Thánh Trí Năm Uẩn - Quán Chiếu 3 Cảm Thọ - Làm Sao Đối Mặt Với Cái Chết
Kinh Nikāya Giảng Giải
Thánh Trí 5 Uẩn
Quán Chiếu 3 Cảm Thọ
Làm Sao Đối Mặt Với Cái Chết?
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Cảm thọ vô thường PAGEREF _Toc139875834 \h 1
II. Huấn luyện cảm thọ PAGEREF _Toc139875835 \h 5
III. Đối diện với cái chết PAGEREF _Toc139875836 \h 7
I. Cảm thọ vô thường
Con xin sám hối hôm nay học trễ vì hôm qua con đi về trễ, xin chư tôn hiền đức, các vị hiền trí lượng thứ. Hôm nay chúng ta nghe kể chuyện trong Tương Ưng Uẩn của các bậc hiền Thánh Tăng.
"Một thời Thế Tôn ở Ràjagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm), tại chỗ nuôi dưỡng các con sóc.
Lúc bấy giờ Tôn giả Assaji trú ở vườn Kassapa, bị bệnh, đau đớn, trầm trọng.
Rồi Tôn giả Assaji gọi các người thị giả:
-- Hãy đến, này chư Hiền! Hãy đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nhân danh ta cúi đầu đảnh lễ Thế Tôn: 'Tỳ-kheo Assaji, bạch Thế Tôn, bị bệnh, đau đớn, trầm trọng, cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn, và thưa như sau : 'Lành thay, bạch Thế Tôn! Thế Tôn vì lòng từ mẫn hãy đi đến Tỳ-kheo Assaji!’'
-- Thưa vâng, Hiền giả!" (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (e), IV. Phẩm Trưởng Lão, VI. Assaji)
Thị giả là người gần gũi, chăm sóc, lo lắng, giúp đỡ cho thầy. Ngài Assaji bệnh rất nặng nên đã nhờ người thân cận đến thỉnh Đức Thế Tôn đi đến thăm bệnh ngài. Các vị thị giả ấy vâng lời làm theo lời dặn dò của ngài.
"Các Tỳ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Assaji, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
Ngồi xuống một bên, các Tỳ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
-- Tỳ-kheo Assaji, bạch Thế Tôn, bị bệnh đau đớn, trầm trọng... Lành thay, bạch Thế Tôn! Thế Tôn vì lòng từ mẫn hãy đi đến Tỳ-kheo Assaji! Thế Tôn im lặng nhận lời.
Rồi Thế Tôn, vào buổi chiều, từ chỗ tịnh cư đứng dậy, đi đến Tôn giả Assaji.
Tôn giả Assaji thấy Thế Tôn từ xa đi đến, thấy vậy liền cố gắng từ nơi giường ngồi dậy. Thế Tôn nói với Tôn giả Assaji:
-- Thôi Assaji! Ông chớ có cố gắng từ giường ngồi dậy! Có chỗ ngồi đã soạn sẵn. Tại chỗ ấy, Ta sẽ ngồi.
Thế Tôn ngồi xuống trên chỗ ngồi đã soạn sẵn. Sau khi ngồi, Thế Tôn nói với Tôn giả Assaji:
- Ông có kham nhẫn được không, này Assaji? Ông có chịu đựng được không?... Có phải có những dấu hiệu thuyên giảm, không có tăng trưởng?
-- Bạch Thế Tôn, con không có thể kham nhẫn!... Có những dấu hiệu tăng trưởng, không có thuyên giảm!" (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (e), IV. Phẩm Trưởng Lão, VI. Assaji)
Tịnh cư là chỗ ở thanh tịnh, cư là cư trú, tịnh là thanh tịnh. Đó là chỗ mà Thế Tôn an tịnh, thiền tịnh, chữ tịnh cư này trùng với Tịnh Cư Thiên là nơi trú xứ của các bậc Bất Lai Thánh quả thứ ba. Thế Tôn đến thăm bệnh thì hỏi Tỳ-kheo Assaji có chịu nổi không, có đau nhiều lắm không, bệnh có triệu chứng giảm hay tăng nặng thêm. Ngài Assaji nói mình không thể chịu đựng nổi, có những triệu chứng nặng thêm chứ không giảm bớt.
"-- Này Assaji, Ông có phân vân gì, có hối hận gì không?
-- Chắc chắn, bạch Thế Tôn, con có nhiều phân vân, có nhiều hối hận!
-- Này Assaji, Ông có điều gì tự trách mình về giới luật hay không?
-- Bạch Thế Tôn, con không có điều gì tự trách mình về giới luật" (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (e), IV. Phẩm Trưởng Lão, VI. Assaji)
Đầu tiên Đức Phật hỏi có phân vân, hối hận, nghi hối gì không, kế đó Đức Phật hỏi có điều gì tự trách mình về giới luật không.
"-- Này Assaji, nếu Ông không có điều gì tự trách mình về giới luật, Ông có phân vân gì, có hối hận gì không?
-- Trước đây, bạch Thế Tôn, sau khi cố gắng làm cho lắng xuống cơn bịnh, con sống với thân hành, do vậy con không chứng được Thiền định. Dầu cho không chứng được Thiền định, con tự nghĩ: 'Ta sẽ không thối thất'.
Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào kiên trì trong Thiền định, tập trung trong Thiền định, nếu họ không chứng đắc Thiền định, họ sẽ nghĩ rằng: 'Chúng ta sẽ không thối thất!'
-- Này Assaji, Ông nghĩ thế nào, sắc là thường hay vô thường?
-- Vô thường, bạch Thế Tôn!... Thức là thường hay vô thường?... do vậy... thấy vậy... '... không còn trở lui trạng thái này nữa'. Vị ấy biết rõ như vậy" (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (e), IV. Phẩm Trưởng Lão, VI. Assaji)
Trước đây do ngài Assaji chăm sóc cái bệnh của ngài, ít thiền định, do để ý chăm sóc bệnh nên ít thực hành thiền định vì thế không chứng được thiền định. Thân hành là những hành động của thân như thuốc men, hay làm những công việc chăm sóc cái bệnh, lo trị bệnh nhưng dù không chứng được thiền định thì ngài nghĩ mình cũng không thối thất, đó là điều ngài phân vân. Thế Tôn không chê trách nhưng lại hỏi sắc là thường hay vô thường, ngài không quở trách vấn đề không chứng đắc thiền định mà ngài kiểm tra chánh tri kiến, thánh trí về năm uẩn.
"Khi cảm giác lạc thọ, vị ấy biết rõ: 'Là vô thường'; vị ấy biết rõ: 'Là không nên đắm trước'; vị ấy biết rõ: 'Là không nên hoan hỉ'. Khi cảm giác khổ thọ, vị ấy biết rõ: 'Là vô thường'; vị ấy biết rõ: 'Là không nên đắm trước'; vị ấy biết rõ: 'Là không nên hoan hỉ'. Khi cảm giác bất khổ bất lạc khổ, vị ấy biết rõ: 'Là vô thường'; vị ấy biết rõ: 'Là không nên đắm trước'; vị ấy biết rõ: 'Là không nên hoan hỉ'". (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (e), IV. Phẩm Trưởng Lão, VI. Assaji)
Khi có cảm xúc, cảm giác vui thì vị ấy biết rõ những cảm thọ vui đó là biến đổi, là mong manh, là khói sương, là phù du. Đây là khi căn tiếp xúc với trần, khi mình được ăn ngon, được khen, được ngửi mùi thơm, vị ngon, thấy đồ đẹp, cảnh đẹp hay khi nghĩ về người nào đó hay món đồ nào đó mình thích thì mình phải biết rõ đó là vô thường, không nên chìm đắm, dính mắc trong đó, không nên thích thú với cảm giác vui sướng đó.
Ở đây đang đối trị với cảm giác lạc thọ, đối trị với cái tham, cái dục, cái ái trong cảm giác lạc thọ vì tất cả vô văn phàm phu đều chết trong cảm giác lạc thọ, ở ngoại cảnh vui khi tiếp xúc thì mình sanh khởi ra sự thích thú rồi bị dính mắc trong đó, ưa thích trong đó. Còn bậc Đa văn Thánh đệ tử biết rõ nó vô thường, biết rõ nó là thứ không nên dính mắc, tham đắm, đắm trước, vì biết rõ nên như vậy nên không hoan hỉ, không thích thú, vui thích, đây là những thứ lạc thọ liên hệ đến vật chất, còn lạc thọ liên hệ đến sự tu tập, pháp hỷ, thiền duyệt, pháp lạc thì mình cho nó sanh khởi, trong giai đoạn hiện tại thì cho nó sanh khởi. Lạc thọ trong khi ngồi thiền, trong khi nghe pháp, trong khi tu học, pháp đàm thì mình cho hoan hỉ cho nên mới có hỷ vô lượng tâm.
"Pháp thí, thắng mọi thí!
Pháp vị, thắng mọi vị!
Pháp hỷ, thắng mọi hỷ!
Ái diệt, dứt mọi khổ!"
(Kinh Pháp Cú 24 – Phẩm Tham Ái, kệ 354)
Vì thế chúng ta cần phân biệt 2 lạc thọ này, ở đây đang nói về lạc thọ liên hệ đến vật chất, lạc thọ trong năm dục trưởng dưỡng, mắt thấy sắc, tai nghe tiếng, mũi ngửi mùi, lưỡi nếm vị, thân xúc chạm và những cái vừa lòng, thích ý, dễ chịu, khả lạc, khả hỷ, khả ý liên hệ đến dục hấp dẫn thì mình phải biết rõ nó là vô thường, nó là không nên đắm trước, không nên hoan hỉ với nó.
Đối với cảm giác khó chịu, bực bội thì mình phải biết rõ nó là vô thường cho nên mình không đắm trước trong cảm thọ khó chịu đó. Tại sao chúng ta lại đắm trước trong khổ thọ? Bây giờ mình giận ai mà mình không chịu từ bỏ cơn giận đó, cứ giận mãi thì đó là đắm trước trong khổ thọ, mình chìm đắm trong đó, mình không bỏ cảm giác giận đó vì mình không biết nó vô thường, không biết nó là cái không nên đắm trước, không biết rõ nó là cái không nên hoan hỉ.
Như vậy chẳng những lạc thọ mà khổ thọ mình cũng bị dính mắc như nhau, mình bị một người xem thường thì mình có biết cảm thọ khó chịu đang sanh khởi lên là vô thường không? Mình có biết cảm thọ khó chịu khi bị người ta xem thường là không nên đắm trước, không nên dính mắc không? Mình có biết là không nên hoan hỉ với cảm thọ đó không? Nếu mình bị ai khinh khi, xem thường là sanh khởi lên sự khó chịu rồi mình dính mắc, mình chìm đắm trong sự khó chịu đó, mình nắm giữ sự khó chịu đó, như vậy là mình không thực hành sự tu tập gì cả, không quán thọ trên thọ gì cả.
Nếu không tu thì được khen sẽ thấy phơi phới, bị chê thì khổ đau, sau đây là ba phương diện để quán chiếu về cảm thọ, đó là vô thường, không nên đắm trước và không nên hoan hỉ, ba nhát dao chém cảm thọ vô minh và tham ái, chấp thủ, ba thanh gươm trí để nhắm thẳng vào cảm thọ để trảm thủ, ba thanh thần đao mà Đức Phật truyền trao cho mình cho nên mình phải nhớ thường xuyên, giữ trong tâm, cầm trong tay.
Khi có cảm giác bất khổ bất lạc thọ là không vui cũng không buồn, cứ đều đều, bình thường cũng phải thấy cái thọ này vô thường, khi đã biết cảm thọ này vô thường thì lúc đó mình thoát ra khỏi si mê. Ba từ để diễn tả cảm giác si là đơ đơ, trơ trơ, ngơ ngơ, cảm thọ này xâm chiếm mình rất nhiều, không có ai cười mãi cũng không ai giận mãi trong một ngày nhưng với cảm giác si này, có si tùy miên, cái vô minh tùy miên, cái trơ trơ, thường thường, đều đều này là cái giết người chết, chết mà không biết mình chết vì mình không thấy cảm thọ trơ trơ này là si tùy miên, là vô minh tùy miên, cảm thọ này là vô thường.
II. Huấn luyện cảm thọ
Muốn biết được cảm thọ này là vô thường thì phải nhận diện cảm thọ, muốn nhận diện cảm thọ thì phải nhận diện ngũ uẩn, muốn nhận diện ngũ uẩn thì phải chánh niệm tỉnh giác, muốn chánh niệm tỉnh giác thì phải thường xem lại tự thân mình, muốn xem lại tự thân mình thì phải thu thúc sáu căn, thu nhiếp, phòng hộ, đó là cả một trình tự tu học.
Mình phải thường xuyên thu nhiếp các căn, khi đã thu nhiếp các căn thì mới nhìn lại trong thân tâm chính mình, khi nhìn lại thân tâm chính mình thì mới nhận diện được ngũ uẩn, hiện tại thân đang ra sao, thọ đang ra sao, những hình bóng, suy nghĩ, cảm giác này đang như thế nào. Khi nhìn vào tâm mới phân loại được đây là cảm giác gì cho nên nếu không có trình tự như vậy thì làm sao biết được đang có cảm giác gì? Còn nếu lúc đó không biết đang có cảm giác gì thì lúc đó là vô minh, là si, còn sau khi đã biết nó là cảm giác gì thì mình phá nó bằng ba pháp quán đã nói ở trên, đó là Thánh đao thần kiếm để trảm ba loại cảm thọ. Ba loại cảm thọ này chính là tham, sân, si, có lúc cơn giận nổi lên thì mình biết rồi tác ý nhiếp phục, cái tham, cái dục, cái ái khởi lên mình cũng biết để tác ý nhiếp phục nhưng đến cái si là mình không biết.
Hiện nay có người tu khi sanh khởi cái sân cũng mặc kệ nó, để nó tự sanh tự diệt, với cái tham cũng để nó tự sanh rồi tự diệt, như vậy là tinh tấn hạ liệt, không giải quyết được vấn đề thì cái si làm sao phá nổi. Tại sao lúc bình thường phải nhìn vào cảm thọ rồi tác ý nó là vô thường, không tham đắm, thích thú hay hoan hỉ với nó? Đó là mình không chấp nhận cảm thọ này là mình, mình thoát ra được thọ thủ uẩn, chính là sự nắm giữ trong cảm thọ cho rằng nó là tôi, là của tôi, mình thoát ra khỏi sự nắm giữ đó.
Mình nhắc để mình thoát ra khỏi cái thâm căn cố đế trong suy nghĩ, cảm giác, nhận thức, tư duy của mình cái thọ này là tôi, cho nên mới gọi là thọ thủ uẩn. Nếu bây giờ tu hời hợt, tu theo kiểu cưỡi ngựa xem hoa, gieo duyên, tu chơi chơi để chờ ngày qua đời thì làm sao có đủ sức mạnh để đánh cho cái "thủ" này tan biến? Nếu từ sáng đến chiều mình không nhắc nhở gì cả, không đào bới cái gốc rễ chấp thủ từ vô lượng vô biên kiếp, cái cây đại cổ thụ vô thỉ kiếp, mình cầm cuốc đào chơi thì làm sao bứng nổi cái cây vô minh, tham ái, chấp thủ, ngu si trong năm uẩn?
Vì thế với một cảm giác bình thường cũng phải thường nhìn vào nó để nhắc "mày là vô thường, tao không chấp nhận mày đâu, mày là thứ không đáng để tham đắm, tao không hoan hỉ với mày đâu". Mình vừa không hoan hỉ vừa thấy sự nguy hiểm trong cảm thọ, mình thấy tác hại trong việc chấp thủ vào trong cảm thọ, như vậy trong tâm mình tách mình ra khỏi cảm thọ, còn lúc trước là mình nhập chung với nó, bây giờ mình tách ra khỏi nó, mình nhìn xuống nó, "ta là chủ của mi", có như vậy thì từ từ mới nhả ra chấp thủ, vô minh, mới nhả ra si mê, mới lần lần trong nhận thức, trong tư duy, cảm thọ của mình sẽ không chấp nhận sắc uẩn này, sắc tướng này, không chấp nhận ba cảm thọ này, có vậy mới thoát ra được. Nếu bây giờ để giận lên rồi mới trải tâm từ thì có kịp không? Nếu để tham dục khởi lên mới quán bất tịnh thì có kịp không? Không thể nào kịp, bình thường phải quán chiếu, nhắc nhở liên tục thì khi hữu sự mới có tâm từ để trải.
Ở ngoài đời phải học ngày học đêm, có khi một đêm chỉ ngủ 3-4 tiếng để thi đậu bằng cấp, phải có sự hi sinh, đánh đổi, mình tu cũng vậy, mình phải chăm chăm niệm đạo, chăm chăm nhìn vào tâm của mình, chăm chăm quán chiếu trong tư duy, chăm chăm tác ý, thường xuyên đánh phá vào bên trong những cái tham tùy miên, si tùy miên, sân tùy miên. Khi cảm giác không khổ không vui, thường thường, trơ trơ thì phải biết rõ nó là vô thường, biết rõ là không nên đắm trước, biết rõ không nên hoan hỉ.
Bình thường người ta dễ bị chết trong cảm thọ này, những khóa tu của chúng ta là để phá cảm thọ này, nếu mình cứ đều đều như vậy thì mình tu không tiến bộ, mình không thay đổi, không đột phá vì cái tâm phàm phu rất thích hưởng nhàn hạ, "tu vậy được rồi", nếu có cái gì thay đổi, biến động là không thích, những điều con làm như mở nhạc đám tang, khiêng bộ xương vào là nhằm phá cảm thọ này, phá cảm thọ thường thường, đều đều cứ nghĩ là mình sẽ sống yên ổn mãi, khỏe mạnh mãi. Cảm thọ si mê, vô minh, tham ái, chấp thủ, cảm thọ cho rằng mình là thường còn sẽ thấy sợ sệt để tu hành.
Chúng ta phải khéo léo nhìn ra các cảm thọ, quán chiếu các cảm thọ, chiếu phá các cảm thọ để làm cho mình không ưa thích nữa. Cảm thọ vui mình cũng không ưa thích, mình biết nó vô thường, là cái không nên tham đắm và là cái không nên hoan hỉ, nếu hoan hỉ là mình khổ với nó.
"Nếu vị ấy cảm giác lạc thọ, vị ấy cảm thọ không có hệ lụy. Nếu vị ấy cảm giác khổ thọ, vị ấy cảm thọ không có hệ lụy. Nếu vị ấy cảm giác bất khổ bất lạc thọ, vị ấy cảm thọ không có hệ lụy" (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (e), IV. Phẩm Trưởng Lão, VI. Assaji)
III. Đối diện với cái chết
Hệ là trói cột, lụy là sự khổ lụy, không có hệ lụy là không bị trói cột và khổ đau trong bất cứ một cảm giác nào. Sâu sắc hơn nữa là khi tu mà có những cảm giác hân hoan, nhẹ nhõm, khinh an thì mình cũng biết đó là cảm thọ, mình hoan hỉ nhẹ nhàng với nó, không dính mắc vào nó, mình biết nó chỉ là cảm thọ của thiện pháp vì thế trong ba loại cảm thọ này vị Đa văn Thánh đệ tử không bị hệ lụy, trói cột hay khổ lụy.
"Nếu vị ấy cảm thọ một cảm thọ cùng tận về thân, vị ấy biết rõ: 'Ta đang cảm giác một cảm thọ cùng tận về thân'. Nếu vị ấy cảm giác một cảm thọ cùng tận về sinh mạng, vị ấy biết rõ: 'Ta đang cảm giác một cảm thọ cùng tận về sinh mạng'. Vị ấy biết rõ rằng: 'Khi thân hoại mạng chung trên cho đến khi sinh mạng đi đến chỗ cùng tận, ở đây tất cả những gì vị ấy cảm thọ, tất cả những gì vị ấy hoan hỉ, sẽ trở thành thanh lương!'
Ví như, này Assaji, do duyên dầu, do duyên tim bấc, một cây đèn dầu được cháy đỏ. Khi dầu và tim bấc của ngọn đèn ấy đoạn tận, không có mang lại nhiên liệu, ngọn đèn ấy sẽ tắt. Cũng vậy, này Assaji, Tỳ-kheo, khi cảm giác một cảm thọ cùng tận về thân, vị ấy biết rõ: 'Ta đang cảm giác một cảm thọ cùng tận về thân'. Khi cảm giác một cảm thọ cùng tận về sinh mạng, vị ấy biết rõ: 'Ta đang cảm giác một cảm thọ cùng tận về sinh mạng'. Sau khi thân hoại mạng chung trên cho đến khi sinh mạng đi đến chỗ cùng tận, ở đây tất cả những gì vị ấy cảm thọ, tất cả những gì vị ấy hoan hỉ, sẽ trở thành thanh lương!" (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (e), IV. Phẩm Trưởng Lão, VI. Assaji)
Sở dĩ ngọn đèn dầu cháy được là do có dầu và tim bấc, khi dầu và tim bấc hết, nếu không châm dầu, không thay tim bấc đó thì ngọn đèn đó sẽ tắt, không cháy lại được nữa, tim tàn, dầu khô, lửa tắt. Đầu tiên là thấy được ngũ uẩn là vô thường, cảm thọ là vô thường, kế đến khi cảm thọ sanh khởi lên ba trạng thái của thọ là lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ thì vị này đều quán chiếu thâm sâu, tu tập thuần thục, nhuần nhuyễn, cho đến giây phút vị này cảm thọ cùng tận về thân, tức là những giây phút tai nạn, bệnh hoạn như ngài Assaji đang bệnh nặng trầm trọng thì vị ấy biết rõ đang có cảm giác cùng tận về thân.
Nếu đang có cảm thọ cùng tận về sinh mạng nghĩa là sắp chết thì vị ấy cũng biết được nó. Tất cả những gì vị ấy thích thú, hoan hỉ đều trở nên tươi mát, tịch tịnh, vắng lặng, không có gì phải lo lắng cả, những cái gì tới nó sẽ tới, không có gì phải bàng hoàng, hốt hoảng hay sợ hãi. Đây là những bí kíp mà Đức Thế Tôn truyền trao cho những vị lớn tuổi, bệnh tật, sắp phải đối mặt với cái chết, mong mình được bình an.
Thầy Pháp An bây giờ nói rằng thầy không đi bệnh viện cũng không xuống núi, thầy chấp nhận sanh diệt pháp, tới lúc hoại thì hoại. Các Phật tử ở xa nửa vòng Trái Đất cũng gửi lời chúc mừng, con mừng hơn tất cả khi thầy có được trí tuệ như vậy, tuy rằng thân cũng đau, tâm cũng bị ảnh hưởng nhưng một lòng tin xác quyết, kiên định không đi bệnh viện, uống thảo dược nhẹ nhàng. Con mong thời gian quý thầy, quý cô có thời gian trải tâm từ cho ông, nếu có dịp lên thăm ông thì nhớ đem bài pháp này chia sẻ cho ông, bài kinh này lợi lạc rất nhiều cho những vị đang ở giai đoạn cuối cùng của kiếp người. Nhưng chúng ta đừng nghĩ đối diện với giai đoạn cuối của kiếp người chỉ có người già thôi, người trẻ vẫn còn lâu, chúng ta phải trang bị trí tuệ này, sự nhìn nhận này, sự quán chiếu này.
Mình biết rõ tâm mình bình an dù phải đối diện với cái chết, đó là thành công, là thành quả, thành tựu của một người tu học về trí tuệ năm uẩn. Hằng ngày mình đã được huân tập trí tuệ này, mình đã thấy cái vô thường, cái khổ đau, tai họa, bất an trong ngũ uẩn, đến lúc chết thì không thể nào hoảng loạn được mà sẽ bình tĩnh, sáng suốt, chấp nhận, tỏ tường giống như dầu hết, tim tàn, lửa tắt, không còn đốt lên những ngọn lửa tham lam, sân hận, si mê nữa, không còn đốt lên những ngọn lửa của vô minh, tham ái nữa, không còn đốt lên những ngọn lửa của dòng luân hồi đầy oan nghiệt, khổ đau nữa nên mình vui, đó là niềm hạnh phúc tối thượng của người tu.
"Một thời, nhiều Tỳ-kheo Trưởng lão sống ở Kosambi, tại vườn Ghosita.
Lúc bấy giờ, Tôn giả Khemaka trú tại vườn Badarica, bị bệnh, đau đớn, bị trọng bệnh.
Rồi các Tỳ-kheo Trưởng lão, vào buổi chiều, từ chỗ tịnh cư đứng dậy và gọi Tôn giả Dàsaka:
-- Hãy đến đây, này Hiền giả Dàsaka! Hãy đi đến Tỳ-kheo Khemaka; sau khi đến, hãy nói với Tỳ-kheo Khemaka: 'Này Hiền giả Khemaka, các Trưởng lão nói với Hiền giả như sau: 'Này Hiền giả, Hiền giả có kham nhẫn được không? Hiền giả có chịu đựng được không? Có phải khổ thọ tổn giảm không tăng trưởng? Có phải có những dấu hiệu tổn giảm, không phải tăng trưởng?’"
-- Thưa vâng, chư Hiền.
Tôn giả Dàsaka vâng đáp các Tỳ-kheo ấy, đi đến Tôn giả Khemaka, sau khi đến, nói với Tôn giả Khemaka:
-- Các Trưởng lão, này Hiền giả Khemaka, nói với Hiền giả như sau: 'Hiền giả có kham nhẫn được không? Này Hiền giả Khemaka... không phải tăng trưởng?'
-- Tôi không có thể kham nhẫn, thưa Hiền giả... tôi không có thể chịu đựng... có những dấu hiệu tăng trưởng, không phải thuyên giảm!
Rồi Tôn giả Dàsaka đi đến các Tỳ-kheo Trưởng lão; sau khi đến, thưa với các Tỳ-kheo Trưởng lão:
-- Thưa chư Hiền, Tỳ-kheo Khemaka nói như sau: 'Tôi không có thể kham nhẫn, này Hiền giả... có những dấu hiệu tăng trưởng, không phải thuyên giảm!'
-- Hãy đến đây, Hiền giả Dàsaka! Hãy đi đến Tỳ-kheo Khemaka; sau khi đến, nói với Tỳ-kheo Khemaka như sau: "Này Hiền giả Khemaka, các bậc Trưởng lão nói với Hiền giả như sau: 'Này Hiền giả, Thế Tôn có nói đến năm thủ uẩn, tức là sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn. Trong năm thủ uẩn này, Tôn giả Khemaka quán có cái gì là tự ngã hay ngã sở không?’"
-- Thưa vâng, chư Hiền.
Tôn giả Dàsaka vâng đáp các Tỳ-kheo Trưởng lão, đi đến Tôn giả Khemaka, sau khi đến...
-- Các bậc Trưởng lão, này Hiền giả, nói với Hiền giả như sau: 'Này Hiền giả, Thế Tôn có nói đến năm thủ uẩn này, tức là sắc thủ uẩn... thức thủ uẩn. Trong năm thủ uẩn này, Tôn giả Khemaka quán có cái gì là tự ngã hay ngã sở không?'
-- Thưa Hiền giả, Thế Tôn có nói đến năm thủ uẩn này, tức là sắc thủ uẩn... thức thủ uẩn. Trong năm thủ uẩn này, này Hiền giả, tôi không quán cái gì là tự ngã hay ngã sở cả.
Rồi Tôn giả Dàsaka đi đến các Tỳ-kheo Trưởng lão; sau khi đến, nói với các Tỳ-kheo Trưởng lão:
-- Tỳ-kheo Khemaka, thưa chư Hiền, đã nói như sau: 'Thưa Hiền giả, Thế Tôn có nói đến năm thủ uẩn này, tức là sắc thủ uẩn... thức thủ uẩn. Trong năm thủ uẩn này, này Hiền giả, tôi không quán cái gì là tự ngã hay ngã sở cả!'
-- Hãy đến đây, Hiền giả Dàsaka! Hãy đi đến Tỳ-kheo Khemaka; sau khi đến, nói với Tỳ-kheo Khemaka như sau: 'Các vị Trưởng lão, này Hiền giả Khemaka, nói với Hiền giả như sau: 'Hiền giả Khemaka, Thế Tôn có nói đến năm thủ uẩn này, tức là sắc thủ uẩn...thức thủ uẩn. Trong năm thủ uẩn này, nếu Tôn giả Khemaka không quán cái gì là tự ngã hay ngã sở cả, thời Tôn giả Khemaka là vị A-la-hán, các lậu hoặc đã được đoạn tận'.'
-- Thưa vâng, chư Hiền giả.
Tôn giả Dàsaka vâng đáp các Tỳ-kheo Trưởng lão, đi đến Tôn giả Khemaka...
-- Này Hiền giả Khemaka, các bậc Tỳ-kheo Trưởng lão nói với Hiền giả như sau: 'Thưa Hiền giả, Thế Tôn có nói đến năm thủ uẩn này, tức là sắc thủ uẩn... thức thủ uẩn. Nếu Tôn giả Khemaka, trong năm thủ uẩn này, không quán cái nào là tự ngã hay ngã sở, thời Tôn giả Khemaka là bậc A-la-hán, đã đoạn tận các lậu hoặc'.
-- Thưa Hiền giả, Thế Tôn có nói đến năm thủ uẩn này, tức là sắc thủ uẩn... thức thủ uẩn. Trong năm thủ uẩn này, này Hiền giả, tôi không quán cái gì là tự ngã hay ngã sở cả. Nhưng tôi không phải là bậc A-la-hán, đã đoạn tận các lậu hoặc. Và thưa Hiền giả, trong năm thủ uẩn này, dầu cho tôi có chứng được: 'Tôi là', tuy vậy tôi cũng không quán: 'Cái này là tôi'." (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (e), IV. Phẩm Trưởng Lão, VII. Khemaka)
Cả cuộc đời tu của chúng ta từ cư sĩ cho đến xuất gia, từ bước đầu tiên nhận diện ngũ uẩn cho đến bước tiếp theo là quán chiếu về ngũ uẩn để thấy được tham, sân, si, dục ái, bản ngã, nhiếp phục, đối trị, dọn dẹp, tẩy rửa cho đến giai đoạn cuối cùng là hình ảnh của tôn giả Assaji, ngài được Đức Phật đến thuyết pháp cho nghe, đây là một hình ảnh rất cảm xúc. Đó là những bậc hiền Thánh nhưng cuối cùng khi Thế Tôn hỏi có chịu đựng được không thì trả lời không chịu đựng được vì sự đau đớn, qua đây chúng ta thấy đời sống này sanh ra với những tiếng kêu oa oa của những dòng nước mắt, chặng giữa đó là biết bao tủi hờn, huyết lệ, đến khi kết thúc cuộc đời này cũng kết thúc trong nước mắt. Để nhìn thấy được những dòng nước mắt xuyên suốt, liên tục là cả một sự bình tĩnh, sáng suốt, trí tuệ, cái tuệ giác thâm sâu, đâu đó lâu lâu lại có những tiếng cười của sự giả tạo, giả dối, những tiếng cười hết sức phù du, có khi cười lại ra nước mắt.
Chúng ta nhìn thấy hình ảnh của một vị hiền Thánh Tăng nằm trên gường bệnh, được Thế Tôn đi đến thăm bệnh, chúng ta có thể thiền quán để thâm nhập ngũ uẩn này là khổ đau, ngũ uẩn này là vô thường, ngũ uẩn này là bất an, ngũ uẩn là cái không đáng để tham đắm, không đáng để thích thú. Rồi một ngày không xa chúng ta cũng sẽ rời xa cảnh vật đáng yêu này, chúng ta cũng sẽ rời xa những món đồ mình yêu thích, chúng ta cũng rời xa thân xác mà mình đã nâng niu suốt mấy chục năm trời. Chúng ta rời xa những thứ khả lạc, khả hỷ, khả ái, chúng ta ra đi trong sự luyến tiếc, ngậm ngùi, trong khổ đau, trong những dòng nước mắt của chính mình và những người thân thương đang đứng xung quanh nếu mình còn nhận biết được, nhưng đối với tâm thức chúng ta lại không thể rời xa những thứ tham, sân, si, dục ái, vô minh, những thứ này sẽ đi theo chúng ta, nghiệp đi theo chúng ta, quả của ác nghiệp sẽ đi theo chúng ta.
Nếu chúng ta không có sức mạnh tuệ quán thâm sâu, tác ý liên tục để đánh phá những thứ vô minh, hôn ám trú ẩn ngàn năm vô lượng kiếp trong con người này, trong những suy nghĩ, nhận thức này thì chúng ta sẽ mãi mãi miên man, tiếp tục sanh ra trong những dòng nước mắt và chết đi trong những dòng lệ, tiếp tục buồn đau, khổ sầu, tiếp tục khao khát, thèm muốn, tiếp tục đấu đá, giành giật, hơn thua để rồi tiếp tục đi trong dòng luân hồi oan nghiệt với những dòng nước mắt tận cùng thương đau này. Hằng ngày chúng ta được nghe, được đọc lại Thánh ngữ, Thánh điển, Thánh pháp, Thánh trí để ngấm vào thân tâm, để chúng ta phá đi những cái si mê, hôn ám, chấp thủ, ngu muội, tham đắm, hoan hỉ, ưa thích trong những thứ vô thường, bẩn thỉu, hư huyễn, mong manh, tạm bợ của đời sống này, chúng ta mới có thể vững trú được trong Thánh trí tuệ mà bậc Chánh Đẳng Chánh Giác truyền trao. Chúng ta phải trú thật vững chắc trong Thánh trí tuệ này, nếu không sóng gió cuộc đời, bão táp phong ba này sẽ thổi bay chúng ta.
"Con mắt là biển của người, tốc độ của nó làm bằng các sắc. Ai điều phục được tốc độ làm bằng các sắc ấy, này các Tỳ-kheo, người ấy được gọi là Bà-la-môn đã vượt khỏi biển mắt, với những làn sóng (sàùmim), nước xoáy (sàvattasu), các loại cá mập (sagàham), các loại La-sát (Rakkhasam), đến bờ bên kia và đứng trên đất liền. Tai... Mũi... Lưỡi... Thân..." (Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (f), Phần Bốn - Năm Mươi Kinh Thứ Tư, III. Phẩm Biển, I. Biển)
Lỗ tai này là biển, tốc độ của nó tính bằng âm thanh, tốc độ của thọ; tưởng; hành; thức rất nhanh khi căn tiếp xúc trần, người nào chế ngự được những dục ái, vô minh trong đó thì người đó đáo bỉ ngạn, đến bên bờ kia, nếu không thì chìm hết bên bờ này, có rất ít người đến được bờ bên kia. Những bậc hiền Thánh Tăng mà cuối cùng kết thúc cũng trong sự rã rời, huống hồ chi kẻ phàm phu vô minh đầy rẫy ác nghiệp, không biết lo, chỉ biết hơn thua, giành giật, cấu xé, lo những chuyện phù phiếm, vô nghĩa, còn chuyện quan trọng đối diện với sống chết, sự ra đi lại không để tâm.
Chúng ta rất là dại khờ, rất trẻ thơ, mỗi ngày chúng ta đặt ra hình ảnh khi chúng ta đối diện cái chết thì lúc đó như thế nào, chúng ta có thể bỏ được những thứ mà chúng ta cần bỏ không vì thế hôm kết thúc khóa tu con mở nhạc đám tang, đưa bộ xương cho bốn thầy khiêng xuống để chúng ta nhớ mãi hình ảnh đó, đừng bao giờ quên, lấy cái đó làm định tướng để chúng ta không còn muốn hơn thua, giành giật, không tìm kiếm bất cứ cái gì trên cuộc đời này nữa, không còn cái gì đáng để mình tìm kiếm nữa, chỉ có một điều duy nhất là làm thế nào để đoạn tận hết tham, ái, dục.
Phải tìm đủ mọi cách để thoát ra quả cầu lửa này, đầy rẫy những bất an và tai họa. Chúng ta nhìn thử xem có cái gì vui sướng không? Nhìn sâu vào sẽ thấy Khổ Thánh Trí hiện tiền, phải thẩm thấu, thâm nhập, thấm đẫm trí tuệ này để diệt hết tất cả khổ đau.
Có gì vui mà cười mà nói?
Có gì vui mà náo động tâm?
Ngoài kia cuộc sống thăng trầm
Trong này lắm kẻ lặng thầm tàn
Phải thể nhập trí huệ này vĩnh viễn và mãi mãi không bao giờ mất đi, nhìn tất cả mọi thứ trong đời sống này chỉ là một đống khổ đau chứ không có gì khác. Khi chúng ta có mặt trên cuộc đời này thì khổ uẩn sanh ra, khi chúng ta chết thì khổ uẩn diệt nhưng chỉ mới có sắc uẩn, còn thọ; tưởng; hành; thức là chưa nói đến, ác nghiệp là chưa nói, sau đó lại tiếp tục đi theo cái khổ nữa. Ngày mình sanh ra là ngày khổ sanh, ngày chết đi thì tạm gọi là khổ diệt trong một giai đoạn trong một kiếp người, ngoài ra không có gì khác nữa. Chúng ta nhìn thấy như vậy để chúng ta nhàm chán, chúng ta thoát ra, thoát nhanh, thoát lẹ, thoát mau chốn này. Phải quán những thứ đó là vô thường, không nên tham đắm, không nên hoan hỉ thì chúng ta sẽ có một trí tuệ tuyệt vời, tối thượng.
Tâm thương này tỏa rộng
Cùng khắp thế giới này
Tâm thương này tỏa rộng
Khắp trời đất bao la.
./.
Thánh Trí 5 Uẩn
Quán Chiếu 3 Cảm Thọ
Làm Sao Đối Mặt Với Cái Chết?
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Cảm thọ vô thường PAGEREF _Toc139875834 \h 1
II. Huấn luyện cảm thọ PAGEREF _Toc139875835 \h 5
III. Đối diện với cái chết PAGEREF _Toc139875836 \h 7
I. Cảm thọ vô thường
Con xin sám hối hôm nay học trễ vì hôm qua con đi về trễ, xin chư tôn hiền đức, các vị hiền trí lượng thứ. Hôm nay chúng ta nghe kể chuyện trong Tương Ưng Uẩn của các bậc hiền Thánh Tăng.
"Một thời Thế Tôn ở Ràjagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm), tại chỗ nuôi dưỡng các con sóc.
Lúc bấy giờ Tôn giả Assaji trú ở vườn Kassapa, bị bệnh, đau đớn, trầm trọng.
Rồi Tôn giả Assaji gọi các người thị giả:
-- Hãy đến, này chư Hiền! Hãy đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nhân danh ta cúi đầu đảnh lễ Thế Tôn: 'Tỳ-kheo Assaji, bạch Thế Tôn, bị bệnh, đau đớn, trầm trọng, cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn, và thưa như sau : 'Lành thay, bạch Thế Tôn! Thế Tôn vì lòng từ mẫn hãy đi đến Tỳ-kheo Assaji!’'
-- Thưa vâng, Hiền giả!" (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (e), IV. Phẩm Trưởng Lão, VI. Assaji)
Thị giả là người gần gũi, chăm sóc, lo lắng, giúp đỡ cho thầy. Ngài Assaji bệnh rất nặng nên đã nhờ người thân cận đến thỉnh Đức Thế Tôn đi đến thăm bệnh ngài. Các vị thị giả ấy vâng lời làm theo lời dặn dò của ngài.
"Các Tỳ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Assaji, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
Ngồi xuống một bên, các Tỳ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
-- Tỳ-kheo Assaji, bạch Thế Tôn, bị bệnh đau đớn, trầm trọng... Lành thay, bạch Thế Tôn! Thế Tôn vì lòng từ mẫn hãy đi đến Tỳ-kheo Assaji! Thế Tôn im lặng nhận lời.
Rồi Thế Tôn, vào buổi chiều, từ chỗ tịnh cư đứng dậy, đi đến Tôn giả Assaji.
Tôn giả Assaji thấy Thế Tôn từ xa đi đến, thấy vậy liền cố gắng từ nơi giường ngồi dậy. Thế Tôn nói với Tôn giả Assaji:
-- Thôi Assaji! Ông chớ có cố gắng từ giường ngồi dậy! Có chỗ ngồi đã soạn sẵn. Tại chỗ ấy, Ta sẽ ngồi.
Thế Tôn ngồi xuống trên chỗ ngồi đã soạn sẵn. Sau khi ngồi, Thế Tôn nói với Tôn giả Assaji:
- Ông có kham nhẫn được không, này Assaji? Ông có chịu đựng được không?... Có phải có những dấu hiệu thuyên giảm, không có tăng trưởng?
-- Bạch Thế Tôn, con không có thể kham nhẫn!... Có những dấu hiệu tăng trưởng, không có thuyên giảm!" (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (e), IV. Phẩm Trưởng Lão, VI. Assaji)
Tịnh cư là chỗ ở thanh tịnh, cư là cư trú, tịnh là thanh tịnh. Đó là chỗ mà Thế Tôn an tịnh, thiền tịnh, chữ tịnh cư này trùng với Tịnh Cư Thiên là nơi trú xứ của các bậc Bất Lai Thánh quả thứ ba. Thế Tôn đến thăm bệnh thì hỏi Tỳ-kheo Assaji có chịu nổi không, có đau nhiều lắm không, bệnh có triệu chứng giảm hay tăng nặng thêm. Ngài Assaji nói mình không thể chịu đựng nổi, có những triệu chứng nặng thêm chứ không giảm bớt.
"-- Này Assaji, Ông có phân vân gì, có hối hận gì không?
-- Chắc chắn, bạch Thế Tôn, con có nhiều phân vân, có nhiều hối hận!
-- Này Assaji, Ông có điều gì tự trách mình về giới luật hay không?
-- Bạch Thế Tôn, con không có điều gì tự trách mình về giới luật" (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (e), IV. Phẩm Trưởng Lão, VI. Assaji)
Đầu tiên Đức Phật hỏi có phân vân, hối hận, nghi hối gì không, kế đó Đức Phật hỏi có điều gì tự trách mình về giới luật không.
"-- Này Assaji, nếu Ông không có điều gì tự trách mình về giới luật, Ông có phân vân gì, có hối hận gì không?
-- Trước đây, bạch Thế Tôn, sau khi cố gắng làm cho lắng xuống cơn bịnh, con sống với thân hành, do vậy con không chứng được Thiền định. Dầu cho không chứng được Thiền định, con tự nghĩ: 'Ta sẽ không thối thất'.
Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào kiên trì trong Thiền định, tập trung trong Thiền định, nếu họ không chứng đắc Thiền định, họ sẽ nghĩ rằng: 'Chúng ta sẽ không thối thất!'
-- Này Assaji, Ông nghĩ thế nào, sắc là thường hay vô thường?
-- Vô thường, bạch Thế Tôn!... Thức là thường hay vô thường?... do vậy... thấy vậy... '... không còn trở lui trạng thái này nữa'. Vị ấy biết rõ như vậy" (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (e), IV. Phẩm Trưởng Lão, VI. Assaji)
Trước đây do ngài Assaji chăm sóc cái bệnh của ngài, ít thiền định, do để ý chăm sóc bệnh nên ít thực hành thiền định vì thế không chứng được thiền định. Thân hành là những hành động của thân như thuốc men, hay làm những công việc chăm sóc cái bệnh, lo trị bệnh nhưng dù không chứng được thiền định thì ngài nghĩ mình cũng không thối thất, đó là điều ngài phân vân. Thế Tôn không chê trách nhưng lại hỏi sắc là thường hay vô thường, ngài không quở trách vấn đề không chứng đắc thiền định mà ngài kiểm tra chánh tri kiến, thánh trí về năm uẩn.
"Khi cảm giác lạc thọ, vị ấy biết rõ: 'Là vô thường'; vị ấy biết rõ: 'Là không nên đắm trước'; vị ấy biết rõ: 'Là không nên hoan hỉ'. Khi cảm giác khổ thọ, vị ấy biết rõ: 'Là vô thường'; vị ấy biết rõ: 'Là không nên đắm trước'; vị ấy biết rõ: 'Là không nên hoan hỉ'. Khi cảm giác bất khổ bất lạc khổ, vị ấy biết rõ: 'Là vô thường'; vị ấy biết rõ: 'Là không nên đắm trước'; vị ấy biết rõ: 'Là không nên hoan hỉ'". (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (e), IV. Phẩm Trưởng Lão, VI. Assaji)
Khi có cảm xúc, cảm giác vui thì vị ấy biết rõ những cảm thọ vui đó là biến đổi, là mong manh, là khói sương, là phù du. Đây là khi căn tiếp xúc với trần, khi mình được ăn ngon, được khen, được ngửi mùi thơm, vị ngon, thấy đồ đẹp, cảnh đẹp hay khi nghĩ về người nào đó hay món đồ nào đó mình thích thì mình phải biết rõ đó là vô thường, không nên chìm đắm, dính mắc trong đó, không nên thích thú với cảm giác vui sướng đó.
Ở đây đang đối trị với cảm giác lạc thọ, đối trị với cái tham, cái dục, cái ái trong cảm giác lạc thọ vì tất cả vô văn phàm phu đều chết trong cảm giác lạc thọ, ở ngoại cảnh vui khi tiếp xúc thì mình sanh khởi ra sự thích thú rồi bị dính mắc trong đó, ưa thích trong đó. Còn bậc Đa văn Thánh đệ tử biết rõ nó vô thường, biết rõ nó là thứ không nên dính mắc, tham đắm, đắm trước, vì biết rõ nên như vậy nên không hoan hỉ, không thích thú, vui thích, đây là những thứ lạc thọ liên hệ đến vật chất, còn lạc thọ liên hệ đến sự tu tập, pháp hỷ, thiền duyệt, pháp lạc thì mình cho nó sanh khởi, trong giai đoạn hiện tại thì cho nó sanh khởi. Lạc thọ trong khi ngồi thiền, trong khi nghe pháp, trong khi tu học, pháp đàm thì mình cho hoan hỉ cho nên mới có hỷ vô lượng tâm.
"Pháp thí, thắng mọi thí!
Pháp vị, thắng mọi vị!
Pháp hỷ, thắng mọi hỷ!
Ái diệt, dứt mọi khổ!"
(Kinh Pháp Cú 24 – Phẩm Tham Ái, kệ 354)
Vì thế chúng ta cần phân biệt 2 lạc thọ này, ở đây đang nói về lạc thọ liên hệ đến vật chất, lạc thọ trong năm dục trưởng dưỡng, mắt thấy sắc, tai nghe tiếng, mũi ngửi mùi, lưỡi nếm vị, thân xúc chạm và những cái vừa lòng, thích ý, dễ chịu, khả lạc, khả hỷ, khả ý liên hệ đến dục hấp dẫn thì mình phải biết rõ nó là vô thường, nó là không nên đắm trước, không nên hoan hỉ với nó.
Đối với cảm giác khó chịu, bực bội thì mình phải biết rõ nó là vô thường cho nên mình không đắm trước trong cảm thọ khó chịu đó. Tại sao chúng ta lại đắm trước trong khổ thọ? Bây giờ mình giận ai mà mình không chịu từ bỏ cơn giận đó, cứ giận mãi thì đó là đắm trước trong khổ thọ, mình chìm đắm trong đó, mình không bỏ cảm giác giận đó vì mình không biết nó vô thường, không biết nó là cái không nên đắm trước, không biết rõ nó là cái không nên hoan hỉ.
Như vậy chẳng những lạc thọ mà khổ thọ mình cũng bị dính mắc như nhau, mình bị một người xem thường thì mình có biết cảm thọ khó chịu đang sanh khởi lên là vô thường không? Mình có biết cảm thọ khó chịu khi bị người ta xem thường là không nên đắm trước, không nên dính mắc không? Mình có biết là không nên hoan hỉ với cảm thọ đó không? Nếu mình bị ai khinh khi, xem thường là sanh khởi lên sự khó chịu rồi mình dính mắc, mình chìm đắm trong sự khó chịu đó, mình nắm giữ sự khó chịu đó, như vậy là mình không thực hành sự tu tập gì cả, không quán thọ trên thọ gì cả.
Nếu không tu thì được khen sẽ thấy phơi phới, bị chê thì khổ đau, sau đây là ba phương diện để quán chiếu về cảm thọ, đó là vô thường, không nên đắm trước và không nên hoan hỉ, ba nhát dao chém cảm thọ vô minh và tham ái, chấp thủ, ba thanh gươm trí để nhắm thẳng vào cảm thọ để trảm thủ, ba thanh thần đao mà Đức Phật truyền trao cho mình cho nên mình phải nhớ thường xuyên, giữ trong tâm, cầm trong tay.
Khi có cảm giác bất khổ bất lạc thọ là không vui cũng không buồn, cứ đều đều, bình thường cũng phải thấy cái thọ này vô thường, khi đã biết cảm thọ này vô thường thì lúc đó mình thoát ra khỏi si mê. Ba từ để diễn tả cảm giác si là đơ đơ, trơ trơ, ngơ ngơ, cảm thọ này xâm chiếm mình rất nhiều, không có ai cười mãi cũng không ai giận mãi trong một ngày nhưng với cảm giác si này, có si tùy miên, cái vô minh tùy miên, cái trơ trơ, thường thường, đều đều này là cái giết người chết, chết mà không biết mình chết vì mình không thấy cảm thọ trơ trơ này là si tùy miên, là vô minh tùy miên, cảm thọ này là vô thường.
II. Huấn luyện cảm thọ
Muốn biết được cảm thọ này là vô thường thì phải nhận diện cảm thọ, muốn nhận diện cảm thọ thì phải nhận diện ngũ uẩn, muốn nhận diện ngũ uẩn thì phải chánh niệm tỉnh giác, muốn chánh niệm tỉnh giác thì phải thường xem lại tự thân mình, muốn xem lại tự thân mình thì phải thu thúc sáu căn, thu nhiếp, phòng hộ, đó là cả một trình tự tu học.
Mình phải thường xuyên thu nhiếp các căn, khi đã thu nhiếp các căn thì mới nhìn lại trong thân tâm chính mình, khi nhìn lại thân tâm chính mình thì mới nhận diện được ngũ uẩn, hiện tại thân đang ra sao, thọ đang ra sao, những hình bóng, suy nghĩ, cảm giác này đang như thế nào. Khi nhìn vào tâm mới phân loại được đây là cảm giác gì cho nên nếu không có trình tự như vậy thì làm sao biết được đang có cảm giác gì? Còn nếu lúc đó không biết đang có cảm giác gì thì lúc đó là vô minh, là si, còn sau khi đã biết nó là cảm giác gì thì mình phá nó bằng ba pháp quán đã nói ở trên, đó là Thánh đao thần kiếm để trảm ba loại cảm thọ. Ba loại cảm thọ này chính là tham, sân, si, có lúc cơn giận nổi lên thì mình biết rồi tác ý nhiếp phục, cái tham, cái dục, cái ái khởi lên mình cũng biết để tác ý nhiếp phục nhưng đến cái si là mình không biết.
Hiện nay có người tu khi sanh khởi cái sân cũng mặc kệ nó, để nó tự sanh tự diệt, với cái tham cũng để nó tự sanh rồi tự diệt, như vậy là tinh tấn hạ liệt, không giải quyết được vấn đề thì cái si làm sao phá nổi. Tại sao lúc bình thường phải nhìn vào cảm thọ rồi tác ý nó là vô thường, không tham đắm, thích thú hay hoan hỉ với nó? Đó là mình không chấp nhận cảm thọ này là mình, mình thoát ra được thọ thủ uẩn, chính là sự nắm giữ trong cảm thọ cho rằng nó là tôi, là của tôi, mình thoát ra khỏi sự nắm giữ đó.
Mình nhắc để mình thoát ra khỏi cái thâm căn cố đế trong suy nghĩ, cảm giác, nhận thức, tư duy của mình cái thọ này là tôi, cho nên mới gọi là thọ thủ uẩn. Nếu bây giờ tu hời hợt, tu theo kiểu cưỡi ngựa xem hoa, gieo duyên, tu chơi chơi để chờ ngày qua đời thì làm sao có đủ sức mạnh để đánh cho cái "thủ" này tan biến? Nếu từ sáng đến chiều mình không nhắc nhở gì cả, không đào bới cái gốc rễ chấp thủ từ vô lượng vô biên kiếp, cái cây đại cổ thụ vô thỉ kiếp, mình cầm cuốc đào chơi thì làm sao bứng nổi cái cây vô minh, tham ái, chấp thủ, ngu si trong năm uẩn?
Vì thế với một cảm giác bình thường cũng phải thường nhìn vào nó để nhắc "mày là vô thường, tao không chấp nhận mày đâu, mày là thứ không đáng để tham đắm, tao không hoan hỉ với mày đâu". Mình vừa không hoan hỉ vừa thấy sự nguy hiểm trong cảm thọ, mình thấy tác hại trong việc chấp thủ vào trong cảm thọ, như vậy trong tâm mình tách mình ra khỏi cảm thọ, còn lúc trước là mình nhập chung với nó, bây giờ mình tách ra khỏi nó, mình nhìn xuống nó, "ta là chủ của mi", có như vậy thì từ từ mới nhả ra chấp thủ, vô minh, mới nhả ra si mê, mới lần lần trong nhận thức, trong tư duy, cảm thọ của mình sẽ không chấp nhận sắc uẩn này, sắc tướng này, không chấp nhận ba cảm thọ này, có vậy mới thoát ra được. Nếu bây giờ để giận lên rồi mới trải tâm từ thì có kịp không? Nếu để tham dục khởi lên mới quán bất tịnh thì có kịp không? Không thể nào kịp, bình thường phải quán chiếu, nhắc nhở liên tục thì khi hữu sự mới có tâm từ để trải.
Ở ngoài đời phải học ngày học đêm, có khi một đêm chỉ ngủ 3-4 tiếng để thi đậu bằng cấp, phải có sự hi sinh, đánh đổi, mình tu cũng vậy, mình phải chăm chăm niệm đạo, chăm chăm nhìn vào tâm của mình, chăm chăm quán chiếu trong tư duy, chăm chăm tác ý, thường xuyên đánh phá vào bên trong những cái tham tùy miên, si tùy miên, sân tùy miên. Khi cảm giác không khổ không vui, thường thường, trơ trơ thì phải biết rõ nó là vô thường, biết rõ là không nên đắm trước, biết rõ không nên hoan hỉ.
Bình thường người ta dễ bị chết trong cảm thọ này, những khóa tu của chúng ta là để phá cảm thọ này, nếu mình cứ đều đều như vậy thì mình tu không tiến bộ, mình không thay đổi, không đột phá vì cái tâm phàm phu rất thích hưởng nhàn hạ, "tu vậy được rồi", nếu có cái gì thay đổi, biến động là không thích, những điều con làm như mở nhạc đám tang, khiêng bộ xương vào là nhằm phá cảm thọ này, phá cảm thọ thường thường, đều đều cứ nghĩ là mình sẽ sống yên ổn mãi, khỏe mạnh mãi. Cảm thọ si mê, vô minh, tham ái, chấp thủ, cảm thọ cho rằng mình là thường còn sẽ thấy sợ sệt để tu hành.
Chúng ta phải khéo léo nhìn ra các cảm thọ, quán chiếu các cảm thọ, chiếu phá các cảm thọ để làm cho mình không ưa thích nữa. Cảm thọ vui mình cũng không ưa thích, mình biết nó vô thường, là cái không nên tham đắm và là cái không nên hoan hỉ, nếu hoan hỉ là mình khổ với nó.
"Nếu vị ấy cảm giác lạc thọ, vị ấy cảm thọ không có hệ lụy. Nếu vị ấy cảm giác khổ thọ, vị ấy cảm thọ không có hệ lụy. Nếu vị ấy cảm giác bất khổ bất lạc thọ, vị ấy cảm thọ không có hệ lụy" (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (e), IV. Phẩm Trưởng Lão, VI. Assaji)
III. Đối diện với cái chết
Hệ là trói cột, lụy là sự khổ lụy, không có hệ lụy là không bị trói cột và khổ đau trong bất cứ một cảm giác nào. Sâu sắc hơn nữa là khi tu mà có những cảm giác hân hoan, nhẹ nhõm, khinh an thì mình cũng biết đó là cảm thọ, mình hoan hỉ nhẹ nhàng với nó, không dính mắc vào nó, mình biết nó chỉ là cảm thọ của thiện pháp vì thế trong ba loại cảm thọ này vị Đa văn Thánh đệ tử không bị hệ lụy, trói cột hay khổ lụy.
"Nếu vị ấy cảm thọ một cảm thọ cùng tận về thân, vị ấy biết rõ: 'Ta đang cảm giác một cảm thọ cùng tận về thân'. Nếu vị ấy cảm giác một cảm thọ cùng tận về sinh mạng, vị ấy biết rõ: 'Ta đang cảm giác một cảm thọ cùng tận về sinh mạng'. Vị ấy biết rõ rằng: 'Khi thân hoại mạng chung trên cho đến khi sinh mạng đi đến chỗ cùng tận, ở đây tất cả những gì vị ấy cảm thọ, tất cả những gì vị ấy hoan hỉ, sẽ trở thành thanh lương!'
Ví như, này Assaji, do duyên dầu, do duyên tim bấc, một cây đèn dầu được cháy đỏ. Khi dầu và tim bấc của ngọn đèn ấy đoạn tận, không có mang lại nhiên liệu, ngọn đèn ấy sẽ tắt. Cũng vậy, này Assaji, Tỳ-kheo, khi cảm giác một cảm thọ cùng tận về thân, vị ấy biết rõ: 'Ta đang cảm giác một cảm thọ cùng tận về thân'. Khi cảm giác một cảm thọ cùng tận về sinh mạng, vị ấy biết rõ: 'Ta đang cảm giác một cảm thọ cùng tận về sinh mạng'. Sau khi thân hoại mạng chung trên cho đến khi sinh mạng đi đến chỗ cùng tận, ở đây tất cả những gì vị ấy cảm thọ, tất cả những gì vị ấy hoan hỉ, sẽ trở thành thanh lương!" (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (e), IV. Phẩm Trưởng Lão, VI. Assaji)
Sở dĩ ngọn đèn dầu cháy được là do có dầu và tim bấc, khi dầu và tim bấc hết, nếu không châm dầu, không thay tim bấc đó thì ngọn đèn đó sẽ tắt, không cháy lại được nữa, tim tàn, dầu khô, lửa tắt. Đầu tiên là thấy được ngũ uẩn là vô thường, cảm thọ là vô thường, kế đến khi cảm thọ sanh khởi lên ba trạng thái của thọ là lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ thì vị này đều quán chiếu thâm sâu, tu tập thuần thục, nhuần nhuyễn, cho đến giây phút vị này cảm thọ cùng tận về thân, tức là những giây phút tai nạn, bệnh hoạn như ngài Assaji đang bệnh nặng trầm trọng thì vị ấy biết rõ đang có cảm giác cùng tận về thân.
Nếu đang có cảm thọ cùng tận về sinh mạng nghĩa là sắp chết thì vị ấy cũng biết được nó. Tất cả những gì vị ấy thích thú, hoan hỉ đều trở nên tươi mát, tịch tịnh, vắng lặng, không có gì phải lo lắng cả, những cái gì tới nó sẽ tới, không có gì phải bàng hoàng, hốt hoảng hay sợ hãi. Đây là những bí kíp mà Đức Thế Tôn truyền trao cho những vị lớn tuổi, bệnh tật, sắp phải đối mặt với cái chết, mong mình được bình an.
Thầy Pháp An bây giờ nói rằng thầy không đi bệnh viện cũng không xuống núi, thầy chấp nhận sanh diệt pháp, tới lúc hoại thì hoại. Các Phật tử ở xa nửa vòng Trái Đất cũng gửi lời chúc mừng, con mừng hơn tất cả khi thầy có được trí tuệ như vậy, tuy rằng thân cũng đau, tâm cũng bị ảnh hưởng nhưng một lòng tin xác quyết, kiên định không đi bệnh viện, uống thảo dược nhẹ nhàng. Con mong thời gian quý thầy, quý cô có thời gian trải tâm từ cho ông, nếu có dịp lên thăm ông thì nhớ đem bài pháp này chia sẻ cho ông, bài kinh này lợi lạc rất nhiều cho những vị đang ở giai đoạn cuối cùng của kiếp người. Nhưng chúng ta đừng nghĩ đối diện với giai đoạn cuối của kiếp người chỉ có người già thôi, người trẻ vẫn còn lâu, chúng ta phải trang bị trí tuệ này, sự nhìn nhận này, sự quán chiếu này.
Mình biết rõ tâm mình bình an dù phải đối diện với cái chết, đó là thành công, là thành quả, thành tựu của một người tu học về trí tuệ năm uẩn. Hằng ngày mình đã được huân tập trí tuệ này, mình đã thấy cái vô thường, cái khổ đau, tai họa, bất an trong ngũ uẩn, đến lúc chết thì không thể nào hoảng loạn được mà sẽ bình tĩnh, sáng suốt, chấp nhận, tỏ tường giống như dầu hết, tim tàn, lửa tắt, không còn đốt lên những ngọn lửa tham lam, sân hận, si mê nữa, không còn đốt lên những ngọn lửa của vô minh, tham ái nữa, không còn đốt lên những ngọn lửa của dòng luân hồi đầy oan nghiệt, khổ đau nữa nên mình vui, đó là niềm hạnh phúc tối thượng của người tu.
"Một thời, nhiều Tỳ-kheo Trưởng lão sống ở Kosambi, tại vườn Ghosita.
Lúc bấy giờ, Tôn giả Khemaka trú tại vườn Badarica, bị bệnh, đau đớn, bị trọng bệnh.
Rồi các Tỳ-kheo Trưởng lão, vào buổi chiều, từ chỗ tịnh cư đứng dậy và gọi Tôn giả Dàsaka:
-- Hãy đến đây, này Hiền giả Dàsaka! Hãy đi đến Tỳ-kheo Khemaka; sau khi đến, hãy nói với Tỳ-kheo Khemaka: 'Này Hiền giả Khemaka, các Trưởng lão nói với Hiền giả như sau: 'Này Hiền giả, Hiền giả có kham nhẫn được không? Hiền giả có chịu đựng được không? Có phải khổ thọ tổn giảm không tăng trưởng? Có phải có những dấu hiệu tổn giảm, không phải tăng trưởng?’"
-- Thưa vâng, chư Hiền.
Tôn giả Dàsaka vâng đáp các Tỳ-kheo ấy, đi đến Tôn giả Khemaka, sau khi đến, nói với Tôn giả Khemaka:
-- Các Trưởng lão, này Hiền giả Khemaka, nói với Hiền giả như sau: 'Hiền giả có kham nhẫn được không? Này Hiền giả Khemaka... không phải tăng trưởng?'
-- Tôi không có thể kham nhẫn, thưa Hiền giả... tôi không có thể chịu đựng... có những dấu hiệu tăng trưởng, không phải thuyên giảm!
Rồi Tôn giả Dàsaka đi đến các Tỳ-kheo Trưởng lão; sau khi đến, thưa với các Tỳ-kheo Trưởng lão:
-- Thưa chư Hiền, Tỳ-kheo Khemaka nói như sau: 'Tôi không có thể kham nhẫn, này Hiền giả... có những dấu hiệu tăng trưởng, không phải thuyên giảm!'
-- Hãy đến đây, Hiền giả Dàsaka! Hãy đi đến Tỳ-kheo Khemaka; sau khi đến, nói với Tỳ-kheo Khemaka như sau: "Này Hiền giả Khemaka, các bậc Trưởng lão nói với Hiền giả như sau: 'Này Hiền giả, Thế Tôn có nói đến năm thủ uẩn, tức là sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn. Trong năm thủ uẩn này, Tôn giả Khemaka quán có cái gì là tự ngã hay ngã sở không?’"
-- Thưa vâng, chư Hiền.
Tôn giả Dàsaka vâng đáp các Tỳ-kheo Trưởng lão, đi đến Tôn giả Khemaka, sau khi đến...
-- Các bậc Trưởng lão, này Hiền giả, nói với Hiền giả như sau: 'Này Hiền giả, Thế Tôn có nói đến năm thủ uẩn này, tức là sắc thủ uẩn... thức thủ uẩn. Trong năm thủ uẩn này, Tôn giả Khemaka quán có cái gì là tự ngã hay ngã sở không?'
-- Thưa Hiền giả, Thế Tôn có nói đến năm thủ uẩn này, tức là sắc thủ uẩn... thức thủ uẩn. Trong năm thủ uẩn này, này Hiền giả, tôi không quán cái gì là tự ngã hay ngã sở cả.
Rồi Tôn giả Dàsaka đi đến các Tỳ-kheo Trưởng lão; sau khi đến, nói với các Tỳ-kheo Trưởng lão:
-- Tỳ-kheo Khemaka, thưa chư Hiền, đã nói như sau: 'Thưa Hiền giả, Thế Tôn có nói đến năm thủ uẩn này, tức là sắc thủ uẩn... thức thủ uẩn. Trong năm thủ uẩn này, này Hiền giả, tôi không quán cái gì là tự ngã hay ngã sở cả!'
-- Hãy đến đây, Hiền giả Dàsaka! Hãy đi đến Tỳ-kheo Khemaka; sau khi đến, nói với Tỳ-kheo Khemaka như sau: 'Các vị Trưởng lão, này Hiền giả Khemaka, nói với Hiền giả như sau: 'Hiền giả Khemaka, Thế Tôn có nói đến năm thủ uẩn này, tức là sắc thủ uẩn...thức thủ uẩn. Trong năm thủ uẩn này, nếu Tôn giả Khemaka không quán cái gì là tự ngã hay ngã sở cả, thời Tôn giả Khemaka là vị A-la-hán, các lậu hoặc đã được đoạn tận'.'
-- Thưa vâng, chư Hiền giả.
Tôn giả Dàsaka vâng đáp các Tỳ-kheo Trưởng lão, đi đến Tôn giả Khemaka...
-- Này Hiền giả Khemaka, các bậc Tỳ-kheo Trưởng lão nói với Hiền giả như sau: 'Thưa Hiền giả, Thế Tôn có nói đến năm thủ uẩn này, tức là sắc thủ uẩn... thức thủ uẩn. Nếu Tôn giả Khemaka, trong năm thủ uẩn này, không quán cái nào là tự ngã hay ngã sở, thời Tôn giả Khemaka là bậc A-la-hán, đã đoạn tận các lậu hoặc'.
-- Thưa Hiền giả, Thế Tôn có nói đến năm thủ uẩn này, tức là sắc thủ uẩn... thức thủ uẩn. Trong năm thủ uẩn này, này Hiền giả, tôi không quán cái gì là tự ngã hay ngã sở cả. Nhưng tôi không phải là bậc A-la-hán, đã đoạn tận các lậu hoặc. Và thưa Hiền giả, trong năm thủ uẩn này, dầu cho tôi có chứng được: 'Tôi là', tuy vậy tôi cũng không quán: 'Cái này là tôi'." (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (e), IV. Phẩm Trưởng Lão, VII. Khemaka)
Cả cuộc đời tu của chúng ta từ cư sĩ cho đến xuất gia, từ bước đầu tiên nhận diện ngũ uẩn cho đến bước tiếp theo là quán chiếu về ngũ uẩn để thấy được tham, sân, si, dục ái, bản ngã, nhiếp phục, đối trị, dọn dẹp, tẩy rửa cho đến giai đoạn cuối cùng là hình ảnh của tôn giả Assaji, ngài được Đức Phật đến thuyết pháp cho nghe, đây là một hình ảnh rất cảm xúc. Đó là những bậc hiền Thánh nhưng cuối cùng khi Thế Tôn hỏi có chịu đựng được không thì trả lời không chịu đựng được vì sự đau đớn, qua đây chúng ta thấy đời sống này sanh ra với những tiếng kêu oa oa của những dòng nước mắt, chặng giữa đó là biết bao tủi hờn, huyết lệ, đến khi kết thúc cuộc đời này cũng kết thúc trong nước mắt. Để nhìn thấy được những dòng nước mắt xuyên suốt, liên tục là cả một sự bình tĩnh, sáng suốt, trí tuệ, cái tuệ giác thâm sâu, đâu đó lâu lâu lại có những tiếng cười của sự giả tạo, giả dối, những tiếng cười hết sức phù du, có khi cười lại ra nước mắt.
Chúng ta nhìn thấy hình ảnh của một vị hiền Thánh Tăng nằm trên gường bệnh, được Thế Tôn đi đến thăm bệnh, chúng ta có thể thiền quán để thâm nhập ngũ uẩn này là khổ đau, ngũ uẩn này là vô thường, ngũ uẩn này là bất an, ngũ uẩn là cái không đáng để tham đắm, không đáng để thích thú. Rồi một ngày không xa chúng ta cũng sẽ rời xa cảnh vật đáng yêu này, chúng ta cũng sẽ rời xa những món đồ mình yêu thích, chúng ta cũng rời xa thân xác mà mình đã nâng niu suốt mấy chục năm trời. Chúng ta rời xa những thứ khả lạc, khả hỷ, khả ái, chúng ta ra đi trong sự luyến tiếc, ngậm ngùi, trong khổ đau, trong những dòng nước mắt của chính mình và những người thân thương đang đứng xung quanh nếu mình còn nhận biết được, nhưng đối với tâm thức chúng ta lại không thể rời xa những thứ tham, sân, si, dục ái, vô minh, những thứ này sẽ đi theo chúng ta, nghiệp đi theo chúng ta, quả của ác nghiệp sẽ đi theo chúng ta.
Nếu chúng ta không có sức mạnh tuệ quán thâm sâu, tác ý liên tục để đánh phá những thứ vô minh, hôn ám trú ẩn ngàn năm vô lượng kiếp trong con người này, trong những suy nghĩ, nhận thức này thì chúng ta sẽ mãi mãi miên man, tiếp tục sanh ra trong những dòng nước mắt và chết đi trong những dòng lệ, tiếp tục buồn đau, khổ sầu, tiếp tục khao khát, thèm muốn, tiếp tục đấu đá, giành giật, hơn thua để rồi tiếp tục đi trong dòng luân hồi oan nghiệt với những dòng nước mắt tận cùng thương đau này. Hằng ngày chúng ta được nghe, được đọc lại Thánh ngữ, Thánh điển, Thánh pháp, Thánh trí để ngấm vào thân tâm, để chúng ta phá đi những cái si mê, hôn ám, chấp thủ, ngu muội, tham đắm, hoan hỉ, ưa thích trong những thứ vô thường, bẩn thỉu, hư huyễn, mong manh, tạm bợ của đời sống này, chúng ta mới có thể vững trú được trong Thánh trí tuệ mà bậc Chánh Đẳng Chánh Giác truyền trao. Chúng ta phải trú thật vững chắc trong Thánh trí tuệ này, nếu không sóng gió cuộc đời, bão táp phong ba này sẽ thổi bay chúng ta.
"Con mắt là biển của người, tốc độ của nó làm bằng các sắc. Ai điều phục được tốc độ làm bằng các sắc ấy, này các Tỳ-kheo, người ấy được gọi là Bà-la-môn đã vượt khỏi biển mắt, với những làn sóng (sàùmim), nước xoáy (sàvattasu), các loại cá mập (sagàham), các loại La-sát (Rakkhasam), đến bờ bên kia và đứng trên đất liền. Tai... Mũi... Lưỡi... Thân..." (Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (f), Phần Bốn - Năm Mươi Kinh Thứ Tư, III. Phẩm Biển, I. Biển)
Lỗ tai này là biển, tốc độ của nó tính bằng âm thanh, tốc độ của thọ; tưởng; hành; thức rất nhanh khi căn tiếp xúc trần, người nào chế ngự được những dục ái, vô minh trong đó thì người đó đáo bỉ ngạn, đến bên bờ kia, nếu không thì chìm hết bên bờ này, có rất ít người đến được bờ bên kia. Những bậc hiền Thánh Tăng mà cuối cùng kết thúc cũng trong sự rã rời, huống hồ chi kẻ phàm phu vô minh đầy rẫy ác nghiệp, không biết lo, chỉ biết hơn thua, giành giật, cấu xé, lo những chuyện phù phiếm, vô nghĩa, còn chuyện quan trọng đối diện với sống chết, sự ra đi lại không để tâm.
Chúng ta rất là dại khờ, rất trẻ thơ, mỗi ngày chúng ta đặt ra hình ảnh khi chúng ta đối diện cái chết thì lúc đó như thế nào, chúng ta có thể bỏ được những thứ mà chúng ta cần bỏ không vì thế hôm kết thúc khóa tu con mở nhạc đám tang, đưa bộ xương cho bốn thầy khiêng xuống để chúng ta nhớ mãi hình ảnh đó, đừng bao giờ quên, lấy cái đó làm định tướng để chúng ta không còn muốn hơn thua, giành giật, không tìm kiếm bất cứ cái gì trên cuộc đời này nữa, không còn cái gì đáng để mình tìm kiếm nữa, chỉ có một điều duy nhất là làm thế nào để đoạn tận hết tham, ái, dục.
Phải tìm đủ mọi cách để thoát ra quả cầu lửa này, đầy rẫy những bất an và tai họa. Chúng ta nhìn thử xem có cái gì vui sướng không? Nhìn sâu vào sẽ thấy Khổ Thánh Trí hiện tiền, phải thẩm thấu, thâm nhập, thấm đẫm trí tuệ này để diệt hết tất cả khổ đau.
Có gì vui mà cười mà nói?
Có gì vui mà náo động tâm?
Ngoài kia cuộc sống thăng trầm
Trong này lắm kẻ lặng thầm tàn
Phải thể nhập trí huệ này vĩnh viễn và mãi mãi không bao giờ mất đi, nhìn tất cả mọi thứ trong đời sống này chỉ là một đống khổ đau chứ không có gì khác. Khi chúng ta có mặt trên cuộc đời này thì khổ uẩn sanh ra, khi chúng ta chết thì khổ uẩn diệt nhưng chỉ mới có sắc uẩn, còn thọ; tưởng; hành; thức là chưa nói đến, ác nghiệp là chưa nói, sau đó lại tiếp tục đi theo cái khổ nữa. Ngày mình sanh ra là ngày khổ sanh, ngày chết đi thì tạm gọi là khổ diệt trong một giai đoạn trong một kiếp người, ngoài ra không có gì khác nữa. Chúng ta nhìn thấy như vậy để chúng ta nhàm chán, chúng ta thoát ra, thoát nhanh, thoát lẹ, thoát mau chốn này. Phải quán những thứ đó là vô thường, không nên tham đắm, không nên hoan hỉ thì chúng ta sẽ có một trí tuệ tuyệt vời, tối thượng.
Tâm thương này tỏa rộng
Cùng khắp thế giới này
Tâm thương này tỏa rộng
Khắp trời đất bao la.
./.