Tinh Hoa Nikaya - Biết ơn và nhớ ơn 2
Tinh Hoa Nikāya
BIẾT ƠN VÀ NHỚ ƠN 2
–Thích Minh Thành–
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Ơn cha mẹ PAGEREF _Toc156984485 \h 1
1.Bài kinh “Ngang bằng với Phạm Thiên” PAGEREF _Toc156984486 \h 1
2.Pháp hành Thiền Biết Ơn PAGEREF _Toc156984487 \h 2
3.Ý nghĩa bài kinh “Ngang bằng với Phạm Thiên” PAGEREF _Toc156984488 \h 6
II.Ơn Tam Bảo PAGEREF _Toc156984489 \h 8
Ơn cha mẹ
Thời điểm mùa vu lan báo hiếu, là những ngày ý nghĩa đem lại nhiều lợi ích, là truyền thống tốt đẹp của Phật giáo cũng như của dân tộc Việt Nam. Chúng ta đã được nghe có những người con vì không nhớ ơn cha mẹ, tham lam giành tài sản, đuổi cha mẹ ra đường và Đức Phật đã dạy chúng bằng một bài kệ, sau đó cảm hóa những người con bất hiếu trở nên hiếu thảo.
Bài kinh “Ngang bằng với Phạm Thiên”
Chúng ta nghe bài kinh Ngang bằng với Phạm Thiên -Tăng chi bộ tập I.
- Những gia đình nào, này các Tỷ-kheo, trong ấy, các con cái kính lễ mẹ cha ở trong nhà, những gia đình ấy được chấp nhận ngang bằng với Phạm Thiên.
- Những gia đình nào, này các Tỷ-kheo, trong ấy, các con cái kính lễ mẹ cha ở trong nhà, những gia đình ấy được chấp nhận như các Đạo sư thời xưa.
- Những gia đình nào, này các Tỷ-kheo, trong ấy, các con cái kính lễ mẹ cha ở trong nhà, những gia đình ấy được chấp nhận là đáng được cúng dường.
Phạm Thiên, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với cha mẹ.
Các Đạo sư thời xưa, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với cha mẹ.
Đáng được cúng dường, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với cha mẹ.
Vì cớ sao ? Giúp đỡ rất nhiều, này các Tỷ-kheo, là cha mẹ đối với con cái, nuôi chúng lớn, dưỡng dục chúng, giới thiệu chúng vào đời.
Mẹ cha gọi Phạm Thiên,
Bậc Đạo sư thời trước,
Xứng đáng được cúng dường,
Vì thương đến con cháu.
Do vậy, bậc Hiền triết,
Đảnh lễ và tôn trọng,
Dâng đồ ăn đồ uống,
Vải mặc và giường nằm,
Thoa bóp (cả thân mình)
Tắm rửa cả chân tay.
Với sở hành như vậy,
Đối với mẹ và cha,
Đời này người Hiền khen,
Đời sau hưởng Thiên lạc.
(Tăng chi bộ-Tập 1-Phẩm sứ giả của trời)
Đức Phật nêu ra những hình ảnh:
- Thứ nhất, cha mẹ được xem là ngang bằng với vua trời, đây chính là kim khẩu của Thế Tôn nói ra. Trong văn hóa của người Miền Tây ở trước mỗi nhà đều có lập một bàn thờ nhỏ, ngày nào gia chủ cũng ra thấp nhang và lễ lạy, gọi là bàn thờ ông trời, bàn thờ Chư thiên.
- Thứ hai, cha mẹ được xem như các bậc đạo sư thời xưa, đạo sư là thầy dẫn đường, là sư phụ dẫn lối, chỉ đường.
- Thứ ba, cha mẹ là bậc đáng được cúng dường, đáng được nuôi dưỡng và cung cấp.
Chúng ta ghi nhớ thật kỹ ba hình ảnh này để làm đề tài chiêm nghiệm, thiền quán, chúng ta được nghe nói về Vu lan báo hiếu rất nhiều nhưng bài kinh mà Thế Tôn nói chưa chắc quý vị đã được nghe và ở đây chúng ta chú trọng vào việc trùng tuyên Thánh điển, học sát với những bài kinh gốc là lời kim khẩu của Đức Phật nói. Những gia đình nào mà con cái kính lễ với cha mẹ ở trong nhà thì những gia đình ấy được chấp nhận ngang bằng với Phạm Thiên, chữ “kính lễ” chúng ta không nên hiểu đơn sơ, đơn giản.
Pháp hành Thiền Biết Ơn
Xin thưa cùng với Chư tôn đức và chư vị hiền trí, tại Linh Quy Pháp Ấn, có một môn thiền đặc biệt trong pháp hành theo kinh tạng Nikaya là Thiền biết ơn. Đại chúng Linh Quy thường xuyên tổ chức những buổi thiền biết ơn như vậy. Gia đình nào đến Linh Quy cùng nhau tu tập và có nguyện vọng được thiền biết ơn với cha mẹ, Minh Thành đều tạo cơ hội, cơ duyên để họ được thực tập thiền biết ơn. Chúng ta thỉnh cha mẹ ngồi lên trên ghế, những người con quỳ xuống đất hướng mặt về cha mẹ, sau đó thực tập cảm nhận về mái tóc đã bạc, đôi mắt đã nhạt mờ, vầng trán đã nhăn nheo, gương mặt nhiều nếp nhăn, đôi bàn tay, bàn chân gân guốc…quỳ xuống và nhớ lại những ấn tượng sâu sắc mà cha mẹ đã hi sinh. Phương pháp này quý vị có thể xem trên kênh Linh Quy Pháp Ấn, để áp dụng thực tập ngay trong trú xứ nơi mình ở đối với cha mẹ, thầy tổ, huynh đệ. Một phương pháp thực hành chân thật, chân thành, cung kính đem lại nhiều lợi ích lớn, hiệu quả lớn. Trong khi thiền quán, để khơi gợi cho cảm thọ trỗi dậy, những bài nhạc về tình mẹ cha về sự hiếu hạnh, hiếu nghĩa, hiếu lễ, giúp người con nhớ lại những ấn tượng sâu sắc, những cảm xúc, hình ảnh, sự hy sinh cao cả của cha mẹ mà tự thân không thể nào quên, đều được hồi tưởng lại, nhớ lại từng câu chuyện đã đi xảy ra trong cuộc đời và nói lên lời cảm ơn, xin lỗi đối với cha mẹ, dâng cho cha mẹ một chung trà ơn nghĩa sâu nặng, nâng bàn tay, bàn chân của mẹ cha trong lòng bàn tay, áp trán xuống bàn chân cha mẹ để cảm nhận ơn nghĩa sinh thành cao cả thiêng liêng. Phương pháp thực hành này Minh Thành thực tập theo tinh thần trong kinh tạng Nikaya, trong bài Kinh Pháp Trang nghiêm- Trung Bộ kinh.
(Trích đoạn)… Rồi vua Pasenadi nước Kosala im lặng đi đến căn nhà đóng cửa, sau khi đến, bước vào hành lang nhưng không vượt qua, đằng hắng và gõ vào khóa cửa. Thế Tôn mở cửa. Rồi vua Pasenadi nước Kosala bước vào căn nhà, cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn, miệng hôn xung quanh chân Thế Tôn, tay xoa rờ xung quanh chân và tự xưng tên:
– Bạch Thế Tôn, con là vua Pasenadi nước Kosala. Bạch Thế Tôn, con là vua Pasenadi nước Kosala.
– Thưa Đại vương, do thấy nguyên nhân gì, Đại vương lại hạ mình tột bực như vậy đối với thân này và biểu lộ tình thân ái như vậy ?
– Bạch Thế Tôn, con có pháp truyền thống (Dhammanvaya) này đối với Thế Tôn. "Thế Tôn là bậc Chánh Đẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo giảng, chư
Tăng đệ tử của Thế Tôn khéo tu tập hành trì"…..
Thời Đức Phật còn tại thế, nhà vua Ba-Tư-Nặc đến thăm viếng Thế Tôn, nhà vua đảnh lễ và hôn lên bàn chân Thế Tôn, năm đó nhà vua và Đức Phật đều là những ông già ở độ tuổi 80. Đây là một bài kinh rất xúc động về một vị Đế vương và một vị Pháp vương, vua Ba-Tư-Nặc cung kính Đức Phật đến tột cùng khi ngài nâng và hôn lên bàn chân Đức Như Lai.
Những phương pháp đang thực tập tại Linh Quy là được lấy từ trong kinh tạng Nikaya, vận dụng tất cả những pháp hành mà Đức Phật và các bậc Thánh đã làm, rất xúc động khi được cầm đôi tay mẹ, nâng bàn chân cha, áp vầng trán trên những ngón chân gầy gân guốc, trên đôi tay chai sạn, dâng trà, lễ lạy, ôm cha mẹ bằng tất cả lòng biết ơn để nói lời cảm ơn, lời xin lỗi và phát nguyện. Nếu chúng ta chưa quen và không hiểu thì cho là hình thức nhưng chúng ta phải hiểu rằng không có hình thức thì sẽ không có nội dung. Chúng ta ngại ngùng không chịu làm là vì cái bản ngã, cái tôi quá lớn và chưa có sự nhận thức thấu đáo trọn vẹn về công đức sinh thành dưỡng dục vĩ đại của cha mẹ, một chút nghĩa cử nhỏ đó chẳng là gì so với sự hy sinh cả một cuộc đời trong thầm lặng của cha mẹ, cho nên pháp hành này cần phải được nhân rộng, lan tỏa phổ biến, cần phải được khuyến khích, khích lệ, hướng dẫn và an trú cho con cháu đặt để vào thiền biết ơn này. Các vị đã nghe lễ vu lan báo hiếu nhiều lần, ở nhiều nơi, nhưng tại Linh Quy thiền biết ơn được diễn ra rất đặc biệt, nhiều cảm xúc dâng trào, sự thực tập, thực hành làm cho sanh khởi, phát khởi, khơi dậy, nguồn cảm xúc biết ơn, nhớ ơn, báo ơn, đền ơn đối với mẹ cha và trong mùa vu lan báo hiếu là thời điểm thích hợp, dễ dàng để thể hiện lòng biết ơn đối với cha mẹ. Nếu gia đình nào không có thời gian đến chùa thì ngay trong nhà, mình có thể thực tập buổi lễ thiền biết ơn, dâng lên cha mẹ chung trà rồi thưa thỉnh trình bày cả gia đình cùng thực tập được như vậy thì thật đẹp và tuyệt vời. Khi chúng ta đã được học ở trên chùa rồi thì phải biết đem về nhà ứng dụng, đánh thức những cảm xúc của lòng hiếu thảo, hiếu hạnh, hiếu đạo, hiếu nghĩa, hiếu kính, khơi gợi thật sự những cảm thọ từ bên trong nội tâm, không làm một cách hời hợt hình thức qua loa, khóc một chút rồi thôi, rồi quên, rồi lại sân si, ngỗ nghịch với cha mẹ. Cho nên bài thiền này phải được thực tập thường xuyên và liên tục, không chỉ một ngày một bữa, hay trong ngày rằm tháng bảy, khi mình thực tập thường xuyên thì sự lễ kính với cha mẹ là hết sức ngọt ngào dễ chịu dễ dàng không phí công, nhọc sức, bất cứ lúc nào chúng ta cũng có thể quỳ xuống lễ lạy cha mẹ, đừng để đến khi cha mẹ chết rồi mới quỳ lạy ăn năn hối hận trong nuối tiếc muộn màng, lúc đó cha mẹ không cảm nhận được sâu sắc tình cảm đó. Vậy tại sao khi cha mẹ còn đang sống, cha mẹ đang còn minh mẫn, có cảm thọ, có sự nhận thức sáng suốt, sao ta không thể hiện tình thương, hiếu đạo, hiếu hạnh, hiếu lễ? nên tốt hơn là lạy khi cha mẹ còn sống, lạy sống, làm tròn đạo hiếu, để khi cha mẹ có mãn phần mình cũng không đau khổ hay hối tiếc.
Nếu vô thường đến mình ra đi trước ba mẹ, dù chuyện đó có xảy ra mình cũng yên lòng, nhẹ nhàng nhắm mắt ra đi vì những việc cần làm mình đã làm, không phải đau khổ, hối hận khóc than, nếu không thì dù có dập đầu hói trán cũng vô ích mà thôi, cho nên thờ cha kính mẹ là ngay từ bây giờ lúc còn sống, Minh Thành đã thực hành hạnh lễ lạy cha mẹ rất nhiều lần, trong cách lễ lạy đó là cả một sự nhớ ơn, biết ơn, cảm ơn và mong muốn được báo ơn, đền ơn.
Không chỉ con cái lạy cha mẹ mà vợ chồng cũng lễ lạy với nhau để cảm ơn ân nghĩa ân tình đã cùng sống chung với nhau, trải qua với nhau bao thăng trầm trong cuộc sống, để nói lời cảm ơn hay lời xin lỗi. Vì cái bản ngã, cái tôi, cái ta quá cao ứ đọng, tồn kho trong dòng cảm thọ, nên không dễ mở miệng để nói một cảm ơn hay xin lỗi nhưng lại dễ dàng cự cãi, dành phần hơn, phần thắng. Khi những dòng cảm thọ này được giải tỏa, tình nghĩa chồng vợ được gắn kết bền lâu, vợ chồng là ân nhân của mình, không còn gây đau khổ oan trái cho nhau nữa. Thiền biết ơn này rất tuyệt vời không chỉ đối với cha mẹ mà còn cho vợ chồng, bà cháu, ông cháu, anh em, cô dì, chú thím, bà con, bạn bè…đều có thể thực tập thiền biết ơn, lễ lạy với nhau, lễ lạy trong dòng nước mắt ngọt ngào, sự biết ơn, ngập tràn cảm xúc hiền thiện, cảm động, chấn động, yêu thương, cảm thông, tha thứ, nhận lỗi, sửa lỗi, chỉnh lỗi, là những hình ảnh rất đẹp, nên tất cả chúng ta cố gắng thực tập.
Đạo tràng Linh Quy thường xuyên thực hành pháp tu này, lễ lạy một cách ngọt ngào, tự nhiên khỏe mạnh an lành, dạt dào tình thương, “ngọt như đường cát, mát như đường phèn”, không có gì là phí sức khó khăn. Nếu chúng ta không thực tập được pháp lễ lạy nhớ ơn, đền ơn, biết ơn thì chúng ta sẽ khó lễ lạy được với người, khó mở miệng nói lời xin lỗi được với ai vì bị bản ngã ngăn chặn, bao vây che mắt bịt tai, bịt miệng khiến cho mình không làm được, không nói được, giống như là bị á khẩu.
Cho nên, tu được tâm hiền, tâm từ, tâm biết ơn, nhớ ơn là rất tuyệt vời.
Ý nghĩa bài kinh “Ngang bằng với Phạm Thiên”
Thế Tôn nói con cái trong gia đình mà kính lễ cha mẹ trong gia đình thì gia đình đó được xem là ngang bằng với Phạm thiên là ông vua trời, là gia đình của vua trời Phạm thiên chứ không phải là gia đình của người phàm phu. Một tháng chúng ta thực tập được hạnh lễ lạy cha mẹ một lần thì đẹp lắm, rất là tuyệt vời, hay vào những ngày kỷ niệm của gia đình, khi anh chị em tụ họp về đông đủ chúng ta mượn cái cớ đó để mà thực tập thiền biết ơn, nấu một bữa cơm chay đãi người thân trong gia đình, tuyệt vời lắm.
Những gia đình nào có các con cháu kính lễ cha mẹ trong nhà, các gia đình ấy được chấp nhận như các bậc đạo sư, bậc thầy lớn thời xưa, gia đình đó có đại đạo sư, có vị tôn sư ở trong nhà. Kính lễ không phải lúc quỳ lạy mới gọi là kính lễ mà trong mọi sinh hoạt trong gia đình. Đem hoa thơm trái ngọt dâng cúng lên bàn thờ mà đối xử với cha mẹ tệ bạc, “mặt nặng mày nhẹ”, “dằn mâm xán chén” thì cũng uổng công vô ích. Bức tranh bức tượng bằng gỗ hay xi măng không cần mình cúi đầu lễ lạy, mà chính cha mẹ bằng da bằng thịt bằng xương, sinh thành dưỡng dục, cần có sự cung kính, cúng dường, đảnh lễ, tôn trọng, biết ơn, nhớ ơn, báo ơn, đền ơn. Cha mẹ chính là ông trời, là bậc thầy của con, sự giáo dục như vậy là rất quan trọng, Minh Thành muốn gửi gắm đến các bậc trưởng tượng, ông bà cha mẹ, người lớn tuổi trong gia đình phải có trách nhiệm hướng dẫn cho con cháu, trường học hay nhà chùa cũng không thể giáo dục tốt hơn cho con cháu trong gia đình về lễ nghĩa này, vì chính tự thân cha mẹ là đạo sư, là thầy dẫn đường cho con, đừng mang tâm lý ỷ lại, giao hết trách nhiệm dạy dỗ cho nhà trường, ngay khi con vừa lọt lòng mẹ thì gia đình chính là người thầy. Sự gia giáo, thai giáo (giáo dục từ trong bào thai) là rất quan trọng. Đạo đức của thế hệ trẻ ngày nay là đáng báo động, dễ dàng tiêm nhiễm những thói hư tật xấu, một phần chính là do gia đình không quan tâm, không biết cách khéo léo trong việc dạy dỗ, hướng dẫn, an trú chỉ dạy cho con cháu, đại gia đình trong dòng họ là một trường học, gia đình chính là một lớp học và cha mẹ là thầy cô giáo tuyệt vời nhất, là bậc đạo sư thời xưa, mình phải là một người thầy dẫn đường cho con. Không nên phó mặc con cái cho nhà trường, chỉ biết lo kiếm tiền, cung phụng con bằng những đồng tiền mình kiếm được, nhìn lại thì con cái đã hư hỏng, sa đọa trụy lạc, chính cha mẹ vô tình hại những đứa con mình mà không hay không biết, tiền có kiếm được nhiều thì cũng là vô nghĩa, thiếu đi trách nhiệm và bổn phận của người làm cha mẹ, con cái cũng thiếu đi trách nhiệm và bổn phận của người làm con và cuối cùng là một gia đình khiếm khuyết thì đau khổ là điều không thể tránh khỏi. Khi gia đình không còn là mái ấm thì những người sống chung trong một gia đình sẽ gây cho nhau nhiều đau khổ, dùng vũ trí miệng lưỡi để chiến đấu với nhau, gây lộn, cãi lộn, làm tổn thương nhau.
Thông điệp trong bài kinh là rất sâu rộng, dù đã ba ngàn năm trôi qua nhưng giá trị đạo lý trong gia đình vẫn còn nguyên vẹn, bất di, bất dịch. Những gia đình nào mà trong ấy các con kính lễ cha mẹ ở trong nhà, gia đình ấy được chấp nhận ngang bằng với ông trời, là gia đình của ông trời, không phải là gia đình của bậc phàm phu, gia đình của bậc đạo sư thời xưa, là gia đình ấy đáng cho tất cả gia đình khác quỳ xuống lạy dưới chân, là gia đình mẫu mực, gương mẫu, mô phạm. Thật là hiếm thấy khó gặp được một gia đình mà cha mẹ có sự giáo dục tốt đối với con cái. Các bậc làm cha làm mẹ thời nay thường bị cuốn trong guồng máy của việc kiếm tiền không thoát ra được, “đầu tất mặt tối”, quên đi những điều quan trọng khác trong cuộc sống, tiền là cần thiết để duy trì sự ổn định cuộc sống, nhưng nó không phải là quan trọng nhất, không phải là cứu cánh.
Các vị tu hành không có tiền nhưng vẫn sống rất an lạc và hạnh phúc, Linh Quy Pháp Ấn được xây dựng trên nền tảng của tâm từ và tình thương, bằng sự thấu hiểu, cảm thông và yêu thương, bằng sự tôn trọng và kính lễ, biết ơn và nhớ ơn nhau, sống ngọt ngào ấm áp yêu thương chân thành, dạt dào hạnh phúc, an lành, nói như vậy để chúng ta thấy còn có những cái quan trọng hơn tiền bạc, đó chính là linh hồn, cốt lõi, là chất liệu, là gốc rễ của hiếu, nghĩa, lễ giáo, đức hạnh của một con người. Khi chúng ta có được những phẩm chất này, chúng ta sẽ sống rất hạnh phúc, dù có tiền nhiều hay ít, còn khi không có được điều này thì càng có nhiều tiền thì khổ đau càng lớn.
Phạm thiên là đồng nghĩa với cha mẹ, các đạo sư thời xưa là đồng nghĩa với cha mẹ, đáng được cung kính, cúng dường, vì cha mẹ đã giúp đỡ con cái, nuôi chúng lớn, giáo dục chúng và giới thiệu chúng vào đời.
Chúng ta nên để tâm thật nhiều vào sự hiếu kính, lễ nghĩa trong gia đình, rất quan trọng, hãy tập cho con cháu từ nhỏ. Ở Linh Quy có nhiều gia đình cha mẹ đã hướng dẫn con từ nhỏ chỉ mới 9-10 tuổi, dẫn con về núi tu tập, các bé học thuộc rất nhiều bài Kinh Nikaya, có những người bà dẫn cháu lên tu trong nhiều tháng, những dịp nghỉ hè hoặc lễ tết thay vì dẫn con đi chơi thì dẫn con cháu về núi tu tập, chúng là những em bé rất dễ thương, ngoan ngoãn, hiền lành. Ở nhà cha mẹ nên hướng dẫn cho các cháu học thuộc những bài kinh ngắn gọn, những câu pháp, phù hợp với lứa tuổi.
Thành tựu với bốn pháp này, này các Tỷ-kheo, như vậy tương xứng bị rơi vào địa ngục. Thế nào là bốn? Thành tựu với thân làm ác, với lời nói ác, với ý nghĩ ác, với không biết ơn, không biết trả ơn. Thành tựu với bốn pháp này, này các Tỷ-kheo, như vậy tương xứng bị rơi vào địa ngục
Thành tựu với bốn pháp này, này các Tỷ-kheo, như vậy tương xứng được sanh lên cõi Trời. Thế nào là bốn? Thành tựu với thân làm thiện, với lời nói thiện, với ý nghĩ thiện, biết ơn, biết trả ơn. Thành tựu với bốn pháp này, này các Tỷ-kheo, như vậy tương xứng được sanh lên cõi Trời.
(Tăng chi bộ tập 2-Phẩm Ô Uế - Không biết ơn- 252ct2)
Đây là lời Đức Phật dạy trong Tăng Chi bộ kinh, qua đó, ta thấy rằng, ngoài ba nghiệp thân, miệng, ý, hiền thiện, còn có tâm biết ơn và đền ơn thì nghiệp thiện được viên mãn.
Ơn Tam Bảo
Bên cạnh việc biết ơn và nhớ ơn đối với cha mẹ chúng ta còn có Pháp khác hơn là đối với Tam Bảo, Phật, Pháp, Tăng,
- Có ba hạng người này, này các Tỷ-kheo, làm nhiều lợi ích cho người khác. Thế nào là ba ?
Do người nào, này các Tỷ-kheo, có người được quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng, người ấy là hạng người làm lợi ích nhiều cho người kia. Đây là hạng người làm lợi ích nhiều cho người khác
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, do người nào, người khác rõ biết : "Đây là khổ", … rõ biết : "Đây là con Đường đưa đến Khổ diệt", người ấy là hạng người làm lợi ích nhiều cho người kia. Đây là hạng người làm lợi ích nhiều cho người khác.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, do người nào, người khác đoạn trừ các lậu hoặc ngay trong hiện tại, với thắng trí tự mình chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu
tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Đây là hạng người làm lợi ích nhiều cho người khác.
Ba hạng người này, này các Tỷ-kheo, làm lợi ích nhiều cho người khác. Ta nói rằng không có một người nào khác làm lợi ích nhiều hơn cho người bằng ba hạng người này. Ta nói rằng người này không thể khéo léo trả ơn cho ba hạng
người kia, như đảnh lễ, đứng dậy, chắp tay, hành động thân thiện, bố thí các vật dụng như y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, thuốc trị bệnh …
(Tăng chi bộ tập 1-phẩm Người-Nhiều lợi ích)
Đức Thế Tôn nói có ba hạng người này làm nhiều lợi ích cho người khác. Do người nào, có người được quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng, người ấy là hạng người làm lợi ích nhiều cho người kia, đây là hạng người làm lợi ích nhiều cho người khác, tức là mình nhờ người nào đó mà mình được quy y Tam Bảo, mình biết đến Phật, Pháp, Tăng, đây chính là ân nhân thứ nhất. Nhờ người nào, mình biết rõ được đây là khổ, biết rõ được đây là nguyên nhân của khổ, biết rõ được đây là bể khổ, biết rõ được đây là con đường đưa đến việc chấm dứt khổ, người giúp cho mình thấy được Pháp, hiểu được Pháp, ngộ được Pháp, thấy rỏ được Tứ Thánh đế, người đó là ân nhân thứ hai, khó mà báo đáp được. Người giúp cho mình đoạn trừ tất cả các lậu hoặc ngay trong hiện tại, dứt hết tất cả các tâm mê lầm, được trí tuệ thù thắng, tự mình chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát, đây là bậc ân nhân thứ ba vĩ đại của mình.
Như vậy có ba bậc ân nhân ở trong Pháp, thứ nhất là người hướng dẫn mình quy y, thứ hai là người giúp cho mình thành tựu chánh kiến, chánh tín, thứ ba là người dạy dỗ cho mình đoạt tận tham sân si, tất cả lậu hoặc để mình thành tựu sự giải thoát, đây là ba bậc ân nhân vĩ đại mà Đức Thế Tôn nói rằng: “ Ba hạng người này, này các Tỷ-kheo, làm lợi ích nhiều cho người khác. Ta nói rằng không có một người nào khác làm lợi ích nhiều hơn cho người bằng ba hạng người này. Ta nói rằng người này không thể khéo léo trả ơn cho ba hạng người kia, như đảnh lễ, đứng dậy, chắp tay, hành động thân thiện, bố thí các vật dụng như y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, thuốc trị bệnh … Không thể nào trả ơn được cho ba bậc ân nhân đó.
Về ân đức của Phật pháp chúng ta nghe:
Như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho những người bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình bày, giải thích. Bạch Thế Tôn, con xin quy y Thế Tôn, quy y Pháp và quy y chúng Tỷ-kheo Tăng. Mong Thế Tôn nhận con làm đệ tử; từ nay trở đi cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng
(Kinh Potaliya -Trung bộ)
Ơn đầu tiên là ơn Phật, Pháp, Tam bảo, khi chúng ta quy y thì phải hiểu biết ơn đức của Phật, Pháp, Tam bảo là như thế nào? trong tạng Kinh NiKaya thường dùng để tán thán khen ngợi, người phát tâm quy hướng, quy y, nương dựa vào Tam bảo sẽ nói câu này.
“Như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống”, khi cuộc sống của chúng ta ngỗn ngang, đổ vỡ, thì Người xuất hiện giúp chúng ta sắp xếp, dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, đó là đạo đức, từ bi, lễ giáo, đạo nghĩa, giới hạnh, giới đức bị quăng ngã…Đức Phật ra đời, Ngài dựng đứng lại những điều đó. Trước đây, thế giới này bị quăng ngã, nghiêng ngửa, đổ nát những nền tảng của đạo đức, trí tuệ, lòng từ, nhân nghĩa, khi Thế Tôn ra đời Ngài dựng đứng lại những giá trị đạo đức nhân nghĩa, lễ giáo, hiếu đạo, từ bi trí tuệ cho cuộc đời này. Chúng ta có học trong một bài kinh về một ông lão Bà-La-Môn đi xin ăn, bị những người con bất hiếu đuổi ra đường, cướp gia tài, Thế Tôn cho ông một bài kệ để đọc cho các con ông nghe, cuối cùng ông cảm hóa được những người con, đây chính là Thế Tôn đã dựng đứng lại đạo đức, hiếu lễ đã bị quăng ngã xuống.
Hình ảnh thứ hai là: “phơi bày ra những gì bị che kín”, đây chính là ân đức của Phật, Pháp. Vậy thì cái gì bị che kín, chính là sự thật của thân này bị che kín, sự thật về cuộc đời này bị che kín, sự thật về tâm thức hôn mê, vô minh này bị che kín, và Đức Thế Tôn đã phơi bày ra cho chúng ta thấy sự thật của cái thân này là được kết hợp từ đất nước gió lửa, là sự kết hợp từ ba mươi hai thứ không sạch.
(Trích đoạn)… Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo quán sát thân này, dưới từ bàn chân trở lên, trên cho đến đảnh tóc, bao bọc bởi da và chứa đầy những vật bất tịnh sai biệt. Trong thân này: "đây là tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, thận, tủy, tim, gan, hoành cách mô, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, bụng, phân, mật, đàm (niêm dịch), mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, mỡ da, nước miếng, nước mủ, nước ở khớp xương, nước tiểu". Này các Tỷ-kheo, cũng như một bao đồ, hai đầu trống đựng đầy các loại hột như gạo, lúa, đậu xanh, đậu lớn, mè, gạo đã xay rồi. Một người có mắt, đổ các hột ấy ra và quán sát: "Đây là hột gạo, đây là hột lúa, đây là đậu xanh, đây là đậu lớn, đây là mè, đây là hột lúa đã xay rồi"…
(Kinh Đại niệm xứ-Trung bộ kinh)
Trong Kinh Đại niệm xứ, Ngài đã giải phẫu cái thân này và chỉ cho chúng ta nhìn thấy, trong cái thân này có những gì, mà tại sao chúng sinh lại si mê, say đắm, dính mắc rồi khổ đau đến như vậy, bên trong lớp da trơn láng này chỉ là một đống phèo phổi, gan ruột, lá lách, dạ dày, ruột non, ruột già, tim gan tỳ phế thận…là ba mươi hai thứ không sạch sẽ, đây chính là phơi bày những gì bị che kín, Ngài phơi bày ra cái hang ổ, sào huyệt, căn cứ địa, của tham sân si, ở trong cảm thọ, Ngài phơi bày ra nguồn gốc mà tất cả chúng sinh đau khổ, tranh đấu là vì cái tôi hư ảo không có thật, vô ngã mà cho là có cái ngã, Ngài phơi bày ra sự đau khổ của cuộc đời này, sự thật rằng chúng sinh vì bị cái vẻ hào nhoáng bên ngoài che đậy, nên khổ mà tưởng là vui, dơ mà tưởng là sạch, không có tôi mà tưởng là có tôi.
Cuộc đời thật khéo điểm trang
Để che đậy cái khổ đang ràng ràng…
Tất cả cái chúng ta chỉ nhìn thấy những lớp phấn, kem, son, che đi những khuyết điểm của sự thật là một khuôn mặt đầy mụn bọc với máu mủ tích tụ ở bên trong. Thời xưa có một anh thư sinh nghe đồn có một cô gái xinh đẹp khiến bao người muốn cưới về làm vợ và anh cũng khao khát cưới được cô, gia đình cô gái ra điều kiện khi nào anh đỗ trạng nguyên thì gả cho anh, anh ngày đêm miệt mài sách sử, trong nhiều năm dùng hết tâm lực, trí lực, học lực cuối cùng anh cũng đổ trạng nguyên, vinh quy bái tổ trở về và được song hỷ lâm môn, vừa đổ trạng nguyên lại vừa được cưới vợ đẹp, đến khi động phòng hoa chúc, gỡ khăn che mặt cô dâu ra thì té ngửa vì người con gái trong mơ lại là người anh gặp hàng ngày, mỗi ngày “sắt chuối cho heo, vớt bèo cho vịt” ở sát bên nhà anh, tất cả chỉ là ảo tưởng, Thế Tôn gọi đó là điên đảo mộng tưởng, giống như vợ chồng khi mới quen nhau, yêu nhau về ở với nhau, cái thủa ban đầu đẹp biết bao nhiêu, khi về ở chung năm bảy năm từng lớp mặt nạ từ từ lột xuống, bao nhiêu cái xấu xa dần lộ diện, bắt đầu chỉ nhìn thấy những thói hư, tật xấu của nhau, rồi nhàm chán, chê bai, nói xấu. Chính Ngài phơi bày cho chúng ta thấy những cái bị che kín, Ngài đã thấy và nói đây là khổ, khổ đó, dừng tưởng là vui, chẳng qua là khéo dấu để lừa gạt dối trá nhau, dối trá với chính mình và sâu xa hơn nữa là ngũ uẩn bị che kín, lậu hoặc bị che kín, khát ái bị che kín. Chúng ta phải thiền quán, suy tư, chiệm nghiệp thật nhiều để phơi bày ra tất cả, tại sao chúng ta luân hồi sinh tử? Tại sao cứ mãi khổ đau? Tại sao luẩn quẩn làm hang, làm ổ, làm tổ trong thân xác này không từ bỏ, dứt lìa được.
“Chỉ đường cho những người lạc hướng”, như một người một mình đi lạc trong khu rừng rậm rạp với tâm tư đầy lo lắng và sợ hãi, hoảng hốt, không biết phải làm sao, đi đâu về đâu thì bỗng dưng xuất hiện một con người tối thượng chỉ cho mình một con đường một lối đi đúng đắn để thoát ra. Còn ơn đức nào lớn hơn ơn đức này. Ví như trong khi bị lạc đường có một người tốt bụng nào đó chỉ cho mình hướng đi để trở về nhà mình đã mang ơn và biết ơn vô cùng huống hồ chi Thế Tôn đã chỉ cho mình một con đường xuất ly sầu bi khổ ưu não, con đường giải thoát khỏi sinh già bệnh chết, con đường tiến tới thế giới của bất tử, còn có ơn đức nào lớn hơn, vĩ đại hơn ơn đức này.
Tất cả chúng ta đều là những kẻ lạc lối, lạc đường, mãi lạc hướng trong khi đi tìm, chạy đuổi theo địa chỉ hạnh phúc, tưởng đâu có tiền nhiều là hạnh phúc, tưởng đâu có tình cảm gia đình là hạnh phúc, tưởng đâu có địa vị, học vị, quyền thế là hạnh phúc, nhưng không ngờ đã lạc đường rồi, sai hướng rồi, đến khi nhận ra thì đã muộn màng, không còn thời gian để qua lại và cũng không có ai chỉ cho mình con đường, lối ra nào là chân chính đúng đắn với thật sự, chỉ có Thế Tôn mới chỉ ra được một con đường, một đạo lộ, một lối thoát, tối thượng để mình đi đến chỗ hạnh phúc an lạc, đạt đến sự bất tử, đây chính là ân đức của Phật pháp, ân đức vĩ đại của Chánh pháp.
“Đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc”, câu này đọc không phải là dể hiểu, chúng ta có con mắt nhưng ở trong bóng tối nên con mắt không sử dụng được, chúng ta có nhận thức, có thọ tưởng hành thức, nhưng thọ tưởng hành thức đó bị tâm mê bao phủ, bị vô minh che lấp, phong tỏa cho nên có mắt như mù, nếu không có ánh đèn sáng rọi chiếu vào trong đêm đen thì chẳng thấy gì hết, chẳng khác nào người mù. Vì vậy, Đức Thế Tôn, đưa ngọn đèn vào để làm chói sáng, ngọn đèn này chính là Thánh trí tuệ ngũ uẩn, nếu người nào có trí tuệ, nhận thức được, chịu đi theo thực hành, thì người đó nhờ ánh sáng ấy mà thấy được, còn nếu ánh sáng ấy rọi đường mà người này nhắm mắt ngủ thì làm sao mà thấy đường, hay như người bị mù đôi mắt thì làm sao thấy đường, cho nên đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt, có thể thấy sắc, tức là Đức Phật đem ánh sáng tuệ giác vào trong thế giới vô minh hôn ám này, để người nào chịu mở con mắt ra thì người đó sẽ thấy được chân tướng của vạn Pháp, bản chất của cuộc đời, thấy được sự thật của thế gian. Mỗi một câu một chữ sử dụng trong kinh là không phải dễ để cho chính xác, chúng ta thấy được giá trị vĩ đại siêu việt trong kinh.
Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn ! Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn ! Như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho những người bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình bày, giải thích. Bạch Thế Tôn, con xin quy y Thế
Tôn, quy y Pháp và quy y chúng Tỷ-kheo Tăng. Mong Thế Tôn nhận con làm đệ tử; từ nay trở đi cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng
(Kinh Potaliya -Trung bộ)
Đây cũng chính là nghi thức để Quy y vào thời Đức Phật còn tại thế, ân đức của Phật pháp vĩ đại như vậy, ngoài ân đức của cha mẹ, chúng ta phải biết ân đức của Phật pháp, Chánh pháp./.
BIẾT ƠN VÀ NHỚ ƠN 2
–Thích Minh Thành–
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Ơn cha mẹ PAGEREF _Toc156984485 \h 1
1.Bài kinh “Ngang bằng với Phạm Thiên” PAGEREF _Toc156984486 \h 1
2.Pháp hành Thiền Biết Ơn PAGEREF _Toc156984487 \h 2
3.Ý nghĩa bài kinh “Ngang bằng với Phạm Thiên” PAGEREF _Toc156984488 \h 6
II.Ơn Tam Bảo PAGEREF _Toc156984489 \h 8
Ơn cha mẹ
Thời điểm mùa vu lan báo hiếu, là những ngày ý nghĩa đem lại nhiều lợi ích, là truyền thống tốt đẹp của Phật giáo cũng như của dân tộc Việt Nam. Chúng ta đã được nghe có những người con vì không nhớ ơn cha mẹ, tham lam giành tài sản, đuổi cha mẹ ra đường và Đức Phật đã dạy chúng bằng một bài kệ, sau đó cảm hóa những người con bất hiếu trở nên hiếu thảo.
Bài kinh “Ngang bằng với Phạm Thiên”
Chúng ta nghe bài kinh Ngang bằng với Phạm Thiên -Tăng chi bộ tập I.
- Những gia đình nào, này các Tỷ-kheo, trong ấy, các con cái kính lễ mẹ cha ở trong nhà, những gia đình ấy được chấp nhận ngang bằng với Phạm Thiên.
- Những gia đình nào, này các Tỷ-kheo, trong ấy, các con cái kính lễ mẹ cha ở trong nhà, những gia đình ấy được chấp nhận như các Đạo sư thời xưa.
- Những gia đình nào, này các Tỷ-kheo, trong ấy, các con cái kính lễ mẹ cha ở trong nhà, những gia đình ấy được chấp nhận là đáng được cúng dường.
Phạm Thiên, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với cha mẹ.
Các Đạo sư thời xưa, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với cha mẹ.
Đáng được cúng dường, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với cha mẹ.
Vì cớ sao ? Giúp đỡ rất nhiều, này các Tỷ-kheo, là cha mẹ đối với con cái, nuôi chúng lớn, dưỡng dục chúng, giới thiệu chúng vào đời.
Mẹ cha gọi Phạm Thiên,
Bậc Đạo sư thời trước,
Xứng đáng được cúng dường,
Vì thương đến con cháu.
Do vậy, bậc Hiền triết,
Đảnh lễ và tôn trọng,
Dâng đồ ăn đồ uống,
Vải mặc và giường nằm,
Thoa bóp (cả thân mình)
Tắm rửa cả chân tay.
Với sở hành như vậy,
Đối với mẹ và cha,
Đời này người Hiền khen,
Đời sau hưởng Thiên lạc.
(Tăng chi bộ-Tập 1-Phẩm sứ giả của trời)
Đức Phật nêu ra những hình ảnh:
- Thứ nhất, cha mẹ được xem là ngang bằng với vua trời, đây chính là kim khẩu của Thế Tôn nói ra. Trong văn hóa của người Miền Tây ở trước mỗi nhà đều có lập một bàn thờ nhỏ, ngày nào gia chủ cũng ra thấp nhang và lễ lạy, gọi là bàn thờ ông trời, bàn thờ Chư thiên.
- Thứ hai, cha mẹ được xem như các bậc đạo sư thời xưa, đạo sư là thầy dẫn đường, là sư phụ dẫn lối, chỉ đường.
- Thứ ba, cha mẹ là bậc đáng được cúng dường, đáng được nuôi dưỡng và cung cấp.
Chúng ta ghi nhớ thật kỹ ba hình ảnh này để làm đề tài chiêm nghiệm, thiền quán, chúng ta được nghe nói về Vu lan báo hiếu rất nhiều nhưng bài kinh mà Thế Tôn nói chưa chắc quý vị đã được nghe và ở đây chúng ta chú trọng vào việc trùng tuyên Thánh điển, học sát với những bài kinh gốc là lời kim khẩu của Đức Phật nói. Những gia đình nào mà con cái kính lễ với cha mẹ ở trong nhà thì những gia đình ấy được chấp nhận ngang bằng với Phạm Thiên, chữ “kính lễ” chúng ta không nên hiểu đơn sơ, đơn giản.
Pháp hành Thiền Biết Ơn
Xin thưa cùng với Chư tôn đức và chư vị hiền trí, tại Linh Quy Pháp Ấn, có một môn thiền đặc biệt trong pháp hành theo kinh tạng Nikaya là Thiền biết ơn. Đại chúng Linh Quy thường xuyên tổ chức những buổi thiền biết ơn như vậy. Gia đình nào đến Linh Quy cùng nhau tu tập và có nguyện vọng được thiền biết ơn với cha mẹ, Minh Thành đều tạo cơ hội, cơ duyên để họ được thực tập thiền biết ơn. Chúng ta thỉnh cha mẹ ngồi lên trên ghế, những người con quỳ xuống đất hướng mặt về cha mẹ, sau đó thực tập cảm nhận về mái tóc đã bạc, đôi mắt đã nhạt mờ, vầng trán đã nhăn nheo, gương mặt nhiều nếp nhăn, đôi bàn tay, bàn chân gân guốc…quỳ xuống và nhớ lại những ấn tượng sâu sắc mà cha mẹ đã hi sinh. Phương pháp này quý vị có thể xem trên kênh Linh Quy Pháp Ấn, để áp dụng thực tập ngay trong trú xứ nơi mình ở đối với cha mẹ, thầy tổ, huynh đệ. Một phương pháp thực hành chân thật, chân thành, cung kính đem lại nhiều lợi ích lớn, hiệu quả lớn. Trong khi thiền quán, để khơi gợi cho cảm thọ trỗi dậy, những bài nhạc về tình mẹ cha về sự hiếu hạnh, hiếu nghĩa, hiếu lễ, giúp người con nhớ lại những ấn tượng sâu sắc, những cảm xúc, hình ảnh, sự hy sinh cao cả của cha mẹ mà tự thân không thể nào quên, đều được hồi tưởng lại, nhớ lại từng câu chuyện đã đi xảy ra trong cuộc đời và nói lên lời cảm ơn, xin lỗi đối với cha mẹ, dâng cho cha mẹ một chung trà ơn nghĩa sâu nặng, nâng bàn tay, bàn chân của mẹ cha trong lòng bàn tay, áp trán xuống bàn chân cha mẹ để cảm nhận ơn nghĩa sinh thành cao cả thiêng liêng. Phương pháp thực hành này Minh Thành thực tập theo tinh thần trong kinh tạng Nikaya, trong bài Kinh Pháp Trang nghiêm- Trung Bộ kinh.
(Trích đoạn)… Rồi vua Pasenadi nước Kosala im lặng đi đến căn nhà đóng cửa, sau khi đến, bước vào hành lang nhưng không vượt qua, đằng hắng và gõ vào khóa cửa. Thế Tôn mở cửa. Rồi vua Pasenadi nước Kosala bước vào căn nhà, cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn, miệng hôn xung quanh chân Thế Tôn, tay xoa rờ xung quanh chân và tự xưng tên:
– Bạch Thế Tôn, con là vua Pasenadi nước Kosala. Bạch Thế Tôn, con là vua Pasenadi nước Kosala.
– Thưa Đại vương, do thấy nguyên nhân gì, Đại vương lại hạ mình tột bực như vậy đối với thân này và biểu lộ tình thân ái như vậy ?
– Bạch Thế Tôn, con có pháp truyền thống (Dhammanvaya) này đối với Thế Tôn. "Thế Tôn là bậc Chánh Đẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo giảng, chư
Tăng đệ tử của Thế Tôn khéo tu tập hành trì"…..
Thời Đức Phật còn tại thế, nhà vua Ba-Tư-Nặc đến thăm viếng Thế Tôn, nhà vua đảnh lễ và hôn lên bàn chân Thế Tôn, năm đó nhà vua và Đức Phật đều là những ông già ở độ tuổi 80. Đây là một bài kinh rất xúc động về một vị Đế vương và một vị Pháp vương, vua Ba-Tư-Nặc cung kính Đức Phật đến tột cùng khi ngài nâng và hôn lên bàn chân Đức Như Lai.
Những phương pháp đang thực tập tại Linh Quy là được lấy từ trong kinh tạng Nikaya, vận dụng tất cả những pháp hành mà Đức Phật và các bậc Thánh đã làm, rất xúc động khi được cầm đôi tay mẹ, nâng bàn chân cha, áp vầng trán trên những ngón chân gầy gân guốc, trên đôi tay chai sạn, dâng trà, lễ lạy, ôm cha mẹ bằng tất cả lòng biết ơn để nói lời cảm ơn, lời xin lỗi và phát nguyện. Nếu chúng ta chưa quen và không hiểu thì cho là hình thức nhưng chúng ta phải hiểu rằng không có hình thức thì sẽ không có nội dung. Chúng ta ngại ngùng không chịu làm là vì cái bản ngã, cái tôi quá lớn và chưa có sự nhận thức thấu đáo trọn vẹn về công đức sinh thành dưỡng dục vĩ đại của cha mẹ, một chút nghĩa cử nhỏ đó chẳng là gì so với sự hy sinh cả một cuộc đời trong thầm lặng của cha mẹ, cho nên pháp hành này cần phải được nhân rộng, lan tỏa phổ biến, cần phải được khuyến khích, khích lệ, hướng dẫn và an trú cho con cháu đặt để vào thiền biết ơn này. Các vị đã nghe lễ vu lan báo hiếu nhiều lần, ở nhiều nơi, nhưng tại Linh Quy thiền biết ơn được diễn ra rất đặc biệt, nhiều cảm xúc dâng trào, sự thực tập, thực hành làm cho sanh khởi, phát khởi, khơi dậy, nguồn cảm xúc biết ơn, nhớ ơn, báo ơn, đền ơn đối với mẹ cha và trong mùa vu lan báo hiếu là thời điểm thích hợp, dễ dàng để thể hiện lòng biết ơn đối với cha mẹ. Nếu gia đình nào không có thời gian đến chùa thì ngay trong nhà, mình có thể thực tập buổi lễ thiền biết ơn, dâng lên cha mẹ chung trà rồi thưa thỉnh trình bày cả gia đình cùng thực tập được như vậy thì thật đẹp và tuyệt vời. Khi chúng ta đã được học ở trên chùa rồi thì phải biết đem về nhà ứng dụng, đánh thức những cảm xúc của lòng hiếu thảo, hiếu hạnh, hiếu đạo, hiếu nghĩa, hiếu kính, khơi gợi thật sự những cảm thọ từ bên trong nội tâm, không làm một cách hời hợt hình thức qua loa, khóc một chút rồi thôi, rồi quên, rồi lại sân si, ngỗ nghịch với cha mẹ. Cho nên bài thiền này phải được thực tập thường xuyên và liên tục, không chỉ một ngày một bữa, hay trong ngày rằm tháng bảy, khi mình thực tập thường xuyên thì sự lễ kính với cha mẹ là hết sức ngọt ngào dễ chịu dễ dàng không phí công, nhọc sức, bất cứ lúc nào chúng ta cũng có thể quỳ xuống lễ lạy cha mẹ, đừng để đến khi cha mẹ chết rồi mới quỳ lạy ăn năn hối hận trong nuối tiếc muộn màng, lúc đó cha mẹ không cảm nhận được sâu sắc tình cảm đó. Vậy tại sao khi cha mẹ còn đang sống, cha mẹ đang còn minh mẫn, có cảm thọ, có sự nhận thức sáng suốt, sao ta không thể hiện tình thương, hiếu đạo, hiếu hạnh, hiếu lễ? nên tốt hơn là lạy khi cha mẹ còn sống, lạy sống, làm tròn đạo hiếu, để khi cha mẹ có mãn phần mình cũng không đau khổ hay hối tiếc.
Nếu vô thường đến mình ra đi trước ba mẹ, dù chuyện đó có xảy ra mình cũng yên lòng, nhẹ nhàng nhắm mắt ra đi vì những việc cần làm mình đã làm, không phải đau khổ, hối hận khóc than, nếu không thì dù có dập đầu hói trán cũng vô ích mà thôi, cho nên thờ cha kính mẹ là ngay từ bây giờ lúc còn sống, Minh Thành đã thực hành hạnh lễ lạy cha mẹ rất nhiều lần, trong cách lễ lạy đó là cả một sự nhớ ơn, biết ơn, cảm ơn và mong muốn được báo ơn, đền ơn.
Không chỉ con cái lạy cha mẹ mà vợ chồng cũng lễ lạy với nhau để cảm ơn ân nghĩa ân tình đã cùng sống chung với nhau, trải qua với nhau bao thăng trầm trong cuộc sống, để nói lời cảm ơn hay lời xin lỗi. Vì cái bản ngã, cái tôi, cái ta quá cao ứ đọng, tồn kho trong dòng cảm thọ, nên không dễ mở miệng để nói một cảm ơn hay xin lỗi nhưng lại dễ dàng cự cãi, dành phần hơn, phần thắng. Khi những dòng cảm thọ này được giải tỏa, tình nghĩa chồng vợ được gắn kết bền lâu, vợ chồng là ân nhân của mình, không còn gây đau khổ oan trái cho nhau nữa. Thiền biết ơn này rất tuyệt vời không chỉ đối với cha mẹ mà còn cho vợ chồng, bà cháu, ông cháu, anh em, cô dì, chú thím, bà con, bạn bè…đều có thể thực tập thiền biết ơn, lễ lạy với nhau, lễ lạy trong dòng nước mắt ngọt ngào, sự biết ơn, ngập tràn cảm xúc hiền thiện, cảm động, chấn động, yêu thương, cảm thông, tha thứ, nhận lỗi, sửa lỗi, chỉnh lỗi, là những hình ảnh rất đẹp, nên tất cả chúng ta cố gắng thực tập.
Đạo tràng Linh Quy thường xuyên thực hành pháp tu này, lễ lạy một cách ngọt ngào, tự nhiên khỏe mạnh an lành, dạt dào tình thương, “ngọt như đường cát, mát như đường phèn”, không có gì là phí sức khó khăn. Nếu chúng ta không thực tập được pháp lễ lạy nhớ ơn, đền ơn, biết ơn thì chúng ta sẽ khó lễ lạy được với người, khó mở miệng nói lời xin lỗi được với ai vì bị bản ngã ngăn chặn, bao vây che mắt bịt tai, bịt miệng khiến cho mình không làm được, không nói được, giống như là bị á khẩu.
Cho nên, tu được tâm hiền, tâm từ, tâm biết ơn, nhớ ơn là rất tuyệt vời.
Ý nghĩa bài kinh “Ngang bằng với Phạm Thiên”
Thế Tôn nói con cái trong gia đình mà kính lễ cha mẹ trong gia đình thì gia đình đó được xem là ngang bằng với Phạm thiên là ông vua trời, là gia đình của vua trời Phạm thiên chứ không phải là gia đình của người phàm phu. Một tháng chúng ta thực tập được hạnh lễ lạy cha mẹ một lần thì đẹp lắm, rất là tuyệt vời, hay vào những ngày kỷ niệm của gia đình, khi anh chị em tụ họp về đông đủ chúng ta mượn cái cớ đó để mà thực tập thiền biết ơn, nấu một bữa cơm chay đãi người thân trong gia đình, tuyệt vời lắm.
Những gia đình nào có các con cháu kính lễ cha mẹ trong nhà, các gia đình ấy được chấp nhận như các bậc đạo sư, bậc thầy lớn thời xưa, gia đình đó có đại đạo sư, có vị tôn sư ở trong nhà. Kính lễ không phải lúc quỳ lạy mới gọi là kính lễ mà trong mọi sinh hoạt trong gia đình. Đem hoa thơm trái ngọt dâng cúng lên bàn thờ mà đối xử với cha mẹ tệ bạc, “mặt nặng mày nhẹ”, “dằn mâm xán chén” thì cũng uổng công vô ích. Bức tranh bức tượng bằng gỗ hay xi măng không cần mình cúi đầu lễ lạy, mà chính cha mẹ bằng da bằng thịt bằng xương, sinh thành dưỡng dục, cần có sự cung kính, cúng dường, đảnh lễ, tôn trọng, biết ơn, nhớ ơn, báo ơn, đền ơn. Cha mẹ chính là ông trời, là bậc thầy của con, sự giáo dục như vậy là rất quan trọng, Minh Thành muốn gửi gắm đến các bậc trưởng tượng, ông bà cha mẹ, người lớn tuổi trong gia đình phải có trách nhiệm hướng dẫn cho con cháu, trường học hay nhà chùa cũng không thể giáo dục tốt hơn cho con cháu trong gia đình về lễ nghĩa này, vì chính tự thân cha mẹ là đạo sư, là thầy dẫn đường cho con, đừng mang tâm lý ỷ lại, giao hết trách nhiệm dạy dỗ cho nhà trường, ngay khi con vừa lọt lòng mẹ thì gia đình chính là người thầy. Sự gia giáo, thai giáo (giáo dục từ trong bào thai) là rất quan trọng. Đạo đức của thế hệ trẻ ngày nay là đáng báo động, dễ dàng tiêm nhiễm những thói hư tật xấu, một phần chính là do gia đình không quan tâm, không biết cách khéo léo trong việc dạy dỗ, hướng dẫn, an trú chỉ dạy cho con cháu, đại gia đình trong dòng họ là một trường học, gia đình chính là một lớp học và cha mẹ là thầy cô giáo tuyệt vời nhất, là bậc đạo sư thời xưa, mình phải là một người thầy dẫn đường cho con. Không nên phó mặc con cái cho nhà trường, chỉ biết lo kiếm tiền, cung phụng con bằng những đồng tiền mình kiếm được, nhìn lại thì con cái đã hư hỏng, sa đọa trụy lạc, chính cha mẹ vô tình hại những đứa con mình mà không hay không biết, tiền có kiếm được nhiều thì cũng là vô nghĩa, thiếu đi trách nhiệm và bổn phận của người làm cha mẹ, con cái cũng thiếu đi trách nhiệm và bổn phận của người làm con và cuối cùng là một gia đình khiếm khuyết thì đau khổ là điều không thể tránh khỏi. Khi gia đình không còn là mái ấm thì những người sống chung trong một gia đình sẽ gây cho nhau nhiều đau khổ, dùng vũ trí miệng lưỡi để chiến đấu với nhau, gây lộn, cãi lộn, làm tổn thương nhau.
Thông điệp trong bài kinh là rất sâu rộng, dù đã ba ngàn năm trôi qua nhưng giá trị đạo lý trong gia đình vẫn còn nguyên vẹn, bất di, bất dịch. Những gia đình nào mà trong ấy các con kính lễ cha mẹ ở trong nhà, gia đình ấy được chấp nhận ngang bằng với ông trời, là gia đình của ông trời, không phải là gia đình của bậc phàm phu, gia đình của bậc đạo sư thời xưa, là gia đình ấy đáng cho tất cả gia đình khác quỳ xuống lạy dưới chân, là gia đình mẫu mực, gương mẫu, mô phạm. Thật là hiếm thấy khó gặp được một gia đình mà cha mẹ có sự giáo dục tốt đối với con cái. Các bậc làm cha làm mẹ thời nay thường bị cuốn trong guồng máy của việc kiếm tiền không thoát ra được, “đầu tất mặt tối”, quên đi những điều quan trọng khác trong cuộc sống, tiền là cần thiết để duy trì sự ổn định cuộc sống, nhưng nó không phải là quan trọng nhất, không phải là cứu cánh.
Các vị tu hành không có tiền nhưng vẫn sống rất an lạc và hạnh phúc, Linh Quy Pháp Ấn được xây dựng trên nền tảng của tâm từ và tình thương, bằng sự thấu hiểu, cảm thông và yêu thương, bằng sự tôn trọng và kính lễ, biết ơn và nhớ ơn nhau, sống ngọt ngào ấm áp yêu thương chân thành, dạt dào hạnh phúc, an lành, nói như vậy để chúng ta thấy còn có những cái quan trọng hơn tiền bạc, đó chính là linh hồn, cốt lõi, là chất liệu, là gốc rễ của hiếu, nghĩa, lễ giáo, đức hạnh của một con người. Khi chúng ta có được những phẩm chất này, chúng ta sẽ sống rất hạnh phúc, dù có tiền nhiều hay ít, còn khi không có được điều này thì càng có nhiều tiền thì khổ đau càng lớn.
Phạm thiên là đồng nghĩa với cha mẹ, các đạo sư thời xưa là đồng nghĩa với cha mẹ, đáng được cung kính, cúng dường, vì cha mẹ đã giúp đỡ con cái, nuôi chúng lớn, giáo dục chúng và giới thiệu chúng vào đời.
Chúng ta nên để tâm thật nhiều vào sự hiếu kính, lễ nghĩa trong gia đình, rất quan trọng, hãy tập cho con cháu từ nhỏ. Ở Linh Quy có nhiều gia đình cha mẹ đã hướng dẫn con từ nhỏ chỉ mới 9-10 tuổi, dẫn con về núi tu tập, các bé học thuộc rất nhiều bài Kinh Nikaya, có những người bà dẫn cháu lên tu trong nhiều tháng, những dịp nghỉ hè hoặc lễ tết thay vì dẫn con đi chơi thì dẫn con cháu về núi tu tập, chúng là những em bé rất dễ thương, ngoan ngoãn, hiền lành. Ở nhà cha mẹ nên hướng dẫn cho các cháu học thuộc những bài kinh ngắn gọn, những câu pháp, phù hợp với lứa tuổi.
Thành tựu với bốn pháp này, này các Tỷ-kheo, như vậy tương xứng bị rơi vào địa ngục. Thế nào là bốn? Thành tựu với thân làm ác, với lời nói ác, với ý nghĩ ác, với không biết ơn, không biết trả ơn. Thành tựu với bốn pháp này, này các Tỷ-kheo, như vậy tương xứng bị rơi vào địa ngục
Thành tựu với bốn pháp này, này các Tỷ-kheo, như vậy tương xứng được sanh lên cõi Trời. Thế nào là bốn? Thành tựu với thân làm thiện, với lời nói thiện, với ý nghĩ thiện, biết ơn, biết trả ơn. Thành tựu với bốn pháp này, này các Tỷ-kheo, như vậy tương xứng được sanh lên cõi Trời.
(Tăng chi bộ tập 2-Phẩm Ô Uế - Không biết ơn- 252ct2)
Đây là lời Đức Phật dạy trong Tăng Chi bộ kinh, qua đó, ta thấy rằng, ngoài ba nghiệp thân, miệng, ý, hiền thiện, còn có tâm biết ơn và đền ơn thì nghiệp thiện được viên mãn.
Ơn Tam Bảo
Bên cạnh việc biết ơn và nhớ ơn đối với cha mẹ chúng ta còn có Pháp khác hơn là đối với Tam Bảo, Phật, Pháp, Tăng,
- Có ba hạng người này, này các Tỷ-kheo, làm nhiều lợi ích cho người khác. Thế nào là ba ?
Do người nào, này các Tỷ-kheo, có người được quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng, người ấy là hạng người làm lợi ích nhiều cho người kia. Đây là hạng người làm lợi ích nhiều cho người khác
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, do người nào, người khác rõ biết : "Đây là khổ", … rõ biết : "Đây là con Đường đưa đến Khổ diệt", người ấy là hạng người làm lợi ích nhiều cho người kia. Đây là hạng người làm lợi ích nhiều cho người khác.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, do người nào, người khác đoạn trừ các lậu hoặc ngay trong hiện tại, với thắng trí tự mình chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu
tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Đây là hạng người làm lợi ích nhiều cho người khác.
Ba hạng người này, này các Tỷ-kheo, làm lợi ích nhiều cho người khác. Ta nói rằng không có một người nào khác làm lợi ích nhiều hơn cho người bằng ba hạng người này. Ta nói rằng người này không thể khéo léo trả ơn cho ba hạng
người kia, như đảnh lễ, đứng dậy, chắp tay, hành động thân thiện, bố thí các vật dụng như y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, thuốc trị bệnh …
(Tăng chi bộ tập 1-phẩm Người-Nhiều lợi ích)
Đức Thế Tôn nói có ba hạng người này làm nhiều lợi ích cho người khác. Do người nào, có người được quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng, người ấy là hạng người làm lợi ích nhiều cho người kia, đây là hạng người làm lợi ích nhiều cho người khác, tức là mình nhờ người nào đó mà mình được quy y Tam Bảo, mình biết đến Phật, Pháp, Tăng, đây chính là ân nhân thứ nhất. Nhờ người nào, mình biết rõ được đây là khổ, biết rõ được đây là nguyên nhân của khổ, biết rõ được đây là bể khổ, biết rõ được đây là con đường đưa đến việc chấm dứt khổ, người giúp cho mình thấy được Pháp, hiểu được Pháp, ngộ được Pháp, thấy rỏ được Tứ Thánh đế, người đó là ân nhân thứ hai, khó mà báo đáp được. Người giúp cho mình đoạn trừ tất cả các lậu hoặc ngay trong hiện tại, dứt hết tất cả các tâm mê lầm, được trí tuệ thù thắng, tự mình chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát, đây là bậc ân nhân thứ ba vĩ đại của mình.
Như vậy có ba bậc ân nhân ở trong Pháp, thứ nhất là người hướng dẫn mình quy y, thứ hai là người giúp cho mình thành tựu chánh kiến, chánh tín, thứ ba là người dạy dỗ cho mình đoạt tận tham sân si, tất cả lậu hoặc để mình thành tựu sự giải thoát, đây là ba bậc ân nhân vĩ đại mà Đức Thế Tôn nói rằng: “ Ba hạng người này, này các Tỷ-kheo, làm lợi ích nhiều cho người khác. Ta nói rằng không có một người nào khác làm lợi ích nhiều hơn cho người bằng ba hạng người này. Ta nói rằng người này không thể khéo léo trả ơn cho ba hạng người kia, như đảnh lễ, đứng dậy, chắp tay, hành động thân thiện, bố thí các vật dụng như y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, thuốc trị bệnh … Không thể nào trả ơn được cho ba bậc ân nhân đó.
Về ân đức của Phật pháp chúng ta nghe:
Như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho những người bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình bày, giải thích. Bạch Thế Tôn, con xin quy y Thế Tôn, quy y Pháp và quy y chúng Tỷ-kheo Tăng. Mong Thế Tôn nhận con làm đệ tử; từ nay trở đi cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng
(Kinh Potaliya -Trung bộ)
Ơn đầu tiên là ơn Phật, Pháp, Tam bảo, khi chúng ta quy y thì phải hiểu biết ơn đức của Phật, Pháp, Tam bảo là như thế nào? trong tạng Kinh NiKaya thường dùng để tán thán khen ngợi, người phát tâm quy hướng, quy y, nương dựa vào Tam bảo sẽ nói câu này.
“Như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống”, khi cuộc sống của chúng ta ngỗn ngang, đổ vỡ, thì Người xuất hiện giúp chúng ta sắp xếp, dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, đó là đạo đức, từ bi, lễ giáo, đạo nghĩa, giới hạnh, giới đức bị quăng ngã…Đức Phật ra đời, Ngài dựng đứng lại những điều đó. Trước đây, thế giới này bị quăng ngã, nghiêng ngửa, đổ nát những nền tảng của đạo đức, trí tuệ, lòng từ, nhân nghĩa, khi Thế Tôn ra đời Ngài dựng đứng lại những giá trị đạo đức nhân nghĩa, lễ giáo, hiếu đạo, từ bi trí tuệ cho cuộc đời này. Chúng ta có học trong một bài kinh về một ông lão Bà-La-Môn đi xin ăn, bị những người con bất hiếu đuổi ra đường, cướp gia tài, Thế Tôn cho ông một bài kệ để đọc cho các con ông nghe, cuối cùng ông cảm hóa được những người con, đây chính là Thế Tôn đã dựng đứng lại đạo đức, hiếu lễ đã bị quăng ngã xuống.
Hình ảnh thứ hai là: “phơi bày ra những gì bị che kín”, đây chính là ân đức của Phật, Pháp. Vậy thì cái gì bị che kín, chính là sự thật của thân này bị che kín, sự thật về cuộc đời này bị che kín, sự thật về tâm thức hôn mê, vô minh này bị che kín, và Đức Thế Tôn đã phơi bày ra cho chúng ta thấy sự thật của cái thân này là được kết hợp từ đất nước gió lửa, là sự kết hợp từ ba mươi hai thứ không sạch.
(Trích đoạn)… Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo quán sát thân này, dưới từ bàn chân trở lên, trên cho đến đảnh tóc, bao bọc bởi da và chứa đầy những vật bất tịnh sai biệt. Trong thân này: "đây là tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, thận, tủy, tim, gan, hoành cách mô, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, bụng, phân, mật, đàm (niêm dịch), mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, mỡ da, nước miếng, nước mủ, nước ở khớp xương, nước tiểu". Này các Tỷ-kheo, cũng như một bao đồ, hai đầu trống đựng đầy các loại hột như gạo, lúa, đậu xanh, đậu lớn, mè, gạo đã xay rồi. Một người có mắt, đổ các hột ấy ra và quán sát: "Đây là hột gạo, đây là hột lúa, đây là đậu xanh, đây là đậu lớn, đây là mè, đây là hột lúa đã xay rồi"…
(Kinh Đại niệm xứ-Trung bộ kinh)
Trong Kinh Đại niệm xứ, Ngài đã giải phẫu cái thân này và chỉ cho chúng ta nhìn thấy, trong cái thân này có những gì, mà tại sao chúng sinh lại si mê, say đắm, dính mắc rồi khổ đau đến như vậy, bên trong lớp da trơn láng này chỉ là một đống phèo phổi, gan ruột, lá lách, dạ dày, ruột non, ruột già, tim gan tỳ phế thận…là ba mươi hai thứ không sạch sẽ, đây chính là phơi bày những gì bị che kín, Ngài phơi bày ra cái hang ổ, sào huyệt, căn cứ địa, của tham sân si, ở trong cảm thọ, Ngài phơi bày ra nguồn gốc mà tất cả chúng sinh đau khổ, tranh đấu là vì cái tôi hư ảo không có thật, vô ngã mà cho là có cái ngã, Ngài phơi bày ra sự đau khổ của cuộc đời này, sự thật rằng chúng sinh vì bị cái vẻ hào nhoáng bên ngoài che đậy, nên khổ mà tưởng là vui, dơ mà tưởng là sạch, không có tôi mà tưởng là có tôi.
Cuộc đời thật khéo điểm trang
Để che đậy cái khổ đang ràng ràng…
Tất cả cái chúng ta chỉ nhìn thấy những lớp phấn, kem, son, che đi những khuyết điểm của sự thật là một khuôn mặt đầy mụn bọc với máu mủ tích tụ ở bên trong. Thời xưa có một anh thư sinh nghe đồn có một cô gái xinh đẹp khiến bao người muốn cưới về làm vợ và anh cũng khao khát cưới được cô, gia đình cô gái ra điều kiện khi nào anh đỗ trạng nguyên thì gả cho anh, anh ngày đêm miệt mài sách sử, trong nhiều năm dùng hết tâm lực, trí lực, học lực cuối cùng anh cũng đổ trạng nguyên, vinh quy bái tổ trở về và được song hỷ lâm môn, vừa đổ trạng nguyên lại vừa được cưới vợ đẹp, đến khi động phòng hoa chúc, gỡ khăn che mặt cô dâu ra thì té ngửa vì người con gái trong mơ lại là người anh gặp hàng ngày, mỗi ngày “sắt chuối cho heo, vớt bèo cho vịt” ở sát bên nhà anh, tất cả chỉ là ảo tưởng, Thế Tôn gọi đó là điên đảo mộng tưởng, giống như vợ chồng khi mới quen nhau, yêu nhau về ở với nhau, cái thủa ban đầu đẹp biết bao nhiêu, khi về ở chung năm bảy năm từng lớp mặt nạ từ từ lột xuống, bao nhiêu cái xấu xa dần lộ diện, bắt đầu chỉ nhìn thấy những thói hư, tật xấu của nhau, rồi nhàm chán, chê bai, nói xấu. Chính Ngài phơi bày cho chúng ta thấy những cái bị che kín, Ngài đã thấy và nói đây là khổ, khổ đó, dừng tưởng là vui, chẳng qua là khéo dấu để lừa gạt dối trá nhau, dối trá với chính mình và sâu xa hơn nữa là ngũ uẩn bị che kín, lậu hoặc bị che kín, khát ái bị che kín. Chúng ta phải thiền quán, suy tư, chiệm nghiệp thật nhiều để phơi bày ra tất cả, tại sao chúng ta luân hồi sinh tử? Tại sao cứ mãi khổ đau? Tại sao luẩn quẩn làm hang, làm ổ, làm tổ trong thân xác này không từ bỏ, dứt lìa được.
“Chỉ đường cho những người lạc hướng”, như một người một mình đi lạc trong khu rừng rậm rạp với tâm tư đầy lo lắng và sợ hãi, hoảng hốt, không biết phải làm sao, đi đâu về đâu thì bỗng dưng xuất hiện một con người tối thượng chỉ cho mình một con đường một lối đi đúng đắn để thoát ra. Còn ơn đức nào lớn hơn ơn đức này. Ví như trong khi bị lạc đường có một người tốt bụng nào đó chỉ cho mình hướng đi để trở về nhà mình đã mang ơn và biết ơn vô cùng huống hồ chi Thế Tôn đã chỉ cho mình một con đường xuất ly sầu bi khổ ưu não, con đường giải thoát khỏi sinh già bệnh chết, con đường tiến tới thế giới của bất tử, còn có ơn đức nào lớn hơn, vĩ đại hơn ơn đức này.
Tất cả chúng ta đều là những kẻ lạc lối, lạc đường, mãi lạc hướng trong khi đi tìm, chạy đuổi theo địa chỉ hạnh phúc, tưởng đâu có tiền nhiều là hạnh phúc, tưởng đâu có tình cảm gia đình là hạnh phúc, tưởng đâu có địa vị, học vị, quyền thế là hạnh phúc, nhưng không ngờ đã lạc đường rồi, sai hướng rồi, đến khi nhận ra thì đã muộn màng, không còn thời gian để qua lại và cũng không có ai chỉ cho mình con đường, lối ra nào là chân chính đúng đắn với thật sự, chỉ có Thế Tôn mới chỉ ra được một con đường, một đạo lộ, một lối thoát, tối thượng để mình đi đến chỗ hạnh phúc an lạc, đạt đến sự bất tử, đây chính là ân đức của Phật pháp, ân đức vĩ đại của Chánh pháp.
“Đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc”, câu này đọc không phải là dể hiểu, chúng ta có con mắt nhưng ở trong bóng tối nên con mắt không sử dụng được, chúng ta có nhận thức, có thọ tưởng hành thức, nhưng thọ tưởng hành thức đó bị tâm mê bao phủ, bị vô minh che lấp, phong tỏa cho nên có mắt như mù, nếu không có ánh đèn sáng rọi chiếu vào trong đêm đen thì chẳng thấy gì hết, chẳng khác nào người mù. Vì vậy, Đức Thế Tôn, đưa ngọn đèn vào để làm chói sáng, ngọn đèn này chính là Thánh trí tuệ ngũ uẩn, nếu người nào có trí tuệ, nhận thức được, chịu đi theo thực hành, thì người đó nhờ ánh sáng ấy mà thấy được, còn nếu ánh sáng ấy rọi đường mà người này nhắm mắt ngủ thì làm sao mà thấy đường, hay như người bị mù đôi mắt thì làm sao thấy đường, cho nên đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt, có thể thấy sắc, tức là Đức Phật đem ánh sáng tuệ giác vào trong thế giới vô minh hôn ám này, để người nào chịu mở con mắt ra thì người đó sẽ thấy được chân tướng của vạn Pháp, bản chất của cuộc đời, thấy được sự thật của thế gian. Mỗi một câu một chữ sử dụng trong kinh là không phải dễ để cho chính xác, chúng ta thấy được giá trị vĩ đại siêu việt trong kinh.
Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn ! Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn ! Như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho những người bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình bày, giải thích. Bạch Thế Tôn, con xin quy y Thế
Tôn, quy y Pháp và quy y chúng Tỷ-kheo Tăng. Mong Thế Tôn nhận con làm đệ tử; từ nay trở đi cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng
(Kinh Potaliya -Trung bộ)
Đây cũng chính là nghi thức để Quy y vào thời Đức Phật còn tại thế, ân đức của Phật pháp vĩ đại như vậy, ngoài ân đức của cha mẹ, chúng ta phải biết ân đức của Phật pháp, Chánh pháp./.