Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Thánh Trí Năm Uẩn 13 - Thấy rõ sanh diệt

2026-03-03 00:54:11
Thánh trí năm uẩn 13 – Thấy rõ sanh diệt

-THÍCH MINH THÀNH-

Thế Tôn nói với Tôn giả Ananda đang ngồi một bên:

- Này Ananda, nếu có người hỏi Ông: " Này Hiền giả Ananda, những pháp nào sự sanh khởi đã được thấy rõ, sự diệt mất được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi được thấy rõ? " Nếu được hỏi vậy, này Ananda, Ông trả lời như thế nào?

- Được hỏi vậy, bạch Thế Tôn,con sẽ trả lời như sau: "Trong sắc, này Hiền giả, sự sanh khởi được thấy rõ, sự diệt mất được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi được thấy rõ. Trong thọ... Trong tưởng... Trong các hành... Trong thức, này Hiền giả, sự sanh khởi được thấy rõ, sự diệt mất được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi được thấy rõ ". Được hỏi vậy, bạch Thế Tôn, con sẽ trả lời như vậy.

- Lành thay, lành thay, này Ananda! Được hỏi vậy, Này Ananda, Ông phải trả lời như vậy. (Tương Ưng Bộ Kinh, Tập III. Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn – Phần 22a – A. Năm mười kinh căn bản, IV. Phẩm không phải của các ông, bài kinh Ananda)

Tất cả các sắc chất, vật chất, thân thể, nhà cửa, ruộng vườn, đất đai, xe cộ, tiền bạc khi nó sanh khởi lên mình thấy rõ nó mới vừa có; khi nó tồn tại, biến đổi mình thấy rõ và khi nó hết nó chấm dứt, hoại diệt mình thấy rõ. Ở trong sắc thấy rõ sanh diệt vô thường biến đổi, tan hoại. Trong cảm giác – thọ, trong hình bóng nội tâm – tưởng, trong các suy nghĩ – hành thấy rõ, trong nhận thức, nhận biết – thức thấy rõ. Cảm giác của mình khi sanh khởi lên mình thấy, khi nó tồn tại, biến đổi và khi nó chấm dứt mình thấy. Tại sao mình thấy được – “Này các Tỳ Kheo hãy tu tập thiền định”. Người tu tập thiền định các pháp này như thật hiển hiện, sắc như thật hiển hiện, cảm giác như thật hiển hiện, những hình bóng trong tâm như thật hiển hiện. Khi mình thiền định, những suy nghĩ lầm bầm nói luyên thuyên như thật hiển hiện, mình đọc được, nhận thức những thứ đó, sự rõ biết như thật hiển hiện. Nó sanh khởi, an trú, biến đổi, hoại diệt như thế nào như thật hiển hiện. Không thiền làm sao thấy, không thấy làm sao biết, không biết thì sao thấy được tính chất vô thường, sanh diệt của nó. Thấy vậy bậc Đa văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với đống sắc, với những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ, nhận thức sanh khởi ra tham, sân, si, vô minh, bản ngã. Không muốn sống trong cái nhận thức đó vì đó là nhận thức để sanh ra tham, sân, si, nhận thức sanh ra bản ngã, ganh tỵ, đố kị hơn thua, chấp trước, chấp thủ. Nhàm chán những nhận thức đó, dùng thức diệt thức. Không thọ những cảm giác sanh khởi ác bất thiện pháp, đóng cửa lại, mời anh đi chỗ khác chơi, tôi không tiếp. Đâu phải người nào lại nhà mình cũng tiếp, đâu phải ai mời mua đồ mình cũng mua. Cũng vậy những cảm giác sanh khởi lên mình muốn thọ thì thọ, còn không thọ thì cũng do mình. Cho nên bậc A-la-hán không thọ tất cả pháp và tâm được bất động. Không thọ ở đây không phải là cố gắng để không thọ mà do thấy tính chất đồ đó là không đáng để nhận, để tham. Vì vậy quay trở về cái Chánh tri kiến, không có tri kiến thì không làm gì được, không có chân đứng trong pháp và luật, không có nền làm sao xây nhà lên được.

Cho nên Đức Phật nói sự sanh diệt và biến đổi của 5 uẩn được thấy rõ với 1 tâm an định, với 1 sự nhận diện 5 uẩn, với sự nội soi, nội quán, nội chiếu, nội tĩnh nhất tâm tuyệt vời. Còn cái thấy nào mà sánh bằng cái thấy 5 uẩn này? Đây là cái thấy vô thượng, kiến vô thượng, văn vô thượng, học tập, phụng sự, lợi đắc vô thượng. Khi nhớ về món đồ, con người nào đó mình bị dính mắc thì mình không chạy theo món đồ, hình ảnh con người đó. Khi đó mình quay lại nhìn tâm nhớ, tâm dính mắc để xử lí cái tâm đó. Mình thấy sự sanh diệt, biến đổi để mình không bị dính mắc nữa mà thấy nó là đồ sanh diệt, đồ bại hoại, biến đổi.

Tham dục đối với ngũ uẩn là tùy phiền não của tâm, đó là sự tham muốn, yêu thích mê say đối với cái thân xác này, đối với đồ vật, đối với cảm giác, nghĩ tưởng, nhận thức. Sự ham muốn, dính mắc đó là một thứ phiền não mà nó đi theo hoài ở trong tâm mình gọi là tùy phiền não của tâm.

Này các Tỷ kheo dục tham đối với sắc, thọ, tưởng, hành, thức uẩn là tùy phiền não của tâm. Này các Tỷ-kheo, khi nào vị Tỷ-kheo đối với năm xứ này, đoạn tận được tùy phiền não, thời tâm vị ấy hướng về ly dục. Do biến mãn với ly dục, tâm vị ấy được xem là kham nhẫn, chứng tri đối với các pháp cần phải giác ngộ.( (Tương Ưng Bộ Kinh, Tập III. Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn – Phần 22a – C. Năm mười kinh sau, Chương VI. Tương ưng phiền não)

Đây là 5 chỗ mà dục tham hướng đến: thân thể, đồ vật, tài sản,... Lâu lâu có thấy nhớ nhà dưới quê của mình không, đó là dục tham đối với căn nhà đi theo tâm. Khi tâm mình ham thích, dính mắc cái đó thì đi đâu cái thích cũng đi theo đó gọi là tùy phiền não của tâm. Thí dụ mình qua tới Mỹ, mình có cái nhà ở bên đây thì mình có nhớ không? Những cặp vợ chồng đi qua nước Mỹ ở, mà vợ bên này, chồng bên kia thì có nhớ không? Đây gọi là tham dục đối với 5 uẩn là tùy phiền não của tâm. Tùy là đi đâu nó cũng đi theo, nó ở bên trong tâm, nhìn người đó đi có 1 mình nhưng trong tâm nó không phải là một mình. Cho nên Đức Phật nói “Ái là người thứ 2, dầu cho người đó ở trong căn nhà trống vắng, không một bóng người nhưng Ta cũng tuyên bố rằng người đó không phải là người ở một mình”, tại vì ái chưa được đoạn tận. “Này các tỳ kheo, dầu cho vị Tỷ-kheo ở chung với các Tỷ-kheo khác ở chung đại chúng đông người nhưng ái trong người ấy đã đoạn tận thì Ta cũng tuyên bố rằng người đó sống một mình”. Đó là việc làm xong của của các bậc A-la-hán, những vị đó mới thật sự là người sống 1 mình, sạch hết tất cả. Mình phải hướng tâm đến địa vị đó. Cũng như mình lên núi rồi mà có bao nhiêu những cái trong tâm mình thì đó là tùy phiền não của tâm. Nó nhớ những cảm giác ở dưới núi, nhớ những hình bóng ở dưới núi, suy nghĩ về những cái nó thích ở trong quá khứ rồi tới tương lai, đó là phiền não đi theo tâm. Mình đi tới đâu nó đi theo mình tới đó, như vậy thì giải quyết ở bên ngoài làm sao được, cầu ai khác giúp mình diệt phiền não sao mà được. Dầu cho Đức Thế tôn ở trước mặt cũng không làm cho mình hết tùy phiền não trong tâm. Đức Phật không làm gì được bản ngã bên trong mình mà Phật chỉ cho mình cách và mình phải tự xử lí, nó ở trong tâm mình thì không ai làm giùm được, cái mê bên trong thì không ai làm được chỉ có tự mình tỉnh thôi.

Tự mình, làm điều ác,

Tự mình làm nhiễm ô,

Tự mình không làm ác,

Tự mình làm thanh tịnh.

Tịnh, không tịnh tự mình,

Không ai thanh tịnh ai!

(Kinh Pháp Cú – Phẩm Tự Ngã)

Chỗ thâm sâu của pháp là như vậy, đây là chỗ thật sự mà Đức Phật muốn truyền tải trong tạng kinh Nikāya. Người tu đến mức độ thâm sâu trong Nikāya thì sẽ có sức mạnh khủng khiếp. Không còn hướng ngoại bất cứ 1 cái gì, dầu cho thiên thần hỗ trợ người này cũng không bị dính mắc, tham đắm, tại vì mình tu xa lìa 5 uẩn mà tất cả cái khác đều là 5 uần. Những lời Đức Phật nói trong tạng kinh Nikāya khai thác triệt để toàn thể tác dụng, sức mạnh, trí tuệ của một con người, không có lệ thuộc bất cứ cái gì kể cả 5 uẩn mặc dù 5 uẩn trùm cả thế giới. Mình phải hướng đến cái đó còn không tối ngày chỉ cầu xin. Trong khi mấu chốt là ở tự thân, chuyển đổi cách nhìn của mình, tháo gỡ, ói ra, mửa ra, bỏ ra thì mình không chịu cứ cầu người này người kia độ cho mình bỏ thì không thể được. Thí dụ cái tay, cái tâm mình cứ nắm chặt mà kêu ai đó độ cho con bỏ xuống thì sao mà được, trên tay mình còn có thể gỡ được còn trong tâm thì làm sao gỡ được. Những cái thọ, tưởng, hành, những cảm giác, hình bóng, nghĩ tưởng trong tâm ai mà gỡ được. Đó là chỗ tối thượng của Đức Phật, chỉ có Chánh tri kiến mới giải phá được chấp ngã. Những dục tham đối với tài sản, thân thể, đối với những cảm giác, nghĩ tưởng, nhận thức này là những thứ phiền não đi theo tâm của mình. Mình đoạn dứt được tham muốn ở 5 nơi sắc, thọ, tưởng, hành, thức thì tâm vị ấy hướng về ly dục, hướng về chỗ không tham muốn đối với năm uẩn, năm pháp này mà cũng là đối với toàn thể nhân sinh và vũ trụ. Khi biến mảng với ly dục tức là không còn tham muốn đến mức đỉnh điểm, cùng tận thì tâm vị ấy được xem là kham nhẫn, chứng tri đối với các pháp cần phải giác ngộ. Đức Phật gọi đó là nhẫn, ở đây mình gọi là vô sanh pháp nhẫn, hoàn toàn không còn ham muốn gì đối với 5 uẩn thì chứng tri đối với các pháp giác ngộ, tức là lúc đó chứng ngộ trạng thái tâm bất động, ly tham hoàn toàn đối với 5 uẩn.

Chấp thủ là nguồn cội của ưu não, bài kinh Chấp thủ và Ưu não trong Tương Ưng Bộ Kinh Tập 3:

Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng cho các Ông về sự chấp thủ và ưu não, sự không chấp thủ và không ưu não. Hãy lắng nghe và khéo tác ý, Ta sẽ giảng.

- Thưa vâng, bạch Thế Tôn. Các vị Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.

Thế Tôn nói như sau:

- Này các Tỷ-kheo, thế nào là chấp thủ và ưu não?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu không thấy rõ các bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh, không thấy rõ các bậc Chân nhân, không thuần thục pháp các bậc Chân nhân, không tu tập pháp các bậc Chân nhân, người ấy quán sắc như là tự ngã, hay tự ngã như là có sắc, hay sắc ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong sắc.

Tức là người không gặp bậc Thánh nhân, không học pháp của Thánh nhân, không tu tập dưới dự hướng dẫn của bậc Thánh nhân thì người đó cho rằng thân thể này là mình, mình ở trong thân thể này. Cho nên khi thân thể này biến đổi và tan hoại thì tâm thức của người đó đi theo sự biến đổi tan hoại của thân thể này thì người đó sanh khởi lo lắng, sợ hãi và khổ đau

Đối với vị ấy, khi sắc ấy biến hoại và đổi khác, thức tùy chuyển theo sự biến hoại của sắc. Các pháp ưu não sanh khởi do thức tùy chuyển theo sự biến hoại của sắc sau khi xâm nhập tâm và an trú. Do tâm bị xâm chiếm nên khủng bố, chướng ngại, khát vọng được sanh khởi và ưu não. (Tương Ưng Bộ Kinh, Tập III. Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn – Phần 22a – A. Năm mười kinh căn bản, I. Phẩm Nakulapità, bài kinh Chấp thủ và Ưu não)

Mình bị tai nạn rồi, mình bị biến đổi, biến hoại rồi, mình bị bệnh, sắp sửa chết rồi, người ta nói là “mình”, chứ không nói là sắc thân này nó bệnh, nó biến hoại. Thí dụ đang khỏe mạnh, đi khám bệnh ra ung thư giai đoạn cuối thì người này suy sụp tinh thần, lo lắng, sợ hãi, đau khổ. Tâm người này hoàn toàn bị xâm chiếm vì mình sắp sửa chết, mình thời kì cuối rồi, người này cảm giác đau khổ, hình bóng trong tâm hiện ra mình nằm đó sắp sửa chết, suy nghĩ vòng quanh cái đó, thức hoàn toàn bị xâm chiếm. Đó là tại vì người này nhận 5 uẩn là mình, cho rằng những cảm giác này là mình, những hình bóng trong tâm, những suy nghĩ, nhận thức rõ biết là mình. Tâm người này hoàn toàn bị lo lắng sợ hãi xâm chiếm, nó ở trong đó, an trú trong đó, khủng bố, hoảng sợ, kinh sợ, khiếp sợ. Cho nên mình thấy những người gần chết khủng khiếp lắm, mình phải đặt mình vô. Ngồi thiền quán mình bị nhiễm dịch, đặt mình vô trường hợp đó rồi coi thọ, tưởng, hành của mình vận hành thế nào. Đó là kinh Nikāya, 3000 năm trước Đức Phật đã nói đến dịch bệnh.

Người đó cho rằng mấy chục kí lô này là mình, những cảm giác, những nghĩ tưởng này là mình. Thí dụ, khi già nhưng vẫn không chịu buông xả tâm yêu thích mến, dính mắc với cái nhà, thì lúc gần chết, nằm trên giường bệnh thì lúc đó hình bóng ngồi nhà hiện ra, cảm giác tiếc nuối sanh khởi, những suy nghĩ đau khổ vì khi mất mình phải bỏ lại ngôi nhà sẽ diễn ra. Tâm thức mình nếu thật là nặng thì sẽ trở về ở căn nhà đó. Có nhiều trường hợp, nếu mình có phước thì sanh ra làm người lại thì ở gần gần chỗ đó, hoặc sanh ra làm cháu, làm con của con mình hoặc làm con của cháu mình và ở căn nhà đó. Còn nếu nghiệp mình nặng không được làm người, quá nặng về vàng, tiền, bạc thì mình sẽ ở vất vơ vất vưởng, ở lẩn quẩn trong chỗ đó. Khi vừa chết, tâm thức của mình với những cảm giác, nghĩ tưởng, nhận thức cộng với nghiệp đẩy mình đến ngay chỗ đó, cho ở lại đó mà giữ. Khi vừa chết, ngay lập tức cái nặng nhất lôi mình đi. Thí dụ mình đến khu vui chơi, chỗ nào mình thích nhất thì mình đi thẳng đến chỗ đó thôi, cũng vậy sức của nghiệp cộng với ái cộng với thọ, tưởng, hành của mình dồn lại làm lực đẩy mình đi đến chỗ đó. Cho nên có những người không siêu thoát được, làm cô hồn, ngạ quỷ là tại vì họ không đi ra được, phải ở chỗ đó.

Vì vậy, từ bây giờ, mình tập xả ly hẳn những cái ái, xả ly hẳn trong tâm mình, để khi nghĩ về nó mình không còn luyến tiếc, không còn ràng buộc thì mình ra đi sẽ thanh thoát, nhẹ nhàng. Nhất là tuổi già hàng 70 trở lên, phải làm cái tâm mình được sạch sẽ, được mát mẻ, tháo gỡ những dính mắc, không cho nó còn dính gì nữa hết, giải quyết hết, buông xả hết để khi ra đi không còn gì lôi kéo nữa. Không còn gì hết thì mình sẽ theo nghiệp lành của mình mà đi lên cao. Đây là chỗ hết sức quan trọng, khi sắp sửa ra đi thì cái gì nặng nhất sẽ lôi mình đi. Có câu chuyện, bà hoàng hậu chết, sanh ra thành con sâu ở trong lỗ mũi của thân xác bà ấy, vì quá yêu thích thân xác đó, còn trẻ đẹp, chức quyền như vậy cộng với nghiệp ái nặng nề nên không siêu thoát được. Có những trường hợp làm ngạ quỷ, có trường hợp làm súc sanh, tức là làm thú vật bám lại cái thân của nó. Cho nên có những loài không siêu thoát được là do nó cho rằng nó không chết. Bất thình lình làm cái rầm thì sắc tan nhưng thọ, tưởng, hành, thức vẫn còn, nó không tin là nó chết nên cứ ở ngay chỗ đó. Vì vậy lâu lâu mình thấy người ta làm miếu, thờ cúng vì nó ở ngay chỗ đó hoài không đi, nó cho rằng mình còn sống chứ chưa có chết. Đức Phật dạy mình sự xuất ly, ly tham hay lắm, vì lúc ra đi tâm thức mình nhẹ lắm, như vậy nó mới được thăng lên bằng không là lần quần, bị kéo xuống.

Cho nên khi lớn tuổi, không cho bất cứ cái gì làm nặng nề trong tâm hết bao gồm tất cả tài sản, con cháu. Con luôn nói với đại chúng là 24/24 bất cứ chỗ nào mình cũng nghĩ chỗ này mình có thể ra đi, mình dự bị với 1 tâm như vậy thì lúc ra đi mình nhẹ tênh vì đã chuẩn bị rồi. Cũng giống như bây giờ mình đi Mỹ, chuẩn bị đi Châu Âu hay chuẩn bị đi về quê nhưng đồ đạc của mình đã chuẩn bị sẵn sàng thì khi mình chết cũng y chang như vậy. Tức là mọi cái mình chuẩn bị sẵn sàng hết thì đến chừng chết có là gì đâu vì mình đã chuẩn bị hết rồi. Cho nên sự thành bại lớn lao, quan trọng thật sự nhất của mình là giây phút chuẩn bị tắt thở, đó là giây phút quan trọng nhất cuộc đời. Có những người bình thường làm thiện nhưng tới lúc đó bị 1 cái gì làm cho oán hận, thì tâm hận cuối cùng đó có thể đẩy họ đi vô đường súc sanh. Đường súc sanh nhưng làm con voi cho vua cưỡi, đó là nhờ phước cho nên đính trên mình nó là thảm, ngọc và vàng nhưng nó là 1 con voi. Voi cũng có voi chúa, voi bình dân, voi sang, voi lãnh đạo nhưng thà làm người nghèo 1 chút còn hơn là làm voi. Thành ra giây phút chuẩn bị lâm chung là quan trọng cực kì, vì nó là cánh cửa để mở cho đời tiếp theo. Đó là lí do tại sao nói Chánh niệm lúc lâm chung quan trọng lắm, nếu bây giờ mình không chuẩn bị sẵn thì tới lúc bất thình trừ người nào có phước đức lớn nhiều lắm cũng làm người thôi, tại vì người ta gieo phước báu vô trong chỗ đó nên được phước ngay y chang chỗ đó. Thí dụ con nghiêng tâm về pháp nhiều thì từ đây cho đến ngày lậu tận thì lúc nào sanh ra con cũng làm pháp sư, vì đó là lí tưởng cuộc đời mình, là hơi thở, là sinh mạng. Còn người chuyên nghiêng về vấn đề tu tập hay người chuyên nghiêng về vấn đề công quả, nếu người đó Chánh tri kiến thì người đó chắc chắn đi đến chỗ lậu tận, còn nếu không có Chánh tri kiến thì nghiêng về đâu cũng đổ hết, không đi đến thành quả. Cho nên tâm mình đặt nặng về cái nào thì cái đó sẽ đưa mình đi. Cho nên giây phút cuối cùng, giây phút cận tử nghiệp là hết sức quan trọng. Lúc mình nằm giường bệnh, trong hơi thở cuối cùng trước khi ra đi phải chánh niệm, tỉnh giác, xả ly thì nhất định sanh người cũng là nhân vương hoặc lên chư Thiên, lên các tầng trời. Lúc đó mà nặng nề nhớ cháu, nhớ con, nhớ căn nhà dưới quê chưa biết chia ai, lo lắng lớn nhỏ giành giật thì sẽ trở về đó đầu thai lại làm con của cháu hoặc là con của con mình ở chỗ đó, tiếp tục nghiệp quả. Đừng nhìn đây là cháu nội, cháu ngoại của mình, không chừng đó là ông cố quay trở lại. Nhiều khi mình thấy nó nhỏ 3 tuổi, 5 tuổi mà nói chuyện như cha mình, như sếp sòng vậy, đólà trở lại. Thành ra trong thân tộc mình thấy lớn nhỏ vậy nhưng không có thật, đó là do nghiệp chiêu cảm ra.

Cho nên phải tu tập tín, tấn, tàm, quý, văn, thí, tuệ. Niềm tin với giáo pháp, nghe pháp để tăng trưởng trí huệ, siêng năng, đi khóa tu, cố gắng hành trì buổi tối, buổi khuya được cả được 2 thời thì tuyệt vời. Những gì mình còn sân si, bản ngã mình phải cảm thấy nhục nhã, hổ thẹn, đó là tàm quý. Mình phải lo lắng sợ hãi nếu còn giữ những tham, sân, si, bản ngã là đời sau mình sẽ đi vô những chỗ khổ. Đó là 7 gia tài của bậc Thánh mà Đức Phật truyền trao cho mình, có gia tài này rồi khi đi thì đời sau chỉ có đi lên thôi, sanh ra làm người cũng là có địa vị cao, có phước đức, trí huệ, còn nếu không sanh cõi người thì sẽ lên cõi trời. Nuôi dưỡng được Chánh tri kiến này và nếu trong đời này thành tựu được Thánh tri kiến, Nhập lưu hoặc hướng Dự lưu thì sanh lên làm Thánh đệ tử Thiên chứ không phải là phàm phu Thiên. Chư Thiên có 2 loại: 1 loại là chư Thiên hết phước, lọt xuống địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, rất ít vị sanh làm người. Dạng thứ 2 là Đa văn Thánh đệ tử Thiên, là chư Thiên nhưng là bậc Thánh nhân, đã vào 4 đôi 8 chúng, chư Thiên đó không bao giờ rớt lại nhân gian, chỉ có thẳng tới lậu tận. Con muốn Ông Năm, Bà Năm, phải vô được hàng Thánh đệ tử Thiên, muốn được vậy thì từ đây tới ngày chết phải nỗ lực lắm mới được, có như vậy thì con mới báo đáp hết công đức, hiếu thảo đối với cha mẹ. Con nhắc như vậy nhưng quan trọng là tự thân của 2 người, phải nỗ lực, cố gắng giữ tâm nhẹ nhàng để mình tu, dành nhiều thời giờ để tu.

Và này các Tỷ-kheo, như thế nào là không chấp thủ và không ưu não?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Đa văn Thánh đệ tử…

Chữ “Đa văn Thánh đệ tử” là khẩu quyết của Nikāya, Thánh đệ tử là phải đa văn, mỗi ngày mình nghe, mình quán như vậy nhưng khi trở ra là quên mất tiêu, còn nếu không nghe thì sẽ quán gà hết. Cho nên mỗi 1 ngày phải nghe Nikāya, phải nghe giảng nhiều tiếng đồng hồ để tẩy não. Vì vô lượng vô biên kiếp mình đã nhồi sọ cho rằng thân thể, cảm giác, nghĩ tưởng, nhận thức này là tôi. Cứ nghe hoài để nhận thức không có gì là tôi, không có gì là của tôi, sắc không phải là tôi, thọ không phải là tôi, tưởng không phải là tôi, hành không phải là tôi, thức không phải là tôi, vô minh, tham ái này là thứ ác độc, nguồn cội của khổ đau. Cứ nghe hoài như vậy chứ đừng nghĩ cái này mình nghe rồi, phải nghe nữa, nghe 10 lần, 10 ngàn lần, 100 ngàn lần, 1 triệu lần, nghe tới lúc nào thể nhập Thánh tri kiến, vô tới Dự lưu. Lúc đó không nghe cũng không được tại vì cái nhìn lúc đó của mình đã là pháp. Bậc Tu-đà-hoàn nhìn đâu cũng là pháp, lúc đó là pháp thuyết, vì vậy mình phải cố gắng trong giai đoạn đầu. Mấy chú ở bên Nhật nói ở Linh Quy tu hơn trong các Thiền viện lớn của toàn quốc. Thời khóa của mình là dành 8 – 10 tiếng cho tu học, đó là quá thương rồi, không hiểu nữa thì thôi. Chứ nếu về đây là phải bắt làm cảnh đẹp để đăng facebook, chụp hình lên đây là Linh Quy Pháp Ấn, ngày nào cũng có người đến làm, cứ 1 tháng là đổi 1 lần, nửa tháng là đổi cảnh mới, 3 tháng về là thấy công trình mới. Có chịu như vậy không? Đức phật thời xưa khất thực, nghe pháp, ngồi thiền như vậy thôi rồi nhập Thánh quả. Bây giờ có nhiều người ngồi không yên, ngứa tay chân nên cho làm 1 chút, đó cũng là phương tiện để tu. Mình biết có 1 số người bắt ngồi nghe hoài thì tu không nổi thì cho làm. Đừng nói chi người cư sĩ, người xuất gia cũng vậy, nên phải cho làm 1 chút giống như gãi ngứa 1 chút, rồi từ từ thấm pháp rồi là không thích làm nữa. “Đa văn Thánh đệ tử” là mật mã, là khẩu quyết của Nikāya, tại sao Đức Phật lại gọi đệ tử của ngài là Đa văn Thánh đệ tử? Phải có ý thâm sâu, vì đây là bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, trừ chữ “Này các Tỷ-kheo” còn lại là dùng “Đa văn Thánh đệ tử”, tức là cư sĩ hay xuất gia gì cũng vậy, nghe thật nhiều kinh Nikāya này, vị này gặp được bậc Thánh, tu tập thuần thục pháp các bậc Thánh, bậc Chánh tri kiến. Nghe nhiều nên chiêm nghiệm, quán chiếu, tẩy não, rửa óc, xoay chuyển chiều hướng tư duy, phá thân kiến.

Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Đa văn Thánh đệ tử quán sắc: " Đây không phải của tôi, đây không phải là tôi, đây không phải là tự ngã của tôi ". Sắc ấy của vị này biến hoại, đổi khác. Vị này, khi sắc biến hoại, đổi khác, không khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não.

.. quán thọ: " Đây không phải của tôi..".

.. quán tưởng: " Đây không phải của tôi..".

.. quán các hành: " Đây không phải của tôi..".

.. quán thức: " Đây không phải của tôi, đây không phải là tôi, đây không phải tự ngã của tôi ".

Họ không cho rằng tôi là cảm giác này, cảm giác này là tôi. Không cho rằng tôi là những hình bóng trong tâm, những hình bóng trong tâm là tôi. Không cho rằng tôi là những suy nghĩ này, những suy nghĩ này là tôi. Không cho rằng tôi là nhận thức này, cái nhận thức, rõ biết này là tôi. Tất cả chỉ là 5 uẩn đều là pháp duyên sanh vô thường. Khi tiếp xúc sanh khởi thọ, tưởng, hành, khi tiếp xúc sanh khởi những cảm giác, những hình bóng, suy nghĩ trong tâm, các duyên hội tụ sanh ra sự rõ biết duyên sanh, vô thường, tan hoại, biến đổi, không phải là tôi, không phải của tôi. Cho nên khi vị này đã nghe, đã chiêm nghiệm, tu tập như vậy nên khi thân xác này biến hoại, đổi khác thì tâm thức của vị này không bị xoay chuyển đi theo sự biến hoại đổi khác đó, không bị dao động, cuốn theo.

Đối với vị ấy, khi sắc ấy biến hoại và đổi khác, thức không tùy chuyển theo sự biến hoại của sắc. Các pháp ưu não do thức tùy chuyển theo sự biến hoại của sắc không sanh khởi, không xâm chiếm tâm và an trú. Do tâm không bị xâm chiếm nên không có khủng bố, không có chướng ngại, không có khát vọng khởi lên và ưu não. (Tương Ưng Bộ Kinh, Tập III. Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn – Phần 22a – A. Năm mười kinh căn bản, I. Phẩm Nakulapità, bài kinh Chấp thủ và Ưu não)

Tâm vị này không sanh khởi lo lắng, sợ hãi, khủng hoảng, khủng bố là tại vì thường ngày đã thấy hoài như vậy, lúc nào cũng quán sắc không phải là tôi, không phải của tôi, không phải tự ngã của tôi. Lúc nào cảm giác sanh khởi lên cũng quán cảm giác này không phải là tôi, không phải của tôi, không phải tự ngã của tôi. Hình bóng sanh khởi lên quán rằng hình bóng này không phải là tôi, không phải của tôi, không phải tự ngã của tôi. Những suy nghĩ sanh khởi lên cũng quán suy nghĩ này không phải là tôi, không phải của tôi, không phải tự ngã của tôi. Nhận thức, rõ biết làm tham, sân, si sanh khởi thì quán nhận thức này không phải là tôi, không phải của tôi, không phải tự ngã của tôi. Cứ như vậy sẽ được tẩy não, rửa óc, xoay chuyển chiều hướng của tư duy, xuất ly tư duy, phá vỡ thân kiến thì vị này “không bị xâm chiếm nên không có khủng bố, không có chướng ngại, không có khát vọng khởi lên và ưu não đối với sắc, thọ, tưởng, hành, thức”. Điều này thâm sâu, tuyệt diệu, thực tế, sáng tỏ, rõ ràng chưa từng thấy trên cuộc đời!

Kinh Hỷ được đoạn tận, Tương Ưng Bộ Kinh Tập 3:

Này các Tỷ-kheo, khi một Tỷ-kheo thấy sắc vô thường là vô thường; thấy thọ vô thường là vô thường; thấy tưởng vô thường là vô thường; thấy các hành vô thường là vô thường; thấy thức vô thường là vô thường đấy là chánh tri kiến của vị ấy. Thấy chơn chánh như vậy, vị ấy yếm ly. Do hỷ đoạn tận, tham được đoạn tận. Do tham đoạn tận, hỷ được đoạn tận. Do hỷ, tham đoạn tận, tâm được giải thoát, vị ấy được gọi là vị đã khéo giải thoát. (Tương Ưng Bộ Kinh, Tập III. Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn – Phần 22a – A. Năm mười kinh căn bản, V. Phẩm tự mình làm hòn đảo, bài kinh Hỷ được đoạn tận)

Đây là cái khuôn của bậc Thánh, bất cứ cái gì, khi thấy sắc nào cũng đưa nó vô khuôn là cái đồ vô thường, đồ tan nát, bại hoại, rã rời, đồ không ra gì hết, cứ thấy nó là tác ý như vậy liên tục. Khi nghĩ về cái nhà thì tác ý là nó đồ bại hoại, vô thường, đồ tan nát, đồ đáng từ bỏ, buông xả luôn. Đó là Chánh tri kiến, còn gọi là Thánh tri kiến của vị ấy. Bất cứ 1 cảm giác nào, hình bóng nào, suy nghĩ nào, bất cứ 1 món đồ nào đưa vô trước mặt mình thì đều xem nó là đồ vô thường, bại hoại, đồ tan rã, tan nát, thứ vô giá trị, “Đừng nghĩ rằng mày có thể xâm chiếm được tâm ta nghe cái đồ bại hoại”. Tác ý hoài như vậy, nhất là khi nó làm cho mình sân, mình tham, mình si thì cần tác ý, đánh nó liên tục. Chiều hôm qua con nói “Mình phải làm mới, mình phải làm cho mình trở thành mới mẻ, mình phải trở thành con người mới, mình không chấp nhận như vậy. Phải đi ra tu với đại chúng, từ nay về sau phải cố gắng dầu cho nó mệt mỏi”. Tác ý hoài như vậy, 100 câu là đi ra khỏe re, khuya cũng khỏe re“Mày phải làm mới, mày phải làm cho mày đẹp, mày phải thay đổi cuộc đời mày, mày phải nỗ lực, cố gắng làm người mới. Thay đổi!”. Cái nào khó trị trong tâm mình cứ tác ý liên tục, sáng, trưa, chiều, tối, liên tuần 1 tuần, 1 tháng để coi diệt được không, dù nó chưa diệt thì nó cũng phải giảm, phải nhiếp phục được phần nào. Trạo cử hoài thì phải la nó hoài “Đồ khỉ vượng, đồ súc vật, súc sanh, ngồi yên”, mỗi lần nó nhúc nhích thì cứ tác ý hoài đến khi nó yên như bức tượng.

Bây giờ, con ngồi như thế này không phải dễ, con phải luyện mấy chục năm, tất cả đều phải rèn luyện, huấn luyện, tu luyện, tôi luyện, mài luyện, nung luyện, đưa nó vô lò cả ngàn độ C để nung cho nó tan chảy. Tan chảy phàm phu tri kiến, tan chảy vô minh uẩn to lớn, thân kiến chình ình, chà bá lửa được đốt ra, tan chảy ra. Giống như thợ kim hoàn làm vàng, họ khè lửa vô là vàng đỏ cháy như cục than, sau đó người ta mới tạo kiểu theo ý của họ. Đức Phật có bài kinh từ trong khoán mà lọc luyện ra bao nhiêu lớp mới ra vàng ròng. Mình phải làm cho nó tan chảy khát ái, si ám, si mê, ngu si, bản ngã, đưa nó vô cái lò hơn cả lò bát quái, đây là lò Bát Chánh Đạo, đưa nó vô đốt suốt 30 năm, cho nó tan chảy, vỡ ra hết. Mình muốn nó thành dây chuyền, nhẫn, lắc, vương miệng, bất cứ kiểu gì thì phải nung cho nó tan chảy thì mới làm được. Nó không tan chảy thì nguyên 1 cục sắt sao làm được thành cây kim, sao làm cây kiếm, lưỡi liềm. Tất cả mọi cái đều phải đưa vô lò rèn, nung lên rồi đốt thành giống cục than rồi lấy búa đập nó. Tâm của mình cũng phải luyện như vậy chứ không thôi nó cứng cỏi, ương ngạnh lắm, khó dạy, cứng đầu lắm. Trong bài kinh Dây thằn nói tâm này ô nhiễm, tham, sân, si, vô minh, khát ái suốt 1 thời gian dài cho nên bây giờ nghe thì gật đầu nhưng khi về là trở lại phàm phu tri kiến, buông lung phóng dật, sống với tập khí của nghiệp. Khi đó phải bắt nó, đưa nó vô khung của Thánh đạo, đưa nó vô lò nung luyện, đốt liên tục, tác ý, quán hoài như vậy là sẽ đổi đời. Đây là cuộc cách mạng vĩ đại của kiếp người, đó là qua bước siêu phàm, nhập Thánh, phải nung luyện. Chứ bây giờ chạm tới 1 chút là giận, chạm tới 1 chút là buồn, chạm tới chút là xách giỏ bỏ đi thì tu cái gì mà không ai đụng được hết. Khi đó giống như cục sắt vậy, phải đem vô lò 1000 độ C để nung chảy ra. Thánh trí này chính là lò lửa.

Lò hồng hừng hực nào dung tuyết

Đến đó mới hay hiệp Tổ Tông.

(Tranh Chăn Trâu – Tranh số 8)

Lò lửa mình bỏ tuyết vô là nó xèo xèo tan hết, không còn gì có thể ở trong lò lửa mà còn tồn tại được hết. Đến khi trí huệ mình hừng hực giống như lò lửa thì mình mới hợp được với tổ tông của mình là các bậc A-la-hán, các bậc Thánh Tăng.

Cho nên thấy được 5 uẩn vô thường là vô thường thì đó là Chánh tri kiến của vị ấy. Thấy chơn chánh như vậy có hệ quả đưa đến sự nhàm chán, xa lìa. Khi nhàm chán, xa lìa thì yêu thích, khoan khoái chấm dứt. Ưa thích không còn nên tham chấm dứt, do tham chấm dứt cho nên ưa thích được chấm dứt. Do ưa thích và tham chấm dứt nên tâm được giải thoát, vị ấy được gọi là vị đã khéo giải thoát. Rõ ràng như vậy thì chỉ còn thực hành và thể nhập thôi!

./.