Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

GIẢI PHÁ CHẤP NGÃ 2

2026-03-03 00:54:12
Tinh Hoa Nikāya

GIẢI PHÁ CHẤP NGÃ 2

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I.Bảy trí về bản ngã PAGEREF _Toc113478761 \h 1

II.Vạch mặt bản ngã PAGEREF _Toc113478762 \h 4

III.Một số phương pháp nhiếp phục bản ngã PAGEREF _Toc113478763 \h 13

1.Xưng “con” PAGEREF _Toc113478764 \h 13

2.Quán bản ngã là thuốc độc PAGEREF _Toc113478765 \h 14

3.Quán bản ngã như chó dữ PAGEREF _Toc113478766 \h 15

4.Dùng những từ tác ý mạnh và hạnh lạy diệt ngã PAGEREF _Toc113478767 \h 16

Bảy trí về bản ngã

Trong thời gian ở yên, chiêm nghiệm, Minh Thành tu học kết hợp với trí của năm uẩn. Lấy trí về sắc, thọ, tưởng, hành, thức để nhìn qua bản ngã thì thấy có bảy loại trí tuệ để phá chấp ngã. Trong khóa tu xuất gia này, chúng ta sẽ đào sâu hai chủ đề chính: “Xuất gia phản tỉnh” và “Giải phá bản ngã”, chúng ta sẽ sử dụng bảy loại trí tuệ để giải phá chấp ngã. Đầu tiên, cần phải hiểu định nghĩa của chấp ngã và tìm hiểu thêm về ngã tập khởi và ngã đoạn diệt; tức là từ đâu mà có chấp ngã, làm sao để đi đến chỗ đoạn diệt và cách chấm dứt chấp ngã. Như vậy:

“Chấp ngã là gì” là trí thứ nhất.

“Từ đâu có ra sự chấp ngã này” là trí thứ hai.

“Làm thế nào để chấm dứt chấp ngã” là trí thứ ba.

“Con đường, phương pháp đưa đến sự chấm dứt chấp ngã” là trí thứ tư.

“Vị ngọt của bản ngã” là trí thứ năm.

“Sự nguy hại của bản ngã” là trí thứ sáu.

“Sự xuất ly khỏi bản ngã” là trí thứ bảy.

Vậy, chấp ngã được sanh khởi như thế nào? Do vô minh đối với năm uẩn, sự khát ái đối với năm uẩn mà bản ngã được hình thành.

Thế nào là sự diệt tận của bản ngã? Vô minh và tham ái, khát ái đối với năm uẩn chấm dứt thì bản ngã được diệt tận.

Thế nào là con đường đưa đến sự chấm dứt chấp ngã? Con đường Tám đúng, Thánh đạo tám ngành, Bát chánh đạo sẽ đưa đến sự chấm dứt bản ngã.

Thế nào vị ngọt của bản ngã? Do duyên nơi chấp ngã mà có lạc gì, hỷ gì sanh khởi lên sự ưa thích, khoan khoái, tham ái trong đó gọi là vị ngọt.

Thế nào là sự nguy hại của bản ngã? Bản ngã là vô thường, khổ, trống rỗng, hoại diệt, bất toàn, bất an, vô chủ và vô sở hữu, đó là sự nguy hại của bản ngã.

Thế nào là sự xuất ly khỏi bản ngã? Nhiếp phục dục và tham, đoạn tận dục và tham đối với chấp ngã là sự xuất ly, thoát ra khỏi bản ngã.

Từ bảy trí về năm uẩn chúng ta nhìn vào bản ngã sẽ thấy có bảy trí để tiêu diệt chấp ngã. Chúng ta có thể khai triển rất nhiều phương diện để nhìn ra tính nguy hại của bản ngã. Những bài đã học hầu hết đánh mạnh vào hai phần: thứ nhất là tính chất nguy hiểm và tác hại của bản ngã; thứ hai là con đường để thoát ra. Nếu bản thân không thấy được sự nguy hiểm và tác hại của chấp ngã thì sẽ không sợ cảm giác bản ngã. Vì vậy, chúng ta sẽ đào sâu các khía cạnh về tai hại, hiểm hoạ, hiểm nguy của bản ngã. Đa số những chia sẻ về phần này đều do Minh Thành nhìn vào chính nội tâm mình khi nhập thất, bản ngã vận hành như thế nào thì trình bày như vậy. Tuy là chủ yếu nói về chính mình hơn là nói người khác, nhưng ngũ uẩn nào cũng giống hệt nhau, khi thấy được mình thì những người khác cũng giống như vậy. Đây là Minh Thành diễn tả hành tướng của bản ngã khi nó xuất hiện, biểu hiện, vận hành và xâm chiếm thâm tâm mình:

Cái tôi, cái ta nhục lắm nha.

Lườm lườm, liếc liếc dáng chủ nhân

Trừng trừng, trợn trợn kiểu sếp sòng.

Đi đi lại lại ra dáng vẻ,

Uy uy, oai oai thật đáng khinh.

Hỡi này, bạn ơi mình người tu,

Hãy nhớ mình tu đó nghe không?

Tâm tâm niệm niệm khắc ghi lòng.

Chúng ta phải thấy được bản ngã sanh khởi có hình thái như thế nào, lúc đó hành tướng ngũ uẩn ra sao? Cảm thọ lúc đó ra làm sao? Bản ngã dâng lên, trương lên, phình lên, ngực ưỡn ưỡn ra đằng trước, cái mặt hất hất lên, vênh váo trong tưởng thế nào? Hình dáng của mình phình phình lên, to lớn lên, hất cái mặt lên thế nào chúng ta cũng phải biết. Cái hành thì suy nghĩ rằng “mình hay, mình giỏi, mình đúng, mình phải, mình là tốt, người khác không bằng mình”. Từ thân thể, sắc uẩn cho đến cảm giác, nghĩ, tưởng và con dùng câu: “Lườm lườm liếc liếc, trừng trừng, trợn trợn”. Nhất là với người có chức có quyền, các vị sẽ thấy rất quen thuộc với vẻ của bản ngã. Đặc biệt là người tu, đầu tròn, mặc áo nâu hoặc áo vàng nhưng lúc nào cũng hất hất cái mặt, như vậy thì rất khó coi.

Mặt khác, bản ngã thường đi cùng với sân. Một khi bản ngã sanh khởi, lập tức sân đi theo. Mỗi khi có ai không nhìn, không chào hỏi, không trả lời, hoặc tranh cãi, hơn thua với mình là bản thân nghĩ rằng “Người đó xúc phạm mình, người đó xem thường tôi, coi tôi không ra gì hết, miệt thị và khinh khi tôi”. Khi đó, cả người nóng lên phừng phực, rừng rực và các pháp trong tâm vận hành liên tục. Người này vừa vô minh, vừa tham ái, vừa sân hận, vừa bản ngã, thậm chí muốn làm sao phải tàn phá, nói làm sao cho người khác phải khuất phục, chịu thua; thọ, tưởng, hành, thức vận hành chỉ bấy nhiêu.

Nhiều lúc các thầy cô thấy Minh Thành đi nhẹ nhàng từ ngoài vào, tưởng đâu Minh Thành hiền hòa, khiêm hạ nhưng thật ra bên trong Minh Thành đang Như lý tác ý, đang ra những đòn rất mạnh ở trong tâm. Nhiều lúc bên ngoài thì Minh Thành đang ngồi chơi nhưng bên trong tâm như chiến trường đang đánh giặc với những tham, sân, si, bản ngã. Chỉ vì một cuộc điện thoại khiến mình khó chịu thì Minh Thành phải tác ý từ chiều hôm qua đến hết giờ ngồi thiền sáng nay mới hết sân.

Một khi bản ngã sanh khởi lên, mình thấy được thì phải đánh dập hoài cho tới khi những hình bóng, suy nghĩ, cảm giác đó không còn nữa mới thôi. Vì khi bản ngã đó không còn lưu dấu vết nữa thì lần sau mới không sanh khởi trở lại. Ngược lại, chúng ta mặc kệ bản ngã qua một bên, không thèm dòm nó thì vài bữa bản ngã sẽ lại sanh khởi. Cho nên cần phải biết xử lí, nhìn ra sự nguy hại của bản ngã, phải hạch tội cái bản ngã, vạch mặt cái ta đây.

Vạch mặt bản ngã

Cái bản ngã này thật dối gian,

Một đời chân chính bỗng biến tan,

Tráo trở, lật lọng khi có lợi,

Yên bình, hạnh phúc thành bất an.

Cái bản ngã này thật ác gian,

Độc hơn chất kịch độc muôn ngàn,

Giết hết trần hoàn vô lượng kiếp,

Độc hại tràn lan đầy thế gian.

Cái bản ngã này thật nhục thay,

Vênh váo lên mặt suốt cả ngày,

Suy nghĩ cảm giác theo thú tính,

Sớm muộn gì cũng gặp nạn tai.

Cái bản ngã này như chó dữ,

Hở ra một chút là sủa vang,

Gầm gừ, nhào tới, tánh hung dữ,

Táp hết người hiền trên cuộc đời.

Cái bản ngã này như thú hoang,

Kiêu căng, mất dạy thêm ngang tàn,

Xem ai cũng chẳng ra gì hết,

Bá chủ thiên hạ khổ vô vàn.

Cái bản ngã này đồ thúi tha,

Mùi hôi, xú uể bay rất xa,

Người tu chất chứa và nuôi dưỡng,

Tín thí đàn na nhìn không ra.

Cái bản ngã này thật gớm thay,

Một ảo thuật gia rất đại tài,

Nghĩ mình sếp sòng làm cha mẹ,

Sống trong ảo ảnh đời bi ai.

Cái bản ngã này, khổ lắm thay,

Ngày đây mai đó chẳng vừa lòng,

Gặp ai cũng bực không thoải mái,

Cau có, hơn thua tái diễn hoài.

Cái bản ngã này thật đáng kinh,

Chà đạp nhân sinh mọi hữu tình,

Xấu xa nhục nhã không thể tả,

Chung thân trong ngục chịu tử hình.

Đây là những hình ảnh cần nhớ để quán chiếu. Tất cả đều do Minh Thành tự nhìn vào nội tâm bản thân và những gì đã chứng kiến tron đời sống về tai hại của bản ngã để chia sẻ. Có những người một đời hiền lành nhưng bỗng chốc lại trở thành người ác độc.

Như câu chuyện về bà chủ hiền thục, người này được mọi người đồn rằng rất hiền thục, nổi tiếng trong vùng. Có cô người làm muốn thử xem bà chủ có hiền đúng như lời đồn hay không nên khi đến giờ thức dậy, cô người làm cố tình dậy trễ và được bà chủ vào gọi cô dậy. Ngày hôm sau, cô người làm lại dậy trễ hơn, bà chủ gọi dậy và rầy la. Ngày thứ ba, cô người làm lại dậy trễ hơn nữa mà còn chửi lại bà chủ. Khi đó, bà chủ lấy then cài cửa đánh vào đầu cô người làm, cô chạy ra ngoài đường ôm đầu máu nói: “Bà chủ hiền thục của tôi đây!".

Thật ra có những người rất hiền lành nhưng khi gặp chuyện nào đó họ bung ra, họ thay đổi tính tình, không còn như vậy nữa, vì họ bị xúc phạm tới bản ngã, tự ái. Ví dụ như vợ chồng sống với nhau lâu ngày, hoặc huynh đệ, bạn bè lâu năm nhưng vì một hành động nào đó đụng chạm tới bản ngã của họ thì người thân bỗng chốc quay ngược trở thành thù hận, không nhìn mặt nhau, thậm chí là đánh nhau, ly thân, ly dị, sát hại nhau. Đó là chân tướng của bản ngã. Nếu có sự tu tập, bản thân có sự kiềm chế thì mới có thể nhiếp phục được phần nào.

Thật là cay đắng cái ta này!

Suốt ngày suy nghĩ để khoe khoang,

Phô trương danh tiếng cùng thanh thế,

Để được mọi người tới biểu dương.

Khổ ơi là khổ cái ta này!

Thương, giận, buồn, vui, đúng với sai,

Bắt bẻ đủ điều không chịu nổi,

Chẳng ai vừa ý chẳng hợp ai.

Khổ ơi là khổ cái ta này!

Ganh tỵ dối gian tôi với mi,

Gia đình tan nát thêm buồn khổ,

Vợ chồng, anh em thành kẻ thù.

Khổ ơi là khổ cái ta này!

So đo ăn uống dở với ngon,

Khen chê đủ chuyện người tốt xấu,

Thị phi, đôi chối, ôm sầu bi.

Khổ ơi là khổ cái ta này!

Con dao hai lưỡi giết mình người,

Tự mình bản ngã làm mình khổ,

Người ở cùng mình khổ hơn mình.

Đắng cay, ác độc cái ta này!

Tự mình giết mình thật vô minh,

Sắt sinh từ sắt hủy hoại sắc,

Bản thân cao ngạo ở một mình.

Bản ngã này nguyên tử giết người,

Nổ tung thế giới gây chiến tranh,

Tan thương, sầu hận khắp trên đời.

Đông tây kim cổ Âu sang Á,

Lịch sử ngàn năm chẳng đổi dời.

Ôi! Hoạn nạn thay hoạn nạn thay,

Bản ngã tên sát nhân đại tài,

Giết cha giết mẹ giết thân tộc,

Hại anh hại em hại cháu con,

Phân thây chồng vợ bao nhiêu mảnh,

Bóp cổ người yêu nhận xuống sông,

Đốt nhà trộm cướp, phá xóm làng,

Đâm cha chém chú hạ độc thủ,

Phóng hỏa, axít tạt đánh ghen.

Tao quá sợ mi, quá sợ mi,

Bản ngã bày trò lắm khéo khôn,

Sát nhân ngọt lịm như đường mật,

Bao nhiêu ruồi kiến mê vị ngọt,

Chết nổi chết chìm trong khốn cùng.

Ôi! Bản ngã này, bản ngã này,

Ngày nào bản ngã chưa phát giác,

Ngày ấy ta còn trong u mê.

Ngày nào bản ngã chưa thấy rõ,

Ngày ấy ta còn nô lệ nó.

Ngày nào bản ngã chưa soi tỏ,

Ngày ấy ta còn trong bóng đêm.

Ngày nào bản ngã chưa vạch mặt,

Ngày ấy ta còn trong dại khờ.

Ngày nào bản ngã chưa nhiếp phục,

Ngày ấy ta còn nhục xấu xa.

Ngày nào bản ngã chưa đánh gục,

Ngày ấy ta còn phẫn nộ tham.

Ngày nào bản ngã chưa tê liệt,

Ngày ấy còn phân biệt hơn thua.

Ngày nào bản ngã chưa chết hẳn,

Ngày ấy ta còn phải khổ đau.

Ngày nào bản ngã chưa diệt chủng,

Ngày ấy ta còn trong nguy nan.

Chúng ta phải đồng lòng vạch mặt, hỏi tội, phanh phui tính ác độc, thâm độc, hiểm độc, nham hiểm, mưu mô, xảo quyệt của bản ngã này. Nó là thứ ác độc nhất trên thế gian này, không ai làm hại mình như bản ngã. Hãy nhìn vào bên trong khi nói, cười, nghe, tiếp xúc, làm việc để xem bản ngã sanh khởi, an trú, vận hành như thế nào? Từ đó chúng ta đánh gục đo ván, để cho nó tan nát, bằng không, mình sẽ cay đắng, chết nhục, chết nhã với và bị bản ngã này chôn xác trong vô lượng vô biên kiếp.

Bản ngã ác độc này thật cứng đầu, cứng cổ, khó dạy. Minh Thành thích dùng các từ mạnh để trị nó. Thứ nhất là từ “cứng đầu”, thứ hai là “mất dạy”, thứ ba là “khốn nạn” – những từ này mới trị được bản ngã: “Mày là đồ mất dạy, mày vênh váo, hất hất cái mặt lên ngông nghênh hả?”. Bản ngã này rất khó dạy, chúng ta đã bỏ quên nó trong vô lượng vô biên kiếp không không dạy, cho nên mỗi lần sanh khởi lên nó rất mất dạy, chúng ta phải dùng những từ mạnh như vậy để đánh đuổi nó. Nếu tác ý để nhiếp phục bản ngã mà dùng những từ yếu là nó trơ trơ. Đối với sân giận cũng vậy, dùng từ yếu yêu là không nhiếp phục được, vì những bản ngã, sân hận này đã trở thành yêu tinh, quỷ quái, cổ thụ ngàn năm bám chặt, bấu sâu và hợp nhất với sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Chấp ngã giống như keo với sơn với thân tâm ngũ uẩn này, chúng hòa chung với nhau, tách ra không được. Cho nên nếu cứ nhẹ nhẹ, tu lơ tơ mơ thì không bao giờ thấy được bản ngã, đừng nói đến việc nhiếp phục được nó.

Khi có sự nhìn nhận năm uẩn, thường trực nhìn lại những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ, nhận thức thì chúng ta mới thấy được dục tham sanh khởi, an trú và vận hành; thấy được cảm giác của cái bản ngã sanh khởi và chấm dứt; thấy được tâm hướng ngoại, nó thúc giục mình đừng tu tập ở bên trong, mà phải ra ngoài làm việc này, việc kia thay vì ngồi thiền. Những rác bẩn, cấu nhiễm trong nội tâm mình khủng khiếp đến vậy. Ta phải nhìn năm uẩn một cách rõ ràng, rành rẽ để việc nào ra việc nấy, bằng không, sự tu của bản thân là tu mù, tất cả chỉ là một mớ bòng bong. Vì không biết trong tâm là gì; không biết hình bóng trong tâm lúc đó nó ra làm sao; không biết đang có suy nghĩ gì. Cho nên, khi có cảm giác bản ngã sanh khởi lên thì phải nhận diện cảm giác đó, xem hành tướng, sự vận hành, trạng thái của bản ngã hoạt động như thế nào; hành suy nghĩ ddiều gì phải nhận thức được và thức lúc đó biết rõ được những điều đó. Cho nên, chỉ có Thánh trí năm uẩn mới giúp cho mình nội soi một cách chân xác về dục lậu, hữu lậu và vô minh lậu.

Vô minh lậu là chấp ngã. Dục lậu là tâm thúc giục ham muốn nhiều thứ, không phải chỉ có ham muốn nam nữ, mà còn là sự thúc giục về năm dục trưởng dưỡng: sự thúc giục đối với sắc, những thứ đẹp của vật chất; thúc giục đối với âm thanh; thúc giục đối với hương; thúc giục đối với vị, thúc giục đối với sự tiếp xúc. Sau đó sanh ra ái: sắc ái, thanh ái, hương ái, vị ái, xúc ái, pháp ái. Cần phải có ngồi thiền, nhận diện năm uẩn tương đối, mới biết được pháp trận là gì. Trước đây chúng ta tu theo cách hướng ngoại ở ngoài hình thức chứ không thấy được dục, không thấy được ái, không thấy được tham, không thấy được sân, không thấy được bản ngã vận hành như thế nào. Trong khi những thứ đó là nguyên nhân sanh ra thống khổ nhưng mình không thấy. Chúng là người đứng sau bức màn để giật dây cho thân xác con rối ở ngoài đi lại, nói cười; bên trong là những cảm giác, nghĩ, tưởng và sự rõ biết của tham sân si, vô minh và bản ngã.

Minh Thành dùng cái từ là “kẻ giết người giấu mặt” để chỉ bản ngã. Chỉ có người thành tựu chánh tri kiến mới thấy được tận tường những bản ngã, dục tham đang ẩn nấp trong tâm. Nếu thấy không chính xác, chân xác thì theo sự hướng dẫn của đức phật trong Kinh tạng Nikāya thì đến chết chúng ta vẫn chưa thấy được bộ mặt thật sự của dục, tham, ái, vô minh và bản ngã là như thế nào. Hoặc thấy được khi chúng đã vận hành xong, chứ không thấy được khi chúng mới nhen nhóm bắt đầu. Nghĩa là khi bản ngã manh nha trong tâm mình không thấy và tại sao sanh khởi mình cũng không biết.

Chính vì vậy, phải học năm trí về sắc, thọ, tưởng, hành, thức; phải biết tại sao bản ngã sanh khởi? Tại sao dục sanh khởi? Tại sao sân sanh khởi? Chỉ khi học trí về năm uẩn và tập nhận diện thường trực thì mình mới thấy. Khi thấy được thì sự tu hành sẽ trở nên thú vị, tuyệt vời. Tức là mỗi giờ, mỗi ngày, chúng ta đều ra chiến trường để chiến đấu với những tên giặc từ thân tâm, mình không còn tu chơi chơi, chờ ngày qua đời, cũng không chạy theo những âm thanh, sắc tướng nữa.

Minh Thành mong mọi người để tâm vào sự thực hành được ba pháp và nhận diện được năm uẩn, đây là pháp hành nền tảng. Muốn thực tập có kết quả, chúng ta phải củng cố những kiến thức trong bước đầu tu tập để có được chánh kiến đối với thân tâm. Đừng để khi bản ngã sanh khởi lớn lên thì mới thấy biết được thì đó là cái biết của phàm phu, thấy biết người không nghe Thánh pháp, không tu tập Thánh pháp, không được gặp những bậc chân nhân, thánh nhân.

Còn chúng ta là những người phải đi trên con đường thể nhập thánh tri kiến, thượng nhân pháp, nếu không nhìn nhận chính xác, không có sự nghiêm túc, cẩn mật, miên mật trong sự kiểm soát thâm tâm thì sự tu này chỉ gieo một chút duyên lành, chưa chắc có thể tránh khỏi ba đường ác.

Một số phương pháp nhiếp phục bản ngã

Ngoài những phương pháp như: xin lỗi, quỳ lạy, quán nùi giẻ, quán đội quần, quán tính trống rỗng để thực tập quán vô ngã như con đã chia sẻ, con tiếp tục giới thiệu thêm một số hình ảnh quán chiếu để trị bản ngã. Đây là những kinh nghiệm của bản thân con.

Xưng “con”

Việc xưng “con” hay lắm, nếu xưng “thầy” với các cô, các thầy thì thọ, tưởng, hành bên trong sẽ khác; nếu xưng mình là “sư phụ” thì lúc đó thọ, tưởng, hành sẽ khác. Chữ “con” này làm cho cảm giác và nghĩ, tưởng có sự nhìn lại và có một hàng rào. Khi đã xưng “con” không lẽ mình lại phùng mang trợn mắt, ra uy, ra oai? Do vậy, từ “con” này là hàng rào chắn, giống như chốt gài cửa lại, mình không thể vượt qua được.

Khi thực tập, Minh Thành thấy việc xưng “con” hay lắm. Nếu các thầy các cô thực tập thử thấy được thì nên giữ điều này. Đừng có xưng “cô”, đừng có xưng “thầy”, đừng xưng “tôi” mà tập xưng “con” trong tất cả các trường hợp. Ở hoàn cảnh của Minh Thành, có những trường hợp phải linh động một chút tại. Nhưng các vị tăng sinh, ni sinh trong địa vị người học trò thì xưng “con” rất hợp lý. Dầu cho nói chuyện với các Phật tử cũng xưng “con” luôn. Đó là một phương pháp để nhiếp phục bản ngã, cho nó không vượt qua ranh giới. Không lẽ xưng “con” mà lúc đó ưỡn ngực, hất mặt lên thì rất không phù hợp, thế nên, khi xưng “con” thì tự nhiên mình cúi đầu xuống, gục đầu xuống. Mỗi lần xưng “con” thì trong chữ “con” đó là hình ảnh mình cúi đầu, hạ mình, khiêm cung, khiêm hạ. Trong những phương pháp thực tập về nhiếp phục chấp ngã, việc xưng “con” có hiệu quả rất hay. Khi đó cảm thọ hiện ra hình bóng cúi đầu, gục đầu, khiêm cung, nhún nhường, hạ thấp, thậm chí là có hình ảnh quỳ xuống. Dù chỉ là một chữ “con” thôi nhưng đây là một pháp quán, một đức hạnh, đạo hạnh, giới hạnh, đạo lực của người tu trong sự thực tập nhiếp phục chấp ngã này.

Nhiều lúc Minh Thành giận mấy chú nhưng nói chuyện cũng xưng là “con” thì tự nhiên cơn sân lắng xuống bớt. Tự tác ý: “ Mình xưng “con” sao mà dữ vậy? “Con” sao dữ được? “Con” sao la được?”.

Quán bản ngã là thuốc độc

Hình ảnh thứ hai là quán chất kịch độc nhất trên thế giới này là bản ngã. Minh Thành ví dụ bản ngã là “chất độc hơn muôn ngàn chất kịch độc, nó giết hết trần hoàn trong vô lượng kiếp, độc hại của bản ngã tràn lan đầy thế gian”. Không có chất nào độc bằng chất độc của bản ngã, của chấp ngã, của cái tôi. Bản ngã là thứ độc hại, là rắn độc, chúng ta không được chất chứa nọc độc trong cơ thể. Khi bản ngã sanh khởi, ta quán chiếu đó là chất độc đang xâm nhập vào cơ thể, chất độc này hết sức đáng sợ, nó sẽ giết chết mình.

Vì vậy, ta phải bài trừ, loại bỏ, đánh tan hoàn toàn chất độc này ra khỏi thân tâm. Khi bản sanh khởi, hãy quán chiếu đó là chất độc đang ngấm, đang phát tác. Hoặc thấy một người nào ứng xử với thái độ, hành động của bản ngã, ta biết họ đang trúng độc, cần đề phòng vì chất độc này có thể lây nhiễm qua bản thân mình như dịch covid, cho nên, phải giữ khoảng cách xa để tránh truyền nhiễm.

Một người xuất hiện trươc mặt chúng ta với những lời nói, hành động, cử chỉ của bản ngã, ta đây thì mình đừng động tới, phải cẩn thận, vì bản ngã đó chẳng khác gì virus corona. Hơn nữa, đây là virus siêu nguy hiểm giết hại ta. Tuy ngồi trò chuyện cười nói vui vẻ với nhau nhưng bên trong tâm thật khủng khiếp. Ngày nào Minh Thành cũng tác ý dù mệt mỏi đến đâu cũng ráng lên pháp tòa để chia sẻ với quý thầy cô, vì sợ rằng vài hôm nữa có thể không còn những buổi Nikāya giảng dạy như thế này do mắc covid . Đó là phương pháp thứ hai Minh Thành quán bản ngã.

Quán bản ngã như chó dữ

Hình ảnh thứ ba là quán bản ngã giống con chó dữ, sủa vang. Khi bản ngã sanh khởi, vừa đến gần là nó không những sủa, mà còn gầm gừ, rất hung dữ, cuối cùng là “vồ hết người hiền trên cuộc đời”. Đó là hình ảnh về sự vận hành của bản ngã. Giống như nhiều ngôi nhà có treo bảng “coi chừng chó dữ”, cũng vậy, khi chúng ta gặp người hung hăng, dễ sợ, bản ngã lớn thì phải đọc được hàng chữ cảnh báo đó. Khi ngồi kế bên những người có bản ngã lớn, dễ sân hận, chịu sự chi phối của bản ngã, ngũ uẩn thì mình thấy thương người đó rất nhiều, vì họ đang đau khổ, đang tự hủy hoại thân tâm chính mình.

Như câu “sét sanh từ thanh sắt, hủy hoại lại thanh sắt”, nghĩa là chất rỉ sét được ssnh ra từ thanh sắt và chất đó hủy hoại lại thanh sắt. Cũng vậy, thân tâm ta đầy cao ngạo, hung hăng, dữ dằn, vênh váo; từ đó sanh khởi ra những cảm giác, nghĩ, tưởng làm cho mình thống khổ, hành hạ, dày xéo tâm can chính mình. Bây giờ lên mặt, ta đây, cao ngạo, bản ngã rồi để được cái gì? Hơn thua người kia để được cái gì? Thế nhưng lúc nào cũng thích hơn, thích đúng, thích phải, thích giành phần thắng. Đó chính là tai nạn, nguy nan, khổ nạn, ách nạn đối với bản ngã này. Như vậy mà bản thân không thấy lo sợ, khủng khiếp.

Một khi bản ngã sanh khởi lên là giống“như chó dữ”, cảm giác hừng hừng, phừng phực, sân hận, phình to. Con chó dữ bắt đầu sủa và muốn ăn tươi nuốt sống người ta. “Đồ chó” ta phải dùng từ mạnh như vậy để bản ngã lắng dịu xuống. Ta không được tác ý nhẹ nhẹ mà phải thật mạnh mẽ. Đó gọi là Như lý tác ý – sự tác động tâm ý; tức là tuệ lực – sức mạnh của trí tuệ; là Chánh tư duy – sự tư duy theo đúng Chánh pháp; đó là tinh tấn lực, dũng mãnh lục, mãnh hổ lực, hung hãn lực, đại hùng lực trong Như lý tác ý. Hành giả nào siêng năng tác ý thì người đó sẽ sớm thành công. Ngược lại, tu tập mà cứ ngồi yên thì đến chết cũng vậy. Ngồi yên mà không tác ý thì lúc trở ra tham, sân, si, bản ngã còn đó, có khi còn lớn hơn vì ngồi được lâu hơn người ta. Nghĩ rằng “người ta ngồi được nửa tiếng, tôi ngồi một tiếng rưỡi”, nghĩ như vậy là giỏi hơn người khác, bản ngã sanh khởi mà không hề hay biết. Nếu không có chánh kiến thì sự tu học chỉ dựa trên hình thức, thời gian, số lượng, hướng ngoại.

Như vậy, chúng ta phải quán chiếu bản ngã này là “chó dữ”, hở ra chút là sủa vang, cắn người. Quán bản thân như vậy, mà quán người khác cũng thế. Mỗi giờ mỗi phút phải luôn chánh niệm, tỉnh giác. Thông thường con chó bên này sủa, con chó kia nghe thấy dù không biết gì thì vẫn sủa theo. Hành tướng vận hành, hoạt động của bản ngã cũng giống y như vậy, thấy bên kia sủa thì bên này cũng nhào ra sủa, không cần biết đúng sai, không cần biết suy xét, bản ngã bên kia sanh khởi thì bản ngã bên đây cũng xuất hiện theo. Vì vô minh, không biết đúng sai, không có định niệm, định huệ, chỉ biết nhào vô hơn thua, đúng sai, phải quấy.

Cho nên chúng ta phải thực tập một cách nghiêm túc và sâu sắc trong sự kiểm soát cảm giác, nghĩ, tưởng của nội tâm. Đó là người đại trí, bậc chân nhân, bậc thượng nhân. Như Đức Phật đã dạy, sau khi Ngài diệt độ, người nào thật tâm chánh niệm tỉnh giác, luôn nhìn lại thân thể, cảm giác nội tâm và những sự vận hành bên trong đó một cách siêng năng, để tâm học hỏi thì những Tỳ-kheo này là những Tỳ-kheo tối thượng trong hàng Tỳ-kheo của Ngài (trích Tương Ưng Bộ tập V, kinh Bệnh). Đó là lời di huấn của Đức Thế Tôn. Vì vậy, chúng ta phải kiểm soát hết sức kĩ lưỡng đối với bản ngã ác độc này.

Dùng những từ tác ý mạnh và hạnh lạy diệt ngã

Bản ngã này là thứ hết sức khó dạy, mỗi lần sanh khởi lên mình dạy dỗ nó không nghe theo; nếu nghe thì mình đã vào các tầng thánh vị, chứ không còn u mê, phàm phu. Bản ngã này rất khó dạy, khó bảo, khó nghe nhưng dùng từ “khó dạy”, “khó bảo”, “khó nghe” thì rất yếu, không đủ sức đối trí nó, cho nên phải dùng từ “mất dạy”. Khi bản ngã sanh khởi, vênh váo, lập tức tác ý:

“Mày là đồ mất dạy từ vô lượng vô biên kiếp. Bây giờ ta đã thấy mày rồi, ta sẽ vạch bộ mặt của mày. Ta nhìn thấy được ngũ uẩn rồi, từ đây về sau mày không được vênh váo, ta đây nữa. Từ đây mày phải chịu phép! Mày phải chịu sự huấn luyện, giáo dục, đào tạo! Từ nay về sau ta sẽ niềng vòng kim cô lên đầu của mày! Ta xích mày lại. Ta không cho mày tác oai tác quái quậy phá nữa. Lạng quạng là chết với ta. Bây giờ ta đã có Như Lai thần chưởng; Thánh trí ngũ uẩn, thượng phương bảo kiếm Như lý tác ý cũng nằm trong tay. Mày đừng có quậy nữa, mày đừng có bày trò mất dạy, cứng đầu nữa. Mày phải chịu phép, mày phải hiền ngoan, ta bắt mày phải cúi đầu xuống, cúi xuống lạy hết tất cả!”.

Nay con xin nguyện giữa đất trời,

Lạy người cho con bỏ cái tôi,

Từ đây học hạnh luôn diệt ngã,

Gặp hết mọi người phải cúi đầu.

Lạy người cho con bỏ cái tôi,

Lạy ông đi qua bà đi lại,

Lạy cha, lạy mẹ, lạy chú dì,

Lạy anh, lạy em, lạy bé nhỏ,

Lạy cả người làm, lạy cháu con,

Lạy kẻ hành khất ở ven đường,

Lạy cậu bé bán vé số dễ thương,

Lạy người lau chùi và quét dọn,

Lạy chú nhặt rác trước cổng trường,

Lạy bà cụ già không chỗ nương,

Lạy cậu bán hàng rất tầm thường,

Lạy người bệnh cùi lê lết đất,

Lạy cô điên khùng đi giữa đường.

Lạy người cho con bỏ cái tôi,

Dập đầu dưới chân hết thảy người,

Cho con hạ thấp tâm cao ngạo,

Cho con từ bỏ tính kiêu căng,

Cho con sạch hết lòng tự đại,

Cho con sạch hết tính tự cao,

Cho con sạch hết tâm ngã mạn,

Cho con không còn tật vênh váo,

Cho con không còn kiểu ta đây,

Cho con không còn thói hơn thua,

Cho con triệt hạ tính ương ngạnh,

Cho con trị sạch tính tranh giành,

Cho con nhiếp phục tật cứng đầu,

Cho con dứt hẳn thói đua tranh.

Hạ mình thấp xuống đến tận cùng,

Thường hành nhường nhịn với khiêm cung,

Luôn luôn nhớ rõ mình chẳng có,

Quán chiếu thâm sâu diệt ngã khùng.

Từ thứ hai dùng để chỉ bản ngã là “cứng đầu”. Bắt nó phải cúi đầu, dập đầu cho tới một lúc chặt được đầu bản ngã đó để vào Thánh nhân, Thánh tăng, Thánh quả. Phải tác ý thật là mạnh: “Bản ngã cứng đầu, cứng cổ, khó dạy này. Hôm nay ta phải bắt mày cúi đầu, dập đầu trước tất cả mọi người. Đừng hòng đè đầu cưỡi cổ ta nữa, xưa ta không thấy mi, hôm nay ta đã thấy mi rồi”.

Thứ ba, tác ý bản ngã là “khốn nạn, khốn đốn và hoạn nạn”. Chính bản ngã làm cho mình khốn khổ, khốn đốn, tai nạn, tai ương hoài trong cuộc đời này. Đi đâu cũng có tai nạn, tai ương; đi đâu cũng gặp chiến trường, tranh đấu, đi đâu cũng khó chịu, bực bội, sân si, ganh tị và đố kị. Vào bếp là có chuyện bếp, lên chùa có chuyện ở chùa, vào thiền đường có khi cũng có chuyện ở thiền đường, có ai lượm bồ đoàn của mình thì ít nhiều cũng sanh khởi phiền não, vì chấp vào món đồ đó lf của tôi. Tất cả mọi thứ khiến cho bản ngã sanh khởi đều đưa mình tới chỗ khốn đốn, hoạn nạn. Cho nên, phải tác ý thường trực, đánh dồn dập liên tục, đánh ập, đánh vỡ, đánh tung hoài như vậy thì chắc chắn bản ngã sẽ được nhiếp phục và đoạn tận. Đó là sức tinh tấn lực, sức nỗ lực hành trì của bậc Đa văn Thánh đệ tử có chân đứng trong Pháp và Luật của Như Lai.

Như vậy, đây là những lời chia sẻ tiếp theo của Minh Thành về chủ đề “Giải phá chấp ngã”. Đầu tiên, phải nhìn thấy được tính chất nguy hiểm và tác hại của bản ngã. Sau khi có được bảy trí về chấp ngã thì quán chiếu tính nguy hại của bản ngã ở nhiều khía cạnh, góc độ. Cuối cùng phải tác ý mà mãnh liệt và có những phương pháp nhiếp phục bản ngã: thứ nhất là xưng “con”; thứ hai, quán bản ngã là “chất độc”; thứ ba, quán bản ngã là “chó dữ”; thứ tư, dùng ba chữ tác ý mạnh là “cứng đầu, mất dạy, khốn nạn” để chửi mạnh, làm cho bản ngã khiếp sợ, như vậy chắc chắn nó phải lung lay, lắng xuống, có khi chạy mất dép. Từ đó bản ngã sẽ trở thành hiền, dễ nói, dễ nghe, dễ dạy, dễ bảo và sau đó bản ngã sẽ nghe lời, cúi đầu, chúng ta kêu bản ngã lạy bất cứ ai nó cũng lạy. Nếu không tu thế này thì dễ gì Minh Thành quỳ xuống lạy quý thầy, cô.

Minh Thành mong rằng tất cả các vị tinh tấn, nỗ lực tu học, luốn để tâm nhận diện và nhiếp phục những cảm thọ bất thiện để có những ngày tu hết sức ý nghĩa và trọn vẹn. Khi xuống núi sẽ đem những báu vật Thánh pháp này trở về.

./.

.