đó là mình tu.
Con mắt này có khổ không? Tại sao mình có con mắt này? Mình rất là ưa thích con mắt này, mình bị chấp thủ trong con mắt này, mình tham đắm trong con mắt này. Chẳng những mình tham đắm trong con mắt của mình mà mình còn tham đắm trong con mắt của những người khác. Do mình tham đắm con mắt này cho nên mình không đi ra khỏi con mắt này. Con mắt này là khổ. Đó là nói mới có một pháp thôi chứ còn nhiều lắm. Đức Phật nói cái sắc mà con mắt nó nhìn thấy đó là khổ, sự rõ biết các sắc là khổ, ba cái này nó xúc lại, hội tụ lại với nhau là khổ, nó sanh ra cảm giác là khổ. Cái này hết sức là thâm sâu, tu học nhiều khi hết một cuộc đời, cho tới pháp sư luôn chứ con không nói là người tu bình thường thì cũng chưa nắm được, nếu không đi vô dòng pháp Nikāya thì không thể hiểu nỗi cái này.
Toàn bộ thế giới ngũ uẩn này nó được sanh khởi và đứng vững là do tâm mê, tâm dục, tâm ái, tâm tham, tâm muốn, lòng khao, lòng khát, lòng chấp thủ nó bám trụ vô trong đây cho nên thế giới mới đứng vững, cho nên thân xác này mới đứng vững, mới hoạt động. Một khi lòng dục, lòng tham, lòng ái, lòng vô minh, lòng mê nó đã đi ra rồi thì thân này nó ngã xuống, đổ xuống, sụm xuống, sụp xuống một cách hoàn toàn. Nếu mình chỉ nhìn có một cái thôi thì mình không đủ sức để mà ly tham, phải nhìn hết căn, trần, thức, xúc, thọ, ái, thủ, như nãy con nói sáu căn, sáu trần, sáu thức, sáu xúc, sáu thọ, sáu ái, sáu tưởng, sáu tư, sáu tầm, sáu tứ. Tại sao Đức Phât phải nói 60 pháp như vậy, tại vì 6 pháp mình tu mình không chứng ngộ không nỗi. Cũng như bây giờ cách ly thì cách ly một người F0 – cách ly người nhiễm thôi, chứ tại sao cách ly người tiếp xúc với người nhiễm, rồi cách ly người tiếp xúc với người tiếp xúc với người bệnh, F1, F2 rồi F3. Cách ly người tiếp xúc đầu tiên thôi, nhưng người tiếp xúc với người bệnh rồi người đó đi tiếp xúc với một người khác, đưa đi cách ly hết. Thành ra, con dùng từ “Chiến thuật tâm linh của Như Lai”, vô học trong Tương Ưng Bộ Kinh rồi thì mình mới thấy, mình tu cái này rồi mình mới thấy, khủng khiếp lắm. Đức Phật vượt ngoài, vượt cao rất cao, mình ngẩng lên hoài mình cũng không thấy cái đỉnh, đó là Vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.
Bây giờ con hỏi thầy Pháp An, ông có khổ với con mắt này không? Nó nhọc nhèm, nó không thấy đường ông có khổ không? Nó bị đục thủy tinh thể, ông đi mổ ông thấy có đau khổ không? Đó, con mắt này là khổ. Còn những người mù có khổ với con mắt này không? Chính con mắt này nó khổ rồi chứ không phải là đợi cảm giác hay cái thấy biết sau đó mới phiền não. Nó có nhiều lớp, tức là căn, trần, thức cấu kết, nó mưu giới với nhau, nó mưu sĩ với nhau. Cho nên mình chỉ thấy một góc cạnh mà mình nói “thân này đâu có tội lỗi gì đâu”, thường người ta nghĩ như vậy, “cái thân này đâu có thiện hay ác mà do người đó hành động này kia nọ thôi”. Nhưng nếu không có thân này thì sao có đam mê vô cái thân này, dục cho ai, tham cho ai, sân vì ai, có phải vì cái thân này không? Nó tham có phải vì cái thân này nó tham không? Nó ái có phải vì cái thân này nó ái không? Nó dục có phải vì cái thân này nó dục không? Nó bản ngã có phải vì cái thân này nó bản ngã không? Biết bao nhiêu chứng bệnh về con mắt: loạn thị, viễn thị, cận thị, đục thủy tinh thể, đủ thứ hết...
Trong Tương Ưng Sáu Xứ con cảm nhận thấy rúng động, chấn động khi Đức Phật phơi bày hết tất cả thực tướng của vạn pháp của thế giới. Đức Phật nói “con mắt này là khổ”, bây giờ mình thí dụ cái thứ hai, Đức Phật nói “Này các Tỷ-kheo, các sắc là khổ”. Cha mẹ có một căn nhà thôi, giờ hai anh em tranh giành, nếu không khéo có khi sẽ xảy ra đấu đá, đánh đấm, thậm chí có khi hơn thế nữa, huynh đệ tương tàn, vậy có phải căn nhà đó nó làm khổ người ta không? Đừng nói là nhà, đến cả chùa cũng giành. Chùa đó là gì, có phải sắc không? Mà Đức Phật nói các sắc là khổ, cho nên phải bám sát 100% theo lời Đức Phật để mình quán chiếu thì mình mới khai mở Thánh tri kiến, Chánh tri kiến và thấy biết của mình mới chính xác. Nếu không mình lái một chút xíu thôi là nó sẽ qua cái phàm phu của mình.
Giờ ông thầy mới nằm xuống thôi thậm chí là chưa nằm xuống nữa, hay là mình nói xa hơn là ông vua, vừa nằm xuống một cái là dưới này giành ngay, huynh đệ có thể giết nhau để đoạt cái ngai vàng. Đó là tài sản lớn, giờ cái nhỏ hơn nữa là tài sản của ông đại gia, nhỏ hơn nữa là gia đình khá giả, nhỏ hơn nữa là gia đình bình thường, nhỏ hơn nữa là chỉ có mấy tấc đất thôi mà xảy ra 4, 5 án mạng. Vậy có phải miếng đất đó, cục vàng đó, khối tiền đó, cái ngai vàng đó có phải là khổ không? Đức Thế Tôn nói “Này các Tỷ-kheo, sắc là khổ, con mắt là khổ”. Không có con mắt, không thấy thì làm sao biết cái đó nó quý, rồi không có nhận thức bên trong, rõ biết cái đó giá trị thì sao mà giành. Vậy sao không giành cái đống thân đó đi, cái mộ trong nghĩa địa, nghĩa trang sao không giành? Thành ra con mắt, các sắc, sự rõ biết các sắc này là khổ. Nó thâm sâu lắm chứ không phải đơn giản như mình đọc rồi mình nghe phớt qua.
Sự rõ biết của con mắt tức là nhãn thức là khổ, sao kỳ vậy, từ nơi rõ biết của con mắt tại sao nó làm cho mình khổ? Bây giờ mình nhìn thấy người đó “đẹp dữ vậy ta”, trúng ngay cái gu của mình, rồi về ăn không ngon, ngủ không yên. Trong này nó thúc giục, nó vận hành những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ làm sao phải đi, làm sao phải tiếp xúc, làm sao phải đoạt cho được, phải có cho được người đó, không có người đó thì khổ, thậm chí là tương tư, thậm chí là tự giận chết. Như vậy câu “Này các Tỷ-kheo, sự rõ biết các sắc là khổ” nó thâm sâu vô cùng.
Bây giờ mình học sâu hơn nữa về nhiếp phục cảm thọ khi ba pháp hội tụ, con mắt, các sắc, sự rõ biết các sắc, nhãn xúc sanh ra cảm giác. Cảm giác mà nó sanh khởi khi con mắt tiếp xúc là khổ, tới giờ thì điều này nó thấm vô da, vô thịt, vô xương rôi vô tủy. Cho nên hồi xưa lúc chưa đi vô dòng pháp này, con đọc thì thấy Đức Phật nói “Quán cảm thọ khổ giống như mũi tên, quán cảm thọ vui nó là khổ, quán cảm thọ không vui không khổ nó vô thường, phải quán như vậy”, sao kỳ vậy? Cảm thọ khổ giống như mũi tên thì mình dễ hiểu là cảm thọ làm cho mình khổ, mình nhức nhói, mình đau đớn giống như mũi tên châm vô trong người mình. Nhưng tại sao lại quán cảm thọ vui nó là khổ, vui là sướng tại sao lại quán nó là khổ, rồi cũng quán cảm thọ không vui, không khổ là vô thường, tại sao? Những điều này đòi hỏi phải quán chiếu, phải chiêm nghiệm sâu sắc. Đức Phật nói kẻ vô văn phàm phu, khi có cảm thọ vui, lạc thọ giống như người bị trói buộc. Con hỏi thực tế mấy chú tập sự xuất gia, mấy chú công quả, bây giờ mình nhìn trong nội tâm những cảm giác mình từng kinh qua về dục nó có làm cho mình khổ không? Những cảm giác ngày xưa mình thấy vui sướng, thích thú bây giờ ngồi lại có thấy nó hành hạ mình khổ không, muốn vượt qua nó, muốn đánh tan hết tất cả những ám ảnh trong nội tâm của mình là dễ hay khó? Đó, cảm giác vui là khổ, tại vì mình bị trói buộc trong cảm giác vui.
Kẻ vô văn phàm phu, này các Tỷ-kheo, đối với cảm thọ khổ thọ, lạc thọ, bất khổ bất lạc thọ đều giống như người đang bị trói buộc.
Cảm thọ nào cũng bị dính hết. Bây giờ cảm thọ làm cho mình khổ, mình bực bội, mình sân hận lên, mình có bị trói buộc trong cảm thọ đó không? Người nào làm cho mình tức tối, mình hận thù thì mình cũng bị trói buộc trong cảm thọ, cảm giác đó luôn. Nó cực kỳ là thâm sâu, phải thực tập, quán chiếu, nhìn thấy bằng trí tuệ. Còn cảm thọ không khổ, không vui mình có bị trói buộc không? Thí dụ, mình sắp xả thiền, thì sư phụ lên giảng,“Sư phụ lên chi, xả thiền khỏe rồi, giờ lên bắt ngồi, 6 giờ nghỉ được rồi”. Thì đó là cảm thọ không khổ, không vui, đều đều, nó đang trói buộc cho nên giờ đổi một cái là mình khổ. Cứ đều đều, boong boong lên ăn, chen chen đi ngủ, mình bị trói trong cảm thọ đều đều đó, nên khi khác cái đều đều đó là mình khổ. Hiều và thấy được cái chỗ này không? Nhiều thí dụ lắm, mà cái đều đều này chết nhiều hơn là hai cái kia thô dễ thấy. Nhiều khi có Phật tử hay là Quý Thầy, Quý Cô, ngay cả bản thân mình thấy rằng“Con thấy con tu an ổn lắm, không có tham sân, mỗi ngày đến giờ tụng kinh thì con tụng kinh, tới giờ ngồi thiền thì con ngồi thiền, tới giờ ăn cơm thì con ăn cơm, đều đều, con không có chưởi ai, không có sân hận ai, cũng không dính mắc tình cảm với ai hết”, thì đó là cái chỗ chết. Đều đều như vậy thì có nhìn thấy cảm thọ không, có nhìn thấy tưởng, nhìn thấy hành không? Có nhìn thấy được sự tham ái, chấp thủ đối với ngũ uẩn không? Cái đều đều đó là cái gì đều đều? Thân kiến đều đều, vô mình phong tỏa đều đều, tham ái một đời sống an an, ổn ổn, lơ lơ, lửng lửng qua ngày như vậy đều đều.
Cho nên bình thường mình không quán chiếu cái khổ, cái bệnh, mình thấy mình không có khổ, mình khỏe mạnh đều đều “Từ nhỏ tới lớn, tôi không uống viên thuốc nào hết, tôi khỏe lắm”, tới chừng dịch bệnh thì lúc đó mình khổ vô cùng, lo lắng, sợ hãi vô cùng. Bây giờ tự thân của một người thường quán chiếu cái khổ về sanh, già, bệnh, chết tới khi dịch bệnh thì thấy cái này đúng rồi, cái này Đức Phật nói thì đúng rồi, hàng ngày mình đã thấy rồi, cái này chẳng qua càng làm rõ hơn chân lý Đức Phật dạy thôi, nó chứng thực cái vô thường, cái khổ của cuộc đời này thôi. Người đó không có khổ tại vì người đó thường thấy khổ cho nên khổ đến người ta không có khổ, còn người đều đều khi có biến động tới là người đó khổ. Cho nên mình rất dễ bị vướng vào cảm giác đều đều, không khổ không vui, cái này nguy hiểm lắm, đó là si, cứ trơ trơ vậy đó. Có mấy chú tâm sự “lúc đầu con tu con hăng hái, con thấy nhiệt huyết, nóng bỏng, con trào dâng nước mắt, cảm thọ cảm xúc hỷ lạc, nhưng tại sao bây giờ ở 6 tháng trong chùa rồi con thấy con trơ trơ”, như vậy là nguy hiểm. Phải làm cho sanh khởi lên, hun đúc lên những cảm giác, phải quán chiếu vô thường, khổ, quán chiếu về cha mẹ mình, quán chiếu người thân mình để phá được cảm giác trơ trơ, trơ lì, đều đều, bất khổ bất lạc thọ đó. Thành ra mình bị trói cột trong cái đều đều, cái bình thường là như vậy.
Đức Phật nói “Này các Tỷ-kheo, phàm tất cả cảm thọ đều nằm trong đau khổ”.
Câu này hồi đó Minh Thành học nhưng Minh Thành không có hiểu, thấy như vậy là bi quan, tiêu cực. Giờ con thí dụ, người này ở trong tù, ngày nào cũng được cho ăn miếng cơm, miếng rau thì người này thấy không có đồ ăn, khổ, vì ở nhà đồ ăn ngon, ăn sung mặc sướng. Nhưng khi người này có được một bữa ăn thịnh soạn thì vui không, tuy được món ăn ngon nhưng vẫn ở trong tù, dầu cho ăn ngon hay ăn dở thì cũng không tốt. Rồi có khi ăn ngon là chuẩn bị đem ra xử bắn hay là tiêm thuốc độc, nên chừng nào người này đi ra khỏi tù thì mới thật sự là vui. Cho nên bây giờ cảm giác của mình là khổ hay vui cũng vẫn giống như là tù nhân, mình phải thoát ngục. “Này các Tỷ-kheo, phàm tất cả cảm thọ đều nằm trong đau khổ”, tại vì cảm thọ trong vô minh, cảm thọ trong tham dục, tham ái, khát ái, cảm thọ trong tà kiến, trong thân kiến, trong vọng kiến, trong kiến chấp, chấp thủ, thì cảm thọ đó làm gì có lạc. Bây giờ một người bị nhiễm nCoV đang nằm trong bệnh viện, mình vô cho họ món quà đắt tiền, quà quý, họ đang nhiễm nặng, thở bằng máy thở, tuy còn nhận thức được nhưng họ vui sướng không? Sao được món quà quý, giá trị như thế mà không vui sướng, vì không xài được. Mình phải quán chiếu như vậy.
Cho nên chỗ này là chỗ thâm sâu, tại sao tất cả cảm thọ đều nằm trong đau khổ, ăn ngon hay ăn dở gì cũng là tử tù chung thân. Lúc nào mình cũng quán chiếu mình đang ở tù trong cái ngũ uẩn này, mình là nô lệ cho cái tham ái, tham dục này. Ngày nào mình chinh phục được nó, mình đánh gục được nó, mình hạ thủ, hạ xác, mình đạp nó mình đi lên thì ngày đó mới là ngày vui sướng. Ngày nào mình thật sự nhiếp phục được tham, sân, si, vô minh và bản ngã; thật sự đánh gục, làm cho nó tê liệt, bại liệt, mình phá tan, phá sạch, phá vỡ, phá tung ngôi nhà bằng đất của ngũ uẩn, của tứ đại này; ngày nào mình nhìn vô sắc này không phải là tôi, không phải của tôi, sắc này là khổ, sắc này là vô thường, sắc này là trống rỗng vô ngã; ngày nào mình đều nhìn tất cả các cảm thọ này là đồ mây khói, dầu cho một cảm thọ vui sanh khởi lên mình cũng không bị vướng mắc, hay là một cảm thọ khổ sanh khởi lên mình cũng không bị nó xâm chiếm, hay là cảm thọ bất khổ, bất lạc này mình cũng nhìn thấy trong đó một thứ vô thường, tất cả những cái tưởng, tất cả suy nghĩ, các hành mà ngay cái nhận thức rõ biết này mình cũng thấy nó là đồ trống rỗng, là trò ảo thuật thì ngày đó mới là ngày thoát ngục.
Mới hôm qua thôi, dưới miền Tây, những người công nhân xây tấm tường dài mấy chục thước, cao mười mấy thước, nó đổ xuống một cái làm chết một lượt 5-7 người. Trước đó, cũng có xảy ra tai nạn lao động như vậy và những người công nhân này cũng nói, cũng cười, cũng giỡn hớt khi họ đang làm, họ vui chứ, nhưng vui đó là vui trong vô minh. Họ không biết chút xíu nữa đây, 2-3 tiếng đồng hồ nữa đây, 30 phút nữa đây, 15 phút nữa đây tất cả những người bạn, anh em của mình sẽ bị đè, tắt hơi dưới đống tường đổ nát, dưới cả một khối gạch, đá, bê tông, họ không biết, nếu họ biết là họ tránh, họ đâu có bị như vậy. Những người nhiễm bệnh cũng vậy, họ nghĩ họ không có bệnh, bên các nước phương Tây, Âu Mỹ, nói những người bệnh mới đeo khẩu trang. Họ nhận thức không chính xác, không hiểu rõ sự nguy hiểm đúng mức của bệnh và cuối cùng không phải 10 người, không phải 100 người, không phải 1000 người, không phải chục ngàn người, mà là 100 ngàn người, 10 vạn người, nay đã lên gần 20 vạn người, khoảng 180 chục ngàn người chết, bị nhiễm gần 2 triệu 600 ngàn người. Tất cả chúng sanh không thấy được sự nguy hiểm, nguy hại, tác hại khủng khiếp của vô minh, tham ái, chấp thủ, chấp ngã, họ không biết nên toàn thế giới, khắp hành tinh bị đánh gục, bị xâm chiếm, bị áp đảo, bị làm cho thống khổ khắp cả vũ trụ, hoàn vũ này.
Chúng ta là những người đại phúc duyên mới nghe được Chánh pháp, hiểu được Chánh pháp, thực tập được Chánh pháp nên phải cố gắng phấn đấu, ý thức sâu sắc giá trị, ý nghĩa tối thượng của Thánh pháp. Từ đó, mình nỗ lực hành trì để thoát ra khỏi sắc, con mắt, sự rõ biết, cảm giác và những tham ái, sự chấp thủ sanh ra cái hiện hữu này; thoát ra khỏi căn, trần, thức, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, rồi sầu, bi, khổ, ưu não, sanh tử tiếp diễn, tiếp nối.
Tuyệt vời lắm, hãy cố gắng học và tu, mình sẽ thấy từng bước, từng bước đi ra khỏi thế giới này. Đi ra khỏi những suy nghĩ, cảm xúc, nhận thức thấp hèn, thấp kém, vô minh, mình sẽ bước vào trong ánh sáng, sẽ từ bỏ những thứ làm khổ người, khổ mình; mình đau, người đau; mình sầu, người sầu; mình bi, ưu não, và người khác bi, ưu não. Mình sẽ dần dần làm cho nó cạn kiệt, khô kiệt, làm cho nó diệt tận.
./.