Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Nhớ Mãi Không Quên 2

2026-03-03 00:52:20
Tinh Hoa Nikāya

Nhớ Mãi Không Quên 2!

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Thiền quán biết ơn PAGEREF _Toc162800974 \h 1

II. Sống với tâm biết ơn PAGEREF _Toc162800975 \h 4

I. Thiền quán biết ơn

Cảm nhận hơi ấm từ ngọn lửa tỏa ra.

Cảm nhận sự ấm áp từ làn khói tỏa ra.

Cảm nhận mùi của cây, của gỗ, của củi.

Cảm nhận tiếng chim hót, cảm nhận không khí trong lành, mát mẻ của núi rừng.

Cảm nhận những luồn gió thổi ngang qua cơ thể.

Cảm nhận không gian rộng lớn trước mặt, là núi đồi, là cây cối, là một màu xanh trải dài bao la, vô tận.

Cảm nhận bầu trời rộng thênh thang, vô biên.

Cảm nhận hơi thở đang có mặt, hơi thở đang hiện hữu, hơi thở đang vận hành, hơi thở đang vào ra.

Cám ơn hơi thở này vì nó còn vận hành, cám ơn những ngọn lửa này đang sưởi ấm cho ta, cám ơn làn gió mát thổi qua, cảm ơn bầu không gian trong lành của núi đồi, cảm ơn màu xanh bạt ngàn của cao nguyên, màu xanh tươi thắm của cây lá, cảm ơn tiếng chim líu lo trên cành đón chào binh minh để chúng ta có được cảm thọ dễ chịu, bình an như vầy. Cảm ơn hơi thở này, không gian này, bầu trời này, cảm ơn những khóm trúc vàng lá xanh đang che nắng, che sương, chắn gió cho chúng ta.

Cảm ơn đôi mắt này, cảm ơn lỗ tai này, cảm ơn cảm thọ này, cảm ơn sự nhận thức rõ biết này để chúng ta có thể thấy nghe, cảm nhận và thức tri. Cảm ơn những huynh đệ bên cạnh chúng ta đang nhìn ngó, chăm sóc, nhắc nhở, cùng làm việc với chúng ta, cùng chia sẻ những khó khăn, những trăn trở, những khi buồn vui, cảm ơn huynh đệ, tỉ muội, thầy bạn. Cảm ơn Tăng đoàn, cảm ơn Tăng thân, cảm ơn tập thể hiền thiện đại chúng từ ái, tinh ba, cảm ơn sự có mặt trong giờ phút này.

Trong ta dâng trào lên một cảm xúc dạt dào của sự cảm ơn, tri ơn, biết ơn, của sự ấm áp, sự từ ái, tự tương kính, sự quý trọng lẫn nhau. Cảm ơn cha mẹ mình đã sanh ra mình với một hình hài lành lặn, cảm ơn cha mẹ mình đã cưu mang chín tháng mười ngày, nuôi dưỡng, dạy dỗ, hướng dẫn, chỉ dẫn như câu ca dao"Hò ơ ví dầu cầu ván đóng đinh. Cầu tre lắt lẻo gập ghềnh khó đi. Khó đi mẹ dắt con đi. Con đi trường học, mẹ đi trường đời". Cảm ơn tình thương của mẹ cha đã cưu mang khó nhọc, trải qua thập tử nhất sinh trong sự quằn quại đau đớn, thống khổ để sinh ra mình. Phải thắp lên trong lòng mình ngọn lửa cảm ơn thật là sâu sắc, có khi biết ơn đã muộn vì đấng sinh thành đã mất rồi, hằng ngày phải thắp lên ngọn lửa nhớ ơn, biết ơn, báo ơn và đền ơn. Cảm ơn những lời dạy nghiêm khắc của cha, những lời quở trách, la rầy của cha thì mới có mình ngày giờ này vì nếu mình không trân trọng những lời la rầy này thì sau này muốn nghe cũng không được.

Hạnh phúc thay khi những người con được quở trách, được la rầy, được trách mắng vì còn cha mẹ, mai đây không còn ai la rầy nữa là mình trở thành mồ côi vì thế nếu được nghe những lời chỉ dạy, trách mắng thì phải cảm thấy hạnh phúc, cảm thấy vui sướng, cảm thấy mình còn cha còn mẹ để được chỉ dạy, nhắc nhở, rầy la, đó là niềm hạnh phúc của một người con. Cảm ơn ông bà của mình đã sanh ra cha mẹ mình thì mới có mình, cảm ơn tổ tiên cửu huyền thất tổ, đó là lý do tại sao hằng ngày mình phải thắp lên nén nhang cho cửu huyền thất tổ, hằng ngày cần thắp lên ngọn lửa biết ơn, nhớ ơn thật nhiều.

Cảm ơn tam bảo, cảm ơn Đức Thế Tôn, mỗi khi lên thiền đường, chánh điện tụng kinh, niệm Phật không phải chỉ lạy cho có mà phải lạy với cả trái tim, cả tấm lòng, vì có Đức Thế Tôn mới có hình tướng đầu tròn áo vuông viên đảnh phương bào, vì có Đức Thế Tôn mới có giáo pháp, mới có chúng Tăng, vì có Đức Thế Tôn mới có sự hiện hữu trong hình thức của một người tu dù là Tỳ-kheo xuất gia hay cư sĩ tại gia.

Cảm ơn chúng Tăng, cảm ơn thầy thế độ cạo tóc cho mình, cảm ơn thầy cầu pháp dạy dỗ, dắt mình đi, hướng dẫn cho mình từng tí một. Cảm ơn huynh đệ, Tăng đoàn, Tăng thân, cảm ơn tất cả. Mỗi cái lạy xuống đều phải cảm ơn tam bảo, cảm ơn mẹ cha, cảm ơn Đàn-na, cảm ơn những người khó nhọc vất vả nấu nướng, cảm ơn những người đã xây nhà cho mình ở, phải nuôi dưỡng và tưới tẩm, nhìn mọi nơi đều dạt dào trong cảm xúc biết ơn, nhớ ơn. Khi được thầy la rầy, chỉ dạy thì phải cảm ơn và cảm ơn, đây là hạnh phúc của mình, đây là điều quý báu, phước đức của mình, mai đây không còn thầy nữa thì có muốn nghe lời chỉ dạy, la mắng cũng không còn nữa, mình trở thành đệ tử mồ côi. Khi được sư huynh, sư tỉ chỉ dẫn thì cần cảm ơn, biết ơn, may mắn thay khi có sư huynh, sư tỉ chăm sóc tâm thức, chăm sóc tâm linh, nết hạnh, ngôn ngữ của mình nên cần trân quý và nhớ ơn. Cảm ơn khi được la rầy, cảm ơn khi được nhắc nhở, biết ơn khi được hướng dẫn, phải sống trong thế giới biết ơn như vậy.

"Cày đồng đang buổi ban trưa,

Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày.

Ai ơi, bưng bát cơm đầy,

Dẻo thơm một hạt, đắng cay muôn phần!"

(Ca dao tục ngữ Việt Nam)

Phải cảm ơn hạt gạo này, chén cơm này, người nấu nướng, người cúng dường cho mình ăn, những người nông dân, nông phu. Cảm ơn chung trà cầm trên tay phải trải qua biết bao cực khổ, giá lạnh, máu đổ vì gai trà đâm vào tay, Minh Thành chứng kiến người dân ở đây dầm sáu tháng mưa hái lá trà mà lạnh môi tím đen mà mấy ai uống trà biết được điều này, mấy ai biết được để có chung trà trên tay phải đánh đổi bằng máu, mồ hôi, nước mắt, đi ra đến chỗ thu mua còn bị trừ tiền đủ thứ, chỉ được mấy ngàn đồng một kí mà phải dầm mưa dãi gió, lạnh tê tay buốt chân, chai sạn. Ghế tre mình đang ngồi cũng đánh đổi bằng mồ hôi, nước mắt và máu mới có. Chiếc áo mình đang mặc, ngôi nhà mình đang ở, mái tóc trên đầu, bàn tay mình đang sở hữu, đôi chân, tấm thân này cũng là máu, nước mắt, mồ hôi, cả sinh mạng của mẹ cha, ông bà, thầy cô, thầy tổ, của biết bao hữu tình chúng sanh.

II. Sống với tâm biết ơn

Tại sao mình lại sống vô ơn được? Tại sao mình lại sống bạc nghĩa được? Tại sao mình lại sống trong sự lãng quên, trong sự phũ phàng như thế được? Làm sao mình có thể sống mặc kệ cha mẹ khó khăn, bỏ mặc ông bà cô bác, trở thành người vô tình vô nghĩa, thầy của mình, những người thân thương đem cả tấm lòng đối đãi với mình thì làm sao mình có thể trở mặt, phản phúc, vô ơn được? Đó là chất liệu của chân nhân, trong kinh chỉ nói bốn chữ "nhớ ơn, biết ơn" nhưng đó là khẩu quyết, là mật mã, là định lý mà mình phải từ bốn chữ đó chiêm nghiệm thêm. Có biết bao sự quan tâm, biết bao sự nhớ thương, mình ngồi đây nhưng cha mẹ đang mong đợi mình từng ngày, cô bác, chú dì đang nhớ thương mình, dõi theo mình, chờ mình thành tựu, thành công, chờ sự viên thành đạo nghiệp của mình.

Làm sao mình có thể sống trong sự bỏ mặc tất cả người thân được? Làm sao mình có thể an thân, an phận thủ thường, sống ẩn dương nương Phật qua ngày được? Mình phải nhớ chứ đừng quên, nhớ thật nhiều, nhớ thật sâu, nhớ thật đậm, nhớ thật kĩ, nhớ mãi không quên, nhớ ân nhớ nghĩa, biết ơn biết nghĩa, nhớ hiếu nhớ thảo, nhớ kính nhớ trọng. Sống với nhau trong sự hòa hợp, nhìn nhau bằng cái nhìn thiện cảm, cái nhìn từ ái, xót thương lẫn nhau khi thấy được bản chất của thân xác này, của ngũ uẩn này, của đời sống này, sống hòa ái, kính trọng lẫn nhau, thương quý nhau, nhìn nhau bằng ánh nhìn của xót thương, thông cảm những tập khí, thói quen, nghiệp của nhau.

Nhìn vào nghiệp của mình, nhìn vào tâm của mình, nhìn vào những cảm thọ, suy tư, thói quen của mình và mình hiểu mình nên thương chính mình, rồi mình cũng hiểu người, thương người, thông cảm cho tập khí của người, thói quen của người, nghiệp của người, đem mắt thương nhìn mọi người, đem mắt thương nhìn cuộc đời, đem mắt thương nhìn thế giới, đem mắt thương nhìn khổ đau, đem con mắt thương này để nhìn với ánh nhìn thiện cảm, từ ái, thấu hiểu, xót xa, cảm thông, tha thứ, bao dung và độ lượng, thân hòa đồng trụ, ở chung một đạo tràng, ở chung một tập thể, ở chung một Ni xá, một Tăng xá, một gian phòng thì cần khéo léo thực tập sự hòa ái, kính trọng, bao dung, độ lượng dù cho trước mặt hay sau lưng, sáu pháp này cần nhớ mãi không quên, đây là chất liệu xây dựng cuộc sống bình an, hòa hợp, yêu thương, tha thứ, an lạc và hạnh phúc trong đời cư sĩ tại gia hay người tu sĩ xuất gia. Trong kinh Đức Phật dạy sáu pháp hòa kính

"Sáu hòa kính pháp: Này các Hiền giả, ở đây khi vị Tỷ kheo thành tựu từ thân nghiệp, trước mặt hay sau lưng đối với các vị đồng phạm hạnh, như vậy là một pháp hòa kính, tạo ra từ ái, tạo ra cung kính, đưa đến đoàn kết, không tranh luận, hòa hợp, đồng tâm, ý hợp". (Trường Bộ Kinh, 33. Kinh Phúng tụng)

Hành động bằng tình thương, hành động bằng sự hòa kính, hành động bằng tâm từ ái, tạo ra sự cung kính lẫn nhau, đưa đến đoàn kết, không có tranh luận, đây là chuẩn mực, là chất liệu, là nghệ thuật sống mà Đức Thế Tôn truyền trao cho hàng đệ tử từ tại gia cho đến xuất gia để xây dựng một gia đình, một tập thể, một đạo tràng, một Tăng thân, một Tăng đoàn hòa hợp. Phải thực tập sống với một thân thể chất đầy những hành vi của từ ái, của xót thương, của cảm thông, của kính trọng, không tranh luận, hòa hợp, đồng tâm và nhất trí.

Đồng tâm là đồng một tâm nhiếp phục tham, sân, si, đồng một tâm phá trừ bản ngã, đoạn diệt bản ngã, đồng một tâm tăng thượng giới hạnh, thiền định, trí tuệ, đó là ý nghĩa của đồng tâm chứ không phải đồng tâm theo một ý của mình hoặc là đồng tâm chia phe, chia nhóm, đó là đồng tâm ngu si, mê muội, hơn thua, thị phi. Chúng ta phải đồng tâm đạo, đồng tâm hướng thượng, đồng tâm từ, tâm bi, tâm hỷ, tâm xả, đồng tâm hướng đến sự trong sạch, đồng tâm dọn dẹp rác bẩn, thanh tẩy cấu uế, đó gọi là bỏ tâm của mình để hòa hợp với các tôn giả, với tâm của các chư hiền, với tâm của các bậc hiền trí, chúng ta bỏ tâm hơn thua, bản ngã, tham, sân, si, bỏ tâm theo thói quen, tập khí, nghiệp để đồng với tâm đạo, tâm trí, tâm hiền, tâm an, tâm biết ơn, nhớ ơn, cảm ơn, suy nghĩ để báo ơn.

"Này các Hiền giả, lại nữa khi vị Tỳ-kheo thành tựu từ khẩu nghiệp, trước mặt hay sau lưng đối với các vị đồng phạm hạnh, như vậy là một pháp hòa kính, tạo ra từ ái, tạo ra cung kính, đưa đến đoàn kết, không tranh luận, hòa hợp, đồng tâm, ý hợp". (Trường Bộ Kinh, 33. Kinh Phúng tụng)

Tu tập để thành tựu đôi môi từ bi, mắt thương nhìn cuộc đời rồi bây giờ đến lời nói phải từ ái. Trước mặt cũng nói lời từ ái, hiền hòa, xót thương và sau lưng cũng như vậy.

"Này các Hiền giả, lại nữa khi vị Tỷ kheo thành tựu từ ý nghiệp trước mặt hay sau lưng, đối với các vị đồng phạm hạnh, như vậy là một pháp hòa kính, tạo ra từ ái, tạo ra cung kính, đưa đến đoàn kết, không tranh luận, hòa hợp, đồng tâm, ý hợp". (Trường Bộ Kinh, 33. Kinh Phúng tụng)

Khi nghĩ về người là nghĩ bằng một tình thương, cảm ơn cha mẹ, cảm ơn thầy, cảm ơn các bạn đồng tu, cảm ơn huynh đệ, tỉ muội, cảm ơn với một tâm thương, tâm kính, tâm hiền, tâm từ ái. Như vậy là thành tựu một tâm ý lúc nào cũng nghĩ bằng tình yêu thương, thấu hiểu cho nhau, quý mến, tôn trọng lẫn nhau, sống như vậy thì đạo tràng rất hiền thiện, tinh ba, hài hòa, an ổn, hạnh phúc.

Nếu không tu tâm thì chúng ta sẽ không ngồi đây, bây giờ ở đồng bằng có biết bao đau khổ, đã có hơn một triệu ca nhiễm dịch bệnh, mấy chục ngàn người chết, ai cũng sống trong bất an, lo lắng, khổ não, hằng ngày có biết bao người vào khám bệnh tâm thần, chúng ta phải cảm nhận sự tốt lành của mình, phước báo của mình, sự may mắn của mình, sự hiếm có khó gặp trên cuộc đời này để mình hân hoan, hạnh phúc, phấn khởi, thấy được hương vị của pháp, hương vị của hòa kính, bao dung, độ lượng, từ ái. Những chất liệu của từ bi, xót thương, tôn trọng, cung kính thấm đượm trong từng lỗ chân lông, từng mạch máu, từng tế bào trong cơ thể để tạo ra sự đồng tâm, nhất trí trong sự tu học. Mình phải cảm nhận những điều này thật nhiều để thấy hạnh phúc trong khi tu học.

"Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo, đối với các đồ vật được cúng dường một cách hợp pháp cho đến đồ vật nhận trong bình bát, đều đem chia đồng đều giữa các vị Tỷ kheo có giới hạnh, như vậy là một pháp hòa kính, tạo ra từ ái, tạo ra cung kính, đưa đến đoàn kết, không tranh luận, hòa hợp, đồng tâm, ý hợp". (Trường Bộ Kinh, 33. Kinh Phúng tụng)

Dưới đây là sáu nguyên tắc sống hoà hợp, đoàn kết trong tình thân thương đầy thánh thiện của những người đệ tử của Đức Phật tại gia cũng như xuất gia.

Giới hoà đồng tu: Hoà đồng trên nguyên tắc kỷ luật

Thân hoà đồng trụ: Hoà đồng trên nguyên tắc hành động

Khẩu hoà vô tránh: Hoà đồng trên nguyên tắc ngôn luận

Lợi hoà đồng huân: Hoà đồng trên nguyên tắc quyền lợi

Ý hoà đồng duyệt: Hoà đồng trên nguyên tắc ý chí

Kiến hoà đồng giải: Hoà đồng trên nguyên tắc nhận thức

Có cái gì cũng đem chia đều cho đại chúng dù là ít hay nhiều, cúng dường cho mọi người, từ những quý thầy trong thất, trên núi, trong rừng, có nhiều hơn thì chia ra cho những người công nhân, người thợ, người làm công quả. Đó mới thật sự là thương chứ không phải chỉ thương trên miệng, thương trong ý nghĩ rồi có đồ ngon đem cất, đồ quý lại càng cất kĩ, Đức Phật dạy thương đầy đủ tất cả mọi khía cạnh, phương diện, ngài dạy cái gì cũng viên mãn, đồng đều, có chai dầu cũng đem ra cahi, có bánh cũng đem chia ra, thuốc men cũng đem chia ra, chia sẻ với nhau trong từng chiếc áo ấm, từng đôi vớ, từng bộ đồ, từng món ăn.

"Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo, khi những giới luật của vị này không bị phá hoại, không vi phạm, được kiên trì tuân hành, không có tỳ vết, làm con người được giải thoát, được người trí tán thán, không uế tạp, hướng đến thiền định, vị Tỷ kheo ấy giữ giới hạnh Sa môn như vậy, sống trước mặt hay sau lưng với các vị đồng phạm hạnh như vậy là một pháp hòa kính, tạo ra từ ái, tạo ra cung kính, đưa đến đoàn kết, không tranh luận, hòa hợp, đồng tâm, ý hợp". (Trường Bộ Kinh, 33. Kinh Phúng tụng)

Từng ý nghĩ, từng lời nói đều hòa hợp, từ ái, kính trọng, đoàn kết, chia sớt, san sẻ từng món đồ, tôn kính và chấp nhận học pháp vì đây là những pháp giúp cho mình tăng thượng, giúp cho mình kham nhẫn, giúp mình thành tựu tri kiến thấy biết sâu sắc về bản chất của thân tâm, của cuộc đời. Chúng ta vui khi được học, vui khi được tu, vui khi được làm, cống hiến và phụng sự cho đại chúng, cho tam bảo, cho hữu tình chúng sanh, chúng ta làm trong tâm hoan hỉ, trong ý nghĩ hoan hỉ, trong lời nói hoan hỉ, ngoài ra chúng ta cũng cần giữ gìn oai nghi, giới luật và nết hạnh trong sự tôn kính, biết ơn Thánh giới, còn người ta làm được bao nhiêu là sự tu của họ, không khen mình chê người, không được nói rằng tôi thanh tịnh người kia không thanh tịnh, tôi giữ được người kia không giữ được, tôi tu nhiều người kia không tu nhiều.

Đó không phải là tâm của bậc chân nhân, mình đi tu là vì thấy biết đau khổ, sanh tử của cuộc đời này để mong cầu chấm dứt những cái đó cho tự thân mình chứ không phải đi tu để nhìn đúng nhìn sai, nhìn cao nhìn thấp, nhìn có nhìn không của người khác, đó không phải là người trí, không phải là người khéo thấy khéo biết, đừng quan tâm chuyện người ta mà hãy lo cho bổn phận của mình. Không được thấy người kia làm biếng mà mình cũng bắt chước theo, thấy người ta không tu rồi mình cũng không tu, thấy người ta không giữ giới rồi mình cũng không giữ luôn, đó là tâm hướng ngoại, tâm bị tác động bởi ngoại cảnh, chỉ cần lo giữ thân tâm mình, lo tăng thượng giới đức, đạo hạnh, thiền định, trí tuệ của chính tự thân mình.

Dù mình tu được đến đâu đi nữa nhưng đối với mọi người vẫn phải khiêm hạ, từ ái, hòa hợp chứ không phải tu được rồi thể hiện cho người khác thấy, không phải tu với tâm đúng sai, cao thấp, hơn thua, nếu làm vậy thì giới trở thành một cái để hơn thua, mình không ăn chiều mà thấy mọi người ăn chiều thì "người đó tu không bằng tôi", "tôi giữ giới còn người kia không giữ giới", "tôi ngồi thiền được nhiều còn họ không ngồi thiền", đó là phi chân nhân.

Đừng nghĩ rằng giàu có rồi đi tu là xem thường những người nghèo khó, nghèo khó hay giàu có không liên quan gì đến sự giải thoát, cũng đừng mang suy nghĩ mình thân quen với thầy, là đệ tử ruột hay là ba mẹ của thầy, là anh em của thầy rồi không tu học theo mọi người, đó là không hòa hợp, không biết kính trọng Tăng, tự mình làm hao tổn phước đức chính mình, mình cũng chỉ là một người Phật tử như bao Phật tử khác.

Những điều này phải được giữ gìn khéo léo, kĩ càng, có những ngôi chùa đưa người thân vào rồi ngôi chùa biến chất không ai tu được cho nên chỗ này cần khéo léo, phải biết tôn trọng giới luật, tôn trọng giáo pháp, biết thương yêu, thông cảm cho nhau thì đại chúng được an ổn, được hòa hợp, được tu học bình an, thăng tiến, còn không biết thông cảm, không đồng lòng, không ý thức được đó là chùa, là đạo tràng rồi ra vẻ uy quyền, cao thấp, hơn thua thì làm mất đi cái chất của ngôi chùa, tự mình gây nghiệp rồi sa đọa, đó là sự khờ dại, vô minh, không thấy biết của mình. Mình càng là phật tử thân chừng nào thì mình càng giữ kĩ chừng đó, càng tôn trọng nhiều chừng đó, mình càng là người thân của thầy nhiều chừng nào thì càng phải thể hiện được sự tiếp nhận được pháp, làm đúng chuẩn mực thì đó là lợi ích cho mình.

"Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo sống đời sống được Chánh kiến hướng dẫn, chơn chánh, đoạn diệt khổ đau, vị ấy sống thành tựu với Chánh kiến như vậy, sống với các vị đồng phạm hạnh, trước mặt hay sau lưng, như vậy là một pháp hòa kính, tạo ra từ ái, tạo ra cung kính, đưa đến đoàn kết, trong tranh luận, hòa hợp, đồng tâm, ý hợp". (Trường Bộ Kinh, 33. Kinh Phúng tụng)

Sống một đời sống được chánh kiến hướng dẫn, được cái thấy đúng hướng dẫn để chân chánh đoạn diệt khổ đau như vậy còn gì bằng đời sống đó nữa. Mục đích của đời sống này là chấm dứt tất cả những đời sống khổ đau trong tương lai, được chánh kiến hướng dẫn, được cái thấy đúng dẫn dắt, thấy đúng về bản chất của ngũ uẩn, của tứ đại, của sắc căn, sáu trần, sáu thức, sáu xứ sẽ dẫn dắt đến sự chấm dứt đau khổ trong tương lai. Sống để nghe, để nghiền ngẫm, tu tập cái thấy đúng về bản chất của cuộc đời này gọi là Thánh tri kiến, chánh tri kiến, thấy chân chánh, thấy đúng đắn về sắc; thọ; tưởng; hành; thức này, thấy đúng đắn về hình thể, hình hài này, cảm giác, suy tư, nhận thức này, thấy chính xác, thấy rõ bản chất để có thể chân chánh diệt tận khổ đau.

Chúng ta cần chia sẻ lẫn nhau, thưa hỏi lẫn nhau, bày tỏ cho nhau về cái thấy đúng, về tri kiến, về trí tuệ mà Đức Phật truyền trao, chia sẻ cho nhau với tâm cởi mở, chưa hiểu thì hỏi, có gì thắc mắc thì nêu lên, có gì chướng ngại thì trình bày, có gì thối thất cần nói ra, sống như vậy tạo ra sự từ ái, tạo ra sự cung kính đưa đến đoàn kết, không tranh luận, hòa hợp, đồng tâm, nhất trí.

"Chư Tỳ-kheo, có năm loại ngôn ngữ mà các Ngươi có thể dùng khi nói với các người khác: đúng thời hay phi thời, chơn thực hay không chơn thực, nhu nhuyến hay thô bạo, có lợi ích hay không lợi ích, với từ tâm hay với sân tâm. Chư Tỳ-kheo, khi nói với các người khác, các Ngươi có thể nói đúng thời hay phi thời. Chư Tỳ-kheo, khi nói với các người khác, các Ngươi có thể nói lời chơn thực hay nói lời không chơn thực. Chư Tỳ-kheo, khi nói với các người khác, các Ngươi có thể nói lời nhu nhuyến hay nói lời thô bạo. Chư Tỳ-kheo, khi nói với các người khác, các Ngươi có thể nói lời lợi ích hay nói lời không lợi ích. Chư Tỳ-kheo, khi nói với các người khác, các Ngươi có thể nói với từ tâm hay với sân tâm".  (Trung Bộ Kinh, 21. Kinh Ví dụ cái cưa)

Nhu nhuyến nghĩa là mềm mại, cần phải nói đúng thời, chân thật, nhu nhuyến, nói lời lợi ích và từ tâm, Đức Phật dạy năm loại lời nói để ứng dụng trong Tăng đoàn, trong Tăng thân, trong tập thể. Khi muốn nói gì cần xem lại lúc đó có nên nói không, nói không đúng lúc thì dù nói đúng cũng thành sai. Cần xem lại lời nói đó có chân thật không, có mềm mại, có dễ nghe không hay là cộc cằn, thô bạo. Mình hướng dẫn người ta mà nói thô bạo, dữ dằn, nói như tạt nước lạnh vào mặt người ta thì dù cho lời nói đó đúng cũng trở thành sai, người ta sẽ sân hận, khó chịu cho nên trong lời nói mà tu tập được lời nói từ ái, chánh niệm thì cần công phu tu tập rất nhiều.

Đức Phật dạy thân ba nhưng miệng đến bốn, nếu khéo tu lời nói sẽ rất hay, nói bằng tâm từ rất dễ nghe, con chó, con mèo còn biết người nào thương, người nào ghét nó chứ đừng nói gì con người vì thế nói bằng tâm tình thương thì đến cây cỏ còn nở hoa. Tu tâm từ thì con thương cha mẹ nhiều hơn, cha mẹ thương con nhiều hơn, anh em thương nhau nhiều hơn, huynh đệ quý kính nhau nhiều hơn, còn sống với tâm sân thì tan rã vì lời nói chỉ toàn sân hận, làm chia lìa, thiêu hủy, hỏa hoạn, hủy diệt nhau chứ không hàn gắn nhau. Nếu muốn có một gia đình êm ấm, muốn có một tập thể làm việc hài hòa, đoàn kết, muốn có một đạo trảng thanh tịnh, hòa lạc thì lời nói rất quan trọng, hành vi, ý niệm, giới luật, nội quy, sự san sẻ, sớt chia và cái nhìn chánh kiến là nghệ thuật sống hạnh phúc tối thượng, bình an mà Đức Phật truyền trao cho chúng ta.

"Chư Tỳ-kheo, ở tại đây, các Ngươi cần phải học tập như sau: 'Chúng ta sẽ giữ tâm của chúng ta không biến nhiễm, chúng ta sẽ không thốt ra những lời ác ngữ, chúng ta sẽ sống với lòng lân mẫn, với tâm từ bi, với nội tâm không sân hận. Chúng ta sẽ sống bao phủ người này với tâm câu hữu với từ. Và với người này là đối tượng, ta sống biến mãn cùng khắp thế giới với tâm câu hữu với từ, quảng địa vô biên, không hận, không sân'". Chư Tỳ-kheo, như vậy các Ngươi cần phải học tập". (Trung Bộ Kinh, 21. Kinh Ví dụ cái cưa)

Đừng để bất thình lình nổi lên cơn thịnh nộ, tức giận, si mê hoặc là nổi lên bản ngã, tham muốn thì gọi là biến nhiễm, bị nhuộm màu. Chúng ta sẽ sống bao bọc người kia với tâm xót thương, với tâm từ bi, từ ái. Thương vì dại khờ chưa hiểu biết, bằng tâm thương mà hướng dẫn, chia sẻ, khéo léo dẫn dắt học trò, huynh đệ đi vào trong Thánh đạo tối thượng, cao quý. Phải nói với tâm từ thì người ta mới nghe theo, còn nói với tâm sân hận, tức giận sẽ không có ai nghe, người ta sẽ rời xa mình, từ bỏ mình, làm mất lợi cho mình mất lợi cho người, làm mất tình mình mất tình người, mất cơ hội thiện pháp cho mình và người chỉ vì tâm sân, chỉ vì lời nói ác ngữ. Đức Phật thương chúng ta cho đến tận khi ngài nằm dưới hai cây Tala. Chúng ta phải lấy những điều này làm chất liệu, làm bí kíp, làm khẩu quyết, làm định lý tu tập.

./.