Vạn Linh Pháp Thoại 2 - Thấu Hiểu Căn Nguyên
THẤU HIỂU CĂN NGUYÊN
Thích Minh Thành
Đây là một vấn đề hết sức trọng yếu trong sự tu tập, Đức Phật dạy mình điều chỉnh cái thấy biết cho chính xác, đó mới là cội gốc cho tất cả sự tu hành vì trước giờ mình thấy sai, từ chỗ thấy sai nên suy nghĩ sai, mà suy nghĩ sai thì nói sai, nói sai thì làm sai, mình làm sai mà càng nỗ lực làm thì cái nỗ lực đó đi đến lầm lạc nên gọi là Bát Tà Đạo, trong khi Đức Phật dạy mình Bát Chánh Đạo, mà Bát Chánh Đạo là con đường tất cả hiền thánh ngày xưa đã đi, bây giờ đang đi và ngày sau cũng vẫn đi trên con đường này. Tất cả tông phái, tất cả pháp môn đều phải đi trên con đường đó, nếu đi lệch là không phải con đường Đức Phật đã đi. Dù cho tu bất kì pháp môn nào thì cái thấy của mình phải thấy chân chánh, thấy đúng thì mới có kết quả. Chùa Vạn Linh bên phải mà mình đón xe đi bên trái thì càng đi càng xa chùa, cho nên phải xác định hướng đi, xác định con đường mới là điều quan trọng. Từ sáng giờ mình học để thành tựu chánh kiến, để mình thấy đúng nhưng không phải thấy đâu cho xa mà tất cả khổ đau xuất phát từ chính mình chứ không phải ở bên ngoài. Bây giờ ai làm cho mình khổ? Ông trời hay sao? Chính vì thế cốt tủy của tất cả sự tu tập là để cho mình hiểu rõ chính mình, hiểu rõ cái mình đang mang là gì, nếu mình không hiểu thân này là gì thì tất cả những cái hiểu khác đều là viễn vong. Trong kinh Đức Phật đã nói người vô văn phàm phu, tức là phàm phu không nghe được chánh pháp, không thuần thục đối với bậc thánh, không tư duy tu tập theo giáo pháp của Đức Phật thì kẻ phàm phu đó cho rằng sắc; thọ; tưởng; hành; thức này là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi, những cái này biến đổi thì người này đau khổ
Có kẻ vô văn phàm phu không thấy rõ các bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh, không thấy rõ các bậc Chân nhân, không thuần thục pháp các bậc Chân nhân, không tu tập pháp các bậc Chân nhân, quán sắc như là tự ngã, hay tự ngã như là có sắc, hay sắc ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong sắc. Vị ấy bị ám ảnh: "Sắc là ta, sắc là của ta". Do bị ám ảnh: "Sắc là ta, sắc là của ta." khi sắc biến hoại, đổi khác; do sắc biến hoại, đổi khác, nên vị ấy khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não!
Vị ấy quán thọ như là tự ngã, hay tự ngã như là có thọ, hay thọ ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong thọ. Vị ấy bị ám ảnh: "Thọ là ta, thọ là của ta". Do bị ám ảnh: "Thọ là ta, thọ là của ta" khi thọ biến hoại, đổi khác; nên do thọ biến hoại, đổi khác, vị ấy khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não!
Vị ấy quán tưởng như là tự ngã, hay tự ngã như là có tưởng, hay tưởng ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong tưởng. Vị ấy bị ám ảnh: "Tưởng là ta, tưởng là của ta". Do bị ám ảnh: "Tưởng là ta, tưởng là của ta" khi tưởng biến hoại, đổi khác; nên do tưởng biến hoại, đổi khác, vị ấy khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não!
Vị ấy quán các hành như là tự ngã hay tự ngã như là có các hành, hay các hành ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong các hành. Vị ấy bị ám ảnh: "Các hành là ta, các hành là của ta". Do bị ám ảnh: "Các hành là ta, các hành là của ta" khi các hành biến hoại, đổi khác; do các hành biến hoại, đổi khác, vị ấy khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não!
Vị ấy quán thức như là tự ngã, hay tự ngã như là có thức, hay thức ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong thức. Vị ấy bị ám ảnh: "Thức là ta, thức là của ta" khi thức biến hoại, đổi khác; nên do thức biến hoại, đổi khác, vị ấy khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não! (Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (a), A. Năm Mươi Kinh Căn Bản, I. Phẩm Nakulapità, I. Nakulapità)
Nếu có gì xảy ra với cái thân này thì có khổ không? Hay người thân mình xảy ra chuyện gì thì mình có khổ không? Anh em thương mến nhau lắm mà khi xảy ra tai nạn thân thể văng tứ tung thì mình còn thương nổi không hay lúc đó lại sợ, không dám đến gần? Cho nên mình biết rằng sự mê lầm sâu sắc về sắc uẩn rất nặng, chính từ chỗ này phát sanh ra tham sân si, từ si là không thấy sự thật nên mới tham muốn, từ tham muốn không được thì sân hận, đây là cái gốc của sự việc. Từ chỗ không hiểu được bản chất mình là gì, cứ tưởng đây là tôi, cái này là si cho nên mới có tham về cho tôi. Trong kinh Đức Phật dùng từ 'tự thể ái' và 'cảnh giới ái'. Tự thể ái là sự yêu thích chính bản thân mình, mình nói mình thương người đó nhưng thật sự chưa hẳn là vậy, nếu người đó làm trái ý mình hay làm việc gây hại đến mình thì cái thương đó sẽ biến thành hận thù. Chỉ có trí huệ của đạo Phật mới chỉ dẫn cho mình thấy được sự sâu xa là mình thương chính bản thân mình thôi, yêu mình là yêu cục thịt mấy chục kí lô này, yêu máu mủ, tim gan, hoành cách mô, tùy phế thận… trong tấm thân này. Lớp vô minh phủ quá dày, quá cứng chắc từ nhiều đời nhiều kiếp, vì vậy trí huệ của đạo Phật là một trí huệ đại bác, phá tung vỡ hết những thứ này, vì vậy cố Hòa Thượng đạo sư mới dịch mấy chục cuốn Đại Bát Nhã. Tại sao Đức Phật phải nói nhiều đến vậy? Vì cái mê của mình quá sâu nặng, Phật nói hoài, nói nhiều vậy mà mình nghe xong rồi trở ra cũng y như cũ. Trong Tăng Chi Bộ, Tập III, bài kinh Tưởng, Đức Phật dạy:
Có bảy tưởng này, này các Tỳ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, có quả lớn, có lợi ích lớn, thể nhập vào bất tử, lấy bất tử làm cứu cánh. Thế nào là bảy?
Tưởng bất tịnh,
Tưởng chết,
Tưởng nhàm chán đối với các món ăn,
Tưởng không hoan hỷ đối với tất cả thế giới,
Tưởng vô thường,
Tưởng khổ trong vô thường,
Tưởng vô ngã trong khổ.
Bảy tưởng này, này các Tỳ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, có quả lớn, có lợi ích lớn, thể nhập vào bất tử, lấy bất tử làm cứu cánh. (Tăng Chi Bộ, Chương VII - Bảy Pháp, V. Phẩm Ðại Tế Ðàn, (V) (45) Tưởng (1))
Này các Tỳ-kheo, khi một Tỳ-kheo sống nhiều với các tưởng bất tịnh, thời tâm thối lui, tâm trở lưng, quay lưng để không đắm vào các dâm dục; do đó tâm vị ấy không căng thẳng, thanh thản, khởi lên nhàm chán. Ví như, này các Tỳ-kheo, lông gà hay là dây gân quăng vào lửa thời thối lui, trở lưng, quay lưng, và không căng thẳng; cũng vậy, này các Tỳ-kheo, khi một Tỳ-kheo sống nhiều với các tưởng bất tịnh, thời tâm thối lui, tâm trở lưng, quay lưng để không đắm vào các dâm dục; do đó tâm vị ấy không căng thẳng, thanh thản, khởi lên nhàm chán. (Tăng Chi Bộ, Chương VII - Bảy Pháp, V. Phẩm Ðại Tế Ðàn, (VI) (46) Tưởng (2))
Lông gà khi gặp lửa thì bị quéo lại, người nào thường tu tập quán bất tịnh, thường nhìn thấy bản chất của thân này, ngoài ra Đức Phật còn nói thêm chín lỗ chảy ra những thứ bất tịnh thì người này sẽ thành tựu. Chín lỗ này gồm hai con mắt chảy ra ghèn, hai lỗ mũi chảy ra nước mũi mà mình lau không kịp là chảy luôn vào miệng, gớm như vậy mà lại mê, hai lỗ tai chảy ra cứt ráy rồi khi đại tiểu tiện cho ra những thứ gì, tại sao mình lại phải làm những cái phòng nho nhỏ để đi vào đó? Trong Quan Âm Diệu Duyên có một vị Hòa Thượng già muốn độ cho một chú vừa bất hiếu với cha mẹ vừa không nghe lời. Khi vị Hòa Thượng đến thì chú này để thùng phân trên cánh cửa, vị Hòa Thượng mở cửa ra thì thùng phân đổ xuống đầu nhưng Hòa Thượng vẫn không lấy thùng phân ra mà để vậy đội đi, người ta chạy theo nhìn rất nhiều và tỏ thái độ ghê tởm. Vị Hòa Thượng mới nói thùng phân lớn đội thùng phân nhỏ chứ có gì đâu mà ghê, từ thùng phân lớn này mới có ra thùng phân nhỏ. Vì vậy bậc trí huệ rất khác với phàm phu.
Mày ngang mũi dọc, tướng lạ xem ắt bẵng nhau;
Mặt thánh lòng phàm, thực cách nhẫn vàn vàn thiên lý...”
(Cư Trần Lạc Đạo – Trần Nhân Tông)
Đây là hai câu thơ trong bài Cư Trần Lạc Đạo của vua Trần Nhân Tông, sơ tổ Trúc Lâm của chúng ta. Ai cũng mày ngang mũi dọc nhưng mặt thánh lòng phàm cách xa vô vàn thiên lý, cũng có tai chân mắt mũi như nhau nhưng bậc trí huệ thấy rõ bản chất thực tướng, còn ai cọ quẹt mình chút xíu thôi là biết tay nhau chứ đừng nói là đổ nguyên thùng phân lên đầu thì còn lớn chuyện hơn nữa. Ai làm mình trầy trụa một chút thôi là sân si lên, cáu gắt lên mà không biết rằng thùng phân lớn đội thùng phân nhỏ. Cái mà mình cảm thấy khiếp sợ, sợ hãi thì cái này chính là trí tuệ cho nên hôm nay quý vị đang tưới nước, đang cho thân trí huệ của mình chất dinh dưỡng để quý vị phát triển trí huệ tâm linh, thân trí huệ, thân giải thoát, thân Bát Nhã. Còn ở ngoài quý vị uống sữa vô minh, chỗ nào mà không tung hô vạn tuế cái thân này, toàn sơn một lớp giả bên ngoài, tới khi chết là cuốn chiếu lại nhanh bỏ vào hòm. Toilet bên nước ngoài thơm tho sạch sẽ, vào trong đó đọc báo vì càng văn minh thì càng khéo che đậy chứ không có gì hết, mà càng che đậy thì càng vô minh. Trong kinh điển tán thán Đức Phật là bậc phơi bày ra những gì bị che đậy, khi Đức Phật thuyết pháp xong mà các vị đệ tử hiểu ra đạo lý thường tán thán Thế Tôn đã phơi bày ra những gì bị che đậy, dựng đứng những gì bị ngã đổ, đem ánh sáng vào trong bóng tối để người có mắt thấy các sắc. Đó là công việc của Đức Thế Tôn, công việc của các bậc hiền thánh Tăng, còn mình nghe pháp mà nghe theo kiểu nghệ sĩ, thích ông thầy đó nói chuyện tiếu lắm, vui lắm, vỗ tay hoan hô thì xin thưa cái đó không phải chánh pháp.
Khi nghe nói vậy, vua Pasenadi nước Kosala bạch Thế Tôn:
-- Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho người bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình bày, giải thích. Bạch Thế Tôn, con xin quy y Thế Tôn, quy y Pháp, quy y chúng Tăng. Mong Thế Tôn nhận con làm đệ tử, từ nay trở đi cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng. (Tương Ưng Bộ, Tập I – Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, I. Phẩm Thứ Nhất, I. Tuổi Trẻ)
Ðược nghe nói vậy, Bà-la-môn thuộc dòng họ Bhàradvàja bạch Thế Tôn:
-- Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Tôn giả Gotama, như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ lạc hướng, hay đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Tôn giả Gotama dùng nhiều phương tiện trình bày, giải thích. Vậy nay con xin quy y Thế Tôn Gotama, quy y Pháp và quy y Tỳ-kheo Tăng. Mong Tôn giả Gotama cho con được xuất gia trước mặt Thế Tôn, cho con được thọ đại giới! (Tương Ưng Bộ, Tập I – Thiên Có Kệ, Chương VII. Tương Ưng Bà La Môn, I. Phẩm A-La-Hán Thứ Nhất, I. Dhananjàni)
Chánh pháp là để cho quý vị mở ra những điều trước nay mình không thấy, từ đó phá vỡ mê lầm, chấp ngã, để rúng động cái tâm say mê, thích thú trong sự vô thường ảo mộng, đó là mới là công năng của chánh pháp, đó là tiếng gầm của sư tử, là tiếng đại hồng chung của diệu pháp vô thượng. Từ sáng đến giờ mọi người có nghe rung rinh không? Cái mê rung rinh, cái vô minh bị ảnh hưởng mạnh vì sắp sửa sụp đổ, còn khi sụp đổ thì chứng quả, khi vô minh diệt thì minh sẽ sanh. Quý vị đang bước trên con đường đi vào ánh sáng, người xưa có bài thơ nói về lòng dạ con người rất hay, được lưu truyền cho đến ngày nay:
Biển cả với sóng lớn cũng còn nông cạn,
Kẻ tiểu nhân thì lòng dạ sâu hiểm.
Biển khô cuối cùng cũng thấy đáy,
Người đến chết cũng không hiểu được lòng dạ.
(Cảm Ngụ - Đỗ Tuân Tạc)
Đến một lúc nào đó biển khô đi cũng còn thấy được đáy biển, còn con người đến chết rồi cũng không biết được cái tâm vô minh, si mê của mình, chỉ có Phật mới chỉ cho mình thấy thôi. Mình bệnh nặng đến bác sĩ cũng chịu thua mà vẫn giấu bệnh, không muốn cho ai biết, ai hỏi cũng nói khỏe, nói xong là quay ra sau lưng khóc, đến chết cũng còn si mê. Mình phải nói cho họ biết họ không còn sống được bao lâu để họ chuẩn bị tinh thần, bây giờ bất thình lình có người thảy mình lên xe chở đi trong bóng đêm thì mình có sợ không? Thông báo cho mình biết trước thì đỡ hơn đúng không? Thì việc sắp chết cũng giống như vậy, cho nên cái vô minh này Đức Thế Tôn nói là khối vô minh rất to lớn cho nên tu là mỗi ngày mài giũa nó cho mòn từ từ, đó là sự tu tập của chánh pháp chứ không phải tu là khoe tụng niệm nhiều, làm nhiều việc. Cho nên mình quán chiếu về cái chết, thường nhớ cái chết, mọi người thường nghĩ người nào nhớ đến cái chết nhiều là người đó đang chán đời, không phải như vậy, mình nhớ cái chết nhiều chừng nào thì mình càng trân trọng sự sống chừng đó, mình càng quán chiếu về cái vô thường chừng nào thì mình càng tích tụ nhiều thiện pháp, công đức, thiện căn, phước đức nhân duyên của mình.
Niệm chết, này các Tỳ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, có quả lớn, có lợi ích lớn, nhập vào bất tử, cứu cánh là bất tử. Này các Tỳ-kheo, các Thầy hãy tu tập niệm chết.
Này các Tỳ-kheo, những Tỳ-kheo ấy được gọi là những vị sống không phóng dật, tu tập rất sắc sảo niệm chết để đoạn diệt các lậu hoặc. Do vậy, này các Tỳ-kheo, các Thầy cần phải tu học như sau:
"Hãy sống không phóng dật! Ta sẽ tu tập một cách sắc sảo niệm chết để đoạn diệt các lậu hoặc". (Tăng Chi Bộ, Chương VI - Sáu Pháp, II. Phẩm Cần Phải Nhớ, (IX) (19) Niệm Chết (1))
Không phải nhớ vô thường rồi mình không làm gì hết thì đó là mình nhớ chết, mình thường nhớ cái chết rồi có ai nói nặng nhẹ mình thì tự nhủ "chết rồi không lo, ở đó lo cãi nhau làm gì". Nếu mình biết bảy ngày nữa mình chết thì thời gian này mình sẽ làm gì? Còn nhớ ghen tức, giận hời ai không? Còn muốn đi chơi, thưởng thức phong cảnh, món ăn nữa không? Vì vậy thường nhớ đến cái vô thường như vậy thì phiền não sẽ tự động tiêu tan, trong lục niệm có niệm Phật, niệm pháp, niệm Tăng, niệm giới, niệm thí, niệm thiên, niệm tử, niệm diệt và niệm Niết-bàn, trong đó niệm tử rất quan trọng, nếu mình thường niệm cái này thì mình sẽ quay lưng lại đối với sự tham đắm, dục vọng, sân hận của thế gian. Nếu có ai lại sân hận với mình thì "sân hận làm gì, cái này là giả dối, năm nau 70 tuổi gần chết đến nơi rồi ở đó còn sân với hận chi cho mệt, tu cho khỏe", chết tới nơi không lo mà lo giận, chết không lo mà ở đó lo tham, lo hơn thua, cho nên Đức Phật nói người trí huệ là người lo những điều đáng lo, còn người không có trí huệ là cái đáng lo lại không lo, cái không đáng lo lại lo, đó là người vô trí. Mọi người đừng nghĩ chết là một cái gì đó đại sự nhưng thực sự rất đơn giản, thân này là vô chủ, mình nghĩ mình làm chủ được nó nhưng thật sự không phải vậy. Nếu làm chủ được thân này thì hãy kêu nó đừng bệnh, đừng già, đừng bị móm… mình có làm được không? Mình có biết ngày nào mình nhắm mắt ra đi không? Nếu không biết thì mình không làm chủ được thân này, mình phải quán chiếu cho sâu sắc thân này là vô chủ thì tự nhiên việc trách móc thân này nhẹ nhàng, an lạc còn khi bám vào sẽ thấy nặng nề, lúc nào cũng tôi, ta, tao, mày…
Hãy xem bong bóng đẹp,
Chỗ chất chứa vết thương,
Bệnh hoạn nhiều suy tư,
Thật không gì trường cửu
(Kinh Pháp Cú 11 – Phẩm Già, kệ 147)
Những tấm thân này như bong bóng đẹp, nhìn từ xa nó ngũ sắc nhưng đụng vào là bể ngay. Thân này là bong bóng, xe hàng, xe tải đụng vào là nằm một chỗ, gió độc thổi qua là liệt người méo miệng, bị trúng thực cũng có thể chết, ngồi trong máy bay mà cửa sổ bị bể rồi người bị hút ra ngoài, những điều này làm sao mình có thể tưởng tượng trước được cho nên cuộc đời này là bất an, bất trắc. Phải thấy được như vậy thì tu mới tiến, còn nghĩ thân này sẽ được như vậy hoài thì đó là vô minh, si mê, tất cả mọi lúc mọi giây đều có thần chết rình rập. Có người leo lên vách đá chụp hình bị trượt chân là mất mạng, đang tập thể dục mà trượt chân đập đầu rồi chấn thương sọ não, nó bất ngờ vô cùng. Mọi người vào mạng tìm từ khóa những cái chết vô duyên nhất thế giới, có một người đàn ông nuôi râu rất dài, một hôm ông chết vì bị vấp vào bộ râu chính mình. Có người đi khắp nơi trên thế giới, đến những nơi nguy hiểm cũng không sao nhưng đến khi về nhà trượt vỏ chuối té chết. Những sự bất cẩn, những lúc không có chánh niệm tỉnh giác và khi nghiệp quả đến thì mình không lường trước được, mình tu để làm chủ được nghiệp, để cái phước của mình che chắn, bảo hộ cho mình khi nghiệp quả đến, dù cho nghiệp quả đến nhưng khi mình có trí huệ, tỉnh giác chánh niệm không bị lôi vào con đường tăm tối, còn nếu lúc đó mình hoảng loạn thì mình sẽ đi theo nghiệp, vô minh, tham ái. Mình không nhớ niệm Phật, không nhớ chánh niệm tỉnh giác, không nhớ sắc uẩn này sắp tan hoại mà mình chỉ nhớ mình sắp chết nên mình hoảng loạn rồi đi vào đường mê. Cho nên trí huệ Đức Phật dạy mình rất siêu việt, thấu đáo, sâu sắc vì lợi ích của Phật pháp không phải chỉ trong 30 năm, 10 năm hay lúc chết mà lợi ích này vô lượng vô biên kiếp. Mọi người đã thấy giá trị thậm thâm vi diệu pháp chưa? Một đời này, kiếp này là mọi người đang thừa hưởng gia tài vĩ đại, nên mọi người hãy lạy cho thiết tha, lạy cho trào dâng sự cảm ơn, biết ơn Phật, biết ơn Đức Thế Tôn đã làm cho mình phát sanh trí huệ, lạy để bản ngã xẹp xuống, lạy để cái tôi tan ra, lạy để cái cống cao bể ra, lạy để từ ái, tình thương, thấu hiểu mọi người có ân, có tình lan tỏa ra, lạy để mình hòa nhập được khắp tất cả. Đó là cái lạy để phát sanh công đức chứ không phải lạy để mong có nhiều tiền, đó là sự mê tín, càng tu càng tăng thêm lòng tham. Mình lạy để cầu cho mở khai trí huệ thấy được bản chất của thân này, thấy được vô minh, si mê, chấp ngã này, đây mới là cái lạy của chánh tri kiến.
Thứ ba là tưởng nhàm chán đối với các món ăn, những gì Đức Phật nói đều điểm trúng huyệt của mình hết. Mọi người ăn từ lúc 5-7 tuổi đến giờ là 50-70 tuổi rồi có thỏa mãn chưa? Không thỏa mãn được, Đức Phật nói có ba pháp không bao giờ thỏa mãn là ăn, ngủ và dâm dục.
- Này các Tỳ-kheo, hưởng thọ ba sự ở đời, không bao giờ thỏa mãn. Thế nào là ba?
Hưởng thọ ngủ nghỉ, này các Tỳ-kheo, không bao giờ thỏa mãn.
Hưởng thọ rượu men rượu nấu, này các Tỳ-kheo, không bao giờ thỏa mãn.
Hưởng thọ sự dâm dục giao hợp, này các Tỳ-kheo, không bao giờ thỏa mãn. (Tăng Chi Bộ, Chương III – Ba Pháp, XI. Phẩm Chánh Giác, 104.- Không Thỏa Mãn)
Cho nên sự tu tập ở trong những điều rất bình thường, khi ăn mình phải quán chiếu như thế nào, đây mới là chỗ tu sâu sắc chứ không phải đợi đến lúc lên chánh điện mới là tu, ngay lúc ăn cũng là thời khóa tu. Ăn không phải để cho ngon miệng, ăn không phải để cho vui thích, ăn không phải để đam mê mà ăn để duy trì cái thân này tồn tại từ đó đạt được trí huệ giác ngộ, thành tựu sự nghiệp tu tập, chấm dứt luân hồi sanh tử. Bây giờ dọn lên bài có 15 món ăn mà món nào mình cũng thích, nhai vừa qua khỏi miệng đi vào bụng thì trong đó thành món gì? 15 món trộn lẫn vào nhau trong bụng thì lúc đó thành món gì? Rồi lúc đào thải ra là cái gì? Cho nên trong kinh Luận dạy mình quán chiếu: Khi ăn thì nói cười đông người vui vẻ nhưng khi bài tiết trở ra thì quạnh quẽ cô đơn một mình trong thầm lặng. Lúc ăn thì lựa món ăn đủ thứ đông vui nhưng đến khi đảo thải ra thì đi trong âm thầm, chính mình tạo ra mà mình còn thấy ghê sợ, hôi thối phải bịt mũi nữa. Mình phải quán chiếu như thế để không còn ham thích những món ăn đó nữa vì ăn hoài cũng không bao giờ đủ, ăn từ nhỏ đến lớn cũng đi tìm nữa. Khi mình đã quán chiếu như vậy thì dù có ăn cơm rau, nước tương, chao, đậu hũ cũng được, nhưng khi ăn phải có chánh niệm tỉnh giác chứ đừng để tham xâm chiếm mình. Có một người đi ăn buffet, nếu ăn ít thì uổng tiền nên ăn rồi lại uống nước cho tiêu, lát sau lại ăn nữa rồi đi uống nước cho tiêu bớt, cứ làm vài vòng như vậy thì lát sau phải gọi cấp cứu chở người này vào viện gấp vì bị bội thực thức ăn, vì vậy có trường hợp ăn ngon quá nên đi không được, cho nên không khéo tu thì mình trở thành đệ tử Trư Bát Giới chứ không phải đệ tử Phật. Việc tu nó nhỏ nhiệm trong từng sinh hoạt hằng ngày chứ không có gì to lớn, Phật dạy mình phải quán chiếu trong lúc ăn, phải xem lại cảm giác của mình lúc đó, có khoan khoái, thích thú là tham, cảm giác khó chịu là sân. Nhờ có câu niệm Phật mà tâm mình luôn bình yên, cái trí được sáng suốt rồi mới nhìn thấy được các pháp đang diễn ra trong thân tâm để mình xử lý nó.
Này các Tỳ-kheo, nếu Tỳ-kheo sống nhiều với các tưởng nhàm chán đối với các món ăn, thời tâm thối lui... không tham ái các vị; do đó tâm vị ấy không căng thẳng, thanh thản, khởi lên nhàm chán. (Tăng Chi Bộ, Chương VII - Bảy Pháp, V. Phẩm Ðại Tế Ðàn, (VI) (46) Tưởng (2))
Khi mình tham thì tâm mình rất căng thẳng cho nên cái tâm đã lìa tham rất thoải mái, an lạc, có thì tốt mà không có cũng không sao vì không có sự mong cầu, hi vọng, đợi chờ nên cái tâm rất an lạc.
Tưởng không hoan hỷ đối với các thế giới, này các Tỳ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, có quả lớn, có lợi ích lớn, như vậy được nói đến. (Tăng Chi Bộ, Chương VII - Bảy Pháp, V. Phẩm Ðại Tế Ðàn, (VI) (46) Tưởng (2))
Thế giới ở đây chính là cuộc đời, mình phải thường quán chiếu cuộc đời này không có gì đáng để tham thích vì tất cả đều vô thường, không có gì kéo dài mãi mà nó sẽ luôn biến đổi, hoại diệt, tiêu tan.
Này các Tỳ-kheo, nếu Tỳ-kheo sống nhiều với tưởng vô thường, thời tâm thối lui, tâm trở lưng, quay lưng với các lợi dưỡng, cung kính, danh vọng; do đó tâm vị ấy không căng thẳng, thanh thản, khởi lên nhàm chán. (Tăng Chi Bộ, Chương VII - Bảy Pháp, V. Phẩm Ðại Tế Ðàn, (VI) (46) Tưởng (2))
Vì khi quán tưởng sự vô thường thì người xuất gia sẽ quay lưng với các lợi dưỡng, cung kính, danh vọng, được cúng dường thì có gì đáng để mừng, mình không khéo tu là mắc nợ họ, người ta tôn trọng, chắp tay đảnh lễ thì phải nhìn lại giới đức, đạo hạnh, trí huệ của mình đã phá được vô minh, si mê chưa, nhìn lại để quán xét cái tâm mình ngay lúc đó chứ không phải thấy người ta lạy rồi thích thú, khoái chí, thấy mình ngon, khi những ý niệm này khởi lên là mình sẽ bị tổn đức, tổn phước. Mỗi một cái lạy người ta lạy mình mà mình tu không đúng thì nó trở thành mũi tên, gươm giáo đâm vào bản thân mình vì giới hạnh, thiền định, trí huệ đều không có. Khi mình quán tưởng sự vô thường thì mình sẽ quay lưng với những lợi ích của thế gian này, có nhiều tiền của vật chất cũng thấy nó vô thường, mừng vui cũng có nhưng không đam mê vì mai đây khi ra đi cũng không đem theo đồ thật được mà toàn được đốt cho vàng mã, hàng giả không. Nhìn ra khắp nhân gian này không có đáng để mình lưu luyến, bịn rịn, tham muốn, phiền lụy, khổ đau, ngay cả tấm thân này cũng vậy, tôi còn không có thì lấy gì là của tôi. Khi mình thường nghĩ, thường quán như vậy thì giải thoát được hơn nửa con đường rồi. Vào khóa tu bảy ngày là tắt điện thoại, ngắt liên lạc coi như mình đã chết, chứ đang tu học mà điên thoại reo lên là ngồi không yên phải lấy ra xem coi ở nhà có gì không là thất bại rồi, mai đây mình chết đi rồi còn xem cái gì nữa. Trong lúc tu tập, lúc ngồi thiền quán, hay trong khóa tu thì hãy xem như mình đã chết rồi, không còn gì quan trọng nữa thì mới có thể tập trung vào tu học được.
Này các Tỳ-kheo, nếu Tỳ-kheo sống nhiều với các tưởng khổ trên vô thường, thời các tưởng sợ hãi sắc bén được an lập trên thụ động, biếng nhác, thả lỏng, phóng dật, không chú tâm, không quán sát; ví như một kẻ giết người giơ đao lên. (Tăng Chi Bộ, Chương VII - Bảy Pháp, V. Phẩm Ðại Tế Ðàn, (VI) (46) Tưởng (2))
Có một anh chàng là tử tù nhưng nhà vua cho ân xá, có dịp lễ nên nhà vua cho đặc ân buộc anh chàng này đi trên con đường có nhiều cô gái đẹp ca hát, diễn xiếc, trang hoàng rất đẹp. Anh chàng vừa đi vừa bưng bát dầu, theo sau có người đao phủ, nếu bát dầu đó rơi dù chỉ một giọt thì đầu anh chàng đó rơi theo. Như vậy anh chàng đó có dám nhìn những cô gái đẹp đó không? Người cầm bát dầu đó chính là mình vì tất cả chúng ta sanh ra đều mang bản án, nhất định phải chết. Cái này lại trở về vấn đề niệm chết, nếu mình quên đi điều này là mình sống trong quên lãng, vô minh. Khi mình sanh ra thì nhất định mình phải chết đi.
Tất cả chúng sanh đều phải chết, đều kết thúc trong sự chết, đều không vượt qua sự chết. Ví như, thưa Ðại Vương, tất cả đồ gốm do người thợ gốm làm ra, chưa nung chín hay đã nung chín, tất cả đồ gốm ấy đều phải bể, đều kết thúc trong sự bể, đều không vượt qua sự bể. Cũng vậy, thưa Ðại Vương, tất cả chúng sanh đều phải chết, đều kết thúc trong sự chết, đều không vượt qua sự chết (Tương Ưng Bộ, Tập I – Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, III Phẩm Thứ Ba, II. Tổ Mẫu)
Nếu mình sơ sẩy chạy theo ngũ dục, chạy theo những cái đẹp, cái vui, những cái hấp dẫn của cuộc đời này thì mình sẽ chết trong cái dục đó, trong cái vui đó, trong cái ham muốn, thích đó, chết trong vị ngọt của sắc. Như vậy dòng luân hồi sanh tử sẽ tiếp tục sanh sanh tử tử không dừng nghỉ, trừ khi nào mình quán chiếu bảy phương pháp này và biết niệm Phật thì mọi người mới chấm dứt sanh tử, bước vào cánh cửa của bất tử. Chỉ cần rớt một giọt dầu là cái đầu sẽ rớt theo mà một ngày mình rớt không biết bao nhiều lần, thấy cái đẹp thì thích, đang nghe pháp mà ngoài kia có gì xôn xao là bước ra nhìn, mình bị những cảnh bên ngoài lôi kéo nên mình quên không nhìn lại bát dầu, vì vậy trong đạo Phật dạy mình không buông lung phóng dật, tất cả những vị hiền thánh, tất cả những bậc A-la-hán hay bậc Chánh Đẳng Giác muốn thành đạo đều từ phương pháp bớt buông lung không phóng dật, lúc nào cũng giữ mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý cho cẩn thận, sơ sảy một chút như nghe một tiếng nói chướng tai là lửa phựt lên đỏ mặt tía tai, hay thấy cái gì gai mắt là tức.
Này các Tỳ-kheo, sắc là biển lớn.
Khi con mắt tiếp xúc với các sắc mà không có chánh niệm tỉnh giác, không biết tất cả sắc là tứ đại mà mình lại ham muốn trong các sắc đó thì mình sẽ bị lôi cuốn. Vì vậy những vị chân tu thường tu tập rất kĩ càng, Hòa Thượng thường hay nói tu mót, tức là mót thời gian để tu, đừng bỏ qua. Trong kinh tạng Nikāya, Đức Phật dạy rất kĩ càng vì tu có kĩ thì mới thành công, bây giờ chánh điện của mình cao vời vợt mà nền móng làm không chắc chắn thì rất nguy hiểm, sự tu cũng giống như vậy, phải tu cho vững chắc, có nền tảng, có gốc rễ, cho nên mới gọi là ngũ căn ngũ lực, từ năm sự căn bản vững bền này tạo thành năm sức mạnh của người tu là tín – tấn – niệm – định – huệ. Phải có lòng tin, có sự tinh tấn, có sự chuyên niệm thì tâm mình mới định, từ định rồi trí huệ mới sáng tỏ, thấy được bản chất của cuộc đời, của thân tâm mình chứ không phải tu lơ tơ mơ như mình nên không thành công, không đi đến chỗ thâm sâu của trí huệ. Tưởng cái khổ trên vô thường tức là trong kiếp sống vô thường, bất trắc, bất toại nguyện này mà còn có khổ trong này, nếu mình thường nghĩ như vậy thì sẽ phát sanh sự sợ hãi sắc bén, sợ vô thường, cái bệnh ập đến. Cho nên lúc nãy mình đã nói hãy xem bong bóng đẹp, chỗ chất chứa vết thương, bệnh hoạn nhiều suy tư, thật không gì trường cửu. Bây giờ không ai là không có bệnh trong người mà suy tư, lo lắng đủ điều, lo từ trẻ đến già, đến lúc sắp chết còn dặn đừng thiêu vì nóng lắm, chôn cho mát, chết rồi còn biết nóng với mát gì nữa thế mà cũng dặn như vậy. Vì vậy nếu tu tập cái tưởng khổ trong vô thường thì mình sẽ phát khởi cái tâm sợ bén nhạy đối với tham sân si, mình không dám thụ động, làm biếng. Nói chuyện thì nói hoài, nói bao lâu cũng được còn nghe pháp một chút là nhức mỏi, đau lưng, buồn ngủ cho nên cái tâm thường tình của mình là buông lung phóng dật, biếng nhác trong thiện pháp, trong giáo pháp, trong xuất thế, còn trong thế gian thì nói đến đi chơi là hăng hái, vui vẻ, đi ăn tiệc là mặt mày tươi rói, cười hỉ hả. Do mình quán chiếu cái khổ trong vô thường nên mình mới trị được sự biếng nhác, thả lỏng các căn, danh từ chuyên môn gọi là hộ trì căn. Nếu không hộ trì căn thì người đó sẽ không giữ giới được, mà không giữ giới thì tâm không được yên tịnh, tâm không định thì trí huệ không tỏa sáng, trí huệ không tỏa sáng thì không biết như thật, không biết như thật vô thường, khổ, vô ngã thì không nhàm chán, không nhàm chán thì sẽ không có lìa tham, từ đó không thể giải thoát được. Đây là định lý của sự giải thoát giác ngộ. Các pháp do Phật dạy có định lý, có nguyên tắc, giống như xây nhà phải làm cái gì trước, cái gì sau, làm đúng trình tự thì căn nhà sẽ hoàn thành, còn gọi người không biết gì vào xây nhà thì siêu vẹo, sập nhà là điều chắc chắn. Cho nên Phật pháp không phải muốn tu theo kiểu gì là tu, mình phải học cho tới nơi tới chốn, phải thành tựu chánh trí kiến, thấy rõ trình tự của giáo pháp. Xây một căn nhà phải biết cấu trúc, phải biết tính toán, phải có kĩ thuật xây dựng… một công việc bình thường của thế gian còn như vậy thì huống hồ gì cái pháp siêu xuất thế gian, chấm dứt luân hồi sanh tử thì càng không đơn giản hơn nữa. Cho nên từ cư sĩ cho đến tu sĩ không được hời hợt trong việc học pháp mà phải tha thiết tầm cầu, thậm chí đem cả sinh mạng của mình để cầu được chánh tri kiến, nếu không thấy chánh tri kiến thì việc tu của mình không thành công, dù cho tu vô lượng kiếp cũng không thành công. Chánh tri kiến là thấy được sắc uẩn, từ đó hạ thủ công phu, phá được vô minh uẩn to lớn, phá được kiến chấp sai lầm về thân, còn không những việc mình làm bên ngoài chỉ là nhân thiên phước báu, cũng là đầu tư cho luân hồi sanh tử, đời sau của mình sẽ được tốt hơn, có phước hơn, nhưng khi hưởng hết phước thì lọt vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, vòng luân hồi này không thể chấm dứt được. Vì vậy khi tu cần phải cẩn thận, cần cầu, tha thiết, chân thành, cung kính cầu học, đem hết tất cả tâm lực, trí lực, sức lực, hạnh lực, nguyện lực hành pháp chứ không phải đọc 2-3 câu, đọc 5-7 cuốn sách là thấy được rồi, hiểu rồi là rất nguy hiểm. Trở lại vấn đề hộ trì căn vì cái này rất cần thiết, tại sao khi ra đường cần phải đội nón bảo hiểm? Để bảo vệ cái đầu. Tại sao ra nắng phải mang kính mát? Để bảo vệ con mắt. Tại sao phải mang dép hoặc mang giày? Để bảo vệ cho đôi chân. Tại sao trời lạnh phải mặc thêm áo ấm? Là để giữa ấm cho thân này. Tất cả những cái này là những cái bên ngoài mà mình còn biết bảo vệ kĩ càng, vậy mà nội tâm mình lại không biết bảo hộ, cho nên sự tu tập của mình là sự bảo vệ tâm ý, muốn bảo vệ được tâm ý thì phải biết bảo vệ mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý, phải biết giữ gìn và hộ trì căn. Khi nghe một tiếng thị phi là mình phải tỉnh giác, coi chừng mình bị cuốn theo là bị nhận chìm. Khi mình thấy chuyện thị phi của người khác là không được để ý nữa mà chuyên chú vào tu tập. Nếu mình khéo thấy, khéo nghe, khéo gìn giữ 6 căn 3 nghiệp thì sự tu tập mới tiến bộ, đó gọi là hộ trì căn, giữ gìn mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý. Khi hộ trì như vậy thì giới sẽ thành tựu, giới thành tựu thì định thành tựu, định thành tựu thì tuệ thành tựu, tuệ được thành tựu sẽ thấy như thật các pháp, khi thấy đúng sự thật là vô thường, khổ, vô ngã thì mình sẽ nhàm chán, từ bỏ, không còn tham muốn nữa thì giải thoát, thành tựu tri kiến giải thoát, chấm dứt luân hồi sanh tử. Mỗi ngày tu một chút như vậy thì vài chục năm sau nhắm mắt ra đi trong thanh thản, những vị cao Tăng khi chuẩn bị ra đi là ngồi kiết già nói bốn câu kệ xong là họ đi nhẹ nhàng, họ làm chủ sanh tử nên đạt đến cảnh giới bất tử.
Này các Tỳ-kheo, nếu Tỳ-kheo sống nhiều với các tưởng vô ngã trên khổ, này các Tỳ-kheo, ý của vị ấy thoát khỏi các tư tưởng ngã, ngã sở, ngã mạn, đối với cái thân có thức nầy và đối với tất cả tướng ở ngoài, khéo giải thoát, được an tịnh, vượt qua các thiên kiến. (Tăng Chi Bộ, Chương VII - Bảy Pháp, V. Phẩm Ðại Tế Ðàn, (VI) (46) Tưởng (2))
Không có gì chắc chắn trong cái thân này, trong ba mươi hai thể trược thì cái nào là mình, nó chỉ là một mớ duyên hợp ráp lại thành chiếc xe, nếu mất bộ phận nào có khi không thể chạy được nữa. Cái thân mình cũng giống như vậy, thân này là đố lắp ráp, gắn chân giả, tay giả vào dùng đỡ vài chục năm, thấy người đó cười đẹp quá nhưng thật chất toàn là răng giả, ngoài ra còn có mũi giả, gò má cũng giả, rồi cái gì trên người mình cũng có thể làm giả được, bây giờ còn có thêm kéo xương cho cao thêm vài cm, mặc dù đau đớn nhưng vì cái đẹp nên cố gắng chịu đựng. Có những trường hợp phẫu thuật thẩm mỹ thất bại thật sự nhìn họ vừa giận vừa thương, có những người rất đẹp nhưng thẩm mỹ hơn chục lần bây giờ không dám ra đường.
Nguyện đem công đức này hướng về khắp tất cả chúng sanh đều trọn thành Phật đạo.
./.
Thích Minh Thành
Đây là một vấn đề hết sức trọng yếu trong sự tu tập, Đức Phật dạy mình điều chỉnh cái thấy biết cho chính xác, đó mới là cội gốc cho tất cả sự tu hành vì trước giờ mình thấy sai, từ chỗ thấy sai nên suy nghĩ sai, mà suy nghĩ sai thì nói sai, nói sai thì làm sai, mình làm sai mà càng nỗ lực làm thì cái nỗ lực đó đi đến lầm lạc nên gọi là Bát Tà Đạo, trong khi Đức Phật dạy mình Bát Chánh Đạo, mà Bát Chánh Đạo là con đường tất cả hiền thánh ngày xưa đã đi, bây giờ đang đi và ngày sau cũng vẫn đi trên con đường này. Tất cả tông phái, tất cả pháp môn đều phải đi trên con đường đó, nếu đi lệch là không phải con đường Đức Phật đã đi. Dù cho tu bất kì pháp môn nào thì cái thấy của mình phải thấy chân chánh, thấy đúng thì mới có kết quả. Chùa Vạn Linh bên phải mà mình đón xe đi bên trái thì càng đi càng xa chùa, cho nên phải xác định hướng đi, xác định con đường mới là điều quan trọng. Từ sáng giờ mình học để thành tựu chánh kiến, để mình thấy đúng nhưng không phải thấy đâu cho xa mà tất cả khổ đau xuất phát từ chính mình chứ không phải ở bên ngoài. Bây giờ ai làm cho mình khổ? Ông trời hay sao? Chính vì thế cốt tủy của tất cả sự tu tập là để cho mình hiểu rõ chính mình, hiểu rõ cái mình đang mang là gì, nếu mình không hiểu thân này là gì thì tất cả những cái hiểu khác đều là viễn vong. Trong kinh Đức Phật đã nói người vô văn phàm phu, tức là phàm phu không nghe được chánh pháp, không thuần thục đối với bậc thánh, không tư duy tu tập theo giáo pháp của Đức Phật thì kẻ phàm phu đó cho rằng sắc; thọ; tưởng; hành; thức này là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi, những cái này biến đổi thì người này đau khổ
Có kẻ vô văn phàm phu không thấy rõ các bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh, không thấy rõ các bậc Chân nhân, không thuần thục pháp các bậc Chân nhân, không tu tập pháp các bậc Chân nhân, quán sắc như là tự ngã, hay tự ngã như là có sắc, hay sắc ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong sắc. Vị ấy bị ám ảnh: "Sắc là ta, sắc là của ta". Do bị ám ảnh: "Sắc là ta, sắc là của ta." khi sắc biến hoại, đổi khác; do sắc biến hoại, đổi khác, nên vị ấy khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não!
Vị ấy quán thọ như là tự ngã, hay tự ngã như là có thọ, hay thọ ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong thọ. Vị ấy bị ám ảnh: "Thọ là ta, thọ là của ta". Do bị ám ảnh: "Thọ là ta, thọ là của ta" khi thọ biến hoại, đổi khác; nên do thọ biến hoại, đổi khác, vị ấy khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não!
Vị ấy quán tưởng như là tự ngã, hay tự ngã như là có tưởng, hay tưởng ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong tưởng. Vị ấy bị ám ảnh: "Tưởng là ta, tưởng là của ta". Do bị ám ảnh: "Tưởng là ta, tưởng là của ta" khi tưởng biến hoại, đổi khác; nên do tưởng biến hoại, đổi khác, vị ấy khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não!
Vị ấy quán các hành như là tự ngã hay tự ngã như là có các hành, hay các hành ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong các hành. Vị ấy bị ám ảnh: "Các hành là ta, các hành là của ta". Do bị ám ảnh: "Các hành là ta, các hành là của ta" khi các hành biến hoại, đổi khác; do các hành biến hoại, đổi khác, vị ấy khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não!
Vị ấy quán thức như là tự ngã, hay tự ngã như là có thức, hay thức ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong thức. Vị ấy bị ám ảnh: "Thức là ta, thức là của ta" khi thức biến hoại, đổi khác; nên do thức biến hoại, đổi khác, vị ấy khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não! (Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (a), A. Năm Mươi Kinh Căn Bản, I. Phẩm Nakulapità, I. Nakulapità)
Nếu có gì xảy ra với cái thân này thì có khổ không? Hay người thân mình xảy ra chuyện gì thì mình có khổ không? Anh em thương mến nhau lắm mà khi xảy ra tai nạn thân thể văng tứ tung thì mình còn thương nổi không hay lúc đó lại sợ, không dám đến gần? Cho nên mình biết rằng sự mê lầm sâu sắc về sắc uẩn rất nặng, chính từ chỗ này phát sanh ra tham sân si, từ si là không thấy sự thật nên mới tham muốn, từ tham muốn không được thì sân hận, đây là cái gốc của sự việc. Từ chỗ không hiểu được bản chất mình là gì, cứ tưởng đây là tôi, cái này là si cho nên mới có tham về cho tôi. Trong kinh Đức Phật dùng từ 'tự thể ái' và 'cảnh giới ái'. Tự thể ái là sự yêu thích chính bản thân mình, mình nói mình thương người đó nhưng thật sự chưa hẳn là vậy, nếu người đó làm trái ý mình hay làm việc gây hại đến mình thì cái thương đó sẽ biến thành hận thù. Chỉ có trí huệ của đạo Phật mới chỉ dẫn cho mình thấy được sự sâu xa là mình thương chính bản thân mình thôi, yêu mình là yêu cục thịt mấy chục kí lô này, yêu máu mủ, tim gan, hoành cách mô, tùy phế thận… trong tấm thân này. Lớp vô minh phủ quá dày, quá cứng chắc từ nhiều đời nhiều kiếp, vì vậy trí huệ của đạo Phật là một trí huệ đại bác, phá tung vỡ hết những thứ này, vì vậy cố Hòa Thượng đạo sư mới dịch mấy chục cuốn Đại Bát Nhã. Tại sao Đức Phật phải nói nhiều đến vậy? Vì cái mê của mình quá sâu nặng, Phật nói hoài, nói nhiều vậy mà mình nghe xong rồi trở ra cũng y như cũ. Trong Tăng Chi Bộ, Tập III, bài kinh Tưởng, Đức Phật dạy:
Có bảy tưởng này, này các Tỳ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, có quả lớn, có lợi ích lớn, thể nhập vào bất tử, lấy bất tử làm cứu cánh. Thế nào là bảy?
Tưởng bất tịnh,
Tưởng chết,
Tưởng nhàm chán đối với các món ăn,
Tưởng không hoan hỷ đối với tất cả thế giới,
Tưởng vô thường,
Tưởng khổ trong vô thường,
Tưởng vô ngã trong khổ.
Bảy tưởng này, này các Tỳ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, có quả lớn, có lợi ích lớn, thể nhập vào bất tử, lấy bất tử làm cứu cánh. (Tăng Chi Bộ, Chương VII - Bảy Pháp, V. Phẩm Ðại Tế Ðàn, (V) (45) Tưởng (1))
Này các Tỳ-kheo, khi một Tỳ-kheo sống nhiều với các tưởng bất tịnh, thời tâm thối lui, tâm trở lưng, quay lưng để không đắm vào các dâm dục; do đó tâm vị ấy không căng thẳng, thanh thản, khởi lên nhàm chán. Ví như, này các Tỳ-kheo, lông gà hay là dây gân quăng vào lửa thời thối lui, trở lưng, quay lưng, và không căng thẳng; cũng vậy, này các Tỳ-kheo, khi một Tỳ-kheo sống nhiều với các tưởng bất tịnh, thời tâm thối lui, tâm trở lưng, quay lưng để không đắm vào các dâm dục; do đó tâm vị ấy không căng thẳng, thanh thản, khởi lên nhàm chán. (Tăng Chi Bộ, Chương VII - Bảy Pháp, V. Phẩm Ðại Tế Ðàn, (VI) (46) Tưởng (2))
Lông gà khi gặp lửa thì bị quéo lại, người nào thường tu tập quán bất tịnh, thường nhìn thấy bản chất của thân này, ngoài ra Đức Phật còn nói thêm chín lỗ chảy ra những thứ bất tịnh thì người này sẽ thành tựu. Chín lỗ này gồm hai con mắt chảy ra ghèn, hai lỗ mũi chảy ra nước mũi mà mình lau không kịp là chảy luôn vào miệng, gớm như vậy mà lại mê, hai lỗ tai chảy ra cứt ráy rồi khi đại tiểu tiện cho ra những thứ gì, tại sao mình lại phải làm những cái phòng nho nhỏ để đi vào đó? Trong Quan Âm Diệu Duyên có một vị Hòa Thượng già muốn độ cho một chú vừa bất hiếu với cha mẹ vừa không nghe lời. Khi vị Hòa Thượng đến thì chú này để thùng phân trên cánh cửa, vị Hòa Thượng mở cửa ra thì thùng phân đổ xuống đầu nhưng Hòa Thượng vẫn không lấy thùng phân ra mà để vậy đội đi, người ta chạy theo nhìn rất nhiều và tỏ thái độ ghê tởm. Vị Hòa Thượng mới nói thùng phân lớn đội thùng phân nhỏ chứ có gì đâu mà ghê, từ thùng phân lớn này mới có ra thùng phân nhỏ. Vì vậy bậc trí huệ rất khác với phàm phu.
Mày ngang mũi dọc, tướng lạ xem ắt bẵng nhau;
Mặt thánh lòng phàm, thực cách nhẫn vàn vàn thiên lý...”
(Cư Trần Lạc Đạo – Trần Nhân Tông)
Đây là hai câu thơ trong bài Cư Trần Lạc Đạo của vua Trần Nhân Tông, sơ tổ Trúc Lâm của chúng ta. Ai cũng mày ngang mũi dọc nhưng mặt thánh lòng phàm cách xa vô vàn thiên lý, cũng có tai chân mắt mũi như nhau nhưng bậc trí huệ thấy rõ bản chất thực tướng, còn ai cọ quẹt mình chút xíu thôi là biết tay nhau chứ đừng nói là đổ nguyên thùng phân lên đầu thì còn lớn chuyện hơn nữa. Ai làm mình trầy trụa một chút thôi là sân si lên, cáu gắt lên mà không biết rằng thùng phân lớn đội thùng phân nhỏ. Cái mà mình cảm thấy khiếp sợ, sợ hãi thì cái này chính là trí tuệ cho nên hôm nay quý vị đang tưới nước, đang cho thân trí huệ của mình chất dinh dưỡng để quý vị phát triển trí huệ tâm linh, thân trí huệ, thân giải thoát, thân Bát Nhã. Còn ở ngoài quý vị uống sữa vô minh, chỗ nào mà không tung hô vạn tuế cái thân này, toàn sơn một lớp giả bên ngoài, tới khi chết là cuốn chiếu lại nhanh bỏ vào hòm. Toilet bên nước ngoài thơm tho sạch sẽ, vào trong đó đọc báo vì càng văn minh thì càng khéo che đậy chứ không có gì hết, mà càng che đậy thì càng vô minh. Trong kinh điển tán thán Đức Phật là bậc phơi bày ra những gì bị che đậy, khi Đức Phật thuyết pháp xong mà các vị đệ tử hiểu ra đạo lý thường tán thán Thế Tôn đã phơi bày ra những gì bị che đậy, dựng đứng những gì bị ngã đổ, đem ánh sáng vào trong bóng tối để người có mắt thấy các sắc. Đó là công việc của Đức Thế Tôn, công việc của các bậc hiền thánh Tăng, còn mình nghe pháp mà nghe theo kiểu nghệ sĩ, thích ông thầy đó nói chuyện tiếu lắm, vui lắm, vỗ tay hoan hô thì xin thưa cái đó không phải chánh pháp.
Khi nghe nói vậy, vua Pasenadi nước Kosala bạch Thế Tôn:
-- Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho người bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình bày, giải thích. Bạch Thế Tôn, con xin quy y Thế Tôn, quy y Pháp, quy y chúng Tăng. Mong Thế Tôn nhận con làm đệ tử, từ nay trở đi cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng. (Tương Ưng Bộ, Tập I – Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, I. Phẩm Thứ Nhất, I. Tuổi Trẻ)
Ðược nghe nói vậy, Bà-la-môn thuộc dòng họ Bhàradvàja bạch Thế Tôn:
-- Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Tôn giả Gotama, như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ lạc hướng, hay đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Tôn giả Gotama dùng nhiều phương tiện trình bày, giải thích. Vậy nay con xin quy y Thế Tôn Gotama, quy y Pháp và quy y Tỳ-kheo Tăng. Mong Tôn giả Gotama cho con được xuất gia trước mặt Thế Tôn, cho con được thọ đại giới! (Tương Ưng Bộ, Tập I – Thiên Có Kệ, Chương VII. Tương Ưng Bà La Môn, I. Phẩm A-La-Hán Thứ Nhất, I. Dhananjàni)
Chánh pháp là để cho quý vị mở ra những điều trước nay mình không thấy, từ đó phá vỡ mê lầm, chấp ngã, để rúng động cái tâm say mê, thích thú trong sự vô thường ảo mộng, đó là mới là công năng của chánh pháp, đó là tiếng gầm của sư tử, là tiếng đại hồng chung của diệu pháp vô thượng. Từ sáng đến giờ mọi người có nghe rung rinh không? Cái mê rung rinh, cái vô minh bị ảnh hưởng mạnh vì sắp sửa sụp đổ, còn khi sụp đổ thì chứng quả, khi vô minh diệt thì minh sẽ sanh. Quý vị đang bước trên con đường đi vào ánh sáng, người xưa có bài thơ nói về lòng dạ con người rất hay, được lưu truyền cho đến ngày nay:
Biển cả với sóng lớn cũng còn nông cạn,
Kẻ tiểu nhân thì lòng dạ sâu hiểm.
Biển khô cuối cùng cũng thấy đáy,
Người đến chết cũng không hiểu được lòng dạ.
(Cảm Ngụ - Đỗ Tuân Tạc)
Đến một lúc nào đó biển khô đi cũng còn thấy được đáy biển, còn con người đến chết rồi cũng không biết được cái tâm vô minh, si mê của mình, chỉ có Phật mới chỉ cho mình thấy thôi. Mình bệnh nặng đến bác sĩ cũng chịu thua mà vẫn giấu bệnh, không muốn cho ai biết, ai hỏi cũng nói khỏe, nói xong là quay ra sau lưng khóc, đến chết cũng còn si mê. Mình phải nói cho họ biết họ không còn sống được bao lâu để họ chuẩn bị tinh thần, bây giờ bất thình lình có người thảy mình lên xe chở đi trong bóng đêm thì mình có sợ không? Thông báo cho mình biết trước thì đỡ hơn đúng không? Thì việc sắp chết cũng giống như vậy, cho nên cái vô minh này Đức Thế Tôn nói là khối vô minh rất to lớn cho nên tu là mỗi ngày mài giũa nó cho mòn từ từ, đó là sự tu tập của chánh pháp chứ không phải tu là khoe tụng niệm nhiều, làm nhiều việc. Cho nên mình quán chiếu về cái chết, thường nhớ cái chết, mọi người thường nghĩ người nào nhớ đến cái chết nhiều là người đó đang chán đời, không phải như vậy, mình nhớ cái chết nhiều chừng nào thì mình càng trân trọng sự sống chừng đó, mình càng quán chiếu về cái vô thường chừng nào thì mình càng tích tụ nhiều thiện pháp, công đức, thiện căn, phước đức nhân duyên của mình.
Niệm chết, này các Tỳ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, có quả lớn, có lợi ích lớn, nhập vào bất tử, cứu cánh là bất tử. Này các Tỳ-kheo, các Thầy hãy tu tập niệm chết.
Này các Tỳ-kheo, những Tỳ-kheo ấy được gọi là những vị sống không phóng dật, tu tập rất sắc sảo niệm chết để đoạn diệt các lậu hoặc. Do vậy, này các Tỳ-kheo, các Thầy cần phải tu học như sau:
"Hãy sống không phóng dật! Ta sẽ tu tập một cách sắc sảo niệm chết để đoạn diệt các lậu hoặc". (Tăng Chi Bộ, Chương VI - Sáu Pháp, II. Phẩm Cần Phải Nhớ, (IX) (19) Niệm Chết (1))
Không phải nhớ vô thường rồi mình không làm gì hết thì đó là mình nhớ chết, mình thường nhớ cái chết rồi có ai nói nặng nhẹ mình thì tự nhủ "chết rồi không lo, ở đó lo cãi nhau làm gì". Nếu mình biết bảy ngày nữa mình chết thì thời gian này mình sẽ làm gì? Còn nhớ ghen tức, giận hời ai không? Còn muốn đi chơi, thưởng thức phong cảnh, món ăn nữa không? Vì vậy thường nhớ đến cái vô thường như vậy thì phiền não sẽ tự động tiêu tan, trong lục niệm có niệm Phật, niệm pháp, niệm Tăng, niệm giới, niệm thí, niệm thiên, niệm tử, niệm diệt và niệm Niết-bàn, trong đó niệm tử rất quan trọng, nếu mình thường niệm cái này thì mình sẽ quay lưng lại đối với sự tham đắm, dục vọng, sân hận của thế gian. Nếu có ai lại sân hận với mình thì "sân hận làm gì, cái này là giả dối, năm nau 70 tuổi gần chết đến nơi rồi ở đó còn sân với hận chi cho mệt, tu cho khỏe", chết tới nơi không lo mà lo giận, chết không lo mà ở đó lo tham, lo hơn thua, cho nên Đức Phật nói người trí huệ là người lo những điều đáng lo, còn người không có trí huệ là cái đáng lo lại không lo, cái không đáng lo lại lo, đó là người vô trí. Mọi người đừng nghĩ chết là một cái gì đó đại sự nhưng thực sự rất đơn giản, thân này là vô chủ, mình nghĩ mình làm chủ được nó nhưng thật sự không phải vậy. Nếu làm chủ được thân này thì hãy kêu nó đừng bệnh, đừng già, đừng bị móm… mình có làm được không? Mình có biết ngày nào mình nhắm mắt ra đi không? Nếu không biết thì mình không làm chủ được thân này, mình phải quán chiếu cho sâu sắc thân này là vô chủ thì tự nhiên việc trách móc thân này nhẹ nhàng, an lạc còn khi bám vào sẽ thấy nặng nề, lúc nào cũng tôi, ta, tao, mày…
Hãy xem bong bóng đẹp,
Chỗ chất chứa vết thương,
Bệnh hoạn nhiều suy tư,
Thật không gì trường cửu
(Kinh Pháp Cú 11 – Phẩm Già, kệ 147)
Những tấm thân này như bong bóng đẹp, nhìn từ xa nó ngũ sắc nhưng đụng vào là bể ngay. Thân này là bong bóng, xe hàng, xe tải đụng vào là nằm một chỗ, gió độc thổi qua là liệt người méo miệng, bị trúng thực cũng có thể chết, ngồi trong máy bay mà cửa sổ bị bể rồi người bị hút ra ngoài, những điều này làm sao mình có thể tưởng tượng trước được cho nên cuộc đời này là bất an, bất trắc. Phải thấy được như vậy thì tu mới tiến, còn nghĩ thân này sẽ được như vậy hoài thì đó là vô minh, si mê, tất cả mọi lúc mọi giây đều có thần chết rình rập. Có người leo lên vách đá chụp hình bị trượt chân là mất mạng, đang tập thể dục mà trượt chân đập đầu rồi chấn thương sọ não, nó bất ngờ vô cùng. Mọi người vào mạng tìm từ khóa những cái chết vô duyên nhất thế giới, có một người đàn ông nuôi râu rất dài, một hôm ông chết vì bị vấp vào bộ râu chính mình. Có người đi khắp nơi trên thế giới, đến những nơi nguy hiểm cũng không sao nhưng đến khi về nhà trượt vỏ chuối té chết. Những sự bất cẩn, những lúc không có chánh niệm tỉnh giác và khi nghiệp quả đến thì mình không lường trước được, mình tu để làm chủ được nghiệp, để cái phước của mình che chắn, bảo hộ cho mình khi nghiệp quả đến, dù cho nghiệp quả đến nhưng khi mình có trí huệ, tỉnh giác chánh niệm không bị lôi vào con đường tăm tối, còn nếu lúc đó mình hoảng loạn thì mình sẽ đi theo nghiệp, vô minh, tham ái. Mình không nhớ niệm Phật, không nhớ chánh niệm tỉnh giác, không nhớ sắc uẩn này sắp tan hoại mà mình chỉ nhớ mình sắp chết nên mình hoảng loạn rồi đi vào đường mê. Cho nên trí huệ Đức Phật dạy mình rất siêu việt, thấu đáo, sâu sắc vì lợi ích của Phật pháp không phải chỉ trong 30 năm, 10 năm hay lúc chết mà lợi ích này vô lượng vô biên kiếp. Mọi người đã thấy giá trị thậm thâm vi diệu pháp chưa? Một đời này, kiếp này là mọi người đang thừa hưởng gia tài vĩ đại, nên mọi người hãy lạy cho thiết tha, lạy cho trào dâng sự cảm ơn, biết ơn Phật, biết ơn Đức Thế Tôn đã làm cho mình phát sanh trí huệ, lạy để bản ngã xẹp xuống, lạy để cái tôi tan ra, lạy để cái cống cao bể ra, lạy để từ ái, tình thương, thấu hiểu mọi người có ân, có tình lan tỏa ra, lạy để mình hòa nhập được khắp tất cả. Đó là cái lạy để phát sanh công đức chứ không phải lạy để mong có nhiều tiền, đó là sự mê tín, càng tu càng tăng thêm lòng tham. Mình lạy để cầu cho mở khai trí huệ thấy được bản chất của thân này, thấy được vô minh, si mê, chấp ngã này, đây mới là cái lạy của chánh tri kiến.
Thứ ba là tưởng nhàm chán đối với các món ăn, những gì Đức Phật nói đều điểm trúng huyệt của mình hết. Mọi người ăn từ lúc 5-7 tuổi đến giờ là 50-70 tuổi rồi có thỏa mãn chưa? Không thỏa mãn được, Đức Phật nói có ba pháp không bao giờ thỏa mãn là ăn, ngủ và dâm dục.
- Này các Tỳ-kheo, hưởng thọ ba sự ở đời, không bao giờ thỏa mãn. Thế nào là ba?
Hưởng thọ ngủ nghỉ, này các Tỳ-kheo, không bao giờ thỏa mãn.
Hưởng thọ rượu men rượu nấu, này các Tỳ-kheo, không bao giờ thỏa mãn.
Hưởng thọ sự dâm dục giao hợp, này các Tỳ-kheo, không bao giờ thỏa mãn. (Tăng Chi Bộ, Chương III – Ba Pháp, XI. Phẩm Chánh Giác, 104.- Không Thỏa Mãn)
Cho nên sự tu tập ở trong những điều rất bình thường, khi ăn mình phải quán chiếu như thế nào, đây mới là chỗ tu sâu sắc chứ không phải đợi đến lúc lên chánh điện mới là tu, ngay lúc ăn cũng là thời khóa tu. Ăn không phải để cho ngon miệng, ăn không phải để cho vui thích, ăn không phải để đam mê mà ăn để duy trì cái thân này tồn tại từ đó đạt được trí huệ giác ngộ, thành tựu sự nghiệp tu tập, chấm dứt luân hồi sanh tử. Bây giờ dọn lên bài có 15 món ăn mà món nào mình cũng thích, nhai vừa qua khỏi miệng đi vào bụng thì trong đó thành món gì? 15 món trộn lẫn vào nhau trong bụng thì lúc đó thành món gì? Rồi lúc đào thải ra là cái gì? Cho nên trong kinh Luận dạy mình quán chiếu: Khi ăn thì nói cười đông người vui vẻ nhưng khi bài tiết trở ra thì quạnh quẽ cô đơn một mình trong thầm lặng. Lúc ăn thì lựa món ăn đủ thứ đông vui nhưng đến khi đảo thải ra thì đi trong âm thầm, chính mình tạo ra mà mình còn thấy ghê sợ, hôi thối phải bịt mũi nữa. Mình phải quán chiếu như thế để không còn ham thích những món ăn đó nữa vì ăn hoài cũng không bao giờ đủ, ăn từ nhỏ đến lớn cũng đi tìm nữa. Khi mình đã quán chiếu như vậy thì dù có ăn cơm rau, nước tương, chao, đậu hũ cũng được, nhưng khi ăn phải có chánh niệm tỉnh giác chứ đừng để tham xâm chiếm mình. Có một người đi ăn buffet, nếu ăn ít thì uổng tiền nên ăn rồi lại uống nước cho tiêu, lát sau lại ăn nữa rồi đi uống nước cho tiêu bớt, cứ làm vài vòng như vậy thì lát sau phải gọi cấp cứu chở người này vào viện gấp vì bị bội thực thức ăn, vì vậy có trường hợp ăn ngon quá nên đi không được, cho nên không khéo tu thì mình trở thành đệ tử Trư Bát Giới chứ không phải đệ tử Phật. Việc tu nó nhỏ nhiệm trong từng sinh hoạt hằng ngày chứ không có gì to lớn, Phật dạy mình phải quán chiếu trong lúc ăn, phải xem lại cảm giác của mình lúc đó, có khoan khoái, thích thú là tham, cảm giác khó chịu là sân. Nhờ có câu niệm Phật mà tâm mình luôn bình yên, cái trí được sáng suốt rồi mới nhìn thấy được các pháp đang diễn ra trong thân tâm để mình xử lý nó.
Này các Tỳ-kheo, nếu Tỳ-kheo sống nhiều với các tưởng nhàm chán đối với các món ăn, thời tâm thối lui... không tham ái các vị; do đó tâm vị ấy không căng thẳng, thanh thản, khởi lên nhàm chán. (Tăng Chi Bộ, Chương VII - Bảy Pháp, V. Phẩm Ðại Tế Ðàn, (VI) (46) Tưởng (2))
Khi mình tham thì tâm mình rất căng thẳng cho nên cái tâm đã lìa tham rất thoải mái, an lạc, có thì tốt mà không có cũng không sao vì không có sự mong cầu, hi vọng, đợi chờ nên cái tâm rất an lạc.
Tưởng không hoan hỷ đối với các thế giới, này các Tỳ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, có quả lớn, có lợi ích lớn, như vậy được nói đến. (Tăng Chi Bộ, Chương VII - Bảy Pháp, V. Phẩm Ðại Tế Ðàn, (VI) (46) Tưởng (2))
Thế giới ở đây chính là cuộc đời, mình phải thường quán chiếu cuộc đời này không có gì đáng để tham thích vì tất cả đều vô thường, không có gì kéo dài mãi mà nó sẽ luôn biến đổi, hoại diệt, tiêu tan.
Này các Tỳ-kheo, nếu Tỳ-kheo sống nhiều với tưởng vô thường, thời tâm thối lui, tâm trở lưng, quay lưng với các lợi dưỡng, cung kính, danh vọng; do đó tâm vị ấy không căng thẳng, thanh thản, khởi lên nhàm chán. (Tăng Chi Bộ, Chương VII - Bảy Pháp, V. Phẩm Ðại Tế Ðàn, (VI) (46) Tưởng (2))
Vì khi quán tưởng sự vô thường thì người xuất gia sẽ quay lưng với các lợi dưỡng, cung kính, danh vọng, được cúng dường thì có gì đáng để mừng, mình không khéo tu là mắc nợ họ, người ta tôn trọng, chắp tay đảnh lễ thì phải nhìn lại giới đức, đạo hạnh, trí huệ của mình đã phá được vô minh, si mê chưa, nhìn lại để quán xét cái tâm mình ngay lúc đó chứ không phải thấy người ta lạy rồi thích thú, khoái chí, thấy mình ngon, khi những ý niệm này khởi lên là mình sẽ bị tổn đức, tổn phước. Mỗi một cái lạy người ta lạy mình mà mình tu không đúng thì nó trở thành mũi tên, gươm giáo đâm vào bản thân mình vì giới hạnh, thiền định, trí huệ đều không có. Khi mình quán tưởng sự vô thường thì mình sẽ quay lưng với những lợi ích của thế gian này, có nhiều tiền của vật chất cũng thấy nó vô thường, mừng vui cũng có nhưng không đam mê vì mai đây khi ra đi cũng không đem theo đồ thật được mà toàn được đốt cho vàng mã, hàng giả không. Nhìn ra khắp nhân gian này không có đáng để mình lưu luyến, bịn rịn, tham muốn, phiền lụy, khổ đau, ngay cả tấm thân này cũng vậy, tôi còn không có thì lấy gì là của tôi. Khi mình thường nghĩ, thường quán như vậy thì giải thoát được hơn nửa con đường rồi. Vào khóa tu bảy ngày là tắt điện thoại, ngắt liên lạc coi như mình đã chết, chứ đang tu học mà điên thoại reo lên là ngồi không yên phải lấy ra xem coi ở nhà có gì không là thất bại rồi, mai đây mình chết đi rồi còn xem cái gì nữa. Trong lúc tu tập, lúc ngồi thiền quán, hay trong khóa tu thì hãy xem như mình đã chết rồi, không còn gì quan trọng nữa thì mới có thể tập trung vào tu học được.
Này các Tỳ-kheo, nếu Tỳ-kheo sống nhiều với các tưởng khổ trên vô thường, thời các tưởng sợ hãi sắc bén được an lập trên thụ động, biếng nhác, thả lỏng, phóng dật, không chú tâm, không quán sát; ví như một kẻ giết người giơ đao lên. (Tăng Chi Bộ, Chương VII - Bảy Pháp, V. Phẩm Ðại Tế Ðàn, (VI) (46) Tưởng (2))
Có một anh chàng là tử tù nhưng nhà vua cho ân xá, có dịp lễ nên nhà vua cho đặc ân buộc anh chàng này đi trên con đường có nhiều cô gái đẹp ca hát, diễn xiếc, trang hoàng rất đẹp. Anh chàng vừa đi vừa bưng bát dầu, theo sau có người đao phủ, nếu bát dầu đó rơi dù chỉ một giọt thì đầu anh chàng đó rơi theo. Như vậy anh chàng đó có dám nhìn những cô gái đẹp đó không? Người cầm bát dầu đó chính là mình vì tất cả chúng ta sanh ra đều mang bản án, nhất định phải chết. Cái này lại trở về vấn đề niệm chết, nếu mình quên đi điều này là mình sống trong quên lãng, vô minh. Khi mình sanh ra thì nhất định mình phải chết đi.
Tất cả chúng sanh đều phải chết, đều kết thúc trong sự chết, đều không vượt qua sự chết. Ví như, thưa Ðại Vương, tất cả đồ gốm do người thợ gốm làm ra, chưa nung chín hay đã nung chín, tất cả đồ gốm ấy đều phải bể, đều kết thúc trong sự bể, đều không vượt qua sự bể. Cũng vậy, thưa Ðại Vương, tất cả chúng sanh đều phải chết, đều kết thúc trong sự chết, đều không vượt qua sự chết (Tương Ưng Bộ, Tập I – Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, III Phẩm Thứ Ba, II. Tổ Mẫu)
Nếu mình sơ sẩy chạy theo ngũ dục, chạy theo những cái đẹp, cái vui, những cái hấp dẫn của cuộc đời này thì mình sẽ chết trong cái dục đó, trong cái vui đó, trong cái ham muốn, thích đó, chết trong vị ngọt của sắc. Như vậy dòng luân hồi sanh tử sẽ tiếp tục sanh sanh tử tử không dừng nghỉ, trừ khi nào mình quán chiếu bảy phương pháp này và biết niệm Phật thì mọi người mới chấm dứt sanh tử, bước vào cánh cửa của bất tử. Chỉ cần rớt một giọt dầu là cái đầu sẽ rớt theo mà một ngày mình rớt không biết bao nhiều lần, thấy cái đẹp thì thích, đang nghe pháp mà ngoài kia có gì xôn xao là bước ra nhìn, mình bị những cảnh bên ngoài lôi kéo nên mình quên không nhìn lại bát dầu, vì vậy trong đạo Phật dạy mình không buông lung phóng dật, tất cả những vị hiền thánh, tất cả những bậc A-la-hán hay bậc Chánh Đẳng Giác muốn thành đạo đều từ phương pháp bớt buông lung không phóng dật, lúc nào cũng giữ mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý cho cẩn thận, sơ sảy một chút như nghe một tiếng nói chướng tai là lửa phựt lên đỏ mặt tía tai, hay thấy cái gì gai mắt là tức.
Này các Tỳ-kheo, sắc là biển lớn.
Khi con mắt tiếp xúc với các sắc mà không có chánh niệm tỉnh giác, không biết tất cả sắc là tứ đại mà mình lại ham muốn trong các sắc đó thì mình sẽ bị lôi cuốn. Vì vậy những vị chân tu thường tu tập rất kĩ càng, Hòa Thượng thường hay nói tu mót, tức là mót thời gian để tu, đừng bỏ qua. Trong kinh tạng Nikāya, Đức Phật dạy rất kĩ càng vì tu có kĩ thì mới thành công, bây giờ chánh điện của mình cao vời vợt mà nền móng làm không chắc chắn thì rất nguy hiểm, sự tu cũng giống như vậy, phải tu cho vững chắc, có nền tảng, có gốc rễ, cho nên mới gọi là ngũ căn ngũ lực, từ năm sự căn bản vững bền này tạo thành năm sức mạnh của người tu là tín – tấn – niệm – định – huệ. Phải có lòng tin, có sự tinh tấn, có sự chuyên niệm thì tâm mình mới định, từ định rồi trí huệ mới sáng tỏ, thấy được bản chất của cuộc đời, của thân tâm mình chứ không phải tu lơ tơ mơ như mình nên không thành công, không đi đến chỗ thâm sâu của trí huệ. Tưởng cái khổ trên vô thường tức là trong kiếp sống vô thường, bất trắc, bất toại nguyện này mà còn có khổ trong này, nếu mình thường nghĩ như vậy thì sẽ phát sanh sự sợ hãi sắc bén, sợ vô thường, cái bệnh ập đến. Cho nên lúc nãy mình đã nói hãy xem bong bóng đẹp, chỗ chất chứa vết thương, bệnh hoạn nhiều suy tư, thật không gì trường cửu. Bây giờ không ai là không có bệnh trong người mà suy tư, lo lắng đủ điều, lo từ trẻ đến già, đến lúc sắp chết còn dặn đừng thiêu vì nóng lắm, chôn cho mát, chết rồi còn biết nóng với mát gì nữa thế mà cũng dặn như vậy. Vì vậy nếu tu tập cái tưởng khổ trong vô thường thì mình sẽ phát khởi cái tâm sợ bén nhạy đối với tham sân si, mình không dám thụ động, làm biếng. Nói chuyện thì nói hoài, nói bao lâu cũng được còn nghe pháp một chút là nhức mỏi, đau lưng, buồn ngủ cho nên cái tâm thường tình của mình là buông lung phóng dật, biếng nhác trong thiện pháp, trong giáo pháp, trong xuất thế, còn trong thế gian thì nói đến đi chơi là hăng hái, vui vẻ, đi ăn tiệc là mặt mày tươi rói, cười hỉ hả. Do mình quán chiếu cái khổ trong vô thường nên mình mới trị được sự biếng nhác, thả lỏng các căn, danh từ chuyên môn gọi là hộ trì căn. Nếu không hộ trì căn thì người đó sẽ không giữ giới được, mà không giữ giới thì tâm không được yên tịnh, tâm không định thì trí huệ không tỏa sáng, trí huệ không tỏa sáng thì không biết như thật, không biết như thật vô thường, khổ, vô ngã thì không nhàm chán, không nhàm chán thì sẽ không có lìa tham, từ đó không thể giải thoát được. Đây là định lý của sự giải thoát giác ngộ. Các pháp do Phật dạy có định lý, có nguyên tắc, giống như xây nhà phải làm cái gì trước, cái gì sau, làm đúng trình tự thì căn nhà sẽ hoàn thành, còn gọi người không biết gì vào xây nhà thì siêu vẹo, sập nhà là điều chắc chắn. Cho nên Phật pháp không phải muốn tu theo kiểu gì là tu, mình phải học cho tới nơi tới chốn, phải thành tựu chánh trí kiến, thấy rõ trình tự của giáo pháp. Xây một căn nhà phải biết cấu trúc, phải biết tính toán, phải có kĩ thuật xây dựng… một công việc bình thường của thế gian còn như vậy thì huống hồ gì cái pháp siêu xuất thế gian, chấm dứt luân hồi sanh tử thì càng không đơn giản hơn nữa. Cho nên từ cư sĩ cho đến tu sĩ không được hời hợt trong việc học pháp mà phải tha thiết tầm cầu, thậm chí đem cả sinh mạng của mình để cầu được chánh tri kiến, nếu không thấy chánh tri kiến thì việc tu của mình không thành công, dù cho tu vô lượng kiếp cũng không thành công. Chánh tri kiến là thấy được sắc uẩn, từ đó hạ thủ công phu, phá được vô minh uẩn to lớn, phá được kiến chấp sai lầm về thân, còn không những việc mình làm bên ngoài chỉ là nhân thiên phước báu, cũng là đầu tư cho luân hồi sanh tử, đời sau của mình sẽ được tốt hơn, có phước hơn, nhưng khi hưởng hết phước thì lọt vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, vòng luân hồi này không thể chấm dứt được. Vì vậy khi tu cần phải cẩn thận, cần cầu, tha thiết, chân thành, cung kính cầu học, đem hết tất cả tâm lực, trí lực, sức lực, hạnh lực, nguyện lực hành pháp chứ không phải đọc 2-3 câu, đọc 5-7 cuốn sách là thấy được rồi, hiểu rồi là rất nguy hiểm. Trở lại vấn đề hộ trì căn vì cái này rất cần thiết, tại sao khi ra đường cần phải đội nón bảo hiểm? Để bảo vệ cái đầu. Tại sao ra nắng phải mang kính mát? Để bảo vệ con mắt. Tại sao phải mang dép hoặc mang giày? Để bảo vệ cho đôi chân. Tại sao trời lạnh phải mặc thêm áo ấm? Là để giữa ấm cho thân này. Tất cả những cái này là những cái bên ngoài mà mình còn biết bảo vệ kĩ càng, vậy mà nội tâm mình lại không biết bảo hộ, cho nên sự tu tập của mình là sự bảo vệ tâm ý, muốn bảo vệ được tâm ý thì phải biết bảo vệ mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý, phải biết giữ gìn và hộ trì căn. Khi nghe một tiếng thị phi là mình phải tỉnh giác, coi chừng mình bị cuốn theo là bị nhận chìm. Khi mình thấy chuyện thị phi của người khác là không được để ý nữa mà chuyên chú vào tu tập. Nếu mình khéo thấy, khéo nghe, khéo gìn giữ 6 căn 3 nghiệp thì sự tu tập mới tiến bộ, đó gọi là hộ trì căn, giữ gìn mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý. Khi hộ trì như vậy thì giới sẽ thành tựu, giới thành tựu thì định thành tựu, định thành tựu thì tuệ thành tựu, tuệ được thành tựu sẽ thấy như thật các pháp, khi thấy đúng sự thật là vô thường, khổ, vô ngã thì mình sẽ nhàm chán, từ bỏ, không còn tham muốn nữa thì giải thoát, thành tựu tri kiến giải thoát, chấm dứt luân hồi sanh tử. Mỗi ngày tu một chút như vậy thì vài chục năm sau nhắm mắt ra đi trong thanh thản, những vị cao Tăng khi chuẩn bị ra đi là ngồi kiết già nói bốn câu kệ xong là họ đi nhẹ nhàng, họ làm chủ sanh tử nên đạt đến cảnh giới bất tử.
Này các Tỳ-kheo, nếu Tỳ-kheo sống nhiều với các tưởng vô ngã trên khổ, này các Tỳ-kheo, ý của vị ấy thoát khỏi các tư tưởng ngã, ngã sở, ngã mạn, đối với cái thân có thức nầy và đối với tất cả tướng ở ngoài, khéo giải thoát, được an tịnh, vượt qua các thiên kiến. (Tăng Chi Bộ, Chương VII - Bảy Pháp, V. Phẩm Ðại Tế Ðàn, (VI) (46) Tưởng (2))
Không có gì chắc chắn trong cái thân này, trong ba mươi hai thể trược thì cái nào là mình, nó chỉ là một mớ duyên hợp ráp lại thành chiếc xe, nếu mất bộ phận nào có khi không thể chạy được nữa. Cái thân mình cũng giống như vậy, thân này là đố lắp ráp, gắn chân giả, tay giả vào dùng đỡ vài chục năm, thấy người đó cười đẹp quá nhưng thật chất toàn là răng giả, ngoài ra còn có mũi giả, gò má cũng giả, rồi cái gì trên người mình cũng có thể làm giả được, bây giờ còn có thêm kéo xương cho cao thêm vài cm, mặc dù đau đớn nhưng vì cái đẹp nên cố gắng chịu đựng. Có những trường hợp phẫu thuật thẩm mỹ thất bại thật sự nhìn họ vừa giận vừa thương, có những người rất đẹp nhưng thẩm mỹ hơn chục lần bây giờ không dám ra đường.
Nguyện đem công đức này hướng về khắp tất cả chúng sanh đều trọn thành Phật đạo.
./.