Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Nikāya Thiền Quán - Khổ Thánh Trí & Xuất Ly Đạo Lộ - 6 Căn - 6 Trần - 6 Thức - 3 Thọ Là Khổ Đau !

2026-03-03 00:54:13
Nikāya Thiền Quán

Khổ Thánh Trí & Xuất Ly Đạo Lộ

6 Căn – 6 Trần – 6 Thức – 3 Thọ Là Khổ Đau!

Thích Minh Thành

Ngày 29 tháng 6 năm 2022

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Sáu căn là khổ PAGEREF _Toc111041938 \h 1

II. Sáu thức là khổ PAGEREF _Toc111041939 \h 2

III. Con đường xuất ly PAGEREF _Toc111041940 \h 4

IV. Sáu pháp đưa đến đau khổ - Sáu pháp đưa đến an lạc PAGEREF _Toc111041941 \h 5

V. Xuất ly khổ đau PAGEREF _Toc111041942 \h 9

I. Sáu căn là khổ

Kính thưa các bậc Hiền trí, Tăng, Ni và Quý Phật tử.

Các vị Tỷ-kheo đi đến hỏi Bạch Đức Thế Tôn: Khổ là như thế nào, thế nào là khổ và danh nghĩa của khổ?

Này các Tỷ-kheo, chỗ nào có con mắt, có lỗ tai là khổ, chỗ nào có mũi, lưỡi, miệng, thân là có khổ. Chỗ nào có tấm thân, hình hài, vóc dáng là có bất an, bệnh hoạn, lo lắng, sầu đau. Chỗ nào có thân Tứ đại này là có bệnh tật, ung nhọt, ung bướu, ung hạch, ung thư. Chỗ nào có hình hài này là có phân và nước tiểu, chỗ nào có thân xác này là phải có cầu tiêu, sự tắm gội, giặt giũ, rửa mặt, đánh răng súc miệng, cắt móng tay chân, một sợi tóc trên đầu thì yêu quý nhưng rụng xuống rơi vào đồ ăn thì ai cũng gớm ghiếc, khó chịu.

Này các Tỷ-kheo, chỗ nào có con mắt là có khổ đau, có con mắt trừng trợn, huých ngoáy, liếc ngang liếc dọc, cận thị, viễn thị, loạn thị, khiếm thị, lé, chột, mù lòa. Chỗ nào có con mắt là chỗ đó có đau bệnh, nhiều bệnh về mắt; chỗ nào có lỗ tai thì chỗ đó có bệnh đau, nhức, mủ, có nhiều bệnh viện về tai. Chỗ nào có mũi thì có sự lo lắng về mũi, nhiều bệnh tật về mũi, sự khó thở, máy trợ thở, trợ tim. Có nhiều bệnh viện mắt, tai – mũi – họng xuất hiện ra. Chỗ nào có miệng là có bệnh về miệng, chỗ đó tạo nhiều nghiệp về thị phi, hơn thua, phải quấy, lật lọng, thấy nói không thấy, không thấy nói thấy, làm nói không làm, không làm nói làm, đổi trắng thay đen, đâm bị thóc thọc bị gạo, thêu dệt, lật lọng, xảo trá, lường gạt, mắng chửi, những lời ác khẩu, đâm thọc, li gián, chia rẽ. Này các Tỷ-kheo, chỗ nào có lưỡi là chỗ đó có khổ.

Thật là bất hạnh, tai họa cho chúng ta khi mang vác một thân xác đầy những lo lắng, bất an, ung nhọt, ung hạch, ung bướu, ung thư. Thật là mệt mỏi, nhọc nhằn cho chúng ta vì phải mang vác một thân máu, mủ, đàm, dãi, mồ hôi, nước tiểu và nước mũi, nước miếng này. Thật là tội nghiệp cho chúng ta, một gánh nặng của con mắt, lỗ tai, mũi, lưỡi, miệng, tấm thân này. Chỉ cần một lời nói là mất ăn, bỏ ngủ, sân si. Chỉ cần một ánh nhìn là tham dục, tham ái, tham luyến. Chỉ cần một sự tiếp xúc thôi là bực bội, cọc cằn. Thật là tội nghiệp và đáng thương cho chúng ta. Chúng ta thật là vất vả và mệt mỏi.

Đã xâm nhập vào Việt Nam rồi, lợi hại hơn xưa, nguy hiểm hơn trước. Trong thời đại này mới rực sáng lên Thánh Trí huệ của Đức Phật nói về khổ. chỗ nào “xúc” – tiếp xúc, chỗ đó có khổ. Chỗ nào có sắc – thanh – hương – vị - xúc – pháp, chỗ đó có khổ. Xuất gia để cầu Thánh trí hay đi tìm bằng cấp cho cao, để đi tìm khổ, đó là tìm sắc. 6 ngoại xứ là khổ.

II. Sáu thức là khổ

Cho nên những bài này con muốn chúng ta phải thấm, học nhiều lần rồi. Những bài này là tối thượng Thánh trí, Khổ Thánh trí.

“Này các Tỷ-kheo, chỗ nào có nhãn thức, nhĩ thức, tỉ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức là chỗ đó có khổ hay là có danh nghĩa của khổ.”

Đó là 6 căn, 6 trần, 6 thức. Chỗ nào có thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc, biết là chỗ đó có khổ. Cho nên có những khi mình thấy mà thu lại, không nhìn, thấy là có khổ. Những cái này suốt cả cuộc đời mình chưa chắc gì thấm hết nổi. Nếu mình thấm nổi những cái này thì ngay lập tức Nhập lưu. Mọi hiện hữu đều nằm trong đau khổ.

Này các Tỷ-kheo, chỗ nào có các pháp do mắt nhận thức, tại chỗ ấy có khổ hay là có danh nghĩa của khổ.

Nói sâu vào bên trong các pháp, chỗ nào có thọ - tưởng – hành, còn có cảm giác, hình bóng trong tâm, suy nghĩ là chỗ đó còn có khổ. cảm giác cứ sanh khởi lên tham – sân – si hoài. Cho nên chỗ tu tối thượng của các bậc Thánh là diệt thọ tưởng định, tức là những cái này hoàn toàn chấm dứt.

Tại sao phàm tất cả thọ đều nằm trong đau khổ vì cái thọ dễ chịu là mình tham ái, dục vọng, ưa thích, khao khát, thèm muốn, lưu luyến, muốn nắm giữ cảm giác dễ chịu đó. Như vậy là có mặt của khổ vì có lạc thọ đó.

Bây giờ, có một cảm giác khó chịu, bực bội, khổ thọ là mình muốn chống đối, diệt tận, hủy diệt nó làm mình đau khổ. Trong ba thọ, mình đều đau khổ, một cái là tham đắm, đam mê, say sưa, thích thú, đắm nhiễm, điên cuồng giống nó, thèm thuồng, khao khát, khát ái giống nó. Còn một cái là mình sân hận, bực bội, muốn hủy diệt, diệt tận nó là sân hận trong đó.

Cả hai, một là chết cháy, hai là chết chìm. Tham ái, lạc thọ là chết chìm trong nước, nước tình cảm, nước ái, nước dục. Còn khổ thọ, sân hận là chết cháy, chết với những ngọn lửa, sự thiêu đốt, phóng hỏa, hỏa hoạn, chết trong những đống lửa của cảm thọ sân hận.

Bây giờ, nếu cảm thọ thứ ba là một cảm thọ trơ trơ, ngu si, vô minh, không thấy không biết mà thấy rằng có ta, có người, có vật, có nhân, có ngã, có pháp, mà ở trong đơ đơ, si ám, si mê thì như vậy, có phải là phàm tất cả thọ đều nằm trong đau khổ không.

Cho nên cái này phải quán sâu, nhàm chán với các cảm thọ, dù cho có cảm thọ vui chứ đừng nói chi cảm thọ khổ. Mình đang an ổn ngồi như vậy, vẫn thấy bất an, vẫn thấy hiện hữu này đau khổ. Mình thở từng hơi thở, lắng nghe hơi thở của mình và liên hệ tới những người nằm trong bệnh viện, gắn máy trợ thở, bất cứ lúc nào mình cũng có thể một mai tim ngừng đập, hơi thở không còn nữa, mà vẫn thấy hơi thở này là khổ vì nó là pháp sinh diệt, duyên sanh, vô thường, nó không có bền chặt, an ổn, chắc chắn, kiên cố.

Cho nên trong hơi thở đó mình vẫn nhìn thấy được Khổ Thánh trí, chứ không phải đợi tới tai nạn, đám ma mới thấy khổ, mỗi hơi thở mình thấy khổ ở trong đó. khổ vì cái hì hục này, mượn trả như vậy, hít vô thở ra hô hấp tuần hoàn, là pháp vay mượn, pháp nương dựa, duyên sanh. Bữa nào quý vị nghe con thở như vậy là những dòng nước mắt tuôn chảy xuống bất cứ lúc nào. Tại sao bây giờ mình không nhìn thấy mà đợi tới lúc đó mới thấy, muộn rồi. Cho nên trong quán niệm hơi thở phải nhớ quán cái này, Khổ Thánh trí ở trong mỗi hơi thở. Chứ không phải trở về hơi thở, tôi thấy nhẹ, khỏe quá, tôi đang hạnh phúc thì đó chỉ là pháp tu xoa dịu cho người phàm phu thôi. Đó là nuôi lớn khổ ái, nuôi lớn sự yêu thích trong hiện hữu. Còn pháp này là tối thượng Thánh pháp, chấm dứt hữu ái.

Tu như vậy mới có thể đoạn tận tất cả khổ, chấm dứt hoàn toàn mầm mống của sanh diệt, duyên sanh. Đây là chân tướng của vạn pháp qua Khổ Thánh trí của Đức Phật chứng ngộ.

Mệt mỏi khi phải có thân này, vất vả khi phải mang vác một bao da thịt mấy chục kí này. Mình nhìn lại thì thấy chán chê, ê chề, ngao ngán, nhọc nhằn, vất vả suốt cuộc đời tạo nghiệp hơn thua, dục ái, sân si, bản ngã mà cuối cùng được cái gì, một nắm tro tàn, chiếc quan tài, nấm mộ, huyệt. Thậm chí con rải tro của cha mẹ cho lẹ cho nhanh, nhiều khi bệnh con mong cho chết sớm vì cha mẹ nằm lâu mệt không ai lo, còn phải lo làm ăn. Đó là kết quả của cả một cuộc đời giành giật, ta đây, một đống khổ này tại sao mình nhìn không ra. Tại sao mình hơn thua với nhau từng ánh mắt, lời nói, hành động. Đức Phật nói chúng ta mù lòa.

Chúng ta nhìn, mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý là khổ; sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp là khổ. Chúng ta nhìn lại nhãn thức, nhĩ thức, tỉ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức, 6 sự rõ biết này là khổ, biết là sân si, tham dục, biết trong cái ngu, mê, vô minh. Chính vì biết trong ngu, mê, vô minh, tham – sân – si, bản ngã như vậy cho nên thức mới có chân đứng trong Sắc uẩn này. Thọ mới có thâm căn cố đế, cảm thọ mới hội tụ vào, bám chặt vào, chấp thủ, thọ Thủ uẩn trong 5 đống duyên sanh, bất tịnh, đau khổ này. Ngấm ngầm chấp thủ trong thủ trong đó, nó cho là tôi, của tôi, tự ngã của tôi và như vậy thức có chân đứng trong đống cát bụi này, đống đất - nước - gió - lửa này, thức có chân đứng hết sức là kiên cố, vững chắc ở trong Ngũ uẩn này.

III. Con đường xuất ly

Và mỗi suy nghĩ, cảm giác, hình bóng của nó là liên hệ đến ngã tưởng, chấp thủ, tham ái, khát ái. Mỗi một suy nghĩ không rời vô minh và tham ái, mỗi một cảm giác sanh khởi lên là nó sanh khởi trong vô minh, tự ngã. Mỗi một cảm giác nhỏ sanh khởi lên là ở trong tự ngã, vô minh. Thật là đau khổ, thiệt thòi lớn, dại khờ vĩ đại cho chúng ta. Trong từng ý nghĩ, lời nói, hành động, cảm thọ, tưởng, mỗi một hình bóng trong tâm, vô minh xâm chiếm, khát ái bao phủ; bản ngã chi phối, xâm chiếm, dẫn dắt, chỉ huy. Chúng ta muốn bỏ khổ lại đi lấy khổ thì mãi mãi chúng ta không đi ra khỏi khổ được.

“Này các Tỷ-kheo, ai nói như sau: "Không có như thật giác ngộ Thánh đế về Khổ, không có như thật giác ngộ Thánh đế về Khổ tập, không có như thật giác ngộ Thánh đế về Khổ diệt, không có như thật giác ngộ Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt, ta sẽ chơn chánh đoạn tận khổ đau"; sự kiện này không xảy ra.”

(Tương Ưng Bộ Kinh – Chương XII. Tương Ưng Sự Thật - Phẩm Rừng Simsapà - Cây Keo.)

Nếu có một người nói rằng người đó không giác ngộ 4 sự thật về đau khổ của bậc Thánh mà người đó thật sự có thể chấm dứt hết khổ, điều đó không thể xảy ra. Giống như một người lấy lá cây me muốn đựng nước, điều đó không thể xảy ra được.

Cũng vậy này các Tỷ-kheo, người nào không thật sự chứng ngộ, thấy rõ biết tận tường 4 sự thật về khổ của bậc Thánh mà người đó nói rằng có thể chấm dứt được khổ thì sự kiện đó không xảy ra. Nãy giờ chúng ta đang học là Khổ Thánh trí, nếu chúng ta không thành tựu, thấy biết Khổ Thánh trí này một cách thấu đáo, trọn vẹn, tường tận, đầy đủ, viên mãn tất cả góc độ khía cạnh của khổ trong căn, trần, thức, xúc, ái, thủ hay thọ. Làm sao mình có thể nhàm chán, viễn ly, từ bỏ, xuất ly, quăng bỏ, thoát ra.

“Này các Tỷ-kheo, nếu có ai nói như sau: "Sau khi như thật giác ngộ Thánh đế về Khổ... sau khi như thật giác ngộ Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt, ta sẽ chơn chánh đoạn tận Khổ đau"; sự kiện này có xảy ra.”

Nếu có người nói rằng sau khi thật sự thấu suốt 4 sự thật – Tứ Thánh đế của Đức Phật chứng ngộ, ta sẽ chân chính thật sự đoạn tận khổ đau, điều đó có xảy ra.

“Ví như, này các Tỷ-kheo, có người nói như sau: "Với những lá sen hay lá pasàla hay lá màluva (một loại cây leo), tôi sẽ làm các giỏ bằng lá để đem nước lại hay làm cái quạt"; sự kiện này có xảy ra.”.

Lấy lá sen đựng nước có thể xảy ra, lấy lá me đựng nước điều này không có thể xảy ra. Cũng vậy, một người thật sự thấy biết 4 sự thật đau khổ của bậc Thánh chứng ngộ, người đó sẽ chân chánh đoạn tận khổ đau.

Thấy Niết-bàn nằm chỗ nào, đầu đường đến Niết-bàn chưa? 6 căn này là khổ, 6 đối tượng, 6 trần bên ngoài là khổ. 6 thức bên trong: Thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc, biết này là khổ. Căn, trần, thức, xúc, thọ, ái là khổ. Tất cả mọi hiện hữu đều nằm trong đầu. Đau khổ này bao trùm hết thế giới này từ trong thân tâm. Mỗi một suy nghĩ theo vô minh là khổ. Mỗi ngày không biết bao nhiêu vụ án, tham – sân – si, giết người. Đó là sự vận hành của khổ.

IV. Sáu pháp đưa đến đau khổ - Sáu pháp đưa đến an lạc

Cho nên quán sâu sắc vào trong trí tuệ này thì chúng ta sẽ thấy được 6 pháp đưa đến khổ ngay trong hiện tại và sau khi chết.

“Thành tựu với sáu pháp, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ngay trong hiện tại sống đau khổ, hiềm hận, có ưu não, có nhiệt não, sau khi thân hoại mạng chung, chờ đợi là ác thú. Thế nào là sáu?

Với dục tầm, với sân tầm, với hại tầm, với dục tưởng, với sân tưởng, với hại tưởng.”

(Tăng Chi Bộ Kinh - Chương VI. Sáu Pháp - Phẩm A La Hán – Khổ)

Tâm, tầm, cầu, dục, tâm hướng về sân hận, luôn đi theo chiều hướng hại người, bởi tức giận hận thù suy nghĩ những gì làm hại người cho hả dạ thì những tâm đó, hiện tại sống trong đau khổ, hiềm hận, ưu não, nhiệt não, nóng bức, buồn lo, tức giận, đau khổ. Sau khi nhắm mắt ra đi, chờ đợi là đường ác, cõi dữ, ác thú.

Sống với những tư tưởng dục, sân hận, muốn hại người khác, với những suy tưởng, suy tầm, suy tư, tham dục, sân hận, muốn hại người. Sáu tư tưởng này đưa đến ngay trong hiện tại, sống trong đau khổ, tức giận, buồn lo, nóng bức. Sau khi nhắm mắt ra đi, chờ đợi là ác thú, địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh.

“Thành tựu với sáu pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ngay trong hiện tại sống đau khổ, hiềm hận, có ưu não, có nhiệt não, sau khi thân hoại mạng chung, chờ đợi là ác thú.

Thành tựu với sáu pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ngay trong hiện tại sống an lạc, không hiềm hận, không ưu não, không nhiệt não, sau khi thân hoại mạng chung, chờ đợi là thiện thú.

Với xuất ly tầm, với vô sân tầm, với bất hại tầm, với xuất ly tưởng, với vô sân tưởng, với bất hại tưởng.”

Tâm hướng về sự thoát ra gọi xuất ly tầm, nãy giờ chúng ta đang hướng về thoát ra khổ. Suy tư, quán tưởng đó gọi là xuất ly tầm; sự suy nghĩ, suy tư, suy tầm thoát ra khổ, dục ái, sân si, bản ngã đó. Xuất ly tầm rất là quan trọng. Cho nên có khi mình thấy chán nản thì nghĩ buông bỏ hết, đi tu giải thoát hết, đó là xuất ly tầm.

Thành ra mình tác ý, nuôi dưỡng xuất ly tầm mạnh thì nó sẽ đưa mình đến ngôn ngữ, hành động, đời sống xuất ly. Còn nếu trong ý nghĩ thì mới là xuất ly tầm ở trong suy tư, đó chỉ là suy tư xuất ly. Mình nói ra thành ngôn ngữ xuất ly, hành động thành hành động xuất ly và thực hiện nó trở thành đời sống xuất ly. Cuối cùng, kết quả của mình là chứng ngộ, chứng đắc sự xuất ly.

Thành ra, chúng ta học trong này rồi là cầm chìa khóa Thánh huệ mở hết tất cả những bí mật của thế giới, thân tâm, vũ trụ, lục đạo ngũ thú. Chúng ta cầm trong tay giống như thánh chỉ, thượng phương bảo kiếm, miễn tử kim bài, cầm cái quạt đề 4 chữ “như trẫm thân lâm”. Chúng ta cầm ngọn đuốc Thánh huệ soi đường cho tự mình và những người có duyên với mình, bằng không là chúng ta tu trong vô minh, đi, nói, làm, sống trong vô minh. Làm sao chúng ta đạt đến chỗ minh trí. Nhìn thấy gì cũng vui, chim hót nghe vui quá, mây bay, thích thú khoan khoái là tham ái. Mình có phải chim không mà biết nó vui, kêu như vậy là đang tìm kiếm, có khi đang sân hận, bực bội, giành giật, hơn thua mà mình tưởng nó vui, tại vì âm thanh dễ nghe như vậy làm mình khoái, rồi đó là thọ. Chó sủa làm mình bực, sân mà chim hót làm mình thích, vui. Cho nên thức uẩn ngu như vậy, si mê, đâu có biết vì chúng ta tưởng không.

Bài kinh “Một pháp môn quyết trạch” thâm sâu, từ từ chúng ta thấy trí tuệ Đức Phật không thể tưởng tượng nổi, chúng ta liên hệ đến chữ “xuất ly”.

“Này các Tỷ-kheo, do duyên xuất ly giới xuất ly tưởng sanh khởi, do duyên xuất ly tưởng xuất ly tư duy sanh khởi, do duyên xuất ly tư duy xuất ly dục sanh khởi, do duyên xuất ly dục xuất ly nhiệt tình sanh khởi, do duyên xuất ly nhiệt tình xuất ly tầm cầu sanh khởi, do duyên xuất ly tầm cầu vị Đa văn Thánh đệ tử thực hành Chánh hạnh theo 3 xứ: Thân, ngữ, ý”.

Đầu tiên là xuất ly tưởng, kế đến là xuất ly tư duy, xuất ly dục, xuất ly nhiệt tình, xuất ly tầm cầu và cuối cùng là thực hành Chánh hạnh. Đây là có 6 bước.

Xuất ly giới là gì? Chữ giới ở đây là phạm trù, giới mức; xuất ly giới là chúng ta tiếp xúc với những lời nói đưa đến sự thoát ra. Từ sáng đến giờ là cảnh giới của xuất ly, từ khi chúng ta bắt đầu đến đây ngồi cho đến bây giờ là chúng ta đang “duyên” với xuất ly giới, phơi bày hết tất cả sự thật sâu kín của thế gian này, của căn, trần, thức, xúc, thọ, ái. Chúng ta phơi bày, vạch trần, lột bộ mặt đau khổ vô thường, duyên sanh, vô ngã, trống rỗng, bệnh hoạn của Ngũ uẩn và chúng ta thấy một sự nhàm chán, ngao ngán, muốn rời xa, thoát ra.

Từ sáng đến giờ là chúng ta duyên xuất ly giới, do chúng ta duyên xuất ly giới xuất ly tưởng sanh khởi. Mình có tư tưởng phải tu đi ra khỏi mấy thứ đau khổ, tai họa này. Mình suy tưởng, suy tư, có những hình bóng là phải đi ra, thoát ra. “Do duyên xuất ly giới xuất ly tưởng sanh khởi”. Chúng ta thấy rõ không ạ, nếu mình tự đọc là không hiểu đâu. Khi chúng ta nhìn bộ xương là duyên với xuất ly giới, cho nên xuất ly tưởng sanh khởi. Cái bộ xương đó phơi bày, vạch trần, hiển lộ sự thật về tấm thân này, khi như vậy thì mình ngao ngán, chán, không ưa thích khoan khoái nữa, muốn thoát ra khỏi những bộ xương, đống thịt, đống giòi này.

Cái đó là “do duyên xuất ly giới xuất ly tưởng sanh khởi”. Mình quán bất tịnh là duyên với xuất ly giới, xuất ly tưởng sanh khởi không? Mấy cái này là khẩu quyết, đọc không phải dễ hiểu, phải nhận diện được Ngũ uẩn, quán chiếu được các lậu hoặc, thấy được sự vận hành của các pháp trong thân tâm và đọc vô trong đây rồi đó thì pháp sáng tỏ giống như chỉ trong lòng bàn tay mình. Còn nếu không tu không quán, tu không đúng, quán sai thì mình đọc vô không hiểu, giải trật lất. Mình quán bất tịnh, bộ xương, vô thường thì đó gọi là duyên với xuất ly giới. Nói chung, 37 phẩm trợ đạo của Đức Phật là xuất ly giới. Tại sao ngày nào chúng ta cũng nghe pháp, thiền quán là vì mình duyên với xuất ly giới để sanh ra xuất ly tưởng.

Như vậy, không duyên với xuất ly giới thì xuất ly tưởng không sanh khởi. Ở nhà cũng tu được tại sao phải lên đây tu hơn một tháng tại vì duyên với xuất ly giới mới sanh ra xuất ly tưởng. Tại sao ở đây là chỗ viễn ly xứ, đây chính là xuất ly giới, viễn ly giới. Từ cái tên đặt cho đến vị trí địa lý núi đồi cho đến pháp mình đang học và đời sống của mình. Ôm bình bát đi ăn xin là duyên với xuất ly giới, sanh ra xuất ly tưởng.

“Do duyên xuất ly tưởng xuất ly tư duy sanh khởi”. Cái này là khẩu quyết của Đức Phật chứng ngộ, Đức Phật nhìn thấy các pháp vận hành. Xuất ly tư duy sanh khởi là những suy nghĩ, tư duy về sự thoát ra sẽ sanh khởi.

Từ sáng đến giờ, chúng ta có tư duy không. Tại sao con kêu đại chúng trình pháp là để cho xuất ly tư duy sanh khởi, chẳng những làm cho xuất ly tư duy mà còn xuất ly khẩu hành. Mình suy nghĩ có khi phớt qua chút xíu nhưng mà nói ra thì sẽ tô đậm lên rồi những người khác sẽ thấm đẫm. Sau đó, mình coi lại bài nói hôm trước hoặc đọc lại nhật ký tu học thì nó đồ lên thêm, đó là pháp hành. Không phải kêu trình pháp đứng lên nói cho vui, không phải đóng phim vì muốn lợi ích, hạnh phúc cho số đông, vì thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc cho chư thiên và loài người; đem Chánh pháp Thánh pháp, muốn lưu bố phạm hạnh này được tồn tại lâu dài trên thế gian thì mình mới lưu lại những hình ảnh đó, chứ còn thật ra lưu cái đó mệt lắm, cực khổ vất vả, rồi bị chê khen này nọ, người thương người ghét. Đúng ra mình tu cái rẹt rồi đi luôn nhưng mà vì từ tâm, tình thương, lòng bi mẫn cho đời, vì lợi ích, hạnh phúc cho chư thiên và loài người thì mình phải làm sách vở, băng đĩa, quay hình ảnh như vậy chứ không phải quảng cáo, quảng bá. Vì lợi ích, hạnh phúc, từ tâm, tình thương.

V. Xuất ly khổ đau

Do duyên xuất ly tưởng xuất ly tư duy sanh khởi, do duyên xuất ly tư duy xuất ly dục sanh khởi. Do mình cứ suy nghĩ hoài sự thoát ra, rời xa, từ bỏ cho nên mình đi đến chỗ đi ra khỏi các dục. Nhìn thấy bộ xương, đống tro tàn, 32 thể trược, nhìn thấy đống khổ nãy giờ: Căn khổ, trần khổ, thức khổ, xúc khổ, ái khổ, sân si khổ, bản ngã khổ như vậy thì tâm tham muốn của mình đối với những thứ khổ đó lần lần được thoát ra, xuất ly dục sanh khởi.

Này các Tỷ-kheo, cái gì khổ các ông phải đoạn trừ lòng dục. Có một vị Tỷ-kheo đi đến lạy Đức Phật:

- Bạch Thế Tôn, xin Ngài thuyết pháp vắn tắt cho con. Sau khi con nghe pháp vắn tắt, con sẽ kiếm chỗ yên tịnh một mình độc cư, thiền quán, suy tư, tu tập.

Đức Phật nói:

- Này Tỷ-kheo, cái gì khổ ở đấy ông phải đoạn trừ lòng dục.

Vị Tỷ-kheo nói:

- Bạch Thế Tôn, con đã hiểu. Bạch Thiện Thệ, con đã hiểu.

Đức Phật nói một câu như vậy vì xin thuyết pháp vắn tắt, vị tỳ-kheo nói với Bạch Thế Tôn rằng hiểu rồi. Đức Phật nói:

- Lời ta nói một cách vắn tắt. Này Tỷ-kheo, ông đã hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như thế nào.

Vị Tỷ-kheo:

- Bạch Thế Tôn, Sắc là khổ. Ở đây, con phải đoạn trừ lòng dục. Cảm thọ là khổ, ở đây, con phải đoạn trừ lòng dục. Tưởng là khổ, hành là khổ, những suy nghĩ này là khổ. Nhận thức này, thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc, biết này là khổ. Con cần phải đoạn trừ lòng tham muốn đối với năm uẩn này. Đoạn trừ lòng tham muốn đối với hình hài này, đối với những thứ xung quanh này, đoạn trừ lòng tham muốn đối với những cảm giác, suy nghĩ, hình bóng trong tâm. Đoạn trừ lòng tham muốn cho rằng đó là con, của con, đối với thức này, đối với thấy nghe ngửi nếm xúc biết này, con cần phải đoạn trừ lòng tham muốn dục vọng đối với năm uẩn. Bạch Thế Tôn, lời nói vắn tắt này của Thế Tôn, con đã hiểu ý nghĩa như vậy một cách rộng rãi.

- Này Tỷ-kheo, lành thay lành thay, lời ta nói một cách vắn tắt ông đã hiểu một cách rộng rãi như vậy. Sắc này là khổ. Này Tỷ-kheo, ở đây ông cần phải đoạn trừ lòng dục, thọ tưởng hành thức này là khổ, ở đây ông phải đoạn trừ lòng dục. Lời nói vắn tắt của ta. Này Tỷ-kheo, ông cần phải hiểu nghĩa một cách rộng rãi như vậy.

Sau đó, Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tin nhận lời Thế Tôn dạy, đi tìm gốc cây tịnh thất căn nhà trống, thực tập một thời gian sau sạch hết tất cả lậu hoặc. Vị ấy trở thành một bậc A-la-hán.

Chúng ta thấy lời của Đức Phật là cả một trái tim, cả một tấm lòng, huyết lệ xương tủy của Đức Phật mà bây giờ ngày nay được mấy chỗ học đạo nghe những lời này, đếm trên đầu ngón tay, dường như là cực kỳ hiếm hoi, mai một. Những gì mà từ sáng giờ chúng ta nghe là trong vô lượng vô biên kiếp sanh tử vừa qua chưa được nghe, con đã đi khắp hành tinh này để cầu đạo không được nghe, chưa được nghe.

Cho nên hãy trân trọng trân quý giữ gìn, đừng có xem thường đừng có học một cách hời hợt, qua loa. Nhân duyên chúng ta còn chưa biết thế nào, chỉ cần bước ra đường không có chắc chắn về trở lại, trong thâm tâm sâu sắc bên trong chúng ta cứ nghĩ rằng như vậy hoài, vẫn chưa thẩm thấu được sự vô thường đầy đột ngột, bất trắc trong cuộc đời này. Tà kiến của thường hằng cũng vậy hoài nó còn sâu dày trong tâm, chưa có bứt được gốc rễ. Cho nên khi chúng ta nghe thường xuyên kết hợp thiền quán thật nhiều từ đây về sau cho chúng ta thấm.

Do duyên xuất ly tư duy xuất ly dục sanh khởi, do những suy nghĩ muốn thoát ra nhiều, cứ nghĩ tới nghĩ lui, được nghe, nghĩ, tác động hoài cho nên tâm đó quyết định thoát ra các dục, tham muốn ở đời. Cho nên, để mà quyết định thoát ra là cả một vấn đề, nghe nghe hiểu hiểu vậy đó, học học tu tu, khóc ròng ròng như vậy nhưng mà ngầm bên trong, ngấm ngầm bên trong đó vẫn còn nắm năm thủ uẩn, vẫn còn nắm một cái tự ngã trong này.

Cho nên đụng chuyện rồi nó bùng ra liền, không có thầy trò, huynh đệ, cha mẹ gì hết, bùng một cái là hoảng hồn. Tại vì nó chưa được thuần hóa, thuần thục, thuần phục, tâm chưa có đi đến chỗ nhu nhuyến, mềm mại, dễ sử dụng, an trú hoàn toàn ở trong pháp nên cơ hội mà nó bật ngược trở lại, tạo phản, tác loạn là vẫn có thể xảy ra rất là nhiều. Vậy mà không có lo nỗ lực quyết liệt ở bên trong. Chúng ta nhìn thấy những suy nghĩ bên trong, chống đối không, chống đối với pháp. Những cái đó là mầm móng địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, mầm mống đẩy mình ra khỏi vòng Thánh pháp, trở lại là con đường đen tối của phàm phu, ngô nghê, vô văn phàm phu. Phải diệt tận mầm mống đó một cách hoàn toàn, làm cho nó không có thể sanh trở lại trong tương lai tới chừng đó thì lúc đó mới là phần an ổn, chắc chắn mới có.

Do duyên xuất ly dục xuất ly nhiệt tình sanh khởi. Khi đã ra khỏi dục rồi thì sự nhiệt tình trong thân tâm, nhiệt tình để thoát ra sanh khởi, lúc nào cũng nóng bỏng, mạnh mẽ trong sự thoát ra hết. Trong cảm thọ, suy nghĩ, tưởng là luôn luôn nhất hướng để xuất ly để thoát ra, không có ý quay lại, không có lập lờ do dự, phân vân giữa ngã ba đường mà quyết định, không những quyết định mà còn nhiệt tình để xuất ly. Như vậy là do duyên xuất ly dục xuất ly nhiệt tình sanh khởi, do xuất ly nhiệt tình xuất ly tầm cầu sanh khởi là nó cứ tìm kiếm đủ mọi cách trong Bát Thánh đạo để đi ra, cứ tìm kiếm đủ thứ cách để nó đi ra.

Xuất ly tầm cầu sanh khởi, nhiệt tình trong sự xuất ly cho nên sự tìm kiếm mọi thứ để thoát ra được sanh khởi, xuất ly nhiệt tình sanh khởi. Chúng ta học vắn tắt đại khái thôi chứ còn những cái này là thâm sâu, cả một quá trình tu học dài lâu mới nhìn ra được, thấy được tâm của mình.

Khi có được do xuất ly nhiệt tình xuất ly tầm cầu sanh khởi, do tầm cầu xuất ly tầm cầu, tức là nó tìm kiếm sự tầm cầu xuất ly đó, đi kiếm tìm hoài như vậy. Ví dụ như một người biết là dưới nền nhà mình có hũ vàng thì người này cầm cái cuốc cuốc hoài lật tung hết cái nhà ra, thì nhiệt tình đó sanh khởi, tầm cầu kiếm hoài.

Do duyên xuất ly nhiệt tình xuất ly tầm cầu sanh khởi, do duyên tầm cầu xuất ly tầm cầu, nhân tầm cầu đó lên để tìm kiếm. Tìm kiếm sự tầm cầu xuất ly, thì cứ đào bới hoài hất tung căn nhà lên kiếm hũ vàng. Cái này cũng vậy hất tung hết tất cả mọi thứ để tìm đạo lộ thoát ra, con đường giải thoát.

Vị Đa văn Thánh đệ tử thực hành Chánh hạnh theo 3 xứ: Thân, ngữ, ý. Lúc đó tự động thân, miệng, ý thực hành chánh hạnh, tại vì sự mong muốn thoát ra quá mạnh mẽ thì không còn tha thiết với mấy cái trong này nữa. Tại vì tầm cầu sự xuất ly tầm cầu, nhiệt tình, tư duy có đầy đủ rồi do duyên xuất ly giới tức là mình duyên với Đại Tạng kinh, duyên những lời giảng pháp, mình có những tư tưởng, tư duy xuất ly thoát ra. Do có những suy nghĩ, tư duy thoát ra đó cho nên mình sẽ thoát ra khỏi dục, do thoát ra khỏi dục cho nên mình sẽ có sự nhiệt tình mạnh mẽ để thoát ra, mà do có sự nhiệt tình mạnh mẽ thoát ra cho nên tầm cầu mọi cách để thoát ra, do mình tầm cầu mọi cách để thoát ra cho nên mình sẽ tìm cầu sự tìm cầu để thoát ra và do vậy thì dẫn đến thân, miệng, ý thực hành Chánh hạnh để thoát ra. Tức là câu cuối đi đến chỗ thực hành đời sống chứ không còn trong ý tưởng nữa. Lúc đầu là những tiếp xúc với môi trường giải thoát, kế đó sanh khởi những tư tưởng, tư duy để giải thoát và sau đó nhiệt tình để giải thoát và tìm kiếm mọi cách để giải thoát. Và cuối cùng thực hiện con đường giải thoát đó. Vị Đa văn Thánh đệ tử thực hành Chánh hạnh theo ba xứ: Thân, ngữ, ý; tức là vị này sống đời sống xuất ly.

Quý vị đang sống đời sống xuất ly, đang ngồi đây. Một ví dụ dễ hiểu, quý sư cô hay quý Phật tử tiếp xúc pháp này như vậy gọi là do duyên xuất ly giới. Tiếp xúc được pháp này thì mình có suy nghĩ muốn thoát ra khỏi tham – sân – si, bản ngã. Như vậy là xuất ly tưởng sanh khởi.

Mình muốn thoát ra tham – sân – si, khổ, bản ngã là xuất ly tưởng, cho nên suy nghĩ mọi cách làm sao để thoát ra nghĩa là xuất ly tư duy sanh khởi, cứ suy nghĩ suy tư hoài rồi sau đó là mình không có muốn chạy theo thú vui ngoài đời nữa, không muốn đi shopping, đi chơi, đi du lịch nhiều nữa. Xuất ly dục sanh khởi.

Chúng ta thấy rõ không, trong tâm các Phật tử, các vị về đây tu học từ xuất gia đến cư sĩ có không? Xuất ly dục sanh khởi rồi sanh khởi xuất ly nhiệt tình, là tìm Linh Quy Pháp Ấn ở đâu.

Tầm cầu và xuất ly tầm cầu sanh khởi là xe mà tầm cầu rồi đó, do tầm cầu xuất ly tầm cầu vị Đa văn Thánh đệ tử thực hành Chánh hạnh theo 3 xứ: Thân, ngữ, ý là giờ này có mặt ở đây. Không những ở trong suy nghĩ, tư tưởng, nhiệt tình, tâm ý mà là thể hiện ra hành động. Cho nên lời nói là điện thoại, mở trên mạng coi đường đi Linh Quy Pháp Ấn ở đâu, điện thoại hỏi quý thầy coi con lên tu được không. Nếu thầy nói được là bây giờ ngồi có mặt ở đây.

Thân, ngữ, ý thực hành Chánh hạnh theo sự tầm cầu xuất ly tầm cầu, tầm cầu sự tìm kiếm để thoát ra. Mỗi thời nghe pháp, mỗi thời ngồi thiền, mỗi thời đi khất thực, mỗi thời tu mình nhiệt tình, nóng bỏng, tha thiết, khóc, nghe pháp khóc nước mắt chảy ròng ròng. Như vậy có nhiệt tình, tầm cầu, tư duy trong đó, mới có những pháp đó chứ còn nghe pháp ngồi ở đó, học ở trường 10 năm con có khóc lần nào đâu, dữ lắm là xúc động chút xíu rưng rưng vậy thôi, còn này khóc chấn động núi rừng hết. Đó là những Chánh hạnh, sự vận hành của pháp nó sanh, thì đó là đạo lộ xuất ly.

Bài kinh Tương Ưng Bộ - Tập 2 - Có Nhân.

Chúng ta thấy các pháp mà Đức Phật nói có trong mình là tại vì mình làm đúng theo đạo lộ của Đức Phật thì nó có, thì nó sẽ đi đúng theo trình tự như vậy, trình tự tâm, trình tự pháp, trình tự đạo lộ của bậc Thánh, trình tự Thánh đạo.

Cho đến một lúc nào đó, dù cho về nhà tâm của mình cũng không muốn đi chơi, không muốn đi mua sắm nữa, những đông đúc ồn ào náo nhiệt không muốn tới nữa, mình thấy không có gì hết. Mình thấy trong đó là tiềm ẩn những dịch bệnh, tai họa, tai nạn, những nguy hiểm, mình thấy không thích, không muốn. Trừ khi có công việc hay có nhân duyên gì đó thì đó là nhân duyên chứ mình không ham thích, ham muốn. Mình muốn sự thoát ra, muốn tìm cầu sự thoát ra.

Như vậy, sáng nay là chúng ta nghe về Khổ Thánh trí một cách tổng quát, bao quát căn, trần, thức; xứ, giới, uẩn. Cả địa cầu này là một đống khổ và chúng ta nghe về xuất ly đạo lộ của bậc Thánh, Khổ Thánh trí và Xuất ly đạo lộ.

Lành thay, lành thay. Chúc mừng cho sư cô khi có sự lựa chọn sáng suốt, người thấy pháp thì không có đi, người đi thì không có thấy pháp. Một người đi tìm vàng mà nào giờ chỉ thấy vàng giả, sau khi phát hiện đó là vàng thật, người đó có cầm cục vàng thật quăng bỏ đi tìm lại vàng giả không. Nếu người quăng bỏ vàng thật để quay trở lại vàng giả thì người đó chưa biết vàng đó là vàng thật, mà người đã biết đó là vàng thật thì không bao giờ quăng vàng thật đó dù cho bất cứ chuyện gì xảy ra.

Một người mà đã thấy pháp rồi là tịnh tính bất động mà người chưa tịnh tính bất động thì người đó chưa thấy pháp. Cho nên con được bậc Đạo sư truyền trao pháp khi mà con thấy rồi thì đã tịnh tính bất động, không phải một kiếp này cho đến khi nào mà các lậu hoặc diệt tận. Tịnh tính bất động đối với pháp và bậc đạo sư. Nhớ kỹ điều đó, tâm của mình bên trong còn chống đói, nghi ngờ, còn có những ý niệm phản trắc, nổi loạn, bất kính thì tâm đó chưa có thành tựu niềm tin đối với pháp.

Cho đến lúc nào mà tâm của mình hoàn toàn chiến thắng được hết, chế ngự, diệt tận nó được thì lúc đó mới tịnh tính bất động đối với pháp. Và nhớ pháp thôi, không quan trọng con người tại vì có người nhiều khi thành tựu mà chưa viên mãn thì sẽ có những sơ suất, lậu hoặc, sơ sót. Nhưng mà pháp người đó nói ra là đúng Chánh pháp thì mình phải lấy pháp làm thầy, còn những lỗi nhỏ nhặt sơ suất thì mình đừng có để tâm.

Bí quyết là luôn tỉnh giác chiếu soi 5 uẩn, thấy được và đề phòng sợ hãi tham – sân – si, vô minh, bản ngã; lo sợ đối với tham – sân – si, vô minh, bản ngã của chính mình, luôn canh chừng, đề phòng và cẩn thận mọi lúc mọi nơi, luôn tỉnh giác chiếu soi 5 uẩn. Đề phòng tâm mình, canh chừng những dục tham ái, tham – sân – si, vô minh, bản ngã của mình.

Chúng ta thấy khổ chưa? Thấy khổ mà cười nhiều đó là đặc biệt của Thánh pháp, càng thấy khổ mình càng hạnh phúc, tại vì mình không có tiếp tục đi theo khổ giống như ngày xưa, giống như mọi người nữa mà mình thấy khổ thì bước ra rồi, vui quá. Thấy khổ để không còn đi theo khổ, để bước ra khỏi khổ thì thấy khổ đó mới vui còn thấy khổ mà mò mẫm, quờ quạng không biết đường ra thì cái đó nó khổ. Mình thấy khổ để đi ra khổ cho nên vui.

Tâm thương này tỏa rộng, cùng khắp thế giới này. Tâm thương này tỏa rộng, khắp trời đất bao la.