Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Thánh Tăng Hộ Niệm Như Thế Nào - Kinh Giáo Giới Cấp Cô Độc A

2026-03-03 00:54:13
KINH NIKĀYA GIẢNG GIẢI

THÁNH TĂNG HỘ NIỆM NHƯ THẾ NÀO?

KINH GIÁO GIỚI CẤP CÔ ĐỘC A

–Thích Minh Thành–

Kính bạch quý thầy, quý sư cô và đại chúng. Con xin đọc tin nhắn của một Phật tử gửi.

Nam mô Bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Kính bạch thầy con có một câu hỏi khi lúc hấp hối lâm chung. Hiện nay tình hình dịch bệnh rất trầm trọng, đối diện nhà con có 15 người F0 đã bị đưa đi, con không biết khi nào tới mình cho nên con rất lo sợ cho cái chết. Nếu như đến lượt con, con phải ở trong bệnh viện đối diện với cái chết một mình không có gia đình, hiu quạnh, không có ai trợ niệm thì con phải chuẩn bị tư tưởng, tâm lý, tinh thần lúc đó như thế nào? Con phải niệm những điều gì, suy nghĩ và hướng tâm như thế nào, phải làm những điều gì ngay lúc hấp hối đó để con không đọa vào ba đường ác. Con kính xin thầy từ bi chỉ dạy cho con những điều này để con được hiểu trong những buổi dạy online sắp tới, con rất khao khát được nghe những điều này. Con xin tri ân thầy rất nhiều.

Đối diện nhà Phật tử này là 15 người F0, mỗi ngày nghe tiếng xe cứu thương vang dội, Hôm qua Minh Thành cũng nhận tin một Phật tử ở chung một người bị F0 nhưng chờ hai ngày chưa có ai đưa đi, thành phố hiện tại đang quá tải, bệnh viện, bác sĩ, điều dưỡng làm không xuể, những người F0 không có triệu chứng ở nhà. Một ngày gần ba ngàn người nhiễm bệnh, người bệnh phải chờ vì không đủ xe cấp cứu, không đủ gường bệnh, phòng bệnh và thiếu cả bác sĩ chăm sóc bệnh nhân.

"Nhân vô viễn lự, Tất hữu cận ưu".

Dịch nghĩa:"Người không biết lo xa, ắt sẽ có buồn gần".

Chúng ta ở trong cái an cũng đừng quên cái nguy, ở trong cái bình phải suy nghĩ lúc loạn, khi khỏe phải xét đến lúc bệnh đau, khi đang sống phải chuẩn bị, quán chiếu và lo lắng cho cái chết, đó là bậc trí. Người không có trí chỉ thấy hiện tại, thấy trước mắt, thấy rất cạn cợt, người có trí tuệ phải nhìn cho xa. Sáng nay thấy thầy Pháp An lưng còng vì bị đau xương sống, không có điều gì mình có thể biết trước được cho nên đừng nghĩ rằng mọi thứ sẽ như vầy hoài, đó là người ngu, si mê, hôn ám, vì thế chúng ta phải thường xuyên đặt mình vào hoàn cảnh như vậy để quán chiếu cái khổ, khi khổ đến mình sẽ có bình an còn cứ sống trong lãng quên, buông lơi, buông trôi đời sống của mình, đến khi tai họa ập đến cũng như Phật tử hỏi nếu rơi vào trường hợp nằm trong bệnh viện, phải thở bằng máy thì lúc bình thường không nỗ lực tu tập đến khi rơi vào trường hợp như vậy thì tâm phải làm sao. Vì thế những khi bình thường không biết nghĩ đến lúc bệnh tật, nguy nan thì tới lúc đó trở tay không kịp, tại sao Minh Thành chia sẻ thường đặt mình vào cái nguy cấp, cái khó vì khi đặt mình vào như vậy quen rồi thì khi chuyện đến mình sẽ bình tĩnh, cái này là tâm đại bi của Đức Phật. Những người bị nhiễm dịch bệnh đều bất ngờ, họ nghĩ rằng làm sao họ có thể bệnh được, chính cái bất ngờ đó mà người ta khổ đau, trong lúc bình thường phải tu tập để khi bất thường đến mình mới có được tâm bình thường, mình thường ở trong tâm thái bất thường để khi bất thường đến mình được bình thường, mình thường trong trạng thái bình thường nhưng khi bất thường đến mình không giữ được tâm bình thường, cho nên đây là lý do chúng ta phải luôn đặt mình trong Khổ Thánh Trí, phải nhìn thấy các nỗi khổ, phải nhìn thấy mọi hành pháp này là khổ đau, bệnh hoạn, tai nạn, tai họa, hiểm họa, mình không có cái thấy đó thì mình vẫn chưa bước được vào cổng chùa, mình phải suy nghĩ một cái trật chân có thể bể đầu, một cơn gió độc thổi qua có thể nằm liệt gường liệt chiếu, thức ăn không sạch có thể ngộ độc thực phẩm, một cơn đau bụng có thể phải mổ ruột thừa lập tức, một cảm xúc bất thiện sanh khởi bất thình lình có thể làm mình thân bại danh liệt, làm sụp đổ tất cả đạo hạnh gây dựng bao nhiêu năm qua, một cảm thọ sân hận có thể làm đổ vỡ tất cả tình huynh đệ, thầy trò, vợ chồng, mẹ con, một suy nghĩ sai lầm có thể phá tan tất cả cho nên phải tập cẩn thận từng chút trong từng suy nghĩ, cảm xúc, trong từng ý tưởng, hành động của mình, mình càng thận trọng, càng cẩn trọng, cẩn thận chừng nào thì mình càng ít lỗi lầm, ít tai họa, ít tai nạn, tức là mình sẽ được bình an. Người nào cũng biết dịch bệnh nguy hiểm, người nào cũng biết dính bệnh có thể lây cho cả gia đình nguy hiểm tính mạng nhưng chỉ cần có tin đồn thành phố chuẩn bị phong tỏa thì ùn ùn kéo nhau ra siêu thị giành giựt mua đồ, chen chúc nhau mua nhưng chưa hẳn đồ ăn ở nhà đã hết, mình không muốn khổ nhưng cứ đi tìm nguyên nhân của khổ, mình không muốn bệnh nhưng lại đi tạo ra những nguyên nhân để sanh bệnh cho nên cẩn thận rất có ích, đó là pháp của bậc Thánh, người không cẩn thận sẽ không tu được, có tu cũng phất phơ. Khi đại chúng lên hướng dẫn tu con phải theo dõi từng chút một, trong sự hướng dẫn đó thể hiện sự tu học thành tựu đến mức độ nào trong thời gian vừa qua cho nên trong mỗi việc đều phải chánh niệm, chỉ cần lơ là một chút không để tâm là đi ra khỏi hành xứ của ông cha mình để lại, tức là ra khỏi Tứ Niệm Xứ, khi mình không niệm thân – thọ – tâm – pháp, khi không nhớ hơi thở, không niệm oai nghi, hành động thì mình không quán chiếu tứ đại, không thấy tứ đại mà chỉ thấy cái tôi thì mình đã ra khỏi hành xứ của ông cha mình, mình không thấy đất; nước; gió; lửa, không thấy sự vô thường, khổ, vô ngã, không thấy cái pháp đang vận hành thì lúc đó mình đi ra khỏi vòng tròn của Đức Thế Tôn và các bậc Thánh hiền.

"-- Thuở xưa, này các Tỳ-kheo, một con chim ưng cái thình lình vồ xuống và chụp lấy một con chim cút.

Rồi này các Tỳ-kheo, con chim cút bị con chim ưng cái bắt, than khóc như sau:

'-- Như thế này, thật bất hạnh cho tôi! Thật thiếu công đức cho tôi! Vì rằng tôi đã đi không phải chỗ hành xứ của mình, đi vào cảnh giới của người khác. Nếu tôi đi trong chỗ hành xứ của tôi, trong cảnh giới của cha mẹ tôi, thời con chim ưng này không thể hơn tôi, nếu phải đánh nhau'.

'-- Này Chim cút, thế nào là chỗ hành xứ của ngươi, thế nào là cảnh giới của cha mẹ ngươi?'

-- 'Là vạt đất được lưỡi cày xới lên'.

Rồi này các Tỳ-kheo, con chim ưng cái không có siết mạnh sức mạnh của mình, không có bóp chặt sức mạnh của mình, thả con chim cút rồi nói:

-- 'Hãy đi, này Chim cút. Sau khi đi tại chỗ ấy, ta sẽ không thả cho ngươi'.

Rồi này các Tỳ-kheo, con chim cút đi đến vạt đất được lưỡi cày xới lên, leo lên một hòn đất lớn, đứng trên ấy và nói với con chim ưng:

'-- Này, hãy đến ta, Chim ưng! Này, hãy đến ta, này Chim ưng!'

Rồi này các Tỳ-kheo, con chim ưng cái siết mạnh sức mạnh của mình, bóp chặt sức mạnh của mình, xếp cả hai cánh, thình lình vồ lấy con chim cút. Này các Tỳ-kheo, khi con chim cút biết được: 'Con chim ưng này đang vồ mạnh xuống ta', liền nấp sau hòn đất ấy. Này các Tỳ-kheo, ở đây, con chim ưng bị bể ngực.

Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, đối với ai đi tới chỗ không phải hành xứ của mình, đi đến cảnh giới của người khác. Do vậy, này các Tỳ-kheo, chớ có đi đến chỗ không phải hành xứ của mình, chỗ cảnh giới của người khác. Này các Tỳ-kheo, đi đến chỗ không phải hành xứ của mình, đi đến cảnh giới của người khác, thời Ác ma nắm được cơ hội, Ác ma nắm được đối tượng.

Này các Tỳ-kheo, chỗ nào không phải hành xứ của Tỳ-kheo? Chỗ nào là cảnh giới của người khác? Chính là năm dục công đức. Thế nào là năm?

Có các sắc do mắt nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Có các tiếng do tai nhận thức... Có các hương do mũi nhận thức... Có các vị do lưỡi nhận thức... Có các xúc do thân nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Này các Tỳ-kheo, đây là chỗ không phải hành xứ của Tỳ-kheo, chỗ cảnh giới của người khác.

Này các Tỳ-kheo, hãy đi đến chỗ hành xứ của mình, chỗ cảnh giới của cha mẹ mình. Này các Tỳ-kheo, đi đến chỗ hành xứ của mình, đến cảnh giới của cha mẹ mình, thời Ác ma không nắm được cơ hội, không nắm được đối tượng.

Và này các Tỳ-kheo, chỗ nào là chỗ hành xứ của Tỳ-kheo? Chỗ nào là cảnh giới của cha mẹ? Chính là bốn niệm xứ. Thế nào là bốn?

Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo trú, quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời; trú, quán thọ trên các thọ...; trú, quán tâm trên tâm...; trú, quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Này các Tỳ-kheo, đây là chỗ hành xứ của mình, chỗ cảnh giới của cha mẹ mình". (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm,  Chương III. Tương Ưng Niệm Xứ (a), I. Phẩm Ambapàli, VI. Con Chim Ưng)

Chúng ta phải biết lo sợ giống như đối diện nhà mình có 15 người F0, phải đặt mình vào hoàn cảnh đó để biết lo, biết sợ, đặt mình vào hoàn cảnh khó khổ, hiểm họa để khi hiểm họa đến mình được bình an, lúc nào mình cũng đặt bản thân vào trạng thái bất thường để khi bất thường đến mình được bình thường, còn nếu cứ ở trong trạng thái bình thường đến khi bất thường đến mình sẽ bất ngờ, hoảng loạn, khi mình ở trong trạng thái thường thường thì khi vô thường đến mình sẽ bị vô thường cuốn đi, khi ở trong trạng thái vô thường thì khi vô thường đến mình được bình thường, mình thường sống trong trạng thái thấy khổ thì khi khổ đến mình không khổ, mình ở trong trạng thái vui, bình an đến khi khổ đến mình cực kì đau khổ, đó là chủ đề cho chúng ta quán chiếu. Khi mình tu học hoặc làm việc bị quá giờ ăn hoặc giờ ngủ thì cũng tập tâm bình thường, đừng mong muốn được bình thường mà không chịu bất thường, đến khi bất thường đến mình sẽ khổ.

"Một thời, Thế Tôn trú ở Savatthi (Xá-vệ), Jetavana, (Kỳ-đà Lâm), tại tinh xá ông Anathapindika (Cấp Cô Ðộc).

Lúc bấy giờ, cư sĩ Cấp Cô Ðộc bị bệnh, khổ đau, bị trọng bệnh. Rồi cư sĩ Cấp Cô Ðộc gọi một người:

-- Hãy đến đây, này Bạn. Hãy đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nhân danh ta, cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn và bạch như sau: 'Bạch Thế Tôn, cư sĩ Cấp Cô Ðộc bị bệnh, khổ đau, bị trọng bệnh. Cấp Cô Ðộc xin cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn'. Rồi đi đến Tôn giả Sariputta (Xá-lợi-phất), sau khi đến, nhân danh ta cúi đầu đảnh lễ Tôn giả Sariputta và thưa như sau: 'Thưa Tôn giả, cư sĩ Cấp Cô Ðộc bị bệnh, khổ đau, bị trọng bệnh. Cấp Cô Ðộc xin cúi đầu đảnh lễ Tôn giả Sariputta và thưa như sau: 'Thưa Tôn giả, lành thay, nếu Tôn giả Sariputta vì lòng từ mẫn, đi đến trú xứ của cư sĩ Cấp Cô Ðộc'.

-- Thưa vâng, Tôn giả.

Người ấy vâng đáp cư sĩ Cấp Cô Ðộc, đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ chân Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, người ấy bạch Thế Tôn:

-- Bạch Thế Tôn, cư sĩ Cấp Cô Ðộc bị bệnh, khổ đau, bị trọng bệnh. Xin cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn.

Rồi người ấy đi đến Tôn giả Sariputta, sau khi đến đảnh lễ Tôn giả Sariputta rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, người ấy thưa với Tôn giả Sariputta:

-- Thưa Tôn giả, cư sĩ Cấp Cô Ðộc bị bệnh, khổ đau, bị trọng bệnh, xin cúi đầu đảnh lễ Tôn giả Sariputta và thưa như sau: 'Thưa Tôn giả, tốt lành thay, nếu Tôn giả Sariputta vì lòng từ mẫn đi đến trú xứ của cư sĩ Cấp Cô Ðộc'.

Tôn giả Sariputta im lặng nhận lời. Rồi Tôn giả Sariputta đắp y, cầm y bát, cùng với Tôn giả Ananda là thị giả, đi đến trú xứ của cư sĩ Cấp Cô Ðộc, sau khi đến liền ngồi lên chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi, Tôn giả Sariputta nói với cư sĩ Cấp Cô Ðộc.

-- Này Cư sĩ, ta mong rằng Ông có thể kham nhẫn; Ta mong rằng Ông có thể chịu đựng. Ta mong rằng khổ thọ được giảm thiểu, không gia tăng, sự giảm thiểu được rõ rệt, không có gia tăng.

-- Thưa Tôn giả Sariputta, con không có thể kham nhẫn, con không có thể chịu đựng. Sự khổ thống của con gia tăng, không có giảm thiểu; sự gia tăng rõ rệt, không có giảm thiểu. Thưa Tôn giả Sariputta, ví như một người lực sĩ chém đầu (một người khác) với một thanh kiếm sắc bén; cũng vậy, thưa Tôn giả Sariputta, những ngọn gió kinh khủng thổi lên đau nhói trong đầu con". (Trung Bộ Kinh, 143. Kinh Giáo giới Cấp Cô Ðộc)

Thầy Pháp An hãy nghe kĩ bài kinh này vì đây là lá bùa hộ mạng cho thầy, không phải lúc nào quý thầy, quý cô và con cũng ở kế bên thầy. Ngài Cấp-cô-độc bị đau như người lực sĩ cầm dao chém vào đầu, kinh khủng, kinh hoàng đến như vậy, mình đừng nghĩ mình còn trẻ là dịch bệnh, tai nạn, cái chết tha cho mình.

"Thưa Tôn giả Sariputta, con không có thể kham nhẫn, con không có thể chịu đựng. Những khổ thống của con gia tăng, không có giảm thiểu; sự gia tăng rõ rệt, không có giảm thiểu. Thưa Tôn giả Sariputta, như một người lực sĩ lấy một dây nịt bằng da cứng quấn tròn quanh đầu rồi xiết chặt; cũng vậy, thưa Tôn giả Sariputta, con cảm thấy bị đau đầu một cách kinh khủng. Thưa Tôn giả Sariputta, như một người đồ tể thiện xảo hay đệ tử người đồ tể cắt ngang bụng với một con dao cắt thịt bò sắc bén; cũng vậy, thưa Tôn giả Sariputta, một ngọn gió kinh khủng cắt ngang bụng của con. Thưa Tôn giả Sariputta, con không có thể kham nhẫn, con không có thể chịu đựng. Những khổ thống của con gia tăng, không có giảm thiểu; sự gia tăng rõ rệt, không có giảm thiểu. Thưa Tôn giả Sariputta, ví như hai người lực sĩ, sau khi nắm cánh tay của một người yếu hơn, nướng người ấy, đốt người ấy trên một hố than hừng; cũng vậy, thưa Tôn giả Sariputta, một sức nóng kinh khủng khởi lên trong thân con. Thưa Tôn giả Sariputta, con không có thể kham nhẫn, con không có thể chịu đựng. Những thống khổ của con gia tăng, không có giảm thiểu; sự gia tăng rõ rệt, không có giảm thiểu". (Trung Bộ Kinh, 143. Kinh Giáo giới Cấp Cô Ðộc)

Nếu bình thường mình không tập luyện, không chịu khó thức khuya dậy sớm, đói bụng, những cảm thọ đau chút chút thì đến khi phải nhận những cảm thọ đau đớn như trong kinh thì làm sao mình chịu nổi? Một trong những pháp Đức Phật dạy là niệm tử, phải nhớ mình sẽ chết, khi niệm rồi các phiền não, tham, sân, si sẽ lắng dịu.

"-- Do vậy, này Cư sĩ hãy học tập như sau: 'Tôi sẽ không chấp thủ con mắt, và tôi sẽ không có thức y cứ vào con mắt'. Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy. Do vậy, này Cư sĩ, hãy học tập như sau: 'Tôi sẽ không chấp thủ tai, và tôi sẽ không có thức y cứ vào tai'. Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy. Do vậy... không chấp thủ mũi... y cứ vào mũi... hãy học tập như vậy. Do vậy... không chấp thủ lưỡi... y cứ vào lưỡi.... hãy học tập như vậy. Do vậy... không chấp thủ thân... y cứ vào thân... hãy học tập như vậy. Do vậy... không chấp thủ ý... y cứ vào ý... hãy học tập như vậy". (Trung Bộ Kinh, 143. Kinh Giáo giới Cấp Cô Ðộc)

Con mắt này không phải là tôi, tôi không phải là con mắt này. Tôi sẽ không bám chấp vào con mắt này, cái thấy biết của con mắt này không phải là tôi, không phải của tôi, tôi không phải là nhãn thức, nhãn thức không phải là tôi. Những điều này lúc bình thường ngài Cấp-cô-độc đã nghe, đã học và đã nhận diện các pháp nên lúc sắp chết ngài sẽ quán được, còn người bình thường không thể quán được. Tôi sẽ không nắm chặt vào lỗ tai này, tôi sẽ không dính mắc vào lỗ tai này, tôi không cho rằng lỗ tai này là tôi, là của tôi, đây là quán sự không chấp thủ và từ bỏ sáu căn, lúc đau bệnh thì con mắt đau, tai đau, mũi, mặt, thân thể đau, nếu mình nghĩ "con mắt tôi đau quá", "cái bụng tôi đau quá", "cái đầu tôi đau quá"… thì cái đau càng nhân lên nhưng ở đây không nghĩ sáu căn là mình, là của mình, sự chấp thủ được tháo gỡ thì cái thức sẽ không y cứ vào sáu căn đó, nó không có cơ sở, nền tảng, sanh y bám vào đó để phát khởi ra các cảm thọ khổ đau, luyến tiếc, thống khổ, gỡ ý hành, gỡ cái tưởng, cái thấy biết ra thì cảm thọ sẽ theo đó thoát ra. Không chấp thủ vào mũi, không nắm chặt vào lưỡi, miệng, khi tác ý như vậy thì sự nắm chặt được gỡ ra, tháo ra thì cảm thọ sẽ được lắng dịu hoặc là thoát ra khỏi cảm thọ, không bị dính mắc vào đó. Khi nghĩ mắt; tai; mũi; lưỡi; thân này của tôi thì khi đau nhức quằn quại là tôi đau nhức quằn quại, còn bây giờ những thứ này không phải tôi, không phải của tôi, không phải tự ngã của tôi, tức là thoát ra khỏi nó thì cái đau nhức đó là đau nhức của tứ đại, hình hài, sắc uẩn chứ không phải tôi đau, chúng ta thường thực tập, tác ý hằng ngày thì đến khi cần mới sử dụng được. Những câu nói của ngài Xá-lợi-phất là những khẩu quyết, là những tinh túy, tinh hoa, cốt tủy của sự nhận diện, quán chiếu, sâu sắc trong lúc bình thường để đến khi cần mới dùng được, ngài Cấp-cô-độc đã đi theo Đức Phật rất nhiều năm, hằng ngày đi đến Tinh xá được nghe rất nhiều thời pháp của Phật nên khi ngài Xá-lợi-phất nói những điều này ra thì ngài Cấp-cô-độc mới quán chiếu được, còn người bình thường không biết cái gì thì làm sao nói ra họ có thể hiểu được, chưa cần nói người không biết Phật pháp mà đến người Phật tử trong lúc gần chết nếu mình đọc bài này hộ niệm chưa chắc họ biết, nếu có biết cũng sơ sơ trên suy nghĩ thôi, rồi đến những người tu trong dòng pháp Nikāya đến khi đau đớn gần chết như vậy mà mình đọc bài này có còn thực hành nổi không? Như vậy đó nhưng mình sống rất vô tư vì lúc nào cũng có suy nghĩ còn trẻ, còn khỏe làm sao chết được, đó là vô minh, bây giờ chết trẻ rất nhiều, ở độ tuổi vị thành niên đã gây ra biết bao án mạng, cho nên cần gỡ ra sáu căn và sáu thức, tu học hằng ngày phải tập gỡ nó ra khỏi thân tâm, tập niệm câu "con mắt này không phải tôi, không phải của tôi", "lỗ tai, miệng, lưỡi này không phải tôi, không phải của tôi", "thân thể này không phải tôi, không phải của tôi", mình niệm như niệm Phật, vừa niệm vừa sanh cảm thọ. Đây là bài kinh giáo giới cho người sắp mạng chung (chết), sau đó đến sáu trần.

"Do vậy, này Cư sĩ, hãy học tập như sau: 'Tôi sẽ không chấp thủ sắc, và tôi sẽ không có thức y cứ vào sắc'. Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy. Do vậy... 'Tôi sẽ không chấp thủ thọ... Tôi sẽ không chấp thủ tưởng... Tôi sẽ không chấp thủ hành... Tôi sẽ không chấp thủ thức và tôi sẽ không có thức y cứ vào thức giới'. Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy". (Trung Bộ Kinh, 143. Kinh Giáo giới Cấp Cô Ðộc)

Khi nãy là nói thân xác mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý, chữ "sắc" ở đây bao gồm sắc uẩn, là thân này và tất cả tài sản, vật chất xung quanh này. Mình thích tượng Phật, quý tượng Phật nhỏ này vậy là thức của mình bị y cứ vào tượng này, lâu lâu hình bóng tượng đó ám ảnh trong tâm, không thì vàng, tiền hoặc con người nào đó, cái đó gọi là chấp thủ vào sắc và thức y cứ vào sắc. Món đồ nào mình ưa, mình thích tức là mình chấp thủ và có thức y cứ vào đó, đó là lý do có nhiều trường hợp nhìn đồ vật mà nhớ người xưa là vậy, thậm chí có những oan hồn trong món đồ đó không siêu thoát được, đó là chấp thủ và cái thức y cứ vào sắc pháp đó. Trong những cái cây có phi nhân trong đó, họ cho đó là nhà của họ, người nào đến chặt cây là tai họa, đó là chấp thủ vào cây đó và thức y cứ vào cây đó, đối với căn nhà cũng vậy, cho nên mới có căn nhà ma, không ai dám lại ở.

"Do vậy, này Cư sĩ, hãy học tập như sau: 'Tôi sẽ không chấp thủ nhãn thức, và tôi sẽ không có thức y cứ vào nhãn thức'. Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy. Do vậy... 'Tôi sẽ không chấp thủ nhĩ thức... Tôi sẽ không chấp thủ tỷ thức... Tôi sẽ không chấp thủ thiệt thức... Tôi sẽ không chấp thủ thân thức... Tôi sẽ không chấp thủ ý thức, và tôi sẽ không có thức y cứ vào ý thức'. Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy". (Trung Bộ Kinh, 143. Kinh Giáo giới Cấp Cô Ðộc)

Có sáu thức: Nhãn thức; nhĩ thức; tỷ thức; thân thức; thiệt thức; ý thức và cái thức y cứ vào sáu cái thức, là sự chấp thủ. Trong kinh Nikāya Đức Phật không nói đến thức thứ 7 nhưng sau này người ta nói chính là Mạt-na, tức là sự nắm giữ vào trong sáu cái biết đó, cho nó là tôi, có một cái biết bám chặt vào sáu cái biết về sắc; mùi vị; xúc chạm hay cái biết thọ; tưởng; hành bên trong và cho cái nó là tôi, là của tôi, rồi yêu thích cái biết đó, tức là vô minh và tham ái với cái biết đó. Chỉ khi nào tĩnh tâm thiền quán mới thấy những điều này rất sâu sắc, dày đặc các lớp vô minh, tham ái, chấp thủ trong nội tâm, nếu không nội soi, thiền quán, không đi sâu vào bên trong thì mình y như con rối, vô minh, tham ái, chấp thủ là đạo diễn cho mọi việc. Cái nào cũng cho là tôi, tôi thấy, tôi nghe, tôi biết, tôi cảm xúc, tôi suy tư. Ngài Xá-lợi-phất dạy rằng không được có cái thức bám vào nhĩ thức này, thật ra cái này là ý niệm là tôi, là của tôi, "tôi là" là một sự động chuyển của tâm, "tôi là" là một ung nhọt, là mũi tên cho nên để tháo ra chấp ngã trong tâm là cả một công trình to lớn, là một sự nỗ lực khủng khiếp chứ không phải tu thường thường là làm được, phải suy xét từng ý niệm, từng suy nghĩ, từng cảm thọ, thậm chí đến ý hành lầm thầm trong thọ thôi cũng cho là mình, là tôi, là của tôi, nó không chịu buông bỏ ra, không nói ra miệng, không thể hiện trên mặt nhưng một ý hành thầm trong đầu là không chấp nhận và mình cũng phải thấy được cái thầm ý đó.

"Này các Tỳ-kheo, cái chúng ta tư niệm, tư lường, có thầm ý, cái ấy trở thành sở duyên cho thức an trú. Khi nào sở duyên có mặt thời thức có an trú. Do thức ấy an trú, tăng trưởng, nên trong tương lai, tái hữu sanh khởi. Do sanh khởi tái hữu có mặt trong tương lai, nên già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não sanh khởi. Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này.

Này các Tỳ-kheo, nếu không có tư niệm, không có tư lường nhưng nếu có thầm ý (canuseti), cái ấy trở thành sở duyên cho thức an trú. Khi nào sở duyên có mặt thời thức có an trú. Do thức ấy an trú, tăng trưởng, nên trong tương lai, tái hữu sanh khởi. Do sanh khởi tái hữu có mặt trong tương lai, nên già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não sanh khởi. Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này.

Này các Tỳ-kheo, nếu chúng ta không có tư niệm, không có tư lường, không có thầm ý, thời không có sở duyên cho thức an trú. Khi nào sở duyên không có mặt thời thức không an trú. Do thức ấy không an trú và không tăng trưởng, nên trong tương lai tái hữu không sanh khởi. Do sanh khởi tái hữu không có mặt trong tương lai, nên sanh, già chết, sầu, bi, ưu, não được đoạn diệt. Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khổ uẩn này". (Tương Ưng Bộ, Tập II – Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (b), IV. Phẩm Kalàra - Vị Sát Ðế Lỵ, VIII. Cetanà: Tư Tâm Sở)

Nói ra lời thì chúng ta dễ thấy rồi nhưng ở đây không nói thành lời mà thầm ý bên trong cho rằng sắc; thọ; tưởng; hành; thức này là tôi, là của tôi, nghĩa là không chấp nhận Thánh trí tuệ, cho nên phải nhìn thấy cái thầm ý, sự chống đối đó và mình phải loại bỏ từ từ. Phải tháo gỡ cái thâm sâu trong cảm thọ, cho nên đây là lý do phải tập nhận diện ngũ uẩn. Tôi không chấp thủ vào tỷ thức, thiệt thức, thân thức và tôi sẽ không y cứ vào tỷ thức, thiệt thức, thân thức, nếu mình không biết thức là gì thì làm sao quán chiếu được? Cho nên hằng ngày phải nhận diện sáu thức, cái thâm sâu chính là ý thức, tôi không cho rằng sự rõ biết thọ; tưởng; hành này là tôi và của tôi, tôi sẽ không để tôi bị dính mắc, nắm chặt vào những cảm giác, nghĩ tưởng này và tôi sẽ không có thức dựa dẫm vào ý thức này, những điều này vô cùng sâu xa cho nên tâm mình tu rất vi tế, tế nhị, sâu sắc, nhận diện sáu thức chưa rõ ràng thì làm sao mình biết được sự chấp thủ đối với sáu thức? Sự chấp thủ ở đây là suy nghĩ, là ý hành, rõ biết các sắc là tôi, rõ biết âm thanh này là tôi, rõ biết mùi vị là tôi, rõ biết về sự đụng chạm của thân là tôi, là của tôi và sâu bên trong là những sự rõ biết về cảm giác, hình bóng, suy nghĩ là tôi, là của tôi, trong suy nghĩ của mình là một sự bám víu, bấu chặt cho rằng đó là tôi, là của tôi thì gọi là chấp thủ. "Tôi sẽ không có thức y cứ vào có thức", một cái thức nương dựa vào ý thức đó, là một sự ưa thích vì không hiểu biết cái đó là vô thường, khổ, vô ngã, qua đây mới thấy chúng ta còn phải tu học thêm rất nhiều.

"Do vậy, này Cư sĩ, hãy học tập như sau: 'Tôi sẽ không chấp thủ nhãn xúc, và tôi sẽ không có thức y cứ vào nhãn xúc'. Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy. Do vậy... 'Tôi sẽ không chấp thủ nhĩ xúc... Tôi sẽ không chấp thủ tỷ xúc... Tôi sẽ không chấp thủ thiệt xúc... Tôi sẽ không chấp thủ thân xúc.. Tôi sẽ không chấp thủ ý xúc, và tôi sẽ không có thức y cứ vào ý xúc'. Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy.

Do vậy, này Cư sĩ, hãy học tập như sau: 'Tôi sẽ không chấp thủ thọ do nhãn xúc sanh khởi, và tôi sẽ không có thức y cứ vào thọ do nhãn xúc sanh khởi'. Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy. Do vậy... 'Tôi sẽ không chấp thủ thọ do nhĩ xúc sanh khởi... Tôi sẽ không chấp thủ thọ do tỷ xúc sanh khởi... Tôi sẽ không chấp thủ thọ do thiệt xúc sanh khởi... Tôi sẽ không chấp thủ thọ do thân xúc sanh khởi... Tôi sẽ không chấp thủ thọ do ý xúc sanh khởi và tôi sẽ không có thức y cứ vào thọ do ý xúc sanh khởi'. Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy". (Trung Bộ Kinh, 143. Kinh Giáo giới Cấp Cô Ðộc)

Đến đây là mở ra từng bộ phận cho chúng ta thấy rõ, khi Minh Thành bước ra thấy người dân làm cái này làm cái nọ, lấn đất chùa, khi xúc là thọ sanh khởi lên nên phải tác ý ngay "hãy giao cho các cư sĩ, họ làm được cái gì thì làm, cái này không phải là mình, không phải của mình, không phải sở hữu của mình", sau khi tác ý cái tâm mới yên tịnh, giữ tâm mình quý hơn giữ tài sản, đất đai. Những thứ tài sản vật chất này khi chết đi cũng không đem theo được, nhưng nếu không giữ tâm được thì mai này ra đi sẽ mất tâm an tịnh, bất động, an định, mất tâm lắng dịu, mất tâm này mới thật sự nghèo khổ, vì thế sự xúc chạm này cực kì quan trọng. Khi ở trong thất không gặp ai, không tiếp xúc ai thì tâm được yên rất dễ đi sâu vào pháp, còn thấy cái này cái kia, nhất là vào chợ giao du với những người thị phi, ác bạn hữu là bị cuốn trôi theo đó, 'Tôi sẽ không chấp thủ thọ do nhãn xúc sanh khởi, và tôi sẽ không có thức y cứ vào thọ do nhãn xúc sanh khởi', chỗ này rất sâu sắc, khi tiếp xúc sẽ sanh ra thọ, làm sao phải tháo gỡ cái xúc này ra, mắt gặp sắc và có sự rõ biết sắc, ba pháp đó hội tụ ngay lúc tiếp xúc thì mình phải sắc bén nhận ra ngay chỗ nhãn xúc đó như thế nào, chưa chắc mình nhận diện ra được thọ do nhãn xúc sanh vì nó rất nhanh, khi tu học Nikāya này mà không có thiền định, không có tâm an tịnh, lắng dịu, định tĩnh là không thấy được pháp, mà không thấy pháp thì làm sao giãn trạch, phân biệt, làm sao nhiếp phục, đoạn tận, tẩy sạch được? Mắt nhìn thấy là sanh khởi cảm thọ lập tức, tai nghe tiếng là lập tức sanh khởi cảm thọ, những cái này diễn ra rất nhanh mình chặn lại không kịp, nổi sân hoặc tham dục lên rồi một lúc sau mới nhận ra nó nhưng vẫn đỡ hơn không thấy. Tôi không chấp thủ vào nhãn xúc, nhĩ xúc, tỷ xúc, thiệt xúc, thân xúc, ý xúc và tôi không có thức y cứ vào nhãn xúc, nhĩ xúc, tỷ xúc, thiệt xúc, thân xúc, ý xúc.

./.