Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

TƯƠNG ƯNG SÁU XỨ-TRÍ TUỆ SIÊU PHÀM1a-1b

2026-03-03 00:54:12
Tương ưng sáu xứ - Trí tuệ siêu phàm

-THÍCH MINH THÀNH-

Phần 1A:

Chơn ngôn Sáu Xứ này để lại cho Minh Thành những cảm xúc trí huệ khủng khiếp, kinh khủng, đột phá nhận thức của mình ở trong giáo pháp. Mười lăm trước, Minh Thành có chia sẻ với đại chúng lúc mà mới nhập thất, ngay chỗ đó hơi sợ sợ, nhưng mà bây giờ nghe là nước mắt nó trào ra, quá sức tưởng tượng với trí phàm của mình. Mọi ngõ ngách, cái kẹt, xó, hốc, tất cả mọi cái không còn sót. Thánh trí của Đức Phật phá bỏ, phá sập, phá đổ, phá tan, phá banh hết tất cả ngũ uẩn. Tuy là mình chưa có làm được liền đâu, nhưng mà mình xác định được nhận thức, thấy biết nên mình sáng con mắt ra, khủng khiếp, cái trí huệ này là trí huệ kinh khủng, vượt ngoài cái thấy biết, giới đức của chúng sanh. Tất cả chúng sanh trong tam giới, cho đến chư thiên cảnh giới tối cao của phi tưởng, phi phi tưởng xứ, không thể hiểu nổi, không thể thấy nổi, cho nên mới gọi là bậc tri giả, bậc trí giả, bậc kiến giả, bậc A La Hán chánh đẳng giác. Ta bà chủ, gọi là đấng chúa tể của muôn loài mà phải lạy dưới chân của Đức Phật. Tại vì Đức Phật đi ra khỏi tam giới rồi, còn những vị đó tuy là đứng đầu phước đức, nhưng còn ở trong, thành ra nó vượt ngoài giới đức của chúng sanh. Đức Phật khi ngài chứng ngộ trí huệ này ngài không muốn nói pháp, là trạng thái vô vi thụ động. Khi mình nghe cái này, chiêm nghiệm những điều này mình mới thấy được Đức Như Lai, thật sự không biết dùng lời gì để diễn tả được trí huệ của Phật, không còn một thứ ngôn ngữ nào mà có thể diễn tả nổi Thánh trí này hết đâu. Cho nên trong Tương Ưng Sáu Xứ này, tại sao Đức Phật không muốn nói pháp, vì tất cả chúng sanh trong tam giới đều vô minh và khát ái đối với năm thủ uẩn, trong khi trí huệ của Đức Phật là chấm dứt năm thủ uẩn. Bây giờ người ta đam mê, khao khát, bám chặt ở trong này, say mê, yêu mến trong này, còn Đức Phật dập hết, đập đổ hết tất cả, thì làm sao nói pháp. Ví dụ đơn giản, bây giờ người con trai và người con gái đang yêu nhau, mà cha mẹ không cho yêu nữa, nhưng cha mẹ nói mà nó cũng không nghe, nó xách ngoài đi ra ngoài nó ở, cho nên Đức Phật không muốn nói là vậy. Cho nên khi nghe, đọc và chiêm nghiêm Tương Ưng Sáu Xứ này, thì thấy Đức Phật vượt ra khỏi vũ trụ, Đức Phật vĩ đại, siêu việt, ra ngoài tầm với của tất cả muôn loài. Cho nên nước mắt tràn ra vì không biết mình có phước duyên gì, tâm đức gì, mà trong thời đại bây giờ mình nghe được những lời dạy như vậy và mình hiểu được những điều này. Trong trí huệ này, Thánh trí này thì tất cả pháp sụp đổ hết, không còn cái gì đứng vững trong đây, cho nên đó là liên hệ đến Không thâm sâu, thâm diệu của Như Lai. Bài hôm qua dưới thất, đặt tên “Vén màn bí mật Đức Phật là ai”, cạo đầu dô chùa gần hết cuộc đời tới bây giờ mới biết được Đức Phật là ai, mới thấy được một phần nhỏ dung nhan vô tướng của Như Lai. Đức Phật ở ngoài vũ trụ, ra khỏi hết tất cả, không phải Đức Phật là ở đây đâu. Bây giờ ở Mỹ người ta bán một cái vé đi du lịch 800 ngàn đô la để ngủ một đêm ở trên vũ trụ, 20 tỷ VNĐ, ngủ một đêm, mà dầu cho đến đó cũng nằm ở trong sầu bi khổ ưu não, còn trí của Đức Phật thì nó vượt ra khỏi cảnh vô minh.

Trong bài kinh Vô minh:

“Một Tỷ-kheo đến chỗ Thế Tôn,

-Bạch Thế Tôn, do biết như thế nào, do thấy như thế nào, vô minh được đoạn tận, minh được sanh khởi?

- Này Tỷ-kheo, do biết, do thấy mắt là vô thường, vô minh được đoạn tận, minh được sanh khởi. Do biết, do thấy các sắc là vô thường, vô minh được đoạn tận, minh được sanh khởi; nhãn thức, nhãn xúc, các cảm giác, các cảm thọ là vô thường, vô minh được đoạn tận, minh được sanh khởi. Tai, mũi, lưỡi, thân, ý”.

Trong bài kinh Kiết sử,

“-Bạch Thế Tôn, do biết như thế nào, do thấy như thế nào mà các kiết sử được đoạn tận, các sự trối trăn và sai khiến được chấm dứt?

-Này các Tỷ-kheo, do biết, do thấy mắt là vô thường, các kiết sử được đoạn tận. Các sắc, nhãn thức, nhãn xúc do duyên ý xúc khởi lên cảm thọ gì; do biết, do thấy cảm thọ ấy là vô thường, các kiết sử được đoạn tận. Do biết, do thấy mắt là vô ngã, kiết sử được đoạn tận , sắc là vô ngã, nhãn thức, nhãn xúc là vô ngã, tất vả các cảm giác, do sáu căn tiếp xúc với sáu trần sanh khởi là vô ngã thấy biết như vậy các kiết sử được nhổ sạch, trống rỗng hết. Các lậu hoặc, các thùy miên được trừ sạch, đoạn tận hết”.

Đây là con đường chứng đạt quả Dự lưu, cái này Minh Thành hay đọc hoài, Dự lưu đạo, Tùy tín hành, Tùy pháp hành, không thể không mạng chung mà không chứng quả dự lưu nếu mình tu tập theo cái này. Mình thấy và quán chiếu được, tất cả những thứ sau đây là vô thường, biến hoại, đổi khác: sáu căn, sáu trần, sáu thức, sáu xuất, sáu thọ, sáu tưởng, sáu tư, sáu ái, sáu giới, năm uẩn để mình coi cái trí huệ mà đấng Như Lai phá hết tất cả các pháp. Cho nên mình học bình thường, mình thấy nhà, cửa, núi, sông, tiền bạc thân thể vô thường, thì cái đó mới phá được một phần sắc uẩn thôi. Mà năm uẩn là Đức Phật nói ở khía cạnh bao hàm hết nhưng mà có những người nghe năm uẩn họ không có hiểu nên Đức Phật nói sáu căn. Rồi làm sao mà mình quán được sáu căn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý vô thường biến hoại đổi khác. Hàng ngày nhìn thấy cánh tay vô thường, biến hoại, đổi khác; soi gương nhìn đôi mắt, cái mũi, cái mặt, cái thân thể vô thường, biến hoại, đổi khác; đi đại tiểu tiện, tắm rửa, đi ăn uống vô thường, biến hoại, đổi khác. Mình cảm nhận một cảm xúc sâu thẳm, sâu sắc, rúng động bằng cái thấy trí huệ, mình nhắc ý hành cho nó thấm, đồ vô, tô vô, họa nhiều vô. Từ ý hành mới đi vô cảm thọ làm cho sanh khởi cảm giác không còn ham muốn, say đắm trong đây nữa, không còn khao khát, mê muội trong đây nữa, trong cái đống vô thường, tan hoại, tan nát, biến hoại, đổi khác này. Vì cái đống này mà mình cứ xoay quanh cả ngày trong dục, ái, tham, sân, si, bản ngã, cho nên mình phải dùng Thánh trí phá sáu căn. Mình coi chiến lược của Đức Phật khủng khiếp lắm, còn hơn là tất cả những chiến trận trêm thế giới này không có trận địa nào thắng nổi trận này. Đức Phật giàn trận, bày binh bố trận, dùng các loại pháp khí Thánh trí, tuệ giác, những phương pháp quán chiếu, và 37 phẩm trợ đạo, rất khủng khiếp, đó là gươm, là giáo, là súng, là đạn, là kiếm, là đao, là hỏa tiễn, là hạt nhân, là nguyên tử. Bây giờ mình coi, sáu căn là thân đây; sáu trần là bao trùm hết trên thế giới, sáu thức là nằm bên trong, là sáu cái biết, như vậy là chặn trong, chặn giữa, chặn ngoài, đánh sập hết mười tám giới. Cho nên những đường lối tu khác, họ nhận cái thức này là cái tâm, mình thấy đó, tánh nghe, tánh thấy đồ này kia, đó là cái thứ sanh diệt, mà đó là tông chỉ cao siêu người ta tôn thờ dữ lắm. Nhưng mà ở đây mình mới bước vào thôi là đã biết nó là thứ sanh diệt rồi. Đó là sự khác biệt giữa lời vóc Đức Phật dạy, những lời truyền thừa của người sau này, hoàn toàn khác nhau. Vô đây mình đánh một cái là căn, trần, thức sập hết.

“Này các Tỷ-kheo, ta sẽ thuyết cho các ông cái pháp mà đưa đến chấm hết tất cả chấp thủ, ta sẽ nói cho các ông cái pháp đưa đến chấm dứt hết tất cả sự yêu thích, bám chấp, các ông nghĩ như thế nào, mắt này là thường hay vô thường?

- Bạch là vô thường.

- Cái gì vô thường là khổ hay là vui?

- Dạ bạch là khổ.

- Cái gì vô thường, khổ phải chịu biến hoại, có hợp lý không nếu các ông cho rằng cái này là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi.

- Dạ thưa không, bạch Đức Thế Tôn, sắc, nhãn thức, nhã xúc, những cảm thọ do duyên nhãn xúc sanh tai, mũi, lưỡi, thân, ý tất cả là vô thường. Thấy vậy bậc đa văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với tất cả từ mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý; nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức; nhãn xúc, nhĩ xúc, tỷ xúc, thiệt xúc, ý xúc; sáu thức qua sáu thức qua sáu thọ tiếp xúc nó sanh khởi lên những cảm giác, và những ý tưởng, sắc tưởng, thinh tưởng, hương tưởng, vị tưởng, xúc tưởng, và những suy tư, suy nghĩ về những sáu thứ đó”. Như vậy thì còn một cái gì nữa, sáu ái, yêu thích sáu cái đó, đất, nước, gió, lửa, không và thức giới, không còn cái gì nữa. Đó là đánh sập vũ trụ, cho nên “Này các Tỷ-kheo, ta tuyến bố, tập khởi của thế giới là sự đoạn tận của thế giới”, chỗ này nổi da gà,“Ta tuyên bố trong một tấm thân chưa đầy hai thước này, sự tập khởi hình thành nên thế giới và sự đoạn diệt chấm dứt thế giới”. Quá kinh khủng, Đức Phật nhìn thấy được sự tập khởi hình thành thế giới này, và con đường chấm dứt thế giới này là chấm dứt sự đam mê, yêu thích, khao khát thế giới này mới đi ra khỏi thế giới này. Nên Đức Phật nói chư thiên còn mê trong cái sắc, còn mê trong cảm giác. Tại sao mình phải đánh sập hết tất cả thứ này: sáu căn, sáu trần, sáu thức, sáu xúc, sáu thọ, sáu tưởng, sáu tư, sáu ái, sáu giới, năm uẩn, tại sao? Tại sao mình còn thích một cái thôi là mình không đi ra được. Mình thích cái này, mê cái này, nói đây là nhà tôi, thì sao mình rời khỏi nó được, nó biến hoại, sụp đổ, nó hư là mình có đau khổ không. Mình thích Vân Thủy Đường này, nó đẹp, là chùa tôi, chỗ ở của tôi, thiền đường tôi, phòng của tôi, thì cái này nó biến hoại mình có đau khổ không, nó vô thường mình có sầu bi không, nó thay đổi mình có ưu não không, mình có muốn rời xa không nếu mình yêu thích nó, mình không muốn rời xa, nếu rời xa là mình đau khổ. Nãy giờ là nói bên ngoài, còn bây giờ là tôi, mình cũng phá luôn, ngày nào mình cũng tác ý, quán chiếu con mắt này, lỗ tai này, lỗ mũi nay, miệng này, thân này cứ tác ý cái đống thịt này không có gì trong đây để ưa thích hết. Chính vì đam mê cái này mà cứ dục hoài, tìm hoài, khổ hoài, sân hoài, hận hoài, si ái hoài, chạy hoài, khao khát hoài, mong muốn hoài, mình thấy mình tội nghiệp cho mình “Đáng thương thay cho ta, đau khổ thay cho ta, đau đớn thay cho ta, đau thương thay cho ta”. Mình còn thương, còn quý, còn mến, còn thích, còn yêu một chút xíu thôi trong cái này là mình không bỏ nó ra được. Cho nên bậc A La Hán, là bậc từ bỏ, chấm dứt, và đoạn tận, cho nên ái diệt là niết bàn. Mà ái cái gì, là những cảm giác sanh khởi lên chút là mình thích thích. Cho nên mình thấy được ý chỉ của hai chữ ly tham trong khi ăn, trong khi uống, trong khi nếm, khi đi, khi mặc, trong khi nói, trong khi làm, khi ngủ, trong khi bất cứ cái gì, được khen ngợi, cúng dường, lễ bái,.. trong tất cả. Hồi hôm này, Minh Thành nghe chương Lợi Đắc Cung Kính nó rất thấm thía, mình phải xem, cái lợi đắc, cung kính này là đắng cay, là ác độc, là mũi tên, là con dao, là kẻ giết người, là ác ma, là lưỡi câu, là miếng mồi, tại sao vậy? Vì được lợi đắc cung kính, cúng dường, tôn trọng là mình thích, ái, thì làm sao mình đi ra khỏi luân hồi. Còn ái một cái gì, là đi ra không được. Cho nên mình thấy hướng đó, thì mình gở từ từ, mình quán chiếu, mình mở tiếp như vậy đó. Tại sao căn nhà 100 tầng mà người ta cất được, từ những viên gạch thôi mà cất lên 100 tầng, từng viên từng viên mà hoàn thành. Bây giờ mình nói, cao quá, mình cất không được đâu, cất 1 tầng thôi, không được như vậy. Phải thấy được Thánh trí của Đức Phật hết sức tưởng tượng, Đức Phật nói sắc do mắt nhận thức đáng vui, đáng mừng, vừa ý, đáng yêu, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Nếu Tỷ-kheo hoan hỷ, tán dương và trú với lòng tham luyến sắc ấy; do vị ấy hoan hỷ, tán dương và trú với lòng tham luyến sắc ấy nên hỷ khởi lên. Do hỷ có mặt nên dục tham có mặt. Do dục tham có mặt nên triền phược có mặt. Bị trói buộc bởi hỷ triền phược, nên Tỷ-kheo được gọi là người sống có người thứ hai”. Người thứ hai của Đức Phật nói không phải là người ở kế bên mình, nó thâm sâu, bởi vì ông thầy này sống có một mình, làm gì cũng một mình mà Đức Phật nói đó chưa phải là một mình thật sự. Cho nên những câu này hết sức đắt giá và thâm sâu, con mắt nhìn thấy cái gì đó đáng vui, đáng mừng, vừa lòng, đáng yêu liên hệ đến dục, hấp dẫn, nếu như mình là người tu mình hoan hỷ, tán dương và trú với lòng tham luyến sắc, vui thích, khen ngợi, ở trong sự tham luyến cái sắc đó thì hỷ nó sanh, ưa thích, vui ,mà mình vui trong đó thì dục tham có mặt, có sự thúc giục, muốn lưu luyến, muốn giữ cái đó, muốn có thêm, muốn có được lâu, muốn kéo dài ra, nên người ta có bài nhạc “Xin cho giây phút này trái đất ngừng quay”. Cứ muốn kéo dài giây phút mình tham đắm, giây phút lưu luyến, giây phút ân ái đó, mà càng muốn kéo dài thì nó lại càng rút ngắn. Cho nên những gì sướng nhất trên cuộc đời này nó không có kéo dài, nó chớp nhoáng thôi, nhưng mà đau khổ, sự lưu luyến, những cái tưởng, tưởng cảm giác suy nghĩ tiếc nuối về nó là dài dài, đăng đẳng, miên viễn. Vì lòng tham luyến sắc ái nên hỷ khởi lên, mà hỷ có mặt thì dục tham có mặt, mà dục tham có mặt thì triền phược có mặt, sự trói cột được sanh khởi, buộc mà buộc siết luôn, còng mình rồi thì suốt cuộc đời bị nó quần suốt kiếp luôn. Khi mình dục tham với cái gì đó, dính mắc với cái gì đó thì nó buộc mình vĩnh viễn, bị trói cột với hỷ triền phược. Cái hỷ đó ở thế gian là thứ mà người ta đam mê đi tìm nó, mà họ không biết rằng đó là tai nạn, là sự trói cột, tức là người ta đi tìm sự trói cột. Chỗ này hết sức thâm sâu, nên cần phải có sự thiền tập và quán chiếu. Cho nên mình nhớ, bài kinh Tương Ưng Thọ mà Đức Phật dạy “Kẻ vô văn phàm phu khi cảm giác một cảm giác vui sướng thì giống như người đang bị trói cột, hoặc khi cảm giác một cảm giác đau khổ thì họ cũng giống như người đang bị trói cột, mà khi họ cảm giác một cảm giác không khổ không vui thì họ cũng giống như người đang bị trói cột”. Tất cả là bị triền phược hết, tại vì họ không biết cảm giác đó, họ không biết duyên sanh khởi cảm giác đó, họ không biết tính chất của cảm giác đó. Họ tham, sân, si đối với cảm giác đó, ham muốn cảm giác đó thêm nữa, đâu được, thì người này khổ, mất đi cảm giác đó là người này sân lên, bực bội lên thì tức là người này đang bị trói cột. Những cảm giác đều đều cũng là đang bị trói cột, họ không thấy trong đó là vô minh, là si. Cho nên mình thấy tham, sân, si nó trùm phủ hết toàn cõi vũ trụ, chúng sanh quờ quạng trong bóng đêm, vì thế Đức Phật nói “ Này các Tỷ-kheo, vô thỉ là vòng luân hồi không thể nêu được chỗ khởi điểm đối với những chúng sanh vô minh và khát ái”, hoàn toàn không thấy, không biết gì về năm uẩn hết, vì vậy là hỷ triền phược, do hỷ có mặt nên dục tham có mặt, do dục tham có mặt nên triền phược có mặt và bị trói buộc bởi hỷ triền phược, sự vui thích trói buộc, phải đi tìm sự vui thích đó, không có sự vui thích là họ khổ. Những người mà nghiện nhậu, nghiện thuốc, nghiện xì ke ma túy, nghiện bóng đá, nghiện xem phim, nghiện bất cứ cái gì, thì đó chính là hỷ triền phược, khi có cái đó là họ vui thích, không có cái đó là họ đau khổ, họ không chịu nỗi. Cho nên họ thất tình với một người này họ muốn tự giận luôn, sau đó họ phai phai bớt là họ kiếm người khác, rồi họ khổ nữa, họ bị một vố nữa, sau đó họ tiếp tục đi kiếm người khác, cứ làm hoài như vậy cuối cùng là chết thôi. Đó chính là hỷ triền phược, sự trói cột của ưa thích, mà sự trói cột của ưa thích đó gọi là người sống có người thứ hai. Đức Phật nói“Này các tỷ-kheo, Tỷ-kheo sống như vậy, dầu cho đến ở các trú xứ xa vắng, các khóm rừng, các khu rừng, ít tiếng động, ít ồn ào, khỏi hơi thở quần chúng, vắng người, thích hợp với tịnh; dầu vậy, vẫn được gọi là sống với người thứ hai”. Còn ôm ấp hỷ triền phược này, ôm ấp dục, tham, ái luyến này, còn tán dương, còn an trú, còn hoan hỷ, còn ưa thích thì người đó dầu cho sống một mình ở nơi xa vắng vẫn là sống có người thứ hai. Chỗ này là chỗ sâu sắc lời Đức Phật dạy, mình bây giờ còn 7, 8, 9 người, cả chục, cả trăm người. “Vì sao? Vì rằng ái, người thứ hai, chưa được đoạn tận cho nên được gọi là sống có người thứ hai.” Cái này nó thâm sâu mà vi diệu, mình phải tìm ra, liên tục xem xét lại thân tâm, coi mình có ưa thích chỗ phòng mình ở không. Những thứ đẹp đẽ, đáng yêu, vừa ý phải kiểm soát tâm khi mắt, tai, mũi, lưỡi tiếp xúc, kiểm từ từ, quán từ từ, dạy từ từ. Quan trọng nhất là mình có hướng và hướng đó phải chính xác, rõ ràng, chứ không phải là nói cái này khó quá sao làm được. Ngược lại “có các sắc do mắt nhận thức đáng vui, đáng mừng, vừa ý, đáng yêu liên hệ đến dục, hấp dẫn. Nếu Tỷ-kheo không hoan hỷ, không tán dương và trú với lòng không tham luyến pháp ấy; thời do vị ấy không hoan hỷ, không tán dương và không an trú với lòng không tham luyến pháp ấy, nên hỷ đoạn diệt; thời do hỷ không có mặt nên dục tham không có mặt. Do dục tham không có mặt nên triền phược không có mặt. Do không bị trói buộc bởi hỷ triền phượt, này Migajàla, nên Tỳ-kheo được gọi là người trú một mình. Tỷ-kheo sống như vậy, dầu có ở giữa làng tràn đầy những Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ, vua chúa, đại thần của vua, các ngoại đạo và các đệ tử các ngoại đạo, vị ấy vẫn được gọi là vị sống một mình. Vì sao? Vì rằng ái, người thứ hai, được đoạn tận, do vậy được gọi là sống một mình”. Nó vi diệu làm sao, thâm sâu làm sao, thấy còn ái cái gì, còn thích cái gì thì tập quán chiếu, tháo gỡ ra. Thấy những cái mà nó đáng vui, đáng thích, vừa ý, đáng yêu, liên hệ đến dục, hấp dẫn mà không hoan hỷ, không tán dương, không an trú, không tham luyến, muốn được như vậy, thì là cả một công trình hộ trì căn, an trú cảm giác toàn thân, như lý tác ý và quán chiếu, thân hình niệm, liên tục nuôi dưỡng tánh trí đó thì mới làm được cái này, chứ làm sao mà thấy cái đẹp, nghe điều vừa ý mà lúc đó mình không thích. Không hoan hỷ không tán dương và không an trú với lòng không tham luyến pháp ấy, nên hỷ đoạn diệt mà hỷ đoạn diệt thì dục tham không có mặt, dục tham không có mặt thì trói buộc không có mặt. Không còn gì trói buộc hết thì đó là người đại tự do, tự tại, đạt được tới chỗ này, mới là người tự do, tự do trong trời đất này, độc tọa đại hùng phong, mình ngồi trên đỉnh đaị hùng, không còn gì làm cho mình dao động, tham đắm, ưa thích, tham luyến nữa. Bất cứ lúc nào chết là chết, không còn lưu luyến bất cứ một cái gì trên cuộc đời này nữa, không còn tham đắm, không còn nương tựa, chấp trước bất cứ một vật gì ở trên đời.

Một Tỷ-kheo đến hỏi “Bạch Đức Thế Tôn, Màra như vậy được nói đến, bạch Thế Tôn, thế nào là Màra?-Chỗ nào có mắt, có các sắc, có nhãn thức, có các pháp do mắt nhận thức, tại chỗ ấy có Màra, hay có danh nghĩa Màra, có tai, có mũi, có lưỡi, có thân, có ý, có các sắc có nhãn thức, có nhãn xúc, có các thọ, chỗ đó có Màra”. Tại sao, nó giẵng bẫy mồi, nó tung lưỡi câu, làm cho mình đắm say, bịn rịn, lưu luyến, ràng buộc, nhớ thương, mong muốn, hy vọng, đợi chờ, khao khát, thiêu đốt, nóng bức. Cứ sôi sùng sục, đốt hừng hực ở bên trong này, nó cứ đói khát, thèm thuồng, nó đói khát trong chín ngàn, chín trăm, chín mươi chín năm, trong vô lượng kiếp vừa qua, nó đói những sắc, những thanh, những hương, những vị, những xúc, những pháp, nó đi tìm kiếm những thứ đó. Mỗi khi trong đó thúc giục, kêu mình tìm, mình nói “Ma, ma”, là tai nạn, khổ nạn, ách nạn, khốn nạn, hiểm nạn để cho nó ngừng lại, cho nó an nghỉ, cho nó tịch tịnh, cho nó an nhiên. “Chỗ nào không có mắt, không có các sắc, không có nhãn thức, không có các pháp do mắt nhận thức, tại chỗ ấy không có Màra, chỗ nào không có lưỡi, thân, ý chỗ đó không có Màra”, mình phải hiểu nghĩa như thế nào? Trong trí tuệ vô ngã thấy rõ tất cả những pháp đó, nó không có thiệt, chỗ đó không có mình, không có tôi, thì chỗ đó không có ma. Còn chỗ mà thấy đây là con mắt của tôi, đây là mũi của tôi, đây là lưỡi của tôi, hay cái này là của tôi thì chỗ đó ma xuất hiện, ma nó nhập, ma nó xâm chiếm, ma nó an trú, ma tác quái, hoành hành.

“Khổ, khổ bạch Thế Tôn, được nói đến như vậy, thế nào là khổ?” Đức Phật nói y như nãy giờ. Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp, sáu căn, sáu trần, sáu thức, sáu thọ, sáu tưởng, sáu tư, sáu ái, năm uẩn, những thứ đó là những thứ khổ, những thứ đáng nhàm chán, đáng từ bỏ, đáng xa rời. Tác ý như vậy mình mới đi đến chỗ ly tham, chấm dứt, đoạn diệt tất cả ái. Đến ngày nào đó, trong nội tâm mình hoàn toàn không còn ham muốn bất cứ cái gì trên cuộc đời này nữa, tham sân không còn, thì không còn trở lại thế giới này nữa. Tại vì không còn động cơ hay nguyên nhân nào để mình ở lại thế giới này, không còn tham muốn bất cứ cái gì hết, không còn thích bất cứ cái gì ở đây là mình đi à, mình đâu có ở, mình thích thì mình mới ở đây chứ. Còn đến một lúc nào đó, mình hoàn toàn không còn thích bất cứ cái gì ở đây nữa, là mình đâu ở đây, bất lai, không trở lại thế giới này nữa. Mình thấy nhân quả hệ của nó rất là rõ ràng, cực kỳ khoa học và logic. Rõ ràng là còn thích mới còn ở, còn thích mới còn tìm, còn thích thì còn đam mê, còn thích thì con lưu luyến, còn thích thì còn trở lại. Cũng như người ta đến Linh Quy Pháp Ấn này, người ta thích thì người ta quay trở lại chứ, hôm bữa, có mấy người kia, Minh Thành hỏi, lên đây mấy lần rồi, trả lời là 8 lần rồi, thích nên trở lại 8 lần, còn nây giờ một người không thích thì đâu có trở lại. Các bậc Thánh bất lai, đối với tất cả ở thế giới này không còn tham muốn, không còn tham luyến, hệ nhân quả của nó vô cùng rành rõ, rạch ròi, phân minh, tuyệt vời. Bản thân Minh Thành bây giờ hết sức là ngao ngán, ngoài việc thích giảng pháp ra thôi, thì thấy không còn gì trên cuộc đời này nữa hết. Bữa chú Sang bưng cơm cho Minh Thành, Minh Thành mới hỏi thầy giống ở tù không, chú trả lời là gần giống. Bây giờ mình có pháp thôi, chừng nào thành cái này là xong mục đích của kiếp người. Chứ giờ còn gì nữa, mình làm gì, muốn gì thêm nữa đâu, chỉ muốn, hết sức muốn một cái duy nhất là đạt tới chỗ không còn muốn gì nữa. Đi đến chỗ không còn muốn gì nữa, là đến chỗ hạnh phúc tối thượng, quá tuyệt vời . Thí dụ, bây giờ Minh Thành muốn đi đâu cũng có Pháp Nghĩa đi theo, mà Pháp Nghĩa không đi là lúc đó phiền não, khổ. Giờ thầy muốn lúc nào cũng có Pháp Từ ở kế bên để rầy, bữa nay không có người rầy nữa thì buồn. Mình muốn lúc nào cũng có điện thoại đem theo, mà khi mất điện thoại thì sao, khổ liền chứ sao. Cho nên còn muốn là còn lệ thuộc, còn đau khổ, còn phiền não, còn hệ lụy. Muốn đối với tất cả các pháp này, các pháp dục, các pháp ái này. Cho nên có những cảnh mình cần chiêm nghiệm, hay lắm, sanh nghề tử nghiệp, huấn luyện mấy con sư tử, con cọp, beo, cho nó xiếc trên sân khấu rồi một bữa trên sân khấu nó vồ, nó xé xác luôn. Rồi có ông huấn luyện cá sấu, nó hả miệng ra, ông ấy đưa tay, đút đầu vô miệng nó, nó cắn một cái đứt luôn. Đó giống y như mình, ưa thích những thứ nguy hiểm, và chính những thứ nguy hiểm đó nó sát hại lại mình, ưa dục, thích sắc, ưa thích các cảm giác, say đắm trong cảm giác, an trú, hoan hỷ, tán dương, hoan ngênh, thích thú trong những cảm giác, những cái tưởng, những suy nghĩ đó. Và chính những cái đó nó quay lại giết mình, đau khổ vì nó, đó là những con cá sấu, cá mập, những con cọp, con sư tử, mình đem nó về huấn luyện, bất tình thình bữa nào nó đớp mình, nhai mình. Nên phải quán chiếu sâu sắc hiểm họa của luân hồi. Thành ra trong cuộc đời, gặp nhiều những cú đau, giúp cho mình học được rất nhiều những bài học, những người họ quỳ, họ lạy, kêu mình là sư phụ, chỉ thiếu điều là muốn đội mình lên trên đầu, vậy mà vài bữa sau là không muốn nhìn mặt mình, chưa kể là đi nói xấu mình. Đó là bản chất của ngũ uẩn. Bên ngoài cũng vậy và trong nội tâm mình cũng y chang như vậy. Cái thứ vô thường này, thứ bại hoại, thứ thay đổi, cái thứ phản phúc, làm sao mà mình tin tưởng được nó. Chính cảm giác của mình còn phản phúc, những suy nghĩ, những cái tưởng trong tâm của mình mà nó còn tráo trở thì làm sao tin tưởng được những cái thứ hoạn nạn, khổ nạn, hiểm nạn, tai nạn, ách nạn này. Thí dụ bây giờ sập nhà, sập xuống đè chết tại chỗ, chạy xe trên đường dốc mà tưởng đường bằng, thắng không kỹ, là cũng xong. Nó rình rập mình bất kể chỗ nào, giờ nào, phút nào mình cũng có thể chết không được toàn thân, nát thây, cũng như bà thí chủ của Minh Thành bất thình lình bị ung thư gan, vì thế không có gì là đáng tin cậy đối với ngũ uẩn này hết. Cho nên Minh Thành ngồi nói dưới Bửu Liên, mấy Phật tử liền la lên, Minh Thành nói bây giờ bay về Đà Lạt mà không biết có tới được Đà Lạt không, khi nào xuống tới mới hay, đi máy bay gặp thời tiết xấu, là người ta la quá trời quá đất trên đó. Lúc đó cảm thọ nói điều này mình đã đoán trước, mình cứ nhẹ nhàng, an tịnh, lắng dịu, tới là đón nhận, không sao hết, 24/24 mở cửa đón tử thần, cứ việc đón, hoan nghênh tới. Mình cẩn thận là rất cẩn thận, từ chút từ chút, nhưng mà tới rồi thì không hoảng sợ, không có sợ chết chỉ sợ mình chết vô nghĩa, vô lý do không cẩn thận, chứ còn chết thật sự đến là không sợ. Có cậu đó mới ba mươi mấy tuổi thôi, giỏi lắm, giàu lắm đại gia, tỷ phú gì đó, đi du lịch rồi đột ngụy, tai biến nên chết. Cho nên mình đừng có tin cậy vô cái đống thịt này.

Phần 1B:

Tôn giả Ananda bạch với Đức Phật “ Bạch Thế Tôn, được nói đến thế giới, thế giới, vậy thế nào là thế giới? – Này Ananda cái gì chịu sự biến hoại, cái ấy là thế giới trong giới luật của bậc Thánh”, nó thấm thía, thâm thúy, sâu xa.“Mắt, này Ananda, chịu sự biến hoại. Các sắc chịu sự biến hoại. Nhãn thức chịu sự biến hoại. Nhãn xúc chịu sự biến hoại. Những cảm giác sanh khởi lên do mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý tiếp xúc lên chịu sự biến hoại. Những cảm giác khổ, vui, không khổ không vui chịu sự biến hoại. Cái chịu sự biến hoại, này Ananda, cái ấy là thế giới trong giới luật của bậc Thánh”. “Trống không là thế giới, trống không là thế giới, bạch Thế Tôn, như vậy được nói đến. Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, được gọi trống không là thế giới? - Vì rằng, này Ananda, thế giới là không tự ngã, và không thuộc tự ngã, nên thế giới được gọi là trống không. Và cái gì, này Ànanda, là không tự ngã và không thuộc tự ngã. Mắt, này Ànanda, là không tự ngã và không thuộc tự ngã. Các sắc,.vv.. là các thứ không tự ngã, không thuộc tự ngã. Đó được gọi là trống không, là thế giới này”. Mà mình cứ say sưa, đam mê, đau khổ trong cái trống rỗng này; mình sân, si, tham dục, tham ái, tham lam trong cái trống rỗng này; mình kiêu mạn, ngã mạn, tăng thượng mạn trong cái trống rỗng này.

“Ai có lòng tin, có sự hiểu đối với những pháp này, vị ấy được gọi là Tùy tín hành, đã nhập Chánh tánh, đã nhập Chân nhân địa, đã vượt phàm phu địa. Vị ấy không có thể làm những hành động gì, do làm hành động ấy phải sanh vào địa ngục, bàng sanh, ngạ quỷ; một vị không có thể mệnh chung mà không chứng quả Dự lưu.”

“Với ai kham nhẫn một ít thiền quán, như vậy với trí tuệ và những pháp này, vị ấy gọi là Tùy pháp hành, là một trong bảy địa vị của Đức Phật, đã nhập Chánh tánh, đã nhập Chân nhân địa, đã vượt phàm phu địa; một vị không có thể mệnh chung mà không chứng quả Dự lưu.” 

“Với ai, này các Tỷ-kheo, đối với những pháp này, biết rõ như vậy, thấy như vậy, vị ấy được gọi là đã chứng Dự lưu, không còn bị thối đọa, quyết chắc hướng đến giác ngộ.”

Như vậy ta đã nhắc đến Tùy tín hành, Tùy pháp hành và Dự lưu quả. Đầu tiên nói về Tùy tín hành tức là tin theo, hiểu theo như vậy, đó là bậc đã nhập Chánh tánh. Mà Chánh tánh là gì, là lòng tin về pháp của người này không bị lay chuyển nữa, đó gọi là nhập Chánh tánh, là chính thức, chính xác, chân chánh không bị lung chuyển, lay chuyển, không bị thay đổi nữa. Đã nhập Chân nhân địa, là địa vị của bậc chân nhân, đã vượt phàm phu địa, đã qua khỏi hạn phàm phu, vị này không thể làm hành động gì để mà sanh vào địa ngục, bàng sanh, ngạ quỷ nữa hết, không rơi vào ba đường ác nữa. Và không thể lúc mạng chung mà không chứng quả Dự lưu đối với vị như vậy.

Kế tiếp, bậc thứ hai, ngoài việc tin hiểu như vậy, mà còn kham nhẫn, chịu khó, kiên nhẫn, kiên trì thực tập một ít thiền quán nữa. Vị này với trí huệ và những pháp này gọi là bậc Tùy pháp hành. Bậc này cũng vậy, nhập Chánh tánh, nhập Chân nhân địa, vượt phàm phu địa, không thể mạng chung mà không chứng quả Dự lưu.

Bậc sau cùng là những ai đối với những pháp này mà biết rõ, thấy rõ như vậy là chứng quả Dự lưu, không còn bị thối đọa, quyết chắc hướng đến giác ngộ. Đây là mình nuôi dưỡng cái hướng dự lưu, cứ tập tác ý hoài, mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp, những cái rõ biết, mọi thứ này, trong ngoài các pháp, những sự tiếp xúc, những hình bóng, những cảm giác, những suy nghĩ, những cái ưa thích. Đó là những thứ biến hoại, vô thường, đổi khác, không đáng tin cậy, diệt vong, tan nát, tan hoại, tan vỡ, tan tành. Mình cứ đánh hoài, cứ tác ý hoài, quán chiếu hoài, thiền quán, thiền định, tư duy, nghe hoài, để lưu loát cái trí đó. Bước vô Tùy tín hành, bước vô Tùy pháp hành rồi mình nhập Dự lưu quả, là quang tông diệu tổ, là mục đích tối thượng của đời sống xuất gia. Được cái này rồi là vĩnh viễn không bao giờ mất. Như vậy có đáng hy sinh không, đáng nhận những lời la mắng mà thầy chưởi không, đáng nhận những giờ nhức chân, đau cẳng, mỏi lưng, đáng nhận những giờ thức khuya dậy sớm, đói khát, buồn ngủ, khó khăn gian khổ, có xứng đáng không? Những lúc mình buồn chán, khổ sở, mình bị phiền não, mình phải tác ý mạnh vô “một trăm cái mạng này còn chưa xứng đáng với Thánh pháp này nữa, chứ đừng nói một chút này mà mày đã rù rì, mày sân, si”. Tác ý mạnh như vậy để đánh tung hết, tung như lai thần chưởng ra, đánh tan hết tất cả những ác niệm, vọng niệm, tạp niệm, dục, tham, sân, si, ái, vô minh, bản ngã. Phải diệt hết, đó là sức mạnh, tuệ lực, tín, tấn, niệm, định, tuệ. Trời đất này cũng chỉ là cái bóng bóng thôi, cũng chỉ là chùm bọt thôi; vũ trụ này, tinh hà này, biên hà này rồi cũng đổ nát, chứ đừng nói chi là tấm thân nhỏ bé này. Không có gì đáng để mình tham đắm trong đây, mình sẽ chết bất cứ lúc nào, bất cứ ở đâu, trong bất kỳ trường hợp nào. Và cái đau đớn nhất của mình là chưa thể nhập Thánh trí, chưa viên thành đạo quả, đó mới là điều lo lắng nhất. Còn những thứ đó nó có cái gì đâu, không có ai hết. Mỗi lần có chuyến đi máy bay, như giờ có người mời đi Ấn Độ đó, trong bụng tính trước rồi, trước khi đi là có di chúc, mỗi lần lên máy bay không có chắc chắn một chút nào hết. Mỗi lần đi xuống xe, mỗi lần đi ra đường là giống như ra chiến trường, rất là ghê sợ, giành giật, lạng lách, hiểm hoạn, tại nạn tiềm ẩn sát ở bên mình đâm, chém, giết. Chẳng hạn hôm qua mình thấy đoạn clip trên tin thời sự, nó cầm mã tấu xả mấy chục nhát mà không có chuyện gì hết. Rồi đứa bé mới 6, 7 tuổi, học trường quốc tế, ngoài Hà Nội, người ta bỏ quên trên xe đưa đón, đến khi mở cửa ra, thì bé chết rồi, chấn động. Không có thứ gì bền chắc trên thế giới này, hết sức là lo sợ và sợ hãi cái tử vong này, phải bỏ mọi thứ lại, tâm hướng cầu tịch tịnh. Nói chung tới giờ phút này, Minh Thành cũng tàm tạm an lòng báo hiếu một chút được cho ông bà thí chủ, còn phần mình cũng vui vì tìm thấy được Thánh đạo và phải tiếp tục nỗ lực nữa. Chứ còn, ngày càng biến động nhiều thứ: con người, xã hội, thế giới, chiến tranh, thời tiết, khí hậu, rừng rậm, giông bão, lũ lụt, ung thư, tai biến, đồ ăn gì cũng độc, ăn gì cũng chết. Cây dừa mà cũng nhúng thuốc, đồ ăn mình mới mua hai ba bữa là nó thối rồi. Cái gì cũng thuốc độc hết, độc ở bên trong, độc ở trên thân, độc ở ngoài môi trường, độc trong không khí, trong mấy cái đồ mình ngồi như ghế cũng độc, rồi độc trong quần áo, vải, những thứ mình sử dụng. Hồi bữa rong biển ăn, mà bốc trúng cái nó làm bằng nhựa, kinh khủng, rong biển mà để nhựa, để nylong trong đó. Cho nên ngày càng thấm thía sự nhàm chán, rồi thế giới sẽ đi về đâu, mười năm, hai, ba mươi năm nữa, chỉ một chữ loạn. Hiện giờ những tin tức tiêu cực về Phật giáo rất nhiều, loạn hết. Sự thật là cần phải cố gắng biết rõ được đây là khổ, sự thật cần phải cố gắng để mình biết rõ được nguyên nhân của sự khổ, để chấm dứt khổ là con đường đạo lộ, mình phải nổ lực cố gắng để rõ biết tất cả mọi thứ đến với mình. Cho nên đối với Minh Thành, chùa chiềng, đất đai, đồ đạc, tất cả để qua một bên, kệ, cho thì cho không cho thì thôi. Mình tu để mình chứng được thánh quả là được rồi, kệ nó, mình ở đây bao lâu nữa mà lo lắng, mong muốn chi những thứ ở thế gian, cái bị thịt này. Mình không nhìn thấy Thánh đạo, Thánh trí này là mình còn dài dài hơn thua, giành giật, đấu đá, so sánh, phân biệt, cao thấp là tiếp tục khổ nữa. Chồng chất những nguyên nhân của khổ, vô ích, không có ích lợi gì, mà đầu tư cho vô minh, dục, tham, ái, chồng chất thêm những si mê, hoạn nạn, dệt hết mộng này đến mộng kia, rồi đóng biết bao nhiêu vở tuồng của ngũ uẩn, những trò ảo thuật của năm uẩn. Tự tưởng tượng, tự suy nghĩ, tự ảo giác ra, tự đau khổ, tự cười, tự khóc, bứt tóc, đấm ngực, sầu, bi, khổ, ưu não liên miên, triền miên, bất tận trong vòng luân hồi này không có ngày ra. Nếu không thành tựu Thánh tri kiến thì vĩnh viễn, ngàn, vạn tỷ kiếp cũng không có hướng đi ra, không ai chỉ cho mình.

Xót thương thay cho chính mình trong vô lượng kiếp vừa qua. Xót thương thay cho ông, bà, cha, mẹ, cô, bác của mình trong vô lượng kiếp vừa qua. Xót xa thay cho huyết thống lục thân, quyến thuộc của mình trong vô lượng kiếp vừa qua. Xót xa thay cho những người ân nghĩa, những người thù hận, đau khổ với mình trong vô lượng kiếp vừa qua. Xót thương thay cho tất cả chúng sanh đang lặn ngụp đắm chìm trong biển vô minh và khát ái trong vô lượng kiếp vừa qua, không có ngày dứt. Sẽ không có ngày dừng, nghỉ nếu mình không nhìn thấy được đạo lộ xuất ly, cần phải thấy, cần phải biết, cần phải nghe, cần phải hiểu, cần phải tư duy và tu tập. Chết thì cũng phải nói cái pháp này, gia tài vĩ đại Đức Thế Tôn truyền lại, là cái kho báu mà bây giờ bị chôn vùi, hàng ngàn năm bị che đậy, chôn giấu, che giấu, ẩn giấu, giấu kín. Đến lúc này, cần phải được phơi bày Thánh trí, cần phải được phơi bày ra! Trời đất này còn bị che giấu, trời đất này còn bị lừa gạt, tất cả chúng sanh trong tam giới bị đắm chìm trong dục lậu, hữu lậu và vô minh lậu không có ngày ra. Nếu mà không thấy Thánh pháp này, thì vĩnh viễn một tỷ kiếp trong luân hồi nữa cũng không có đường ra. Mình phải cung kính, đảnh lễ, cúng dường, tôn trọng, tha thiết, chân thành đem hết trái tim, tấm lòng của mình đội ở trên đầu tôn thờ, hành trì và truyền bá. Đó là sứ mệnh, là trọng trách, là bổn phận của chúng ta trong thời đại mạt pháp này.

./.