Nghiệp & Quả Báo 7 - 10 Nghiệp Lành & Dữ 4 - Nguyên Do & Cách Thoát Ra
Kinh Nikāya Giảng Giải
Nghiệp & Quả Báo 7
10 Nghiệp Lành & Dữ 4
Nguyên Do & Cách Thoát Ra
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Nguyên nhân ác nghiệp PAGEREF _Toc183016408 \h 1
II. Giữ gìn giới PAGEREF _Toc183016409 \h 4
III. Quả dị thục PAGEREF _Toc183016410 \h 7
IV. 40 điều đưa vào địa ngục PAGEREF _Toc183016411 \h 11
I. Nguyên nhân ác nghiệp
Hôm nay chúng ta tiếp tục chia sẻ về chuyên đề nghiệp theo tinh thần kinh tạng Nikāya, đợt trước chúng ta đã tìm hiểu về 10 nghiệp thiện và bất thiện. Đức Phật trình bày cho chúng ta thấy thế nào là thiện, thế nào là bất thiện, thế nào là lành, thế nào là dữ và hôm nay chúng ta sẽ nghe Đức Phật nói về cội nguồn do đâu mà sanh khởi ra 10 nghiệp ác, nghiệp xấu này cũng như Đức Phật hướng dẫn cho chúng ta cách thoát khỏi 10 nghiệp xấu ác này, làm sao để xuất ly, làm sao để ra khỏi nó. Đức Phật nói hành tướng của 10 ác nghiệp, còn hành tướng của 10 thiện nghiệp là chúng ta đã tìm hiểu ở những lần trước, hôm nay Đức Phật nói cho chúng ta biết nguyên do, căn nguyên, nguồn gốc tại sao sanh khởi ra 10 ác nghiệp này cũng như ngài chỉ cho chúng ta con đường, cách thức để thoát ra khỏi 10 ác nghiệp đó.
"Này các Tỳ-kheo, Ta nói sát sanh có ba: do nhân tham, do nhân sân, do nhân si. Này các Tỳ-kheo, Ta nói lấy của không cho có ba: do nhân tham, do nhân sân, do nhân si.
Này các Tỳ-kheo, Ta nói tà hạnh trong các dục có ba: do nhân tham, do nhân sân, do nhân si.
Này các Tỳ-kheo, Ta nói, nói láo có ba: do nhân tham, do nhân sân, do nhân si. Này các Tỳ-kheo, Ta nói, nói hai lưỡi có ba: do nhân tham, do nhân sân, do nhân si. Này các Tỳ-kheo, Ta nói, nói lời độc ác có ba: do nhân tham, do nhân sân, do nhân si. Này các Tỳ-kheo, Ta nói, nói lời phù phiếm có ba: do nhân tham, do nhân sân, do nhân si. Này các Tỳ-kheo, Ta nói, tham dục có ba: do nhân tham, do nhân sân, do nhân si. Này các Tỳ-kheo, Ta nói, sân có ba: do nhân tham, do nhân sân, do nhân si. Này các Tỳ-kheo, Ta nói, tà kiến có ba: do nhân tham, do nhân sân, do nhân si.
Như vậy, này các Tỳ-kheo, tham là nhân duyên cho nghiệp sanh khởi, sân là nhân duyên cho nghiệp sanh khởi, si là nhân duyên cho nghiệp sanh khởi, do tham đoạn diệt, là nhân duyên cho nghiệp đoạn diệt, do si đoạn diệt, là nhân duyên cho nghiệp đoạn diệt, do si đoạn diệt, là nhân duyên cho nghiệp đoạn diệt" (Tăng Chi Bộ, Chương X – Mười Pháp, XVII. Phẩm Jànussoni, (VIII). Do Tham Sân Si)
Nếu đọc mà không chiêm nghiệm là chúng ta không hiểu được ý nghĩa sâu sắc mà Đức Phật muốn trình bày ở đây, chúng ta cũng được chia sẻ nhận diện ngũ uẩn, được chia sẻ quán chiếu về cảm thọ và chúng ta đã được chia sẻ về hang ổ của tham, sân, si cho nên khi học về kinh tạng Nikāya cũng như nhận diện ngũ uẩn, nhận diện ba cảm thọ và nhận diện được nguồn gốc của tham, sân, si thì chúng ta thấy được căn nguyên, hành tướng, sự hoạt động, sanh khởi và đoạn diệt của tham, sân, si sẽ khác với trước khi chúng ta học Nikāya thì chúng ta sẽ thấy tham, sân, si rất bình thường, đơn giản và chúng ta hiểu rất mông lung về kết quả ở phần ngọn của tham, sân, si.
Từ bài kinh này nói ngược lại để chúng ta thấy được ý nghĩa sâu sắc của bài kinh này là kinh do tham, sân, si mà tạo ra 10 ác nghiệp. Tại sao lại giết con vật để ăn? Tại sao lại giết muỗi? Có phải mình tham hương vị ngon của món ăn không, có phải mình tức giận khi muỗi chích mình không? Sát sanh chỉ là cái ngọn, còn cái gốc của sát sanh là tham ăn, là sân hận, là si mê. Vì chúng ta không hiểu khi hủy hoại sinh mạng của chúng sanh, mình giết nó, cắt cổ, nhổ lông, thọc huyết, chích điện, đập đầu thì nó kêu gào tức tưởi mạng chung, nó đau đớn, hận thù, khổ sở như vậy thì oán hận nó chồng chất, vì si mê mình không biết nhân quả nghiệp báo cộng với lòng tham hương vị ngon của món ăn, hoặc là tâm sân hận, tức giận khi nó chích mình đau rồi mình đập nó cho máu bắn ra để hả dạ hoặc cầm vợt điện bắt nó rồi mình thích thú, khoan khoái trong đó vì vậy sát sanh chính là tham, sân, si. Trong kinh Nikāya mới chỉ cho chúng ta chỗ căn nguyên, gốc rễ, nguồn cội của sát sanh là tham, sân, si, nếu chúng ta chỉ biết ráng giữ để không sát sanh thì cái này cũng tốt nhưng mình không hiểu được gốc ngọn, căn nguyên, đây chính là chỗ sâu sắc của bài kinh này, nếu đọc phất phơ sẽ không hiểu được.
Có người bỏ ra biết bao tiền để mua cá, khỉ hoặc nai để ăn cho ngon thì đó là họ tham cái vị đó, còn người cố gắng đi tìm những con vật đó là do tham tiền, đó chính là nguồn gốc của sát sanh, chính là tham tiền, tham ăn. Vì đồng tiền mình sẵn sàng cắt cổ, nhổ lông, lột da, mình xáo thịt, đập đầu, cạo vảy, chặt tứ chi, lấy máu nóng để mình ăn, mình uống, mình cười, mình thích thú trong sự đau khổ quằn quại của chúng sanh. Vì vô minh, vì ngu si, vì tham dục, vì không thấy không biết nên mình làm cho chúng sanh đau khổ và chính mình đau khổ về sau, lúc đó mình nghĩ là sướng nhưng mình không biết mình đang làm mình khổ, đang làm cho chúng sanh khổ.
Cũng như sinh mạng đứa con mà mình quyết định giết nó chết trong bào thai, vì vô minh, vì si mê nên chính mình giết chết đứa con của mình, mình không biết đó là ác nghiệp khủng khiếp, kinh hoàng, là địa ngục trong tương lai, nhiều khi vì tham dục của mình không muốn lãnh trách nhiệm đó hoặc là mình sân hận, tức giận với người mình yêu thương hoặc là nuôi không nổi rồi mình hủy hoại một sinh mạng mà đó là con ruột của mình. Vì vậy Thế Tôn nói sát sanh có ba lý do, do lòng tham dục, do lòng sân hận và do tâm si mê, ba cái đó là nguyên nhân tạo ra hành vi giết hại sinh mạng của chúng sanh.
Mình phải chiêm nghiệm để thấy sự sâu sắc mà Đức Phật chỉ ra cho mình, bây giờ trộm cắp, lấy của không cho thì có gọi là tham không? Có phải do si mê không? Cứ thấy đồng tiền, thấy món đồ quý thì nghĩa cách lấy, vào cướp ngân hàng, tiệm vàng rồi cuối cùng bị bắt vô tù nhưng vì tâm si mê, hôn ám che đậy cho nên không thấy rõ được hậu quả, nhân quả. Chính vì vậy chúng ta có câu phàm làm việc gì trước phải nghĩ đến hậu quả của nó, đó là bài học ngàn vàng, xứng đáng 1000 lượng vàng, cái này đùng để phá si mê, tà kiến. Si mê, tà kiến là không thấy rõ được nguyên nhân, kết quả của hành động này sẽ đưa đến khổ đau cho mình, cho người và cho chúng sanh.
Ngoại tình có phải vì tham dục không? Có phải vì si mê không? Trong đó có sân hận, vừa rồi mới xảy ra một sự việc rất đau lòng, cậu này đã có gia đình nhưng lại quen với một cô này, cô này bảo cậu về ly dị vợ đi, nói qua nói lại cự cãi nên cậu này giết chết luôn cô này, cuối cùng đem xác chết đó đi đầu thú. Tà hạnh trong các dục, tà dâm, ngoại tình cũng từ tham dục, từ si mê không thấy nhân quả, không thấy đau khổ trong những hành vi tham dục, tham ái này nên xảy ra cảnh bi đát, khổ sầu, thậm chí là mất mạng, tù tội mà cái gốc của nó là từ cảm giác tham dục, đã có gia đình nhưng lại quen thêm người khác. Khi quán chiếu, chiêm nghiệm sâu sắc mới thấy được nguồn gốc của những ác hạnh, tà hạnh này đều từ tham dục, sân hận và si mê.
Nói láo với mục đích đem lợi cho chính mình, nói vì bản ngã, giữ thể diện cho mình hoặc nói láo gạt người để lấy tiền thì cũng vì tham, hoặc làm hại người khác vì tức giận nên nói lời ác độc, thô ác. Nói những lời phù phiếm không có ý nghĩa gì cũng từ tâm ham nói, thích nói, không nhiếp phục được dục nói, như vậy thân 3 miệng 4 cũng đều từ tham, sân, si. Mình quay trở về để tìm ra được gốc rễ của 10 ác nghiệp từ trong tham, sân, si tức là sự ham muốn, nóng giận và sự không hiểu biết. Cái ham muốn, nóng giận và không hiểu biết này nằm trong cảm giác, cảm thọ, vì thế ngày đầu tiên chúng ta học câu tất cả pháp hội tụ ở nơi cảm thọ, từ 10 nghiệp ác quay trở về tham, sân, si, từ tham, sân, si quay trở về cảm thọ.
II. Giữ gìn giới
Ngược lại 10 nghiệp thiện cũng từ cảm xúc của mình, bài kinh tiếp theo là sự xuất ly trong giới luật của bậc Thánh, tức là Đức Phật dạy mình cách ra khỏi 10 nghiệp ác.
"Ở đây, này Bà-la-môn, vị Thánh đệ tử suy xét như sau: 'Sát sanh đưa đến ác dị thục trong đời này và trong đời sau'. Sau khi suy xét như vậy, vị ấy từ bỏ sát sanh, ra khỏi sát sanh... 'Lấy của không cho đưa đến ác dị thục... từ bỏ lấy của không cho, ra khỏi lấy của không cho.. Tà hạnh trong cái dục, đưa đến ác dị thục trong đời này và trong đời sau... từ bỏ tà hạnh trong các dục, ra khỏi tà hạnh trong các dục... Nói láo đưa đến ác dị thục... từ bỏ nói láo, ra khỏi nói láo... Nói hai lưỡi đưa đến đưa đến ác dị thục... từ bỏ nói hai lưỡi, ra khỏi nói hai lưỡi... Nói ác khẩu đưa đến ác dị thục... từ bỏ nói ác khẩu, ra khỏi nói ác khẩu... Nói lời phù phiếm đưa đến ác dị thục... từ bỏ nói lời phù phiếm, ra khỏi nói lời phù phiếm... Tham dục đưa đến ác dị thục... từ bỏ tham dục, ra khỏi tham dục... Sân đưa đến ác dị thục ... từ bỏ sân, ra khỏi sân. 'Tà kiến đưa đến ác dị thục trong đời này và trong đời sau'. Vị ấy sau khi suy xét như vậy, từ bỏ tà kiến, ra khỏi tà kiến. Như vậy, này Bà-la-môn, là sự xuất ly trong Luật của bậc Thánh" (Tăng Chi Bộ, Chương X – Mười Pháp, XVII. Phẩm Jànussoni, (I). Sự Xuất Ly Của Bậc Thánh (1))
Chỉ một câu trong này thôi là cả một bầu trời pháp nghĩa thiền quán. Đức Phật chỉ nói một câu "Sát sanh đưa đến ác dị thục trong đời này và trong đời sau", ba chữ ác dị thục không phải dễ hiểu, nó rất rùng rợn, kinh hoàng, khiếp đảm. Dị là biến đổi, thục là chín muồi, ác là quả báo của ác nghiệp, vị Thánh đệ tử phải suy nghĩ việc giết hại sinh mạng này sẽ đưa mình đến hậu quả thê thảm trong đời này và đời sau, chữ ác ở đây là hậu quả khủng khiếp, hậu quả khiếp đảm và sợ hãi, gọi là ác dị thục, nghiệp ác này sẽ biến đổi rồi chín muồi trong đời này và trong đời sau.
Người đệ tử Phật suy nghiệm về sự biến đổi và chín muồi của ác nghiệp, chính vì suy xét tới lui nhiều lần thường xuyên và liên tục nên người này run sợ, khiếp sợ, hoảng sợ đối với hậu quả của ác nghiệp. Khi người này thấy sự nguy hiểm và tác hại trong ác nghiệp đó thì người này không làm nữa, đã biết nó là vực thẳm, là hố than hừng thì chắc chắn người này sẽ tránh xa, trừ khi người này không muốn sống nữa. Sau khi biết ác nghiệp này là hố than hừng, ác nghiệp này là vực thẳm, là biển lửa, là chảo dầu sôi, là cột đồng cháy đỏ, ác nghiệp này là rừng đao núi kiếm thì người này sợ hãi, lo lắng và người này rời xa ác nghiệp, đó là sự xuất ly trong giới luật của bậc Thánh.
Sự giữ giới trong đạo Phật là cả một trí tuệ chứ không phải cấm làm cái này cấm làm cái kia, trong Nikāya không có cấm sát sanh mà là từ bỏ sát sanh. Tại sao phải từ bỏ sát sanh? Vì vị Đa văn Thánh đệ tử suy xét như sau sát sanh là đưa đến ác dị thục trong đời này và trong đời sau, sau khi suy xét như vậy vị ấy từ bỏ sát sanh, ra khỏi sát sanh. Như vậy giới của Đức Phật nói dựa trên nền tảng thấy và biết, đặt trên nền tảng của trí tuệ chứ không phải giới là cấm cái này cấm cái kia, đó là giới cấm thủ, còn giới của đạo Phật là do thấy do biết, do hiểu được tai hại, cái nguy hiểm, cái hậu quả, cái ác dị thục của nghiệp đưa đến khổ đau, kinh hoàng, sợ hãi nên người này từ bỏ sát sanh, thoát ra khỏi sát sanh thì đó là xuất ly đạo lộ, con đường thoát ra khỏi ác nghiệp.
Lúc trước khi học thập thiện không nói đến cái này nhưng trong Nikāya Đức Phật lại nói, chúng ta đang học chuyên đề tất cả những lời dạy về nghiệp của Đức Phật trong tạng kinh Nikāya gom thành một quyển Minh Thành đang cầm. Vấn đề nghiệp trong Nikāya nói rất đầy đủ các phương diện, khía cạnh, góc độ, chỉ có một cái sát sanh thôi mà Đức Phật nói về hành tướng, về tướng trạng, Đức Phật nói nguyên nhân của nó như thế nào, hậu quả như thế nào, từ bỏ sát sanh đó thì mình được lợi ích gì, được sự an lạc gì chứ không phải cấm không được sát sanh.
Đầu tiên nếu chưa hiểu thì có thể mình ngăn cấm, còn khi đã học, đã nhận thức được thì mình biết khi cắt cổ gà, thọc huyết con heo, nhổ lông con vịt, đập đầu con bò, chích điện con trâu… là một tội ác làm cho chúng sanh đau khổ, oan ức, tức tưởi mạng chung chỉ vì cái miệng, cái bụng, mình thấy sợ hãi, lòng trắc ẩn của một con người không nỡ. Mình thấy đây là cái xấu ác, tội lỗi, không có sự từ tâm, không có tình thương, cái này đem đến sự đau khổ, nó cũng có nhận thức, cảm giác, nó cũng có ngũ uẩn như mình thì tại sao mình lại cho mình cái quyền cắt cổ, chặt tay chặt chân những chúng sanh khác.
Mình quán sát nhiều như vậy, mình suy tư sâu sắc về nỗi đau đớn khổ sở quằn quại đó, mình thấy việc làm đó là tội lỗi, là ác độc, là đem đến sự đau khổ trong hiện tại và tương lai cho mình và cho chúng sanh. Chính vì mình thấy được, mình hiểu được, mình biết được, mình cảm thông được nỗi khổ của những con vật đó, khi đặt mình vào vị trí đó là mình từ bỏ sát sanh, đi ra khỏi sát sanh thì đó là sự xuất ly trong giới luật của bậc Thánh. Như vậy là mình ăn chay trường, nếu ăn chay mà hiểu được ý nghĩa này thì có giá trị đến mức nào, một người ăn chay cho có sức khỏe khác, người ăn chay vì truyền thống là khác, người ăn chay vì sự thấu hiểu và lòng từ mà từ bỏ sự sát hại lại khác, cũng là ăn chay nhưng khác nhau rất nhiều.
Người nông dân quanh năm suốt tháng chân lấm tay bùn trong những cây lúa, còn một người uốn cây tùng vài năm thì cây tùng của họ có giá trị bằng cả cuộc đời người nông dân, giống nhau ở chỗ đều chăm sóc cây nhưng người nông dân không được số tiền như người chơi kiểng bonsai Nhật Bản, một cây trị giá hàng tỷ, đối với cái ăn chay cũng khác nhau như vậy. Ăn chay để có sức khỏe, ăn chay để giảm cân, ăn chay vì truyền thống hay ăn chay vì nhận thức được ác nghiệp của sát sanh, thấu hiểu được nỗi khổ của chúng sanh, cảm thông được cảm giác đau đớn tức tưởi mạng chung bằng từ tâm, bằng tình thường thì cái ăn chay đó khác nhau. Đức Phật dạy sự tu học rất sâu sắc.
Đối với trộm cắp, lấy của không cho cũng vậy, mình nghĩ đến ác dị thục, là sự biến đổi và chín muồi của việc trộm cắp, mình thấy sợ hãi, lo lắng, mình không muốn đi theo con đường đó nữa, đó là con đường gai góc, hiểm nguy, con đường tai họa, đầy thú dữ. Mình bị mất món đồ yêu quý thì mình tiếc nuối, khổ sở, người ta bị mất món đồ cũng vậy, có khi món đồ đó đánh đổi bằng cả cuộc đời mới tạo dựng lên được tài sản như vậy mà mình đến ăn cướp, ăn trộm hoặc dùng thủ đoạn lừa gạt.
Có những người nghèo ở trong vùng sâu xa, có nhóm người đến đó đưa tiền rồi bảo rằng những người đó phải đưa lại giấy tờ nhà đất, sau đó họ lấy giấy tờ đó đem đi thế chấp, những người nghèo được nhận tiền này vài tháng sau hay tin họ thiếu nợ mấy chục triệu, họ không biết tại sao họ lại bị nợ to lớn như vậy, những người này kêu trời không nghe, kêu đất không thấu, họ đau khổ cùng cực, suốt cuộc đời chưa chắc họ làm ra được mấy chục triệu đó vì họ là những người dân tộc ở vùng sâu vùng xa, nhà cửa đơn sơ, cuộc sống túng thiếu mà giờ còn bị lừa gạt.
III. Quả dị thục
Những hậu quả đó, những ác nghiệp đó, những người lừa gạt sau này lãnh không phải y như vậy, khi mình gieo một dạ lúa xuống thì thâu lại vài chục dạ nghĩa là gấp mấy chục lần, cũng vậy khi ăn cắp 10 triệu thì không phải sau này mình trả 10 triệu mà phải lên gấp mấy chục lần, thậm chí cả trăm lần, khi đi vay tiền cũng có lời lãi giống y như vậy, đó là quả dị thục của ác nghiệp, cái ác nghiệp đó sẽ biến đổi và đi đến chín muồi cho nên không phải mình tát người ta một cái rồi người ta tát mình lại là huề, không phải mình chửi người ta rồi người ta chửi lại là huề.
Mình tát người ta một cái có khi mình mất cả mạng, đó là quả dị thục của ác nghiệp, nó không phải 1 cộng 1 bằng 2. Miếng đất đó mua có mấy đồng bạc, sốt đất thì người đó thành tỷ phú, đó là quả dị thục của thiện nghiệp phước báo. Đó chính là sự biến đổi theo thời gian nhưng biến đổi theo chiều đi xuống hay biến đổi theo chiều đi lên, đi xuống là chiều của ác dị thục, đi lên là chiều của thiện dị thục. Thùng công đức trong chùa còn gọi là thùng ruộng phước, thùng tam bảo phước điền là do để một dạ vào thì nó sẽ lên 80 dạ, đó mới gọi là ruộng phước, thậm chí lên đến mức độ không thể tính bằng con số nên mới gọi là vô lượng vô biên công đức, khi mình cúng dường cho những bậc Dự Lưu đến những bậc A-la-hán thì cái phước của mình nhân lên không thể tính bằng con số được.
"Tại đây, này Ananda, sau khi bố thí cho các loại bàng sanh, cúng dường này có hy vọng đem lại trăm phần công đức.
Sau khi bố thí cho những phàm phu theo ác giới, cúng dường này có hy vọng đem lại ngàn phần công đức.
Sau khi bố thí cho các phàm phu gìn giữ giới luật, cúng dường này có hy vọng đem lại trăm ngàn lần công đức.
Sau khi bố thí cho các người ngoại học đã ly tham trong các dục vọng, cúng dường này có hy vọng đem lại trăm ngàn ức lần công đức.
Sau khi bố thí cho các vị trên con đường chứng quả Dự lưu, cúng dường này có hy vọng đem lại vô số vô lượng công đức.
Còn nói gì đến những vị đã chứng quả Dự lưu? Còn nói gì đến những vị trên con đường chứng quả Nhất lai? Còn nói gì đến những vị đã chứng quả Nhất lai? Còn nói gì đến những vị trên con đường chứng quả Bất lai? Còn nói gì đến những vị đã chứng quả Bất lai? Còn nói gì đến những vị trên con đường chứng quả A-la-hán? Còn nói gì đến những vị đã chứng quả A-la-hán, đệ tử Như Lai? Còn nói gì đến những vị Ðộc Giác Phật? Còn nói gì đến các Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác?" ((Trung Bộ Kinh, số 142. Kinh Phân Biệt Cúng Dường)
Đó là quả dị thục của phước công đức, còn cái ác cũng vậy. Chúng ta vay nợ nóng rất dễ, cứ gọi là có người đem tiền đến nhưng sau đó lời lãi có khi lên 100-200%, đó là quả dị thục của ác nghiệp cho nên cảm giác mình làm cho người ta đau khổ, mất mát, mình làm cho người ta đau khổ quằn quại muốn chết vì cả gia tài, sự nghiệp 40-50 năm tích lũy mà bị lừa gạt lấy hết thì nỗi đau đớn thống khổ đó, cảm thọ đó thì Đức Phật tuyên bố người nào tạo ra ác nghiệp mà họ chưa nhận lấy cảm thọ của ác nghiệp đó thì ngài nói rằng ác nghiệp đó không hết, nghĩa là mình gây cho người ta đau khổ, tức tưởi, tức giận, hận thù thì nhất định mình phải chịu cảm giác đó gấp 100, 1000 lần.
Khi nào mình chịu hết cảm giác đó rồi và người bị mình hại có cảm giác thù hận hết hoàn toàn thì lúc đó mình mới hết nghiệp. Thật là khủng khiếp! Nếu cảm thọ của người hận thù, cảm thọ của con gà, con vịt, con heo, con trâu, bò, dê, chó bị mình giết hại, nó đau đớn, tức giận, hận thù thì mình phải chịu cảm thọ đó gấp trăm, ngàn lần còn nếu mình chưa chịu cảm thọ mà nó phải chịu thì cái nghiệp mình chưa hết.
"Này các Tỳ-kheo, những người lính địa ngục bắt người ấy chịu hình phạt gọi là năm cọc. Họ lấy cọc sắt nung đỏ đóng vào một bàn tay, họ lấy cọc sắt nung đỏ đóng vào bàn tay thứ hai, họ lấy cọc sắt nung đỏ đóng vào một bàn chân, họ lấy cọc sắt nung đỏ đóng vào bàn chân thứ hai, Họ lấy cọc sắt nung đỏ đóng vào giữa ngực. Người ấy ở đây thọ lãnh các cảm giác đau đớn, cực khổ, thống khổ, khốc liệt. Nhưng người ấy không có thể mệnh chung cho đến khi ác nghiệp của người ấy chưa được tiêu trừ". (Tăng Chi Bộ, Chương III - Ba Pháp, IV. Phẩm Sứ Giả Của Trời, Diêm Vương)
Nếu chúng ta cứ ăn nuốt lẫn nhau thì đến khi nào mới giải thoát? Khi học cái này phải sanh lên cảm giác khiếp sợ, run sợ, hoảng sợ đối với những ác nghiệp, còn nếu mình trơ ra là mình không sợ ác nghiệp. Mình vẫn còn rất nhiều ác nghiệp, phải thấy khiếp sợ với những lời nói làm cho người ta đau đớn, tức tưởi, nhức nhối, những lời nói chua cay, cay nghiệt, nói ra một lời làm cho người ta tức đến lên máu, thậm chí thời tam quốc nói ra có thể làm người ta hộc máu, ác nghiệp đó rất khủng khiếp, không cần giết người, không cần dùng gươm đao gì cả, chỉ cần nói thôi mà hộc máu chết thôi.
Người thế gian nhìn một người đánh trận giỏi, đánh đâu thắng đó nhưng đến khi người đó xuống địa ngục thì không biết đến khi nào mới đi lên được cho nên trong Phật giáo không nhìn giống như bên ngoài vì người đó đã giết biết bao sinh mạng, ác nghiệp đó, quả báo đó biến đổi và chín muồi thì người đó phải chịu những cảm giác mà mình đã gây ra cho chúng sanh đó, cái này rất nhân quả, rõ ràng và thực tế.
Có nhiều người lúc nhỏ bắt cào cào, châu chấu rồi bẻ cánh, bẻ chân thì đến khi già bị liệt tay chân đến 30 năm, đi đứng không được, đó chính là quả báo nhãn tiền và cái này xảy ra rất nhiều. Có những người làm nghề mổ heo, đến khi họ gần chết phải để con dao ở đầu gường vì họ thường thấy có người đến mổ họ, giết họ, đâm họ, chém họ làm họ sợ hãi, kinh hoàng, lúc nào họ cũng mơ những giấc mơ như vậy, đó là cận tử nghiệp, ác dị thục của nghiệp và chắc chắn những người này chết phải đi xuống địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh.
Cái này chúng ta phải liên hệ đến tà mạng, tức là bán thịt và bây giờ có cả bán người, những cái này đều đi xuống địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh cho nên học rồi mới biết sợ, nếu không là không biết sợ, điếc nên không sợ súng, mù nên không thấy vực thẳm trước mắt cho nên khi thành tựu chánh kiến là mình mở được con mắt pháp để mình thấy nhân quả, nghiệp báo, tội phước, thiện ác, mình thấy được con đường nào là con đường bằng phẳng rộng lớn, con đường nào là con đường gồ ghề, nguy hiểm, ác thú, độc trùng, hổ báo để mình biết rồi lựa chọn con đường thênh thang, rộng lớn, bằng phẳng để đi. Vì thế cái nghiệp này rất quan trọng, tất cả lời nói, hành động, ý nghĩa đều không ra ngoài cái nghiệp, mà nếu chúng ta không có trí tuệ về nghiệp thì chúng ta sẽ chết tức tưởi, thậm chí không biết tại sao mình chết, đó là lý do nhiều người kêu trời "trời ơi, tại sao tôi khổ như vậy?".
Khi con còn là Tăng sinh, đi học ngang đèn xanh đèn đỏ ở Sài Gòn thì có một ông ăn xin ở trần bị cụt tay chân, trên người có hình xăm "hận đời" thật lớn. Tại sao người ta sanh ra có đầy đủ tay chân? Tại sao người ta sanh ra có cha có mẹ, có nhà cửa? Tại sao người ta có đầy đủ sáu căn mà tại sao mình lại không có đầy đủ tay chân? Tại sao mình lại nghèo khổ, mình phải lê lếch đầu đường xó chợ, phải cầm lon bằng tay cụt để ăn xin? Người này tức tưởi oán hận, trách trời hận người, hận đời vì người này không biết được nghiệp quả cho nên trong bài xả vô lượng tâm là thương thay cho chúng sanh trong bóng đêm mù lòa vừa trả vừa vay. Mình không biết ai là chủ nợ, mình không biết ai là con nợ, khi chủ nợ đến đòi thì mình lại tiếp tục vay nữa, lời lãi tiếp tục tăng lên và ác nghiệp tiếp tục chồng chất lên đôi vai của mình đến quằn cả cái gánh nghiệp.
Đã gánh nặng lại đi đường xa thế mà có người lại bỏ thêm đá lên thì đến bao giờ mới trút được gánh nặng của ác nghiệp? Muốn trút bỏ gánh nặng này chỉ còn cách kiểm tra ngôn ngữ, lời nói, hành động, đó là nhận diện ngũ uẩn mà chúng ta đang học, đó chỉ mới nói về sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, ngoài ra còn biết bao cảm giác thúc giục trong tâm, biết bao cảm giác tức giận, bực bội, nóng bức, nó bức xúc, hận thù trong này, ngoài ra còn biết bao cảm giác ngu si, si mê, tà kiến, dại khờ trong tâm mình, mình phải thấy sự nguy hiểm và tác hại của nó.
Một cảm thọ tức giận, sân hận sanh khởi mà mình đi đổ cảm thọ đó cho người ở chung mình thì có thấy họ khổ không? Mình đang bực người nào đó ngoài đường rồi về nhà thấy chồng/vợ là cự cãi, mình đem những cảm thọ bực bội, sân giận, nhiệt não, nóng bức đổ cho người thân, mình làm khổ mình làm khổ người, mình hại mình hại người, nói qua nói lại là thành cãi nhau, một lúc sau thành chuyện lớn hơn nữa.
IV. 40 điều đưa vào địa ngục
Đó là chuyện trong nhà, còn ngoài đường có để yên cho mình nói hay hành động cho hả dạ không? Mình phải thấy được sự tai hại, nguy hiểm của ba thứ cảm thọ ác độc này, tham dục, sân hận và si mê, từ ba cái này mới bung ra thân 3 miệng 4 ý 3 là 10. Từ cái 1 là cảm thọ bung ra tham, sân, si thành 3, từ cái 3 đó tủa ra thành 10, từ cái 10 này nhân rộng ra kinh 20, kinh 30, kinh 40. Từ cái nghiệp sát sanh Đức Phật chỉ ra bốn phương diện để chúng ta thấy 10 ác nghiệp này ra 40 điều, Phật nói ai phạm 40 điều đó sẽ rơi vào địa ngục.
"Thành tựu với bốn mươi pháp, này các Tỳ-kheo, như vậy tương xứng bị rơi vào địa ngục. Thế nào là bốn mươi?
1.Tự mình sát sanh.
2.Khuyến khích người khác sát sanh.
3.Tùy thuận sát sanh.
4.Tán thán sát sanh.
5.Tự mình lấy của không cho.
6.Khuyến khích người khác lấy của không cho.
7.Tùy thuận lấy của không cho.
8.Tán thán lấy của không cho.
9.Tự mình tà hạnh trong các dục.
10.Khuyến khích người khác tà hạnh trong các dục.
11.Tùy thuận tà hạnh trong các dục.
12.Tán thán tà hạnh trong các dục.
13.Tự mình nói láo.
14.Khuyến khích người khác nói láo.
15.Tùy thuận nói láo.
16.Tán thán nói láo.
17.Tự mình nói hai lưỡi.
18.Khuyến khích người khác nói hai lưỡi.
19.Tùy thuận nói hai lưỡi.
20.Tán thán nói hai lưỡi.
21.Tự mình nói lời thô ác.
22.Khuyến khích người khác nói lời thô ác.
23.Tùy thuận nói lời thô ác.
24.Tán thán nói lời thô ác.
25.Tự mình nói lời phù phiếm.
26.Khuyến khích người khác nói lời phù phiếm.
27.Tùy thuận nói lời phù phiếm.
28.Tán thán nói lời phù phiếm.
29.Tự mình có tham.
30.Khuyến khích người khác có tham.
31.Tùy thuận có tham.
32.Tán thán có tham.
33.Tự mình có sân tâm.
34.Khuyến khích người khác có sân tâm.
35.Tùy thuận sân tâm.
36.Tán thán sân tâm.
37.Tự mình có tà kiến.
38.Khuyến khích người khác có tà kiến.
39.Tùy thuận có tà kiến.
40.Tán thán có tà kiến.
Thành tựu bốn mươi pháp này, này các Tỳ-kheo, như vậy tương xứng bị rơi vào địa ngục" (Tăng Chi Bộ, Chương X – Mười Pháp, XXII. Không Có Ðầu Ðề, (IV). Bốn Mươi Pháp)
Như vậy trong bài kinh sự xuất ly trong giới luật của bậc Thánh nói rằng một vị Thánh đệ tử suy xét giết hại sinh mạng là đưa đến ác dị thục trong đời này và đời sau, sau khi suy xét vị ấy từ bỏ sát sanh, ra khỏi sát sanh. Cũng vậy, tà hạnh trong các dục, lấy của không cho, nói láo, nói hai lưỡi, nói ác khẩu, nói lời phù phiếm, tham dục, sân hận, si mê là đưa đến kết quả biến đổi chín muồi của ác nghiệp trong đời này và đời sau cho nên vị tu hành này sau khi suy xét như vậy thì vị ấy từ bỏ, vị ấy thoát ra. Mình phải suy xét những cái này thật nhiều, nếu mình thấy bản thân phạm giới nào đó trong mười cái này thì mình phải quán chiếu, chiêm nghiệm cái tai hại, hậu quả mà mình phải mang trong những hành động của ác nghiệp này, thường xuyên suy nghĩ, viết ra giấy, đọc lên rồi ghi âm, lạy trước bàn Phật, dập đầu sám hối. Có những bài kinh tương ứng với ác nghiệp được Đức Phật nói đến trong Nikāya, trong đó Đức Phật nói những nhân quả của ác nghiệp.
Khi mình tác ý, suy tư, nghiền ngẫm, quán chiếu như vậy thật nhiều để thấy tai hại của nó thì tâm mình sẽ thoát ra, sẽ từ bỏ, đó là cách đi ra khỏi 10 ác nghiệp, thành tựu 10 thiện nghiệp. Song song đó mình cũng phải suy tư, tác ý, chiêm nghiệm, nhắc nhở về phước báo, lợi ích, công đức của việc từ bỏ sát sanh, hơn 10 lợi ích của tâm từ, mình sẽ được khỏe mạnh, được sống trường thọ, dung sắc của mình sẽ được từ ái, hiền hòa, mình sẽ không gặp những chứng bệnh nặng, tài sản được kiên cố, được đầy đủ không bị thất thoát, không bị hỏa hoạn đốt cháy, không bị lũ lụt cuốn trôi, không bị động đất.
Lũ lụt ở đâu chứ chỗ mình không bị lũ lụt, động đất chỗ nào chứ chỗ mình ở không bị động đất, ăn cướp chỗ nào chứ chỗ mình không bị ăn cướp, đó là do mình giữ các giới, ai bị lừa gạt chứ mình không bị lừa gạt, lời mình nói ra mọi người đều nghe theo, đó là do mình từ bỏ nói dối, từ bỏ nói lưỡi đôi chiều, từ bỏ nói lời hung ác, từ bỏ nói lời phù phiếm. Tâm mình lìa xa tham, sân, si, sống với cái tâm trí tuệ, từ bi, ngọt ngào, an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, dễ thương, hiền lành, hiền hậu, hiền từ, hiền nhân, hiền hậu, hiền trí rồi chúng ta mới gặp được bậc hiền Thánh.
./.
Nghiệp & Quả Báo 7
10 Nghiệp Lành & Dữ 4
Nguyên Do & Cách Thoát Ra
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Nguyên nhân ác nghiệp PAGEREF _Toc183016408 \h 1
II. Giữ gìn giới PAGEREF _Toc183016409 \h 4
III. Quả dị thục PAGEREF _Toc183016410 \h 7
IV. 40 điều đưa vào địa ngục PAGEREF _Toc183016411 \h 11
I. Nguyên nhân ác nghiệp
Hôm nay chúng ta tiếp tục chia sẻ về chuyên đề nghiệp theo tinh thần kinh tạng Nikāya, đợt trước chúng ta đã tìm hiểu về 10 nghiệp thiện và bất thiện. Đức Phật trình bày cho chúng ta thấy thế nào là thiện, thế nào là bất thiện, thế nào là lành, thế nào là dữ và hôm nay chúng ta sẽ nghe Đức Phật nói về cội nguồn do đâu mà sanh khởi ra 10 nghiệp ác, nghiệp xấu này cũng như Đức Phật hướng dẫn cho chúng ta cách thoát khỏi 10 nghiệp xấu ác này, làm sao để xuất ly, làm sao để ra khỏi nó. Đức Phật nói hành tướng của 10 ác nghiệp, còn hành tướng của 10 thiện nghiệp là chúng ta đã tìm hiểu ở những lần trước, hôm nay Đức Phật nói cho chúng ta biết nguyên do, căn nguyên, nguồn gốc tại sao sanh khởi ra 10 ác nghiệp này cũng như ngài chỉ cho chúng ta con đường, cách thức để thoát ra khỏi 10 ác nghiệp đó.
"Này các Tỳ-kheo, Ta nói sát sanh có ba: do nhân tham, do nhân sân, do nhân si. Này các Tỳ-kheo, Ta nói lấy của không cho có ba: do nhân tham, do nhân sân, do nhân si.
Này các Tỳ-kheo, Ta nói tà hạnh trong các dục có ba: do nhân tham, do nhân sân, do nhân si.
Này các Tỳ-kheo, Ta nói, nói láo có ba: do nhân tham, do nhân sân, do nhân si. Này các Tỳ-kheo, Ta nói, nói hai lưỡi có ba: do nhân tham, do nhân sân, do nhân si. Này các Tỳ-kheo, Ta nói, nói lời độc ác có ba: do nhân tham, do nhân sân, do nhân si. Này các Tỳ-kheo, Ta nói, nói lời phù phiếm có ba: do nhân tham, do nhân sân, do nhân si. Này các Tỳ-kheo, Ta nói, tham dục có ba: do nhân tham, do nhân sân, do nhân si. Này các Tỳ-kheo, Ta nói, sân có ba: do nhân tham, do nhân sân, do nhân si. Này các Tỳ-kheo, Ta nói, tà kiến có ba: do nhân tham, do nhân sân, do nhân si.
Như vậy, này các Tỳ-kheo, tham là nhân duyên cho nghiệp sanh khởi, sân là nhân duyên cho nghiệp sanh khởi, si là nhân duyên cho nghiệp sanh khởi, do tham đoạn diệt, là nhân duyên cho nghiệp đoạn diệt, do si đoạn diệt, là nhân duyên cho nghiệp đoạn diệt, do si đoạn diệt, là nhân duyên cho nghiệp đoạn diệt" (Tăng Chi Bộ, Chương X – Mười Pháp, XVII. Phẩm Jànussoni, (VIII). Do Tham Sân Si)
Nếu đọc mà không chiêm nghiệm là chúng ta không hiểu được ý nghĩa sâu sắc mà Đức Phật muốn trình bày ở đây, chúng ta cũng được chia sẻ nhận diện ngũ uẩn, được chia sẻ quán chiếu về cảm thọ và chúng ta đã được chia sẻ về hang ổ của tham, sân, si cho nên khi học về kinh tạng Nikāya cũng như nhận diện ngũ uẩn, nhận diện ba cảm thọ và nhận diện được nguồn gốc của tham, sân, si thì chúng ta thấy được căn nguyên, hành tướng, sự hoạt động, sanh khởi và đoạn diệt của tham, sân, si sẽ khác với trước khi chúng ta học Nikāya thì chúng ta sẽ thấy tham, sân, si rất bình thường, đơn giản và chúng ta hiểu rất mông lung về kết quả ở phần ngọn của tham, sân, si.
Từ bài kinh này nói ngược lại để chúng ta thấy được ý nghĩa sâu sắc của bài kinh này là kinh do tham, sân, si mà tạo ra 10 ác nghiệp. Tại sao lại giết con vật để ăn? Tại sao lại giết muỗi? Có phải mình tham hương vị ngon của món ăn không, có phải mình tức giận khi muỗi chích mình không? Sát sanh chỉ là cái ngọn, còn cái gốc của sát sanh là tham ăn, là sân hận, là si mê. Vì chúng ta không hiểu khi hủy hoại sinh mạng của chúng sanh, mình giết nó, cắt cổ, nhổ lông, thọc huyết, chích điện, đập đầu thì nó kêu gào tức tưởi mạng chung, nó đau đớn, hận thù, khổ sở như vậy thì oán hận nó chồng chất, vì si mê mình không biết nhân quả nghiệp báo cộng với lòng tham hương vị ngon của món ăn, hoặc là tâm sân hận, tức giận khi nó chích mình đau rồi mình đập nó cho máu bắn ra để hả dạ hoặc cầm vợt điện bắt nó rồi mình thích thú, khoan khoái trong đó vì vậy sát sanh chính là tham, sân, si. Trong kinh Nikāya mới chỉ cho chúng ta chỗ căn nguyên, gốc rễ, nguồn cội của sát sanh là tham, sân, si, nếu chúng ta chỉ biết ráng giữ để không sát sanh thì cái này cũng tốt nhưng mình không hiểu được gốc ngọn, căn nguyên, đây chính là chỗ sâu sắc của bài kinh này, nếu đọc phất phơ sẽ không hiểu được.
Có người bỏ ra biết bao tiền để mua cá, khỉ hoặc nai để ăn cho ngon thì đó là họ tham cái vị đó, còn người cố gắng đi tìm những con vật đó là do tham tiền, đó chính là nguồn gốc của sát sanh, chính là tham tiền, tham ăn. Vì đồng tiền mình sẵn sàng cắt cổ, nhổ lông, lột da, mình xáo thịt, đập đầu, cạo vảy, chặt tứ chi, lấy máu nóng để mình ăn, mình uống, mình cười, mình thích thú trong sự đau khổ quằn quại của chúng sanh. Vì vô minh, vì ngu si, vì tham dục, vì không thấy không biết nên mình làm cho chúng sanh đau khổ và chính mình đau khổ về sau, lúc đó mình nghĩ là sướng nhưng mình không biết mình đang làm mình khổ, đang làm cho chúng sanh khổ.
Cũng như sinh mạng đứa con mà mình quyết định giết nó chết trong bào thai, vì vô minh, vì si mê nên chính mình giết chết đứa con của mình, mình không biết đó là ác nghiệp khủng khiếp, kinh hoàng, là địa ngục trong tương lai, nhiều khi vì tham dục của mình không muốn lãnh trách nhiệm đó hoặc là mình sân hận, tức giận với người mình yêu thương hoặc là nuôi không nổi rồi mình hủy hoại một sinh mạng mà đó là con ruột của mình. Vì vậy Thế Tôn nói sát sanh có ba lý do, do lòng tham dục, do lòng sân hận và do tâm si mê, ba cái đó là nguyên nhân tạo ra hành vi giết hại sinh mạng của chúng sanh.
Mình phải chiêm nghiệm để thấy sự sâu sắc mà Đức Phật chỉ ra cho mình, bây giờ trộm cắp, lấy của không cho thì có gọi là tham không? Có phải do si mê không? Cứ thấy đồng tiền, thấy món đồ quý thì nghĩa cách lấy, vào cướp ngân hàng, tiệm vàng rồi cuối cùng bị bắt vô tù nhưng vì tâm si mê, hôn ám che đậy cho nên không thấy rõ được hậu quả, nhân quả. Chính vì vậy chúng ta có câu phàm làm việc gì trước phải nghĩ đến hậu quả của nó, đó là bài học ngàn vàng, xứng đáng 1000 lượng vàng, cái này đùng để phá si mê, tà kiến. Si mê, tà kiến là không thấy rõ được nguyên nhân, kết quả của hành động này sẽ đưa đến khổ đau cho mình, cho người và cho chúng sanh.
Ngoại tình có phải vì tham dục không? Có phải vì si mê không? Trong đó có sân hận, vừa rồi mới xảy ra một sự việc rất đau lòng, cậu này đã có gia đình nhưng lại quen với một cô này, cô này bảo cậu về ly dị vợ đi, nói qua nói lại cự cãi nên cậu này giết chết luôn cô này, cuối cùng đem xác chết đó đi đầu thú. Tà hạnh trong các dục, tà dâm, ngoại tình cũng từ tham dục, từ si mê không thấy nhân quả, không thấy đau khổ trong những hành vi tham dục, tham ái này nên xảy ra cảnh bi đát, khổ sầu, thậm chí là mất mạng, tù tội mà cái gốc của nó là từ cảm giác tham dục, đã có gia đình nhưng lại quen thêm người khác. Khi quán chiếu, chiêm nghiệm sâu sắc mới thấy được nguồn gốc của những ác hạnh, tà hạnh này đều từ tham dục, sân hận và si mê.
Nói láo với mục đích đem lợi cho chính mình, nói vì bản ngã, giữ thể diện cho mình hoặc nói láo gạt người để lấy tiền thì cũng vì tham, hoặc làm hại người khác vì tức giận nên nói lời ác độc, thô ác. Nói những lời phù phiếm không có ý nghĩa gì cũng từ tâm ham nói, thích nói, không nhiếp phục được dục nói, như vậy thân 3 miệng 4 cũng đều từ tham, sân, si. Mình quay trở về để tìm ra được gốc rễ của 10 ác nghiệp từ trong tham, sân, si tức là sự ham muốn, nóng giận và sự không hiểu biết. Cái ham muốn, nóng giận và không hiểu biết này nằm trong cảm giác, cảm thọ, vì thế ngày đầu tiên chúng ta học câu tất cả pháp hội tụ ở nơi cảm thọ, từ 10 nghiệp ác quay trở về tham, sân, si, từ tham, sân, si quay trở về cảm thọ.
II. Giữ gìn giới
Ngược lại 10 nghiệp thiện cũng từ cảm xúc của mình, bài kinh tiếp theo là sự xuất ly trong giới luật của bậc Thánh, tức là Đức Phật dạy mình cách ra khỏi 10 nghiệp ác.
"Ở đây, này Bà-la-môn, vị Thánh đệ tử suy xét như sau: 'Sát sanh đưa đến ác dị thục trong đời này và trong đời sau'. Sau khi suy xét như vậy, vị ấy từ bỏ sát sanh, ra khỏi sát sanh... 'Lấy của không cho đưa đến ác dị thục... từ bỏ lấy của không cho, ra khỏi lấy của không cho.. Tà hạnh trong cái dục, đưa đến ác dị thục trong đời này và trong đời sau... từ bỏ tà hạnh trong các dục, ra khỏi tà hạnh trong các dục... Nói láo đưa đến ác dị thục... từ bỏ nói láo, ra khỏi nói láo... Nói hai lưỡi đưa đến đưa đến ác dị thục... từ bỏ nói hai lưỡi, ra khỏi nói hai lưỡi... Nói ác khẩu đưa đến ác dị thục... từ bỏ nói ác khẩu, ra khỏi nói ác khẩu... Nói lời phù phiếm đưa đến ác dị thục... từ bỏ nói lời phù phiếm, ra khỏi nói lời phù phiếm... Tham dục đưa đến ác dị thục... từ bỏ tham dục, ra khỏi tham dục... Sân đưa đến ác dị thục ... từ bỏ sân, ra khỏi sân. 'Tà kiến đưa đến ác dị thục trong đời này và trong đời sau'. Vị ấy sau khi suy xét như vậy, từ bỏ tà kiến, ra khỏi tà kiến. Như vậy, này Bà-la-môn, là sự xuất ly trong Luật của bậc Thánh" (Tăng Chi Bộ, Chương X – Mười Pháp, XVII. Phẩm Jànussoni, (I). Sự Xuất Ly Của Bậc Thánh (1))
Chỉ một câu trong này thôi là cả một bầu trời pháp nghĩa thiền quán. Đức Phật chỉ nói một câu "Sát sanh đưa đến ác dị thục trong đời này và trong đời sau", ba chữ ác dị thục không phải dễ hiểu, nó rất rùng rợn, kinh hoàng, khiếp đảm. Dị là biến đổi, thục là chín muồi, ác là quả báo của ác nghiệp, vị Thánh đệ tử phải suy nghĩ việc giết hại sinh mạng này sẽ đưa mình đến hậu quả thê thảm trong đời này và đời sau, chữ ác ở đây là hậu quả khủng khiếp, hậu quả khiếp đảm và sợ hãi, gọi là ác dị thục, nghiệp ác này sẽ biến đổi rồi chín muồi trong đời này và trong đời sau.
Người đệ tử Phật suy nghiệm về sự biến đổi và chín muồi của ác nghiệp, chính vì suy xét tới lui nhiều lần thường xuyên và liên tục nên người này run sợ, khiếp sợ, hoảng sợ đối với hậu quả của ác nghiệp. Khi người này thấy sự nguy hiểm và tác hại trong ác nghiệp đó thì người này không làm nữa, đã biết nó là vực thẳm, là hố than hừng thì chắc chắn người này sẽ tránh xa, trừ khi người này không muốn sống nữa. Sau khi biết ác nghiệp này là hố than hừng, ác nghiệp này là vực thẳm, là biển lửa, là chảo dầu sôi, là cột đồng cháy đỏ, ác nghiệp này là rừng đao núi kiếm thì người này sợ hãi, lo lắng và người này rời xa ác nghiệp, đó là sự xuất ly trong giới luật của bậc Thánh.
Sự giữ giới trong đạo Phật là cả một trí tuệ chứ không phải cấm làm cái này cấm làm cái kia, trong Nikāya không có cấm sát sanh mà là từ bỏ sát sanh. Tại sao phải từ bỏ sát sanh? Vì vị Đa văn Thánh đệ tử suy xét như sau sát sanh là đưa đến ác dị thục trong đời này và trong đời sau, sau khi suy xét như vậy vị ấy từ bỏ sát sanh, ra khỏi sát sanh. Như vậy giới của Đức Phật nói dựa trên nền tảng thấy và biết, đặt trên nền tảng của trí tuệ chứ không phải giới là cấm cái này cấm cái kia, đó là giới cấm thủ, còn giới của đạo Phật là do thấy do biết, do hiểu được tai hại, cái nguy hiểm, cái hậu quả, cái ác dị thục của nghiệp đưa đến khổ đau, kinh hoàng, sợ hãi nên người này từ bỏ sát sanh, thoát ra khỏi sát sanh thì đó là xuất ly đạo lộ, con đường thoát ra khỏi ác nghiệp.
Lúc trước khi học thập thiện không nói đến cái này nhưng trong Nikāya Đức Phật lại nói, chúng ta đang học chuyên đề tất cả những lời dạy về nghiệp của Đức Phật trong tạng kinh Nikāya gom thành một quyển Minh Thành đang cầm. Vấn đề nghiệp trong Nikāya nói rất đầy đủ các phương diện, khía cạnh, góc độ, chỉ có một cái sát sanh thôi mà Đức Phật nói về hành tướng, về tướng trạng, Đức Phật nói nguyên nhân của nó như thế nào, hậu quả như thế nào, từ bỏ sát sanh đó thì mình được lợi ích gì, được sự an lạc gì chứ không phải cấm không được sát sanh.
Đầu tiên nếu chưa hiểu thì có thể mình ngăn cấm, còn khi đã học, đã nhận thức được thì mình biết khi cắt cổ gà, thọc huyết con heo, nhổ lông con vịt, đập đầu con bò, chích điện con trâu… là một tội ác làm cho chúng sanh đau khổ, oan ức, tức tưởi mạng chung chỉ vì cái miệng, cái bụng, mình thấy sợ hãi, lòng trắc ẩn của một con người không nỡ. Mình thấy đây là cái xấu ác, tội lỗi, không có sự từ tâm, không có tình thương, cái này đem đến sự đau khổ, nó cũng có nhận thức, cảm giác, nó cũng có ngũ uẩn như mình thì tại sao mình lại cho mình cái quyền cắt cổ, chặt tay chặt chân những chúng sanh khác.
Mình quán sát nhiều như vậy, mình suy tư sâu sắc về nỗi đau đớn khổ sở quằn quại đó, mình thấy việc làm đó là tội lỗi, là ác độc, là đem đến sự đau khổ trong hiện tại và tương lai cho mình và cho chúng sanh. Chính vì mình thấy được, mình hiểu được, mình biết được, mình cảm thông được nỗi khổ của những con vật đó, khi đặt mình vào vị trí đó là mình từ bỏ sát sanh, đi ra khỏi sát sanh thì đó là sự xuất ly trong giới luật của bậc Thánh. Như vậy là mình ăn chay trường, nếu ăn chay mà hiểu được ý nghĩa này thì có giá trị đến mức nào, một người ăn chay cho có sức khỏe khác, người ăn chay vì truyền thống là khác, người ăn chay vì sự thấu hiểu và lòng từ mà từ bỏ sự sát hại lại khác, cũng là ăn chay nhưng khác nhau rất nhiều.
Người nông dân quanh năm suốt tháng chân lấm tay bùn trong những cây lúa, còn một người uốn cây tùng vài năm thì cây tùng của họ có giá trị bằng cả cuộc đời người nông dân, giống nhau ở chỗ đều chăm sóc cây nhưng người nông dân không được số tiền như người chơi kiểng bonsai Nhật Bản, một cây trị giá hàng tỷ, đối với cái ăn chay cũng khác nhau như vậy. Ăn chay để có sức khỏe, ăn chay để giảm cân, ăn chay vì truyền thống hay ăn chay vì nhận thức được ác nghiệp của sát sanh, thấu hiểu được nỗi khổ của chúng sanh, cảm thông được cảm giác đau đớn tức tưởi mạng chung bằng từ tâm, bằng tình thường thì cái ăn chay đó khác nhau. Đức Phật dạy sự tu học rất sâu sắc.
Đối với trộm cắp, lấy của không cho cũng vậy, mình nghĩ đến ác dị thục, là sự biến đổi và chín muồi của việc trộm cắp, mình thấy sợ hãi, lo lắng, mình không muốn đi theo con đường đó nữa, đó là con đường gai góc, hiểm nguy, con đường tai họa, đầy thú dữ. Mình bị mất món đồ yêu quý thì mình tiếc nuối, khổ sở, người ta bị mất món đồ cũng vậy, có khi món đồ đó đánh đổi bằng cả cuộc đời mới tạo dựng lên được tài sản như vậy mà mình đến ăn cướp, ăn trộm hoặc dùng thủ đoạn lừa gạt.
Có những người nghèo ở trong vùng sâu xa, có nhóm người đến đó đưa tiền rồi bảo rằng những người đó phải đưa lại giấy tờ nhà đất, sau đó họ lấy giấy tờ đó đem đi thế chấp, những người nghèo được nhận tiền này vài tháng sau hay tin họ thiếu nợ mấy chục triệu, họ không biết tại sao họ lại bị nợ to lớn như vậy, những người này kêu trời không nghe, kêu đất không thấu, họ đau khổ cùng cực, suốt cuộc đời chưa chắc họ làm ra được mấy chục triệu đó vì họ là những người dân tộc ở vùng sâu vùng xa, nhà cửa đơn sơ, cuộc sống túng thiếu mà giờ còn bị lừa gạt.
III. Quả dị thục
Những hậu quả đó, những ác nghiệp đó, những người lừa gạt sau này lãnh không phải y như vậy, khi mình gieo một dạ lúa xuống thì thâu lại vài chục dạ nghĩa là gấp mấy chục lần, cũng vậy khi ăn cắp 10 triệu thì không phải sau này mình trả 10 triệu mà phải lên gấp mấy chục lần, thậm chí cả trăm lần, khi đi vay tiền cũng có lời lãi giống y như vậy, đó là quả dị thục của ác nghiệp, cái ác nghiệp đó sẽ biến đổi và đi đến chín muồi cho nên không phải mình tát người ta một cái rồi người ta tát mình lại là huề, không phải mình chửi người ta rồi người ta chửi lại là huề.
Mình tát người ta một cái có khi mình mất cả mạng, đó là quả dị thục của ác nghiệp, nó không phải 1 cộng 1 bằng 2. Miếng đất đó mua có mấy đồng bạc, sốt đất thì người đó thành tỷ phú, đó là quả dị thục của thiện nghiệp phước báo. Đó chính là sự biến đổi theo thời gian nhưng biến đổi theo chiều đi xuống hay biến đổi theo chiều đi lên, đi xuống là chiều của ác dị thục, đi lên là chiều của thiện dị thục. Thùng công đức trong chùa còn gọi là thùng ruộng phước, thùng tam bảo phước điền là do để một dạ vào thì nó sẽ lên 80 dạ, đó mới gọi là ruộng phước, thậm chí lên đến mức độ không thể tính bằng con số nên mới gọi là vô lượng vô biên công đức, khi mình cúng dường cho những bậc Dự Lưu đến những bậc A-la-hán thì cái phước của mình nhân lên không thể tính bằng con số được.
"Tại đây, này Ananda, sau khi bố thí cho các loại bàng sanh, cúng dường này có hy vọng đem lại trăm phần công đức.
Sau khi bố thí cho những phàm phu theo ác giới, cúng dường này có hy vọng đem lại ngàn phần công đức.
Sau khi bố thí cho các phàm phu gìn giữ giới luật, cúng dường này có hy vọng đem lại trăm ngàn lần công đức.
Sau khi bố thí cho các người ngoại học đã ly tham trong các dục vọng, cúng dường này có hy vọng đem lại trăm ngàn ức lần công đức.
Sau khi bố thí cho các vị trên con đường chứng quả Dự lưu, cúng dường này có hy vọng đem lại vô số vô lượng công đức.
Còn nói gì đến những vị đã chứng quả Dự lưu? Còn nói gì đến những vị trên con đường chứng quả Nhất lai? Còn nói gì đến những vị đã chứng quả Nhất lai? Còn nói gì đến những vị trên con đường chứng quả Bất lai? Còn nói gì đến những vị đã chứng quả Bất lai? Còn nói gì đến những vị trên con đường chứng quả A-la-hán? Còn nói gì đến những vị đã chứng quả A-la-hán, đệ tử Như Lai? Còn nói gì đến những vị Ðộc Giác Phật? Còn nói gì đến các Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác?" ((Trung Bộ Kinh, số 142. Kinh Phân Biệt Cúng Dường)
Đó là quả dị thục của phước công đức, còn cái ác cũng vậy. Chúng ta vay nợ nóng rất dễ, cứ gọi là có người đem tiền đến nhưng sau đó lời lãi có khi lên 100-200%, đó là quả dị thục của ác nghiệp cho nên cảm giác mình làm cho người ta đau khổ, mất mát, mình làm cho người ta đau khổ quằn quại muốn chết vì cả gia tài, sự nghiệp 40-50 năm tích lũy mà bị lừa gạt lấy hết thì nỗi đau đớn thống khổ đó, cảm thọ đó thì Đức Phật tuyên bố người nào tạo ra ác nghiệp mà họ chưa nhận lấy cảm thọ của ác nghiệp đó thì ngài nói rằng ác nghiệp đó không hết, nghĩa là mình gây cho người ta đau khổ, tức tưởi, tức giận, hận thù thì nhất định mình phải chịu cảm giác đó gấp 100, 1000 lần.
Khi nào mình chịu hết cảm giác đó rồi và người bị mình hại có cảm giác thù hận hết hoàn toàn thì lúc đó mình mới hết nghiệp. Thật là khủng khiếp! Nếu cảm thọ của người hận thù, cảm thọ của con gà, con vịt, con heo, con trâu, bò, dê, chó bị mình giết hại, nó đau đớn, tức giận, hận thù thì mình phải chịu cảm thọ đó gấp trăm, ngàn lần còn nếu mình chưa chịu cảm thọ mà nó phải chịu thì cái nghiệp mình chưa hết.
"Này các Tỳ-kheo, những người lính địa ngục bắt người ấy chịu hình phạt gọi là năm cọc. Họ lấy cọc sắt nung đỏ đóng vào một bàn tay, họ lấy cọc sắt nung đỏ đóng vào bàn tay thứ hai, họ lấy cọc sắt nung đỏ đóng vào một bàn chân, họ lấy cọc sắt nung đỏ đóng vào bàn chân thứ hai, Họ lấy cọc sắt nung đỏ đóng vào giữa ngực. Người ấy ở đây thọ lãnh các cảm giác đau đớn, cực khổ, thống khổ, khốc liệt. Nhưng người ấy không có thể mệnh chung cho đến khi ác nghiệp của người ấy chưa được tiêu trừ". (Tăng Chi Bộ, Chương III - Ba Pháp, IV. Phẩm Sứ Giả Của Trời, Diêm Vương)
Nếu chúng ta cứ ăn nuốt lẫn nhau thì đến khi nào mới giải thoát? Khi học cái này phải sanh lên cảm giác khiếp sợ, run sợ, hoảng sợ đối với những ác nghiệp, còn nếu mình trơ ra là mình không sợ ác nghiệp. Mình vẫn còn rất nhiều ác nghiệp, phải thấy khiếp sợ với những lời nói làm cho người ta đau đớn, tức tưởi, nhức nhối, những lời nói chua cay, cay nghiệt, nói ra một lời làm cho người ta tức đến lên máu, thậm chí thời tam quốc nói ra có thể làm người ta hộc máu, ác nghiệp đó rất khủng khiếp, không cần giết người, không cần dùng gươm đao gì cả, chỉ cần nói thôi mà hộc máu chết thôi.
Người thế gian nhìn một người đánh trận giỏi, đánh đâu thắng đó nhưng đến khi người đó xuống địa ngục thì không biết đến khi nào mới đi lên được cho nên trong Phật giáo không nhìn giống như bên ngoài vì người đó đã giết biết bao sinh mạng, ác nghiệp đó, quả báo đó biến đổi và chín muồi thì người đó phải chịu những cảm giác mà mình đã gây ra cho chúng sanh đó, cái này rất nhân quả, rõ ràng và thực tế.
Có nhiều người lúc nhỏ bắt cào cào, châu chấu rồi bẻ cánh, bẻ chân thì đến khi già bị liệt tay chân đến 30 năm, đi đứng không được, đó chính là quả báo nhãn tiền và cái này xảy ra rất nhiều. Có những người làm nghề mổ heo, đến khi họ gần chết phải để con dao ở đầu gường vì họ thường thấy có người đến mổ họ, giết họ, đâm họ, chém họ làm họ sợ hãi, kinh hoàng, lúc nào họ cũng mơ những giấc mơ như vậy, đó là cận tử nghiệp, ác dị thục của nghiệp và chắc chắn những người này chết phải đi xuống địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh.
Cái này chúng ta phải liên hệ đến tà mạng, tức là bán thịt và bây giờ có cả bán người, những cái này đều đi xuống địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh cho nên học rồi mới biết sợ, nếu không là không biết sợ, điếc nên không sợ súng, mù nên không thấy vực thẳm trước mắt cho nên khi thành tựu chánh kiến là mình mở được con mắt pháp để mình thấy nhân quả, nghiệp báo, tội phước, thiện ác, mình thấy được con đường nào là con đường bằng phẳng rộng lớn, con đường nào là con đường gồ ghề, nguy hiểm, ác thú, độc trùng, hổ báo để mình biết rồi lựa chọn con đường thênh thang, rộng lớn, bằng phẳng để đi. Vì thế cái nghiệp này rất quan trọng, tất cả lời nói, hành động, ý nghĩa đều không ra ngoài cái nghiệp, mà nếu chúng ta không có trí tuệ về nghiệp thì chúng ta sẽ chết tức tưởi, thậm chí không biết tại sao mình chết, đó là lý do nhiều người kêu trời "trời ơi, tại sao tôi khổ như vậy?".
Khi con còn là Tăng sinh, đi học ngang đèn xanh đèn đỏ ở Sài Gòn thì có một ông ăn xin ở trần bị cụt tay chân, trên người có hình xăm "hận đời" thật lớn. Tại sao người ta sanh ra có đầy đủ tay chân? Tại sao người ta sanh ra có cha có mẹ, có nhà cửa? Tại sao người ta có đầy đủ sáu căn mà tại sao mình lại không có đầy đủ tay chân? Tại sao mình lại nghèo khổ, mình phải lê lếch đầu đường xó chợ, phải cầm lon bằng tay cụt để ăn xin? Người này tức tưởi oán hận, trách trời hận người, hận đời vì người này không biết được nghiệp quả cho nên trong bài xả vô lượng tâm là thương thay cho chúng sanh trong bóng đêm mù lòa vừa trả vừa vay. Mình không biết ai là chủ nợ, mình không biết ai là con nợ, khi chủ nợ đến đòi thì mình lại tiếp tục vay nữa, lời lãi tiếp tục tăng lên và ác nghiệp tiếp tục chồng chất lên đôi vai của mình đến quằn cả cái gánh nghiệp.
Đã gánh nặng lại đi đường xa thế mà có người lại bỏ thêm đá lên thì đến bao giờ mới trút được gánh nặng của ác nghiệp? Muốn trút bỏ gánh nặng này chỉ còn cách kiểm tra ngôn ngữ, lời nói, hành động, đó là nhận diện ngũ uẩn mà chúng ta đang học, đó chỉ mới nói về sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, ngoài ra còn biết bao cảm giác thúc giục trong tâm, biết bao cảm giác tức giận, bực bội, nóng bức, nó bức xúc, hận thù trong này, ngoài ra còn biết bao cảm giác ngu si, si mê, tà kiến, dại khờ trong tâm mình, mình phải thấy sự nguy hiểm và tác hại của nó.
Một cảm thọ tức giận, sân hận sanh khởi mà mình đi đổ cảm thọ đó cho người ở chung mình thì có thấy họ khổ không? Mình đang bực người nào đó ngoài đường rồi về nhà thấy chồng/vợ là cự cãi, mình đem những cảm thọ bực bội, sân giận, nhiệt não, nóng bức đổ cho người thân, mình làm khổ mình làm khổ người, mình hại mình hại người, nói qua nói lại là thành cãi nhau, một lúc sau thành chuyện lớn hơn nữa.
IV. 40 điều đưa vào địa ngục
Đó là chuyện trong nhà, còn ngoài đường có để yên cho mình nói hay hành động cho hả dạ không? Mình phải thấy được sự tai hại, nguy hiểm của ba thứ cảm thọ ác độc này, tham dục, sân hận và si mê, từ ba cái này mới bung ra thân 3 miệng 4 ý 3 là 10. Từ cái 1 là cảm thọ bung ra tham, sân, si thành 3, từ cái 3 đó tủa ra thành 10, từ cái 10 này nhân rộng ra kinh 20, kinh 30, kinh 40. Từ cái nghiệp sát sanh Đức Phật chỉ ra bốn phương diện để chúng ta thấy 10 ác nghiệp này ra 40 điều, Phật nói ai phạm 40 điều đó sẽ rơi vào địa ngục.
"Thành tựu với bốn mươi pháp, này các Tỳ-kheo, như vậy tương xứng bị rơi vào địa ngục. Thế nào là bốn mươi?
1.Tự mình sát sanh.
2.Khuyến khích người khác sát sanh.
3.Tùy thuận sát sanh.
4.Tán thán sát sanh.
5.Tự mình lấy của không cho.
6.Khuyến khích người khác lấy của không cho.
7.Tùy thuận lấy của không cho.
8.Tán thán lấy của không cho.
9.Tự mình tà hạnh trong các dục.
10.Khuyến khích người khác tà hạnh trong các dục.
11.Tùy thuận tà hạnh trong các dục.
12.Tán thán tà hạnh trong các dục.
13.Tự mình nói láo.
14.Khuyến khích người khác nói láo.
15.Tùy thuận nói láo.
16.Tán thán nói láo.
17.Tự mình nói hai lưỡi.
18.Khuyến khích người khác nói hai lưỡi.
19.Tùy thuận nói hai lưỡi.
20.Tán thán nói hai lưỡi.
21.Tự mình nói lời thô ác.
22.Khuyến khích người khác nói lời thô ác.
23.Tùy thuận nói lời thô ác.
24.Tán thán nói lời thô ác.
25.Tự mình nói lời phù phiếm.
26.Khuyến khích người khác nói lời phù phiếm.
27.Tùy thuận nói lời phù phiếm.
28.Tán thán nói lời phù phiếm.
29.Tự mình có tham.
30.Khuyến khích người khác có tham.
31.Tùy thuận có tham.
32.Tán thán có tham.
33.Tự mình có sân tâm.
34.Khuyến khích người khác có sân tâm.
35.Tùy thuận sân tâm.
36.Tán thán sân tâm.
37.Tự mình có tà kiến.
38.Khuyến khích người khác có tà kiến.
39.Tùy thuận có tà kiến.
40.Tán thán có tà kiến.
Thành tựu bốn mươi pháp này, này các Tỳ-kheo, như vậy tương xứng bị rơi vào địa ngục" (Tăng Chi Bộ, Chương X – Mười Pháp, XXII. Không Có Ðầu Ðề, (IV). Bốn Mươi Pháp)
Như vậy trong bài kinh sự xuất ly trong giới luật của bậc Thánh nói rằng một vị Thánh đệ tử suy xét giết hại sinh mạng là đưa đến ác dị thục trong đời này và đời sau, sau khi suy xét vị ấy từ bỏ sát sanh, ra khỏi sát sanh. Cũng vậy, tà hạnh trong các dục, lấy của không cho, nói láo, nói hai lưỡi, nói ác khẩu, nói lời phù phiếm, tham dục, sân hận, si mê là đưa đến kết quả biến đổi chín muồi của ác nghiệp trong đời này và đời sau cho nên vị tu hành này sau khi suy xét như vậy thì vị ấy từ bỏ, vị ấy thoát ra. Mình phải suy xét những cái này thật nhiều, nếu mình thấy bản thân phạm giới nào đó trong mười cái này thì mình phải quán chiếu, chiêm nghiệm cái tai hại, hậu quả mà mình phải mang trong những hành động của ác nghiệp này, thường xuyên suy nghĩ, viết ra giấy, đọc lên rồi ghi âm, lạy trước bàn Phật, dập đầu sám hối. Có những bài kinh tương ứng với ác nghiệp được Đức Phật nói đến trong Nikāya, trong đó Đức Phật nói những nhân quả của ác nghiệp.
Khi mình tác ý, suy tư, nghiền ngẫm, quán chiếu như vậy thật nhiều để thấy tai hại của nó thì tâm mình sẽ thoát ra, sẽ từ bỏ, đó là cách đi ra khỏi 10 ác nghiệp, thành tựu 10 thiện nghiệp. Song song đó mình cũng phải suy tư, tác ý, chiêm nghiệm, nhắc nhở về phước báo, lợi ích, công đức của việc từ bỏ sát sanh, hơn 10 lợi ích của tâm từ, mình sẽ được khỏe mạnh, được sống trường thọ, dung sắc của mình sẽ được từ ái, hiền hòa, mình sẽ không gặp những chứng bệnh nặng, tài sản được kiên cố, được đầy đủ không bị thất thoát, không bị hỏa hoạn đốt cháy, không bị lũ lụt cuốn trôi, không bị động đất.
Lũ lụt ở đâu chứ chỗ mình không bị lũ lụt, động đất chỗ nào chứ chỗ mình ở không bị động đất, ăn cướp chỗ nào chứ chỗ mình không bị ăn cướp, đó là do mình giữ các giới, ai bị lừa gạt chứ mình không bị lừa gạt, lời mình nói ra mọi người đều nghe theo, đó là do mình từ bỏ nói dối, từ bỏ nói lưỡi đôi chiều, từ bỏ nói lời hung ác, từ bỏ nói lời phù phiếm. Tâm mình lìa xa tham, sân, si, sống với cái tâm trí tuệ, từ bi, ngọt ngào, an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, dễ thương, hiền lành, hiền hậu, hiền từ, hiền nhân, hiền hậu, hiền trí rồi chúng ta mới gặp được bậc hiền Thánh.
./.