Sự Hình Thành Thế Giới và Nhân Sinh III - Kinh Khởi Thế Nhân Bổn Trường Bộ
Kinh Nikāya Giảng Giải
SỰ HÌNH THÀNH THẾ GIỚI & NHÂN SINH III
KINH KHỞI THẾ NHÂN BỔN- TRƯỜNG BỘ
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Vô Minh – Ác Pháp PAGEREF _Toc114153794 \h 1
II. Tăng trưởng thiện pháp PAGEREF _Toc114153795 \h 5
III. Đức Phật Di Lặc PAGEREF _Toc114153796 \h 10
I. Vô Minh – Ác Pháp
Hôm qua nay ở gần chùa Bửu Liên có hai đám tang, trống kèn inh ỏi. Mình thấy cuộc đời con người rất lạ, ít có người suy tư về sự hiểm nguy; ít có người suy tư về tai họa; ít có người suy tư về sự bất trắc, bất thường, bất an, bất ổn của cuộc đời; ít có người suy tư về sự ốm đau, bệnh tật, suy lão, già yếu; ít có người suy tư về sự chết chóc, tử vong. Họ cứ sống qua ngày và thường có cảm giác an toàn, bình thường nhưng bất thình lình tai họa, tai nạn, bệnh hoạn đến, sự bất trắc, bất ngờ ập đến: Ung thư, tai nạn giao thông, dịch bệnh, chiến tranh hoặc là bất thình lình nằm một chỗ, bại liệt hoặc là bất thình lình cái chết đến, chừng nào nó đến thì đến chứ ít có chúng sanh hữu tình chiêm nghiệm, suy tư, lo lắng, quán chiếu về điều này.
Người ta thấy chết là chuyện bình thường, chừng nào chết thì chết còn bồ tát Tất-đạt-đa khi thấy những cảnh tượng đó rất xúc động và ngài đã ưu tư, trăn trở, đó là sự khác biệt của người tỉnh thức và những chúng sanh u mê, si mê. Sáng nay con đi kinh hành nghe trống kèn đám ma thấy ngao ngán, nhàm chán thật sự, không biết ý nghĩa của đời sống này là gì, sanh ra để tham sân si, dục ái, bản ngã rồi chết, đã vậy còn mang theo một đống ác nghiệp nên con đường phía trước mịt mù, đen tối, u ám, ác thú, đọa xứ, khổ cảnh chờ đợi mà không biết gì hết. Thật là đáng lo lắng cho kiếp người chúng ta, đáng lo sợ cho đời sống này và chúng ta cứ sống trong sự si mê, hôn ám, lãng quên, không hay biết gì hết, cái cần biết không chịu cố gắng nỗ lực để biết, cái không cần biết lại để ý, soi mói, tìm tòi để biết rồi phiền não, khổ đau.
Cho nên một sự thật mà chúng ta cần nỗ lực cố gắng để rõ biết đời sống này là khổ đau, thân xác này là khổ đau, tâm thức này là khổ đau và buồn phiền, lo lắng, bất an là thứ đáng sợ hãi. Phải thường xuyên quán sát thân xác tứ đại ngũ uẩn là ung nhọt chín lỗ, ung nhọt máu mủ, ung nhọt bệnh hoạn, ung nhọt đầy rẫy những dục tham ái, ung nhọt đầy rẫy sự bực bội, nóng giận, sân tâm, hại tâm, sát tâm.
Hãy nhìn thấy sự nguy hiểm của nó, sự bất an của nó, lo lắng và sợ hãi đối với nó. Khổ đau cứ rình rập, dục tham ái cứ rình rập, sân hận chực chờ bốc lên để thiêu đốt, thật là bất an cho ta, thật là đáng lo lắng cho ta, thật là đáng suy tư, ưu tư cho đời sống này và bất thình lình chúng ta chết trong sự bất an, bất thường, chết trong một tâm thức đầy rẫy những dục ái, sân si, bản ngã rồi đi về đâu? Điều đáng lo lắng như vậy lại rất ít người lo, chỉ biết vùi đầu vào danh lợi, tài sắc, tài sản, những sự hơn thua, tranh đấu để hành hạ nhau, vợ chồng hành hạ nhau, cha con hành tội nhau, anh em hành hạ nhau bằng những sự tham lam, sân hận, những cái tôi to lớn, chị em hành hạ nhau, mẹ con hành hạ nhau, chủ tớ hành hạ nhau, đồng nghiệp hành hạ nhau, huynh đệ tỉ muội hành hạ nhau, láng giềng hàng xóm đốt cháy nhau, vua với vua, quan với quan, dân với dân, giàu đấu với giàu, nghèo đấu với nghèo, cùng nhau hành tội nhau trong những ngọn lửa của dục tham ái, bản ngã, tranh giành, khẩu tranh, cạnh tranh để làm gì ngoài việc làm khổ nhau.
Si mê là những đời sống như vậy, bóng đêm là những đời sống như vậy, trường dạ hắc ám là những đời sống như vậy, vô minh tăm tối là những đời sống như vậy. Những đời sống đó cứ lặp đi lặp lại trong những hình thức của người, của thú, của ngạ quỷ, của bàng sanh, của chư Thiên và A-tu-la, của hổ báo ăn nuốt thỏ nai, của cọp sói vồ lấy những con cừu non, của người hành hạ người, hãm hại…
Đó là những đời sống vô minh đau khổ cho nên tất cả sự tu học đều làm tăng trưởng, quán chiếu sự nguy hiểm và tác hại của những cái ác bất thiện pháp này, càng ngày phải nhìn rõ bộ mặt của hung thủ làm cho chúng ta đau khổ. Đầu tiên là trộm cắp, nói láo, nói xấu, sau đó là tà dâm tăng thịnh, nói những lời hung ác, phù phiếm vô ích, tham lam, tham dục, ác tham, sự tức giận càng mãnh liệt, tà kiến tăng thịnh, những hiểu biết sai lầm, chẳng những mình tà kiến mà còn khuyến khích người khác tà kiến, gieo rắc những tư tưởng sai quấy và những cái muốn phi pháp, những cái tham phi lý…
Những pháp ác này càng tăng nhiều chừng nào thì tuổi thọ và dung sắc con người càng giảm xuống, bất hiếu với cha mẹ, không tôn kính những bậc trưởng thượng, không quý trọng những bậc giới đức, những ác pháp càng tăng trưởng hưng thịnh phát triển làm nghèo đói lan rộng thì trộm cắp phát triển, trộm cắp phát triển thì gươm đao, dao kiếm, súng ống được mài giũa, được chế tạo ra, từ đó sát sanh tăng trưởng để giết chóc, cướp bóc, chặt đầu, chặt tay, chặt chân, bắn chết…
Mọi hình thức ác độc biểu hiện ra: Nói láo, nói xấu, ác khẩu, nói những lời phù phiếm, tham dục, tham lam, sân hận, tà kiến, phi pháp dục, phi lý tham, bất hiếu, bất kính, vong ơn bội nghĩa, phản phúc, ăn cháo đá bát, qua cầu rút ván, vắt chanh bỏ vỏ tăng trưởng phát triển bành trướng quảng đại, bất hiếu với cha mẹ, bất kính với những bậc trưởng thượng, đó là những thứ hủy hoại thế giới này, hủy hoại đời sống này, hủy hoại con người này, hủy hoại hành tinh này, như thế từ tám vạn năm tuổi giảm xuống chỉ còn mười tuổi, đó là những hậu quả, những quả báo, những kết quả trong hiện tại là có những người còn trong độ tuổi vị thành niên đã gây ra những vụ thảm án, thảm sát và phải lãnh những bản án cao nhất tử hình, chung thân.
Hiện tại tuổi thọ loài người đã giảm đi rất nhiều, không còn bảy mươi tuổi nữa, có rất ít người sống được hết tuổi trời, tâm tham dục, sân hận, bản ngã, hung tàn đã hủy hoại dung sắc, hủy hoại tuổi thọ, mới ngoài hai mươi, ba mươi tuổi đã chết, tử vong kéo dài ở tất cả độ tuổi, những ác tham đầy rẫy, lan rộng xâm chiếm và áp đảo nhân sinh hữu tình chúng sanh.
Chúng ta phải nhớ tôn trọng pháp, cung kính pháp, kính lễ pháp, pháp trong bài kinh chúng ta nói ở giai đoạn này là thiện pháp, chính là năm giới và thập thiện pháp. Trong kinh ghi lại chỉ có năm tuổi đã có vợ chồng vì lòng dục phát triển mạnh mẽ, cầm vào cái gì là trở thành vũ khí để giết người, để thực hiện những hành vi của tâm sân hận, sát hại mà Đức Phật dùng từ "rất mãnh liệt", hại tâm rất mãnh liệt, sân tâm rất mãnh liệt, ác ý rất mãnh liệt, sát tâm rất mãnh liệt (Trường Bộ Kinh, 26. Kinh Chuyển luân Thánh vương Sư tử hống).
Chúng ta tu rồi quán chiếu những ác pháp hiện nay rất ngao ngán, ê chề, não nề, chán chê, sợ hãi, kinh sợ để chúng ta viễn ly, rời xa, thoát ra. Đây là sự cộng nghiệp của toàn cầu, dục tham mạnh mẽ, sân tâm, ác tâm, hại tâm mãnh liệt, những chấp ngã khủng khiếp và chúng sanh phải nhận lấy hậu quả thảm khốc trong vòng luân hồi sanh tử oan nghiệt này, chúng sanh xem nhau như người thợ săn nhìn thấy những loài thú rồi khởi lên tâm hại, tâm sân, ác ý rất mãnh liệt, tâm sát hại khởi lên mạnh mẽ.
Chúng ta thấy rất lo lắng, suy tư và sợ hãi trước những ác bất thiện pháp này, sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, nói xấu, nói lời hung ác, say sưa, nghiện ngập điên đảo, cuồng si trong dục, làm khổ mình khổ người, làm hại mình hại người, hại tất cả thế giới cho nên dung sắc ngày càng xấu xí, thô kệch, nghèo đói, bệnh tật, thiên tai, thủy nạn, động đất, sóng thần, dịch bệnh, hãm hiếp, đâm chém có mặt khắp mọi nơi.
Có một cô Phật tử đi chùa bị cướp giật túi xách, cô té ngã đập đầu ngay trước cổng chùa, những người nghe điện thoại ngoài đường bị giật điện thoại kéo dài hàng chục mét cho nên mình được ở núi rừng tu tập Thánh Pháp, thấy được phước lành hy hữu hiếm có khó gặp trong thời đại này. Con xin thưa đại chúng, chính vì đọc kinh này và ngày xưa đọc kinh A-hàm với những bài kinh tương đương cho nên con mới tìm cách lên núi để ẩn tu cách đây mười lăm năm, lúc đó chưa có nhiều tiêu cực như giờ, con nghĩ rằng khoảng một trăm năm nữa thì những gì trong kinh nói mới hiện ra nhưng không ngờ bây giờ đã có, những gì trong kinh nói đã ứng hiện nhanh hơn mình tưởng rất nhiều. Sau này chúng ta còn đi vào rừng sâu hơn nữa, thật sự rất bất an.
II. Tăng trưởng thiện pháp
“Với dao kiếm sắc bén ấy họ tàn hại mạng nhau, xem nhau như loài thú. Này các Tỳ-kheo, giữa các loài hữu tình ấy, một số suy nghĩ: "Chúng ta chớ giết ai; mong đừng ai giết chúng ta. Chúng ta hãy đi vào rừng cỏ, rừng sâu, hang cây, sông ngòi hiểm hóc hay kẽ núi và sống với rễ và trái cây".”
(Trường Bộ Kinh, 26. Kinh Chuyển luân Thánh vương Sư tử hống)
Ngày xưa Minh Thành đọc ngay đoạn này nên đã tính trước, từ đó mới lên Linh Quy. Một số người thấy quá sợ hãi nên mong không ai giết ta và ta cũng không giết ai, hãy đi vào rừng sâu, hang sâu sống với trái cây. Họ vào sâu trong núi rừng lánh nạn "đao binh kiếp" trong bảy ngày, giết hại, tàn sát nhau kinh hãi, sau bảy ngày họ từ trong rừng sâu, hang sâu hiểm hóc đi ra ôm nhau xúc động, cùng nhau an ủi.
“Họ đi vào rừng cỏ, rừng sâu, hang cây, sông ngòi hiểm hóc, hay kẽ núi đi ra, ôm lấy nhau, cùng nhau an ủi, khoan khoái nói với nhau: "Sung sướng thay được thấy bạn còn sống! Sung sướng thay được thấy bạn còn sống!"”
(Trường Bộ Kinh, 26. Kinh Chuyển luân Thánh vương Sư tử hống)
Kiếp nạn chém giết này còn hơn chiến tranh vì chiến tranh là bên này đánh bên kia còn đây là tất cả mọi người đều khởi lên tâm sát hại, chạm vào cái gì cũng thành vũ khí để sát hại cho nên sau bảy ngày kinh hãi đó mọi người gặp lại nhau rất vui mừng, dân gian hay gọi là tận thế, những người ác sẽ chết hết để những người hiền thiện sống sót.
“Này các Tỳ-kheo, rồi các loài hữu tình ấy suy nghĩ: "Vì chúng ta tạo nhân bất thiện pháp nên bà con chúng ta bị giết hại nhiều như vậy. Vậy chúng ta hãy làm điều thiện. Chúng ta làm điều thiện như thế nào? Chúng ta chớ có sát sanh. Ðó là điều thiện chúng ta có thể làm".”
(Trường Bộ Kinh, 26. Kinh Chuyển luân Thánh vương Sư tử hống)
Lúc này không có Đức Phật, không có giáo pháp cho nên tự họ nhìn thấy quả báo của những hành động ác ấy, tự họ thấy cái khổ, tự họ ý thức được nhân quả. Lúc này không có kinh sách gì cả cho nên trong đoạn trước Đức Phật nói chữ thiện cũng sẽ không còn, nói gì ai là người làm điều thiện, lúc này không ai biết làm điều lành, không ai biết đến chữ "thiện" thì làm sao có người làm điều thiện cho nên mới gọi là mạt kiếp, sự tận cùng của ác pháp.
Vì thế người này biết được nghiệp ác nên họ tự ý thức giữ gìn và những người này là những người lành thiện trốn trong núi rừng xa vắng, trong hang đá rồi trở ra thấy người chết chất đống thành núi, máu thành sông. Đây là sự tận cùng của ác pháp, nó đã đi đến cực đỉnh của những điều xấu xa, tội lỗi của thế giới này và chúng ta đang dần dần đi sự xuống dốc đó, trừ những bậc Đa văn Thánh đệ tử, những bậc đi theo đường lối của Đức Thế Tôn chân thành tha thiết tu học, mình may mắn có Chánh Pháp còn đi đến mạt kiếp thì chữ thiện còn không có thì nói gì đến Chánh Pháp, không ai biết đến chữ thiện thì nói gì đến người làm thiện, đương nhiên từ "Phật" và "Pháp" cũng không có người biết đừng nói gì đến Tứ Diệu Đế, Bát Thánh Đạo, đó là mạt pháp, mạt vận, mạt kiếp, không còn danh từ Tam bảo, thiện lành gì nữa mà chỉ còn là sự ác độc, sân hận, sát tâm, hại tâm, ác ý mãnh liệt khởi lên nên đi đến chỗ diệt tận.
Chính vì điều này mà những người này họ cảm thấy sợ hãi nên trốn trong rừng, sau kiếp nạn này họ trở ra ôm nhau vui mừng "Sung sướng thay được thấy bạn còn sống! Sung sướng thay được thấy bạn còn sống!". Có một Phật tử ở San Jose, phía bắc Cali gọi cho con nói trong 20 người thì có một người nhiễm bệnh, còn những người quen biết thì run sợ, lo lắng, ở trong nhà không dám ra ngoài đường. Chỉ mới là dịch bệnh thôi mà đã vậy thì khi đi đến mạt kiếp, chém giết nhau không ghê tay thì làm sao chịu nổi, làm sao có thể tưởng tượng ra được, chúng ta dùng thọ; tưởng; hành để quán chiếu cảnh tượng này lúc đó thế giới, loại người chúng sanh như thế nào. Sau khi qua được kiếp nạn binh đao thì những người sống sót mới suy nghĩ lại, phải làm điều thiện, không sát sanh.
“Do hành thiện pháp làm nhân, tuổi thọ của họ được tăng thịnh, sắc đẹp được tăng thịnh. Vì tuổi thọ được tăng thịnh, sắc đẹp được tăng thịnh, nên tuổi thọ loài Người chỉ có mười tuổi nhưng con của họ, thọ đến hai mươi tuổi.”
(Trường Bộ Kinh, 26. Kinh Chuyển luân Thánh vương Sư tử hống)
Như vậy là thiện pháp duy trì thế giới, giúp cho thế giới được đứng vững, tồn tại và được an lành. Vì làm thiện pháp nên dung sắc, tuổi thọ được tăng trưởng, phát triển và vì tuổi thọ, dung sắc tăng trưởng nên con của họ sống đến hai mươi tuổi.
“Này các Tỳ-kheo, rồi các loài hữu tình ấy suy nghĩ: "Chúng ta nhờ hành thiện pháp làm nhân, nên tuổi thọ được tăng thịnh, sắc đẹp được tăng thịnh. Vậy chúng ta hãy làm việc thiện nhiều hơn nữa. Chúng ta hãy gìn giữ không lấy của không cho, gìn giữ không làm các tà hạnh, gìn giữ không nói láo, gìn giữ không nói hai lưỡi, gìn giữ không ác khẩu, gìn giữ không nói lời phù phiếm, từ bỏ tham, từ bỏ sân, từ bỏ tà kiến, tà bỏ ba pháp tức là phi pháp dục, phi lý tham và tà kiến. Chúng ta hãy hiếu kính cha mẹ, kính lễ các vị Sa môn, Bà-la-môn, cung kính các vị cầm đầu trong gia đình. Chúng ta hãy thực hành thiện pháp ấy."”
(Trường Bộ Kinh, 26. Kinh Chuyển luân Thánh vương Sư tử hống)
Những người con sống được hai mươi tuổi mới suy nghĩ nên làm những thiện pháp nhưng đoạn kinh này kể vắn tắt, nghĩa là không phải trong một lần mà họ làm được hết các điều thiện kể trên mà phải trải qua một thế hệ thì thiện pháp lại tăng thêm, cứ trải qua một thế hệ cả trăm năm hoặc nhiều ngàn năm thì thiện pháp cứ tăng lên từ từ. Vì họ không biết thập thiện là gì mà tự bản thân họ thấy đau khổ, hoạn nạn nên tự họ rút ra bài học kinh nghiệm về nhân quả. Họ không được Phật – Pháp – Tăng giảng cho biết về thập thiện hay tam quy ngũ giới mà họ thấy mạt kiếp như vậy nên họ sợ hãi, đau khổ, chết chóc nên tự rút ra bài học kinh nghiệm nhãn tiền trước mắt.
“Họ hiếu kính mẹ, hiếu kính cha, kính lễ các vị Sa môn, Bà-la-môn, cung kính các vị cầm đầu ở trong gia đình, họ sẽ thực hành thiện pháp này. Do hành thiện pháp làm nhân, tuổi thọ tăng thịnh, sắc đẹp tăng thịnh. Vì tuổi thọ họ tăng thịnh và sắc đẹp tăng thịnh, tuổi thọ loài Người đến hai mươi tuổi và các người con sẽ lên đến bốn mươi tuổi.”
(Trường Bộ Kinh, 26. Kinh Chuyển luân Thánh vương Sư tử hống)
Đây là một kiếp giảm một kiếp tăng, hôm trước chúng ta học là kiếp giảm, bây giờ là kiếp tăng.
“Tuổi thọ loài người lên đến bốn mươi tuổi và các người con sẽ lên đến tám mươi tuổi. Tuổi thọ loài Người lên đến tám mươi tuổi và các người con sẽ lên đến một trăm sáu mươi tuổi. Tuổi thọ loài Người lên đến một trăm sáu mươi tuổi và các người con sẽ lên đến ba trăm hai mươi tuổi. Tuổi thọ loài Người lên đến ba trăm hai mươi tuổi và các người con sẽ lên đến sáu trăm bốn mươi tuổi. Tuổi thọ loài Người lên đến sáu trăm bốn mươi tuổi và các con sẽ lên đến hai ngàn tuổi. Tuổi thọ loài Người lên đến hai ngàn tuổi và các người con sẽ lên đến bốn ngàn tuổi. Tuổi thọ loài Người lên đến bốn ngàn tuổi và các người con sẽ lên đến tám ngàn tuổi. Tuổi thọ loài Người lên đến tám ngàn tuổi và các con sẽ lên đên hai vạn tuổi. Tuổi thọ loài Người lên đến hai vạn tuổi các người con sẽ lên đến bốn vạn tuổi. Tuổi thọ loài Người lên đến bốn vạn tuổi và các người con sẽ lên tám vạn tuổi.”
(Trường Bộ Kinh, 26. Kinh Chuyển luân Thánh vương Sư tử hống)
Thiện pháp càng tăng thì dung sắc, tuổi thọ càng tăng và tăng trở lại như thuở ban đầu tám vạn tuổi. Tới lúc này thiện pháp được sung mãn, được mọi người tôn trọng, hành trì, khi tuổi thọ lên đến tám vạn tuổi thì con gái đến năm trăm tuổi mới lập gia đình. Dù là năm trăm tuổi mới lập gia đình nhưng họ vẫn trẻ vì giới đức, thiện pháp sung mãn.
“Này các Tỳ-kheo, khi tuổi thọ loài Người lên đến tám vạn tuổi, các người con gái đến năm trăm tuổi có thể thành lập gia đình. Này các Tỳ-kheo, khi tuổi thọ loài người lên đến tám vạn tuổi, ba chứng bệnh sau đây có mặt: lòng dục, tham ăn và già. Này các Tỳ-kheo, khi tuổi thọ loài Người lên đến tám vạn tuổi, nước Jambudìpa này (Diêm phù đề) sẽ rất hùng mạnh và phong phú. Các làng mạc, tỉnh thành, kinh đô ở sát nhau đến nổi con gà gáy bên này, bên kia có thể nghe được!”
(Trường Bộ Kinh, 26. Kinh Chuyển luân Thánh vương Sư tử hống)
Không có sự lấn chiếm, tranh giành giữa các nước mà các nước ở sát nhau có thể nghe được tiếng gà gáy, mọi người rất lành thiện.
“Này các Tỳ-kheo, khi tuổi thọ loài Người lên đến tám vạn tuổi, nước Jambudìpa này như sẽ rất phồn thịnh với người Avidi (A-tỷ Ðịa ngục), giống như rừng lau hay rừng sậy. Này các Tỳ-kheo, khi tuổi thọ loài Người lên đến tám vạn tuổi, thành phố Baranasi này (Ba-la-nại) là kinh đô tên gọi Ketumati, rất là hùng mạnh, phong phú, đông dân cư và ăn uống đầy đủ. Này các Tỳ-kheo, khi tuổi thọ loài Người lên đến tám vạn tuổi tại nước Jambudìpa này, sẽ có tám vạn bốn ngàn thành phố và Ketumati sẽ là kinh đô tối thượng.”
(Trường Bộ Kinh, 26. Kinh Chuyển luân Thánh vương Sư tử hống)
III. Đức Phật Di Lặc
Đức Phật nói thẳng tên của các thành phố hùng mạnh, phồn thịnh, điều này cho chúng ta thấy trí huệ của Đức Phật đã vượt tầm pháp giới, nhìn thấy xuyên suốt bao nhiêu vạn tỉ năm về sau và nhìn về trước vô số kiếp, khi đã chứng ngộ được thì trí huệ siêu việt hơn cả không gian, thời gian.
“Này các Tỳ-kheo, khi tuổi thọ loài Người lên đến tám vạn tuổi, ở kinh đô Ketumati, có vị Chuyển luân Thánh vương tên là Sankha ra đời, là vị pháp vương, lấy Chánh pháp trị nước, chinh phục bốn thiên hạ, cai trị các quốc độ, và đầy đủ bảy món báu, tức là xe báu, voi báu, ngựa báu, châu báu, nữ báu, gia chủ báu và thứ bảy là tướng quân báu. Vị ấy có hơn một ngàn hoàng tử, dõng kiện, hùng mạnh, nhiếp phục ngoại địch, vị này trị vì quả đất này cho đến hải biên, dùng Chánh pháp trị quốc, không dùng trượng, không dùng kiếm.
Này các Tỳ-kheo, khi tuổi thọ loài Người lên đến tám vạn tuổi, có Thế Tôn tên là Metteyya sẽ ra đời là vị A la hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn; như Ta nay sanh ra ở đời này, là bậc A la hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn. Vị này tự mình biết, chứng, và tuyên thuyết quả đất này, gồm có Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, Thế giới này với Sa môn, Bà la môn, loài Trời, loài Người; như Ta hiện nay tự mình biết, chứng và tuyên thuyết quả đất này, gồm có Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, Thế giới này với Sa môn, Bà la môn, loài Trời và loài Người. Vị này sẽ thuyết pháp, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, với nghĩa lý văn tự đầy đủ và tuyên thuyết đời sống phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ thanh tịnh; như Ta hiện nay thuyết pháp, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, với nghĩa lý văn tự đầy đủ và tuyên thuyết đời sống phạm hành hoàn toàn đầy đủ thanh tịnh. Vị này sẽ có khoảng vài ngàn vị Tỳ-kheo Tăng đoàn; như Ta hiện nay có khoảng vài trăm vị Tỳ-kheo Tăng đoàn vậy.”
(Trường Bộ Kinh, 26. Kinh Chuyển luân Thánh vương Sư tử hống)
Khi đã phồn thịnh thì bắt đầu trở lại thời thịnh thế chuyển luân Thánh vương ra đời, vị này cũng có đầy đủ bảy món báu. Khi đó Đức Phật Di Lặc Metteyya Từ Thị ra đời.
“Này các Tỳ-kheo, vua Sankha sẽ cho thiết lập cung điện mà vua Mahà Panada đã thiết lập. Sau khi thiết lập, vua trú tại đó. Sau vua lại bố thí cung điện ấy, dâng cúng cho các vị Sa môn, Bà-la-môn, các hàng bần cùng, du đãng, ăn xin, cạo bỏ râu tóc, mặc áo cà sa, từ bỏ gia đình, sống không gia đình dưới sự chỉ đạo của Thế Tôn Metteyya, bậc A la hán, Chánh Ðẳng Giác. Vị này xuất gia như vậy, sống một mình, biệt lập, tinh tấn, trì chú, chuyên tâm, chẳng bao lâu chứng được vô thượng phạm hạnh, mà vì mục đích này các thiện nam tử đã xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Với vô thượng phạm hạnh này, ngay trong hiện tại, vị này tự tu, tự chứng, đạt đến và an trú.”
(Trường Bộ Kinh, 26. Kinh Chuyển luân Thánh vương Sư tử hống)
Tức là nhà vua chuyển luân Thánh vương này xuất gia theo Phật Di Lặc và vị này sống một mình, trì chú, chuyên tâm thì chứng được vô thượng phạm hạnh và thành tựu Thánh quả A-la-hán.
“Này các Tỳ-kheo, hãy sống tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa mình, không nương tựa một ai khác, lấy Chánh pháp làm ngọn đèn, nương tựa Chánh pháp, không nương tựa một gì khác. Này các Tỳ-kheo, thế nào là một Tỳ-kheo sống tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa mình, không nương tựa một ai khác, lấy Chánh pháp làm ngọn đèn, nương tựa Chánh pháp, không nương tựa một gì khác? Này các Tỳ-kheo, ở đây vị Tỳ-kheo sống quán thân trên tự thân, nhiệt tâm, tinh cần, chánh niệm, tỉnh giác, để diệt trừ tham ưu ở đời, trên các cảm thọ... trên các tâm... quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tinh cần, chánh niệm, tỉnh giác, để có thể diệt trừ tham ưu ở đời. Như vậy này các Tỳ-kheo, vị Tỳ-kheo sống tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa mình, không nương tựa một ai khác, lấy Chánh pháp làm ngọn đèn, nương tựa Chánh pháp, không nương tựa một gì khác.
Này các Tỳ-kheo, hãy đi lại trong giới hạn được phép của mình, trong giới hạn Tổ phụ các Ngươi truyền lại. Này các Tỳ-kheo, nếu các Ngươi đi lại trong giới hạn được phép của mình, trong giới hạn Tổ phụ các Ngươi truyền lại thời tuổi thọ sẽ được tăng thịnh, sắc đẹp sẽ được tăng thịnh, an lạc sẽ được tăng thịnh, tài sản sẽ được tăng thịnh, thế lực sẽ được tăng thịnh.”
(Trường Bộ Kinh, 26. Kinh Chuyển luân Thánh vương Sư tử hống)
Tức là không đi ra ngoài Tứ Niệm Xứ, hãy sống tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa mình, không nương tựa một ai khác, lấy Chánh pháp làm ngọn đèn, nương tựa Chánh pháp, không nương tựa một gì khác.
“Này các Tỳ-kheo, như thế nào vị Tỳ-kheo tuổi thọ được tăng thịnh? Này các Tỳ-kheo, ở đây, vị Tỳ-kheo tu tập thần túc, đầy đủ Dục thiền định tinh cần hành; tu tập thần túc, đầy đủ Tinh tấn thiền định tinh cần hành; tu tập thần túc đầy đủ Tâm định tinh cần hành; tu tập thần túc đầy đủ Tư duy thiền định tinh cần hành
Này các Tỳ-kheo, thế nào là vị Tỳ-kheo sắc đẹp được tăng thịnh? Này các Tỳ-kheo, ở đây, vị Tỳ-kheo sống giữ giới luật, chế ngự với sự chế ngự của giới bổn Patimokkha (Ba-la-đề-mộc-xoa), đầy đủ oai nghi chánh hạnh, thấy nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt, thọ lãnh và tu học trong giới pháp.
Này các Tỳ-kheo, thế nào là vị Tỳ-kheo an lạc được tăng thịnh? Này các Tỳ-kheo, ở đây, vị Tỳ-kheo ly dục, ly ác pháp, chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh với tầm, với tứ; diệt tầm, diệt tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm, không tứ... chứng và trú Thiền thứ ba... chứng và trú Thiền thứ tư.
Này các Tỳ-kheo, thế nào là vị Tỳ-kheo tài sản được tăng thịnh? Này các Tỳ-kheo, ở đây, vị Tỳ-kheo an trú, biến mãn một phương với tâm câu hữu với từ, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với từ, quảng đại vô biên, không hận, không sân, với tâm câu hữu với bi... với tâm câu hữu với hỷ... Vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với xả, quảng đại vô biên, không hận, không sân.
Này các Tỳ-kheo, như thế nào là vị Tỳ-kheo thế lực được tăng thịnh? Này các Tỳ-kheo, ở đây vị Tỳ-kheo, với sự diệt tận các lậu hoặc, tự mình biết và chứng, đạt đến an trú ngay trong hiện tại tâm giải thoát, tuệ giải thoát không còn các lậu hoặc.
Này các Tỳ-kheo, ta quán sát và thấy không có một uy lực nào khác khó nhiếp phục hơn uy lực của Ma vương. Này các Tỳ-kheo, chính nhờ chấp nhận và thực hành những thiện pháp ấy mà công đức này được tăng thịnh!”
(Trường Bộ Kinh, 26. Kinh Chuyển luân Thánh vương Sư tử hống)
Uy lực của Ma vương là tham ái, mình bị Ma chiếm đóng do còn tham ái, khát ái, không có một sức mạnh nào khó nhiếp phục hơn Ma vương tham ái, khát ái. Trên đây là bài kinh Chuyển luân Thánh vương sư tử hống, sự hình thành và hoại diệt của nhân sinh và vũ trụ trong kiếp tăng, kiếp giảm của thế giới. Vì có thiện pháp và ác pháp mà chiêu cảm ra sự khổ đau và an lạc của chúng sanh hữu tình và cũng cho chúng ta thấy sự khủng khiếp của dòng luân hồi. Có một số vị tu nói rằng chờ Phật Di Lặc ra đời, ngay hiện tại có Chánh Pháp giảng rõ ràng còn chưa chịu tu mà đòi chờ Phật Di Lặc rước đi, tâm mình lừa gạt rõ ràng như vậy.
Hãy quán chiếu, suy tư, nghiền ngẫm, chấn động trước trí tuệ tối tôn, tối thượng, thâm sâu và dài xa này. Hãy thấy đau xót và tủi thân cho một đời sống bọt bèo, ngắn ngủi, nhiều khổ đau, nhiều ưu não. Chúng ta hãy cùng nhau cố gắng tinh tấn dấn thân trên con đường tu tập này vì e rằng sau này khó mà học được Chánh Pháp. Đức Phật nói khi xảy ra chiến tranh sẽ không thể tu học được, dịch bệnh, tâm bất an không thể tu học được, Tăng chúng bất hòa không tu học được, những khi đói thiếu, đói khát không thể an ổn để tu học được.
Mong rằng tất cả chúng ta hãy tận dụng tất cả thời gian cho pháp học và pháp hành, con cố gắng chia sẻ một thời gian nữa cho mọi người về Chánh Pháp vì e rằng sau này không còn người ưa thích học về điều này nữa, những thiên tai, thảm họa xảy ra cũng không thuận tiện để chia sẻ pháp nên chúng ta hãy luôn tác ý "Mình đang sống trong sự bất an, đừng lãng quên", tập trung thời gian vào học pháp, thiền định vì thời gian không còn nhiều nữa. Mong rằng tất cả chúng ta cố gắng tinh tấn, đừng quên điều này.
./.
SỰ HÌNH THÀNH THẾ GIỚI & NHÂN SINH III
KINH KHỞI THẾ NHÂN BỔN- TRƯỜNG BỘ
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Vô Minh – Ác Pháp PAGEREF _Toc114153794 \h 1
II. Tăng trưởng thiện pháp PAGEREF _Toc114153795 \h 5
III. Đức Phật Di Lặc PAGEREF _Toc114153796 \h 10
I. Vô Minh – Ác Pháp
Hôm qua nay ở gần chùa Bửu Liên có hai đám tang, trống kèn inh ỏi. Mình thấy cuộc đời con người rất lạ, ít có người suy tư về sự hiểm nguy; ít có người suy tư về tai họa; ít có người suy tư về sự bất trắc, bất thường, bất an, bất ổn của cuộc đời; ít có người suy tư về sự ốm đau, bệnh tật, suy lão, già yếu; ít có người suy tư về sự chết chóc, tử vong. Họ cứ sống qua ngày và thường có cảm giác an toàn, bình thường nhưng bất thình lình tai họa, tai nạn, bệnh hoạn đến, sự bất trắc, bất ngờ ập đến: Ung thư, tai nạn giao thông, dịch bệnh, chiến tranh hoặc là bất thình lình nằm một chỗ, bại liệt hoặc là bất thình lình cái chết đến, chừng nào nó đến thì đến chứ ít có chúng sanh hữu tình chiêm nghiệm, suy tư, lo lắng, quán chiếu về điều này.
Người ta thấy chết là chuyện bình thường, chừng nào chết thì chết còn bồ tát Tất-đạt-đa khi thấy những cảnh tượng đó rất xúc động và ngài đã ưu tư, trăn trở, đó là sự khác biệt của người tỉnh thức và những chúng sanh u mê, si mê. Sáng nay con đi kinh hành nghe trống kèn đám ma thấy ngao ngán, nhàm chán thật sự, không biết ý nghĩa của đời sống này là gì, sanh ra để tham sân si, dục ái, bản ngã rồi chết, đã vậy còn mang theo một đống ác nghiệp nên con đường phía trước mịt mù, đen tối, u ám, ác thú, đọa xứ, khổ cảnh chờ đợi mà không biết gì hết. Thật là đáng lo lắng cho kiếp người chúng ta, đáng lo sợ cho đời sống này và chúng ta cứ sống trong sự si mê, hôn ám, lãng quên, không hay biết gì hết, cái cần biết không chịu cố gắng nỗ lực để biết, cái không cần biết lại để ý, soi mói, tìm tòi để biết rồi phiền não, khổ đau.
Cho nên một sự thật mà chúng ta cần nỗ lực cố gắng để rõ biết đời sống này là khổ đau, thân xác này là khổ đau, tâm thức này là khổ đau và buồn phiền, lo lắng, bất an là thứ đáng sợ hãi. Phải thường xuyên quán sát thân xác tứ đại ngũ uẩn là ung nhọt chín lỗ, ung nhọt máu mủ, ung nhọt bệnh hoạn, ung nhọt đầy rẫy những dục tham ái, ung nhọt đầy rẫy sự bực bội, nóng giận, sân tâm, hại tâm, sát tâm.
Hãy nhìn thấy sự nguy hiểm của nó, sự bất an của nó, lo lắng và sợ hãi đối với nó. Khổ đau cứ rình rập, dục tham ái cứ rình rập, sân hận chực chờ bốc lên để thiêu đốt, thật là bất an cho ta, thật là đáng lo lắng cho ta, thật là đáng suy tư, ưu tư cho đời sống này và bất thình lình chúng ta chết trong sự bất an, bất thường, chết trong một tâm thức đầy rẫy những dục ái, sân si, bản ngã rồi đi về đâu? Điều đáng lo lắng như vậy lại rất ít người lo, chỉ biết vùi đầu vào danh lợi, tài sắc, tài sản, những sự hơn thua, tranh đấu để hành hạ nhau, vợ chồng hành hạ nhau, cha con hành tội nhau, anh em hành hạ nhau bằng những sự tham lam, sân hận, những cái tôi to lớn, chị em hành hạ nhau, mẹ con hành hạ nhau, chủ tớ hành hạ nhau, đồng nghiệp hành hạ nhau, huynh đệ tỉ muội hành hạ nhau, láng giềng hàng xóm đốt cháy nhau, vua với vua, quan với quan, dân với dân, giàu đấu với giàu, nghèo đấu với nghèo, cùng nhau hành tội nhau trong những ngọn lửa của dục tham ái, bản ngã, tranh giành, khẩu tranh, cạnh tranh để làm gì ngoài việc làm khổ nhau.
Si mê là những đời sống như vậy, bóng đêm là những đời sống như vậy, trường dạ hắc ám là những đời sống như vậy, vô minh tăm tối là những đời sống như vậy. Những đời sống đó cứ lặp đi lặp lại trong những hình thức của người, của thú, của ngạ quỷ, của bàng sanh, của chư Thiên và A-tu-la, của hổ báo ăn nuốt thỏ nai, của cọp sói vồ lấy những con cừu non, của người hành hạ người, hãm hại…
Đó là những đời sống vô minh đau khổ cho nên tất cả sự tu học đều làm tăng trưởng, quán chiếu sự nguy hiểm và tác hại của những cái ác bất thiện pháp này, càng ngày phải nhìn rõ bộ mặt của hung thủ làm cho chúng ta đau khổ. Đầu tiên là trộm cắp, nói láo, nói xấu, sau đó là tà dâm tăng thịnh, nói những lời hung ác, phù phiếm vô ích, tham lam, tham dục, ác tham, sự tức giận càng mãnh liệt, tà kiến tăng thịnh, những hiểu biết sai lầm, chẳng những mình tà kiến mà còn khuyến khích người khác tà kiến, gieo rắc những tư tưởng sai quấy và những cái muốn phi pháp, những cái tham phi lý…
Những pháp ác này càng tăng nhiều chừng nào thì tuổi thọ và dung sắc con người càng giảm xuống, bất hiếu với cha mẹ, không tôn kính những bậc trưởng thượng, không quý trọng những bậc giới đức, những ác pháp càng tăng trưởng hưng thịnh phát triển làm nghèo đói lan rộng thì trộm cắp phát triển, trộm cắp phát triển thì gươm đao, dao kiếm, súng ống được mài giũa, được chế tạo ra, từ đó sát sanh tăng trưởng để giết chóc, cướp bóc, chặt đầu, chặt tay, chặt chân, bắn chết…
Mọi hình thức ác độc biểu hiện ra: Nói láo, nói xấu, ác khẩu, nói những lời phù phiếm, tham dục, tham lam, sân hận, tà kiến, phi pháp dục, phi lý tham, bất hiếu, bất kính, vong ơn bội nghĩa, phản phúc, ăn cháo đá bát, qua cầu rút ván, vắt chanh bỏ vỏ tăng trưởng phát triển bành trướng quảng đại, bất hiếu với cha mẹ, bất kính với những bậc trưởng thượng, đó là những thứ hủy hoại thế giới này, hủy hoại đời sống này, hủy hoại con người này, hủy hoại hành tinh này, như thế từ tám vạn năm tuổi giảm xuống chỉ còn mười tuổi, đó là những hậu quả, những quả báo, những kết quả trong hiện tại là có những người còn trong độ tuổi vị thành niên đã gây ra những vụ thảm án, thảm sát và phải lãnh những bản án cao nhất tử hình, chung thân.
Hiện tại tuổi thọ loài người đã giảm đi rất nhiều, không còn bảy mươi tuổi nữa, có rất ít người sống được hết tuổi trời, tâm tham dục, sân hận, bản ngã, hung tàn đã hủy hoại dung sắc, hủy hoại tuổi thọ, mới ngoài hai mươi, ba mươi tuổi đã chết, tử vong kéo dài ở tất cả độ tuổi, những ác tham đầy rẫy, lan rộng xâm chiếm và áp đảo nhân sinh hữu tình chúng sanh.
Chúng ta phải nhớ tôn trọng pháp, cung kính pháp, kính lễ pháp, pháp trong bài kinh chúng ta nói ở giai đoạn này là thiện pháp, chính là năm giới và thập thiện pháp. Trong kinh ghi lại chỉ có năm tuổi đã có vợ chồng vì lòng dục phát triển mạnh mẽ, cầm vào cái gì là trở thành vũ khí để giết người, để thực hiện những hành vi của tâm sân hận, sát hại mà Đức Phật dùng từ "rất mãnh liệt", hại tâm rất mãnh liệt, sân tâm rất mãnh liệt, ác ý rất mãnh liệt, sát tâm rất mãnh liệt (Trường Bộ Kinh, 26. Kinh Chuyển luân Thánh vương Sư tử hống).
Chúng ta tu rồi quán chiếu những ác pháp hiện nay rất ngao ngán, ê chề, não nề, chán chê, sợ hãi, kinh sợ để chúng ta viễn ly, rời xa, thoát ra. Đây là sự cộng nghiệp của toàn cầu, dục tham mạnh mẽ, sân tâm, ác tâm, hại tâm mãnh liệt, những chấp ngã khủng khiếp và chúng sanh phải nhận lấy hậu quả thảm khốc trong vòng luân hồi sanh tử oan nghiệt này, chúng sanh xem nhau như người thợ săn nhìn thấy những loài thú rồi khởi lên tâm hại, tâm sân, ác ý rất mãnh liệt, tâm sát hại khởi lên mạnh mẽ.
Chúng ta thấy rất lo lắng, suy tư và sợ hãi trước những ác bất thiện pháp này, sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, nói xấu, nói lời hung ác, say sưa, nghiện ngập điên đảo, cuồng si trong dục, làm khổ mình khổ người, làm hại mình hại người, hại tất cả thế giới cho nên dung sắc ngày càng xấu xí, thô kệch, nghèo đói, bệnh tật, thiên tai, thủy nạn, động đất, sóng thần, dịch bệnh, hãm hiếp, đâm chém có mặt khắp mọi nơi.
Có một cô Phật tử đi chùa bị cướp giật túi xách, cô té ngã đập đầu ngay trước cổng chùa, những người nghe điện thoại ngoài đường bị giật điện thoại kéo dài hàng chục mét cho nên mình được ở núi rừng tu tập Thánh Pháp, thấy được phước lành hy hữu hiếm có khó gặp trong thời đại này. Con xin thưa đại chúng, chính vì đọc kinh này và ngày xưa đọc kinh A-hàm với những bài kinh tương đương cho nên con mới tìm cách lên núi để ẩn tu cách đây mười lăm năm, lúc đó chưa có nhiều tiêu cực như giờ, con nghĩ rằng khoảng một trăm năm nữa thì những gì trong kinh nói mới hiện ra nhưng không ngờ bây giờ đã có, những gì trong kinh nói đã ứng hiện nhanh hơn mình tưởng rất nhiều. Sau này chúng ta còn đi vào rừng sâu hơn nữa, thật sự rất bất an.
II. Tăng trưởng thiện pháp
“Với dao kiếm sắc bén ấy họ tàn hại mạng nhau, xem nhau như loài thú. Này các Tỳ-kheo, giữa các loài hữu tình ấy, một số suy nghĩ: "Chúng ta chớ giết ai; mong đừng ai giết chúng ta. Chúng ta hãy đi vào rừng cỏ, rừng sâu, hang cây, sông ngòi hiểm hóc hay kẽ núi và sống với rễ và trái cây".”
(Trường Bộ Kinh, 26. Kinh Chuyển luân Thánh vương Sư tử hống)
Ngày xưa Minh Thành đọc ngay đoạn này nên đã tính trước, từ đó mới lên Linh Quy. Một số người thấy quá sợ hãi nên mong không ai giết ta và ta cũng không giết ai, hãy đi vào rừng sâu, hang sâu sống với trái cây. Họ vào sâu trong núi rừng lánh nạn "đao binh kiếp" trong bảy ngày, giết hại, tàn sát nhau kinh hãi, sau bảy ngày họ từ trong rừng sâu, hang sâu hiểm hóc đi ra ôm nhau xúc động, cùng nhau an ủi.
“Họ đi vào rừng cỏ, rừng sâu, hang cây, sông ngòi hiểm hóc, hay kẽ núi đi ra, ôm lấy nhau, cùng nhau an ủi, khoan khoái nói với nhau: "Sung sướng thay được thấy bạn còn sống! Sung sướng thay được thấy bạn còn sống!"”
(Trường Bộ Kinh, 26. Kinh Chuyển luân Thánh vương Sư tử hống)
Kiếp nạn chém giết này còn hơn chiến tranh vì chiến tranh là bên này đánh bên kia còn đây là tất cả mọi người đều khởi lên tâm sát hại, chạm vào cái gì cũng thành vũ khí để sát hại cho nên sau bảy ngày kinh hãi đó mọi người gặp lại nhau rất vui mừng, dân gian hay gọi là tận thế, những người ác sẽ chết hết để những người hiền thiện sống sót.
“Này các Tỳ-kheo, rồi các loài hữu tình ấy suy nghĩ: "Vì chúng ta tạo nhân bất thiện pháp nên bà con chúng ta bị giết hại nhiều như vậy. Vậy chúng ta hãy làm điều thiện. Chúng ta làm điều thiện như thế nào? Chúng ta chớ có sát sanh. Ðó là điều thiện chúng ta có thể làm".”
(Trường Bộ Kinh, 26. Kinh Chuyển luân Thánh vương Sư tử hống)
Lúc này không có Đức Phật, không có giáo pháp cho nên tự họ nhìn thấy quả báo của những hành động ác ấy, tự họ thấy cái khổ, tự họ ý thức được nhân quả. Lúc này không có kinh sách gì cả cho nên trong đoạn trước Đức Phật nói chữ thiện cũng sẽ không còn, nói gì ai là người làm điều thiện, lúc này không ai biết làm điều lành, không ai biết đến chữ "thiện" thì làm sao có người làm điều thiện cho nên mới gọi là mạt kiếp, sự tận cùng của ác pháp.
Vì thế người này biết được nghiệp ác nên họ tự ý thức giữ gìn và những người này là những người lành thiện trốn trong núi rừng xa vắng, trong hang đá rồi trở ra thấy người chết chất đống thành núi, máu thành sông. Đây là sự tận cùng của ác pháp, nó đã đi đến cực đỉnh của những điều xấu xa, tội lỗi của thế giới này và chúng ta đang dần dần đi sự xuống dốc đó, trừ những bậc Đa văn Thánh đệ tử, những bậc đi theo đường lối của Đức Thế Tôn chân thành tha thiết tu học, mình may mắn có Chánh Pháp còn đi đến mạt kiếp thì chữ thiện còn không có thì nói gì đến Chánh Pháp, không ai biết đến chữ thiện thì nói gì đến người làm thiện, đương nhiên từ "Phật" và "Pháp" cũng không có người biết đừng nói gì đến Tứ Diệu Đế, Bát Thánh Đạo, đó là mạt pháp, mạt vận, mạt kiếp, không còn danh từ Tam bảo, thiện lành gì nữa mà chỉ còn là sự ác độc, sân hận, sát tâm, hại tâm, ác ý mãnh liệt khởi lên nên đi đến chỗ diệt tận.
Chính vì điều này mà những người này họ cảm thấy sợ hãi nên trốn trong rừng, sau kiếp nạn này họ trở ra ôm nhau vui mừng "Sung sướng thay được thấy bạn còn sống! Sung sướng thay được thấy bạn còn sống!". Có một Phật tử ở San Jose, phía bắc Cali gọi cho con nói trong 20 người thì có một người nhiễm bệnh, còn những người quen biết thì run sợ, lo lắng, ở trong nhà không dám ra ngoài đường. Chỉ mới là dịch bệnh thôi mà đã vậy thì khi đi đến mạt kiếp, chém giết nhau không ghê tay thì làm sao chịu nổi, làm sao có thể tưởng tượng ra được, chúng ta dùng thọ; tưởng; hành để quán chiếu cảnh tượng này lúc đó thế giới, loại người chúng sanh như thế nào. Sau khi qua được kiếp nạn binh đao thì những người sống sót mới suy nghĩ lại, phải làm điều thiện, không sát sanh.
“Do hành thiện pháp làm nhân, tuổi thọ của họ được tăng thịnh, sắc đẹp được tăng thịnh. Vì tuổi thọ được tăng thịnh, sắc đẹp được tăng thịnh, nên tuổi thọ loài Người chỉ có mười tuổi nhưng con của họ, thọ đến hai mươi tuổi.”
(Trường Bộ Kinh, 26. Kinh Chuyển luân Thánh vương Sư tử hống)
Như vậy là thiện pháp duy trì thế giới, giúp cho thế giới được đứng vững, tồn tại và được an lành. Vì làm thiện pháp nên dung sắc, tuổi thọ được tăng trưởng, phát triển và vì tuổi thọ, dung sắc tăng trưởng nên con của họ sống đến hai mươi tuổi.
“Này các Tỳ-kheo, rồi các loài hữu tình ấy suy nghĩ: "Chúng ta nhờ hành thiện pháp làm nhân, nên tuổi thọ được tăng thịnh, sắc đẹp được tăng thịnh. Vậy chúng ta hãy làm việc thiện nhiều hơn nữa. Chúng ta hãy gìn giữ không lấy của không cho, gìn giữ không làm các tà hạnh, gìn giữ không nói láo, gìn giữ không nói hai lưỡi, gìn giữ không ác khẩu, gìn giữ không nói lời phù phiếm, từ bỏ tham, từ bỏ sân, từ bỏ tà kiến, tà bỏ ba pháp tức là phi pháp dục, phi lý tham và tà kiến. Chúng ta hãy hiếu kính cha mẹ, kính lễ các vị Sa môn, Bà-la-môn, cung kính các vị cầm đầu trong gia đình. Chúng ta hãy thực hành thiện pháp ấy."”
(Trường Bộ Kinh, 26. Kinh Chuyển luân Thánh vương Sư tử hống)
Những người con sống được hai mươi tuổi mới suy nghĩ nên làm những thiện pháp nhưng đoạn kinh này kể vắn tắt, nghĩa là không phải trong một lần mà họ làm được hết các điều thiện kể trên mà phải trải qua một thế hệ thì thiện pháp lại tăng thêm, cứ trải qua một thế hệ cả trăm năm hoặc nhiều ngàn năm thì thiện pháp cứ tăng lên từ từ. Vì họ không biết thập thiện là gì mà tự bản thân họ thấy đau khổ, hoạn nạn nên tự họ rút ra bài học kinh nghiệm về nhân quả. Họ không được Phật – Pháp – Tăng giảng cho biết về thập thiện hay tam quy ngũ giới mà họ thấy mạt kiếp như vậy nên họ sợ hãi, đau khổ, chết chóc nên tự rút ra bài học kinh nghiệm nhãn tiền trước mắt.
“Họ hiếu kính mẹ, hiếu kính cha, kính lễ các vị Sa môn, Bà-la-môn, cung kính các vị cầm đầu ở trong gia đình, họ sẽ thực hành thiện pháp này. Do hành thiện pháp làm nhân, tuổi thọ tăng thịnh, sắc đẹp tăng thịnh. Vì tuổi thọ họ tăng thịnh và sắc đẹp tăng thịnh, tuổi thọ loài Người đến hai mươi tuổi và các người con sẽ lên đến bốn mươi tuổi.”
(Trường Bộ Kinh, 26. Kinh Chuyển luân Thánh vương Sư tử hống)
Đây là một kiếp giảm một kiếp tăng, hôm trước chúng ta học là kiếp giảm, bây giờ là kiếp tăng.
“Tuổi thọ loài người lên đến bốn mươi tuổi và các người con sẽ lên đến tám mươi tuổi. Tuổi thọ loài Người lên đến tám mươi tuổi và các người con sẽ lên đến một trăm sáu mươi tuổi. Tuổi thọ loài Người lên đến một trăm sáu mươi tuổi và các người con sẽ lên đến ba trăm hai mươi tuổi. Tuổi thọ loài Người lên đến ba trăm hai mươi tuổi và các người con sẽ lên đến sáu trăm bốn mươi tuổi. Tuổi thọ loài Người lên đến sáu trăm bốn mươi tuổi và các con sẽ lên đến hai ngàn tuổi. Tuổi thọ loài Người lên đến hai ngàn tuổi và các người con sẽ lên đến bốn ngàn tuổi. Tuổi thọ loài Người lên đến bốn ngàn tuổi và các người con sẽ lên đến tám ngàn tuổi. Tuổi thọ loài Người lên đến tám ngàn tuổi và các con sẽ lên đên hai vạn tuổi. Tuổi thọ loài Người lên đến hai vạn tuổi các người con sẽ lên đến bốn vạn tuổi. Tuổi thọ loài Người lên đến bốn vạn tuổi và các người con sẽ lên tám vạn tuổi.”
(Trường Bộ Kinh, 26. Kinh Chuyển luân Thánh vương Sư tử hống)
Thiện pháp càng tăng thì dung sắc, tuổi thọ càng tăng và tăng trở lại như thuở ban đầu tám vạn tuổi. Tới lúc này thiện pháp được sung mãn, được mọi người tôn trọng, hành trì, khi tuổi thọ lên đến tám vạn tuổi thì con gái đến năm trăm tuổi mới lập gia đình. Dù là năm trăm tuổi mới lập gia đình nhưng họ vẫn trẻ vì giới đức, thiện pháp sung mãn.
“Này các Tỳ-kheo, khi tuổi thọ loài Người lên đến tám vạn tuổi, các người con gái đến năm trăm tuổi có thể thành lập gia đình. Này các Tỳ-kheo, khi tuổi thọ loài người lên đến tám vạn tuổi, ba chứng bệnh sau đây có mặt: lòng dục, tham ăn và già. Này các Tỳ-kheo, khi tuổi thọ loài Người lên đến tám vạn tuổi, nước Jambudìpa này (Diêm phù đề) sẽ rất hùng mạnh và phong phú. Các làng mạc, tỉnh thành, kinh đô ở sát nhau đến nổi con gà gáy bên này, bên kia có thể nghe được!”
(Trường Bộ Kinh, 26. Kinh Chuyển luân Thánh vương Sư tử hống)
Không có sự lấn chiếm, tranh giành giữa các nước mà các nước ở sát nhau có thể nghe được tiếng gà gáy, mọi người rất lành thiện.
“Này các Tỳ-kheo, khi tuổi thọ loài Người lên đến tám vạn tuổi, nước Jambudìpa này như sẽ rất phồn thịnh với người Avidi (A-tỷ Ðịa ngục), giống như rừng lau hay rừng sậy. Này các Tỳ-kheo, khi tuổi thọ loài Người lên đến tám vạn tuổi, thành phố Baranasi này (Ba-la-nại) là kinh đô tên gọi Ketumati, rất là hùng mạnh, phong phú, đông dân cư và ăn uống đầy đủ. Này các Tỳ-kheo, khi tuổi thọ loài Người lên đến tám vạn tuổi tại nước Jambudìpa này, sẽ có tám vạn bốn ngàn thành phố và Ketumati sẽ là kinh đô tối thượng.”
(Trường Bộ Kinh, 26. Kinh Chuyển luân Thánh vương Sư tử hống)
III. Đức Phật Di Lặc
Đức Phật nói thẳng tên của các thành phố hùng mạnh, phồn thịnh, điều này cho chúng ta thấy trí huệ của Đức Phật đã vượt tầm pháp giới, nhìn thấy xuyên suốt bao nhiêu vạn tỉ năm về sau và nhìn về trước vô số kiếp, khi đã chứng ngộ được thì trí huệ siêu việt hơn cả không gian, thời gian.
“Này các Tỳ-kheo, khi tuổi thọ loài Người lên đến tám vạn tuổi, ở kinh đô Ketumati, có vị Chuyển luân Thánh vương tên là Sankha ra đời, là vị pháp vương, lấy Chánh pháp trị nước, chinh phục bốn thiên hạ, cai trị các quốc độ, và đầy đủ bảy món báu, tức là xe báu, voi báu, ngựa báu, châu báu, nữ báu, gia chủ báu và thứ bảy là tướng quân báu. Vị ấy có hơn một ngàn hoàng tử, dõng kiện, hùng mạnh, nhiếp phục ngoại địch, vị này trị vì quả đất này cho đến hải biên, dùng Chánh pháp trị quốc, không dùng trượng, không dùng kiếm.
Này các Tỳ-kheo, khi tuổi thọ loài Người lên đến tám vạn tuổi, có Thế Tôn tên là Metteyya sẽ ra đời là vị A la hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn; như Ta nay sanh ra ở đời này, là bậc A la hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn. Vị này tự mình biết, chứng, và tuyên thuyết quả đất này, gồm có Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, Thế giới này với Sa môn, Bà la môn, loài Trời, loài Người; như Ta hiện nay tự mình biết, chứng và tuyên thuyết quả đất này, gồm có Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, Thế giới này với Sa môn, Bà la môn, loài Trời và loài Người. Vị này sẽ thuyết pháp, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, với nghĩa lý văn tự đầy đủ và tuyên thuyết đời sống phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ thanh tịnh; như Ta hiện nay thuyết pháp, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, với nghĩa lý văn tự đầy đủ và tuyên thuyết đời sống phạm hành hoàn toàn đầy đủ thanh tịnh. Vị này sẽ có khoảng vài ngàn vị Tỳ-kheo Tăng đoàn; như Ta hiện nay có khoảng vài trăm vị Tỳ-kheo Tăng đoàn vậy.”
(Trường Bộ Kinh, 26. Kinh Chuyển luân Thánh vương Sư tử hống)
Khi đã phồn thịnh thì bắt đầu trở lại thời thịnh thế chuyển luân Thánh vương ra đời, vị này cũng có đầy đủ bảy món báu. Khi đó Đức Phật Di Lặc Metteyya Từ Thị ra đời.
“Này các Tỳ-kheo, vua Sankha sẽ cho thiết lập cung điện mà vua Mahà Panada đã thiết lập. Sau khi thiết lập, vua trú tại đó. Sau vua lại bố thí cung điện ấy, dâng cúng cho các vị Sa môn, Bà-la-môn, các hàng bần cùng, du đãng, ăn xin, cạo bỏ râu tóc, mặc áo cà sa, từ bỏ gia đình, sống không gia đình dưới sự chỉ đạo của Thế Tôn Metteyya, bậc A la hán, Chánh Ðẳng Giác. Vị này xuất gia như vậy, sống một mình, biệt lập, tinh tấn, trì chú, chuyên tâm, chẳng bao lâu chứng được vô thượng phạm hạnh, mà vì mục đích này các thiện nam tử đã xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Với vô thượng phạm hạnh này, ngay trong hiện tại, vị này tự tu, tự chứng, đạt đến và an trú.”
(Trường Bộ Kinh, 26. Kinh Chuyển luân Thánh vương Sư tử hống)
Tức là nhà vua chuyển luân Thánh vương này xuất gia theo Phật Di Lặc và vị này sống một mình, trì chú, chuyên tâm thì chứng được vô thượng phạm hạnh và thành tựu Thánh quả A-la-hán.
“Này các Tỳ-kheo, hãy sống tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa mình, không nương tựa một ai khác, lấy Chánh pháp làm ngọn đèn, nương tựa Chánh pháp, không nương tựa một gì khác. Này các Tỳ-kheo, thế nào là một Tỳ-kheo sống tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa mình, không nương tựa một ai khác, lấy Chánh pháp làm ngọn đèn, nương tựa Chánh pháp, không nương tựa một gì khác? Này các Tỳ-kheo, ở đây vị Tỳ-kheo sống quán thân trên tự thân, nhiệt tâm, tinh cần, chánh niệm, tỉnh giác, để diệt trừ tham ưu ở đời, trên các cảm thọ... trên các tâm... quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tinh cần, chánh niệm, tỉnh giác, để có thể diệt trừ tham ưu ở đời. Như vậy này các Tỳ-kheo, vị Tỳ-kheo sống tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa mình, không nương tựa một ai khác, lấy Chánh pháp làm ngọn đèn, nương tựa Chánh pháp, không nương tựa một gì khác.
Này các Tỳ-kheo, hãy đi lại trong giới hạn được phép của mình, trong giới hạn Tổ phụ các Ngươi truyền lại. Này các Tỳ-kheo, nếu các Ngươi đi lại trong giới hạn được phép của mình, trong giới hạn Tổ phụ các Ngươi truyền lại thời tuổi thọ sẽ được tăng thịnh, sắc đẹp sẽ được tăng thịnh, an lạc sẽ được tăng thịnh, tài sản sẽ được tăng thịnh, thế lực sẽ được tăng thịnh.”
(Trường Bộ Kinh, 26. Kinh Chuyển luân Thánh vương Sư tử hống)
Tức là không đi ra ngoài Tứ Niệm Xứ, hãy sống tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa mình, không nương tựa một ai khác, lấy Chánh pháp làm ngọn đèn, nương tựa Chánh pháp, không nương tựa một gì khác.
“Này các Tỳ-kheo, như thế nào vị Tỳ-kheo tuổi thọ được tăng thịnh? Này các Tỳ-kheo, ở đây, vị Tỳ-kheo tu tập thần túc, đầy đủ Dục thiền định tinh cần hành; tu tập thần túc, đầy đủ Tinh tấn thiền định tinh cần hành; tu tập thần túc đầy đủ Tâm định tinh cần hành; tu tập thần túc đầy đủ Tư duy thiền định tinh cần hành
Này các Tỳ-kheo, thế nào là vị Tỳ-kheo sắc đẹp được tăng thịnh? Này các Tỳ-kheo, ở đây, vị Tỳ-kheo sống giữ giới luật, chế ngự với sự chế ngự của giới bổn Patimokkha (Ba-la-đề-mộc-xoa), đầy đủ oai nghi chánh hạnh, thấy nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt, thọ lãnh và tu học trong giới pháp.
Này các Tỳ-kheo, thế nào là vị Tỳ-kheo an lạc được tăng thịnh? Này các Tỳ-kheo, ở đây, vị Tỳ-kheo ly dục, ly ác pháp, chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh với tầm, với tứ; diệt tầm, diệt tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm, không tứ... chứng và trú Thiền thứ ba... chứng và trú Thiền thứ tư.
Này các Tỳ-kheo, thế nào là vị Tỳ-kheo tài sản được tăng thịnh? Này các Tỳ-kheo, ở đây, vị Tỳ-kheo an trú, biến mãn một phương với tâm câu hữu với từ, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với từ, quảng đại vô biên, không hận, không sân, với tâm câu hữu với bi... với tâm câu hữu với hỷ... Vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với xả, quảng đại vô biên, không hận, không sân.
Này các Tỳ-kheo, như thế nào là vị Tỳ-kheo thế lực được tăng thịnh? Này các Tỳ-kheo, ở đây vị Tỳ-kheo, với sự diệt tận các lậu hoặc, tự mình biết và chứng, đạt đến an trú ngay trong hiện tại tâm giải thoát, tuệ giải thoát không còn các lậu hoặc.
Này các Tỳ-kheo, ta quán sát và thấy không có một uy lực nào khác khó nhiếp phục hơn uy lực của Ma vương. Này các Tỳ-kheo, chính nhờ chấp nhận và thực hành những thiện pháp ấy mà công đức này được tăng thịnh!”
(Trường Bộ Kinh, 26. Kinh Chuyển luân Thánh vương Sư tử hống)
Uy lực của Ma vương là tham ái, mình bị Ma chiếm đóng do còn tham ái, khát ái, không có một sức mạnh nào khó nhiếp phục hơn Ma vương tham ái, khát ái. Trên đây là bài kinh Chuyển luân Thánh vương sư tử hống, sự hình thành và hoại diệt của nhân sinh và vũ trụ trong kiếp tăng, kiếp giảm của thế giới. Vì có thiện pháp và ác pháp mà chiêu cảm ra sự khổ đau và an lạc của chúng sanh hữu tình và cũng cho chúng ta thấy sự khủng khiếp của dòng luân hồi. Có một số vị tu nói rằng chờ Phật Di Lặc ra đời, ngay hiện tại có Chánh Pháp giảng rõ ràng còn chưa chịu tu mà đòi chờ Phật Di Lặc rước đi, tâm mình lừa gạt rõ ràng như vậy.
Hãy quán chiếu, suy tư, nghiền ngẫm, chấn động trước trí tuệ tối tôn, tối thượng, thâm sâu và dài xa này. Hãy thấy đau xót và tủi thân cho một đời sống bọt bèo, ngắn ngủi, nhiều khổ đau, nhiều ưu não. Chúng ta hãy cùng nhau cố gắng tinh tấn dấn thân trên con đường tu tập này vì e rằng sau này khó mà học được Chánh Pháp. Đức Phật nói khi xảy ra chiến tranh sẽ không thể tu học được, dịch bệnh, tâm bất an không thể tu học được, Tăng chúng bất hòa không tu học được, những khi đói thiếu, đói khát không thể an ổn để tu học được.
Mong rằng tất cả chúng ta hãy tận dụng tất cả thời gian cho pháp học và pháp hành, con cố gắng chia sẻ một thời gian nữa cho mọi người về Chánh Pháp vì e rằng sau này không còn người ưa thích học về điều này nữa, những thiên tai, thảm họa xảy ra cũng không thuận tiện để chia sẻ pháp nên chúng ta hãy luôn tác ý "Mình đang sống trong sự bất an, đừng lãng quên", tập trung thời gian vào học pháp, thiền định vì thời gian không còn nhiều nữa. Mong rằng tất cả chúng ta cố gắng tinh tấn, đừng quên điều này.
./.