Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

OAI NGHI CUNG KÍNH 2

2026-03-03 00:52:20
OAI NGHI CUNG KÍNH 2

- Thích Minh Thành-

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I.Thế Tôn cung kính Pháp PAGEREF _Toc74638088 \h 1

II.Cung kính, tùy thuận trong tu học PAGEREF _Toc74638089 \h 4

III.Diệt tâm buông lung, phóng dật PAGEREF _Toc74638090 \h 6

IV.Oai nghi của người tu PAGEREF _Toc74638091 \h 10

Thế Tôn cung kính Pháp

Khi đó, Đức Thế Tôn bên bờ sông Hằng, dưới cội cây giác ngộ khi mới vừa thành đạo. Thế Tôn độc cư thiền tịnh, tư tưởng sau đây khởi lên: "Thật là khó khăn, sống không có cung kính, không có vâng lời. Vậy Ta hãy cung kính, tôn trọng và sống y chỉ vào một Sa-môn hay Bà-la-môn.

Chúng ta hãy nhớ, đây là một người đã thành Chánh Đẳng Chánh Giác rồi.

Rồi Thế Tôn, suy nghĩ:

Với mục đích làm cho đầy đủ giới uẩn chưa được đầy đủ, Ta hãy cung kính, tôn trọng và sống y chỉ vào một Sa-môn hay Bà-la-môn khác. Nhưng Ta không thấy một chỗ nào trong thế giới chư Thiên, Ác ma và Phạm thiên, giữa các Sa-môn, giữa quần chúng loài Trời hay loài Người, không có một vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào khác, với giới uẩn cụ túc, tốt đẹp hơn Ta mà Ta có thể cung kính, tôn trọng và sống y chỉ

Không có một ai, chư Thiên, loài Người, các vị tu hành, không có một ai đầy đủ, tốt đẹp tất cả những giới hạnh như Ngài.

Với mục đích làm cho đầy đủ định uẩn chưa được đầy đủ, Ta hãy cung kính, tôn trọng và sống y chỉ vào một Sa-môn hay Bà-la-môn khác...

"Với mục đích làm cho đầy đủ tuệ uẩn chưa được đầy đủ...

Với mục đích làm cho đầy đủ giải thoát uẩn chưa được đầy đủ...

Với mục đích làm cho đầy đủ giải thoát tri kiến uẩn chưa được đầy đủ, Ta hãy cung kính, tôn trọng và sống y chỉ vào một Sa-môn hay Bà-la-môn khác. Nhưng Ta không thấy một chỗ nào trong thế giới chư Thiên, Ác ma và Phạm thiên, giữa quần chúng Samôn và Bà-la-môn, giữa loài Trời hay loài Người, không có một vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào khác, với giải thoát tri kiến uẩn tốt đẹp hơn Ta mà Ta có thể cung kính, tôn trọng và sống y chỉ.

Với pháp này, Ta đã chánh đẳng giác, Ta hãy cung kính, tôn trọng và sống y chỉ pháp này

Bài này là để minh họa cho bài trước. Đức Thế Tôn nói rằng, “Ta cung kính pháp, pháp này ta đã Chánh Đẳng Chánh Giác, ta đã thấy, biết, chứng ngộ đầy đủ, đồng đều, viên mãn tất cả mọi phương diện của chánh giác. Vậy ta hãy cung kính, tôn trọng, sống nương tựa y chỉ vào Thánh pháp này.”

Sáng nay chúng ta đang ngồi trên nền đất đó, là nền Thánh Pháp Viện - nơi sẽ tôn thờ Thánh Pháp Tạng Nikāya. Thế Tôn là bậc cha đẻ của pháp, mẹ sanh ra pháp, bậc chứng ngộ pháp, bậc thành tựu pháp, phát giác, phát hiện ra pháp, là bậc pháp chủ, pháp nhãn, pháp bổn, chủ của pháp, gốc của pháp, con mắt của pháp. Vậy mà Ngài còn thờ pháp làm thầy, còn chúng ta là ai? Chúng ta phải kiểm tra tâm cung kính pháp, cầu học pháp, thái độ học, thực tập tấm lòng của mình đối với pháp.

Rồi Phạm thiên Sahampati với tâm tư của mình biết được tâm tư của Thế Tôn, như một nhà lực sĩ duỗi cánh tay đang co lại, hay co lại cánh tay đang duỗi ra; cũng vậy, vị ấy biến mất ở Phạm thiên giới và hiện ra trước mặt Thế Tôn.

Phạm Thiên Sahamapati đắp thượng y vào một bên vai, chắp tay hướng tới Thế Tôn và bạch với Ngài.

Đắp thượng y một bên vai là biểu lộ sự cung kính của một người đệ tử đối với bậc đạo sĩ. Đó là Ta ba chủ, người đời gọi là đấng sáng tạo tạo hóa, là vị lãnh tụ của đấng chư thiên, phước đức tối cao, lạy dưới chân Đức Phật.

-Như vậy là phải, bạch Thế Tôn! Như vậy là phải, bạch Thiện Thệ! Bạch Thế Tôn, trong thời quá khứ, các vị A-la-hán, Chánh Đẳng Chánh Giác, chư Thế Tôn ấy cung kính, tôn trọng và sống y chỉ vào (Chánh) pháp.

-Bạch Thế Tôn, trong thời vị lai, các vị ấy sẽ thành A-la-hán, Chánh Đẳng Chánh Giác, chư Thế Tôn ấy sẽ cung kính, tôn trọng và sẽ sống y chỉ vào (Chánh) pháp.

-Bạch Thế Tôn, mong rằng trong thời hiện tại, Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Chánh Giác cũng cung kính, tôn trọng và sống y chỉ vào (Chánh) pháp”.

Thiên chủ nói như vậy xong, rồi Ngài trình lên một bài kệ:

Chư Phật thời quá khứ
Chư Phật thời vị lai
Và đức Phật hiện tại

Đoạn sầu muộn nhiều người.

Tất cả các vị ấy
Đã, đang và sẽ sống
Cung kính và tôn trọng
Pháp chơn chánh vi diệu
Pháp nhĩ là như vậy,
Đối với chư Phật-đà.
Do vậy, muốn lợi ích
Ước vọng làm Đại nhân
Hãy cung kính, tôn trọng
Pháp chơn chánh vi diệu
Hãy ghi nhớ giáo pháp
Chư Phật Chánh Đẳng Giác.

(Tương Ưng Bộ Kinh – Tập 1, Chương VI. Tương Ưng Phạm Thiên, I. Phẩm thứ nhất, bài kinh Cung kính)

Bài kinh này có tựa là kinh Cung kính, trong Tương Ưng Bộ Kinh tập 1. Cung kính pháp của Đức Thế Tôn, là sự cung kính pháp của tất cả các bậc Chánh Đẳng Giác thuở xưa, mai sau và hiện nay. Chúng ta đang thực tập pháp cung kính, rất đẹp. Hãy đọc bài kinh này, tụng bài kinh này, ghi nhớ bài kinh này.

Cung kính, tùy thuận trong tu học

Trong chùa có kinh nói những pháp mà người tu bị rơi vào không thể nào thành tựu:

Vị Tỳ-kheo sống không cung kính, không tùy thuận vào một Đạo sư; sống không cung kính, không tùy thuận Pháp; sống không cung kính, không tùy thuận Tăng; sống không cung kính, không tùy thuận Học Pháp; sống không cung kính bất phóng dật, không tùy thuận bất phóng dật; sống không cung kính, không tùy thuận sự lễ phép xã giao.(Trường Bộ Kinh, 33. Bài kinh Phúng tụng, Sáu không cung kính pháp). Một trong sáu pháp này, chỉ cần một pháp thôi, người nào bị rơi vào thì đóng cánh cửa Dự lưu, không thể Nhập lưu.

Này các hiền giả, ở đây sống cung kính, tùy thuận bậc Đạo sư; sống cung kính, tùy thuận Pháp; sống cung kính, tùy thuận Tăng; sống cung kính tùy thuận Học Pháp; sống cung kính tùy thuận bất phóng dật, không buông lung; sống cung kính tùy thuận lễ phép, xã giao. (Trường Bộ Kinh, 33. Bài kinh Phúng tụng, Sáu cung kính pháp)

Những điều này quan trọng vô cùng. Đầy đủ sáu pháp này mới có khả năng thể nhập được pháp. Vị Đạo sư này chỉ cho Thế Tôn khi Ngài còn tại thế và chỉ cho vị hướng dẫn tu học của mình trong thời hiện tại. Vị đó đã thành tựu Chánh kiến. Bốn chữ “cung kính tùy thuận” này mang một ý nghĩa sâu sắc. “Cung kính” thì dễ hiểu, còn “tùy thuận” là thuận theo, nghe theo. Chúng ta cũng cần phân biệt, “Pháp” là riêng, “Học Pháp” là riêng. Pháp là lúc sáng chúng ta thực tập; học pháp là những cái cần phải làm, phải thực tập, những cái hạnh nhỏ, ví dụ: ăn không được nhai lớn tiếng, nói không được nói lớn tiếng, không được có những oai nghi thô tháo. Cho nên, những học pháp, hộ trì căn, đó là học pháp.Thế nên, khi tu học mình thấy người tu đẹp lắm! Chúng ta đang làm đẹp. Lúc sáng, con thấy quý thầy quý cô, đại chúng rất đẹp. Khi con đứng bên nhìn thoáng ra, các cô thưa chuyện, hạnh cung kính rất đẹp, con rất xúc động.

Chúng ta phải là hội chúng tinh ba, không làm hội chúng cặn bã. Cung kính, tùy thuận Đạo sư, cung kính, tùy thuận Pháp, Tăng. Tăng là đoàn thể, chứ không phải chỉ có quý thầy. Tất cả những người có mặt ở đây là thành phần của Tăng, gồm có Tỳ-kheo, Tỳ-kheo Ni, nam nữ cư sĩ, mình phải cung kính. Đừng nghĩ người đó là em, cháu của mình, đó là cái nghĩ của thế gian, mà tất cả đều phải cung kính, phải tôn trọng, phải tùy thuận. Trong chùa có từ “tăng sai”, không được chống đối, phải hòa hợp. Học nhiều lắm, đừng nghĩ mình biết được một chút là đủ. Trăm ngàn học pháp, trăm ngàn những hạnh vi tế; và chúng ta đang trú trọng vào oai nghi, cung kính của người tu. Khi nói chuyện, phải nói bằng tâm cung kính dù người đó nhỏ hơn mình, đừng nói chi là những người lớn.

Huấn luyện tâm, giáo dục, dạy dỗ tâm, áp đặt cái tâm mình vào pháp. Rồi mình sẽ thấy sự thay đổi, sự chuyển biến. Tập tôn trọng tất cả, tập tùy thuận, nếu đúng pháp, tùy thuận tất cả, đừng nuôi dưỡng những tâm chống đối chỉ tổn hại cho mình, nhất là trong hội chúng tu về Thánh pháp này. Dễ thành tựu mà cũng rất dễ bị đọa. Trong đây mình không biết ai là bậc nào, bậc nào trong bốn đôi tám chúng, cho nên phải cung kính tất cả. Đi trong dòng pháp này, vào hàng bốn đôi tám chúng là chuyện tất nhiên, vì đó là những bậc đi vào, "Đáng được chắp tay, đáng được đảnh lễ, đáng được cung kính, tôn trọng và đáng được cúng dường. Đó là ruộng phước vô thượng ở đời."

Nuôi dưỡng tâm cung kính này đem đến lợi lạc cho mình rất nhiều, nó bao bọc, bảo vệ mình, che chở, che chắn mình khỏi bom đạn, gươm dao, khỏi những sự đọa lạc. Tại sao nói “sống cung kính tùy thuận, không phóng dật”? Cái này khó, thật sự là hết sức vi tế. Tâm của mình chỉ vừa không phòng hộ, không thu nhiếp là nó phóng dật ngay lập tức, buông lung liền. Xả thời thiền quán ra, bắt đầu là nó bung rồi, đừng nói là ra khỏi thiền đường. Chỉ mới xả, đánh ba tiếng chuông thôi là bắt đầu bung ra. Khủng khiếp không? Cái tâm buông lung, phóng dật này, một trong năm kiết sử hết sức thâm căn cố đế trong người mình. Nhiều khi, chưa hết tiếng chuông thiền thì trong này nó nôn nao, “sao thầy lâu đánh chuông xả quá, tới giờ rồi.” Cho nên, để “cung kính tùy thuận bất phóng dật”, pháp này mới đưa đến sự thành tựu, tinh cần, tinh tấn.

Còn nếu thả tâm này ra là nó chạy, như hình ảnh buộc con chó vô cái cột, nó chạy vòng vòng, rồi mệt, nó ngủ, không có sợi dây là nó chạy, trong kinh còn ví dụ hình ảnh con khỉ, con vượn. Để ý, khi xả thiền, mình sẽ thấy trạng thái phóng dật, kiết sử vận hành. Cho nên mình thực tập cái an tịnh, trầm lặng rất là hay. Vua A Xà Thế, lần đầu tiên khi bước vào chỗ của Đức Phật, ông giật mình, nói với người dẫn đi: “Ngươi mai phục Trẫm hay sao, ngươi nói ở đây có một ngàn mấy trăm vị Tỳ-kheo, tại sao vô đây lại im phăng phắc, không có tiếng động, như chỗ không người vậy?” Và, khi ông bước vào, nhìn thấy Đức Thế Tôn ngồi uy nghiêm giữa hàng ngàn Tỳ-kheo, ông sụp xuống, đảnh lễ.

Diệt tâm buông lung, phóng dật

Cho nên, sống cung kính thuận theo, không phóng dật, không buông lung đó là một những học pháp rất khó làm. Khi ngồi nghe pháp, mình thành một con người khác; nhưng khi ra khỏi thiền, ra khỏi pháp thì lại thành một con người khác, tại sao vậy? Vì khi đi vào thiền, vào pháp, nhờ thiền, nhờ pháp gọi là áp đặt, kiềm chế lại, cho nên nó tạm an tịnh, lắng dịu. Dù vậy, vẫn có những người, ngồi vẫn không an tịnh, lắng dịu, một là ngủ gục, lờ đờ, hai là trong đầu nhảy lung tung mọi thứ.

Các ngũ cái là năm sợi dây trói buộc, người tu phải nhìn lại tâm, thân tâm của mình để triệt phá liên tục ngũ cái. Năm triền cái bao gồm: tham; sân; hôn trầm, rã rượi, ngủ gà ngủ gật; trạo cử, lăng xăng; hoài nghi pháp này. Năm cái đó phải triệt hạ triệt để thì mới vào sâu thiền được. Có khi ngồi chia sẻ pháp, nhìn xuống, thấy bên dưới thê thảm lắm! Người nào hôn trầm, nhìn tội nghiệp lắm! Thương lắm! Năm triền cái này ngăn che chúng ta trong sự tu học. “Cái” là che đậy, phủ trùm, lấp, bít.., “triền” là buộc, cột, quấn quanh. Đó gọi là năm triền cái, năm thứ che lại, trói cột, làm cho tâm cấu nhiễm, không phát huy được ánh sáng, trí huệ, khả năng để nhận thức được chân lý. Tâm chúng ta bị năm thứ này ngăn che, trùm phủ, đó là năm chướng ngại pháp. Có khi Minh Thành nhìn thấy, nhiều vị ngồi nghe pháp phải trợn hai con mắt lên. Là đang chiến đấu. Hay! Có người thì gục ngã giữa chiến trường.

Vì vậy, mỗi lúc nghe pháp, ngồi thiền, thực sự là đang xung trận, ra chiến trận. Với Minh Thành, thời nào cũng là thiền quán hết. Thế Tôn ngày xưa, tất cả buổi giảng của Ngài đều là thiền quán. Nhưng con người bây giờ không được, như Phật tử, các phái đoàn, con đâu có muốn nhưng vẫn phải làm chút gì đó cho họ sinh động lên, nếu không là ngủ gà ngủ gật. Có câu "dĩ huyễn độ chơn", tức là lấy cái giả đưa qua cho họ thấy cái thật. Tâm thức bị quấn chặt, bị che trùm phủ, bao vây mình tầng tầng lớp lớp như vậy.

Nhìn mấy chú đồng bào dân tộc khai phá mấy chỗ đất mới, cây cối, dây leo rậm rạp, gai góc. Nhìn vô đó, Minh Thành thấy tâm của mình còn hoang vu lắm; cái tâm rừng rú của mình, muốn khai phá nó còn khó hơn, vì trong đó chằng chịt hết. Cho nên, tự thân mỗi người phải nhìn lại, ai cũng có những cái kiết sử, nhưng mình phải để tâm nhiều nhất, phải nỗ lực, tìm đủ mọi cách thì mới mau phá trừ hơn, còn không có đủ tâm thì cứ như vậy hoài. Tu mười năm thì cũng chỉ như vậy. Biết thêm được một số kiến thức Phật pháp, có được chút cảm thọ, khóc lóc, lạy lục, thăng hoa được chút cảm giác rồi trở ra, vẫn y như vậy. Cho nên, người tu phải để ý từng chút một.

Trong kinh Tứ Niệm Xứ có nói, Tỳ-kheo là khi đi phải tuệ tri “ta đang đi”, khi ngồi, tuệ tri “ta đang ngồi”, khi nằm, tuệ tri “ta đang nằm”, khi đứng, tuệ tri “ta đang đứng”. Khi đắp y, ôm bát, co duỗi.., tất cả đều phải tuệ tri, tức là phải biết bằng trí tuệ. Hai chữ tuệ tri hết sức thâm sâu. Người ta thường hiểu lầm hai chữ đó, thường được dịch là rõ biết, là đi biết đi, đứng biết đứng, nằm biết nằm, nhưng không phải, đó là mình học chưa đầy đủ. Đức Phật có những bài kinh, “đang đi mà khởi lên ác bất thiện pháp; dục tham sân hận, si mê, bản ngã sanh khởi, khi đang đi là phải lập tức nỗ lực tẩy sạch, trừ diệt. Mà nếu như không làm được như vậy là kẻ hạ liệt, kẻ hèn hạ, thấp kém, trong giáo pháp của Như Lai.” Như vậy, mới được gọi là tuệ tri khi mình đang đi.

Còn mình đi, mình nói trong bản ngã, nói trong cái sân, mình nhập một rồi không thấy uẩn gì cả. Đó là thấy mà không thấy, gọi là học ngũ uẩn mà không thấy ngũ uẩn, chỉ thấy trên chữ nghĩa thôi. Những cái nào thô lậu, phàm phu chúng ta nhất định phải thấy. Bài kinh Tứ Niệm Xứ, khủng khiếp lắm, mình phải học bài kinh đó. “Tuệ tri” là biết bằng trí tuệ, trong oai nghi, hành động, cử chỉ đó phải biết có cái gì ở trong. Còn chỉ biết bên ngoài thì đó mới là niệm ngoại thân, tức là oai nghi, là cung kính. Vậy niệm thân là quán thế nào?

“Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đi, tuệ tri “tôi đi”, hay đứng, tuệ tri “tôi đứng”, hay ngồi, tuệ tri “tôi ngồi”, hay nằm, tuệ tri” tôi nằm”. Thân thể sử dụng như thế nào, vị ấy tuệ tri thân như thế ấy. Như vậy, vị ấy sống quán thân trên nội thân hay sống quán thân trên ngoại thân; hay sống quán thân trên nội thân, ngoại thân; hay sống quán tánh sanh khởi trên thân; hay sống quán tánh diệt tận trên thân; hay sống quán tánh sanh diệt trên thân. Có thân đây, vị ấy sống an trú chánh niệm như vậy với hi vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỷ-kheo, như vậy là vị ấy sống quán thân trên thân.” (Trung Bộ Kinh, 10. Kinh Niệm Xứ)

Như vậy, sống phải quán nội thân, quán ngoại thân, quán nội ngoại thân, quán tánh sanh diệt ở trên thân. Nội thân hay ngoại thân hay nội ngoại thân là tất cả các khía cạnh của thân thể. Đó là ngoài cử chỉ, oai nghi, hành động, đi đứng ngồi nằm co duỗi, cúi nhiếp, ôm bát, đắp y, nói, nín.., còn phải quán tới thành phần cấu tạo của thân - 32 thể trược, đó là quán nội thân, quán bên trong. Mình phải xem cảm giác trong khi đi, khi nói, khi làm, xem luôn cảm giác ở trong thân, đó là quán thọ. Rồi, quán, trong cảm giác đó, có gì ở trong đó, đó là tưởng, hành, thức. Còn quán pháp trên pháp là ở trong, sắc, thọ, tưởng, hành thức xem có thiện pháp vận hành hay bất thiện pháp, ác pháp vận hành. Đó là quán pháp trên pháp. Nếu thấy có ác bất thiện pháp, lúc đó mình phải Như Lý Tác Ý, tẩy sạch, diệt tận, đánh đuổi nó. Còn “tôi tham, tôi biết tôi tham, sân, biết có sân” , như vậy gọi là tuệ tri, biết bằng trí tuệ.

Trở lại, mình thấy có phóng dật, có buông lung, nhưng nếu mình không có tuệ tri thì mình không biết đang có buông lung, phóng dật, mình nghĩ nó bình thường. Lúc trưa này, con nói chuyện với các chú thợ, vì cái máy ồn quá nên phải nói lớn tiếng, và khi con bước vào, con thấy đại chúng đang thọ trai, con xấu hổ, thấy nhục, tàm quý. Chỗ đó không phải để cho mình nói lớn. Tại sao con nhắc nhở trong chúng nên làm cẩn thận, nhẹ nhàng, nhất là trong thời tu ở trên thiền đường, chánh điện. Đó là cung kính pháp. Như lúc nãy, mình ngồi, đại chúng thanh tịnh, chỉ cần một tiếng điện thoại nó reo lên, mình đã làm cho thọ, tưởng, hành tất cả đại chúng, nếu những người không tu tập sẽ bị dao động và có cảm thọ khó chịu. Ví dụ, mình nói người tu thôi, không nói người ngoài, vì họ không biết. Còn chúng ta là người tu, cứ tưởng: “à, tui quên” là bình thường, nhưng cái quên đó, tức là tâm mình trong lúc đó là trạng thái của vô minh, nó không biết chỗ đó phải nên làm cái gì. Sâu sắc tới mức độ như vậy.

Nếu là tâm trong sáng, nó sẽ biết chỗ đó phải làm gì, và tự động nó phải gạt xuống. Khi đi vào trong pháp hành, mình sẽ thấy nó tinh vi, tế nhị, và sâu sắc. Tu trong việc nhỏ vậy đó, từ chút từ chút một, chứ không đơn giản như mình suy nghĩ. Lúc trước, cứ nghĩ tu là theo hai thời khóa tụng, lúc sau thì mấy thời trên chánh điện, nhưng không phải. Sự tu là kiểm soát hết tất cả mọi cử chỉ, hành động của mình, soi xét xem có ngũ cái không? Soi xét xem có buông lung, phóng dật không? Ngay chỗ có, phải xấu hổ, nhục nhã, tác ý ngay. Còn nếu không là mình trơ trơ, vô tàm, vô quý. Và cuộc đời của mình, giống như lục bình trôi, đụng tới là sân si, sừng sộ, nhắc tới là buồn, hờn mát. Đi tu là phải được đẽo gọt, mài dũa, phải được đục, chạm, khắc.., nó mới có văn vẻ, trở thành tượng Phật. Còn không, chỉ là một khúc gỗ bên đường, để lâu ngày sẽ mục, dù cho gỗ tốt mà để ngoài mưa gió hoài thì cũng mục hư.

Cho nên, điều quan trọng ở đây là cung kính tùy thuận, không phóng dật. Điều này hết sức quan trọng, nhưng người tu bây giờ lại không coi trọng. Sự chánh niệm tỉnh giác của mình hay lắm. Tu pháp này là đổi đời, thay đổi vận mạng, làm cho mình lột xác, đầu thai kiếp khác. Minh Thành thường hay ví dụ ba điều:

Ví dụ 1: thay da đổi thịt, là phần oai nghi cung kính ở ngoài. Nếu chưa có oai nghi cung kính thì người này da thịt còn chưa thay đổi, chỉ sơ cấp, chưa thành tựu.

Ví dụ 2: thay xương đổi thịt, là bước thâm nhập trí huệ, thiền tư, thiền quán, quán chiếu. Tức là có được vỏ ngoài của phạm hạnh, còn vỏ trong là thịt của cây.

Ví dụ 3: siêu phàm nhập Thánh, là bắt đầu phá trừ thân kiến, hoài nghi, giới cấm thủ, muội lược tham sân để đi vào tần Thánh quả. Đó là siêu phàm nhập Thánh.

Muốn thành tựu về cung kính pháp hay oai nghi thì phải diệt được tâm buông lung, phóng dật. Không diệt cái đó thì không thể diệt được cái kia. Muốn diệt nó thì phải muốn diệt một cách mạnh mẽ, luôn để tâm vào đó, canh chừng giống như mèo rình chuột, thấy là phải xử liền, bắn liền, chụp cổ nó liền khi nó sanh khởi. Phải nỗ lực, suy nghĩ mọi cách, làm cho bằng được, đó là Tứ Như Ý Túc, bốn yếu tố để cho mình vạn sự như ý. Học điều này tuyệt vời lắm và chúng ta phải thực hành thường trực.

Oai nghi của người tu

Sống cung kính tùy thuận, lễ phép, xã giao, tuy thấy đơn giản nhưng rất quan trọng. Thông thường người ta toàn nói trên trời, toàn tổ với thánh.., trong khi phép xã giao còn chưa biết thì nói chi đến cung kính tùy thuận. Phép xã giao này là 24 Oai Nghi. Một chữ, một câu trong kinh Nikāya có thể diễn ra thành mấy chục pháp, đó là tất cả cành nhánh của kinh Nikāya. Hôm trước có nói, những điều này diễn từ trong kinh Tứ Niệm Xứ, kinh “Cung Kính”, từ trong những học pháp, những điều này người tu phải nằm lòng.

Hôm vừa rồi, Hòa thượng phó hiệu trưởng trường Cao trung Phật học, đang đi, Hòa thượng chỉ dạy con ngồi xuống uống nước, đọc cho con nghe tựa của 24 oai nghi. “Kính Thầy Lớn” là bài thứ nhất, không được gọi trỏng pháp tự của bậc sa môn trưởng thọ. Những bậc hướng dẫn dạy dỗ mình, bậc thiện tri thức, tuyệt đối không được gọi tên trỏng. Ở trong luật, nói theo tiếng Hoa, người ta kêu "thượng-hạ", nên có khi hơi lạ, người ngoài người ta chưa có quen, với trong chùa thì cái này quen. Như Hòa thượng Thượng Thanh Hạ Từ, Hòa thượng Thượng Minh Hạ Châu. Nhiều vị cư sĩ không rành, họ gọi là Ngài cũng được, nhưng phải dùng những danh từ tôn kính, bậc thầy, chứ không được kêu trỏng tên các bậc lớn.

“Không được đi tới nơi này nơi khác nói lỗi của bậc sa môn trưởng thượng, quý sư cô, những người xuất gia. Không được ngồi yên nhìn bậc sa môn trưởng thượng đi qua, phải đứng dậy, trừ khi đọc kinh, lúc đang bị bệnh, khi đang cạo tóc, khi đang ăn cơm, lúc cùng chúng làm việc. Năm hạ trở lên là bậc Xà-lê, mười hạ trở lên là bậc Hòa thượng.” Phải ngồi dậy khi thấy bất cứ quý thầy nào, chứ không phải riêng một mình con. Khi gặp các vị xuất gia, không phân biệt là Sa-di hay Tỳ-kheo, bất cứ quý thầy quý cô nào, mình đang ngồi rảnh rang thì khi gặp, phải đứng lên xá chào, ngoại trừ những lúc thật sự không tiện.

Khi Minh Thành chia sẻ trong chúng thì thấy có một số thực hành đẹp, nhưng một số còn thái quá, đang làm việc mà bỏ tô, bỏ chén, bỏ muỗng rồi đứng dậy, điều đó không cần thiết. Không học thì mình không biết gì hết, nhưng khi học thì lại bị dính vô, cho nên, mình phải biết linh động, đúng lúc. Ví dụ, hôm nhắc đại chúng, con đi ở về 5-7 ngày, vậy mà gặp, thấy cũng như không thấy, điều đó là thiếu. Còn ở đây, ngày nào cũng gặp, ra vô làm việc, lúc nào thuận tiện thì xá. Có lúc thầy đang ngồi với khách hay làm gì đó mà mình xá, có khi thầy không thấy hoặc mình đi rồi thầy mới thấy, lại sanh phiền não, “Tui xá thầy sao thầy không nhìn tui gì hết.” Cho nên, mình không khéo thì thực hành sai pháp. Tất cả người xuất gia thuận tiện, chào, đó là lễ. Trong kinh Nikāya gọi là cung kính tùy thuận, lễ phép, xã giao.

“Nếu có lỗi, bậc Hòa thượng, bậc thầy có lời răn dạy, không được vô phép trả lời lại.” Con chỉ trích một vài phần quan trọng trong kinh thôi, còn lại chúng ta sẽ tụng hết. Đây là oai nghi, không phải quân chủ phong kiến. Đó là sự cung kính, sự tôn trọng, tùy thuận, là sự tu học. Điều này con đã nói, mình hãy để nghe hết tất cả, lắng tâm thật sâu sắc, cung kính; mình lắng tiếp nhận hết, sau đó xét kỹ lại, từ từ trình bày sau. Mình trả lời lại, cãi lại thì sau này các vị thiện tri thức, các thầy, các sư cô không dạy mình nữa, không hướng dẫn nữa, không “chỉ chỗ chôn vàng”, mình đã học trong kinh Pháp Cú, đó là chỉ chỗ chôn vàng cho mình. Một tuần phải có ít nhất ba buổi tụng oai nghi, để biết cách cư xử trong chùa, còn không, mình cư xử y như ngoài đời thôi.

“Khi đứng hầu thầy, không được đứng trước mặt, không đứng chỗ cao, không đứng quá xa để thầy nói nhỏ mình có thể nghe, khỏi hao sức thầy.” Điều này người tập sự xuất gia, người xuất gia phải nắm vững được hết. Tất cả những điều này là thể hiện tâm cung kính. Như chú Huy, mới lên chùa vài ngày, e rằng còn chưa quy y nữa, vậy mà cái hạnh của chú cần phải học hỏi. Không phải vì chú tốt với bản thân mình nên Minh Thành khen ngợi, mà là cách cư xử với một người. Minh Thành đi lên núi, chú đi chung, khi lên dốc thì chú đi phía sau, còn khi xuống dốc thì chú đi phía trước. Minh Thành hỏi: “Sao chú biết điều này, có ai chỉ chú không?” - “Dạ, con nhìn thấy rồi con đoán ra được vậy”. Làm như vậy là vì khi lên dốc nếu có té, có trượt chân thì ở dưới người ta hứng đỡ, còn xuống dốc thì đi trước. Điều này con được Hòa thượng ở Hồng Kông dạy lúc đi núi cùng Ngài. Minh Thành học với Hòa thượng giống như một đứa con nít, một chú tiểu mới vào chùa, được Hòa thượng dạy từng chút một. Còn chuyện mình muốn đi sao thì đi, kệ mình: “Ông muốn đi sao kệ ông, tui đi sao thì tui đi” thì nói làm gì. Còn chú Huy là người chưa quy y Tam bảo, chưa học oai nghi, chưa biết phép tắc trong chùa mà đã tự động có cái nhìn thấy như vậy, những người này ở ngoài đời cũng thành tựu, vào đạo cũng thành công. Học hay lắm, học là vô giá! Học được điều này là mình có được một tài sản vô giá. Không gì trên đời có thể so sánh được với đức hạnh, nết hạnh, đạo hạnh. Ngoài đời, người ta gọi là đạo đức, phẩm chất. Còn trong đạo thì khi thầy có lời dạy, mình phải lắng lòng nghe và suy ngẫm nhớ lấy, như vậy mới là người cầu đạo, cầu pháp.

Minh Thành học đạo thực sự rất khó khăn, phải học đạo từ xa, cầm điện thoại nghe ba tiếng đồng hồ, tay cứng hết mà không dám đổi tay, không dám nhúc nhích, vì mình ở trên rừng, sợ bị mất sóng và hướng về đảnh lễ, lễ lạy Đạo sư. Sau này, đại chúng đọc trong quyển Thánh Chiến Hùng Ca, hết một chương đầu, hơn bảy bài là tôn kính bậc Đạo sư. Và, kết quả pháp mà mình nhận được là ngoài sức tưởng tượng, có thể vượt nhanh hơn người khác rất nhiều lần nhờ tâm tôn kính, tùy thuận, lắng nghe. Không phải nghe bằng tai mà nghe bằng tim, và không phải nghe dừng lại ở tim mà phải nghe bằng cả tấm lòng khát ngưỡng, như đói được ăn, như khát được uống, như đang rơi xuống biển mà chụp được cái phao, nghe pháp là giống như vậy. Nhận được sự chỉ dạy, quở trách, rầy la cũng giống như vậy, người đó chắc chắn thành tựu. Thầy có lời dạy thì phải lắng lòng nghe, nhìn kỹ, suy ngẫm, nhớ lấy.

“Phàm của phạm giới, những lỗi lầm chẳng được che giấu, mau đến bên thầy cầu xin sám hối. Được thầy cho phép thì phải hết lòng pháp lộ, tỏ bày, thành tâm hối cải thì sẽ được trong sạch trở lại. Thầy nói chưa rồi mình chẳng được nói.” Trong thanh quy Nikāya là không được cắt ngang lời của người giảng pháp. Minh Thành bị hoài, ngồi nói chuyện với khách mà bị cắt hoài, hoặc chia sẻ cũng bị cắt hoài. Cho nên, được học đạo khó lắm. Nếu học đạo để thành tựu đại đạo thì khác; còn học tiểu đạo, học cho biết chút chút, học vui chơi thì lại khác. Học để thực sự thành đạo thì phải hết sức cả thân mạng, dám hi sinh cả thân mạng, tánh mạng, xem mạng sống này không là gì ở trước bậc Đạo sư, chết cũng được, người đó mới thành công.

“Chẳng được giỡn chơi, ngồi tọa của thầy. Thầy tiếp chuyện với khách thì mình đứng chỗ thường hoặc mình đứng bên thầy, phải để ý lắng nghe, nhìn khi thầy cần sai bảo.” Khi thầy có khách, mình phải có mặt ở gần đó để có gì thì mình giúp đỡ. Có khi thấy khách đến thì chạy trốn, phải biết đây là những nghi thức cần thiết, đây là đào luyện, đào tạo, phải biết cái gì nên làm và cái gì không nên làm. Chúng ta cần phải thực tập cho tốt hạnh cung kính này. Không phải chỉ riêng thầy, mà tất cả người xuất gia. Không phải chỉ người xuất gia, mà cả người tập sự. Không chỉ người tập sự, mà cả những người công quả. Không phải chỉ những người công quả, mà cả những người công nhân.

Lúc nãy, Minh Thành từ thất bước ra đây, trời mưa, chúng ta ngồi trong nhà học pháp như này, còn những người dân tộc đang dầm mưa làm ở trong đó, dọn cỏ, hốt rác, chặt cây. Người ta cũng là con người, họ cũng biết lạnh, biết mệt, nhưng vì đồng tiền, người ta sẵn sàng chịu lạnh, chịu mệt, chịu sự chỉ bảo, sai khiến. Không lẽ mình cầu đạo mà còn thua mấy người đi làm công như vậy sao? Phải dẹp cái bản ngã, nó không có lợi ích gì cho mình. Phải dẹp cái tâm ương ngạnh, cứng cỏi. Phải nghĩ đến tương lai, mục tiêu của mình, sự nghiệp đạo hạnh của mình. Phải băng qua hết tất cả những cái không ra gì. Mùa mưa ở đây tới 6-7 tháng, những người phụ nữ dầm mưa hái trà, môi của họ tím hết, tay cứng hết nhưng vẫn phải đi hái bán. Một kí chỉ bốn, năm chục ngàn, vậy mà khi cân người ta còn trừ đi phần nước.

Chúng ta nói mình tu nhưng nếu không khéo còn thua người làm rẫy, chỉ một chút bệnh, lạnh, mệt, yếu cũng không chịu được, như vậy, tâm cầu đạo của mình được bao nhiêu? Bây giờ mình có dám đứng dầm mưa cầu pháp, học pháp, ngồi thiền không? Người ta dám dầm mưa đi chặt cây, hốt rác, làm cỏ, người ta dám nhảy vào trong bụi rậm, sâu, rắn. Họ ở trong đó suốt ngày, gai góc, đứt tay, chảy máu, dầm mưa dãi nắng vì đồng tiền bát gạo. Mình đi một chút thôi đã ngứa mình, nổi tùm lum, một chút xíu khó chịu thôi là đã thấy bực mình. Chỉ muốn dễ chịu, êm ái, thuận theo ý mình, như vậy mình học cái gì? Đó là đi tìm cảm giác chứ không học gì cả. Phải nhìn thấy những hình đó trước mắt để quán chiếu, và phải chiến đấu được những cảm thọ, cảm giác, những thói quen, tập khí, nghiệp, thương người, thương mình.

Thưa với đại chúng, ngày nào cũng vậy, mỗi buổi sáng Minh Thành đi ra ngoài trời, ngoài sương để thiền quán. Nếu ngã ra chỗ đó mà chết thì vào Thánh quả, vậy sao phải sợ! Phải học pháp bằng tinh thần liệt sĩ, dũng sĩ, vô thượng sĩ, bỏ mạng này. Người dân tộc 1 giờ đi làm giữa trưa nắng, mình 2 giờ lên tu, kêu “Sớm quá, 2 giờ 30 hẵng tu.” Tất cả những điều đó để cho mình chiêm nghiệm, quán chiếu, phải đối chiếu, phải tính toán, tính thật kỹ, giống như làm ăn thì không rơi rớt đồng nào, mình tu thì không rơi rớt một chút thiện pháp nào hết. Mỗi một ngày tích tụ thiện pháp, công đức, trí tuệ, tích tụ sự kham nhẫn, hàng phục bản ngã, đả phá tham dục, sự làm giảm thiểu sân hận. Để dành từng chút một, tích cóp, gom góp lại, bỏ ống heo.

Đức Phật nói, “giới uẩn, định uẩn, tuệ uẩn, giải thoát uẩn, giải thoát tri kiến uẩn”, uẩn là tích tụ, nhóm họp rất nhiều các pháp. Sự cung kính, oai nghi này cũng vậy, phải tích tụ, không phải một ngày 1 bữa, 1 tháng, 3 tháng rồi xong, mà phải tập 3 năm, 5 năm, 10 năm… Tập suốt đời mới thành tựu được phong thái, phong cách, uy nghi, đức hạnh, đạo hạnh, giới hạnh của người tu.

Thầy Thiện Tuệ:

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Con kính bạch sư Thầy, kính bạch quý thầy, quý sư cô cùng toàn thể đại chúng.

Hôm nay, thầy thuyết giảng cho đại chúng những học pháp cung kính mà Đức Thế Tôn đã chỉ dạy trong kinh tạng. Khi con nghe, lòng con dâng trào một cảm xúc như mới được nghe lần đầu, tưởng tượng ra trong nội tâm con như được nghe chính những lời Đức Thế Tôn đã chỉ dạy. Hôm nay được ngồi đây, thầy đã truyền cho tất cả, chỉ cho chúng con biết pháp cung kính và những oai nghi tứ hạnh, tuy rất gần gũi trong cuộc sống đời thường nhưng đó không phải những pháp đơn giản, mà lại rất thâm sâu. Khi nghe thầy giảng, con có tác ý là con phải nhìn lại, thấy mình còn nhiều khuyết điểm trong oai nghi. Hôm nay, được đầy đủ nhân duyên, được thầy chỉ dạy, chia sẻ, con nguyện cố gắng ghi nhớ những lời thầy, nguyện cố gắng thực hành. Bên cạnh đó, lúc nào thầy cũng nhắc nhở chúng con phải nhìn lại năm uẩn, nhìn lại cảm giác của mình, khi mình đi, đứng, nằm, ngồi, nói, nín, động, tĩnh..; nhìn lại cảm giác khi mình phát hiện ra những cảm giác tham sân si, bản ngã, mình phải biết nhiếp phục, phải đào thải nó ra khỏi thân mình, không được chất chứa những tâm cấu bẩn đó ở trong người của mình. Con lúc nào cũng luôn ghi nhớ lời thầy dạy. Con chân thành cảm ơn thầy đã tận tình chia sẻ, chỉ dạy những bài pháp trong chiều nay, con nghe rất thâm sâu, nhất là con cảm nhận được Chánh pháp của Đức Thế Tôn, rất thiết thực và hiện tại.

Con không biết nói gì hơn trong lúc này vì cảm thọ của con đang rất dâng trào, con muốn được thể hiện sự cung kính đối với pháp nên xin thầy một lần nữa cho con được đảnh lễ Đức Thế Tôn, đảnh lễ Chánh pháp, đảnh lễ các vị chư Tăng, chư Ni ở đây. Vì con thấy quý thầy, quý sư cô ở đây tu tập tại thiền đường kinh tạng Nikāya rất đẹp và thực hành theo những lời dạy của Đức Thế Tôn. Con cảm nhận được sự hiếm có, khó gặp trong một ngôi chùa tu học trang nghiêm, thanh tịnh như thế này. Con xin thầy chấp nhận cho con được đảnh lễ Tam Bảo. 

Thầy Pháp Nghĩa:

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Con kính bạch sư phụ, quý thầy, quý sư cô và toàn thể đại chúng.

Chiều nay được sư phụ chia sẻ pháp về hạnh oai nghi, cung kính của người tu, con cảm thấy đây là điều rất căn bản nhưng quan trọng đối với một người tu dù là cư sĩ, chưa xuất gia hay đã xuất gia cho đến bậc thưởng thượng. Khi nghe sư phụ nói về hiệu phó trường Cao trung Phật học, có thể nói được hun đúc bởi 24 oai nghi của người tu, cảm thấy được tầm quan trọng của những phép tắc thật là sơ cơ, nhưng đó là một nền mống vững chắc để tạo sự phát triển của đạo Phật ngày một vững bền.

Khi được đi với sư phụ, nhiều lần được sư phụ chỉ dạy, con học hỏi được rất nhiều. Như ngày hôm qua, được gặp một bậc Hòa thượng, sống rất giản dị, khi thầy trò vào, gặp đảnh lễ, rồi thầy lấy khăn lau bàn ghế, phủi bụi cho thầy trò, con thấy được hạnh của Ngài thật là tuyệt vời, không có bản ngã. Rồi những hành động rất đơn giản, như sư phụ chỉ dạy nhưng lại được thực hiện theo trí tuệ, chứ không phải theo rập khuôn. Cho thấy trong đó tâm của mình có áp dụng đúng pháp hay không, hay là đem lại sự phiền não cho chính mình? Sư phụ chỉ dạy việc tu học, mình cần phải có sự quán chiếu giữa sự tu học của mình và của người ngoài đời. Người ta có thể đi làm sớm hôm, dầm mưa dãi nắng không quản ngại, mình phải suy xét lại, xem sự tu học của mình có bằng người ta hay không? Mình là Thánh pháp, người ta là phàm, là người đời, mình thua người ta thì mình phải thấy xấu hổ, phải cố gắng nỗ lực chứ không phải nương nhờ nơi cửa Phật mà lại tu học một cách hời hợt, buông lung, phóng dật, phải có sự quán xét trong đó. Những ngày qua, con cũng có sự nhìn nhận khi thấy mấy chú dân tộc, mặc dù trời còn nắng nhưng mấy chú đã ra làm, con cảm thấy xấu hổ, mình được hơn người ta, đang tu học nhưng lại không có sự tinh tấn trong đó.

Con xin cảm ơn và tri ân sư phụ đã có đôi lời sách tấn đại chúng, dành cho đại chúng một ngày tu học ngày càng tiến bộ mạnh lành trên con đường tìm cầu học đạo.

Nam mô bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.