Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Ý nghĩa Phật thành đạo 2 - Tam Minh - 3 loại thần thông

2026-03-03 00:54:12
Kinh Nikāya Giảng Giải

Ý NGHĨA PHẬT THÀNH ĐẠO 2

TAM MINH – BA LOẠI THẦN THÔNG

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I.Chứng Tam Minh PAGEREF _Toc138922582 \h 1

II.Ý nghĩa Phật thành đạo PAGEREF _Toc138922583 \h 2

III.Quán chiếu Khổ Thánh Trí PAGEREF _Toc138922584 \h 5

IV.Dấn thân Phật giáo PAGEREF _Toc138922585 \h 12

V.Bài kinh Sangàrava PAGEREF _Toc138922586 \h 16

1.Phật đã thể nhập, ai thực hành theo đạo lộ này cũng sẽ thể nhập PAGEREF _Toc138922587 \h 17

2.Ba loại thần thông PAGEREF _Toc138922588 \h 20

Chứng Tam Minh

Chúng ta thường hay nghe Phật có Tam Minh, Tứ Trí, Ngũ Nhãn, Lục Thông. Minh Thành đã chia sẻ Tam Minh, Tứ Trí. Còn Ngũ Nhãn trong kinh Nikāya là thiên nhãn, pháp nhãn, tuệ nhãn, Thánh nhãn và Phật nhãn. Lục Thông bao gồm cả Tam Minh, gồm có: Thiên Nhãn Thông, Thiên Nhĩ Thông, Tha Tâm Thông, Thần Túc Thông, Túc Mạng Thông, Lậu Tận Thông. Tức là: mắt nhìn thấy không có chướng ngại (Thiên Nhãn Thông); lỗ tai nghe không có chướng ngại (Thiên Nhĩ Thông); bước chân đi không có chướng ngại (Thần Túc Thông); tâm không có chướng ngại, đọc được tâm nguyện của chúng sanh (Tha Tâm Thông). Như vậy, bốn loại thần thông đầu thuộc về mắt, tai, chân và tâm; hai loại thông sau sâu sắc hơn, Minh Thành xin phép được chia sẻ trong phần Tam Minh.

Túc mạng minh

Trong kinh Sợ Hãi và Khiếp Đảm, Trung Bộ Kinh có nhắc đến canh đầu tiên, Bồ Tát Tất Đạt Đa trú vào trong Tứ thiền, hướng tâm xem những đời sống trước của mình như thế nào. Ngài thấy được một đời, năm đời, mười đời, trăm đời, nghìn đời, nhiều trăm nghìn đời… cho đến thành kiếp, hoại kiếp. Ngài thấy được Ngài sanh ra ở đâu, lớn lên làm sao, sanh ra trong gia đình thế nào, thuộc dòng họ giai cấp nào, trải qua những buồn vui ra sao… từ đại cương và chi tiết Ngài đều thấy rõ. Ngài chứng Túc Mạng Minh.

Sanh tử Minh

Canh thứ hai, Ngài hướng tâm về chúng sanh và thấy rõ rằng, người hèn hạ hay kẻ cao sang, xấu xí hay đẹp đẽ, bất hạnh hay may mắn… tất cả đều do hạnh nghiệp của họ. Ngài thấy được đời sống của các chúng sanh khác trong vô lượng vô số thành kiếp hoại kiếp những lần trái đất được hình thành, những lần địa cầu được thiết lập, hoại diệt và tan rã. Ngài chứng Sanh Tử Minh.

Lậu Tận Minh

Khi thấy rõ như vậy, Ngài mới thật sự thấu rõ sự đau khổ của luân hồi. Ngài xem vô lượng tập phim của đời sống chính mình và đời sống chúng sanh. Đời kiếp nào sanh ra cũng bắt đầu bằng tiếng khóc oa oa, rồi tàn hơi cũng trong nước mắt và khổ sầu, chưa kể những dòng lệ vì cha chết, mẹ chết, ông chết, bà chết, anh chết, chị chết, cháu chết, vợ chết, chồng chết, con chết… Ngài đã thấu suốt và xem vô số vô lượng những vở tuồng do Ngũ Uẩn , trăm ngàn vạn những bộ phim bi hài của chính tự thân Ngài và chúng sanh. Những cảnh sát sanh, tà dâm, trộm cắp, đầu rơi máu đổ, bị giam, bị cầm, bị hãm, bị hiếp, bị đâm chém, lừa đảo, lừa gạt, hãm hại ra sao… đều được Ngài xem lại như từng tập phim, từng vở tuồng của chính tự thân mình và chúng sanh.

Hôm qua, Minh Thành nhận được tấm hình đám cưới của Phật tử gởi từ nước ngoài về và nói rằng: “Con nhìn kĩ không thấy được niềm vui gì trong đó, tuy con được trang điểm, mặc đồ đẹp để làm đám cưới cho con cái nhưng trong lòng con đau khổ vô cùng tận. Gia đình con đứng bên bờ vực tan vỡ, có thể con không sống nổi nếu con không được gặp dòng pháp này”. Khi được nghe bài Khổ Thánh Trí thì vị ấy nước mắt giàn giụa, thấm thía, thấm đẫm, thấm đượm những nỗi khổ niềm đau của chính mình, của chồng, của con và cả những người thân xung quanh. Đó là một người bình thường nghe pháp mà đã cảm nhận được như thế. Huống hồ chi bậc trí tuệ Chánh Đẳng Chánh Giác khi nhìn lại hết dòng diễn biến trăm kiếp, ngàn kiếp, nhiều trăm ngàn kiếp… cho đến thành kiếp, hoại kiếp bao la vô cùng tận đã xảy ra như thế nào thì Ngài còn giác ngộ đến mức độ nào, thật sự chúng ta không tưởng tượng nổi. Vì vậy, Ngài mới thốt lên rằng: “Đây là khổ” và chứng Lậu Tận Minh trong canh thứ ba.

Ý nghĩa Phật thành đạo

Giây phút Bồ Tát Tất Đạt Đa chứng ngộ về Khổ Thánh Trí viên mãn là giây phút đất trời rung chuyển, địa cầu chấn động. Sự thấy biết về khổ của Ngài là tột cùng, viên mãn, đầy đủ tất cả phương diện, khía cạnh, góc độ của sắc, thọ, tưởng, hành, thức; của sáu căn, sáu trần, sáu thức, sáu xúc, sáu ái, sáu thọ, sáu tưởng, sáu tư, sáu tầm, sáu tứ. Trong tất cả mọi ngóc ngách của đời sống này Ngài đều nhìn thấy được bản chất biến hoại, khổ đau, bất an, tai họa, đầy những dục vọng, sân hận, sân si, vô minh, bản ngã và Ngài thốt lên “Đây là khổ”.

Chúng ta phải thấm thía ba chữ “Đây là khổ” như tương, như chao, ngấm vào da, đi vào trong thịt, trong xương, rồi ngấm vào tủy, đưa vào tận não của mình. Hãy nhìn bằng cái cặp mắt Khổ Thánh Trí đối với tất cả những hiện tượng trên đời sống này. Nói cười một chút lại trở thành gây lộn, vui chơi một chút rồi ưu tư. Hát ở đây rồi khóc ở đây. Tung hô ở đây rồi đánh, đấu đá, giành giật ở đây. Yêu thương ở đây, rồi thù hận ở đây. Hãy nhìn ra cho được tất cả những điều này. Đó là giải thích cho hai chữ vô thường.

Vô thường không đơn giản là một cái cây con mọc ra rồi lớn lên, thay đổi. Mà vô thường còn là sự biến hoại của các pháp. Tất cả những gì khả ý, khả hỷ, khả lạc, khả ái, yêu thương từ vật chất cho đến người thân thương và chính tự thể, hình hài này… rồi cũng sẽ biến hoại, tan nát, hủy hoại, tiêu tan, hoạt diệt. Tất cả những gì mình yêu quý, trân trọng nhất rồi cũng đổ vỡ, tan tành, hủy hoại, diệt vong, tan nát, bại hoại, sụp đổ, rã rời. Đây là chỉ mới nói về vô thường của sắc uẩn. Ngoài ra, còn biết bao những thứ ác dục vọng, hận thù, máu lửa, bao nhiêu những thứ hãm hại, ác độc, thâm độc… ở trong sắc, thọ, tưởng, hành, thức này.

Khi nhìn thấy vô lượng những vở tuồng, những tập phim về cuộc đời của Ngài và tất cả chúng sanh, Ngài thốt lên: “Đây là khổ”, chứng nhập trí tuệ về Khổ Thánh Đế một cách đại viên mãn. Đương nhiên, khi thấy được khổ, Ngài thấy được nguyên nhân của khổ, thấy được đạo lộ diệt khổ. Ngài thành tựu bốn Thánh trí về Ngũ Uẩn, thành tựu Tứ Thánh Đế, bốn sự thật của thế gian, bốn sự thật của cuộc đời, bốn sự thật của khổ đau, bốn sự thật của phiền não, sầu bi, bất an, tai họa, bốn sự thật của nhân sinh và vũ trụ này. Ngài chứng nhập một cách viên mãn, trọn vẹn, rốt ráo, cùng tột, đầy đủ hết tất cả mọi phương diện, khía cạnh, góc độ.

Trong mắt, tay, mũi, lưỡi, thân, ý này Ngài thấy khổ. Trong sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp này Ngài thấy khổ. Vì chúng có thể nuôi lớn dục vọng, tăng trưởng những ham muốn, những đòi hỏi, những thèm khát. Trong những cái thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc, biết này Ngài thấy khổ. Một khi rõ biết những thứ đó thì sanh ra tham, sân, si, dục vọng. Ngài thấy sau sự tiếp xúc là khổ. Sau sự tiếp xúc này sanh ra những cảm thọ là khổ. Những cảm thọ sai khiến, trói buộc, làm mình chìm đắm, bốc lửa, bốc cháy, làm cho mình quờ quạng, si mê, u mê, vô minh là khổ. Những hình bóng, những suy nghĩ – sáu tưởng, sáu tư; những sự hướng tâm sáu tầm, sáu tứ là khổ.

Ba chữ “Đây là Khổ” này là sự chứng nhập trí tuệ về khổ trong tất cả những phương diện, khía cảnh của sáu căn, sáu trần, sáu thức, sáu xúc, sáu ái, sáu thọ, sáu tưởng, sáu tư, sáu tầm, sáu tứ, sáu ái. Ngài viên mãn trí tuệ về Khổ Thánh Trí và lúc đó, Bồ tát thành tựu Vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Đối với tất cả căn, trần, thức, xứ, giới, uẩn, tứ đại, ngũ uẩn, lục trần, Ngài không còn một chút nào tham ái, dính mắc, ràng buộc, trói cột nào; không còn bất cứ một chút gì Ngài cho là mình, là của mình nữa. Tất cả lòng tham ái đều được dập tắt một cách hoàn toàn, triệt để, nguội lạnh, giá băng. Ngài thấy rõ ràng đạo lộ đưa đến sự chấm dứt khổ là Phương pháp Tám Đúng của bậc Thánh.

Giây phút Đức Phật thành đạo cả đất trời rúng động, cả địa cầu chấn động, mặt đất rung chuyển. Tất cả chư Thiên hân hoan, reo hò lên và báo lên các tầng trời rằng Bồ Tát Tất Đạt Đa Cồ Đàm đã thành bậc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Chư thiên ca ngợi, tấu nhạc, ba mươi ba tầng trời từ Dục Giới đến Sắc giới, Sắc cứu cánh rung chuyển, tất cả đều hò vang: Đức Bồ Tát đã trở thành bậc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác rồi! Ba ngàn đại thiên thế giới đều chấn động vì một chúng sanh tối tôn, tối thượng, tối cao, không gì có thể sánh bằng, không ai có thể ngang bằng, không người nào có thể chung cùng, một bậc tối thượng giữa Chư Thiên và loài Người đã xuất hiện ở thế gian. Ý nghĩa giây phút Đức Phật thành đạo không đơn giản mà hiểu được.

Ngài nhìn thấy được vô lượng, vô số những đời kiếp đều ở trong nước mắt. Dù được vui cười đôi chút thì sau đó cũng ở trong sầu bi, nước mắt với bao nhiêu những bệnh tật và tai họa. Thế Tôn có nói với các thầy Tỳ-kheo trong kinh Tương Ưng Vô Thỉ, bài kinh Khoảng Ba Mươi rằng: dòng máu tuôn chảy do đầu bị thương tích khi các Ông làm đạo tặc, ăn cướp đường bị bắt trong thời gian dài… bị người ta đánh đập vì ăn trộm, vì tà dâm, vì ngoại tình nhiều hơn nước trong bốn biển lớn. Trong nhiều trăm ngàn năm các ông đã bị thống khổ, bị đau khổ, đã bị tai họa và hành hạ… Đức Thế Tôn thấy được tất cả khía cạnh của đau khổ một cách viên mãn, cùng tột. Còn chúng ta, lúc bình thường thì không thấy được khổ; chỉ khi bị bệnh, bị tai nạn giao thông hoặc gần chết thì mới thấy khổ. Mà không biết rằng cái khổ nằm trong thân này, trong những cảm giác, nghĩ, tưởng, nhận thức này.

Đức Thế Tôn nói rằng, một người chân chánh khi nói về Ngài sẽ nói như sau: “Là vị hữu tình không có si ám, sinh ra ở đời vì hạnh phúc cho muôn loài, vì an lạc cho muôn loài, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài Trời và loài Người".

(Kinh Trung Bộ I, 4. Kinh Sợ Hãi và Khiếp Đảm)

Sự chứng ngộ của Đức Phật vĩ đại vô cùng. Ngay cả một vị xuất gia ở suốt đời trong chùa đến khi chết chưa chắc gì được nghe Ba Minh diễn ra như thế nào; Đức Phật chứng nhập Tứ Thiền và thành tựu Bốn Thánh Trí ra sao. Việc có thể nghe được và hiểu được những lời kinh này vốn là chuyện hi hữu, hiếm có trên cuộc đời này. Nhiều khi mình tu tới khi chết đi cũng còn chưa được nghe qua không biết Đức Phật chứng ngộ cái gì? Thành đạo và chứng đắc những gì? Thành Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác là thành cái gì? Trạng thái lúc ấy diễn ra như thế nào? Chỉ khi đọc được bài kinh Sợ Hãi và Khiếp Đảm, chúng ta mới được nghe Đức Phật thuật lại, kể lại, trình bày lại, diễn tả lại những điều đó.

Quán chiếu Khổ Thánh Trí

Còn chúng ta chỉ có thể nhớ lại man mán hồi nhỏ mình ra sao, những chuyện gì làm cho thân tâm đau khổ, khiến mình khóc. Rất nhiều người đã kể lại cuộc đời của mình trong nước mắt, tuy nhiên, đây chỉ mới là một kiếp, một đời thôi. Dù không nhớ được tất cả mọi việc, thế mà chúng ta đã kể lại trong nước mắt. Còn Đức Phật đã thấy hàng trăm nghìn đời thành kiếp rồi hoại kiếp thì chúng ta nghĩ nỗi khổ đó Ngài đã thấm thía đến mức nào! Ba chữ Ngài đã thốt ra “Đây là khổ” được hình thành từ những huyết lệ, từ xương, từ tủy, từ máu, là cả một Thánh Trí tột cùng và vô thượng:

“Đây là khổ, khổ là đây

Thánh chuông vang vọng trời mây muôn loài.

Cái gì sanh, phải diệt thôi

Cái gì hiện hữu cũng rồi tiêu tan.”

(Giải thoát trí – Cửa vào bất tử)

Đây là những lời Thánh ngữ, lời của Đức Phật, của bậc Thánh, khi nghe phải cố gắng thọ nhận và thấm thía đến tận tim gan trước nỗi khổ của mình, của những người xung quanh và hữu tình chúng sanh muôn loài. Chỉ khi thật sự thấm thía cái khổ thì tâm từ trong ta mới phát triển, mới rộng lớn, mới quảng đại, mới vô lượng, vô biên khi Trải Tâm Từ. Còn chưa thấy được cái khổ thì tâm mình rất nhỏ hẹp, nhỏ mọn, nhỏ nhặt, nhỏ nhứt, nhỏ nhoi, nhỏ bé. Khi nào thấy cái khổ thì lúc đó ta mới cảm thông, đồng cảm được với chính mình và những hữu tình chúng sanh một cách sâu sắc.

Chính vì vậy, khi thấy được Khổ Thánh Trí thì mình mới tu được. Vì khi đó bản ngã mới cúi đầu, cái tham mới bớt xuống, cái sân dần được dập tắt, cái si dần được tan biến và vô minh bị rơi rụng. Thấm khổ càng sâu chừng nào thì trí tuệ càng sáng bừng, càng tỏ rõ thêm chừng ấy. Chúng ta vô minh đến mức mình đang mang cái thân này là một đống khổ chình ình mà lại không thấy, không biết. Một đống khổ mấy chục kí đang ngồi đây, lo cho nó ăn, ỉa, đái, mặc, ở. Đói chút là nó khó chịu, khát chút là nó bực bội, không vừa lòng chút là nó sân si lên. Chưa kể đến những tham, sân, si, dục, ái, những thèm khát, khao khát đòi hỏi, những sai khiến đang trói cột ở bên trong tâm. Chúng sai xử, sai khiến, hành hạ và đay nghiến mình. Tất cả là một đống khổ to lớn, Đức Phật gọi là Đại Khổ Uẩn. Chúng ta phải thường xuyên nghe và đọc lại Tiểu Kinh Khổ Uẩn, Đại Kinh Khổ Uẩn cho thật kĩ.

Ngoài đời, con người phải đi làm đủ thứ nghề để mưu sinh. Có người chui xuống giếng, ống cống hôi thối bẩn thỉu rồi không may mắc kẹt và chết ở dưới đấy. Có người đi làm thuê vác mướn, đi chạy xe ôm mà lại bị giết và giật lấy cái xe. Có người bị mù, đi bán vé số mà còn bị bọn gian ác lừa gạt, giật vé số. Có những cụ già bảy tám chục tuổi bán trái cây ngoài vỉa hè, con cũng bảy tám đứa không đứa nào nuôi… Đó không phải là chuyện của người khác, mà chính ta đã trải qua vô số lần chịu đựng những nỗi đau khổ, bất an trong vô lượng thành kiếp hoại kiếp. Vì vậy, mỗi khi bị mắng chửi thì mình đừng nhớ người mắng chửi mình hay lời họ mắng chửi, mà nhớ rằng sự mắng chửi này mình đã chịu đựng những sự sỉ nhục này ngàn tỉ lần rồi, vô lượng tỉ lần, chứ không phải mới chịu đựng đây thôi. Cho nên, không có gì để sân giận, mà hãy quán khổ để thoát ra, tới đây là vừa đủ để nhàm chán.

Khi quán chiếu như vậy là chúng ta đang được thưởng thức Sanh Tử Trí, Túc Mạng Minh, được thừa hưởng một phần nào trí tuệ của Đức Phật; còn không biết quán chiếu thì mình và lời dạy của Đức Phật không có liên quan gì đến nhau. Chỉ khi quán chiếu được sự thật Đức Phật đã để lại thì mình mới thật sự được sống trong Thánh trí của Đức Phật.

Trong Tương Ưng Vô Thỉ, Đức Phật có dạy, dòng nước mắt chúng ta đã tuôn chảy, than van, khóc lóc khi rơi vào cảnh chia lìa với những gì yêu thích, gặp gỡ những gì không ưa, khóc than cho sự trôi nổi, chìm đắm trong dòng sống chết này nhiều hơn nước trong bốn biển.

Trong một thời gian dài, này các Tỷ-kheo, các Ông chịu đựng mẹ chết.

... các Ông chịu đựng con chết. ..

... các Ông chịu đựng con gái chết...

... các Ông chịu đựng tai họa về bà con...

... các Ông chịu đựng tai họa về tiền của...

Trong một thời gian dài, này các Tỷ-kheo, các Ông chịu đựng tai họa của bệnh tật. Cái này là nhiều hơn, này các Tỷ-kheo, tức là dòng nước mắt tuôn chảy do các Ông than van, khóc lóc, phải hội ngộ với những gì không ưa, phải biệt ly với
những gì mình thích, khi các Ông phải lưu chuyển luân hồi trong thời gian dài này chớ không phải nước trong bốn biển lớn.

(Tương Ưng Bộ Kinh II, Chương IV Tương ưng vô thỉ, Phẩm thứ nhất, bài kinh Nước mắt)

Không phải mình mới bị ung thư đây, mà mình đã bị ung thư trăm nghìn lần, vô số lần. Không phải mình mới bị mù đây, mà mình đã nếm trải cảm giác mù lòa từ ngàn vạn kiếp. Không phải mình mới rơi vào cảnh gia đình phân li trong kiếp này, mà mình đã trải qua điều này vô lượng, vô số những lần như vậy. Không phải mình mới sanh ra với tấm thân yếu ớt bệnh hoạn, mất mát người thân, tai nạn giao thông trong kiếp này, mà mình đã mang vác tấm thân này một cách mệt mỏi, nhọc nhằn, đau đớn, khổ cực muôn vạn lần. Cũng không phải mình mới bị sạt nghiệp, tán gia bại sản, làm ăn thất bại, đau khổ trong tình yêu vì bị người yêu vứt bỏ, quay lưng, đổi thay… trong đời này thôi, mà mình đã bị như vậy vô số, vô lượng lần. Không phải mình đã khao khát, thèm thuồng dục ái trong đời này thôi, mà mình đã thèm thuồng, khao khát như thế trgn vô lượng kiếp rồi. Mình cũng không phải chỉ mới mất cha, mất mẹ, mất ông, mất bà trong đời này, mà mình đã từng khóc lóc, đau khổ như vậy hàng tỷ lần trong dòng luân hồi này.

Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỷ-kheo. Khởi điểm không thể nêu rõ đối với sự lưu chuyển luân hồi của các chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc.

Này các Tỷ-kheo, khi các Ông thấy sự khốn cùng, bất hạnh, các Ông phải đi đến kết luận: " Chúng ta chịu đựng như vậy trong thời gian dài này".

(Tương Ưng Bộ Kinh II, Chương IV Tương ưng vô thỉ, Phẩm thứ hai, bài kinh Khốn cùng)

Tác ý như vậy là chúng ta đang vận dụng Túc Mạng Minh của Đức Phật vào sự tu tập. Những gì Đức Phật đã chứng ngộ, những thành quả, thành tựu trí tuệ ấy như tài sản của bậc Thánh để lại cho chúng ta, mình phải nỗ lực, học tập, thông hiểu và vận dụng vào trong pháp học, pháp hành. Phải thấy thân này là một đống khổ to lớn đang ngồi, đó gọi là đại khổ uẩn. Bên ngoài là khổ, bên trong cũng chất chứa những khổ đau và đống khổ này ngày đêm luôn di động. Cần quán chiếu một cách sâu sắc trí tuệ về khổ, chứ đừng nhìn cái khổ này một cách đơn giản, hời hợt, cạn cợt.

---

Bài kinh Vajirà, Tương Ưng Tỷ Kheo Ni có ghi lại, một lần, giữa rừng sâu yên lặng, Ác Ma muốn làm cho Tỷ-kheo-ni Vajirà run sợ, từ bỏ thiền định nên Ác Ma cất tiếng nói:

Do ai, hữu tình này,

Được sanh, được tạo tác?

Người tạo hữu tình này,

Hiện nay ở tại đâu?

Từ đâu hữu tình sanh?

Đi đâu hữu tình diệt?

Rồi Tỷ-kheo-ni Vajirà suy nghĩ: "Ai đã nói lên bài kệ này? Người hay không phải người?"

Rồi Tỷ-kheo-ni Vajirà lại suy nghĩ: "Chính là Ác ma muốn làm ta run sợ, hoảng sợ, lông tóc dựng ngược, muốn khiến ta từ bỏ Thiền định, nên đã nói lên bài kệ này".

Rồi Tỷ-kheo-ni Vajirà biết được: "Ðây là Ác ma", liền trả lời Ác ma với bài kệ:

Sao Ông lại nói hoài,

Ðến hai chữ chúng sanh?

Phải chăng, này Ác ma,

Ông rơi vào tà kiến?

Ðây quy tụ các hành,

Chúng sanh được hình thành,

Như bộ phận quy tụ,

Tên xe được nói lên.

Cũng vậy, uẩn quy tụ,

Thông tục gọi chúng sanh.

Chỉ có khổ được sanh,

Khổ tồn tại, khổ diệt,

Ngoài khổ, không gì sanh,

Ngoài khổ không gì diệt.

 Rồi Ác ma biết được: "Tỷ-kheo-ni Vajirà đã biết ta", nên buồn khổ, thất vọng, liền biến mất tại chỗ ấy.

(Tương Ưng Bộ Kinh I, Chương V. Tương Ưng Tỷ Kheo Ni, bài kinh Vajirà)

Đây là lời của bậc Thánh Đức, Tỷ-kheo-ni thời Đức Phật: “Chỉ có khổ được sanh, Khổ tồn tại, khổ diệt, Ngoài khổ, không gì sanh, khổ không gì diệt”. Thế nên Thế Tôn mới gọi đây là Khổ uẩn – là một sự nhóm họp của các khổ, tích tụ tạo nên thân tâm này. Một khi thấy rõ các uẩn, thấy được khổ thì làm gì còn sự kiêu căng, ngạo mạn, hống hách, kênh kiệu, vênh váo, tự cao tự đại được. Chỉ có kẻ vô văn phàm phu ngu si, mê muội, đầy rẫy những thân kiến, tà kiến thì mới như vậy. Còn đối với bậc đa văn Thánh đệ tử thì thấy được sự tập hợp của khổ mới tạo thành thân tâm này thì làm gì còn sự kiêu căng, hống hách, vênh váo, ta đây, khen mình, chê người, cống cao, ngã mạn, dương dương tự đắc? Chỉ có kẻ ngu si, mù lòa mới sống như vậy. Các bậc có trí, có mắt, bậc nhãn sanh, minh sanh, trí sanh, bậc đã kiến đế, kiến đạo, bậc đã thành tựu Chánh tri kiến, đã biết và đã thấy thì tự luôn biết khiêm hạ, khiêm cung, khiêm nhường, khiêm tốn. Cho nên, bốn câu này thường được các bậc Thánh nhân nhắc đến vì các Ngài đã thấy được khổ: chỉ có khổ được sanh, khổ tồn tại khổ diệt, ngoài khổ không gì sanh, ngoài khổ không gì diệt

Khi ta oa oa oa cất tiếng khóc chào đời thì khổ được sanh ra. Một chuỗi dài từ tiếng oa oa đó đến lúc mình nằm trên giường bệnh thoi thóp là khổ tồn tại. Đến lúc tàn hơi rồi khổ vẫn chưa được diệt hết, khổ diệt là chỉ có bậc Thánh mới đạt đến. Còn chúng sanh vẫn sẽ tiếp tục khổ đau dưới một hình thức khác, vì thọ, tưởng, hành, thức vẫn còn đó, chỉ riêng sắc pháp tại thời điểm đó bị biến hoại và lại đi tìm thân khác.

Một bậc tu hành chân chánh, Đức Phật nói là người đó phải phá được thân kiến – phá kiến chấp về thân này. Đây là gốc của tất cả các khổ. Một khi thân kiến được phá thì các pháp khác sẽ từ từ đi đến sự diệt tận, sụp đổ; giống như nhà sàn, khi bị chặt các gốc cột bên dưới thì tất cả mái, vách, trui, mè của căn nhà đều đổ xuống. Cũng vậy, kiến chấp về thân, sự nhìn nhận sai lạc, lầm lạc chính là gốc rễ để cho tất cả các pháp phiền não, các lậu hoặc được y cứ, nương dựa, hướng dẫn, được hình hành. Một khi chúng ta phá vỡ thân kiến này thì như chặt những cây cột bên dưới nhà sàn và cả căn nhà đổ sập xuống, chỉ còn chờ thời gian cho nó mục rã ra thôi. Khi chúng ta nghe pháp, thiền quán hàng ngày, chính là chúng ta đang đi dần đến chỗ diệt tận thân kiến, mỗi ngày ra sức đào bớt, bứng đi gốc rễ của đau khổ. Cho nên, Thánh ngữ của bậc Tỳ-kheo-ni đã tuyên bổ chỉ có khổ sanh, khổ tồn tại, khổ diệt, ngoài ra không có gì sanh, không có gì diệt.

Khi cái thân này bị diệt tận sẽ kéo theo các uẩn khác cũng dần dần hoại diệt và cái khổ cũng được diệt tận hoàn toàn, khi đó thì còn gì hạnh phúc cho bằng! Cho nên, các bậc Thánh khi chứng đắc đều tuyên bố: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không trở lui trạng thái này nữa”. “Trạng thái này” là trạng thái khổ, “việc cần làm đã làm” nghĩa là đoạn tận được nguyên nhân của khổ, đoạn tận tham, đoạn tận si, đoạn tận sân, đoạn tận vô minh, khát ái, bản ngã. Khi đã làm xong rồi, cái nhân đã được diệt thì cái quả cũng sẽ chấm dứt, vì vậy, không còn trở lui trạng thái này, khổ không còn sanh nữa. Muốn thành tựu được như vậy phải thật mạnh mẽ để phấn đấu.

Dấn thân Phật giáo

Để khuyến tấn đạo tràng mạnh mẽ tu học, Minh Thành chia sẻ bài kinh sau:

Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn ở Sāvatthi. Ở đấy, Thế Tôn gọi các vị Tỷ-kheo:

-- Này các Tỷ-kheo.

-- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:

-- Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, có vị vua tên là Arunavā. Này các Tỷ-kheo, kinh đô vua Arunavā và này tên là Arunàvati. Này các Tỷ-kheo, gần kinh đô Arunàvati, Thế Tôn Sikhī bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Chánh Giác an trú. Này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Sikhī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác có hai vị đệ tử xuất chúng, thượng túc, tên là Abhibhu và Sambhava. Rồi này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Sikhī bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác gọi Tỷ-kheo Abhibhu:

" -- Này Bà-la-môn, chúng ta hãy đi đến một Phạm thiên giới cho đến thời dùng bữa ăn".

"-- Thưa vâng, bạch Thế Tôn."

Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo Abhibhu vâng đáp Thế Tôn Sikhī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Chánh Giác. Rồi này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Sikhī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Chánh Giác và Tỷ-kheo Abhibhu, như nhà lực sĩ duỗi cánh tay đang co lại, hay co lại cánh tay đang duỗi ra, cũng vậy (hai vị) biến mất ở kinh đô Arunàvati và hiện ra ở Phạm thiên giới ấy. Rồi này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Sikhī, bậc A-la-hán Chánh Đẳng Chánh Giác bảo Tỷ-kheo Abhibhu:

" -- Này Bà-la-môn, hãy nói bài pháp cho Phạm thiên này, cho Phạm phụ thiên và cho Phạm chúng thiên ".

"-- Thưa vâng, bạch Thế Tôn."

Tỷ-kheo Abhibhu vâng đáp Thế Tôn Sikhī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, tuyên thuyết bài pháp cho Phạm thiên ấy, cho Phạm phụ thiên và cho Phạm chúng thiên, khích lệ, làm họ phấn khởi, làm họ hoan hỷ. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Phạm thiên, Phạm phụ thiên và Phạm chúng thiên cảm thấy xúc phạm, bực bội, tức tối và nói rằng: " Thật là hy hữu, thật là vi diệu, làm sao một đệ tử lại thuyết pháp trước mặt bậc Đạo Sư? ".

Rồi này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Sikhī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác bảo Tỷ-kheo Abhibhu:

"-- Này Bà-la-môn, Phạm thiên, Phạm phụ thiên, và Phạm chúng thiên ấy cảm thấy xúc phạm, bực bội, tức tối, nói rằng: “Thật là hy hữu, thật là vi diệu, làm sao một đệ tử lại thuyết pháp trước mặt bậc Đạo Sư?”

Vậy này Bà-la-môn, hãy làm cho Phạm thiên, Phạm phụ thiên và Phạm chúng thiên càng dao động bội phần hơn nữa "

"-- Thưa vâng, bạch Thế Tôn ".

Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo Abhibhu vâng đáp Thế Tôn Sikhī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, hiện thân thuyết pháp, tàng thân thuyết pháp, hiện nửa thân dưới không hiện nửa thân trên thuyết pháp, hiện nửa thân trên không hiện nửa thân giữa thuyết pháp.

Ở đây, này các Tỷ-kheo, Phạm thiên, Phạm phụ thiên và Phạm chúng thiên, tâm khởi lên hy hữu, kỳ diệu nói rằng: " Thật là hy hữu, thật là kỳ diệu, đại thần lực và đại uy lực của vị Sa-môn ".

Rồi Tỷ-kheo Abhibhu bạch Thế Tôn Sikhī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác:

"-- Bạch Thế Tôn, con xác nhận với lời nói này giữa chúng Tỷ-kheo Tăng: "Đứng ở Phạm thiên giới, con có thể khiến cho ngàn thế giới nghe được tiếng của con."

"-- Này Bà-la-môn, nay là thời cho sự việc ấy. Này Bà-la-môn, nay là thời cho sự việc ấy. Này Bà-la-môn, Ông hãy đứng ở Phạm thiên giới và làm cho ngàn thế giới nghe được tiếng nói của ông ".

"-- Thưa vâng, bạch Thế Tôn"

Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo Abhibhu vâng đáp Thế Tôn Sikhī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, đứng ở Phạm thiên giới và nói lên bài kệ này:

Hãy đứng dậy, lên đường,

Hãy dấn thân Phật giáo,

Hãy đánh bại Ma quân,

Như voi phá chòi lá.

Ai trong pháp luật này,

An trú không phóng dật,

Đoạn tận vòng sống chết,

Sẽ chấm dứt khổ đau.

Này các Tỷ-kheo, rồi Thế Tôn Sikhī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác và Tỷ-kheo Abhibhu, sau khi làm cho Phạm thiên, Phạm phụ thiên và Phạm chúng thiên dao động, như người lực sĩ, ... biến mất ở Phạm thiên giới ấy và hiện ra ở Arunàvati.

Rồi này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Sikhī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác gọi các vị Tỷ-kheo:

"-- Này các Tỷ kheo, các Ông có nghe bài kệ do Tỷ-kheo Abhibhu đứng tại Phạm thiên giới, nói lên không? ".

"-- Bạch Thế Tôn, chúng con có nghe bài kệ do Tỷ-kheo Abhibhu đứng tại Phạm thiên giới đã nói lên."

"-- Này các Tỷ-kheo, như thế nào các ông nghe bài kệ do Tỷ-kheo Abhibhu đứng lên tại Phạm thiên giới đã nói lên? "

"-- Bạch Thế Tôn, chúng con nghe bài kệ do Tỷ-kheo Abhibhu đứng tại Phạm thiên giới đã nói lên như sau:

Hãy đứng dậy, lên đường,

Hãy dấn thân Phật giáo.

Hãy đánh bại Ma quân,

Như voi phá chòi lá.

Ai trong pháp luật này,

Ai trú không phóng dật,

Đoạn tận vòng sống chết,

Sẽ chấm dứt khổ đau.

Như vậy, bạch Thế Tôn, chúng con đã nghe bài kệ do Tỷ-kheo Abhibhu đứng tại Phạm thiên giới đã nói lên."

"-- Lành thay, lành thay, này các Tỷ-kheo. Lành thay, này các Tỷ-kheo! Các Ông đã được nghe bài kệ do Tỷ-kheo Abhibhu đứng tại Phạm thiên giới, đã nói lên ".

Thế Tôn đã nói như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy.

(Tương Ưng Bộ Kinh I, Chương VI. Tương Ưng Phạm Thiên, Phẩm Thứ Hai, bài kinh Arunàvati)

Minh Thành nói lên bài kinh này là để chúng ta biết rằng mình cần nỗ lực, phải dấn thân vào trong sự học pháp và hành pháp, không có buông lung phóng dật, có như vậy mới có thể chấm dứt khổ đau. Nếu ai chưa nhìn thấy khổ, cần nỗ lực cố gắng nỗ lực để thấy khổ. Nếu ai đã thấy khổ rồi thì cần cố gắng nỗ lực để thấy nhiều góc độ, những phương diện, nhiều khía cạnh hơn nữa để làm cho viên mãn Khổ Thánh Trí.

Không có thấy khổ thì mình sẽ khổ lắm. Ví như phía trước mặt mình là vực thẳm nhưng mình không thấy được mà cứ bước tới, sẽ rất nguy hiểm. Ví như trong bữa ăn có độc nhưng mình không biết, cứ ăn món đó thì sẽ bị trúng độc. Giống như trong căn nhà mình đang ở, vài khắc nữa sẽ có địa chấn, có động đất chôn vùi mọi thứ mà mình không biết thì mình sẽ gặp đại họa, đại nạn. Cho nên vô thường, khổ, vô ngã không phải là điều đơn giản chỉ nói trên miệng là được, mà chúng ta cần cảm nhận, cảm thọ một cách sâu sắc và thấm thía.

Khi chúng ta đang ngồi đây nghe pháp trong thời tiết lạnh giá thì có khổ không? Mỏi lưng quá thì có khổ không? Dục bên trong thúc giục, muốn được đi ra ngoài cho thoải mái, muốn ăn, muốn nằm mà giờ phải ngồi yên lặng như thế thì có khổ không? Nhưng chúng ta hãy cố gắng tác ý lại, chịu đựng và kham nhẫn để đi đến chỗ diệt khổ. Lưu ý, phải quán khổ đúng theo Thánh trí, nếu không sẽ lệch. Đây không phải cái khổ bi quan, dẫn tới nhàm chán, bỏ cuộc, không có nỗ lực, không muốn tu tập hay làm gì nữa. Mà quán khổ để giúp mình thể nhập, giúp mình nhàm chán thoát ra, mạnh mẽ vượt ra, không còn để tâm những vụn vặt, chấp nhặt, những hơn thua tầm thường, thấp hèn của phàm phu thế gian. Nhờ vậy, ta có thể vượt lên trên tầng không, vượt lên trên cao độ, vượt ta ngoài thiên không, vượt ra khỏi địa cầu, vũ trụ, thế gian này; vượt ra khỏi những tâm u ám, si mê này.

Bài kinh Sangàrava

Chúng ta sẽ tiếp tục tìm hiểu ba loại thần thông của Đức Phật qua bài kinh Sangàrava. Bài kinh này cũng giải thích chính xác câu “Ta là Phật đã thành, các ngươi là Phật sẽ thành”

Phật đã thể nhập, ai thực hành theo đạo lộ này cũng sẽ thể nhập

Rồi có Bà-la-môn Sangàrava đi đến Thế Tôn… Ngồi xuống một bên, Bà-la-môn Sangàrava bạch Thế Tôn:

- Thưa Tôn giả Gotama, chúng tôi làm lễ tế đàn và khuyên các người khác làm lễ tế đàn. Ở đây, thưa Tôn giả Gotama, ai làm lễ tế đàn và ai khuyên các người khác làm lễ tế đàn, tất cả đều thực hành con đường đưa đến công đức cho nhiều người, tức là kết quả của tế đàn.

- Thưa Tôn giả Gotama, ai xuất gia, từ bỏ gia tộc, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, chỉ nhiếp phục một tự ngã của mình, chỉ an tịnh một tự ngã của mình, chỉ làm cho một tự ngã chứng được Niết-bàn. Như vậy, người ấy thực hành con đường đưa đến công đức chỉ có một mình, tức là kết quả của sự xuất gia.

Bà-la-môn Sangàrava nói rằng, ai làm lễ tế đàn, tổ chức lễ hội, cúng kiến và khuyên được người khác làm lễ tế đàn, lúc lễ tế đàn tập trung được số lượng lớn người tham gia, sẽ lợi lạc công đức cho số đông. Còn người xuất gia chỉ nhiếp phục tự thân mình thì công đức chỉ cho một mình mình, vì tu một mình, an tịnh một mình thì chỉ chứng Niết-bàn cho riêng mình, cho nên, kết quả của sự xuất gia, công đức của sự xuất gia chỉ có một mình, không có lợi ích lớn.

- Vậy này Bà-la-môn, ở đây, Ta sẽ hỏi Ông. Ông kham nhẫn như thế nào, hãy như vậy trả lời. Ông nghĩ thế nào, này Bà-la-môn, ở đây, Thế Tôn xuất hiện ở đời, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Tdượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Vị ấy nói như sau: "Đây là con đường, đây là đạo lộ, nhờ thực hành con đường này, Ta đã thể nhập vô thượng Phạm hạnh, tự mình với thắng trí, chứng đạt, an trú và tuyên thuyết. Các Người hãy đến! Hãy như vậy thực hành! Các Người sẽ thể nhập vô thượng Phạm hạnh, tự mình với thắng trí, chứng đạt và an trú".

“Ta đã thể nhập, các vị thực hành như vậy cũng sẽ thể nhập với cái tâm bất động, giải thoát”, Đức Phật nói đi theo đạo lộ này Ngài đã thể nhập, những ai thực hành theo cũng sẽ thể nhập. Đây là câu kinh gốc trong tạng kinh Nikāya, còn sau này người ta cải biên lại thành câu “Ta là Phật đã thành, các ông là Phật sẽ thành”, tuy nhiên, câu sau này dùng từ “Phật sẽ thành” là không chính xác.

Như vậy, vị Đạo sư này thuyết pháp, và các người khác như thật hành trì. Số người như vậy là hàng trăm, hàng ngàn, hàng trăm ngàn. Ông nghĩ thế nào, này Bà-la-môn, sự việc là như vậy, thời con đường đưa đến công đức này là ảnh hưởng chỉ đến một người hay ảnh hưởng đến nhiều người, tức là kết quả của sự xuất gia?

Đức Phật xuất hiện ở đời chỉ ra đường lối tu hành rõ ràng, thiết thực, hiện tại, đầy đủ lợi ích, khi vị Đạo Sư này thuyết pháp, những người khác hành trì đúng theo lời dạy của Ngài, số lượng lên đến hàng trăm ngàn người thì kết quả của sự xuất gia có mang lại lợi ích lớn hay không? Khi nghe Đức Phật hỏi như vậy, vị Bà-la-môn này đã thay đổi quan điểm và lời nói:

- Sự việc này là như vậy, thưa Tôn giả Gotama, con đường đưa đến công đức này là ảnh hưởng đến nhiều người tức là kết quả của sự xuất gia.

---

Được nghe nói như vậy, Tôn giả Ànanda nói với Bà-la-môn Sangàrava:

- Trong hai con đường, này Bà-la-môn, con đường nào, Ông có thể kham nhẫn là giản dị hơn, ít khó chịu hơn, kết quả lớn hơn và lợi ích hơn?

Tôn giả Ànanda hỏi rằng giữa sự cúng tế và xuất tập tu tập thì con đường nào ít khó chịu hơn và mang lại kết quả lớn hơn?

Được nói như vậy, Bà-la-môn Sangàrava nói với Tôn giả Ànanda:

- Như Tôn giả Gotama và Tôn giả Ànanda, cả hai đối với tôi là đáng kính lễ và đáng tán thán.

Lần thứ hai, Tôn giả Ànanda nói với Bà-la-môn Sangàrava:

- Này Bà-la-môn, Ta không hỏi Ông như vậy:

"Những ai là đáng đảnh lễ, hay những ai là đáng tán thán?" Này Bà-la-môn, như thế này Ta hỏi Ông:

"Này Bà-la-môn, trong hai con đường này, con đường nào Ông có thể kham nhẫn là giản dị hơn, ít khó chịu hơn, kết quả lớn hơn, lợi ích lớn hơn?"

Lần thứ hai, Bà-la-môn Sangàrava nói với Tôn giả Ànanda:

- Như Tôn giả Gotama và Tôn giả Ànanda, cả hai đối với tôi là đáng đảnh lễ và đáng tán thán.

Vị Bà-la-môn đang lờ đi câu hỏi của Ngài Ànanda.

Lần thứ ba, Tôn giả Ànanda nói với Bà-la-môn Sangàrava:

- Này Bà-la-môn, Ta không hỏi Ông như vậy:

"Những ai là đáng kính lễ, hay những ai là đáng tán thán? "Này Bà-la-môn, như thế này Ta hỏi Ông:

"Này Bà-la-môn, trong hai con đường này, con đường nào Ông có thể kham nhẫn là giản dị hơn, ít khó chịu hơn, kết quả lớn hơn, lợi ích lớn hơn?"

Lần thứ ba, Bà-la-môn Sangàrava nói với Tôn giả Ànanda:

- Như Tôn giả Gotama và Tôn giả Ànanda, cả hai đối với tôi là đáng kính lễ và đáng tán thán.

Vị Bà-la-môn vẫn tránh né câu hỏi, chúng ta nên quán xét, thấy ít hiểu nhiều. Vị Bà-la-môn không muốn thừa nhận xuất gia có lợi tích lớn hơn Tế đàn của mình, thế nên dù Ngài Anan đã hỏi ba lần nhưng ông vẫn không chịu thừa nhận. Thấy thế, Đức Phật tìm cách giải tỏa.

Ba loại thần thông

Rồi Thế Tôn suy nghĩ như sau: "Cho đến lần thứ ba, Bà-la-môn Sangàrava, được hỏi một câu đúng pháp lại tránh né, không trả lời. Vậy Ta hãy giải tỏa việc này". Rồi Thế Tôn nói với Bà-la-môn Sangàrava:

- Này Bà-la-môn, câu chuyện gì đã khởi lên hôm nay trong cung điện Nhà Vua, khi hội chúng nhà vua ngồi tụ họp lại?

- Thưa Tôn giả Gotama, hôm nay, trong cung điện nhà vua, câu chuyện như sau đã khởi lên, khi hội chúng nhà vua ngồi tụ họp lại: "Thuở xưa, các Tỷ-kheo ít hơn, nhưng nhiều hơn là các pháp thượng nhân, các thần thông thần biến được thị hiện. Ngày nay, các Tỷ-kheo nhiều hơn, nhưng ít hơn là các pháp thượng nhân, các thần thông thần biến được thị hiện."

Thưa Tôn giả Gotama, đấy là câu chuyện đã khởi lên hôm nay trong cung điện nhà vua, khi hội chúng nhà vua ngồi tụ họp lại.

Bà-la-môn Sangàrava thuật lại rằng, hội chúng của nhà vua đang thảo luận với nhau rằng, ngày xưa tuy ít Tỷ-kheo nhưng có nhiều thần thông được thị thiện, còn nay thì nhiều Tỷ-kheo nhưng lại ít thần thông được thị hiện. Nghe vậy Đức Thế Tôn nói về ba loại thần thông:

Này Bà-la-môn, có ba loại thần thông. Thế nào là ba?

Thần thông biến hóa,

Thần thông ký thuyết,

Thần thông giáo hóa.

Và này Bà-la-môn, thế nào là thần thông biến hóa?

Ở đây, này Bà-la-môn, có người chứng được các loại thần thông, một thân hiện ra nhiều thân, nhiều thân hiện ra một thân, hiện hình, biến hình, đi ngang qua vách, qua tường, qua núi như đi ngang hư không, độn thổ, trồi lên ngang qua đất liền như ở trong nước, đi trên nước, không nứt rẽ ra như trên đất liền, ngồi kiết già, đi trên hư không như con chim, với bàn tay, chạm và rờ mặt trăng và mặt trời, những vật có đại oai lực, đại oai thần như vậy, có thể tự thân bay đến cõi Phạm Thiên.

Thần thông biến hóa nghĩa là một thân có thể hiện ra một ngàn thân, nhiều thân hiện lại thành một thân, thân đó có thể hiện ra hoặc biến mất. Người có thần thông này có thể đi ngang qua vách, qua tường, đi xuyên qua núi nhẹ nhàng như đi qua hư không; có thể độn thổ, đi trong lòng đất như đi trong hư không; có thể đi trên nước mà nước không bị rẽ ra, giống như đang đi trên đất bằng; ngồi kiết già trên hư không giống như chim muông; bàn tay có thể chạm và rờ đến mặt trời, mặt trăng và có thể tự thân bay đến cõi Phạm Thiên.

---

Và này Bà-la-môn, thế nào là thần thông ký thuyết?

“Ký” là ghi nhận, “thuyết” là nói ra.

Ở đây, này Bà-la-môn, có người nói lên nhờ tướng: "Như vầy là ý của Ông, như thế này là ý của Ông, như thế này là tà tâm của Ông". Nếu vị ấy nói lên có nhiều, cũng chỉ là như vậy, không có gì khác.

Người có thần thông ký thuyết dạng này chỉ cần nhìn tướng là đoán được tâm tánh, ví dụ thấy khuôn mặt sáng sủa, nhân hậu thì nói rằng người này tâm tánh hiền lành, lương thiện. Những điều này được nói lên là nhờ xem hình tướng để suy đoán, hoặc học tướng số, căn cứ trên diện mạo để nói lên tâm tánh.

Ở đây, này Bà-la-môn, có người nói lên không nhờ tướng, nhưng nghe tiếng của loài Người hay của phi nhân, hay của Chư Thiên, liền nói lên: "Như vầy là ý của Ông, như thế này là ý của Ông, như thế này là tâm của Ông". Nếu vị ấy nói lên có nhiều, cũng chỉ là như vậy, không có gì khác.

Dạng thứ hai là không nhờ nhìn tướng nhưng nhờ nghe tiếng của loài người, của phi nhân, chư Thiên mà nói lên tâm ý của vị đó. Lần trước, khi Minh Thành và đại chúng quán thân trống rỗng và rải tro cốt trên đỉnh núi, Ni sư Thông Tịnh nghe được tiếng của một vị Tỳ-kheo-ni đã qua đời xin Ni sư phát lồ sám hối giúp vị ấy. Cho nên, có những vị sẽ người được tiếng của người khác, hoặc nghe tiếng của những vị không phải người, hoặc nghe tiếng của chư Thiên và họ nói ra được tâm ý của các vị ấy.

Khi mới lên Linh Quy Pháp Ấn chưa lâu, khoảng 15 năm trước, Minh Thành có gặp một cô chuyên đi cúng cho các vong linh, cô luôn đem theo giấy tiền, vàng mã, bên người để cúng cho các vị ấy. Khi đến nui, cô xin quy y cho các vong linh, cô nói ngày xưa vào thời chiến tranh, ở đây người mất rất nhiều, hiện giờ có rất nhiều vong long. Sau đó, Minh Thành mới thỉnh quý thầy trong thất ra, tổ chức buổi lễ truyền Tam quy Ngũ giới và quy y Tam Bảo cho các vong linh thì gió đập ầm ầm vào Chánh điện bằng tre. Lúc đó Minh Thành và mọi người ngồi nổi da gà, cùng nhau ngồi đó chứng kiến.

Cho nên, ở trên núi này, những người tu không chơn chánh thường thấy chuyện này chuyện kia, gặp vị này vị kia và bị quở phạt. Có một chú lên núi nhưng không tu tập, lại có ý phá rối, phá quấy chùa, một lần nọ, chú bị quăng từ giường xuống đất vào ban ngày, chứ không phải ban đêm. Cũng có những vị nói mình không sợ và không tin có ma gì hết, nếu có thì cho thấy tận mặt, nghĩ vậy xong thì đêm đó người đó trải qua một đêm hốt hoảng kinh hoàng.

Xung quanh chúng ta, bất cứ chỗ nào cũng có những phi nhân. Tùy theo vùng đất cũng như tâm của những người ở đó mà vùng đất ấy có được an ổn hay không. Cho nên các bậc tu hành phải luôn nhớ trải tâm từ, đây là việc hết sức quan trọng. Từ ngày Minh Thành về núi đến nay thì không gặp chuyện gì đáng tiếc về tai nạn giao thông hay rắn rít. Chỉ có lần cô nhà bếp vô tình đạp trúng rắn thì có bị cắn một chút nhưng không sao, còn lại trong suốt 18 năm nay chưa có ai bị gì. Lúc Minh Thành mới về núi là con quy y tam bảo hết cho tất cả chúng sanh trên núi này và trải tâm từ.

Trải tâm từ là pháp hành rất quan trọng, đi đến đâu cũng vậy, chúng ta cũng hãy nhớ trải tâm từ. Thứ nhất, chúng ta có được cảm giác dễ chịu, không lo lắng, sợ hãi. Thứ hai, rất nhiều các chư vị chúng sanh của vùng đất đó sẽ được lợi lạc từ những cảm thọ từ bi. Cũng như khi tụng Pháp bảo, trùng tuyên Thánh điển, Thánh trí tuệ từ bậc Chánh Đẳng Chánh Giác thì tất cả chúng sanh, phi nhân, chư thiên, chư thần sẽ bảo vệ, che chắn, ủng hộ cho mình tu học.

Vì vậy, đối với bất cứ người mình thấy được hay không thấy, khi mình bị khó chịu hay có oan gia trái chủ thì cứ trải tâm từ, hãy vững tin vào lời Đức Phật dạy. Những điều vi diệu, điềm lành quanh ta là nhiều vô số, tất cả khóa tu đều được che chở, bảo bọc, bảo hộ. Chúng ta cứ an lòng tu tập Chánh pháp, tập trung tâm từ, tâm hiền, trí tuệ, không cần lo gì xa xôi. Tự động những điều xung quanh có vô tác diệu lực, có sự nhiệm màu mà không cần phải làm gì, chúng ta sẽ được lợi ích, an ổn trong tâm từ bi và trí tuệ của bậc Thánh truyền trao.

Ở đây, này Bà-la-môn, có người nói lên không nhờ tướng, cũng không nhờ nghe tiếng của loài Người hay loài phi nhân, hay Chư Thiên mà nói lên, nhưng sau khi nghe được tiếng trình bày rõ ràng và có suy tư; sau khi suy tầm và suy tư liền nói lên: "Như vậy là ý của Ông, như thế này là ý của Ông, như thế này là tâm của Ông". Nếu vị ấy nói lên có nhiều, cũng chỉ là như vậy, không có gì khác.

Ở đây, này Bà-la-môn, có người không nói lên nhờ tướng, không nói lên nhờ nghe tiếng của loài Người, hay phi nhân, hay Chư Thiên, không nói lên sau khi nghe được tiếng trình bày rõ ràng và có suy tư, sau khi suy tầm và suy tư. Nhưng thành tựu định không tầm không tứ, với tâm (của mình) biết rõ tâm của người khác tùy theo hành ý của vị Tôn giả này hướng đến chỗ nào, thời tâm của vị này lập tức suy tầm đến chỗ ấy. Nếu vị ấy nói lên có nhiều, cũng chỉ là như vậy, không có gì khác. Này Bà-la-môn, đây gọi là thần thông ký thuyết.

Đây mới là người có thần thông thật sự. Người này không phải học tướng số, không phải nhìn tướng mà đoán, không phải nghe tiếng nói của người, phi nhân, chư Thiên mà nói lại, cũng không phải nghe người khác trình bày rồi suy tư suy tầm; mà người này là vị thành tựu định, không tầm, không tứ nên biết rõ tâm của người kia đang có ý hành gì, đọc được tâm tư, suy nghĩ của người kia. Tùy theo ý hành của vị này hướng đến chỗ nào thì tâm của vị này sẽ hướng đến chỗ ấy. Người tu định nhiều có sáu căn rất tinh minh, có khả năng đắc thần thông, đặc biệt là trong dòng pháp này. Tuy nhiên, những gì vị ấy nói ra dù nhiều hay ít thì cũng chỉ nói được bấy nhiêu suy nghĩ của người kia. Đó là thần thông ký thuyết. Thế nhưng, hai loại thần thông đầu không thật sự quan trọng bằng thần thông thứ ba.

---

Và như thế nào, này Bà-la-môn, là thần thông giáo hóa?

Ở đây, này Bà-la-môn, có người giáo giới như sau:

"Hãy suy nghĩ như thế này, chớ suy nghĩ như vậy! Hãy tác ý như thế này, chớ tác ý như vậy! Hãy từ bỏ cái này! Hãy đạt đến cái này và an trú!". Này Bà-la-môn, đây gọi là thần thông giáo hóa. Này Bà-la-môn, có ba loại thần thông này.

Hãy suy nghĩ ly tham, ly dục, ly sân, bất hại. Hãy tác ý đến tình thương, từ tâm, bao dung, tha thứ; đừng tác ý cái sân hận, bực bội, hơn thua. Hãy từ bỏ những thứ khổ đau, vô thường, bất tịnh, vô ngã, trống rỗng này và đạt đến tâm thanh tịnh, rộng lớn, vô lượng. Hãy an trú cái tâm như vậy.

- Trong ba loại thần thông này, Ông có thể chấp nhận loại thần thông nào là hy hữu hơn, thù diệu hơn?

- Ở đây, thưa Tôn giả Gotama, loại thần thông này:

Ở đây có người chứng được nhiều loại thần thông, một thân hiện ra nhiều thân, … Có thể tự thân bay đến cõi Phạm Thiên. Loại thần thông này, thưa Tôn giả Gotama, ai làm loại thần thông ấy, người ấy tự kinh nghiệm lấy. Ai làm thần thông ấy, tự mình có được thần thông ấy. Loại thần thông này, đối với tôi, được xem tánh chất như là huyễn hóa.

Còn loại thần thông này, thưa Tôn giả Gotama: Ở đây có người nhờ tướng nói lên. Sau khi nghe tiếng chư Thiên, au khi nghe tiếng trình bày rõ ràng và có suy tư, … Với tâm của mình, rõ biết tâm của người khác. Loại thần thông này, thưa Tôn giả Gotama, ai làm loại thần thông ấy, người ấy tự kinh nghiệm lấy. Ai làm thần thông ấy, tự mình có được thần thông ấy. Loại thần thông này, đối với tôi, được xem tánh chất như là huyễn hóa.

Còn loại thần thông này, thưa Tôn giả Gotama: Ở đây có người giáo giới như sau: "Hãy suy nghĩ như thế này, … hãy đạt đến cái này và an trú". Loại thần thông này, thưa Tôn giả Gotama, tôi có thể chấp nhận là hy hữu hơn và thù diệu hơn trong ba loại thần thông.

Còn chúng ta chấp nhận loại thần thông nào? Hàng ngày, chúng ta cũng được thọ nhận thần thông giáo hóa. Nếu có duyên, chính chúng ta là người hiện bày thần thông giáo hóa để chia sẻ pháp cho mọi người. Đó là thần thông vi diệu, hy hữu trong ba loại thần thông.

---

- Thật là vi diệu, thưa Tôn giả Gotama! Thật là hy hữu, thưa Tôn giả Gotama! Vấn đề này được Tôn giả Gotama khéo nói như vậy, Chúng tôi thọ trì rằng Tôn giả Gotama có thành tựu cả ba loại thần thông này. Thật vậy, Tôn giả Gotama có thể chứng được nhiều loại thần thông, … Thật vậy, Tôn giả Gotama thành tựu được định không tầm không tứ, với tâm của mình rõ biết tâm của người khác, tuỳ theo ý hành của vị Tôn giả này hướng đến chỗ nào, thời tâm của vị này lập tức suy tầm đến chỗ ấy. Tôn giả Gotama giáo giới như sau: "Hãy suy nghĩ như thế này, chớ suy nghĩ như vậy! Hãy tác ý như vậy, chớ tác ý như vậy! Hãy từ bỏ cái này, hãy đạt đến cái này và an trú!".

- Thật vậy, này Bà-la-môn, lời nói của ông trước như là chống Ta, sau xích lại gần Ta. Và Ta sẽ trả lời cho Ông. Này Bà-la-môn, ta chứng được nhiều loại thần thông, … này Bà-la-môn, ta thành tựu được định không tầm không tứ, với tâm của mình rõ biết tâm của người khác, tùy theo ý hành của vị Tôn giả này hướng đến chỗ nào, thời tâm của vị này lập tức suy tầm đến chỗ ấy. Tôn giả Gotama có thể giáo giới như sau: "Hãy suy nghĩ như thế này, chớ suy nghĩ như vậy. Hãy tác ý như vậy, chớ tác ý như vậy! Hãy từ bỏ cái này, hãy đạt đến cái này và an trú!".

- Thưa Tôn giả Gotama, có một Tỷ-kheo nào khác, cũng thành tựu được ba loại thần thông này, ngoài Tôn giả Gotama?

- Này Bà-la-môn, không phải chỉ có một trăm, hai trăm, ba trăm, bốn trăm, năm trăm mà còn nhiều hơn nữa là các Tỷ-kheo thành tựu được ba loại thần thông này.

- Nhưng thưa Tôn giả Gotama, nay các Tỷ-kheo ấy hiện ở đâu?

- Này Bà-la-môn, trong chúng Tỷ-kheo này.

Khi Bà-la-môn Sangàrava hỏi Thế Tôn các vị Tỳ-kheo cũng thành tựu được loại thần thông này đang ở đâu, Ngài đáp rằng, không phải dừng lại ở ba, bốn trăm vị thành tựu thần thông mà còn nhiều hơn thế nữa, các vị ấy đang ở ngay trong hành Tỳ-kheo này.

- Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Như người dựng đứng những gì bị quăng ngã xuống, hay trình bày cái gì bị che kín, hay chỉ đường cho người bị lạc hướng, hay cầm đèn sáng vào bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, pháp được Tôn giả Gotama thuyết giảng với nhiều pháp môn. Con nay xin quy y Tôn giả Gotama, quy y Pháp, quy y Tăng. Mong Tôn giả Gotama nhận con làm đệ tử cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.

(Tăng Chi Bộ Kinh I, Chương Ba Pháp, V. Phẩm Nhỏ, bài kinh Sangàrava)

Bài kinh trên mang đến một cảm thọ vô cùng hân hoan và hứng khởi. Đây thật sự là một buổi sáng nhiệm màu, hy hữu, hiếm có!

Giới tử Trí Danh – Sự nhiệm màu của Trải Tâm Từ:

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Con kính bậc trên Sư Phụ - bậc ân sư Đại Đức. Con kính trên quý chư Tăng Ni Hiền Đức và các quý Hiền giả.

Sau khi nghe các bài giảng của Sư Phụ, con có một cảm thọ rất là hạnh phúc, rất là hoan hỷ và tâm phục, khẩu phục. Tưởng trong con là hình ảnh cách đây mấy ngày, con có gặp vị Rắn Hổ Mang lúc con ngồi đọc kinh ở bụi tre trước Chánh Điện. Khi thấy hình ảnh đó tới giờ, trong con thấy rất là hoảng. Con cũng cảm nhận được hình ảnh của một vị mà con không thấy, bằng cảm thọ toàn thân con nhận thấy được ở vườn hoa vào buổi tối sau khi tụng Pháp bảo và ngồi thiền thì con không về phòng. Mà con ngồi ở đó đốt lửa và nghe những bài Pháp Sư Phụ Giảng. Ý hành của con là nhớ lại tất cả những chuyện mà con đã trải qua mà con vẫn chưa trình lên Sư Phụ. Con cảm nhận được bài Trải Tâm Từ của Sư Phụ cực kì sâu sắc, cực kì hiệu quả, làm cho con rúng sợ. Một lần là vào buổi tối ở Chánh Điện, con đang đọc Trải Tâm Từ cho người thân của mình mà không được thành kính thì vị rắn Hổ Mang ấy từ trong bụi tre bò về phía con, cách con chỉ 1 mét làm con vô cùng hoảng sợ vì từ nhỏ đến giờ con chưa gặp lần nào. Con định thần và không bỏ chạy, con nhận diện Ngũ Uẩn của mình và đọc bài Trải Tâm Từ và vị ấy bò lùi – chuyện trước giờ theo con biết là chưa từng xảy ra – rắn bò lùi. Vị ấy không phùng mang lên, chỉ khè nhẹ nhẹ rồi lùi xa mất tăm trước mắt con.

Chuyện thứ 2 là khi con nghe Sư Phụ giảng thì tâm bị buông lung, và con cảm thấy được một sự khều nhắc nhẹ ở phía sau khiến con rất sợ. Con cảm nhận rõ ràng sự nhúc nhích, bò tới bò lui phía sau nhưng khi tìm lại thì con không thấy. Con gọi cả một khu vườn nhưng cũng không nghe hay thấy bất cứ con gì. Con quán chiếu lại thì con hiểu được tâm mình chưa chân chính, chưa thật sự tu với cái tâm chân thành của mình. Nhân lúc trình Pháp với Sư Phụ và chia sẻ cho đại chúng, con xin sám hối và nguyện từ nay về sau sẽ cố gắng tu học, sửa đổi thân tâm mình, không dám buông lung, thất niệm, làm những điều sai trái.

Con kính xin tri ân Sư Phụ và toàn thể đại chúng.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

./.