Chuyện Ma Thời Đức Phật - Tương Ưng Ác Ma 2A
CHUYỆN MA THỜI ĐỨC PHẬT 2A
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Khuyến tu bất tịnh PAGEREF _Toc79422834 \h 1
II. Ác ma giới PAGEREF _Toc79422835 \h 4
III. Giải thoát khỏi ác ma PAGEREF _Toc79422836 \h 8
I. Khuyến tu bất tịnh
Tiếp đến là bài kinh Vijayà trong Tương Ưng Bộ Kinh tập một:
“1) Nhân duyên ở Sàvatthi.
Tỷ-kheo-ni Vijayà vào buổi sáng đắp y... và ngồi xuống dưới một gốc cây để nghỉ ban ngày.
2) Ác Ma muốn làm cho Tỳ-kheo-ni Vijayà sợ hãi ... muốn khiến nàng từ bỏ Thiền định, liền đi đến Tỳ- kheo-ni Vijayà; sau khi đến, nói lên bài kệ với Tỳ- kheo-ni Vijayà:
Nàng vừa trẻ, vừa đẹp,
Ta vừa trẻ, vừa xuân,
Với cung đàn năm điệu,
Nàng cùng ta vui hưởng.
3) Tỷ-kheo-ni Vijayà suy nghĩ: "Ai đã nói lên bài kệ này? Người hay không phải người?"
4) Tỷ-kheo-ni Vijayà suy nghĩ: "Đây là Ác ma... nói lên bài kệ đó"
5) Tỷ-kheo-ni Vijayà suy nghĩ: "Đây là Ác ma", liền nói lên bài kệ với Ác ma:
Sắc, tiếng, vị, hương, xúc,
Làm cho ý đam mê,
Ta nhường lại Ác ma,
Ta đâu có cần chúng.
Với thân bất tịnh này,
Dễ hư hoại mong manh,
Ta bực phiền, tủi hổ,
Dục ái được đoạn tận.
Họ sanh hưởng sắc giới,
Chúng vọng vô sắc giới,
Thiền chứng an tịnh ấy,
Mọi nơi, mê ám diệt.
6) Ác ma biết được: "Tỷ-kheo-ni Aijayà đã biết ta", buồn khổ, thất vọng, liền biến mất tại chỗ ấy.”
(Bài kinh Vijayà – Chương IV. Tương Ưng Tỷ Kheo Ni
– Tương Ưng Bộ Kinh)
Trong bài kinh không có đề cập vị Tỳ-kheo-ni này đã chứng Thánh quả hay chưa nhưng chúng ta ngầm hiểu đây là bậc Thánh mới biết được hoặc ít nhất cũng đạt được sơ quả đến Thánh quả cao hơn.
Chúng ta thấy được bài kệ này thể hiện sự chứng đắc của vị Tỳ-kheo-ni “Sắc, tiếng, vị, hương, xúc,” là sắc đẹp, âm thanh, mùi vị, xúc chạm làm cho tâm ý đam mê nên
“Ta nhường lại Ác ma,
Ta đâu có cần chúng.
Với thân bất tịnh này,
Dễ hư hoại mong manh,
Ta bực phiền, tủi hổ,
Dục ái được đoạn tận.”
Vị này có thể đã đạt được Thánh quả cao, nên khẳng định “Ta không cần chúng!”, nhường lại cho Ác ma, ý như “nếu thích thì ông tự đi kiếm!”. Lý do vì sao? Là vì “Với thân bất tịnh này. Dễ hư hoại mong manh. Ta bực phiền, tủi hổ. Dục ái được đoạn tận.”
Vậy nên chúng ta thấy rằng từ khi bắt đầu tu tới khi thành Thánh quả không hề rời quán Bất tịnh. Chúng ta giờ chỉ tu năm bảy tháng, vài ba ngày là xong? “Quán Bất tịnh tôi đã tu rồi, biết rồi!” Vậy nên chúng ta không diệt tận được tham muốn, ái dục. “Với thân bất tịnh này” là các Ngài đã chứng nhập trí bất tịnh nên trí tuệ đó, sự thấy biết nhơ nhớp, bẩn thỉu, xú uế này trong Ngài không mất, trong các vị Thánh tăng không có mất.
Chúng ta tự xét lại xem một ngày mình tu được quán bất tịnh được mấy tiếng? Được bao nhiêu suy nghĩ về bất tịnh? Vậy nên Thánh quả không là gì khác và cũng không ở ngoài những gì mình đang thực tập. Với thân bất tịnh này dễ hư hoại, mong manh, là biến hoại, mong manh, tan vỡ nên “Ta bực phiền, tủi hổ”.
Khi các Ngài nhìn thấy thân tứ đại này, nhìn thấy da, thịt, gân, xương này nên các Ngài thấy phiền phức, phiền bực, phiền muộn, phiền não, phiền toái, tủi hổ, xấu hổ, như ngày đêm rỉ chảy vết thương chín lỗ. Một ngày chúng ta sanh khởi bao nhiêu lần sự xấu hổ này? Hay khi ngắm mình trong gương chúng ta nhìn thấy mình thích thú, hân hoan trong đó hay thấy tủi hổ, tàm quý? Hay nghĩ về mình thấy mình đẹp? Đó chính là chỗ công phu.
“Với thân bất tịnh này. Dễ hư hoại mong manh. Ta bực phiền, tủi hổ.” Ngài thấy phiền phức, phiền não, phiền toái, phiền muộn, phiền nhiễu. Dù có tóc rồi gội đầu, chảy chuốt mà giờ cạo bóng thì muỗi dễ đốt, nên cũng cảm thấy bực phiền, tủi hổ. Hay như lúc súc miệng, tắm giặt… những lúc đó là những lúc để mình quán.
Tại sao chúng ta phải súc miệng, tắm, giặt đồ hay lại có lúc làm phiền đến người khác, hay tại sao phải ăn, uống, rửa, đổ mồ hôi, người có mùi lạ… Chính đó làm cho “Ta bực phiền, tủi hổ” nên “Dục ái được đoạn tận”.
Sau đó Ác ma buồn bã bỏ đi, dù muốn quấy rối, muốn làm nhiễu loạn tâm của người tu nhưng gặp phải bậc tâm đã bất động. Vậy nên đối với các cô cần cẩn thận, không phải là chỉ “Các thầy mới bị các sắc còn tôi là nữ thì tôi không có!” đều có thể bị, như có người thanh tú đến hỏi thăm như “Các cô tu tinh tấn, các cô tướng hảo…” rồi xin số điện thoại để dạy học… Dần dần rồi phát sinh những việc có thể ràng buộc nên cần cẩn thận.
Không chỉ cẩn thận ở đâu xa xôi mà ngay cả ở gần cũng vậy, vì Ác ma luôn ở trong tâm, có cả nội ma, ngoại ma, khi nào nó xuất hiện trong tâm thì phải nhìn thấy. Khi chúng ta học sâu vào sẽ thấy được những Tương Ưng sau là cả sắc, thọ, tưởng, hành, thức đều là ma. Bài vừa qua là khuyến dụ Tỳ-kheo-ni hưởng dục. Chúng ta cần phải cẩn thận, nơi nào cũng có bẫy sập.
II. Ác ma giới
Tiếp theo là bài kinh Người nông phu trong Tương Ưng Bộ Kinh tập một, Ác ma biến thành người làm ruộng.
Chúng ta đã thấy qua Ác ma biến thành con bò, những cô gái…rất nhiều hình ảnh. Nên những gì mình biết chưa hẳn là đúng, như các vị Tỳ-kheo thấy con bò tới sẽ làm bể cái bát thì Đức Phật nói đó không phải là con bò. Vậy nên thức của mình giống như nhà ảo thuật thôi, khi mình nhìn thấy con bò nhưng thật sự nó không phải là con bò, nhìn là con sâu nhưng nó không phải là con sâu, nhìn thấy là cô gái nhưng Tôn Ngộ Không lại nhìn ra thành Bạch Cốt Tinh.
Vậy nên phải dùng mắt tuệ, mắt pháp để nhìn, nhìn bằng mắt thịt là không đúng, những gì đến và làm cho mình phát sanh những dục, tham, ái, sân hận, bản ngã, rù quến, lôi kéo thì đó phải cẩn thận, thấy vậy nhưng không phải là vậy, bên trong vẫn có điều sâu sắc bên trong, nên phải thật cẩn thận.
“1) Nhân duyên ở Sàvatthi. Lúc bấy giờ Thế Tôn đang thuyết pháp cho các Tỷ-kheo về vấn đề liên hệ đến Niết-bàn, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ. Và các Tỷ-kheo ấy hết sức chú tâm, hết sức chú ý, tập trung mọi tâm tư, lóng tai nghe pháp.
2) Rồi Ác ma suy nghĩ: "Sa-môn Gotama này đang thuyết pháp cho các vị Tỷ-kheo về các vấn đề liên hệ đến Niết-bàn... Vậy ta hãy đi đến Sa-môn Gotama để làm mờ mắt (các Tỷ-kheo ấy)."
3) Rồi Ác ma biến hình thành một người nông phu, mang trên vai một cái cày lớn, tay cầm một cây gậy đâm bò, đầu bù tóc rối, mặc đồ vải gai, chân lấm bùn nhơ, đi đến, sau khi đến, nói với Thế Tôn:
4) -- Này Sa-môn, Ngài có thấy con bò đực không?
5) -- Nhưng này Ác ma, con bò đực đối với Ông là gì?
6) -- Này Sa-môn, mắt là của ta, sắc là của ta, thức xứ do mắt xúc chạm là của ta. Này Sa-môn, Ngài có thể đi đâu để thoát khỏi ta?”
Ác ma khẳng định “Mắt là của, sắc là của ta” hay những chỗ của thức nương là căn, trần, thức - “thức xứ do mắt xúc chạm là của ta” vậy thì Đức Phật “Ngài có thể đi đâu để thoát khỏi ta?” vì căn, trần, thức tất cả đều là Ác ma làm chủ.
“Này Sa-môn, tai là của ta. Tiếng là của ta...
Này Sa-môn, mũi là của ta, hương là của ta...
Này Sa-môn, lưỡi là của ta, vị là của ta...
Này Sa-môn, thân là của ta, xúc là của ta...
Này Sa-môn, ý là của ta, pháp là của ta, thức xứ do ý xúc chạm là của ta. Này Sa-môn, Ngài có thể đi đâu để thoát khỏi ta không?”
Ác ma lại khẳng định “Mắt, mũi, lưỡi, thân, ý hay sắc, thanh, hương, vị, xúc pháp đều là của ta, nhãn thức, nhĩ thức, tỉ thức, thân thức, ý thức đều là của ta. Những pháp bên trong vận hành cũng là của ta. Tất cả những cái đó đều là ta thống lãnh!” Vì chung quanh chúng sanh đều do dục điều khiển và Ác ma điều khiển dục đó. Nên người nào còn trong phạm vi đó thì còn là dân của ma vương, bị dục ngự trị, thống lãnh cũng chính là bị ma vương ngự trị, thống lãnh, tay sai, nô lệ cho dục.
“7) -- Này Ác ma, mắt là của Ông, sắc là của Ông, thức xứ do mắt xúc chạm là của Ông. Và này Ác ma, chỗ nào không có mắt, không có sắc, không có thức xứ xúc chạm, thời chỗ ấy không có hành xứ của Ông, này Ác ma.”
Đây là câu đối rất hay, là nghệ thuật thượng thủ của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác và ma vương, hai người đều là vua, một người là pháp vương, một người là ma vương. Một người là biểu tượng của sự thống lãnh pháp ly dục, một người lại là bậc thống lãnh của dục, cùng đối đáp với nhau. Là vua của thế giới bất thiện và vua của thế giới thiện.
8) Này Ác ma, tai là của Ông, tiếng là của Ông, thức xứ do tai xúc chạm là của Ông. Và này Ác ma, chỗ nào không có tai, không có tiếng, không có thức xứ do tai xúc chạm, thời chỗ ấy không có hành xứ của Ông, này Ác ma.
“Không có hành xứ của ông” tức là Ác ma muốn đến cũng không được, không thể đến, không phải là lĩnh vực của ông ta, không phải phạm trù, phạm vi, không phải chỗ mà ông ta đi tới được.
“9) Này Ác ma, mũi là của Ông, hương là của Ông, thức xứ do mũi xúc chạm là của Ông. Và này Ác ma, chỗ nào không có mũi, không có hương, không có thức xứ do mũi xúc chạm, thời chỗ ấy không có hành xứ của Ông, này Ác ma.
10) Này Ác ma, lưỡi là của Ông, vị là của Ông, thức xứ do lưỡi cảm xúc là của ông. Này Ác ma, chỗ nào không có lưỡi, không có vị, không có thức xứ do lưỡi xúc chạm, thời chỗ ấy không có hành xứ của Ông, này Ác ma.
Này Ác ma, thân là của Ông, xúc là của Ông, thức xứ do thân xúc chạm là của Ông. Và này Ác ma, chỗ nào không có thân, không có xúc, không có thức xứ do thân xúc chạm, thời chỗ ấy không có hành xứ của Ông, này Ác ma.
11) Này Ác ma, ý là của Ông, pháp là của Ông, thức xứ do ý xúc chạm là của Ông. Và này Ác ma, chỗ nào không có ý, không có pháp, không có thức xứ do ý xúc chạm, thời này Ác ma, chỗ ấy không có hành xứ của Ông, này Ác ma.”
“Thức xứ do ý xúc chạm là của ông” tức là thọ, tưởng, hành, những cảm giác, hình bóng trong tâm, suy nghĩ hiện ra trong tâm mình, là pháp trần cũng là của Ác ma. Nhưng Đức Phật đã đáp lại là “chỗ nào không có ý, không có pháp, không có thức xứ do ý xúc chạm, thời này Ác ma, chỗ ấy không có hành xứ của Ông, này Ác ma”.
Sau đó Ác ma nói tiếp:
“12) - Sự vật được Ngài nói:
"Cái này là của tôi".
Và những người đã nói:
"Cái này là của tôi".
Nếu ở đây có ý,
Đối với sự vật ấy,
Như vậy, này Sa-môn,
Ngài không thoát khỏi ta.
(Thế Tôn):
13) Sự vật được Ông nói:
"Cái này không của tôi".
Và những người đã nói:
"Chúng không phải là tôi".
Này Ác ma, như vậy,
Ông có biết được chăng,
Cho đến Ông không thấy,
Con đường của Ta đi?
14) Rồi Ác ma... liền biến mất tại chỗ ấy.”
(Bài kinh Người Nông Phu, I. Phẩm Thứ Hai – Chương IV. Tương Ưng Ác Ma – Tương Ưng Bộ Kinh)
Trong bài kinh có những đoạn tô màu ở hai từ “là” và “không” tức nếu con “mắt là tôi” thì chỗ đó không thoát khỏi Ác ma, hay như tai, mũi, lưỡi, thân, ý, các pháp, cảm giác nghĩ tưởng bên trong thì đều không thoát khỏi Ác ma. Nhưng Thế Tôn đã nói "Cái này không của tôi" và “Cho đến Ông không thấy. Con đường của Ta đi?” như nhắc lại câu bên trên là “Chỗ ấy không có hành xứ của Ông”.
Ý nói khi chứng đắc Niết-bàn, là chỗ phá vỡ ngũ thủ uẩn, phá vỡ sáu căn, sáu trần, sáu thức, sự chấp thủ trong đó. Chỗ đó Ác ma cũng không với tới được, vì đó là nơi chí thượng, tối thượng của bậc Thánh chứng ngộ, là vượt Thánh đế, vượt ra khỏi ngũ uẩn. Nếu tất cả chúng sanh còn tham đắm trong ngũ uẩn thì không thoát khỏi Ác ma.
III. Giải thoát khỏi ác ma
Vì vậy, Ác ma không phải là bình thường, ông ta là người thống trị những người còn tâm tham dục, tham ái, rất quyền lực.
Quý Phật tử có thấy mình bị như vậy? Có cảm thấy mình “không thoát khỏi tay ta” của Ác ma? Chính vì vậy nên mình tu là để thoát khỏi đó, dần dần để thoát ra.
Tiếp theo là bài kinh Godhika trong Tương Ưng Bộ Kinh tập một:
“1) Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn trú ở Ràjagaha, Veluvana, tại chỗ nuôi dưỡng các con sóc.
2) Lúc bấy giờ, Tôn giả Godhika trú ở sườn núi Isigili, tại Kàlasilà.
3) Rồi Tôn giả Godhika sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, chứng được nhứt thời tâm giải thoát. Rồi Tôn giả Godhika lại thối thất nhất thời tâm giải thoát ấy.”
“Chứng được nhứt thời tâm giải thoát” là tâm giải thoát chỉ trong một thời gian, không phải là chứng hẳn mà chỉ trong một thời gian nhất định và “thối thất nhất thời tâm giải thoát” tức là cứ chứng rồi lại mất tâm giải thoát đó.
“4) Lần thứ hai, Tôn giả Godhika sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần và chứng được nhất thời tâm giải thoát. Và lần thứ hai, Tôn giả Godhika lại thối thất nhất thời tâm giải thoát ấy.
5) Lần thứ ba, Tôn giả Godhika sống... tâm giải thoát ấy.
6) Lần thứ tư, Tôn giả Godhika sống... tâm giải thoát ấy.
7) Lần thứ năm, Tôn giả Godhika sống... tâm giải thoát ấy.
8) Lần thứ sáu, Tôn giả Godhika sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, chứng được nhất thời tâm giải thoát. Lần thứ sáu, Tôn giả Godhika cũng thối thất nhất thời tâm giải thoát ấy.”
Qua đó chúng ta thấy được ở thời của Thế Tôn có những bậc như Ngài Godhika đã tinh cần, tinh tấn, sống một mình ở sườn núi, tu được Chánh pháp, gặp được bậc Chánh Giác nhưng sự tu vẫn không đơn giản. Không như “Con đã hiểu Chánh pháp rồi, con nắm được ngũ uẩn rồi” thì như vậy là xong.
“9) Lần thứ bảy, Tôn giả Godhika sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, chứng được nhứt thời tâm giải thoát.
10) Rồi Tôn giả Godhika suy nghĩ: "Cho đến lần thứ sáu, ta bị thối thất nhất thời tâm giải thoát. Vậy nay ta hãy đem lại con dao".
Tức là Ngài đó muốn chết, không muốn sống nữa, giờ đang chứng được thì chết lúc đó là để thành tựu, để giữ được tâm này và không để bị mất nữa. Chúng ta thấy đó là “xả thân cầu đạo” là vậy, người ta làm sao để đạt được tâm giải thoát thanh tịnh mà người ta không quan trọng cả sinh mạng mình.
“11) Rồi Ác ma biết được tâm tư của Tôn giả Godhika, liền đi đến Thế Tôn; sau khi đến nói lên bài kệ với Thế Tôn:
Ôi, bậc Đại Anh hùng!
Ôi, bậc Đại Trí tuệ!
Ngài chói sáng hào quang,
Thần lực và danh xưng.
Ngài vượt qua tất cả,
Mọi sân hận hãi hùng.
Con chân thành đảnh lễ,
Dưới chân bậc Pháp nhãn.
Ôi, bậc Đại Anh hùng!
Bậc Chinh phục tử thần!
Đệ tử Ngài muốn chết,
Đang suy nghĩ đến chết.
Ôi, bậc Chói Hào quang!
Hãy ngăn chặn vị ấy.
Làm sao, bạch Thế Tôn,
Vị đệ tử của Ngài,
Hoan hỷ trong giáo lý,
Lại không chứng hữu học,
Còn muốn đoạt mạng sống?
Ôi, danh vọng thế gian!”
Tức Ác ma đến báo với Đức Phật là có đệ tử của Ngài muốn tầm cầu con dao.
“12) Lúc bấy giờ, Tôn giả Godhika đã đem lại và sử dụng con dao.
13) Rồi Thế Tôn được biết: "Đây là Ác ma", liền nói lên bài kệ với Ác ma:
Như vậy là sở hành,
Của bậc Đại Anh hùng,
Không còn nuôi ước vọng
Tạo thêm dòng sinh mạng,
Đoạn tận ái, ái căn,
Godhika nhập diệt.”
Đoạn này hơi đặc biệt vì khác với người thế gian là người ta chết vì thất tình, vì phá sản, vì buồn… nhưng Ngài Godhika muốn giữ được tâm bất động, thành tựu trong pháp, sợ mất đi tâm nhất thời giải thoát này nên xả bỏ sinh mạng để giữ được tâm. Nhưng chúng ta thì không nên làm theo như vậy.
“14) Rồi Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:
Này các Tỷ-kheo, chúng ta hãy đi đến sườn núi Isigili, Kàlasilà, tại chỗ thiện nam tử Godhika đã đem lại và sử dụng con dao.
15) Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các vị Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.
16) Rồi Thế Tôn cùng với một số đông Tỷ-kheo đi đến sườn núi Isigili, Kàlasilà, và Thế Tôn thấy từ đằng xa, Tôn giả Godhika đang nằm trên giường, với hai vai mở rộng (bị thương hay co quắp lại).
17) Lúc bấy giờ một làn khói đen tối đi về phía Đông, đi về phía Tây, đi về phía Bắc, đi về phía Nam, đi về phía Trên, đi về phía Dưới.
18) Rồi Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:
Này các Tỷ-kheo, các Ông có thấy làn khói đen tối ấy đi về phía Đông, đi về phía Tây, đi về phía Bắc, đi về phía Nam, đi về phía Trên, đi về phía Dưới không?
Bạch Thế Tôn, chúng con có thấy như vậy.
19) Này các Tỷ-kheo, đó là Ác ma đang đi theo dõi thức của thiện nam tử Godhika: "Thức của thiện nam tử Godhika được an trú ở đâu?". Và này các Tỷ-kheo, thiện nam tử Godhika đã nhập diệt, với thức không an trú ở đâu cả.
Đoạn này Đức Phật giảng giải Ác ma đi theo dõi thức của thiện nam tử Godhika, tìm xem thức đó đi về hướng nào. Vì nếu có vị nào nhập Niết-bàn thì đã vượt qua tầm ngự trị của Ác ma, Ác ma không muốn có ai vượt qua khỏi đó, muốn tất cả đều là đệ tử bên dưới. Nên khi có một người như vậy thì lo sợ nên Ác ma mới giả vờ đến khen Thế Tôn để rồi báo lại là đệ tử của Ngài như vậy.
Sau đó Đức Thế Tôn chỉ ra “thiện nam tử Godhika đã nhập diệt, với thức không an trú ở đâu cả”. Tức là bậc Thánh nhân không có dấu vết, không có vết tích, không có dấu vết thì không khổ, là đã thoát ra khỏi tham, sân si, vô minh, bản ngã, khát ái, ngũ uẩn. Vì nếu còn thì sẽ đi tìm nơi nào đó để thọ sanh, còn đây là đã tịch tịnh hoàn toàn, đoạn tận sanh y, không còn chỗ dựa của tái sanh.
Ví dụ như đối với các thầy, các cô hay các Phật tử ở đây, giả sử mình biết chiều nay mình chết thì muốn gặp ai? Muốn làm gì? Hay là mình muốn gặp nhiều người trước khi chết? Chính ở chỗ người mình muốn gặp, món đồ mình muốn xem qua thì đó chính là sợi dây tái sanh.
Còn đối với ngài Godhika là hoàn toàn tịch tịnh, một tâm lắng lặng, bất động, không còn dục nào, hay khao khát, thèm muốn, kiếm tìm ai nữa, nhàm chán, xa lìa, từ bỏ, thoát ly. Đó là tâm của bậc Thánh. Vì vậy nên Ác ma không tìm được, cứ bay tứ phía, vì thường thì khi người chết thì tâm thức đi, đi tìm những dục, ái, tham, sanh y, nhưng giờ Ác ma lại tìm hoài không thấy. Vì đã đạt đến nhàm chán, viễn ly, ly tham, đoạn tận, từ bỏ, chấm dứt ngũ uẩn, không còn đi tìm ở đâu nữa, tâm đã hoàn toàn tịch tịnh, vắng lặng, nơi tối thắng, tối thượng là ở đó, đó là Niết-bàn.
“20) Rồi Ác ma tay cầm đờn thất huyền cầm màu vàng, đi đến Thế Tôn, sau khi đến nói lên bài kệ:
Trên, dưới và bề ngang,
Bốn phương, các phương giữa,
Ta tìm, nhưng không gặp,
Godhika đi đâu.
(Thế Tôn):
21) Vị Anh hùng kiên chí,
Thường Thiền lạc, Thiền tư,
Ngày đêm đầy nhiệt tình,
Nhưng sự sống, không tham,
Chiến thắng quân thần chết,
Tái sanh không đi đến,
Chinh phục ái, ái căn,
Godhika nhập diệt.
22) Còn kẻ bị sầu muộn,
Từ nách rơi huyền cầm,
Dạ-xoa bị thất vọng,
Liền biến mất tại chỗ.”
(Bài kinh Godhika, I. Phẩm Thứ Ba – Chương IV. Tương Ưng Ác Ma – Tương Ưng Bộ Kinh)
Tức Đức Phật đã khen Godhika là bậc “Anh hùng kiên chí. Thường Thiền lạc, Thiền tư” là Ngài ấy luôn luôn ở trong sự an tịnh của thiền, trong sự suy tư thiền quán, quán chiếu, một là tâm yên định, thiền quán, chỉ quán chiếu, định huệ. Nhưng “Ngày đêm đầy nhiệt tình, Nhưng sự sống, không tham,” là dù cho ban ngày hay ban đêm cũng nhiệt tâm tinh cần, chánh niệm tỉnh giác, ở trong thiền lạc, thiền tư, thiền định, thiền huệ, thiền chỉ, thiền quán. Ngày đêm đều nhiệt tình thực hành nhưng lại không tham sự sống, không tham có đời tiếp theo, cũng không mong muốn tái sanh, không ưa thích dòng sanh tử luân hồi mà lại nhàm chán, xa lìa, từ bỏ, thoát ra, nên “Chiến thắng quân thần chết, Tái sanh không đi đến, Chinh phục ái, ái căn, Godhika nhập diệt.”. Ái và ái căn, ái là sắc ái, thanh ái, hương ái, vị ái, xúc ái, thọ ái, tưởng ái, thức ái, ái tham, ái sân, ái si, ái vô minh, ái bản ngã.
Chúng ta có ái không? Một khi hất mặt, vênh váo thì có cảm thấy thích không? Dù là giận nhưng cũng thấy thích? Nên mình đừng nghĩ chỉ có tham mới ái mà sân cũng ái, cũng có thích thú trong cảm giác đó. Dù bên trong phừng phực, sừng sộ, thiêu đốt như vậy nhưng vẫn thích. Giống như lúc uống rượu, uống vào thì bên trong không hề dễ chịu nhưng vẫn thích cảm giác đó.
Nên Ngài đã lấy thước đo của dục ái đối với năm dục trưởng dưỡng, đối với ngũ uẩn này, để xác định công phu tu tập của mình, trí tuệ thành tựu của mình.
“Còn kẻ bị sầu muộn” ý nói Ác ma nên buồn quá làm rơi cả cây đàn, “Từ nách rơi huyền cầm,” rồi Đức Phật gọi Ác ma là Dạ -xoa, “Dạ-xoa bị thất vọng, Liền biến mất tại chỗ.”
Đó là bài kinh về luồng khói đen bay tìm thức của Tỳ-kheo – bài kinh Godhika. Có nhiều bài kinh rất hay nhưng vì trước nay chúng ta cần tập trung vào trí tuệ nòng cốt, cốt lõi để mình thành tựu điều đó vững chắc rồi sau đó mình mới học những bài này. Vì nhiều khi học thì mình lại thấy thích thú với câu chuyện đó rồi lại quên trọng điểm nên từ trước nay, ba năm nay là học phần lõi rồi dần dần mình sẽ mở rộng ra và thấy rất hay.
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Khuyến tu bất tịnh PAGEREF _Toc79422834 \h 1
II. Ác ma giới PAGEREF _Toc79422835 \h 4
III. Giải thoát khỏi ác ma PAGEREF _Toc79422836 \h 8
I. Khuyến tu bất tịnh
Tiếp đến là bài kinh Vijayà trong Tương Ưng Bộ Kinh tập một:
“1) Nhân duyên ở Sàvatthi.
Tỷ-kheo-ni Vijayà vào buổi sáng đắp y... và ngồi xuống dưới một gốc cây để nghỉ ban ngày.
2) Ác Ma muốn làm cho Tỳ-kheo-ni Vijayà sợ hãi ... muốn khiến nàng từ bỏ Thiền định, liền đi đến Tỳ- kheo-ni Vijayà; sau khi đến, nói lên bài kệ với Tỳ- kheo-ni Vijayà:
Nàng vừa trẻ, vừa đẹp,
Ta vừa trẻ, vừa xuân,
Với cung đàn năm điệu,
Nàng cùng ta vui hưởng.
3) Tỷ-kheo-ni Vijayà suy nghĩ: "Ai đã nói lên bài kệ này? Người hay không phải người?"
4) Tỷ-kheo-ni Vijayà suy nghĩ: "Đây là Ác ma... nói lên bài kệ đó"
5) Tỷ-kheo-ni Vijayà suy nghĩ: "Đây là Ác ma", liền nói lên bài kệ với Ác ma:
Sắc, tiếng, vị, hương, xúc,
Làm cho ý đam mê,
Ta nhường lại Ác ma,
Ta đâu có cần chúng.
Với thân bất tịnh này,
Dễ hư hoại mong manh,
Ta bực phiền, tủi hổ,
Dục ái được đoạn tận.
Họ sanh hưởng sắc giới,
Chúng vọng vô sắc giới,
Thiền chứng an tịnh ấy,
Mọi nơi, mê ám diệt.
6) Ác ma biết được: "Tỷ-kheo-ni Aijayà đã biết ta", buồn khổ, thất vọng, liền biến mất tại chỗ ấy.”
(Bài kinh Vijayà – Chương IV. Tương Ưng Tỷ Kheo Ni
– Tương Ưng Bộ Kinh)
Trong bài kinh không có đề cập vị Tỳ-kheo-ni này đã chứng Thánh quả hay chưa nhưng chúng ta ngầm hiểu đây là bậc Thánh mới biết được hoặc ít nhất cũng đạt được sơ quả đến Thánh quả cao hơn.
Chúng ta thấy được bài kệ này thể hiện sự chứng đắc của vị Tỳ-kheo-ni “Sắc, tiếng, vị, hương, xúc,” là sắc đẹp, âm thanh, mùi vị, xúc chạm làm cho tâm ý đam mê nên
“Ta nhường lại Ác ma,
Ta đâu có cần chúng.
Với thân bất tịnh này,
Dễ hư hoại mong manh,
Ta bực phiền, tủi hổ,
Dục ái được đoạn tận.”
Vị này có thể đã đạt được Thánh quả cao, nên khẳng định “Ta không cần chúng!”, nhường lại cho Ác ma, ý như “nếu thích thì ông tự đi kiếm!”. Lý do vì sao? Là vì “Với thân bất tịnh này. Dễ hư hoại mong manh. Ta bực phiền, tủi hổ. Dục ái được đoạn tận.”
Vậy nên chúng ta thấy rằng từ khi bắt đầu tu tới khi thành Thánh quả không hề rời quán Bất tịnh. Chúng ta giờ chỉ tu năm bảy tháng, vài ba ngày là xong? “Quán Bất tịnh tôi đã tu rồi, biết rồi!” Vậy nên chúng ta không diệt tận được tham muốn, ái dục. “Với thân bất tịnh này” là các Ngài đã chứng nhập trí bất tịnh nên trí tuệ đó, sự thấy biết nhơ nhớp, bẩn thỉu, xú uế này trong Ngài không mất, trong các vị Thánh tăng không có mất.
Chúng ta tự xét lại xem một ngày mình tu được quán bất tịnh được mấy tiếng? Được bao nhiêu suy nghĩ về bất tịnh? Vậy nên Thánh quả không là gì khác và cũng không ở ngoài những gì mình đang thực tập. Với thân bất tịnh này dễ hư hoại, mong manh, là biến hoại, mong manh, tan vỡ nên “Ta bực phiền, tủi hổ”.
Khi các Ngài nhìn thấy thân tứ đại này, nhìn thấy da, thịt, gân, xương này nên các Ngài thấy phiền phức, phiền bực, phiền muộn, phiền não, phiền toái, tủi hổ, xấu hổ, như ngày đêm rỉ chảy vết thương chín lỗ. Một ngày chúng ta sanh khởi bao nhiêu lần sự xấu hổ này? Hay khi ngắm mình trong gương chúng ta nhìn thấy mình thích thú, hân hoan trong đó hay thấy tủi hổ, tàm quý? Hay nghĩ về mình thấy mình đẹp? Đó chính là chỗ công phu.
“Với thân bất tịnh này. Dễ hư hoại mong manh. Ta bực phiền, tủi hổ.” Ngài thấy phiền phức, phiền não, phiền toái, phiền muộn, phiền nhiễu. Dù có tóc rồi gội đầu, chảy chuốt mà giờ cạo bóng thì muỗi dễ đốt, nên cũng cảm thấy bực phiền, tủi hổ. Hay như lúc súc miệng, tắm giặt… những lúc đó là những lúc để mình quán.
Tại sao chúng ta phải súc miệng, tắm, giặt đồ hay lại có lúc làm phiền đến người khác, hay tại sao phải ăn, uống, rửa, đổ mồ hôi, người có mùi lạ… Chính đó làm cho “Ta bực phiền, tủi hổ” nên “Dục ái được đoạn tận”.
Sau đó Ác ma buồn bã bỏ đi, dù muốn quấy rối, muốn làm nhiễu loạn tâm của người tu nhưng gặp phải bậc tâm đã bất động. Vậy nên đối với các cô cần cẩn thận, không phải là chỉ “Các thầy mới bị các sắc còn tôi là nữ thì tôi không có!” đều có thể bị, như có người thanh tú đến hỏi thăm như “Các cô tu tinh tấn, các cô tướng hảo…” rồi xin số điện thoại để dạy học… Dần dần rồi phát sinh những việc có thể ràng buộc nên cần cẩn thận.
Không chỉ cẩn thận ở đâu xa xôi mà ngay cả ở gần cũng vậy, vì Ác ma luôn ở trong tâm, có cả nội ma, ngoại ma, khi nào nó xuất hiện trong tâm thì phải nhìn thấy. Khi chúng ta học sâu vào sẽ thấy được những Tương Ưng sau là cả sắc, thọ, tưởng, hành, thức đều là ma. Bài vừa qua là khuyến dụ Tỳ-kheo-ni hưởng dục. Chúng ta cần phải cẩn thận, nơi nào cũng có bẫy sập.
II. Ác ma giới
Tiếp theo là bài kinh Người nông phu trong Tương Ưng Bộ Kinh tập một, Ác ma biến thành người làm ruộng.
Chúng ta đã thấy qua Ác ma biến thành con bò, những cô gái…rất nhiều hình ảnh. Nên những gì mình biết chưa hẳn là đúng, như các vị Tỳ-kheo thấy con bò tới sẽ làm bể cái bát thì Đức Phật nói đó không phải là con bò. Vậy nên thức của mình giống như nhà ảo thuật thôi, khi mình nhìn thấy con bò nhưng thật sự nó không phải là con bò, nhìn là con sâu nhưng nó không phải là con sâu, nhìn thấy là cô gái nhưng Tôn Ngộ Không lại nhìn ra thành Bạch Cốt Tinh.
Vậy nên phải dùng mắt tuệ, mắt pháp để nhìn, nhìn bằng mắt thịt là không đúng, những gì đến và làm cho mình phát sanh những dục, tham, ái, sân hận, bản ngã, rù quến, lôi kéo thì đó phải cẩn thận, thấy vậy nhưng không phải là vậy, bên trong vẫn có điều sâu sắc bên trong, nên phải thật cẩn thận.
“1) Nhân duyên ở Sàvatthi. Lúc bấy giờ Thế Tôn đang thuyết pháp cho các Tỷ-kheo về vấn đề liên hệ đến Niết-bàn, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ. Và các Tỷ-kheo ấy hết sức chú tâm, hết sức chú ý, tập trung mọi tâm tư, lóng tai nghe pháp.
2) Rồi Ác ma suy nghĩ: "Sa-môn Gotama này đang thuyết pháp cho các vị Tỷ-kheo về các vấn đề liên hệ đến Niết-bàn... Vậy ta hãy đi đến Sa-môn Gotama để làm mờ mắt (các Tỷ-kheo ấy)."
3) Rồi Ác ma biến hình thành một người nông phu, mang trên vai một cái cày lớn, tay cầm một cây gậy đâm bò, đầu bù tóc rối, mặc đồ vải gai, chân lấm bùn nhơ, đi đến, sau khi đến, nói với Thế Tôn:
4) -- Này Sa-môn, Ngài có thấy con bò đực không?
5) -- Nhưng này Ác ma, con bò đực đối với Ông là gì?
6) -- Này Sa-môn, mắt là của ta, sắc là của ta, thức xứ do mắt xúc chạm là của ta. Này Sa-môn, Ngài có thể đi đâu để thoát khỏi ta?”
Ác ma khẳng định “Mắt là của, sắc là của ta” hay những chỗ của thức nương là căn, trần, thức - “thức xứ do mắt xúc chạm là của ta” vậy thì Đức Phật “Ngài có thể đi đâu để thoát khỏi ta?” vì căn, trần, thức tất cả đều là Ác ma làm chủ.
“Này Sa-môn, tai là của ta. Tiếng là của ta...
Này Sa-môn, mũi là của ta, hương là của ta...
Này Sa-môn, lưỡi là của ta, vị là của ta...
Này Sa-môn, thân là của ta, xúc là của ta...
Này Sa-môn, ý là của ta, pháp là của ta, thức xứ do ý xúc chạm là của ta. Này Sa-môn, Ngài có thể đi đâu để thoát khỏi ta không?”
Ác ma lại khẳng định “Mắt, mũi, lưỡi, thân, ý hay sắc, thanh, hương, vị, xúc pháp đều là của ta, nhãn thức, nhĩ thức, tỉ thức, thân thức, ý thức đều là của ta. Những pháp bên trong vận hành cũng là của ta. Tất cả những cái đó đều là ta thống lãnh!” Vì chung quanh chúng sanh đều do dục điều khiển và Ác ma điều khiển dục đó. Nên người nào còn trong phạm vi đó thì còn là dân của ma vương, bị dục ngự trị, thống lãnh cũng chính là bị ma vương ngự trị, thống lãnh, tay sai, nô lệ cho dục.
“7) -- Này Ác ma, mắt là của Ông, sắc là của Ông, thức xứ do mắt xúc chạm là của Ông. Và này Ác ma, chỗ nào không có mắt, không có sắc, không có thức xứ xúc chạm, thời chỗ ấy không có hành xứ của Ông, này Ác ma.”
Đây là câu đối rất hay, là nghệ thuật thượng thủ của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác và ma vương, hai người đều là vua, một người là pháp vương, một người là ma vương. Một người là biểu tượng của sự thống lãnh pháp ly dục, một người lại là bậc thống lãnh của dục, cùng đối đáp với nhau. Là vua của thế giới bất thiện và vua của thế giới thiện.
8) Này Ác ma, tai là của Ông, tiếng là của Ông, thức xứ do tai xúc chạm là của Ông. Và này Ác ma, chỗ nào không có tai, không có tiếng, không có thức xứ do tai xúc chạm, thời chỗ ấy không có hành xứ của Ông, này Ác ma.
“Không có hành xứ của ông” tức là Ác ma muốn đến cũng không được, không thể đến, không phải là lĩnh vực của ông ta, không phải phạm trù, phạm vi, không phải chỗ mà ông ta đi tới được.
“9) Này Ác ma, mũi là của Ông, hương là của Ông, thức xứ do mũi xúc chạm là của Ông. Và này Ác ma, chỗ nào không có mũi, không có hương, không có thức xứ do mũi xúc chạm, thời chỗ ấy không có hành xứ của Ông, này Ác ma.
10) Này Ác ma, lưỡi là của Ông, vị là của Ông, thức xứ do lưỡi cảm xúc là của ông. Này Ác ma, chỗ nào không có lưỡi, không có vị, không có thức xứ do lưỡi xúc chạm, thời chỗ ấy không có hành xứ của Ông, này Ác ma.
Này Ác ma, thân là của Ông, xúc là của Ông, thức xứ do thân xúc chạm là của Ông. Và này Ác ma, chỗ nào không có thân, không có xúc, không có thức xứ do thân xúc chạm, thời chỗ ấy không có hành xứ của Ông, này Ác ma.
11) Này Ác ma, ý là của Ông, pháp là của Ông, thức xứ do ý xúc chạm là của Ông. Và này Ác ma, chỗ nào không có ý, không có pháp, không có thức xứ do ý xúc chạm, thời này Ác ma, chỗ ấy không có hành xứ của Ông, này Ác ma.”
“Thức xứ do ý xúc chạm là của ông” tức là thọ, tưởng, hành, những cảm giác, hình bóng trong tâm, suy nghĩ hiện ra trong tâm mình, là pháp trần cũng là của Ác ma. Nhưng Đức Phật đã đáp lại là “chỗ nào không có ý, không có pháp, không có thức xứ do ý xúc chạm, thời này Ác ma, chỗ ấy không có hành xứ của Ông, này Ác ma”.
Sau đó Ác ma nói tiếp:
“12) - Sự vật được Ngài nói:
"Cái này là của tôi".
Và những người đã nói:
"Cái này là của tôi".
Nếu ở đây có ý,
Đối với sự vật ấy,
Như vậy, này Sa-môn,
Ngài không thoát khỏi ta.
(Thế Tôn):
13) Sự vật được Ông nói:
"Cái này không của tôi".
Và những người đã nói:
"Chúng không phải là tôi".
Này Ác ma, như vậy,
Ông có biết được chăng,
Cho đến Ông không thấy,
Con đường của Ta đi?
14) Rồi Ác ma... liền biến mất tại chỗ ấy.”
(Bài kinh Người Nông Phu, I. Phẩm Thứ Hai – Chương IV. Tương Ưng Ác Ma – Tương Ưng Bộ Kinh)
Trong bài kinh có những đoạn tô màu ở hai từ “là” và “không” tức nếu con “mắt là tôi” thì chỗ đó không thoát khỏi Ác ma, hay như tai, mũi, lưỡi, thân, ý, các pháp, cảm giác nghĩ tưởng bên trong thì đều không thoát khỏi Ác ma. Nhưng Thế Tôn đã nói "Cái này không của tôi" và “Cho đến Ông không thấy. Con đường của Ta đi?” như nhắc lại câu bên trên là “Chỗ ấy không có hành xứ của Ông”.
Ý nói khi chứng đắc Niết-bàn, là chỗ phá vỡ ngũ thủ uẩn, phá vỡ sáu căn, sáu trần, sáu thức, sự chấp thủ trong đó. Chỗ đó Ác ma cũng không với tới được, vì đó là nơi chí thượng, tối thượng của bậc Thánh chứng ngộ, là vượt Thánh đế, vượt ra khỏi ngũ uẩn. Nếu tất cả chúng sanh còn tham đắm trong ngũ uẩn thì không thoát khỏi Ác ma.
III. Giải thoát khỏi ác ma
Vì vậy, Ác ma không phải là bình thường, ông ta là người thống trị những người còn tâm tham dục, tham ái, rất quyền lực.
Quý Phật tử có thấy mình bị như vậy? Có cảm thấy mình “không thoát khỏi tay ta” của Ác ma? Chính vì vậy nên mình tu là để thoát khỏi đó, dần dần để thoát ra.
Tiếp theo là bài kinh Godhika trong Tương Ưng Bộ Kinh tập một:
“1) Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn trú ở Ràjagaha, Veluvana, tại chỗ nuôi dưỡng các con sóc.
2) Lúc bấy giờ, Tôn giả Godhika trú ở sườn núi Isigili, tại Kàlasilà.
3) Rồi Tôn giả Godhika sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, chứng được nhứt thời tâm giải thoát. Rồi Tôn giả Godhika lại thối thất nhất thời tâm giải thoát ấy.”
“Chứng được nhứt thời tâm giải thoát” là tâm giải thoát chỉ trong một thời gian, không phải là chứng hẳn mà chỉ trong một thời gian nhất định và “thối thất nhất thời tâm giải thoát” tức là cứ chứng rồi lại mất tâm giải thoát đó.
“4) Lần thứ hai, Tôn giả Godhika sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần và chứng được nhất thời tâm giải thoát. Và lần thứ hai, Tôn giả Godhika lại thối thất nhất thời tâm giải thoát ấy.
5) Lần thứ ba, Tôn giả Godhika sống... tâm giải thoát ấy.
6) Lần thứ tư, Tôn giả Godhika sống... tâm giải thoát ấy.
7) Lần thứ năm, Tôn giả Godhika sống... tâm giải thoát ấy.
8) Lần thứ sáu, Tôn giả Godhika sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, chứng được nhất thời tâm giải thoát. Lần thứ sáu, Tôn giả Godhika cũng thối thất nhất thời tâm giải thoát ấy.”
Qua đó chúng ta thấy được ở thời của Thế Tôn có những bậc như Ngài Godhika đã tinh cần, tinh tấn, sống một mình ở sườn núi, tu được Chánh pháp, gặp được bậc Chánh Giác nhưng sự tu vẫn không đơn giản. Không như “Con đã hiểu Chánh pháp rồi, con nắm được ngũ uẩn rồi” thì như vậy là xong.
“9) Lần thứ bảy, Tôn giả Godhika sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, chứng được nhứt thời tâm giải thoát.
10) Rồi Tôn giả Godhika suy nghĩ: "Cho đến lần thứ sáu, ta bị thối thất nhất thời tâm giải thoát. Vậy nay ta hãy đem lại con dao".
Tức là Ngài đó muốn chết, không muốn sống nữa, giờ đang chứng được thì chết lúc đó là để thành tựu, để giữ được tâm này và không để bị mất nữa. Chúng ta thấy đó là “xả thân cầu đạo” là vậy, người ta làm sao để đạt được tâm giải thoát thanh tịnh mà người ta không quan trọng cả sinh mạng mình.
“11) Rồi Ác ma biết được tâm tư của Tôn giả Godhika, liền đi đến Thế Tôn; sau khi đến nói lên bài kệ với Thế Tôn:
Ôi, bậc Đại Anh hùng!
Ôi, bậc Đại Trí tuệ!
Ngài chói sáng hào quang,
Thần lực và danh xưng.
Ngài vượt qua tất cả,
Mọi sân hận hãi hùng.
Con chân thành đảnh lễ,
Dưới chân bậc Pháp nhãn.
Ôi, bậc Đại Anh hùng!
Bậc Chinh phục tử thần!
Đệ tử Ngài muốn chết,
Đang suy nghĩ đến chết.
Ôi, bậc Chói Hào quang!
Hãy ngăn chặn vị ấy.
Làm sao, bạch Thế Tôn,
Vị đệ tử của Ngài,
Hoan hỷ trong giáo lý,
Lại không chứng hữu học,
Còn muốn đoạt mạng sống?
Ôi, danh vọng thế gian!”
Tức Ác ma đến báo với Đức Phật là có đệ tử của Ngài muốn tầm cầu con dao.
“12) Lúc bấy giờ, Tôn giả Godhika đã đem lại và sử dụng con dao.
13) Rồi Thế Tôn được biết: "Đây là Ác ma", liền nói lên bài kệ với Ác ma:
Như vậy là sở hành,
Của bậc Đại Anh hùng,
Không còn nuôi ước vọng
Tạo thêm dòng sinh mạng,
Đoạn tận ái, ái căn,
Godhika nhập diệt.”
Đoạn này hơi đặc biệt vì khác với người thế gian là người ta chết vì thất tình, vì phá sản, vì buồn… nhưng Ngài Godhika muốn giữ được tâm bất động, thành tựu trong pháp, sợ mất đi tâm nhất thời giải thoát này nên xả bỏ sinh mạng để giữ được tâm. Nhưng chúng ta thì không nên làm theo như vậy.
“14) Rồi Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:
Này các Tỷ-kheo, chúng ta hãy đi đến sườn núi Isigili, Kàlasilà, tại chỗ thiện nam tử Godhika đã đem lại và sử dụng con dao.
15) Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các vị Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.
16) Rồi Thế Tôn cùng với một số đông Tỷ-kheo đi đến sườn núi Isigili, Kàlasilà, và Thế Tôn thấy từ đằng xa, Tôn giả Godhika đang nằm trên giường, với hai vai mở rộng (bị thương hay co quắp lại).
17) Lúc bấy giờ một làn khói đen tối đi về phía Đông, đi về phía Tây, đi về phía Bắc, đi về phía Nam, đi về phía Trên, đi về phía Dưới.
18) Rồi Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:
Này các Tỷ-kheo, các Ông có thấy làn khói đen tối ấy đi về phía Đông, đi về phía Tây, đi về phía Bắc, đi về phía Nam, đi về phía Trên, đi về phía Dưới không?
Bạch Thế Tôn, chúng con có thấy như vậy.
19) Này các Tỷ-kheo, đó là Ác ma đang đi theo dõi thức của thiện nam tử Godhika: "Thức của thiện nam tử Godhika được an trú ở đâu?". Và này các Tỷ-kheo, thiện nam tử Godhika đã nhập diệt, với thức không an trú ở đâu cả.
Đoạn này Đức Phật giảng giải Ác ma đi theo dõi thức của thiện nam tử Godhika, tìm xem thức đó đi về hướng nào. Vì nếu có vị nào nhập Niết-bàn thì đã vượt qua tầm ngự trị của Ác ma, Ác ma không muốn có ai vượt qua khỏi đó, muốn tất cả đều là đệ tử bên dưới. Nên khi có một người như vậy thì lo sợ nên Ác ma mới giả vờ đến khen Thế Tôn để rồi báo lại là đệ tử của Ngài như vậy.
Sau đó Đức Thế Tôn chỉ ra “thiện nam tử Godhika đã nhập diệt, với thức không an trú ở đâu cả”. Tức là bậc Thánh nhân không có dấu vết, không có vết tích, không có dấu vết thì không khổ, là đã thoát ra khỏi tham, sân si, vô minh, bản ngã, khát ái, ngũ uẩn. Vì nếu còn thì sẽ đi tìm nơi nào đó để thọ sanh, còn đây là đã tịch tịnh hoàn toàn, đoạn tận sanh y, không còn chỗ dựa của tái sanh.
Ví dụ như đối với các thầy, các cô hay các Phật tử ở đây, giả sử mình biết chiều nay mình chết thì muốn gặp ai? Muốn làm gì? Hay là mình muốn gặp nhiều người trước khi chết? Chính ở chỗ người mình muốn gặp, món đồ mình muốn xem qua thì đó chính là sợi dây tái sanh.
Còn đối với ngài Godhika là hoàn toàn tịch tịnh, một tâm lắng lặng, bất động, không còn dục nào, hay khao khát, thèm muốn, kiếm tìm ai nữa, nhàm chán, xa lìa, từ bỏ, thoát ly. Đó là tâm của bậc Thánh. Vì vậy nên Ác ma không tìm được, cứ bay tứ phía, vì thường thì khi người chết thì tâm thức đi, đi tìm những dục, ái, tham, sanh y, nhưng giờ Ác ma lại tìm hoài không thấy. Vì đã đạt đến nhàm chán, viễn ly, ly tham, đoạn tận, từ bỏ, chấm dứt ngũ uẩn, không còn đi tìm ở đâu nữa, tâm đã hoàn toàn tịch tịnh, vắng lặng, nơi tối thắng, tối thượng là ở đó, đó là Niết-bàn.
“20) Rồi Ác ma tay cầm đờn thất huyền cầm màu vàng, đi đến Thế Tôn, sau khi đến nói lên bài kệ:
Trên, dưới và bề ngang,
Bốn phương, các phương giữa,
Ta tìm, nhưng không gặp,
Godhika đi đâu.
(Thế Tôn):
21) Vị Anh hùng kiên chí,
Thường Thiền lạc, Thiền tư,
Ngày đêm đầy nhiệt tình,
Nhưng sự sống, không tham,
Chiến thắng quân thần chết,
Tái sanh không đi đến,
Chinh phục ái, ái căn,
Godhika nhập diệt.
22) Còn kẻ bị sầu muộn,
Từ nách rơi huyền cầm,
Dạ-xoa bị thất vọng,
Liền biến mất tại chỗ.”
(Bài kinh Godhika, I. Phẩm Thứ Ba – Chương IV. Tương Ưng Ác Ma – Tương Ưng Bộ Kinh)
Tức Đức Phật đã khen Godhika là bậc “Anh hùng kiên chí. Thường Thiền lạc, Thiền tư” là Ngài ấy luôn luôn ở trong sự an tịnh của thiền, trong sự suy tư thiền quán, quán chiếu, một là tâm yên định, thiền quán, chỉ quán chiếu, định huệ. Nhưng “Ngày đêm đầy nhiệt tình, Nhưng sự sống, không tham,” là dù cho ban ngày hay ban đêm cũng nhiệt tâm tinh cần, chánh niệm tỉnh giác, ở trong thiền lạc, thiền tư, thiền định, thiền huệ, thiền chỉ, thiền quán. Ngày đêm đều nhiệt tình thực hành nhưng lại không tham sự sống, không tham có đời tiếp theo, cũng không mong muốn tái sanh, không ưa thích dòng sanh tử luân hồi mà lại nhàm chán, xa lìa, từ bỏ, thoát ra, nên “Chiến thắng quân thần chết, Tái sanh không đi đến, Chinh phục ái, ái căn, Godhika nhập diệt.”. Ái và ái căn, ái là sắc ái, thanh ái, hương ái, vị ái, xúc ái, thọ ái, tưởng ái, thức ái, ái tham, ái sân, ái si, ái vô minh, ái bản ngã.
Chúng ta có ái không? Một khi hất mặt, vênh váo thì có cảm thấy thích không? Dù là giận nhưng cũng thấy thích? Nên mình đừng nghĩ chỉ có tham mới ái mà sân cũng ái, cũng có thích thú trong cảm giác đó. Dù bên trong phừng phực, sừng sộ, thiêu đốt như vậy nhưng vẫn thích. Giống như lúc uống rượu, uống vào thì bên trong không hề dễ chịu nhưng vẫn thích cảm giác đó.
Nên Ngài đã lấy thước đo của dục ái đối với năm dục trưởng dưỡng, đối với ngũ uẩn này, để xác định công phu tu tập của mình, trí tuệ thành tựu của mình.
“Còn kẻ bị sầu muộn” ý nói Ác ma nên buồn quá làm rơi cả cây đàn, “Từ nách rơi huyền cầm,” rồi Đức Phật gọi Ác ma là Dạ -xoa, “Dạ-xoa bị thất vọng, Liền biến mất tại chỗ.”
Đó là bài kinh về luồng khói đen bay tìm thức của Tỳ-kheo – bài kinh Godhika. Có nhiều bài kinh rất hay nhưng vì trước nay chúng ta cần tập trung vào trí tuệ nòng cốt, cốt lõi để mình thành tựu điều đó vững chắc rồi sau đó mình mới học những bài này. Vì nhiều khi học thì mình lại thấy thích thú với câu chuyện đó rồi lại quên trọng điểm nên từ trước nay, ba năm nay là học phần lõi rồi dần dần mình sẽ mở rộng ra và thấy rất hay.