Soi Sáng Pháp Hành NIKAYA - Tại sao có tham - sân - si
TẠI SAO CÓ THAM SÂN SI
-Thích Minh Thành-
Mục Lục
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Đảnh lễ Phật Đạo Vô Thượng PAGEREF _Toc61624418 \h 1
II. Trí tuệ về Tham – Sân - Si PAGEREF _Toc61624419 \h 3
III. Suy nghĩ thoát khỏi sắc PAGEREF _Toc61624420 \h 14
I. Đảnh lễ Phật Đạo Vô Thượng
Chúng ta cùng quay mặt về màn hình để cùng nhau đảnh lễ Phật đạo vô thượng. Chúng ta sẽ đọc tám câu và lạy một lạy.
Đảnh lễ Phật đạo vô thượng, bậc vô thượng sĩ đã ra đời, phơi bày sự thật của trần gian. Vô thượng Phật đạo được khai mở, vô thượng pháp luân được vận hành. Bốn Thánh trí được Ngài khai thị, bốn sự thật được Ngài phơi bày. Dòng sanh tử được Ngài nêu rõ, cửa bất tử được Ngài mở ra. Năm thủ uẩn được Ngài chỉ rõ, vô minh dục ái được trình bày. Để diệt tận dục ái vô minh, phát tám chánh được Ngài khai thị. Ngài đã mở con đường tám chánh, mở con đường thoát khỏi trầm luân. Thoát cảnh giới Trời - Người tạm bợ, thoát địa ngục ngạ quỷ súc sanh.
Ngài đã mở con đường tám chánh, mở con đường thoát khỏi khổ đau. Mở con đường ra khỏi luân hồi, làm dừng lại những dòng nước mắt. Làm dừng cảnh oan gia trái chủ, làm dừng bao cay nghiệt hận thù. Làm chấm dứt sanh ly tử biệt, làm diệt tận phiền não khổ đau. Làm dừng sự triền miên mệt mỏi trong luân hồi chìm nổi mông lung, trong bất an lo sợ hãi hùng, trong mù mịt cô đơn cay đắng.
Ngài đã mở con đường tám chánh, mở con đường thoát khỏi khổ đau. Nay chúng con theo dấu chân Ngài, nguyện tu tập con đường tám chánh.
Thấy biết chân chánh về ngũ uẩn, suy tư chân chánh bỏ tham sân. Nói lời chân chánh không tạo nghiệp, thân hành không tạo khổ mình người. Biết nuôi mạng chân chánh theo Thánh giới, siêng năng chân chánh bốn việc cần. Quán niệm chân chánh về bốn chỗ, định tâm chân chánh theo bốn thiền. Thấy biết bốn trí về ngũ uẩn, nghĩ cách từ bỏ dục hại sân, nói lời không dối, đâm đục nhảm, làm việc lành không sát trộm dâm. Sống nuôi mạng năm nghề nên tránh, siêng hành trì chế đoạn tu trì. Quán sát nhìn thân thọ, tâm pháp, định tâm tuần tự theo bốn thiền.
Tám pháp này gọi là tám chánh, Bồ Tát tu theo tám chánh này. Ngày thoát khỏi sanh và bệnh chết, thoát luân hồi phiền não khổ đau. Tám chánh mở đường cho chánh trí, chánh giải thoát theo đó khởi sanh. Hành giả bước lên thuyền bát nhã, nhẹ nhàng ra khỏi biển trầm luân. Trầm luân sanh tử thế đủ rồi, lên thuyền tám chánh thoát khổ thôi. Các Đức Như Lai và Thánh chúng đều nhờ tám chánh thoát khổ đau. Tám chánh cỗ xe thần diệu nhất, trăm lần ra trận thắng cả trăm. Phá tan tám chỗ vô minh trú, phá tan tám tà của thế gian.
Tám chánh cỗ xe thù thắng nhất, trăm lần ra trận thắng cả trăm, dục ái, tham sân và bản ngã, tám chánh phá tan hang ổ này. Tám chánh nơi mồ chôn bản ngã, tám chánh nơi triệt phá vô minh. Tám chánh nơi diệt trừ dục ái, tám chánh nơi diệt tận tham sân.
Tám chánh chỗ vượt phàm chứng Thánh, tám chánh chỗ vượt thoát khổ đau. Tám chánh chỗ thể nhập Niết-bàn, tám chánh chỗ xa lìa phiền não. Tám chánh một lối tu hoàn hảo, tám chánh một lối tu vẹn toàn. Tám chánh một lối tu thần diệu, tám chánh một lối tu an toàn. Tám chánh một pháp hành chân chánh, tám chánh một pháp hành tinh anh. Tám chánh một pháp hành thực tế, tám chánh một pháp hành rõ ràng. Tám chánh đạo lộ bậc Chánh Giác, tám chánh đạo lộ của Thánh nhân. Tám chánh đạo lộ chân thiện mỹ, tám chánh đạo lộ bậc Trí Nhân.
Tám chánh pháp tu tối thiện xảo, tám chánh Thánh pháp chuyển tâm người. Tám chánh phát minh thần diệu nhất, tám chánh châu báu của cuộc đời. Tám chánh thần dược cho bất tử, tám chánh phương pháp thanh lọc tâm. Tám chánh thuyền bát nhã tối thượng, tám chánh đường thoát khỏi trầm luân. Tám chánh tinh hoa trí tuệ Phật, tám trí thiện xảo trí Thánh nhân. Tám chánh tinh anh sự giác ngộ, tám chánh tinh túy của Chánh Pháp. Tám chánh dấu chân các Đức Phật, tám chánh dấu chân Đức Như Lai. Tám chánh gia tài Phật để lại, tám chánh trí tuệ Phật truyền trao.
Kế thừa tám chánh kế thừa Phật đạo, kế thừa tám chánh kế thừa Phật thừa, kế thừa tám chánh kế thừa Phật trí, kế thừa tám chánh kế thừa Phật quả. Kế thừa tám chánh tối thượng thừa, kế thừa tám chánh tối thượng nhân, kế thừa tám chánh tối thượng đạo, kế thừa tám chánh tối thượng quả. Kế thừa tám chánh đạt Niết-bàn, kế thừa tám chánh phiền não tan, kế thừa tám chánh sanh tử giúp, kế thừa tám chánh hết khổ đau.
Kế thừa tám chánh là trí tuệ, kế thừa tám chánh là khôn ngoan, kế thừa tám chánh là thiện xảo, kế thừa tám chánh là tinh anh.
Tám chánh tối thượng khải hoàn ca, tám chánh tối thượng tiếng quân ca, tám chánh tối thượng giải thoát trí, tám chánh tối thượng thanh tịnh tâm. Tám chánh vô thượng Chánh Đẳng Giác, tám chánh trí giác ngộ tối cao.
Tám chánh là vô thượng Phật đạo, tám chánh là tối thượng Phật thừa, vô thượng Phật đạo đã khai mở, vô thượng pháp luân đã vận hành, Thánh trí vô thượng đã tỏa sáng, bậc vô thượng sĩ đã ra đời. Ngài đã mở con đường tám chánh, mở con đường đưa đến bình an, mở con đường ra khỏi luân hồi, mở cánh cửa bước vào bất tử.
Ngài đi trước trên đường tám chánh, theo dấu chân các Đức Như Lai, con bước sau theo dấu chân Ngài, lòng hoan hỷ trào dâng hạnh phúc. Ngài đi trước trên đường tám chánh, theo dấu chân các Đức Như Lai, nay chúng con theo dấu chân Ngài, nguyện tu tập con đường tám chánh.
Kính mời quý thầy, quý sư cô và đại chúng chúng ta ngồi xuống.
Trong thời gian chờ đợi, quý vị nào có câu hỏi hay thắc mắc chúng ta chuẩn bị để thưa hỏi sư phụ trả lời những thắc mắc trong vấn đề tu học.
II. Trí tuệ về Tham – Sân - Si
Kính thưa đại chúng chúng ta có vài câu hỏi:
Câu hỏi 1: Thưa thầy dùng như lý tác ý để đối trị tham, sân, si của hành uẩn, vậy phải dùng gì để đối trị tham, sân, si của thọ uẩn và tưởng uẩn?
Sư phụ giảng giải:
Kính thưa đại chúng, vừa rồi chúng ta thực tập thiền quán, đó là những tinh túy, tinh hoa trong kinh tạng Nikāya. Minh Thành cũng biết đại chúng có một số vị nghe cũng chưa hiểu được bao nhiêu, những vị phải có tu học, có thực tập khá khá nên trong những câu hỏi này chúng ta sẽ làm sáng tỏ luôn cho buổi thiền quán vừa rồi.
Chúng ta thấy tham, sân, si một cách hết sức bình thường, ai mà không biết nói tham, sân, si? Ai mà không biết rằng mình tu là để diệt tham, sân, si? Nhưng chúng ta chưa thấy được bộ mặt thật sự của tham, sân, si nếu chúng ta chưa nhận diện được năm uẩn, đó là điều thứ nhất.
Thứ hai là chúng ta chưa biết được cái nguy hiểm và cái tác hại cực kì nghiêm trọng và khủng khiếp của tham, sân, si.
Thứ ba là mình không biết tại sao tham, sân, si lại sanh khởi, lại tăng trưởng lớn mạnh trong thân tâm mình và đặc biệt hơn chúng ta không biết bằng cách gì để nhiếp phục tham, sân, si.
Vậy nên trí tuệ về tham, sân, si của chúng ta chưa thành tựu, chưa được tu tập một cách chân xác, chính xác, chân chính. Chính vì vậy có khi chúng ta tu năm năm, mười năm, hai mươi năm, ba mươi năm thậm chí ba bốn mươi năm nhưng chúng ta vẫn thấy tham, sân, si còn nguyên mà có khi tăng thêm, hoặc có giảm cũng là giảm ở ngoài hình thức, lắng lại được một ít. Nhưng gốc rễ là mình chưa chạm tới, đó là lý do mà tại sao chúng ta tu học không thành công.
Vì Đức Phật nói, toàn bộ sự tu hành ngay cả người xuất gia hay người tại gia, tăng sĩ hay tu sĩ thì mục đích của nó chỉ là nhiếp phục và đoạn tận tham, sân, si thôi. Do mức độ nhiếp phục và đoạn tận tới đâu, mà có thành quả, Thánh quả tương ứng. Chúng ta tu để diệt tham, sân, si cho hết khổ mà chúng ta không biết tham, sân, si nó ở đâu trong thân tâm mình và chúng ta chỉ hướng ra ngoài cầu Phật độ, cứ cầu xin Phật.
Ví dụ như giờ các cô thấy đói bụng và vào cầu “Phật cho con no!” thì có được không? Vậy giờ đói bụng thì đi ăn cơm, khát nước thì ngồi đó cầu “Phật độ cho con hết khát!” hay là đi rót nước uống cho hết khát? Phải hiểu ý nghĩa của sự cầu nguyện, nếu mình không hiểu, mình vận dụng cầu nguyện một cách lầm lạc thì trở thành mê tín.
Như vậy Đức Phật cứu độ chúng ta, hóa độ cho chúng ta, giáo hóa chúng ta, từ bi đối với chúng ta là như thế nào? Phật đã chỉ cho mình tham, sân, si ở đâu, tại sao tham, sân, si có mặt và làm thế nào để nhiếp phục tham, sân, si. Khi mình học đúng phương pháp, mình nhận diện đúng trong thân tâm của mình, làm đúng theo đó có kết quả đúng thì như vậy gọi là đắc độ, được độ.
Đầu tiên chúng ta phải biết tham, sân, si ở đâu. Đức Phật chỉ cho mình có ba loại cảm giác: cảm giác dễ chịu, cảm giác khó chịu, cảm giác không dễ chịu không khó chịu. Cảm giác vui, cảm giác khổ, cảm giác thường thường. Cảm giác vui là luôn luôn có tham, thích, khoái, ái trong đó. Cảm giác khổ, bực bội, khó chịu là luôn luôn có sân trong đó. Cảm giác thường thường, đều đều mà mình không biết bản chất của cảm giác, không biết vị ngọt, sự nguy hiểm của cảm giác và sự thoát ra khỏi cảm giác thì đó là si. Tức là trong ba cảm giác của ta là có tham, sân, si bên trong.
Quý vị đã bắt đầu thấy được tham, sân, si trong cảm giác chưa? Các vị mới đi dự đạo tràng có thấy được trong cảm giác có tham, sân, si chưa? Khi mình nóng giận lên thì chỗ nào phừng phực? Đầu tiên là lồng ngực, kế đến là bốc lên mặt, lên mũi, lên tai hay lên mắt của mình. Như vậy là khi sân, cảm giác chính yếu của nó, hang ổ của nó là ở chỗ lồng ngực, đó là chỗ cư trú của cảm giác sân.
Khi mình si, vô minh, đơ đơ ngơ ngơ, buồn ngủ thì nằm ở chỗ nào? Hai mắt của mình sụp, đầu mình nặng xuống, tức là cảm giác của si nằm ở chỗ đầu và hai mắt. Lúc ngồi thiền có cảm giác vậy không? Như vậy thì phải tác ý ngay, đánh đuổi nó ra liền, hướng tâm vào ngay chỗ con mắt để tác ý, cảm thọ thật mạnh ở phía trước, trên mặt của mình, toàn khoảng không gian ở phía trước của mình rồi mình trợn lên. Mọi người có thấy tượng tổ Bồ Đề Đạt Ma không? Phải trợn lên để đánh đuổi con ma ngủ, ma si, ma vô minh đó, sắp sửa nhập vào mình. Khi mình ngồi cứ ngả lên ngả xuống thì mắt mũi như vậy có giống ma nhập không? Người ta ngồi thiền chánh niệm tỉnh giác, tinh tấn còn mình ngồi gật lên gật xuống rồi quẹo đầu quẹo cổ, thậm chí có khi chảy nước dãi thì đó là khi con ma ngủ nhập, mình phải đánh đuổi ra, đó là chỗ thứ hai là của si.
Dục là ở chỗ phát dục, tham dục, khi sanh khởi lên thì mình cảm thấy ba chỗ động chuyển ngay lập tức, mình phải hướng tâm vào mỗi chỗ thì mình trị đúng chỗ thì mới hết. Còn nếu người ta đang nhức đầu mà mình cho thuốc đau bụng thì có hết không? Thì giờ tu cũng vậy, phải đúng bệnh, đúng thuốc, đầu tiên là phải đúng thầy và đúng phương pháp, thầy phải là một bác sĩ giỏi, từ bác sĩ giỏi đó mới ra được phương thuốc đúng đắn, đúng bệnh, đúng thuốc. Còn đối với mình thực hành xuyên suốt, nỗ lực uống thuốc đều đặn, kiêng cử, những gì bác sĩ dặn mình phải làm đúng thì bệnh của mình mới giảm, mới hết. Còn nếu mình nghĩ giờ bệnh uống đại thuốc nào cũng được thì cũng vậy.
Như vậy là đã chỉ chỗ tham, sân, si. Và giờ là tại sao tham, sân, si sanh khởi?
Tại sao tham chưa sanh đã sanh, dục chưa sanh đã sanh, mà nếu đã sanh thì tăng trưởng, phát triển quảng đại, rộng lớn, bành trướng trong tâm của mình? Vì mình cho đó là đẹp, cái đó là đẹp, trong kinh gọi là tịnh tướng. Tịnh tướng tức là cho nó là đẹp đẽ, sạch sẽ, đáng yêu, đáng thích, tức là mình đã cho tham, dục ăn để nó lớn mạnh trong thân tâm của mình.
Đức Phật đã dạy làm sao để tham chưa sanh không sanh nữa? Tham dục đã sanh thì đi đến chỗ giảm thiểu và đoạn tận? Đức Phật đã dạy là bất tịnh tướng. Tại sao quý vị ham mê, thích thú với dĩa bông ở trước mặt này? Vì quý vị cho nó là đẹp, nhưng quý vị chỉ thấy vị ngọt của dĩa bông này mà quý vị không thấy được sự nguy hiểm của dĩa bông này. Sự nguy hiểm của nó là héo úa, tàn, thối, tan rã, hôi dơ. Chính vì mình chỉ nghĩa tới vị ngọt của nó, tới sắc, hương của nó mà mình không nhìn thấy được tính chất tàn hoại, biến hoại, hủy hoại, hoại diệt, tan nát, dơ bẩn và hôi thối của nó.
Cũng vậy, đối với một món đồ, một căn nhà, đối với người xung quanh và đối với tự thân này, mình luôn nhìn thấy vị ngọt mà mình không nhìn thấy sự nguy hiểm, tác hại trong đó. Nên khi Đức Phật nói muốn cho tham chưa sanh đừng sanh và nếu đã sanh thì đi đến giảm thiểu, đoạn tận thì phải nhìn khía cạnh không sạch sẽ, tàn hoại, hủy hoại, hoại diệt của nó, như vậy là đưa mình đến sự ly tham.
Khi lúc sáng chúng ta thiền quán tới chỗ bất tịnh “Ung nhọt là thân này, này các Tỳ-kheo, giống như một ung nhọt có chín lỗ, rỉ chảy, tanh hôi, rỉ chảy ra những ghèn, nước miếng, gỉ mũi, rái tai, phân và nước tiểu, mồ hôi, máu, mủ, hãy nhàm chánh thân này, này các vị!”
Một bao máu mủ nhiều năm khổ luyến ân tình, chỉ đống thịt tanh, cả đời tham lam tiền của.
“Đầu sọ khô cài trâm giắt ngọc, túi da hôi ướp xạ xông hương, cắt lụa là che đậy máu tanh, dồi son phấn át thùng phân thối. Trang sức như thế trọn là gốc nhớp. Không thể nơi đây tự thẹn lại hướng trong ấy mến yêu."
(Bài Rộng nói về sắc thân – Vua Trần Thái Tông)
Khi nghe qua quý vị có thấy sợ sợ, ngán ngán, chán chán không? Đó là làm cho tham chưa sanh không sanh mà tham đã sanh sẽ đi đến chỗ giảm thiểu, nhiếp phục và đoạn tận.
Quý vị thường quán, thường suy xét, thường chiêm nghiệm, tư duy, tác động tâm ý mình bằng những sự quán bất tịnh như vậy thì dần dần tham của mình sẽ nhả ra, mở ra, tháo ra, đứt ra và cuối cùng thoát ra, đó gọi là xuất ly vị ngọt, sự nguy hiểm, sự xuất ra, thoát ra. Suốt ngày mình chỉ nhìn thấy đẹp, dễ thương, sạch sẽ, trắng trẻo, trơn láng, mịn màng, yêu thích, khả ái, khả hỷ, khả ý liên hệ đến dục hấp dẫn, thì khi nghĩ như vậy, dục chưa sanh sẽ sanh, dục đã sanh sẽ tăng trưởng phát triển bành trướng, quảng đại, xâm chiếm thân tâm của mình, làm cả cuộc đời của mình là thiếu thốn, khát khao, là nô lệ cho tham ái nếu mình không quán Bất Tịnh.
Quý vị có thấy quán bất tịnh này tuyệt đối quan trọng để nhiếp phục sự tham dục ở đời. Đức Thế Tôn nói rằng:
“Tất cả những gì ở đời đáng yêu hấp dẫn khởi lên tại chỗ ấy, ái được sanh khởi, tại chỗ ấy ái được an trú, cái gì ở đời đáng yêu, hấp dẫn con mắt, lỗ tai, lỗ mũi, lưỡi, miệng, thân xác này, hình hai này, hình vóc này, đó là khả ái, đáng yêu, hấp dẫn. Và tất cả chúng sanh bị hình hài này làm cho khát khao, làm nô lệ.” – Sư phụ tóm tắt.
“Tất cả những gì ở đời khả ái, hấp dẫn, khởi lên; tại chỗ ấy, ái được sanh khởi; tại chỗ ấy, ái được an trú. Và cái gì ở đời khả ái, hấp dẫn? Con mắt ở đời là khả ái, hấp dẫn khởi lên; tại chỗ ấy, ái được sanh khởi; tại chỗ ấy ái được an trú.
... Lỗ tai ở đời là khả ái, hấp dẫn...
... Lỗ mũi ở đời là khả ái, hấp dẫn...
... Lưỡi ở đời là khả ái, hấp dẫn...
... Thân ở đời là khả ái, hấp dẫn...
... Ý ở đời là khả ái, hấp dẫn khởi lên; tại chỗ ấy, ái được sanh khởi; tại chỗ ấy, ái được an trú.
– Những ai làm ái tăng trưởng, những người ấy làm sanh y tăng trưởng.
– Những ai làm sanh y tăng trưởng, những người ấy làm đau khổ tăng trưởng.
– Những ai làm đau khổ tăng trưởng, những người ấy không thể giải thoát sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não.
Ta nói rằng họ không thể giải thoát khỏi đau khổ.”
Quý vị có không? Đã mấy chục năm rồi và có khổ với nó không? Khổ với thân kế bên không? Nên tự nói “Thân ơi là thân, ta khổ với mi như vậy là đủ rồi, đủ quá rồi, ngươi đừng có đòi hỏi nữa, đừng thèm thuồng nữa, đừng khao khát, khát vọng, khát ái nữa. Khát ái bộ xương, hủ cốt hay tim, gan, phèo, phổi? Ta dẫn ngươi ra chợ bán thịt để ngươi nhìn. Khát ái một đống mà khi chiếc xe tải chạy qua một cái “rầm” rồi văng ra, cái gì văng ra?”
Quý vị có thấy bản chất của thân này như thế, bản tánh của thân này như thế, không thoát khỏi bản tánh ấy. Nhưng tại sao chúng ta cứ đam mê, ham mê, say mê, ngu mê, vô minh?
Vì không chịu quán, không tư duy, tu tập, thực tập thường xuyên và liên tục quán Ba mươi hai thể trượt và quán Chín giai đoạn tử thi, trên trang Linh Quy Pháp Ấn có những bài đó, mỗi ngày quý vị nên mở bài thiền quán đó lên, mỗi ngày nghe một lần. Như vậy, tham chưa sanh sẽ không sanh, tham đã sanh sẽ đi đến giảm thiểu, nhiếp phục và đoạn tận. Nếu mình nhìn thấy là đẹp, là sạch sẽ, đáng yêu, hấp dẫn, thì mình sẽ chết trong đó và không đi ra được.
Này các vị, những ai trước kia là người tu, thấy những gì ở đời này là đáng yêu, hấp dẫn, thường còn, vui sướng, thấy là khỏe mạnh, không bệnh, thấy là an ổn, thấy là tự ngã, thấy là tôi, những người ấy làm cho ái tăng trưởng. Những ai tu hành mà thấy trên cuộc đời này là đáng yêu, đáng thích là thường còn, vui sướng, an ổn, khỏe mạnh, là chính mình, tự ngã, là tôi, của tôi, những người ấy làm cho lớn mạnh lòng tham ái, tham dục. Những người làm cho lớn mạnh lòng tham dục, ái dục, những người ấy lớn mạnh chỗ dựa của sanh tử luân hồi.
Tức những ai làm cho chỗ dựa của sanh tử luân hồi lớn mạnh, những người ấy làm cho đau khổ lớn mạnh, tăng trưởng. Những ai làm cho đau khổ lớn mạnh, tăng trưởng, phát triển, những người ấy không thể thoát khỏi sanh, già, bệnh, chết, sầu, bi, khổ, ưu não. Ta nói rằng họ không thể giải thoát khỏi khổ đau.
Tức những ai cho rằng thân xác này, những đồ vật chung quanh này, đời sống này, là đáng yêu, là hấp dẫn, là thường còn, vui sướng, khỏe mạnh, không bệnh, an ổn, là tự ngã chính mình, chính những người đó làm tăng trưởng lòng tham ái, dục vọng. Người làm tăng trưởng lòng tham ái dục vọng thì người đó làm lớn mạnh cho chỗ dựa của tái sanh. Và người làm lớn mạnh chỗ dựa của tái sanh thì người đó làm lớn mạnh khổ đau, đau khổ. Những ai làm cho lớn mạnh đau khổ, những người đó không thể giải thoát, sanh già, bệnh, chết, sầu bi, khổ ưu não. Ta nói rằng họ không thể giải thoát khỏi khổ đau.
“Còn những ai, này các Tỷ-kheo, trong hiện tại là Sa-môn hay Bà-la-môn, thấy những gì khả ái, hấp dẫn ở đời là vô thường, thấy là khổ, thấy là vô ngã, thấy là bệnh, thấy là đáng sợ hãi, họ từ bỏ ái.”
Nên thấy thế giới này là trống rỗng, trống trơn, trống không.
Bây giờ đã có hơn 1,8 triệu người chết và mấy chục triệu người nhiễm bệnh.
Đức Phật đã dạy:
“Này các Tỷ-kheo, những ai trong hiện tại là Samôn hay Bà-la-môn thấy những gì ở đời khả ái, hấp dẫn là thường còn, thấy là lạc, thấy là tự ngã, thấy là vô bệnh, thấy là an ổn, những người ấy làm ái tăng trưởng.
Những ai làm ái tăng trưởng, những người ấy làm sanh y tăng trưởng. Những ai làm sanh y tăng trưởng, những người ấy làm đau khổ tăng trưởng. Những ai làm đau khổ tăng trưởng, những người ấy không thể giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não.
Ta nói rằng họ không thể giải thoát khỏi đau khổ.”
Đây là lời của bậc Chí Chơn Chánh Đẳng Giác trong Tương Ưng Bộ Kinh tập 2, là lời nói của bậc chứng ngộ hoàn toàn, triệt để, tối thượng giữa chư thiên và loài người.
“Còn những ai, này các Tỷ-kheo, trong hiện tại là Sa-môn hay Bà-la-môn, thấy những gì khả ái, hấp dẫn ở đời là vô thường, thấy là khổ, thấy là vô ngã, thấy là bệnh, thấy là đáng sợ hãi, họ từ bỏ ái.
Những ai từ bỏ ái, những người ấy từ bỏ sanh y. Những ai từ bỏ sanh y, những người ấy từ bỏ đau khổ. Những ai từ bỏ đau khổ, những người ấy sẽ giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói họ sẽ giải thoát khỏi đau khổ.”
Đức Thế Tôn ví dụ rất hay,
“Ví như, này các Tỷ-kheo, một bình nước bằng đồng có sắc, có hương, có vị, nhưng bị pha thuốc độc. Rồi có người đi đến, bị nóng bức bách, bị nóng áp đảo, mệt mỏi, run rẩy, khát nước. Có những người nói với người ấy: "Này Bạn, bình nước bằng đồng này có sắc, có hương, có vị, nhưng bình nước uống ấy bị pha thuốc độc. Nếu Bạn muốn, hãy uống. Trong khi uống, Bạn sẽ thích thú về sắc, về hương, về vị. Sau khi uống, do nhân duyên ấy Bạn có thể đi đến chết, hay đau khổ gần như chết "
Và này các Tỷ-kheo, người ấy có thể suy nghĩ như sau: " Ở đây, ta có thể nhiếp phục khát nước này với uống rượu, hay nhiếp phục với ăn sữa đông (sanh tô ), hay nhiếp phục với ngậm muối, hay nhiếp phục với cháo chua. Nhưng ta không có thể uống thứ này, nó khiến ta phải bất hạnh, đau khổ lâu dài ". Người ấy sau khi suy nghĩ, không uống và từ bỏ thứ nước uống ấy. Do nhân duyên này, người ấy không đi đến chết, hay sự đau khổ gần như chết.”
(Tương ưng bộ kinh tập 2. Thiên nhân duyên, Chương I. Tương ưng nhân duyên, VII. Đại phẩm thứ bảy, Bài kinh Xúc chạm)
Tức là, một ly nước rất đẹp, trong đó là bơ sữa nhưng có độc, dù cho mình có khát nước rất nhiều nhưng mình không dám uống vì có độc. Hãy quán chiếu tham, sân, si là tam độc, những dục vọng là rắn độc, những sân hận là những ngọn lửa, khí độc và mình ngạt trong đó thì mình sẽ chết. Những cảm giác sân hận, cảm giác dục vọng, tham ái là chất độc, thuốc độc, khí độc, hơi độc, kịch độc, cực độc để chúng ta từ bỏ đó. Phải quán chiếu như vậy, nghiền ngẫm, tư duy, quán chiếu thường xuyên và liên tục.
Hãy nhớ bất tịnh tướng để gỡ tịnh tướng ra, nhìn thấy góc độ dơ bẩn, tanh hôi vô thường, tan hoại, tan nát, bệnh hoạn, bất an, đau khổ của nó, đáng sợ hãi của nó, để đánh đi lòng dục, lòng tham, lòng ái, lòng khát, lòng thèm, lòng muốn thì quý vị sẽ được an lạc dài lâu, hạnh phúc dài lâu.
Tại sao sân sanh khởi? Nãy giờ mình đã nói về tham và diệt tham, giờ tới sân thì tại sao nó sanh và làm sao nó diệt? Vì mình cho rằng nó là chướng tai gai mắt thì sân chưa sanh sẽ sanh khởi, sân đã sanh thì tăng trưởng phát triển, bành trướng quảng đại. Có bao giờ người mình giận mà mình xem người đó dễ thương không? Trong kinh gọi là chướng ngại tướng (đối ngại tướng), tức là chướng tai gai mắt, đi đứng cũng thấy ghét, nói chuyện giọng nghe cũng thấy ghét, làm gì cũng thấy không ưa, khó chịu hết. Như vậy làm cho sân chưa sanh đã sanh, giận đã sanh làm lớn mạnh, tăng trưởng, phát triển quảng đại thiêu đốt mình.
Đó là thức ăn cho sân, thức ăn cho cơn giận chính là chướng tai gai mắt trong suy nghĩ của mình, trong cảm giác của mình. Giờ làm sao để sân được lắng dịu, dập tắt? Như mình đã tu học về tâm từ và từ tâm giải thoát, sân chưa sanh sẽ không sanh khởi, sân đã sanh sẽ đi đến chỗ giảm thiểu, nhiếp phục và đoạn tận. Quý vị nên về nghe lại các bài giảng và luyện tập đến sáu tháng, không thể thực tập chỉ hai ba ngày, thì làm sao thành tựu được tâm từ? Phải thực tập nhiều năm nhiều tháng.
Khi mình nghĩ rằng mình đáng thương vì cơn giận này thiêu đốt, đối tượng kia cũng là kẻ đáng thương vì cảm giác sân hân kia thiêu đốt, như vậy chúng ta đều là nạn nhân, đều là kẻ đáng thương, thì mình có nên sân hận và đốt cháy với nhau nữa không? Bệnh hoạn, đáng thương, đau khổ mà còn làm khổ cho nhau làm gì? Mình sẽ trải từ tâm, tình thương ra mình sẽ dập tắt ngọn lửa sân.
Còn đối với si thì sao? Thức ăn của si là gì? Làm sao để nhiếp phục cái si mê? Thức ăn của si là rã rượi, buồn ngủ, biếng nhác, ăn no, làm biếng, khi đó cảm thọ si hiện ra, tưởng hiện ra hình ảnh nằm ngủ, những này si chưa sanh làm cho nó sanh, si mê đã sanh thì nó đã tăng trưởng phát triển quảng đại bàng trướng thân tâm của mình.
Làm sao để diệt si? Phải như lý tác ý, đánh đuổi cảm giác đó ra khỏi mắt, khỏi đầu mình, đánh đuổi thân tâm của mình, tác động tâm ý thoát ra khỏi thân tâm đó, phải tinh cần, tinh tấn, dũng mãnh, quán chiếu trí tuệ, khi đó si chưa sanh sẽ không sanh, si đã sanh sẽ bị nhiếp phục và đi đến chỗ đoạn tận. Phải thường xuyên tu tập, tinh cần, tinh tấn, dũng mãnh, tác động tâm ý: “Ngủ cái gì mà ngủ, đã ngủ năm mươi năm rồi, ngủ vô lượng vô biên kiếp rồi, thì ngủ gì nữa?” Mình tác ý như vậy, tác ý dùng những câu nặng nhất, mạnh nhất cho nó sanh ra cảm thọ, đánh đuổi nó ra khỏi thân tâm của mình. Lúc đó mình sẽ thấy hai mắt của mình tinh anh lên, tỏa sáng lên, như điện xẹt như lúc Tôn Ngộ Không nhảy ra từ lò bát quái, nhìn tới đâu xẹt hào quang tới đó.
Nhưng mắt mình lại sụp xuống, khi mắt sụp là si, mắt tinh anh, xẹt ra hào quang là tuệ, phá đi si.
Nãy giờ đã giải thích cho quý vị thấy được thức ăn của tham, sân, si và phương pháp diệt tham, sân, si. Tham, sân, si sanh khởi ở đâu, tại sao nó sanh, làm sao cho nó diệt? Nên câu hỏi dùng như lý tác ý để trị tham, sân, si của hành uẩn, còn thọ uẩn, tưởng uẩn thì sao thì thật sự ngũ uẩn của mình liên quan, không phải là riêng. Như Minh Thành nói về bất tịnh thì lúc đó cảm thọ của quý vị ra sao? Có thấy ngán không? Quý vị có những cái tưởng, hình bóng khi nói ra đâu thì có hiện ra không? Như câu “Đầu sọ khô cài trâm giắt ngọc”, “túi da hôi ướp xạ xông hương”, “cắt lụa là che đậy máu tanh”, “dồi son phấn át thùng phân thối”?
Phải quán chiếu sâu sắc, giảm tham ăn, tham muốn, bớt đam mê thì bớt khổ, khi nãy Đức Phật có dạy cho mình bài kinh Xúc Chạm trong Tương Ưng Bộ 2:
“Này các Tỷ-kheo, những ai trong hiện tại là Samôn hay Bà-la-môn thấy những gì ở đời khả ái, hấp dẫn là thường còn, thấy là lạc, thấy là tự ngã, thấy là vô bệnh, thấy là an ổn, những người ấy làm ái tăng trưởng.
Những ai làm ái tăng trưởng, những người ấy làm sanh y tăng trưởng. Những ai làm sanh y tăng trưởng, những người ấy làm đau khổ tăng trưởng. Những ai làm đau khổ tăng trưởng, những người ấy không thể giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não.
Ta nói rằng họ không thể giải thoát khỏi đau khổ.”
…
“Còn những ai, này các Tỷ-kheo, trong hiện tại là Sa-môn hay Bà-la-môn, thấy những gì khả ái, hấp dẫn ở đời là vô thường, thấy là khổ, thấy là vô ngã, thấy là bệnh, thấy là đáng sợ hãi, họ từ bỏ ái.
Những ai từ bỏ ái, những người ấy từ bỏ sanh y. Những ai từ bỏ sanh y, những người ấy từ bỏ đau khổ. Những ai từ bỏ đau khổ, những người ấy sẽ giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói họ sẽ giải thoát khỏi đau khổ.”
(Tương ưng bộ kinh tập 2. Thiên nhân duyên, Chương I. Tương ưng nhân duyên, VII. Đại phẩm thứ bảy, Bài kinh Xúc chạm)
Tức là, nếu nhìn thấy đáng yêu, đáng thích, đáng ham muốn thì ái tăng trưởng, thì sanh y tăng trưởng, làm cho khổ tăng trưởng, thì người đó không giải thoát khỏi khổ đau. Mình nhìn thấy đó là vô thường, là bệnh hoạn, bất an, đáng sợ hãi, thì ái sẽ đi đến chỗ chấm dứt, giảm xuống và dứt, ái dứt thì sanh y dứt, sanh y dứt thì khổ dứt, khổ dứt thì người đó thoát khỏi sanh, già, bệnh, chết, sầu, bi, khổ, ưu não và đạt được Niết-bàn, tịch diệt cứu cánh, tối thượng an lạc giải thoát.
Chúng ta thấy Đức Thế Tôn thương mình vô cùng như vậy mà mình không chịu làm con cưng có hiếu nghe lời mà mình cứ làm con bất hiếu nghịch tử. Khi thấy hôm nay là buổi tu học kết khóa, tuy Minh Thành chỉ ở đây nửa ngày thôi và đi về nhưng Minh Thành đem hết bí kíp Chánh Pháp cho quý vị, quý vị có hoan hỷ không? Hãy nhớ cho kỹ sự tu là tu cho chính mình, chính mình được thoát khổ, không phải tu cho người ta, không phải tu ngoài hình thức, tu ngoài màu sắc mà tu để tạo dáng chụp hình, không phải vậy, phải tha thiết chân thành, khép ngưỡng cung kính, bằng tất cả trái tim, tấm lòng của mình, để mong cầu, nhổ cái gốc của khổ đau. Đã khổ đủ chưa và tới đây muốn kết thúc cái khổ này, muốn giải thoát không? Vậy nên hãy nỗ lực, quyết tâm.
III. Suy nghĩ thoát khỏi sắc
Câu hỏi thứ hai:
Kính bạch thầy, con đọc trong sách có câu: Đừng nghĩ những thứ có sắc tướng, hình bóng, hãy suy nghĩ những thứ ra ngoài sắc tướng, hình bóng.
Sư phụ giảng giải:
Nãy giờ là mình suy nghĩ ra ngoài sắc tướng đấy. Tức là suy nghĩ ưa thích, khoan khoái, dính mắc, đam mê, đó là suy nghĩ theo sắc tướng, còn suy nghĩ đưa mình không ham, không thích, không mê, không tham, không chấp, không dính mắc đó gọi là suy nghĩ ra khỏi sắc, tướng.
Quý vị suy nghĩ yêu cái thân, thích cái thân này, khoái thân này hay ham thân này, tham đắm trong thân này, thì đời sau quý vị còn có cái thân nữa mà khi đó thì không biết là thân con gì, nếu thiện nghiệp là thân con người, nếu ác nghiệp nhiều thì không phải là thân con người, mà là thân con khác, có thể là con dòi, con trùng, con muỗi, kiến, gián, rệp, rận, chó, heo, gà, vịt, bò, rắn, cọp, sói, vô số những thân và mới có nói là thân súc sanh thôi, còn chưa kể thân trong địa ngục, trong ngạ quỷ hay trong cô hồn, vô số thân.
Minh Thành có một ví dụ rất đơn giản, có người hỏi “Thầy ơi quả bất lai ra sao?” thì Minh Thành thấy nếu diễn tả đúng trong kinh thì các Phật tử khó hiểu nên Minh Thành cho ví dụ như vầy. Tu giải thoát là sao? Như trên đường dài mình đi trên xe, tới một chỗ đó mình cần đi tới nhà vệ sinh, thì mình xin bác tài tìm cây xăng nào dừng lại để mình đi. Thì mình hết hồn khi thấy toilet một tháng chưa dội, nhìn thấy chóng mặt, nhức đầu, mình bước ra và nói một câu “Từ nay cho tới sau này không bao giờ tôi trở lại đây nữa!” Đó là bất lai.
Nơi đó thối không chịu nổi và dơ bẩn vô cùng, tanh hôi khủng khiếp, kinh hãi, khiếm đảm và sợ hãi và tự hứa rằng từ nay không bao giờ trở lại chỗ này nữa. Đó chính là bất lai. Quý vị thật sự nhìn thấy thân này giống vậy, thì quý vị chứng được Bất lai Thánh quả. Không cần hỏi ai nhiều, hãy tự nhìn vào tâm mình là biết.
Nên quý vị thấy đó là cả một sự tu tập hết sức là cố gắng, nỗ lực và hành trì, công phu, không phải là đơn giản, để thành tựu được trí huệ như vậy. Nên ngày nào quý vị cũng phải thực tập Bất tịnh quán và quý vị phải nhớ rằng Đức Phật áp đặt và tưởng tượng ra, nhớ điều này mà đó là sự chứng ngộ, sự thật của thân như thế nào, Đức Phật trình bày nó đúng như vậy, nhưng vì chúng ta bị một lớp da này phủ lên, thì chúng ta không nhìn thấy bên trong, thân trống rỗng, không ai trong đó, chỉ có tim, gan, máu, thịt, xương phủ ngoài một lớp da trơn láng, che hết vô vàn thứ nhớp nhơ.
Minh Thành ví dụ một việc thực tế thì quý vị sẽ thấy hết sức kinh hãi. Chỉ cần một người chết nằm tại đây và chúng ta phẫu thuật ngay tại chỗ này thì ở đây có hoảng loạn, kinh hãi, khiếp sợ, chạy xa không? Nhưng đó là thân của chính mình, vì thân mình cũng giống như vậy. Nên Đức Phật mới nói:
“Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỷ-kheo, khởi điểm không thể nêu rõ đối với lưu chuyển luân hồi của các chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc.”
(Tương ưng bộ kinh Tập 2. Thiên nhân duyên, Chương IV. Tương ưng vô thỉ, Phẩm thứ nhất, Bài kinh Cỏ và Củi)
Khát ái là khao khát và đam mê những thân xác vô thường bất tịnh như vậy. Quý vị nghĩ con chó ghẻ nó có yêu quý thân của nó không? Con dòi cũng có bản ngã của con dòi. Con chuột cống cũng có cái tôi của nó, cũng tham ái, vô minh, trong thân xác lông lá, dơ bẩn, hôi thối đó. Và tất cả chúng sanh của chúng ta, dù trúng vào thân nào cũng phình trương bản ngã lên, cũng ta đây, vênh váo, chấp ngã, ngã sợ, tôi và của tôi, ta và của ta, tao mi, mi tớ, đều là vô thỉ. Chúng sanh đã từ rất lâu bị vô minh che đậy, bị bóng tối trùm phủ, bị tham ái, khát ái trói cột và đi lanh quanh, lẩn quẩn nơi chỗ cây cột đó, như con chó bị buột vào cây cột bằng sợi dây thừng, dù có đứng, có đi thì cũng lanh quanh cây cột đó. Có ăn có ngủ thì cũng chỉ ngay cây cột đó, tất cả chúng sanh có đi đứng ngồi nằm, động tịnh cũng ở trong cây cột của vô minh và tham ái, không thoát ra được. Nếu không có bậc Chánh Đẳng Chánh Giác A-la-hán Thế Tôn xuất hiện trên cuộc đời này, tất cả chúng ta vĩnh viễn và mãi mãi không bao giờ biết được xuất ly đạo lộ, một con đường thoát ra.
Đức Thế Tôn là một chúng sanh duy nhất, độc nhất, chỉ có một mình Ngài, trong mười ngàn thế giới này chỉ xuất hiện duy nhất một bậc tối tôn, tối thượng tìm ra được một con đường thoát ra khỏi ngũ uẩn, tham, sân, si, vô minh và khát ái, đó là bậc đại đạo sư, bậc thầy của chư thiên và loài người, tối tôn, tối thượng, trí giả, kiến giả, A-la-hán, đại đạo sư của chúng ta.
Hãy lạy, kính, lễ Đức Thế Tôn bằng tất cả tấm lòng, hãy hiểu đúng về Đức Thế Tôn, về pháp của Như Lai, hãy đi trên con đường mà Thế Tôn đã đi, đã chứng ngộ và truyền đạt. Hãy cố gắng, tinh tấn, mạnh mẽ, hùng dũng vì lửa sắp cháy tới nơi rồi. Chúng ta ngồi đây là một điều hy hữu, đặc biệt, hiếm có, bất khả tư nghị, trong khi thế giới đang hoảng hãi, hoảng sợ, kinh hoàng, trống không. Hãy trân trọng giây phút này, hãy đem tất cả tấm lòng tôn kính của mình đối với Tam Bảo, với Chánh Pháp, hãy bằng tất cả trái tim của mình tu học.
Chúng ta nên biết rằng chúng ta có còn được an ổn để cùng nhau ngồi tu như vầy nữa hay không? Cả thế giớ này là tổ hợp của các thảm họa, thiên tai, dịch bệnh, bạo loạn, chiến tranh. Hãy nỗ lực nhiếp phục tham, sân, si, nỗ lực đoạn tận tham, sân, si, nỗ lực quyết tâm vượt ra, thoát ra, bước lên con thuyền bát nhã tối thượng này.
Xin mời đại chúng chúng ta đứng lên lễ Phật.
-Thích Minh Thành-
Mục Lục
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Đảnh lễ Phật Đạo Vô Thượng PAGEREF _Toc61624418 \h 1
II. Trí tuệ về Tham – Sân - Si PAGEREF _Toc61624419 \h 3
III. Suy nghĩ thoát khỏi sắc PAGEREF _Toc61624420 \h 14
I. Đảnh lễ Phật Đạo Vô Thượng
Chúng ta cùng quay mặt về màn hình để cùng nhau đảnh lễ Phật đạo vô thượng. Chúng ta sẽ đọc tám câu và lạy một lạy.
Đảnh lễ Phật đạo vô thượng, bậc vô thượng sĩ đã ra đời, phơi bày sự thật của trần gian. Vô thượng Phật đạo được khai mở, vô thượng pháp luân được vận hành. Bốn Thánh trí được Ngài khai thị, bốn sự thật được Ngài phơi bày. Dòng sanh tử được Ngài nêu rõ, cửa bất tử được Ngài mở ra. Năm thủ uẩn được Ngài chỉ rõ, vô minh dục ái được trình bày. Để diệt tận dục ái vô minh, phát tám chánh được Ngài khai thị. Ngài đã mở con đường tám chánh, mở con đường thoát khỏi trầm luân. Thoát cảnh giới Trời - Người tạm bợ, thoát địa ngục ngạ quỷ súc sanh.
Ngài đã mở con đường tám chánh, mở con đường thoát khỏi khổ đau. Mở con đường ra khỏi luân hồi, làm dừng lại những dòng nước mắt. Làm dừng cảnh oan gia trái chủ, làm dừng bao cay nghiệt hận thù. Làm chấm dứt sanh ly tử biệt, làm diệt tận phiền não khổ đau. Làm dừng sự triền miên mệt mỏi trong luân hồi chìm nổi mông lung, trong bất an lo sợ hãi hùng, trong mù mịt cô đơn cay đắng.
Ngài đã mở con đường tám chánh, mở con đường thoát khỏi khổ đau. Nay chúng con theo dấu chân Ngài, nguyện tu tập con đường tám chánh.
Thấy biết chân chánh về ngũ uẩn, suy tư chân chánh bỏ tham sân. Nói lời chân chánh không tạo nghiệp, thân hành không tạo khổ mình người. Biết nuôi mạng chân chánh theo Thánh giới, siêng năng chân chánh bốn việc cần. Quán niệm chân chánh về bốn chỗ, định tâm chân chánh theo bốn thiền. Thấy biết bốn trí về ngũ uẩn, nghĩ cách từ bỏ dục hại sân, nói lời không dối, đâm đục nhảm, làm việc lành không sát trộm dâm. Sống nuôi mạng năm nghề nên tránh, siêng hành trì chế đoạn tu trì. Quán sát nhìn thân thọ, tâm pháp, định tâm tuần tự theo bốn thiền.
Tám pháp này gọi là tám chánh, Bồ Tát tu theo tám chánh này. Ngày thoát khỏi sanh và bệnh chết, thoát luân hồi phiền não khổ đau. Tám chánh mở đường cho chánh trí, chánh giải thoát theo đó khởi sanh. Hành giả bước lên thuyền bát nhã, nhẹ nhàng ra khỏi biển trầm luân. Trầm luân sanh tử thế đủ rồi, lên thuyền tám chánh thoát khổ thôi. Các Đức Như Lai và Thánh chúng đều nhờ tám chánh thoát khổ đau. Tám chánh cỗ xe thần diệu nhất, trăm lần ra trận thắng cả trăm. Phá tan tám chỗ vô minh trú, phá tan tám tà của thế gian.
Tám chánh cỗ xe thù thắng nhất, trăm lần ra trận thắng cả trăm, dục ái, tham sân và bản ngã, tám chánh phá tan hang ổ này. Tám chánh nơi mồ chôn bản ngã, tám chánh nơi triệt phá vô minh. Tám chánh nơi diệt trừ dục ái, tám chánh nơi diệt tận tham sân.
Tám chánh chỗ vượt phàm chứng Thánh, tám chánh chỗ vượt thoát khổ đau. Tám chánh chỗ thể nhập Niết-bàn, tám chánh chỗ xa lìa phiền não. Tám chánh một lối tu hoàn hảo, tám chánh một lối tu vẹn toàn. Tám chánh một lối tu thần diệu, tám chánh một lối tu an toàn. Tám chánh một pháp hành chân chánh, tám chánh một pháp hành tinh anh. Tám chánh một pháp hành thực tế, tám chánh một pháp hành rõ ràng. Tám chánh đạo lộ bậc Chánh Giác, tám chánh đạo lộ của Thánh nhân. Tám chánh đạo lộ chân thiện mỹ, tám chánh đạo lộ bậc Trí Nhân.
Tám chánh pháp tu tối thiện xảo, tám chánh Thánh pháp chuyển tâm người. Tám chánh phát minh thần diệu nhất, tám chánh châu báu của cuộc đời. Tám chánh thần dược cho bất tử, tám chánh phương pháp thanh lọc tâm. Tám chánh thuyền bát nhã tối thượng, tám chánh đường thoát khỏi trầm luân. Tám chánh tinh hoa trí tuệ Phật, tám trí thiện xảo trí Thánh nhân. Tám chánh tinh anh sự giác ngộ, tám chánh tinh túy của Chánh Pháp. Tám chánh dấu chân các Đức Phật, tám chánh dấu chân Đức Như Lai. Tám chánh gia tài Phật để lại, tám chánh trí tuệ Phật truyền trao.
Kế thừa tám chánh kế thừa Phật đạo, kế thừa tám chánh kế thừa Phật thừa, kế thừa tám chánh kế thừa Phật trí, kế thừa tám chánh kế thừa Phật quả. Kế thừa tám chánh tối thượng thừa, kế thừa tám chánh tối thượng nhân, kế thừa tám chánh tối thượng đạo, kế thừa tám chánh tối thượng quả. Kế thừa tám chánh đạt Niết-bàn, kế thừa tám chánh phiền não tan, kế thừa tám chánh sanh tử giúp, kế thừa tám chánh hết khổ đau.
Kế thừa tám chánh là trí tuệ, kế thừa tám chánh là khôn ngoan, kế thừa tám chánh là thiện xảo, kế thừa tám chánh là tinh anh.
Tám chánh tối thượng khải hoàn ca, tám chánh tối thượng tiếng quân ca, tám chánh tối thượng giải thoát trí, tám chánh tối thượng thanh tịnh tâm. Tám chánh vô thượng Chánh Đẳng Giác, tám chánh trí giác ngộ tối cao.
Tám chánh là vô thượng Phật đạo, tám chánh là tối thượng Phật thừa, vô thượng Phật đạo đã khai mở, vô thượng pháp luân đã vận hành, Thánh trí vô thượng đã tỏa sáng, bậc vô thượng sĩ đã ra đời. Ngài đã mở con đường tám chánh, mở con đường đưa đến bình an, mở con đường ra khỏi luân hồi, mở cánh cửa bước vào bất tử.
Ngài đi trước trên đường tám chánh, theo dấu chân các Đức Như Lai, con bước sau theo dấu chân Ngài, lòng hoan hỷ trào dâng hạnh phúc. Ngài đi trước trên đường tám chánh, theo dấu chân các Đức Như Lai, nay chúng con theo dấu chân Ngài, nguyện tu tập con đường tám chánh.
Kính mời quý thầy, quý sư cô và đại chúng chúng ta ngồi xuống.
Trong thời gian chờ đợi, quý vị nào có câu hỏi hay thắc mắc chúng ta chuẩn bị để thưa hỏi sư phụ trả lời những thắc mắc trong vấn đề tu học.
II. Trí tuệ về Tham – Sân - Si
Kính thưa đại chúng chúng ta có vài câu hỏi:
Câu hỏi 1: Thưa thầy dùng như lý tác ý để đối trị tham, sân, si của hành uẩn, vậy phải dùng gì để đối trị tham, sân, si của thọ uẩn và tưởng uẩn?
Sư phụ giảng giải:
Kính thưa đại chúng, vừa rồi chúng ta thực tập thiền quán, đó là những tinh túy, tinh hoa trong kinh tạng Nikāya. Minh Thành cũng biết đại chúng có một số vị nghe cũng chưa hiểu được bao nhiêu, những vị phải có tu học, có thực tập khá khá nên trong những câu hỏi này chúng ta sẽ làm sáng tỏ luôn cho buổi thiền quán vừa rồi.
Chúng ta thấy tham, sân, si một cách hết sức bình thường, ai mà không biết nói tham, sân, si? Ai mà không biết rằng mình tu là để diệt tham, sân, si? Nhưng chúng ta chưa thấy được bộ mặt thật sự của tham, sân, si nếu chúng ta chưa nhận diện được năm uẩn, đó là điều thứ nhất.
Thứ hai là chúng ta chưa biết được cái nguy hiểm và cái tác hại cực kì nghiêm trọng và khủng khiếp của tham, sân, si.
Thứ ba là mình không biết tại sao tham, sân, si lại sanh khởi, lại tăng trưởng lớn mạnh trong thân tâm mình và đặc biệt hơn chúng ta không biết bằng cách gì để nhiếp phục tham, sân, si.
Vậy nên trí tuệ về tham, sân, si của chúng ta chưa thành tựu, chưa được tu tập một cách chân xác, chính xác, chân chính. Chính vì vậy có khi chúng ta tu năm năm, mười năm, hai mươi năm, ba mươi năm thậm chí ba bốn mươi năm nhưng chúng ta vẫn thấy tham, sân, si còn nguyên mà có khi tăng thêm, hoặc có giảm cũng là giảm ở ngoài hình thức, lắng lại được một ít. Nhưng gốc rễ là mình chưa chạm tới, đó là lý do mà tại sao chúng ta tu học không thành công.
Vì Đức Phật nói, toàn bộ sự tu hành ngay cả người xuất gia hay người tại gia, tăng sĩ hay tu sĩ thì mục đích của nó chỉ là nhiếp phục và đoạn tận tham, sân, si thôi. Do mức độ nhiếp phục và đoạn tận tới đâu, mà có thành quả, Thánh quả tương ứng. Chúng ta tu để diệt tham, sân, si cho hết khổ mà chúng ta không biết tham, sân, si nó ở đâu trong thân tâm mình và chúng ta chỉ hướng ra ngoài cầu Phật độ, cứ cầu xin Phật.
Ví dụ như giờ các cô thấy đói bụng và vào cầu “Phật cho con no!” thì có được không? Vậy giờ đói bụng thì đi ăn cơm, khát nước thì ngồi đó cầu “Phật độ cho con hết khát!” hay là đi rót nước uống cho hết khát? Phải hiểu ý nghĩa của sự cầu nguyện, nếu mình không hiểu, mình vận dụng cầu nguyện một cách lầm lạc thì trở thành mê tín.
Như vậy Đức Phật cứu độ chúng ta, hóa độ cho chúng ta, giáo hóa chúng ta, từ bi đối với chúng ta là như thế nào? Phật đã chỉ cho mình tham, sân, si ở đâu, tại sao tham, sân, si có mặt và làm thế nào để nhiếp phục tham, sân, si. Khi mình học đúng phương pháp, mình nhận diện đúng trong thân tâm của mình, làm đúng theo đó có kết quả đúng thì như vậy gọi là đắc độ, được độ.
Đầu tiên chúng ta phải biết tham, sân, si ở đâu. Đức Phật chỉ cho mình có ba loại cảm giác: cảm giác dễ chịu, cảm giác khó chịu, cảm giác không dễ chịu không khó chịu. Cảm giác vui, cảm giác khổ, cảm giác thường thường. Cảm giác vui là luôn luôn có tham, thích, khoái, ái trong đó. Cảm giác khổ, bực bội, khó chịu là luôn luôn có sân trong đó. Cảm giác thường thường, đều đều mà mình không biết bản chất của cảm giác, không biết vị ngọt, sự nguy hiểm của cảm giác và sự thoát ra khỏi cảm giác thì đó là si. Tức là trong ba cảm giác của ta là có tham, sân, si bên trong.
Quý vị đã bắt đầu thấy được tham, sân, si trong cảm giác chưa? Các vị mới đi dự đạo tràng có thấy được trong cảm giác có tham, sân, si chưa? Khi mình nóng giận lên thì chỗ nào phừng phực? Đầu tiên là lồng ngực, kế đến là bốc lên mặt, lên mũi, lên tai hay lên mắt của mình. Như vậy là khi sân, cảm giác chính yếu của nó, hang ổ của nó là ở chỗ lồng ngực, đó là chỗ cư trú của cảm giác sân.
Khi mình si, vô minh, đơ đơ ngơ ngơ, buồn ngủ thì nằm ở chỗ nào? Hai mắt của mình sụp, đầu mình nặng xuống, tức là cảm giác của si nằm ở chỗ đầu và hai mắt. Lúc ngồi thiền có cảm giác vậy không? Như vậy thì phải tác ý ngay, đánh đuổi nó ra liền, hướng tâm vào ngay chỗ con mắt để tác ý, cảm thọ thật mạnh ở phía trước, trên mặt của mình, toàn khoảng không gian ở phía trước của mình rồi mình trợn lên. Mọi người có thấy tượng tổ Bồ Đề Đạt Ma không? Phải trợn lên để đánh đuổi con ma ngủ, ma si, ma vô minh đó, sắp sửa nhập vào mình. Khi mình ngồi cứ ngả lên ngả xuống thì mắt mũi như vậy có giống ma nhập không? Người ta ngồi thiền chánh niệm tỉnh giác, tinh tấn còn mình ngồi gật lên gật xuống rồi quẹo đầu quẹo cổ, thậm chí có khi chảy nước dãi thì đó là khi con ma ngủ nhập, mình phải đánh đuổi ra, đó là chỗ thứ hai là của si.
Dục là ở chỗ phát dục, tham dục, khi sanh khởi lên thì mình cảm thấy ba chỗ động chuyển ngay lập tức, mình phải hướng tâm vào mỗi chỗ thì mình trị đúng chỗ thì mới hết. Còn nếu người ta đang nhức đầu mà mình cho thuốc đau bụng thì có hết không? Thì giờ tu cũng vậy, phải đúng bệnh, đúng thuốc, đầu tiên là phải đúng thầy và đúng phương pháp, thầy phải là một bác sĩ giỏi, từ bác sĩ giỏi đó mới ra được phương thuốc đúng đắn, đúng bệnh, đúng thuốc. Còn đối với mình thực hành xuyên suốt, nỗ lực uống thuốc đều đặn, kiêng cử, những gì bác sĩ dặn mình phải làm đúng thì bệnh của mình mới giảm, mới hết. Còn nếu mình nghĩ giờ bệnh uống đại thuốc nào cũng được thì cũng vậy.
Như vậy là đã chỉ chỗ tham, sân, si. Và giờ là tại sao tham, sân, si sanh khởi?
Tại sao tham chưa sanh đã sanh, dục chưa sanh đã sanh, mà nếu đã sanh thì tăng trưởng, phát triển quảng đại, rộng lớn, bành trướng trong tâm của mình? Vì mình cho đó là đẹp, cái đó là đẹp, trong kinh gọi là tịnh tướng. Tịnh tướng tức là cho nó là đẹp đẽ, sạch sẽ, đáng yêu, đáng thích, tức là mình đã cho tham, dục ăn để nó lớn mạnh trong thân tâm của mình.
Đức Phật đã dạy làm sao để tham chưa sanh không sanh nữa? Tham dục đã sanh thì đi đến chỗ giảm thiểu và đoạn tận? Đức Phật đã dạy là bất tịnh tướng. Tại sao quý vị ham mê, thích thú với dĩa bông ở trước mặt này? Vì quý vị cho nó là đẹp, nhưng quý vị chỉ thấy vị ngọt của dĩa bông này mà quý vị không thấy được sự nguy hiểm của dĩa bông này. Sự nguy hiểm của nó là héo úa, tàn, thối, tan rã, hôi dơ. Chính vì mình chỉ nghĩa tới vị ngọt của nó, tới sắc, hương của nó mà mình không nhìn thấy được tính chất tàn hoại, biến hoại, hủy hoại, hoại diệt, tan nát, dơ bẩn và hôi thối của nó.
Cũng vậy, đối với một món đồ, một căn nhà, đối với người xung quanh và đối với tự thân này, mình luôn nhìn thấy vị ngọt mà mình không nhìn thấy sự nguy hiểm, tác hại trong đó. Nên khi Đức Phật nói muốn cho tham chưa sanh đừng sanh và nếu đã sanh thì đi đến giảm thiểu, đoạn tận thì phải nhìn khía cạnh không sạch sẽ, tàn hoại, hủy hoại, hoại diệt của nó, như vậy là đưa mình đến sự ly tham.
Khi lúc sáng chúng ta thiền quán tới chỗ bất tịnh “Ung nhọt là thân này, này các Tỳ-kheo, giống như một ung nhọt có chín lỗ, rỉ chảy, tanh hôi, rỉ chảy ra những ghèn, nước miếng, gỉ mũi, rái tai, phân và nước tiểu, mồ hôi, máu, mủ, hãy nhàm chánh thân này, này các vị!”
Một bao máu mủ nhiều năm khổ luyến ân tình, chỉ đống thịt tanh, cả đời tham lam tiền của.
“Đầu sọ khô cài trâm giắt ngọc, túi da hôi ướp xạ xông hương, cắt lụa là che đậy máu tanh, dồi son phấn át thùng phân thối. Trang sức như thế trọn là gốc nhớp. Không thể nơi đây tự thẹn lại hướng trong ấy mến yêu."
(Bài Rộng nói về sắc thân – Vua Trần Thái Tông)
Khi nghe qua quý vị có thấy sợ sợ, ngán ngán, chán chán không? Đó là làm cho tham chưa sanh không sanh mà tham đã sanh sẽ đi đến chỗ giảm thiểu, nhiếp phục và đoạn tận.
Quý vị thường quán, thường suy xét, thường chiêm nghiệm, tư duy, tác động tâm ý mình bằng những sự quán bất tịnh như vậy thì dần dần tham của mình sẽ nhả ra, mở ra, tháo ra, đứt ra và cuối cùng thoát ra, đó gọi là xuất ly vị ngọt, sự nguy hiểm, sự xuất ra, thoát ra. Suốt ngày mình chỉ nhìn thấy đẹp, dễ thương, sạch sẽ, trắng trẻo, trơn láng, mịn màng, yêu thích, khả ái, khả hỷ, khả ý liên hệ đến dục hấp dẫn, thì khi nghĩ như vậy, dục chưa sanh sẽ sanh, dục đã sanh sẽ tăng trưởng phát triển bành trướng, quảng đại, xâm chiếm thân tâm của mình, làm cả cuộc đời của mình là thiếu thốn, khát khao, là nô lệ cho tham ái nếu mình không quán Bất Tịnh.
Quý vị có thấy quán bất tịnh này tuyệt đối quan trọng để nhiếp phục sự tham dục ở đời. Đức Thế Tôn nói rằng:
“Tất cả những gì ở đời đáng yêu hấp dẫn khởi lên tại chỗ ấy, ái được sanh khởi, tại chỗ ấy ái được an trú, cái gì ở đời đáng yêu, hấp dẫn con mắt, lỗ tai, lỗ mũi, lưỡi, miệng, thân xác này, hình hai này, hình vóc này, đó là khả ái, đáng yêu, hấp dẫn. Và tất cả chúng sanh bị hình hài này làm cho khát khao, làm nô lệ.” – Sư phụ tóm tắt.
“Tất cả những gì ở đời khả ái, hấp dẫn, khởi lên; tại chỗ ấy, ái được sanh khởi; tại chỗ ấy, ái được an trú. Và cái gì ở đời khả ái, hấp dẫn? Con mắt ở đời là khả ái, hấp dẫn khởi lên; tại chỗ ấy, ái được sanh khởi; tại chỗ ấy ái được an trú.
... Lỗ tai ở đời là khả ái, hấp dẫn...
... Lỗ mũi ở đời là khả ái, hấp dẫn...
... Lưỡi ở đời là khả ái, hấp dẫn...
... Thân ở đời là khả ái, hấp dẫn...
... Ý ở đời là khả ái, hấp dẫn khởi lên; tại chỗ ấy, ái được sanh khởi; tại chỗ ấy, ái được an trú.
– Những ai làm ái tăng trưởng, những người ấy làm sanh y tăng trưởng.
– Những ai làm sanh y tăng trưởng, những người ấy làm đau khổ tăng trưởng.
– Những ai làm đau khổ tăng trưởng, những người ấy không thể giải thoát sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não.
Ta nói rằng họ không thể giải thoát khỏi đau khổ.”
Quý vị có không? Đã mấy chục năm rồi và có khổ với nó không? Khổ với thân kế bên không? Nên tự nói “Thân ơi là thân, ta khổ với mi như vậy là đủ rồi, đủ quá rồi, ngươi đừng có đòi hỏi nữa, đừng thèm thuồng nữa, đừng khao khát, khát vọng, khát ái nữa. Khát ái bộ xương, hủ cốt hay tim, gan, phèo, phổi? Ta dẫn ngươi ra chợ bán thịt để ngươi nhìn. Khát ái một đống mà khi chiếc xe tải chạy qua một cái “rầm” rồi văng ra, cái gì văng ra?”
Quý vị có thấy bản chất của thân này như thế, bản tánh của thân này như thế, không thoát khỏi bản tánh ấy. Nhưng tại sao chúng ta cứ đam mê, ham mê, say mê, ngu mê, vô minh?
Vì không chịu quán, không tư duy, tu tập, thực tập thường xuyên và liên tục quán Ba mươi hai thể trượt và quán Chín giai đoạn tử thi, trên trang Linh Quy Pháp Ấn có những bài đó, mỗi ngày quý vị nên mở bài thiền quán đó lên, mỗi ngày nghe một lần. Như vậy, tham chưa sanh sẽ không sanh, tham đã sanh sẽ đi đến giảm thiểu, nhiếp phục và đoạn tận. Nếu mình nhìn thấy là đẹp, là sạch sẽ, đáng yêu, hấp dẫn, thì mình sẽ chết trong đó và không đi ra được.
Này các vị, những ai trước kia là người tu, thấy những gì ở đời này là đáng yêu, hấp dẫn, thường còn, vui sướng, thấy là khỏe mạnh, không bệnh, thấy là an ổn, thấy là tự ngã, thấy là tôi, những người ấy làm cho ái tăng trưởng. Những ai tu hành mà thấy trên cuộc đời này là đáng yêu, đáng thích là thường còn, vui sướng, an ổn, khỏe mạnh, là chính mình, tự ngã, là tôi, của tôi, những người ấy làm cho lớn mạnh lòng tham ái, tham dục. Những người làm cho lớn mạnh lòng tham dục, ái dục, những người ấy lớn mạnh chỗ dựa của sanh tử luân hồi.
Tức những ai làm cho chỗ dựa của sanh tử luân hồi lớn mạnh, những người ấy làm cho đau khổ lớn mạnh, tăng trưởng. Những ai làm cho đau khổ lớn mạnh, tăng trưởng, phát triển, những người ấy không thể thoát khỏi sanh, già, bệnh, chết, sầu, bi, khổ, ưu não. Ta nói rằng họ không thể giải thoát khỏi khổ đau.
Tức những ai cho rằng thân xác này, những đồ vật chung quanh này, đời sống này, là đáng yêu, là hấp dẫn, là thường còn, vui sướng, khỏe mạnh, không bệnh, an ổn, là tự ngã chính mình, chính những người đó làm tăng trưởng lòng tham ái, dục vọng. Người làm tăng trưởng lòng tham ái dục vọng thì người đó làm lớn mạnh cho chỗ dựa của tái sanh. Và người làm lớn mạnh chỗ dựa của tái sanh thì người đó làm lớn mạnh khổ đau, đau khổ. Những ai làm cho lớn mạnh đau khổ, những người đó không thể giải thoát, sanh già, bệnh, chết, sầu bi, khổ ưu não. Ta nói rằng họ không thể giải thoát khỏi khổ đau.
“Còn những ai, này các Tỷ-kheo, trong hiện tại là Sa-môn hay Bà-la-môn, thấy những gì khả ái, hấp dẫn ở đời là vô thường, thấy là khổ, thấy là vô ngã, thấy là bệnh, thấy là đáng sợ hãi, họ từ bỏ ái.”
Nên thấy thế giới này là trống rỗng, trống trơn, trống không.
Bây giờ đã có hơn 1,8 triệu người chết và mấy chục triệu người nhiễm bệnh.
Đức Phật đã dạy:
“Này các Tỷ-kheo, những ai trong hiện tại là Samôn hay Bà-la-môn thấy những gì ở đời khả ái, hấp dẫn là thường còn, thấy là lạc, thấy là tự ngã, thấy là vô bệnh, thấy là an ổn, những người ấy làm ái tăng trưởng.
Những ai làm ái tăng trưởng, những người ấy làm sanh y tăng trưởng. Những ai làm sanh y tăng trưởng, những người ấy làm đau khổ tăng trưởng. Những ai làm đau khổ tăng trưởng, những người ấy không thể giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não.
Ta nói rằng họ không thể giải thoát khỏi đau khổ.”
Đây là lời của bậc Chí Chơn Chánh Đẳng Giác trong Tương Ưng Bộ Kinh tập 2, là lời nói của bậc chứng ngộ hoàn toàn, triệt để, tối thượng giữa chư thiên và loài người.
“Còn những ai, này các Tỷ-kheo, trong hiện tại là Sa-môn hay Bà-la-môn, thấy những gì khả ái, hấp dẫn ở đời là vô thường, thấy là khổ, thấy là vô ngã, thấy là bệnh, thấy là đáng sợ hãi, họ từ bỏ ái.
Những ai từ bỏ ái, những người ấy từ bỏ sanh y. Những ai từ bỏ sanh y, những người ấy từ bỏ đau khổ. Những ai từ bỏ đau khổ, những người ấy sẽ giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói họ sẽ giải thoát khỏi đau khổ.”
Đức Thế Tôn ví dụ rất hay,
“Ví như, này các Tỷ-kheo, một bình nước bằng đồng có sắc, có hương, có vị, nhưng bị pha thuốc độc. Rồi có người đi đến, bị nóng bức bách, bị nóng áp đảo, mệt mỏi, run rẩy, khát nước. Có những người nói với người ấy: "Này Bạn, bình nước bằng đồng này có sắc, có hương, có vị, nhưng bình nước uống ấy bị pha thuốc độc. Nếu Bạn muốn, hãy uống. Trong khi uống, Bạn sẽ thích thú về sắc, về hương, về vị. Sau khi uống, do nhân duyên ấy Bạn có thể đi đến chết, hay đau khổ gần như chết "
Và này các Tỷ-kheo, người ấy có thể suy nghĩ như sau: " Ở đây, ta có thể nhiếp phục khát nước này với uống rượu, hay nhiếp phục với ăn sữa đông (sanh tô ), hay nhiếp phục với ngậm muối, hay nhiếp phục với cháo chua. Nhưng ta không có thể uống thứ này, nó khiến ta phải bất hạnh, đau khổ lâu dài ". Người ấy sau khi suy nghĩ, không uống và từ bỏ thứ nước uống ấy. Do nhân duyên này, người ấy không đi đến chết, hay sự đau khổ gần như chết.”
(Tương ưng bộ kinh tập 2. Thiên nhân duyên, Chương I. Tương ưng nhân duyên, VII. Đại phẩm thứ bảy, Bài kinh Xúc chạm)
Tức là, một ly nước rất đẹp, trong đó là bơ sữa nhưng có độc, dù cho mình có khát nước rất nhiều nhưng mình không dám uống vì có độc. Hãy quán chiếu tham, sân, si là tam độc, những dục vọng là rắn độc, những sân hận là những ngọn lửa, khí độc và mình ngạt trong đó thì mình sẽ chết. Những cảm giác sân hận, cảm giác dục vọng, tham ái là chất độc, thuốc độc, khí độc, hơi độc, kịch độc, cực độc để chúng ta từ bỏ đó. Phải quán chiếu như vậy, nghiền ngẫm, tư duy, quán chiếu thường xuyên và liên tục.
Hãy nhớ bất tịnh tướng để gỡ tịnh tướng ra, nhìn thấy góc độ dơ bẩn, tanh hôi vô thường, tan hoại, tan nát, bệnh hoạn, bất an, đau khổ của nó, đáng sợ hãi của nó, để đánh đi lòng dục, lòng tham, lòng ái, lòng khát, lòng thèm, lòng muốn thì quý vị sẽ được an lạc dài lâu, hạnh phúc dài lâu.
Tại sao sân sanh khởi? Nãy giờ mình đã nói về tham và diệt tham, giờ tới sân thì tại sao nó sanh và làm sao nó diệt? Vì mình cho rằng nó là chướng tai gai mắt thì sân chưa sanh sẽ sanh khởi, sân đã sanh thì tăng trưởng phát triển, bành trướng quảng đại. Có bao giờ người mình giận mà mình xem người đó dễ thương không? Trong kinh gọi là chướng ngại tướng (đối ngại tướng), tức là chướng tai gai mắt, đi đứng cũng thấy ghét, nói chuyện giọng nghe cũng thấy ghét, làm gì cũng thấy không ưa, khó chịu hết. Như vậy làm cho sân chưa sanh đã sanh, giận đã sanh làm lớn mạnh, tăng trưởng, phát triển quảng đại thiêu đốt mình.
Đó là thức ăn cho sân, thức ăn cho cơn giận chính là chướng tai gai mắt trong suy nghĩ của mình, trong cảm giác của mình. Giờ làm sao để sân được lắng dịu, dập tắt? Như mình đã tu học về tâm từ và từ tâm giải thoát, sân chưa sanh sẽ không sanh khởi, sân đã sanh sẽ đi đến chỗ giảm thiểu, nhiếp phục và đoạn tận. Quý vị nên về nghe lại các bài giảng và luyện tập đến sáu tháng, không thể thực tập chỉ hai ba ngày, thì làm sao thành tựu được tâm từ? Phải thực tập nhiều năm nhiều tháng.
Khi mình nghĩ rằng mình đáng thương vì cơn giận này thiêu đốt, đối tượng kia cũng là kẻ đáng thương vì cảm giác sân hân kia thiêu đốt, như vậy chúng ta đều là nạn nhân, đều là kẻ đáng thương, thì mình có nên sân hận và đốt cháy với nhau nữa không? Bệnh hoạn, đáng thương, đau khổ mà còn làm khổ cho nhau làm gì? Mình sẽ trải từ tâm, tình thương ra mình sẽ dập tắt ngọn lửa sân.
Còn đối với si thì sao? Thức ăn của si là gì? Làm sao để nhiếp phục cái si mê? Thức ăn của si là rã rượi, buồn ngủ, biếng nhác, ăn no, làm biếng, khi đó cảm thọ si hiện ra, tưởng hiện ra hình ảnh nằm ngủ, những này si chưa sanh làm cho nó sanh, si mê đã sanh thì nó đã tăng trưởng phát triển quảng đại bàng trướng thân tâm của mình.
Làm sao để diệt si? Phải như lý tác ý, đánh đuổi cảm giác đó ra khỏi mắt, khỏi đầu mình, đánh đuổi thân tâm của mình, tác động tâm ý thoát ra khỏi thân tâm đó, phải tinh cần, tinh tấn, dũng mãnh, quán chiếu trí tuệ, khi đó si chưa sanh sẽ không sanh, si đã sanh sẽ bị nhiếp phục và đi đến chỗ đoạn tận. Phải thường xuyên tu tập, tinh cần, tinh tấn, dũng mãnh, tác động tâm ý: “Ngủ cái gì mà ngủ, đã ngủ năm mươi năm rồi, ngủ vô lượng vô biên kiếp rồi, thì ngủ gì nữa?” Mình tác ý như vậy, tác ý dùng những câu nặng nhất, mạnh nhất cho nó sanh ra cảm thọ, đánh đuổi nó ra khỏi thân tâm của mình. Lúc đó mình sẽ thấy hai mắt của mình tinh anh lên, tỏa sáng lên, như điện xẹt như lúc Tôn Ngộ Không nhảy ra từ lò bát quái, nhìn tới đâu xẹt hào quang tới đó.
Nhưng mắt mình lại sụp xuống, khi mắt sụp là si, mắt tinh anh, xẹt ra hào quang là tuệ, phá đi si.
Nãy giờ đã giải thích cho quý vị thấy được thức ăn của tham, sân, si và phương pháp diệt tham, sân, si. Tham, sân, si sanh khởi ở đâu, tại sao nó sanh, làm sao cho nó diệt? Nên câu hỏi dùng như lý tác ý để trị tham, sân, si của hành uẩn, còn thọ uẩn, tưởng uẩn thì sao thì thật sự ngũ uẩn của mình liên quan, không phải là riêng. Như Minh Thành nói về bất tịnh thì lúc đó cảm thọ của quý vị ra sao? Có thấy ngán không? Quý vị có những cái tưởng, hình bóng khi nói ra đâu thì có hiện ra không? Như câu “Đầu sọ khô cài trâm giắt ngọc”, “túi da hôi ướp xạ xông hương”, “cắt lụa là che đậy máu tanh”, “dồi son phấn át thùng phân thối”?
Phải quán chiếu sâu sắc, giảm tham ăn, tham muốn, bớt đam mê thì bớt khổ, khi nãy Đức Phật có dạy cho mình bài kinh Xúc Chạm trong Tương Ưng Bộ 2:
“Này các Tỷ-kheo, những ai trong hiện tại là Samôn hay Bà-la-môn thấy những gì ở đời khả ái, hấp dẫn là thường còn, thấy là lạc, thấy là tự ngã, thấy là vô bệnh, thấy là an ổn, những người ấy làm ái tăng trưởng.
Những ai làm ái tăng trưởng, những người ấy làm sanh y tăng trưởng. Những ai làm sanh y tăng trưởng, những người ấy làm đau khổ tăng trưởng. Những ai làm đau khổ tăng trưởng, những người ấy không thể giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não.
Ta nói rằng họ không thể giải thoát khỏi đau khổ.”
…
“Còn những ai, này các Tỷ-kheo, trong hiện tại là Sa-môn hay Bà-la-môn, thấy những gì khả ái, hấp dẫn ở đời là vô thường, thấy là khổ, thấy là vô ngã, thấy là bệnh, thấy là đáng sợ hãi, họ từ bỏ ái.
Những ai từ bỏ ái, những người ấy từ bỏ sanh y. Những ai từ bỏ sanh y, những người ấy từ bỏ đau khổ. Những ai từ bỏ đau khổ, những người ấy sẽ giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói họ sẽ giải thoát khỏi đau khổ.”
(Tương ưng bộ kinh tập 2. Thiên nhân duyên, Chương I. Tương ưng nhân duyên, VII. Đại phẩm thứ bảy, Bài kinh Xúc chạm)
Tức là, nếu nhìn thấy đáng yêu, đáng thích, đáng ham muốn thì ái tăng trưởng, thì sanh y tăng trưởng, làm cho khổ tăng trưởng, thì người đó không giải thoát khỏi khổ đau. Mình nhìn thấy đó là vô thường, là bệnh hoạn, bất an, đáng sợ hãi, thì ái sẽ đi đến chỗ chấm dứt, giảm xuống và dứt, ái dứt thì sanh y dứt, sanh y dứt thì khổ dứt, khổ dứt thì người đó thoát khỏi sanh, già, bệnh, chết, sầu, bi, khổ, ưu não và đạt được Niết-bàn, tịch diệt cứu cánh, tối thượng an lạc giải thoát.
Chúng ta thấy Đức Thế Tôn thương mình vô cùng như vậy mà mình không chịu làm con cưng có hiếu nghe lời mà mình cứ làm con bất hiếu nghịch tử. Khi thấy hôm nay là buổi tu học kết khóa, tuy Minh Thành chỉ ở đây nửa ngày thôi và đi về nhưng Minh Thành đem hết bí kíp Chánh Pháp cho quý vị, quý vị có hoan hỷ không? Hãy nhớ cho kỹ sự tu là tu cho chính mình, chính mình được thoát khổ, không phải tu cho người ta, không phải tu ngoài hình thức, tu ngoài màu sắc mà tu để tạo dáng chụp hình, không phải vậy, phải tha thiết chân thành, khép ngưỡng cung kính, bằng tất cả trái tim, tấm lòng của mình, để mong cầu, nhổ cái gốc của khổ đau. Đã khổ đủ chưa và tới đây muốn kết thúc cái khổ này, muốn giải thoát không? Vậy nên hãy nỗ lực, quyết tâm.
III. Suy nghĩ thoát khỏi sắc
Câu hỏi thứ hai:
Kính bạch thầy, con đọc trong sách có câu: Đừng nghĩ những thứ có sắc tướng, hình bóng, hãy suy nghĩ những thứ ra ngoài sắc tướng, hình bóng.
Sư phụ giảng giải:
Nãy giờ là mình suy nghĩ ra ngoài sắc tướng đấy. Tức là suy nghĩ ưa thích, khoan khoái, dính mắc, đam mê, đó là suy nghĩ theo sắc tướng, còn suy nghĩ đưa mình không ham, không thích, không mê, không tham, không chấp, không dính mắc đó gọi là suy nghĩ ra khỏi sắc, tướng.
Quý vị suy nghĩ yêu cái thân, thích cái thân này, khoái thân này hay ham thân này, tham đắm trong thân này, thì đời sau quý vị còn có cái thân nữa mà khi đó thì không biết là thân con gì, nếu thiện nghiệp là thân con người, nếu ác nghiệp nhiều thì không phải là thân con người, mà là thân con khác, có thể là con dòi, con trùng, con muỗi, kiến, gián, rệp, rận, chó, heo, gà, vịt, bò, rắn, cọp, sói, vô số những thân và mới có nói là thân súc sanh thôi, còn chưa kể thân trong địa ngục, trong ngạ quỷ hay trong cô hồn, vô số thân.
Minh Thành có một ví dụ rất đơn giản, có người hỏi “Thầy ơi quả bất lai ra sao?” thì Minh Thành thấy nếu diễn tả đúng trong kinh thì các Phật tử khó hiểu nên Minh Thành cho ví dụ như vầy. Tu giải thoát là sao? Như trên đường dài mình đi trên xe, tới một chỗ đó mình cần đi tới nhà vệ sinh, thì mình xin bác tài tìm cây xăng nào dừng lại để mình đi. Thì mình hết hồn khi thấy toilet một tháng chưa dội, nhìn thấy chóng mặt, nhức đầu, mình bước ra và nói một câu “Từ nay cho tới sau này không bao giờ tôi trở lại đây nữa!” Đó là bất lai.
Nơi đó thối không chịu nổi và dơ bẩn vô cùng, tanh hôi khủng khiếp, kinh hãi, khiếm đảm và sợ hãi và tự hứa rằng từ nay không bao giờ trở lại chỗ này nữa. Đó chính là bất lai. Quý vị thật sự nhìn thấy thân này giống vậy, thì quý vị chứng được Bất lai Thánh quả. Không cần hỏi ai nhiều, hãy tự nhìn vào tâm mình là biết.
Nên quý vị thấy đó là cả một sự tu tập hết sức là cố gắng, nỗ lực và hành trì, công phu, không phải là đơn giản, để thành tựu được trí huệ như vậy. Nên ngày nào quý vị cũng phải thực tập Bất tịnh quán và quý vị phải nhớ rằng Đức Phật áp đặt và tưởng tượng ra, nhớ điều này mà đó là sự chứng ngộ, sự thật của thân như thế nào, Đức Phật trình bày nó đúng như vậy, nhưng vì chúng ta bị một lớp da này phủ lên, thì chúng ta không nhìn thấy bên trong, thân trống rỗng, không ai trong đó, chỉ có tim, gan, máu, thịt, xương phủ ngoài một lớp da trơn láng, che hết vô vàn thứ nhớp nhơ.
Minh Thành ví dụ một việc thực tế thì quý vị sẽ thấy hết sức kinh hãi. Chỉ cần một người chết nằm tại đây và chúng ta phẫu thuật ngay tại chỗ này thì ở đây có hoảng loạn, kinh hãi, khiếp sợ, chạy xa không? Nhưng đó là thân của chính mình, vì thân mình cũng giống như vậy. Nên Đức Phật mới nói:
“Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỷ-kheo, khởi điểm không thể nêu rõ đối với lưu chuyển luân hồi của các chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc.”
(Tương ưng bộ kinh Tập 2. Thiên nhân duyên, Chương IV. Tương ưng vô thỉ, Phẩm thứ nhất, Bài kinh Cỏ và Củi)
Khát ái là khao khát và đam mê những thân xác vô thường bất tịnh như vậy. Quý vị nghĩ con chó ghẻ nó có yêu quý thân của nó không? Con dòi cũng có bản ngã của con dòi. Con chuột cống cũng có cái tôi của nó, cũng tham ái, vô minh, trong thân xác lông lá, dơ bẩn, hôi thối đó. Và tất cả chúng sanh của chúng ta, dù trúng vào thân nào cũng phình trương bản ngã lên, cũng ta đây, vênh váo, chấp ngã, ngã sợ, tôi và của tôi, ta và của ta, tao mi, mi tớ, đều là vô thỉ. Chúng sanh đã từ rất lâu bị vô minh che đậy, bị bóng tối trùm phủ, bị tham ái, khát ái trói cột và đi lanh quanh, lẩn quẩn nơi chỗ cây cột đó, như con chó bị buột vào cây cột bằng sợi dây thừng, dù có đứng, có đi thì cũng lanh quanh cây cột đó. Có ăn có ngủ thì cũng chỉ ngay cây cột đó, tất cả chúng sanh có đi đứng ngồi nằm, động tịnh cũng ở trong cây cột của vô minh và tham ái, không thoát ra được. Nếu không có bậc Chánh Đẳng Chánh Giác A-la-hán Thế Tôn xuất hiện trên cuộc đời này, tất cả chúng ta vĩnh viễn và mãi mãi không bao giờ biết được xuất ly đạo lộ, một con đường thoát ra.
Đức Thế Tôn là một chúng sanh duy nhất, độc nhất, chỉ có một mình Ngài, trong mười ngàn thế giới này chỉ xuất hiện duy nhất một bậc tối tôn, tối thượng tìm ra được một con đường thoát ra khỏi ngũ uẩn, tham, sân, si, vô minh và khát ái, đó là bậc đại đạo sư, bậc thầy của chư thiên và loài người, tối tôn, tối thượng, trí giả, kiến giả, A-la-hán, đại đạo sư của chúng ta.
Hãy lạy, kính, lễ Đức Thế Tôn bằng tất cả tấm lòng, hãy hiểu đúng về Đức Thế Tôn, về pháp của Như Lai, hãy đi trên con đường mà Thế Tôn đã đi, đã chứng ngộ và truyền đạt. Hãy cố gắng, tinh tấn, mạnh mẽ, hùng dũng vì lửa sắp cháy tới nơi rồi. Chúng ta ngồi đây là một điều hy hữu, đặc biệt, hiếm có, bất khả tư nghị, trong khi thế giới đang hoảng hãi, hoảng sợ, kinh hoàng, trống không. Hãy trân trọng giây phút này, hãy đem tất cả tấm lòng tôn kính của mình đối với Tam Bảo, với Chánh Pháp, hãy bằng tất cả trái tim của mình tu học.
Chúng ta nên biết rằng chúng ta có còn được an ổn để cùng nhau ngồi tu như vầy nữa hay không? Cả thế giớ này là tổ hợp của các thảm họa, thiên tai, dịch bệnh, bạo loạn, chiến tranh. Hãy nỗ lực nhiếp phục tham, sân, si, nỗ lực đoạn tận tham, sân, si, nỗ lực quyết tâm vượt ra, thoát ra, bước lên con thuyền bát nhã tối thượng này.
Xin mời đại chúng chúng ta đứng lên lễ Phật.