Thiền cho người mới bắt đầu
Thiền Cho Người Mới Bắt Đầu
-Thích Minh Thành-
Ngày 26 tháng 04 năm 2021
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Hiện tại lạc trú PAGEREF _Toc71530725 \h 1
II. Vì sao cần phải không nhắm mắt? PAGEREF _Toc71530726 \h 2
III. Cảm giác toàn thân PAGEREF _Toc71530727 \h 3
IV. Nội tâm tỉnh giác PAGEREF _Toc71530728 \h 6
I. Hiện tại lạc trú
Xin đại chúng cảm nhận cảm giác nơi lồng ngực, mặt, đầu, vai, tay, bàn tay, lòng bàn tay, lưng, bụng, mông, chân, ống chân, lòng bàn chân. Cảm nhận cảm giác từ đỉnh đầu đến gót chân. Cảm nhận cơ thể, cảm giác toàn thân. Rõ biết ở trước mặt, mắt chúng ta nhìn xuống ở phía trước, mở rộng tầm nhìn, sáng tỏ. Rõ biết ở trước mặt Thế Tôn gọi là đặc niệm ở trước mặt hoặc là Chánh Niệm trước mặt. Đó là cảm giác toàn thân và rõ biết ở trước mặt.
Nội tâm tỉnh giác, rõ biết những suy nghĩ gì đang sanh khởi, rõ biết có hình bóng gì đang xuất hiện ở trong tâm, rõ biết cảm giác, hình bóng trong tâm và suy nghĩ.
Thở vào, thở ra, biết rõ hơi thở dài ngắn, vào ra, cảm nhận hơi thở. Thở vào, thở ra làm cho thân an tịnh, thân hành. Thở vào thở ra làm cho tâm lắng dịu, dễ chịu. Với tâm hoan hỷ, ta thở vào, với tâm hoan hỷ, ta thở ra. Thở vào với tâm hoan hỷ, an vui, thở ra với tâm an lạc trong giây phút hiện tại. Hoan hỷ và an lạc trong giây phút hiện tại.
Rõ biết ở trước mặt và đừng nhắm mắt, rõ biết toàn thân. Thở vào thở ra với tâm hân hoan. Với tâm hoan hỷ, tâm an lạc, tâm bình an, ly dục, thoát ly mọi hệ lụy của thế gian, mọi sự ràng buộc của đời sống thế tục, thoát ly mọi thế vật. Chúng ta ngồi một cách bình an, thản nhiên, an lạc trong giây phút hiện tại. Sự Chánh Niệm trong mỗi hơi thở vào ra và cảm nhận một cách sâu sắc cảm giác của toàn thân trong giây phút này.
Thật an lạc, thanh tịnh, hoan hỷ trong giây phút này, thật an vui, định tĩnh trong giờ phút này, thật hân hoan, vui sướng trong giây phút tịnh lạc này.
Trên môi chúng ta mỉm một nụ cười nhẹ, thở vào thở ra để cảm nhận hiện tại lạc trú. An trú trong giây phút hiện tại, cảm nhận sự bình an và hỷ lạc của khoảnh khắc này. Tâm của chúng ta rộng mở ra không gian của khắp giảng đường này. Rộng mở ra không gian của vùng trời đất này, cảm nhận sự rộng lớn của trời đất, sự bao la, thênh thang của hư không này, tâm cứ rộng mở, bao la trong niềm hỷ lạc, hân hoan.
Hiện tại lạc trú, là thực tập an trú tâm chúng ta trong giây phút hiện tại, để cảm nhận sự bình an, an lạc, hân hoan, an vui trong giây phút hiện tại. Để chúng ta đem tâm rong chơi trở về với giây phút hiện tại.
Hôm nay, Minh Thành muốn chia sẻ cho đại chúng về sự thực tập của hiện tại lạc trú. Khi chúng ta học nhiều pháp học, nên nay chúng ta học về pháp để thực hành.
II. Vì sao cần phải không nhắm mắt?
Khi nãy, Minh Thành nhìn thấy đại chúng, tuy hướng dẫn như vậy nhưng ở dưới đa số vẫn nhắm mắt. Nếu nhắm mắt thì chúng ta không hiện tại lạc trú được. Do chúng ta đã quen, nhưng thật sự không phải, ngồi thiền là mở mắt vừa phải và không nhắm mắt.
Nếu chúng ta nhắm mắt thì thứ nhất là dễ đi vào trong đâu? Chúng ta nên để ý, hôm nay đi vào sự thực tập thiền chỉ, sự tịnh chỉ của tâm, của thân. Khi chúng ta nhắm mắt, thứ nhất sẽ đi vào hôn trầm, trầm là chìm, hôn là hôn mê, mờ tối, chúng ta chỉ cần ngồi và nhắm mắt lại thì lập tức, rất dễ chìm vào một trạng thái mờ tối, hôn ám. Vậy nên ngồi thiền tuyệt đối không nhắm mắt, trừ các vị đã thành tựu, đạt được Thánh quả lớn, đã nhập đại định.
Thứ hai là chúng ta rơi vào trạng thái của tưởng, những hình bóng sẽ xuất hiện, hết cảnh này tới cảnh kia xuất hiện, đến khi trình pháp thì “Thưa thầy, khi nãy con nhìn thấy rất nhiều thứ!”. Đó là trạng thái của tưởng uẩn hoạt động, tổ hợp của hình ảnh sẽ xuất hiện liên tục, lúc đó chúng ta không nhận diện ngũ uẩn được mà hòa nhập với tưởng uẩn này. Chúng ta bị đồng hóa trong những hình bóng đó, nhập cuộc với chúng. Khi nhắm mắt thì tưởng uẩn hoạt động rất mạnh, nhưng lúc đó chúng ta không rạch ròi giữa bản thân và tưởng uẩn, chúng ta không nhận diện, không trạch pháp giác chi, thì lúc đó chúng ta nhập một với tưởng uẩn, vậy nên đi theo những dòng, hình bóng, tư tưởng đó, tức là chúng ta đã rơi vào tưởng uẩn.
Thứ ba, chúng ta sẽ rơi vào thụy miên (thùy miên), tức ngủ gục. Nhất là đối với những ngày chúng ta hoạt động, làm việc, tối khi về leo lên bồ đoàn thở vô thở ra và nhắm mắt lại thì chúng ta sẽ đi vào ba trạng thái này thường xuyên.
Thứ tư, nếu chúng ta không ngủ thì sẽ vọng tưởng, phóng tâm, thất niệm, hết nghĩ điều này đến nghĩ điều khác, khi đó hành uẩn hoạt động, tức là suy nghĩ, hết suy nghĩ việc này sẽ tới việc khác, từ chúng ta thường xài là từ “vọng tưởng” nhưng nhận diễn ngũ uẩn thì sẽ thấy đây là hành uẩn, là suy nghĩ lung tung, mông lung, thậm chí không ngồi thiền được.
Như vậy thì thường khi ngồi thiền chúng ta sẽ rơi vào bốn trạng thái này. Có một trạng thái khác là buông, thả trôi, phóng dật tức là “để kệ nó, ra sao cũng được”. Đây là nói khi ở trên bồ đoàn, ngay khi đang ngồi thiền, những trạng thái này sẽ xuất hiện.
Nếu như chúng ta không nhận diện được tình trạng này đang có mặt, đang vận hành, xâm chiếm chúng ta thì khi đó chúng ta nhập cuộc với chúng và sẽ bị mất Chánh Niệm, thất niệm. Lúc đó chúng ta ngồi thiền không phát sanh trí tuệ mà chỉ là sự thả lỏng, thư giãn. Và bây giờ có trường hợp người ta mượn thiền giống như sự thư giãn thì đây không phải là thiền định của Phật giáo. Giờ người ta mượn thiền, mở các khóa học hướng dẫn hay các câu lạc bộ nhưng đa số, ngay cả người tu nếu không khéo thì chúng ta hướng dẫn thành cách thiền thư giãn, giảm bớt căng thẳng, mệt mỏi. Đây chỉ đúng cho giới cư sĩ, những giới như doanh nhân, hoạt động, làm việc nhiều khiến cho họ căng thẳng, họ cần điều này, vẫn sẽ có tác dụng nhưng không phải là thiền định chính thống của Phật giáo, không phải là Chánh Định.
Chúng ta nên nhớ những bước cho thân tâm thư giãn như khi nãy, lúc đầu tiên vào, là tóm tắt sáu, bảy hơi thở đầu của Mười sáu hơi thở trong kinh Niệm xứ.
III. Cảm giác toàn thân
Vì vậy, chúng ta thấy rằng trong sự thực tập của chúng ta thì giai đoạn đầu tiên chúng ta phải trừ được năm triền cái gồm: tham dục, sân hận, hôn trầm thuỵ miên, trạo hối và hoài nghi. Đức Phật đã nói trong kinh Nikāya rất nhiều và trang Linh Quy Pháp Ấn cũng có một tiểu luận về năm triền cái, các huynh đệ có thể lấy xuống đọc. Nếu như chúng ta ngồi thiền hoặc nghe pháp bị năm điều này xâm chiếm thì ngồi thiền không đi đến kết quả. Vì vậy bây giờ chúng ta nên đi từng bước.
Thứ nhất là chúng ta cảm giác toàn thân, như khi nãy chúng ta đã thực tập. Cảm giác toàn thân này tuyệt đối quan trọng trong sự tu của chúng ta. Như Đức Phật đã nói:
“…4. Tất cả pháp lấy thọ làm chỗ tụ hội”
(Bài kinh Cội rễ của sự vật – IX. Phẩm Niệm – Chương Tám Pháp -
Tăng chi bộ kinh tập 4)
Nên nếu chúng ta không biết về cảm thọ thì chúng ta không biết gì về thân tâm của chúng ta. Vậy nên cảm giác toàn thân là nền tảng của tất cả pháp hành của Phật giáo. Và không biết thực tập cảm giác toàn thân thì chúng ta tu sẽ không đi đến sự nhiếp phục và diệt tận được tham, sân, si, vô minh và bản ngã.
Cảm giác toàn thân là khi các huynh đệ ngồi lại, cảm nhận cảm giác ở giữa lồng ngực, cảm nhận sự động chuyển của hơi thở ở giữa lồng ngực, ở mũi thở ra vào, ở bụng phồng xẹp. Đó là ba chỗ động chuyển của hơi thở, chóp mũi, lồng ngực và bụng. Từ ba chỗ đó chúng ta mới có thể cảm nhận sự lan tỏa của cảm nhận, cảm giác, cảm xúc ra mặt, tay, vai, chân, mông, bụng, ống chân, bàn chân, tất cả chúng ta cảm nhận cảm giác của toàn bộ cơ thể. Để nhằm mục đích cái gì bên trong chúng ta thì nó sẽ xuất hiện trong cảm giác toàn thân trước.
Ví dụ khi chúng ta giận lên thì nóng ở đâu trước? Có người nói ở mặt, ở đầu hay lồng ngực. Khi chúng ta thực hành cảm giác toàn thân thì chúng ta mới biết chính xác, còn khi chúng ta không thực hành cảm giác toàn thân thì chúng ta không biết đến sự vận hành của tham, sân, si ra sao. Và chúng ta không biết nó thì không trị nó được.
“Này các Tỷ-kheo, Ta giảng sự diệt tận các lậu hoặc cho người biết, cho người thấy, không phải cho người không biết, cho người không thấy.”
(Kinh Tất cả lậu hoặc – Trung bộ kinh)
Vậy Đức Phật đã nói thấy gì và biết gì? Đó là thấy biết về ngũ uẩn, về cảm thọ. Nếu giờ chúng ta không thực tập cảm giác toàn thân, không biết, không thực tập và hành trì thì làm sao chúng ta nhiếp phục được vì nó nằm trong người chúng ta, “không vào chăn sao biết được chăn có rận?” Tham, sân, si nằm trong cảm thọ mà chúng ta lại không biết cảm thọ thì chúng ta làm sao nhiếp phục được tham, sân, si? Và tất cả công trình tu hành của chúng ta là công trình phát giác, phát hiện, nhiếp phục, đoạn tận tham, sân, si. Nhưng chúng ta không biết được chỗ ở, địa chỉ, hang ổ, sào huyệt của nó thì làm sao chúng ta nhiếp phục?
Nên cảm giác toàn thân, khi giận lên thì nó sẽ nóng ở lồng ngực trước, từ ngực rồi lên mặt, tai, mắt, miệng, đến cả đầu. Nó lan tỏa ra thì bên trong phừng phừng, hỏa bốc ra, nhiệt tăng lên. Khi chúng ta cảm giác toàn thân, có một sự biến đổi, biến động, xúc động mạnh như vậy thì chúng ta đã biết được “tới rồi” và có phương pháp hóa giải, nhiếp phục nó.
Còn nếu chúng ta không có cảm giác toàn thân thì khi đó sẽ là “Tôi đang giận, tôi giận, tôi tức, tôi đang sân, khó chịu!” thì tức là chúng đã nhập cuộc với ngũ uẩn mà chúng ta không thấy đó là thọ đang biến động, cảm xúc sân, hay cảm giác bực bội, bức xúc, nhiệt não, khi chúng ta nhận diện được cảm thọ, cảm xúc, cảm giác như vậy làm cho chúng ta tách ra cảm thọ.
Nếu như chúng ta không biết cảm thọ là cảm thọ, cảm xúc là cảm xúc, cảm giác là cảm giác thì lúc đó chúng ta đã nhập cuộc với đó làm một và nói “Tôi đang giận!”.
Vì vậy, chúng ta học phải có sự thực tập, còn nói như “Tôi đang giận” thì lúc đó rất nhiều, rất thường, đó là chúng ta không thấy được cảm thọ.
Đó là nói về cảm thọ sân, còn đối với cảm thọ si thì xuất hiện ở đâu? Nếu chúng ta thực tập cảm giác toàn thân thì chúng ta sẽ biết nó ở đâu, còn không thực tập thì nó xuất hiện sẽ khiến chúng ta nhập cuộc và dẫn chúng ta đi.
Cảm thọ si xuất hiện ở con mắt và đầu. Khi cảm thọ si sanh khởi thì hai mắt sụp xuống, đơ đơ, lờ mờ. Khi chúng ta có an trú cảm giác toàn thân thì cái si xuất hiện, lập tức chúng ta biết được ngay. Nếu có sự rục rịch, nhút nhích, động đậy trong cảm thọ thì chúng ta biết được ngay. Vì chúng ta an trú trong cảm giác toàn thân thì giống như một người bảo vệ gác cửa thì khi có người nào bén mảng tới hay người nào đi vào thì sẽ biết được ngay.
Nên đối với cảm giác toàn thân mà chúng ta trú trong chỗ này cũng giống vậy. Cho nên chúng ta bị hôn trầm xâm nhập, áp đảo chúng ta cho tới khi chúng ta ngã quỵ xuống ngay giữa chiến trường? Khi ngồi thiền nhưng để ngủ gật, hay như vào lớp học mà nằm dài như vậy thì chúng ta như là kẻ bại trận, thất bại, hạ liệt, thua trận. Nhất là khi trong giờ học, giờ tu, ngoài giờ nếu không đúng giờ ngủ mà chúng ta ngủ thì cũng là bại trận, đó là bị năm triền cái.
Vậy nên trở lại cảm giác toàn thân này để chúng ta nhận diện ra được những cái gì đang xuất hiện tiêu cực trong thân tâm của chúng ta. Những điều này Minh Thành đã hướng dẫn rất nhiều lần, nên sẽ không nói kĩ mà chỉ nói tổng quát để cho các quý huynh đệ mới nắm để về nhà chịu khó lên nghe những bài giảng lúc trước cho sơ cấp và trung cấp. Các huynh đệ chịu khó nghe chủ đề tham, sân, si.
Đối với dục, khi cảm giác toàn thân sanh khởi thì xuất hiện ở đâu? Tham dục là ở nơi phát dục, ở nơi khởi động. Khi cảm giác toàn thân thì chúng ta mới biết được tham, sân, si đều xuất hiện ở một nơi, nhưng gốc là ở thọ uẩn, nhưng ngọn của nó biểu hiện trên thân, từng nơi trên thân. Khi chúng ta đã phát giác, phát hiện ra những việc này đã là một bước tiến bộ trong sự tu.
Vậy nên chúng ta phải canh chừng, phòng chừng, đề phòng để phát giác, phát hiện ra và xử lý kịp thời. Đừng để cho những cảm xúc bực bội, si ám, tham dục tràn ngập trong ngũ uẩn, lúc đó thì chúng ta hoàn toàn gục ngã, ngã gục.
IV. Nội tâm tỉnh giác
Đó là Minh Thành nói sơ lược tại sao chúng ta tu cảm giác toàn thân. Ví dụ như bây giờ chúng ta an trú cảm giác toàn thân, từ đỉnh đầu đến gót chân thì cảm giác toàn thân này vững trú, vững chãi, vững chắc, vững mạnh, vững bền thì khi một tiếng chuông ra chơi reo lên thì chúng ta vẫn ngồi bình thản. Còn khi không an trú cảm giác toàn thân thì khi nghe tiếng chuông đó thì thọ do nhĩ xúc sanh lập tức hoạt động ngay. Chúng ta sẽ thấy điều này rất vi tế và nhỏ nhiễm. Có những người an trú toàn thân khi đi cũng khác so với người không tu tập cảm giác toàn thân khi đi. Người tu nhưng không có chữ tỉnh giác, Chánh Niệm, phòng hộ, thâu nhiếp, không niệm oai nghi, niệm hành động, không hộ trì các căn, không cảm giác toàn thân thì sẽ đi trong trạng thái buông lung phóng dật, không biết chúng ta.
Một người không có sự tỉnh giác, Chánh Niệm, hộ trì căn, không tiết độ trong ăn uống, không phòng hộ, bảo vệ sáu xúc xứ (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý), không niệm oai nghi, hành động, không an trú cảm giác toàn thân thì người này ăn, ở trong trạng thái buông lung phóng dật, ở trong trạng thái của dục, tham, ái, sân hoạt động trong khi ăn. Nên sự tu tập tỉnh giác, Chánh Niệm là rất sâu sắc.
Tỉnh giác của Đức Phật đã dạy trong Nghi thức tu học kinh Nikāya:
Niệm Chánh Niệm tỉnh giác 1:
“3) -- Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo cần phải trú chánh niệm, tỉnh giác. Ðây là lời giáo giới của Ta cho các ông.
4) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo chánh niệm?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trú, quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời... quán thọ trên các thọ... quán tâm trên tâm... quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời.
Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo chánh niệm.
5) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo tỉnh giác?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi đi tới, khi đi lui, đều tỉnh giác; khi nhìn tới, khi nhìn lui, đều tỉnh giác; khi co cánh tay, duỗi cánh tay, đều tỉnh giác; khi đắp y Tăng-già-lê, khi mang y bát, đều tỉnh giác; khi ăn uống, nhai nếm, đều tỉnh giác; khi đi tiểu tiện, đại tiện, đều tỉnh giác; khi đi, đứng, ngồi, ngủ, thức, nói, im lặng, đều tỉnh giác.
Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo tỉnh giác.
6) Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo hãy chánh niệm, tỉnh giác. Ðây là lời giáo giới của Ta cho các Ông.”
(Bài kinh Chánh niệm – I. Phẩm Ambapali – Chương 3. Tương Ưng Niệm Xứ - Tương ưng bộ kinh)
Niệm Chánh Niệm tỉnh giác 2:
“Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo rõ biết khi các thọ khởi lên, rõ biết khi các thọ an trú, rõ biết khi các thọ chấm dứt, rõ biết khi các tưởng khởi lên, rõ biết khi các tưởng an trú, rõ biết khi các tưởng chấm dứt, rõ biết khi các tầm khởi lên, rõ biết khi các tầm an trú, rõ biết khi các tầm chấm dứt.
Này các Tỳ-kheo, là Tỳ-kheo Chánh Niệm tỉnh giác.”
Chúng ta thấy, khi nói ngắn gọn, Chánh Niệm là sự rõ biết ở bên ngoài, tức là đi, đứng, ngồi, nằm, co, duỗi, cúi, ngước ở ngoài oai nghi. Tỉnh giác là sự rõ biết bên trong, tỉnh giác là sự rõ biết cảm thọ sanh khởi, an trú và chấm dứt như thế nào, các tưởng, những hình bóng trong tâm khởi lên, an trú, chấm dứt ra sao và các tầm, tức suy nghĩ, khởi lên.
Ví dụ như chúng ta đang ngồi nơi đây nhưng trưa nay chúng ta về quê thì tâm sẽ hướng về quê, suy nghĩ về quê, về chùa ở quê rồi về chúng ta sẽ làm gì, đó gọi là tầm, là sự hướng tâm tầm cầu.
Vì vậy chúng ta phải biết được những trạng thái của tâm, chúng ta biết được những trạng thái của tâm thì chúng ta thấy được khó hay dễ? Điều đó đòi hỏi chúng ta phải có sự Chánh Niệm tỉnh giác phải cao độ, luôn luôn thường trực để ý vào bên trong chúng ta mới thấy được. Nên việc chúng ta nói ba pháp ở đây để thực hành.
Thứ hai là Chánh Niệm ở trước mặt, thứ ba là nội tâm tỉnh giác. Nội tâm tỉnh giác là khi có tham khởi lên chúng ta phải biết, khi có sân khởi lên chúng ta phải biết, có si khởi lên thì chúng ta phải biết và biết nó ở nơi nào, sau đó chúng ta như lý tác ý, nếu là tham dục thì dùng Quán Bất Tịnh trị nó, nếu là sân thì trải tâm từ, nếu là si thì Đức Phật dạy phải tinh cần, tinh tấn, dũng mãnh, mạnh mẽ, dùng trí tuệ đánh phá, đánh tan biến cảm giác si đó.
Điều chúng ta muốn nhấn mạnh ở đây là Chánh Niệm ở trước mặt, đặt niệm ở trước mặt, rõ biết ở trước mặt là điều rất quan trọng.
Nên khi nãy Minh Thành chia sẻ với các huynh đệ khi ngồi tĩnh tâm mấy phút trước khi học thì Minh Thành nhìn xuống đều nhắm mắt, chỉ cần nhắm vài phút thì nhìn thấy mặt “dễ thương” ngay, mặt đi vào trạng thái ngơ ngơ, mơ mơ, hôn trầm, thụy miên, mặt như nhũng, chảy ra, đó là trạng thái của si.
Nên hôm nay Minh Thành muốn nhấn mạnh, khi về ngồi thiền thì phải nắm cho được ba pháp này trong khi ngồi thiền, là chúng ta phải rõ biết ở trước mặt, mở rộng tầm nhìn sang hai bên, những gì đang có mặt ở đó thì chúng ta phải biết rõ là đang có mặt ở ngay trước mặt của chúng ta. Nhưng không phải chúng ta hướng ngoại, nhìn nơi này nơi khác, mà là nhìn xuống phía trước khoảng một mét và sự rõ biết, tầm nhìn của chúng ta hết mức ra hai bên, để sáng tỏ, rõ ràng ở phía trước mặt chúng ta, phải tinh minh, tinh anh, sáng tỏ, rõ biết, như vậy mới gọi là Chánh Niệm trước mặt, đặt niệm trước mặt, rõ biết trước mặt.
Nếu chúng ta không rõ thì như là chúng ta thua, chỉ cần sụp mắt xuống thì tất cả coi như “xong”, buổi thiền xem như đã “xong”. Vì chúng ta ngồi trong trạng thái mơ mơ, trạng thái si, hôn trầm, tưởng hoạt động, thùy miên, phóng tâm và buông lung phóng dật trong khi chúng ta đang ngồi thiền.
Chúng ta nên nhớ, rõ biết ở trước mặt, cảm giác toàn thân và nội tâm tỉnh giác là ba pháp trong khi chúng ta ngồi thiền, phải thực tập ba pháp này thật vững. Sau khi chúng ta ngồi thiền thì chúng ta cũng thực tập cảm giác toàn thân, bất cứ lúc nào, ở đâu cũng thực tập cảm giác toàn thân, rõ biết trước mặt và nội tâm tỉnh giác dù bất cứ ở chỗ nào, khi nào và lúc nào.
Vì vậy nên đó là tại sao Minh Thành phải vận chuyển, trả bài, viết bài vì khi ngồi giảng cảm giác toàn thân, đặc niệm trước mặt nhưng cứ giảng như vậy thì bên dưới sẽ đi vào trạng thái “ngủ thiền”. Nên khi chúng ta ngồi tu, Chánh Niệm trước mặt thì lúc đó chúng ta rõ biết cảnh trần, khi rõ ràng, sáng tỏ, phía trước là cái gì, chúng ta đang ngồi ở đâu, đó là thực tại, là sự thật ngay trong giây phút hiện tại, “Anh phải biết anh đang ngồi ở đâu, anh đang làm cái gì?”
Chúng ta phải biết, nếu không biết đang ngồi ở đâu hay đang làm gì thì đó là si. Vậy nên rõ biết ở trước mặt làm cho chúng ta sáng tỏ được trần cảnh, cảm giác toàn thân là chúng ta biết được trong thân của chúng ta, rõ biết được thân căn, đó là căn, trần. Đến nội tâm tỉnh giác để biết những cảm thọ nào sanh khởi lên, có tham, sân, si hay không, những hình bóng nào xuất hiện, những suy nghĩ nào đang vận hành, đó là để biết được thức.
Khi chúng ta biết được, ý thức được thọ, tưởng, hành thì sẽ rõ biết được thọ, tưởng, hành. Như vậy, chúng ta thấy được rằng một sự ngồi tu đã làm sáng tỏ hết tất cả ngũ uẩn, căn, trần, thức, mười tam giới ngay khi chúng ta đang ngồi thiền. Chánh Niệm tỉnh giác, rõ biết được cảnh, thân, tâm, rõ biết được căn, trần, thức. Nếu không là ngồi một lúc chúng ta sẽ “đi luôn”, không biết gì.
-Thích Minh Thành-
Ngày 26 tháng 04 năm 2021
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Hiện tại lạc trú PAGEREF _Toc71530725 \h 1
II. Vì sao cần phải không nhắm mắt? PAGEREF _Toc71530726 \h 2
III. Cảm giác toàn thân PAGEREF _Toc71530727 \h 3
IV. Nội tâm tỉnh giác PAGEREF _Toc71530728 \h 6
I. Hiện tại lạc trú
Xin đại chúng cảm nhận cảm giác nơi lồng ngực, mặt, đầu, vai, tay, bàn tay, lòng bàn tay, lưng, bụng, mông, chân, ống chân, lòng bàn chân. Cảm nhận cảm giác từ đỉnh đầu đến gót chân. Cảm nhận cơ thể, cảm giác toàn thân. Rõ biết ở trước mặt, mắt chúng ta nhìn xuống ở phía trước, mở rộng tầm nhìn, sáng tỏ. Rõ biết ở trước mặt Thế Tôn gọi là đặc niệm ở trước mặt hoặc là Chánh Niệm trước mặt. Đó là cảm giác toàn thân và rõ biết ở trước mặt.
Nội tâm tỉnh giác, rõ biết những suy nghĩ gì đang sanh khởi, rõ biết có hình bóng gì đang xuất hiện ở trong tâm, rõ biết cảm giác, hình bóng trong tâm và suy nghĩ.
Thở vào, thở ra, biết rõ hơi thở dài ngắn, vào ra, cảm nhận hơi thở. Thở vào, thở ra làm cho thân an tịnh, thân hành. Thở vào thở ra làm cho tâm lắng dịu, dễ chịu. Với tâm hoan hỷ, ta thở vào, với tâm hoan hỷ, ta thở ra. Thở vào với tâm hoan hỷ, an vui, thở ra với tâm an lạc trong giây phút hiện tại. Hoan hỷ và an lạc trong giây phút hiện tại.
Rõ biết ở trước mặt và đừng nhắm mắt, rõ biết toàn thân. Thở vào thở ra với tâm hân hoan. Với tâm hoan hỷ, tâm an lạc, tâm bình an, ly dục, thoát ly mọi hệ lụy của thế gian, mọi sự ràng buộc của đời sống thế tục, thoát ly mọi thế vật. Chúng ta ngồi một cách bình an, thản nhiên, an lạc trong giây phút hiện tại. Sự Chánh Niệm trong mỗi hơi thở vào ra và cảm nhận một cách sâu sắc cảm giác của toàn thân trong giây phút này.
Thật an lạc, thanh tịnh, hoan hỷ trong giây phút này, thật an vui, định tĩnh trong giờ phút này, thật hân hoan, vui sướng trong giây phút tịnh lạc này.
Trên môi chúng ta mỉm một nụ cười nhẹ, thở vào thở ra để cảm nhận hiện tại lạc trú. An trú trong giây phút hiện tại, cảm nhận sự bình an và hỷ lạc của khoảnh khắc này. Tâm của chúng ta rộng mở ra không gian của khắp giảng đường này. Rộng mở ra không gian của vùng trời đất này, cảm nhận sự rộng lớn của trời đất, sự bao la, thênh thang của hư không này, tâm cứ rộng mở, bao la trong niềm hỷ lạc, hân hoan.
Hiện tại lạc trú, là thực tập an trú tâm chúng ta trong giây phút hiện tại, để cảm nhận sự bình an, an lạc, hân hoan, an vui trong giây phút hiện tại. Để chúng ta đem tâm rong chơi trở về với giây phút hiện tại.
Hôm nay, Minh Thành muốn chia sẻ cho đại chúng về sự thực tập của hiện tại lạc trú. Khi chúng ta học nhiều pháp học, nên nay chúng ta học về pháp để thực hành.
II. Vì sao cần phải không nhắm mắt?
Khi nãy, Minh Thành nhìn thấy đại chúng, tuy hướng dẫn như vậy nhưng ở dưới đa số vẫn nhắm mắt. Nếu nhắm mắt thì chúng ta không hiện tại lạc trú được. Do chúng ta đã quen, nhưng thật sự không phải, ngồi thiền là mở mắt vừa phải và không nhắm mắt.
Nếu chúng ta nhắm mắt thì thứ nhất là dễ đi vào trong đâu? Chúng ta nên để ý, hôm nay đi vào sự thực tập thiền chỉ, sự tịnh chỉ của tâm, của thân. Khi chúng ta nhắm mắt, thứ nhất sẽ đi vào hôn trầm, trầm là chìm, hôn là hôn mê, mờ tối, chúng ta chỉ cần ngồi và nhắm mắt lại thì lập tức, rất dễ chìm vào một trạng thái mờ tối, hôn ám. Vậy nên ngồi thiền tuyệt đối không nhắm mắt, trừ các vị đã thành tựu, đạt được Thánh quả lớn, đã nhập đại định.
Thứ hai là chúng ta rơi vào trạng thái của tưởng, những hình bóng sẽ xuất hiện, hết cảnh này tới cảnh kia xuất hiện, đến khi trình pháp thì “Thưa thầy, khi nãy con nhìn thấy rất nhiều thứ!”. Đó là trạng thái của tưởng uẩn hoạt động, tổ hợp của hình ảnh sẽ xuất hiện liên tục, lúc đó chúng ta không nhận diện ngũ uẩn được mà hòa nhập với tưởng uẩn này. Chúng ta bị đồng hóa trong những hình bóng đó, nhập cuộc với chúng. Khi nhắm mắt thì tưởng uẩn hoạt động rất mạnh, nhưng lúc đó chúng ta không rạch ròi giữa bản thân và tưởng uẩn, chúng ta không nhận diện, không trạch pháp giác chi, thì lúc đó chúng ta nhập một với tưởng uẩn, vậy nên đi theo những dòng, hình bóng, tư tưởng đó, tức là chúng ta đã rơi vào tưởng uẩn.
Thứ ba, chúng ta sẽ rơi vào thụy miên (thùy miên), tức ngủ gục. Nhất là đối với những ngày chúng ta hoạt động, làm việc, tối khi về leo lên bồ đoàn thở vô thở ra và nhắm mắt lại thì chúng ta sẽ đi vào ba trạng thái này thường xuyên.
Thứ tư, nếu chúng ta không ngủ thì sẽ vọng tưởng, phóng tâm, thất niệm, hết nghĩ điều này đến nghĩ điều khác, khi đó hành uẩn hoạt động, tức là suy nghĩ, hết suy nghĩ việc này sẽ tới việc khác, từ chúng ta thường xài là từ “vọng tưởng” nhưng nhận diễn ngũ uẩn thì sẽ thấy đây là hành uẩn, là suy nghĩ lung tung, mông lung, thậm chí không ngồi thiền được.
Như vậy thì thường khi ngồi thiền chúng ta sẽ rơi vào bốn trạng thái này. Có một trạng thái khác là buông, thả trôi, phóng dật tức là “để kệ nó, ra sao cũng được”. Đây là nói khi ở trên bồ đoàn, ngay khi đang ngồi thiền, những trạng thái này sẽ xuất hiện.
Nếu như chúng ta không nhận diện được tình trạng này đang có mặt, đang vận hành, xâm chiếm chúng ta thì khi đó chúng ta nhập cuộc với chúng và sẽ bị mất Chánh Niệm, thất niệm. Lúc đó chúng ta ngồi thiền không phát sanh trí tuệ mà chỉ là sự thả lỏng, thư giãn. Và bây giờ có trường hợp người ta mượn thiền giống như sự thư giãn thì đây không phải là thiền định của Phật giáo. Giờ người ta mượn thiền, mở các khóa học hướng dẫn hay các câu lạc bộ nhưng đa số, ngay cả người tu nếu không khéo thì chúng ta hướng dẫn thành cách thiền thư giãn, giảm bớt căng thẳng, mệt mỏi. Đây chỉ đúng cho giới cư sĩ, những giới như doanh nhân, hoạt động, làm việc nhiều khiến cho họ căng thẳng, họ cần điều này, vẫn sẽ có tác dụng nhưng không phải là thiền định chính thống của Phật giáo, không phải là Chánh Định.
Chúng ta nên nhớ những bước cho thân tâm thư giãn như khi nãy, lúc đầu tiên vào, là tóm tắt sáu, bảy hơi thở đầu của Mười sáu hơi thở trong kinh Niệm xứ.
III. Cảm giác toàn thân
Vì vậy, chúng ta thấy rằng trong sự thực tập của chúng ta thì giai đoạn đầu tiên chúng ta phải trừ được năm triền cái gồm: tham dục, sân hận, hôn trầm thuỵ miên, trạo hối và hoài nghi. Đức Phật đã nói trong kinh Nikāya rất nhiều và trang Linh Quy Pháp Ấn cũng có một tiểu luận về năm triền cái, các huynh đệ có thể lấy xuống đọc. Nếu như chúng ta ngồi thiền hoặc nghe pháp bị năm điều này xâm chiếm thì ngồi thiền không đi đến kết quả. Vì vậy bây giờ chúng ta nên đi từng bước.
Thứ nhất là chúng ta cảm giác toàn thân, như khi nãy chúng ta đã thực tập. Cảm giác toàn thân này tuyệt đối quan trọng trong sự tu của chúng ta. Như Đức Phật đã nói:
“…4. Tất cả pháp lấy thọ làm chỗ tụ hội”
(Bài kinh Cội rễ của sự vật – IX. Phẩm Niệm – Chương Tám Pháp -
Tăng chi bộ kinh tập 4)
Nên nếu chúng ta không biết về cảm thọ thì chúng ta không biết gì về thân tâm của chúng ta. Vậy nên cảm giác toàn thân là nền tảng của tất cả pháp hành của Phật giáo. Và không biết thực tập cảm giác toàn thân thì chúng ta tu sẽ không đi đến sự nhiếp phục và diệt tận được tham, sân, si, vô minh và bản ngã.
Cảm giác toàn thân là khi các huynh đệ ngồi lại, cảm nhận cảm giác ở giữa lồng ngực, cảm nhận sự động chuyển của hơi thở ở giữa lồng ngực, ở mũi thở ra vào, ở bụng phồng xẹp. Đó là ba chỗ động chuyển của hơi thở, chóp mũi, lồng ngực và bụng. Từ ba chỗ đó chúng ta mới có thể cảm nhận sự lan tỏa của cảm nhận, cảm giác, cảm xúc ra mặt, tay, vai, chân, mông, bụng, ống chân, bàn chân, tất cả chúng ta cảm nhận cảm giác của toàn bộ cơ thể. Để nhằm mục đích cái gì bên trong chúng ta thì nó sẽ xuất hiện trong cảm giác toàn thân trước.
Ví dụ khi chúng ta giận lên thì nóng ở đâu trước? Có người nói ở mặt, ở đầu hay lồng ngực. Khi chúng ta thực hành cảm giác toàn thân thì chúng ta mới biết chính xác, còn khi chúng ta không thực hành cảm giác toàn thân thì chúng ta không biết đến sự vận hành của tham, sân, si ra sao. Và chúng ta không biết nó thì không trị nó được.
“Này các Tỷ-kheo, Ta giảng sự diệt tận các lậu hoặc cho người biết, cho người thấy, không phải cho người không biết, cho người không thấy.”
(Kinh Tất cả lậu hoặc – Trung bộ kinh)
Vậy Đức Phật đã nói thấy gì và biết gì? Đó là thấy biết về ngũ uẩn, về cảm thọ. Nếu giờ chúng ta không thực tập cảm giác toàn thân, không biết, không thực tập và hành trì thì làm sao chúng ta nhiếp phục được vì nó nằm trong người chúng ta, “không vào chăn sao biết được chăn có rận?” Tham, sân, si nằm trong cảm thọ mà chúng ta lại không biết cảm thọ thì chúng ta làm sao nhiếp phục được tham, sân, si? Và tất cả công trình tu hành của chúng ta là công trình phát giác, phát hiện, nhiếp phục, đoạn tận tham, sân, si. Nhưng chúng ta không biết được chỗ ở, địa chỉ, hang ổ, sào huyệt của nó thì làm sao chúng ta nhiếp phục?
Nên cảm giác toàn thân, khi giận lên thì nó sẽ nóng ở lồng ngực trước, từ ngực rồi lên mặt, tai, mắt, miệng, đến cả đầu. Nó lan tỏa ra thì bên trong phừng phừng, hỏa bốc ra, nhiệt tăng lên. Khi chúng ta cảm giác toàn thân, có một sự biến đổi, biến động, xúc động mạnh như vậy thì chúng ta đã biết được “tới rồi” và có phương pháp hóa giải, nhiếp phục nó.
Còn nếu chúng ta không có cảm giác toàn thân thì khi đó sẽ là “Tôi đang giận, tôi giận, tôi tức, tôi đang sân, khó chịu!” thì tức là chúng đã nhập cuộc với ngũ uẩn mà chúng ta không thấy đó là thọ đang biến động, cảm xúc sân, hay cảm giác bực bội, bức xúc, nhiệt não, khi chúng ta nhận diện được cảm thọ, cảm xúc, cảm giác như vậy làm cho chúng ta tách ra cảm thọ.
Nếu như chúng ta không biết cảm thọ là cảm thọ, cảm xúc là cảm xúc, cảm giác là cảm giác thì lúc đó chúng ta đã nhập cuộc với đó làm một và nói “Tôi đang giận!”.
Vì vậy, chúng ta học phải có sự thực tập, còn nói như “Tôi đang giận” thì lúc đó rất nhiều, rất thường, đó là chúng ta không thấy được cảm thọ.
Đó là nói về cảm thọ sân, còn đối với cảm thọ si thì xuất hiện ở đâu? Nếu chúng ta thực tập cảm giác toàn thân thì chúng ta sẽ biết nó ở đâu, còn không thực tập thì nó xuất hiện sẽ khiến chúng ta nhập cuộc và dẫn chúng ta đi.
Cảm thọ si xuất hiện ở con mắt và đầu. Khi cảm thọ si sanh khởi thì hai mắt sụp xuống, đơ đơ, lờ mờ. Khi chúng ta có an trú cảm giác toàn thân thì cái si xuất hiện, lập tức chúng ta biết được ngay. Nếu có sự rục rịch, nhút nhích, động đậy trong cảm thọ thì chúng ta biết được ngay. Vì chúng ta an trú trong cảm giác toàn thân thì giống như một người bảo vệ gác cửa thì khi có người nào bén mảng tới hay người nào đi vào thì sẽ biết được ngay.
Nên đối với cảm giác toàn thân mà chúng ta trú trong chỗ này cũng giống vậy. Cho nên chúng ta bị hôn trầm xâm nhập, áp đảo chúng ta cho tới khi chúng ta ngã quỵ xuống ngay giữa chiến trường? Khi ngồi thiền nhưng để ngủ gật, hay như vào lớp học mà nằm dài như vậy thì chúng ta như là kẻ bại trận, thất bại, hạ liệt, thua trận. Nhất là khi trong giờ học, giờ tu, ngoài giờ nếu không đúng giờ ngủ mà chúng ta ngủ thì cũng là bại trận, đó là bị năm triền cái.
Vậy nên trở lại cảm giác toàn thân này để chúng ta nhận diện ra được những cái gì đang xuất hiện tiêu cực trong thân tâm của chúng ta. Những điều này Minh Thành đã hướng dẫn rất nhiều lần, nên sẽ không nói kĩ mà chỉ nói tổng quát để cho các quý huynh đệ mới nắm để về nhà chịu khó lên nghe những bài giảng lúc trước cho sơ cấp và trung cấp. Các huynh đệ chịu khó nghe chủ đề tham, sân, si.
Đối với dục, khi cảm giác toàn thân sanh khởi thì xuất hiện ở đâu? Tham dục là ở nơi phát dục, ở nơi khởi động. Khi cảm giác toàn thân thì chúng ta mới biết được tham, sân, si đều xuất hiện ở một nơi, nhưng gốc là ở thọ uẩn, nhưng ngọn của nó biểu hiện trên thân, từng nơi trên thân. Khi chúng ta đã phát giác, phát hiện ra những việc này đã là một bước tiến bộ trong sự tu.
Vậy nên chúng ta phải canh chừng, phòng chừng, đề phòng để phát giác, phát hiện ra và xử lý kịp thời. Đừng để cho những cảm xúc bực bội, si ám, tham dục tràn ngập trong ngũ uẩn, lúc đó thì chúng ta hoàn toàn gục ngã, ngã gục.
IV. Nội tâm tỉnh giác
Đó là Minh Thành nói sơ lược tại sao chúng ta tu cảm giác toàn thân. Ví dụ như bây giờ chúng ta an trú cảm giác toàn thân, từ đỉnh đầu đến gót chân thì cảm giác toàn thân này vững trú, vững chãi, vững chắc, vững mạnh, vững bền thì khi một tiếng chuông ra chơi reo lên thì chúng ta vẫn ngồi bình thản. Còn khi không an trú cảm giác toàn thân thì khi nghe tiếng chuông đó thì thọ do nhĩ xúc sanh lập tức hoạt động ngay. Chúng ta sẽ thấy điều này rất vi tế và nhỏ nhiễm. Có những người an trú toàn thân khi đi cũng khác so với người không tu tập cảm giác toàn thân khi đi. Người tu nhưng không có chữ tỉnh giác, Chánh Niệm, phòng hộ, thâu nhiếp, không niệm oai nghi, niệm hành động, không hộ trì các căn, không cảm giác toàn thân thì sẽ đi trong trạng thái buông lung phóng dật, không biết chúng ta.
Một người không có sự tỉnh giác, Chánh Niệm, hộ trì căn, không tiết độ trong ăn uống, không phòng hộ, bảo vệ sáu xúc xứ (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý), không niệm oai nghi, hành động, không an trú cảm giác toàn thân thì người này ăn, ở trong trạng thái buông lung phóng dật, ở trong trạng thái của dục, tham, ái, sân hoạt động trong khi ăn. Nên sự tu tập tỉnh giác, Chánh Niệm là rất sâu sắc.
Tỉnh giác của Đức Phật đã dạy trong Nghi thức tu học kinh Nikāya:
Niệm Chánh Niệm tỉnh giác 1:
“3) -- Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo cần phải trú chánh niệm, tỉnh giác. Ðây là lời giáo giới của Ta cho các ông.
4) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo chánh niệm?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trú, quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời... quán thọ trên các thọ... quán tâm trên tâm... quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời.
Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo chánh niệm.
5) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo tỉnh giác?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi đi tới, khi đi lui, đều tỉnh giác; khi nhìn tới, khi nhìn lui, đều tỉnh giác; khi co cánh tay, duỗi cánh tay, đều tỉnh giác; khi đắp y Tăng-già-lê, khi mang y bát, đều tỉnh giác; khi ăn uống, nhai nếm, đều tỉnh giác; khi đi tiểu tiện, đại tiện, đều tỉnh giác; khi đi, đứng, ngồi, ngủ, thức, nói, im lặng, đều tỉnh giác.
Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo tỉnh giác.
6) Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo hãy chánh niệm, tỉnh giác. Ðây là lời giáo giới của Ta cho các Ông.”
(Bài kinh Chánh niệm – I. Phẩm Ambapali – Chương 3. Tương Ưng Niệm Xứ - Tương ưng bộ kinh)
Niệm Chánh Niệm tỉnh giác 2:
“Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo rõ biết khi các thọ khởi lên, rõ biết khi các thọ an trú, rõ biết khi các thọ chấm dứt, rõ biết khi các tưởng khởi lên, rõ biết khi các tưởng an trú, rõ biết khi các tưởng chấm dứt, rõ biết khi các tầm khởi lên, rõ biết khi các tầm an trú, rõ biết khi các tầm chấm dứt.
Này các Tỳ-kheo, là Tỳ-kheo Chánh Niệm tỉnh giác.”
Chúng ta thấy, khi nói ngắn gọn, Chánh Niệm là sự rõ biết ở bên ngoài, tức là đi, đứng, ngồi, nằm, co, duỗi, cúi, ngước ở ngoài oai nghi. Tỉnh giác là sự rõ biết bên trong, tỉnh giác là sự rõ biết cảm thọ sanh khởi, an trú và chấm dứt như thế nào, các tưởng, những hình bóng trong tâm khởi lên, an trú, chấm dứt ra sao và các tầm, tức suy nghĩ, khởi lên.
Ví dụ như chúng ta đang ngồi nơi đây nhưng trưa nay chúng ta về quê thì tâm sẽ hướng về quê, suy nghĩ về quê, về chùa ở quê rồi về chúng ta sẽ làm gì, đó gọi là tầm, là sự hướng tâm tầm cầu.
Vì vậy chúng ta phải biết được những trạng thái của tâm, chúng ta biết được những trạng thái của tâm thì chúng ta thấy được khó hay dễ? Điều đó đòi hỏi chúng ta phải có sự Chánh Niệm tỉnh giác phải cao độ, luôn luôn thường trực để ý vào bên trong chúng ta mới thấy được. Nên việc chúng ta nói ba pháp ở đây để thực hành.
Thứ hai là Chánh Niệm ở trước mặt, thứ ba là nội tâm tỉnh giác. Nội tâm tỉnh giác là khi có tham khởi lên chúng ta phải biết, khi có sân khởi lên chúng ta phải biết, có si khởi lên thì chúng ta phải biết và biết nó ở nơi nào, sau đó chúng ta như lý tác ý, nếu là tham dục thì dùng Quán Bất Tịnh trị nó, nếu là sân thì trải tâm từ, nếu là si thì Đức Phật dạy phải tinh cần, tinh tấn, dũng mãnh, mạnh mẽ, dùng trí tuệ đánh phá, đánh tan biến cảm giác si đó.
Điều chúng ta muốn nhấn mạnh ở đây là Chánh Niệm ở trước mặt, đặt niệm ở trước mặt, rõ biết ở trước mặt là điều rất quan trọng.
Nên khi nãy Minh Thành chia sẻ với các huynh đệ khi ngồi tĩnh tâm mấy phút trước khi học thì Minh Thành nhìn xuống đều nhắm mắt, chỉ cần nhắm vài phút thì nhìn thấy mặt “dễ thương” ngay, mặt đi vào trạng thái ngơ ngơ, mơ mơ, hôn trầm, thụy miên, mặt như nhũng, chảy ra, đó là trạng thái của si.
Nên hôm nay Minh Thành muốn nhấn mạnh, khi về ngồi thiền thì phải nắm cho được ba pháp này trong khi ngồi thiền, là chúng ta phải rõ biết ở trước mặt, mở rộng tầm nhìn sang hai bên, những gì đang có mặt ở đó thì chúng ta phải biết rõ là đang có mặt ở ngay trước mặt của chúng ta. Nhưng không phải chúng ta hướng ngoại, nhìn nơi này nơi khác, mà là nhìn xuống phía trước khoảng một mét và sự rõ biết, tầm nhìn của chúng ta hết mức ra hai bên, để sáng tỏ, rõ ràng ở phía trước mặt chúng ta, phải tinh minh, tinh anh, sáng tỏ, rõ biết, như vậy mới gọi là Chánh Niệm trước mặt, đặt niệm trước mặt, rõ biết trước mặt.
Nếu chúng ta không rõ thì như là chúng ta thua, chỉ cần sụp mắt xuống thì tất cả coi như “xong”, buổi thiền xem như đã “xong”. Vì chúng ta ngồi trong trạng thái mơ mơ, trạng thái si, hôn trầm, tưởng hoạt động, thùy miên, phóng tâm và buông lung phóng dật trong khi chúng ta đang ngồi thiền.
Chúng ta nên nhớ, rõ biết ở trước mặt, cảm giác toàn thân và nội tâm tỉnh giác là ba pháp trong khi chúng ta ngồi thiền, phải thực tập ba pháp này thật vững. Sau khi chúng ta ngồi thiền thì chúng ta cũng thực tập cảm giác toàn thân, bất cứ lúc nào, ở đâu cũng thực tập cảm giác toàn thân, rõ biết trước mặt và nội tâm tỉnh giác dù bất cứ ở chỗ nào, khi nào và lúc nào.
Vì vậy nên đó là tại sao Minh Thành phải vận chuyển, trả bài, viết bài vì khi ngồi giảng cảm giác toàn thân, đặc niệm trước mặt nhưng cứ giảng như vậy thì bên dưới sẽ đi vào trạng thái “ngủ thiền”. Nên khi chúng ta ngồi tu, Chánh Niệm trước mặt thì lúc đó chúng ta rõ biết cảnh trần, khi rõ ràng, sáng tỏ, phía trước là cái gì, chúng ta đang ngồi ở đâu, đó là thực tại, là sự thật ngay trong giây phút hiện tại, “Anh phải biết anh đang ngồi ở đâu, anh đang làm cái gì?”
Chúng ta phải biết, nếu không biết đang ngồi ở đâu hay đang làm gì thì đó là si. Vậy nên rõ biết ở trước mặt làm cho chúng ta sáng tỏ được trần cảnh, cảm giác toàn thân là chúng ta biết được trong thân của chúng ta, rõ biết được thân căn, đó là căn, trần. Đến nội tâm tỉnh giác để biết những cảm thọ nào sanh khởi lên, có tham, sân, si hay không, những hình bóng nào xuất hiện, những suy nghĩ nào đang vận hành, đó là để biết được thức.
Khi chúng ta biết được, ý thức được thọ, tưởng, hành thì sẽ rõ biết được thọ, tưởng, hành. Như vậy, chúng ta thấy được rằng một sự ngồi tu đã làm sáng tỏ hết tất cả ngũ uẩn, căn, trần, thức, mười tam giới ngay khi chúng ta đang ngồi thiền. Chánh Niệm tỉnh giác, rõ biết được cảnh, thân, tâm, rõ biết được căn, trần, thức. Nếu không là ngồi một lúc chúng ta sẽ “đi luôn”, không biết gì.