Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

gom biển cả thành giọt nước

2026-03-03 00:54:14
GOM BIỂN CẢ THÀNH GIỌT NƯỚC

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I.Cảm thọ bao trùm tất cả PAGEREF _Toc112355784 \h 1

II.Quán chiếu cảm thọ PAGEREF _Toc112355785 \h 3

III. Tất cả thọ đều nằm trong đau khổ PAGEREF _Toc112355786 \h 8

Cảm thọ bao trùm tất cả

Đại chúng có muốn Minh Thành tóm thâu cả biển lớn thành một giọi nước không? Trong Tương Ưng Bộ Kinh có thể tóm thâu lại Thiên Uẩn là phần nói về năm uẩn. Trong cả Thiên Uẩn có thể tóm thâu lại còn năm uẩn. Trong năm uẩn tóm thâu lại còn thọ uẩn. Đó là thâu hết nước bốn biển trở thành một giọt cảm thọ, cảm giác. Đương nhiên mình tu học phải biết đầy đủ về sắc, thọ, tưởng, hành, thức, nhưng cảm thọ là sự gắn kết giữa sắc và tâm, tất cả mọi thứ đều biểu lộ trên cảm thọ. Đọa địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, tham, sân, si, khổ đau cũng ở trong cảm giác. Phá vô minh, thành tựu chánh trí chứng ngộ Niết-bàn cũng ở ngay nơi cảm giác.

Tại sao người ta không xem đá bóng gián tiếp ở trên tivi, ở trên mạng mà phải mua vé rất đắt tiền để ngồi trên sân bóng đá? Tất cả cũng từ cảm thọ, cảm giác phấn khởi, thích thú, khoan khoái do xem trực tiếp mang lại. Cũng vậy, chúng ta mở pháp nghe một mình tại nhà sẽ có cảm thọ khác với được ngồi nghe trực tiếp. Khi đích thân ngồi tại đây nghe giảng, chúng ta sẽ có sự rúng động trong từng tế bào, từng làn da, từ huyết quản, từ giọt nước mắt trí tuệ tràn xuống. Cái thọ đó bị chấn động, bị rung động, bị xúc động mạnh và cái thọ này sẽ phá tung được thân kiến. Hơn nữa, nếu thọ này cực kỳ mạnh, cảm xúc pháp thâm sâu, đánh động đến từng lớp thâm sâu của thọ uẩn thì có thể sẽ phá tung hết các tà kiến. Khi quán chiếu về pháp mà mình chấn động, dù là chấn động nhỏ mà còn khóc đến vậy, huống hồ chi những chấn động mạnh của cảm thọ có để đưa đến các tầng Thánh quả. Cho nên, hết sức quan trọng là cảm giác, cảm thọ này, chúng ta sẽ chết với nó và đã chết không biết bao nhiêu lần với cảm thọ này. Một chút cảm giác sanh khởi đã có thể lái mình đi thật là xa, dù cho mình có thấy biết Chánh pháp đi chăng nữa. Nhiều người đã học qua hết ngũ uẩn này rồi nhưng cũng rơi rụng vì một chút cảm giác.

Đức Phật dạy một phần rất quan trọng trong Tương Ưng Bộ kinh, bài kinh "Vực thẳm":

"Này các Tỳ-kheo, kẻ vô văn phàm phu đối với việc không có, không xảy ra, lại nói: Ở giữa biển lớn, có vực thẳm. Này các Tỷ-kheo, đồng nghĩa với các khổ thọ về thân là vực thẳm này". (Tương Ưng Bộ IV, Tương Ưng Thọ, bài kinh Vực thẳm).

Người ta nói giữa biển lớn có vực thẳm nhưng Phật nói không phải, mà chính những cảm giác thống khổ bực tức, sân hận mới là vực thẳm. Hằng ngày chúng ta bị lọt xuống vực thẳm rất nhiều lần, từ sáng đến trưa chiều đến tối mình rơi không biết bao nhiêu lần xuống vực thẳm cảm thọ, đó là vực thẳm được Đức Thế Tôn nói. Đất trời còn chấn động với sự thật này. Bậc đa văn Thánh đệ tử khi cảm giác khổ thọ về thân "không có sầu muộn, không có than vãn, không có khóc lóc, không có đấm ngực, không đi đến bất tỉnh. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là bậc Ða văn Thánh đệ tử đã đứng lên trên vực thẳm, đã đạt tới chỗ chân đứng" (Tương Ưng IV, 212). Tại sao bậc đa văn thánh đệ tử gặp một khổ thọ, một cảm giác khổ không than vãn?

"Vị đệ tử Đức Phật

Định, tỉnh giác, chánh niệm,

Hiểu rõ ràng các thọ

Và xuất ly các thọ.

Chỗ này, chúng đoạn diệt

Con đường đến đoạn diệt,

Tỳ-kheo đoạn các thọ.

Không khát ái, tịch tịnh"

(Chương II. Tương Ưng Thọ, Phần Một - Phẩm Có Kệ, I. Thiền Ðịnh)

Đệ tử Đức Phật định, tỉnh giác, chánh niệm, hiểu rõ ràng các thọ, có thọ gì khởi lên, thọ gì đang hiện diện đang có mặt, thấy và biết nó một cách rõ ràng. Không đồng hoá với nó, không cho đó là tâm của mình, nó chỉ là cảm giác nhưng mình lấy cảm giác này mình đổi được cảm giác kia. Cũng như mình bỏ một chút cảm giác nghỉ trưa mà mình được pháp trí huệ. Mình lấy một cảm giác rất là bình phạm, tầm thường mà mình đổi lấy cảm giác của trí huệ siêu phàm. 

Người không học hiểu chánh pháp thì khổ với cái thọ này như thế nào? Rơi vào say sưa, nghiện ngập, gia đình ly tán, sự nghiệp nát tan, vợ chồng chia lìa, con cái khổ sở…cũng vì cái thọ của rượu bia say sưa và cái thọ đối với các sắc cũng gây biết bao đổ vỡ. Thọ của cái lưỡi cũng gây ra họa. Ngày xưa vua thưởng cho quan này mà không thưởng cho quan kia thì xảy ra chém giết nhau. Hơn bao giờ hết trong thế giới ngày nay, xã hội bây giờ rất khủng khiếp. Người ta cứ mải miết chạy đi tìm cảm giác, bình thường chưa thoả mãn phải dùng thuốc kích thích thêm, đó là tìm kiếm cái thọ và khi càng khao khát, càng muốn mãnh liệt thì càng đau khổ, càng thiếu thốn thêm và như thế là quay cuồng, điên cuồng, rối loạn, đảo điên hết ở trong cảm giác. Người ta quay lại những trò chơi cảm giác mạnh cho mình thấy có nhiều người bị rớt xuống chết, nhiều người trở ra là đưa vô bệnh viện. Có Hoà Thượng đi nước ngoài, vào chơi rồi đi ra là nhịp tim đập nhanh rồi mệt, phải đưa về liền. Tại vì Hoà Thượng không biết trò chơi có cảm giác mạnh đến vậy. Hơn thế nữa, cảm giác này thật sự quá nguy hiểm, có những người lấy một phần cảm giác này rồi ra giảng, hướng dẫn người ta tu, tổ chức toàn thế giới. Chỉ một phần của thọ uẩn này thôi là có thể đem ra tổ chức tu học trên toàn thế giới, mười ngày không nói chuyện chỉ ngồi quán cái thọ. Từ đây mới thấy được con đường chúng ta đang đi hết sức đầy đủ viên mãn, sâu sắc.

Tại sao khi bị góp ý này kia là mình né, không muốn gặp nữa? Đó là do cảm giác không vui khi được nhắc nhở, chỉ dạy. Tại sao lúc ngồi thiền mình không chiến đấu nổi, mình không đi ra khỏi vọng tưởng, những thọ, tưởng, hành được? Đó là do cảm giác từ những sắc tưởng, thanh tưởng, những hình bóng của người này người kia, những cảm xúc ở bên trong tâm làm mình đi ra không được. Các cảm thọ trong tâm như bát quái trận, đào hoa đảo, lọt vào mê hồn trận là mình ra không được, cứ lòng vòng trong đó. Nhưng tất cả đều là cảm thọ, mình phải nhìn ra được để thoát ra.

Trong khi phát biểu, trình pháp cũng phải coi chừng cái thọ của mình, lúc đó phải chánh niệm và tỉnh giác, biết mình đang nói cái gì, nhớ rằng mình đang trình pháp chứ không phải kể tiểu sử bản thân, không phải nói lên điều tâm đắc, những điều mình thể nghiệm. Ngay lúc tu mình thấy cái gì thì nói ngay chỗ đó, đó là trình pháp. Các nước Phật giáo nguyên thuỷ mỗi một vị được hỏi một câu thì thiền sư chỉ trả lời có năm phút. Mình lên nói theo cái thọ đã quá rồi quên luôn thời gian, cho nên phải cẩn thận nhìn cái thọ, khi mình nhìn được, kiểm soát được, làm chủ được là hạnh phúc, an lạc, kì diệu vô cùng.

Khi có sự nhìn ngó, kiểm soát thì cảm thọ sẽ thấy khó chịu, bức xúc. Giống như một người đang đi thoải mái thì tự nhiên có người nhìn, khi đó sẽ không còn thoải mái, sửa tướng đi lại liền vì thấy ngượng. Cảm giác cũng vậy, những tham dục, sân hận, si mê, chấp ngã bị mình nhìn là lúc đó nó khó chịu, vì bị mình kiểm soát. Lúc đầu khó chịu rồi từ từ nó phải bị khuất phục trước trí tuệ viên mãn của thánh trí, cho nên mình phải nhìn hoài, phải quản lý nó.

Quán chiếu cảm thọ

Thu thúc sáu căn ba nghiệp là việc rất khó, không phải dễ, nhưng nắm được cái thọ là thu thúc được. Cho nên, trong sự tu này, Minh Thành thường nhắc nhở đại chúng, kể cả các vị đã xuất gia hay tập sự xuất gia, và ngay bản thân Minh Thành cũng phải nhắc mình phải cẩn thận từng chút một. Khi quý vị lên dọn trai đường mà không nghe tiếng động của đũa, muỗng, chén thì đó chính là phép màu! Trong sinh hoạt, đi lại…mà nhẹ nhàng an tịnh, không có ồn ào, không dao động thì đó là khinh an trong thất giác tri. Khi có một phần giác ngộ rồi rồi thì mình mới làm được. Mỗi khi ăn cơm xong là Minh Thành phải nhắc bản thân:

"Nếu cảm giác lạc thọ,

Không tuệ tri cảm thọ,

Đây gọi tham tuỳ miên

Không thấy rõ xuất ly".

(Chương II.Tương Ưng Thọ, Phần 1-Phẩm Có Kệ, III. Đoạn Tận)

Khi có một cảm giác khoan khoái, thích thú, vui sướng mà mình không tuệ tri, tức là không rõ biết bằng trí huệ, đây gọi là tham tuỳ miên. Cái tham sẽ đi theo mình miên man ở trong cảm thọ vui sướng đó không có thấy rõ xuất ly. Nếu không thấy rõ nó, thì làm sao biết được phương pháp, con đường đi ra khỏi nó vĩnh viễn. Cho nên khi trưa ăn cơm phải tuệ tri cảm thọ để thấy rõ được tham tuỳ miên, để mình có thể xuất ly. Nếu không tu tập, không quán chiếu, không nhìn sâu thì vĩnh viễn mình không thể vượt qua được việc ham ăn. Chữ “ham ăn” ở đây sâu lắm, không giống chữ ham ăn của người đời dùng. Người đời dùng từ “ham ăn” là chỉ người đó háo ăn, ăn thô, ăn phàm, ăn không thanh nhã, nhưng chữ ham ở đây còn là cái tâm ưa thích, ham muốn, thích thú trong cái ăn. Dù cho ở ngoài thanh nhã nhẹ nhàng bao nhiêu đi nữa nhưng cái ham muốn, thích thú, cái ái về ăn chắc chắn có. Muốn xuất ly ra cái thọ, muốn chấp dứt luân hồi sanh tử thì trước hết phải đoạn được tứ thực, gồm: đoàn thực, xúc thực, tư niệm thực, thức thực. Còn ái với tứ thực là còn cấp dưỡng thức ăn cho ngũ uẩn, từ đó có sự luân hồi thân tứ đại này. Bởi vì mình cứ yêu thích cái ăn thì sao thoát ra cái ăn được, cho nên đời sau mình đầu thai trở lại để ăn nữa, không cần biết sẽ ăn dưới hình thức, bộ dạng nào nhưng phải ăn nữa mới được.

Lưu ý, không phải đoạn dứt ái với thức ăn là không ăn nữa, mà các vị tu hành giữ giới, tiết độ trong ăn uống, diệt dục ái trong khi ăn để bào mòn từ từ cái ái cho đến diệt tận thì thành tựu Niết bàn. Tuy chưa diệt tận được hoàn toàn nhưng ít nhất thực tập được những điều này từng chút một thì sẽ bớt phiền não. Chưa nói đến A-la-hán, chúng ta cứ cố gắng Dự lưu hoặc hướng Dự lưu trước, chắc chắn là được. Đó là mấy vị cư sĩ, còn người xuất gia là phải cố gắng tới cùng.

Không phải giờ tu mới để ý để các rác bẩn trong tâm, mà bất cứ lúc nào, khi ăn uống, nhai, nếm, ăn, mặc, ngủ, nghỉ đều phải xem có ái trong đó không. Khi nói năng, hành động cũng đầy rẫy dục, tham, ái trong đó, không nói thì bị giục cho nói. Chúng ta phải chiến đấu với cái dục đó. Khi nói mà thấy khoái khoái, thích thích, muốn muốn đó là dục, là ái, là tham. Nhiều người nói rất nhiều nhưng chưa thấy đủ, kết thúc xin hết mà vẫn muốn nói nữa thì đó là tham nói, nhưng các vị ấy không thấy hết được những sự vận hành của dục, tham, ái trong tâm. Cho nên, cần phải kiểm soát chúng bằng hai mắt thần.

Tu pháp này là phải có con mắt thần, gọi là tuệ nhãn, pháp nhãn. Con mắt thần này xuyên qua các cảm thọ, xuyên qua tưởng, xuyên qua hành, xuyên qua thức, đó là con mắt trí huệ, từ tuệ nhãn mà pháp nhãn sanh, đó là bậc Dự lưu. Bậc thấy được thân tâm của chính mình một cách rõ ràng, tường tận, đầy đủ, trọn vẹn. Trong Tương Ưng Bộ III – Thiên Uẩn, bài kinh “Dự lưu”, Đức Phật tuyên bố bậc Dự lưu là bậc Đa văn Thánh đệ tử biết rõ được sự tập khởi, sự chấp dứt, vị ngọt, sự nguy hiểm và xuất ly khỏi năm thủ uẩn, đó là bậc Dự lưu thành tựu trí huệ.

Cho nên, thật ra Vipassana cũng là sự ghi nhận, quán xét, quán chiếu một cách sâu sắc, nhỏ nhiệm, mọi khía cạnh, từng li từng tí, từng ngõ ngách trong nội tâm. Khi ngồi thiền, mắt nhìn như không có gì nhưng lại thấy hết thế giới năm uẩn này. Ở ngoài đời, mắt nhìn đây đó khắp nơi, gặp cái nào cũng nhìn nhưng lại không thấy gì. Đặc biệt ở chỗ, không nhìn mới thấy, nhìn nhưng lại không thấy, vì nhìn hướng ngoại thì không thấy được chính mình. Khi không hướng ngoại nữa mà quay lại nhìn ngũ uẩn thì thấy được chính mình. Thấy được chính mình là cái thấy tối thượng trong tất cả cái thấy. 

"Nếu cảm giác khổ thọ,

Không tuệ tri cảm thọ,

Đây gọi sân tùy miên,

Không thấy rõ xuất ly".

(Chương II. Tương Ưng Thọ, Phần 1-Phẩm Có Kệ, III. Đoạn Tận)

Đối với cảm giác khó chịu, bực bội mà không tuệ tri, thấy biết một cách đúng đắn thì không bao giờ thoát ra khỏi cơn sân được, nó sẽ đi theo mình miên man gọi là sân tuỳ miên. Mỗi khi gặp điều gì đó khó chịu là sân giận nóng lên, lan ra, không bao giờ mình thoát ra được, không thể nào xuất ly được nếu không nhìn rõ. Minh Thành thường dùng từ là phải biết mặt mũi và tánh tình của các tên giặc trong nội tâm để có cách nhiếp phục tương ứng. Ví dụ, mình nói mình biết một người nào đó nhưng khi hỏi người đó tên gì, nhà ở đâu, đen hay trắng, mập hay ốm, hiền hay không hiền …mình đều không biết, như vậy có gọi là quen không? Cho nên, học văn huệ là học chữ nghĩa trước, học cái chữ biết cái nghĩa, đó là mình biết được tên tuổi. Tên mà mình còn chưa biết mà chứng đắc cái gì? Cũng vậy, lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ mà còn không biết thì làm sao nhiếp phục, làm sao xử lí, làm sao mình quản chế, làm sao chế ngự, đoạn tận được, cho nên trước hết phải biết tên tuổi nó.

Sau đó phải biết mặt mũi, biết cảm giác đó xuất hiện ra sao. Ví dụ, khi có cảm giác bản ngã sanh khởi thì mình đi ưỡn ngực lên, hất mặt lên, nói huênh hoang, khí trong người dâng lên, gương mặt, ánh nhìn cũng thể hiện bản ngã, giọng nói cũng thể hiện bản ngã, hành động cử chỉ cũng thể hiện. Cần phải thấy, phải biết rõ ràng về mặt mũi của từng loại cảm giác. Cảm giác của tham như thế nào? Cảm giác của dục như thế nào? Cảm giác của ái như thế nào? Cảm giác của sân như thế nào? Cảm giác của hận như thế nào? Cảm giác của bản ngã như thế nào? Cảm giác dương dương tự đắc như thế nào? Tất cả mọi cảm giác đó mình phải thấy, khi được hỏi thì mình phải diễn tả, trình bày được, đó là biết được mặt mũi nó. Chứ không phải nói nhận diện năm uẩn đơn giản chỉ có ba cảm giác, đó là tiểu học, mới lớp một lớp hai. Khi đi sâu hơn phải biết từng loại cảm giác biểu hiện và vận hành như thế nào. Nếu mới gặp mặt người đó một lần, ba năm sau gặp lại mình có nhớ không? Còn ngày nào cũng gặp mình có nhớ không? Tu cũng vậy, ngày nào cũng phải nhận diện, giờ nào cũng nhận diện "mi là thủ phạm, mi là tai nạn, là hiểm họa, ta không chấp nhận mi, ta đập tan mi, không có chỗ cho mi đi chỗ khác, không chứa đồ ăn hại, tối này bắt ta ăn rồi hại ta". Đây là những từ để như lý tác ý. Trong sự tu học phải khéo như lý tác ý, chửi những cảm giác bất thiện là đồ ăn hại, đồ báo đời, đồ phá gia chi tử. Cảm giác bất thiện sanh khởi lên mình chửi nó "đồ ăn hại, đồ báo đời, đồ phá nhà", rồi đánh đuổi, không chấp nhận, từ bỏ và diệt tận nó. Tu như vậy là tu giỏi, tu như vậy là tu sâu, tu như vậy gọi là chuyên tu.

"Với bất khổ bất lạc,

Bậc Đại trí thuyết giảng,

Nếu hoan hỷ thọ ấy,

Không thoát được khổ đau".

(Chương II.Tương Ưng Thọ, Phần 1-Phẩm Có Kệ, III.Đoạn Tận)

Đức Thế Tôn nói rằng nếu hoan hỷ với thọ không vui không khổ thì không thoát được khổ đau. Có nhiều người thích sôi nổi, đi tới đâu là náo động tới đó, im im đều đều họ không chịu. Có những dạng người rề rề, đi ngang mình cũng không thấy, họ đi ra khi nào mình cũng không hay, dạng này là nguy hiểm, lù khù vác cái lu chạy. Cái thọ bất khổ bất lạc này đều đều, cần cẩn thận với thọ không khổ không vui này. Vì thọ khổ và thọ lạc nổi cộm lên giống như sóng lớn dễ nhìn thấy, còn thọ bất lạc bất khổ rất khó thấy, thế nên cứ cho rằng mình không có tham, sân, si gì, đó là vì mình đang ở trong si mê.

Bậc đại trí thuyết giảng nếu hoan hỷ với thọ không khổ không vui thì không thoát được khổ đau. Tại sao vậy? Những người nằm trong những thọ này thì không tiến bộ, phát triển được và cũng khó làm nên sự nghiệp lớn. Người này hài lòng với những gì đang có, chấp nhận một cách rất dễ dàng, họ không phấn đấu nỗ lực "như vậy là được rồi, cho tôi xin hai chữ bình an, đừng bày ra gì nữa hết". Ai tu sao mình tu vậy, đừng có tu khác, không chịu tìm hiểu, không chịu đào sâu, không chịu tầm cầu. Cảm thọ này sẽ giết mình chết, cần phải cẩn thận cảm thọ này hơn cả sân và tham. Tại vì cảm giác đều đều làm cho mình không thấy năm uẩn, rồi mình ái luyến, ưa thích, chấp nhận, hoan hỷ trong đó. Có khi mình chỉ hoan hỷ nhẹ, không thô, không cười lớn, cũng không mỉm cười mà trong tâm thấy dễ chịu, tuy nhiên, cần phải ra khỏi cái êm ái, phải nhìn thấy bản chất của nó.

Trong phần Tương Ưng Thọ, Đức Phật dạy phải quán cảm thọ vui là khổ, quán cảm thọ khổ là mũi tên, quán cảm thọ không vui không khổ là vô thường. Nếu dính mắc vào cảm thọ vui, sau đó nó không còn nữa là mình khổ. Cảm thọ khổ giống như mũi tên, cảm thọ khổ rất khó chịu như mũi tên bắn trúng mình. Cảm thọ không vui không khổ thì phải biết đây là vô thường, là biến đổi, không đều đều mãi được. Mình cứ để tháng sau tu, hoặc năm sau, hoặc ba, bốn năm nữa mới tu nhưng các pháp luôn thay đổi, vô thường không biết trước, các cảm giác sanh diệt không ngừng, không phải cứ đều đều như mình nghĩ.

Tất cả thọ đều nằm trong đau khổ

Câu kinh khiến Minh Thành cảm thấy sốc thật sự là "Này các Tỳ-kheo, phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ" (trích Tương Ưng IV, Tương Ưng Thọ, bài kinh Sống một mình). Câu này thâm sâu vô cùng, tu được câu này là chứng thánh quả. Với ba cảm giác vui, cảm giác khổ, hay cảm giác không vui không khổ thì kẻ vô văn phàm phu đều giống như người bị trói buộc. Trói buộc thì làm sao mà vui nhưng mình cứ thích cái thọ đó. Đừng nói khổ thọ mà người ta chán, khổ thọ người ta cũng thích, có nhiều người thích buồn, rồi nhậu một mình, buồn rồi viết nhật ký, hoặc ngồi một mình gặm nhấm hương vị của cái buồn. Thành ra buồn không nhất thiết phải là chán, càng buồn càng khổ chừng nào thơ càng hay chừng đó. Khi đào sâu chúng ta thấy được rằng không phải người ta chán cảm thọ khổ, dù cho khổ nhưng họ vẫn khoái thì đó là kẻ vô văn phàm phu. Khi đang có một cảm giác khổ thọ và cảm thọ cảm giác khổ ấy thì giống như đang bị trói buộc.

Đừng nói chi là lạc thọ, bị trói cột vào lạc thọ là khó thoát khỏi được, cho nên phải thật cẩn thận khi có những lạc thọ. Mỗi lần Phật tử quỳ xuống lạy là Minh Thành chắp tay và nhìn sâu vào trong cảm thọ, nếu có cảm giác thích thú cho là mình hay, mình là sư phụ thì Minh Thành phải dùng Như lý tác ý, quán chiếu để phá cảm thọ cho rằng mình hay, mình là thầy. Trong lúc Phật tử đang lạy Minh Thành quán chiếu, nhìn vào cái thọ thật sâu, coi nó có thọ cái lạy đó không, coi có thích thú không, có thấy mình là thầy, mình là ngon, mình là bề trên không. Nếu có cảm thọ như vậy thì rất là nhục nhã, xấu hổ, không cho phép mình có cảm thọ khoan khoái, thích thú trong cái lễ, lạy của người khác.

Khi đi tới những chỗ ăn uống, tham quan, hoặc có những nhân duyên không tránh được thì chúng ta phải hết sức cẩn thận nhìn lại cảm giác của mình, đó là mồi nhử là ác ma. Đối với những gì khoan khoái, thích thú gọi là khả lạc, khả hỷ liên hệ đến dục mình phải cẩn thận. Nếu thấy khoan khoái, thích thú những món ăn thì uổng công người nấu, uổng công người cúng dường, mình ăn như vậy người đó không có phước bao nhiêu. Nếu ăn trong trạng thái vô lượng tâm định thì phước báu rất lớn. Đó là cách thọ thực của Ngài Ma-ha-ca-diếp. Các vị chư thiên rất ưa thích cúng dường cho Ngài Ma-ha-ca-diếp, vì khi ăn Ngài luôn luôn trú vào vô lượng tâm định, đó là nguồn sanh phước bất tận cho những người cúng dường.

Trong bài kinh "Với mũi tên", Đức Phật dạy có hai mũi tên. Ví dụ, khi đi ngoài nắng 40°C thì ai cũng khó chịu giống nhau, cái thân khó chịu vì bị nóng, dù cho phàm phu hay thánh nhân nóng cũng y như nhau, người có tu hay người không tu thì cái nóng cũng y hệt nhau. Điểm khác nhau là cảm giác của tâm và cảm giác của thân giữa người có tu tập cảm thọ và người không tu tập cảm thọ. Có hai loại cảm thọ: cảm thọ của thân và cảm thọ của tâm. Bậc Đa văn Thánh đệ tử cho trúng một mũi, lúc đó các vị thực hành quán thọ thân khó chịu mà tâm không khổ cho nên không bị bắn mũi tên thứ hai. Tức là chỉ có cảm thọ khổ trên thân, còn tâm không khổ. Trong khi đó, người vô văn phàm phu trúng hai mũi tên, nói liên tục "tại sao ông trời nóng bực bội quá khó chịu quá" , người này thân khổ, tâm cũng khổ, nếu nói nhiều nữa là khẩu khổ vì đau cổ… Cho nên, nói một hồi là kéo theo nhiều cái khổ khác nữa, Phật dạy hai mũi là hai mũi chính, nếu không biết tu tập thì sẽ lây ra chục mũi tên.

Người tu khi quán Tứ Niệm Xứ, quán Thân Hành Niệm thì khi mắc bệnh chỉ là thân bệnh, còn tâm thì thực hành pháp để thấy được sắc uẩn là ổ chứa nhóm tật bệnh, lúc đó thánh trí sáng tỏ, tuệ tri, thắng tri, liễu tri sắc uẩn này. Còn vô văn phàm phu lúc bệnh chỉ biết than vãn, rên la, điện thoại than trách oán hờn con cháu, làm vậy càng khổ hơn nữa. Các bậc tu hành thành tựu không phải các Ngài không có khổ thân, các vị vẫn có khổ thân nhưng tâm họ không khổ. Còn chúng ta thân tâm đều khổ, tưởng uẩn vẽ ra thêm nên khổ gấp nhiều lần. Lúc đầu có chút xíu mà tưởng “tượng” thêm nữa thì từ con kiến ra thành con voi. Ví dụ, trước khi đi tu mình dặn dò "ở nhà có công chuyện gì quan trọng thì gọi cho tôi", đang ngồi thiền thì điện thoại rung lên, mình nghĩ "chết rồi chắc đây là chuyện quan trọng, không biết làm sao đây", rồi mình vẽ ra một dọc dài. Nếu ngay chỗ đó mình không biết, không ra khỏi thọ, tưởng, hành thì suốt buổi ngồi thiền bị những vọng tưởng đó theo từ đầu tới cuối. Hết giờ thiền là chạy ra lấy điện thoại gọi lại liền, mà đó còn đỡ, có khi ngay đó là chạy ra luôn chứ không chờ đến lúc xả thiền. Những cái tưởng này mới làm mình khổ, những sắc tướng bên ngoài không làm khổ mình bao nhiêu, nhưng sắc tưởng mới làm khổ mình nhiều. Âm thanh bên ngoài không làm khổ mình bao nhiêu nhưng thanh tưởng trong lòng mới làm mình khổ dài dài. Cái hương với cái vị không làm mình đam mê bao nhiêu, chỉ ngon chút xíu đó thôi, nhưng hương tưởng và vị tưởng làm cho mình đam mê dài dài. Chúng ta không đi ra khỏi các tưởng được, nó cứ ở trong đó, những hình bóng hiện ra, những âm thanh lời nói thì thầm, sự xúc chạm, những xúc tưởng hiện và mình chạy theo nó.

Người tu chúng ta là những dũng sĩ, chiến sĩ chiến đấu với nội tâm.

Dầu tại bãi chiến trường,

Thằng ngàn ngàn quân địch,

Tự thắng mình tốt hơn,

Thật chiến thắng tối thượng..

(Kinh Pháp cú – phẩm Ngàn)

Đức Phật đã dạy, dù tại bãi sa trường, có chiến thắng hàng ngàn quân địch, nhưng vẫn không bằng tự thắng được mình, thắng được mình là chiến công oanh liệt nhất. “Thắng mình” ở đây là thắng được những cảm giác, lời nói trong nội tâm. Mình phải nhiếp phục được, chuyển hoá được, phải xuất ly đi ra khỏi được những uế nhiễm trong tâm là giải thoát. Minh Thành thường nhắc các vị vào ngồi thiền là phải mỉm cười, ai ngồi thiền mà nhìn mặt buồn là muốn lấy cây thiền bản đánh cho một cái. Lúc tu học phấn khởi, hân hoan, mắt mở sáng lên, đầu thẳng, vai thẳng, thân thả lỏng, vai đều giống như tư thế ngồi của Phật, quang minh tướng hảo, trí huệ sáng suốt. Tác ý: "ta lên toà giác ngộ ta ngồi, năm thằng ngũ uẩn này đừng giỡn mặt với ta, đừng có giỡn chơi với ta". Chúng ta không để cho ngũ uẩn qua mặt, lấn chiếm, quậy phá mình, mà mình phải làm chủ nó./.