Trọng Trách Của Người Xuất Gia
TRỌNG TRÁCH CỦA NGƯỜI XUẤT GIA
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Đời sống vô thường PAGEREF _Toc114412053 \h 1
II. Nội quán PAGEREF _Toc114412054 \h 2
III. Thân Hành Niệm PAGEREF _Toc114412055 \h 9
I. Đời sống vô thường
Minh Thành được sự phó thác của sư cô giáo thọ, sư cô đã khóc điện thoại cho con nói về bệnh trạng của thân phụ và thân mẫu của sư cô. Con rất là xúc động. Đúng ra chương trình của con không phải ở lớp này, đã có chương trình ở lớp khác, khóa khác. Cũng đúng nhân duyên, cũng như tấm lòng của sư cô giáo thọ và có lẽ cũng là duyên của các sư cô với con cho nên con đảm nhận trong thời gian này, nếu mình có duyên thì nó sẽ lâu dài. Con mong muốn gửi đến các sư cô những giáo pháp tinh túy nhất, chánh thống của Đức Phật. Một đạo lộ hành trì thiết thực hiện tại, có hiệu quả tức thì, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu, đó là tinh hoa của kinh tạng Nikāya.
Hình ảnh của sư cô giáo thọ, tuy là nói qua điện thoại nhưng con thấy được những dòng nước mắt, những sự lo lắng, đau buồn khi cha mẹ lâm vào tình cảnh già yếu, lẫn lộn của tuổi già, cha mẹ của con cũng đã bảy mươi mấy tuổi, tóc cũng đã bạc, da nhăn, lưng còng, gối mỏi. Vậy mà nhìn thấy các lậu hoặc, dục, ái, tham, sân, si, vô minh và bản ngã, tâm cấu nhiễm của chúng ta chưa được nhiếp phục và đoạn tận, đó là mối nhục của người xuất gia, chúng ta không có đem một cái gì để đền đáp cho cha mẹ.
Cho nên những hình ảnh này là những tiếng chuông, những lời nhắc nhở đối với giới tu sĩ chúng ta, đừng quên ở chân trời xa có người mẹ già, người cha già đang dõi theo từng bước chân của mình, đang ngày đêm mong đợi, thương nhớ, hy vọng. Chúng ta tự kiểm lại từ ngày mình cạo tóc tới bây giờ, giới hạnh, đạo hạnh, đức hạnh của một người xuất gia mình có nỗ lực hết mình chưa, có để tâm thật là nhiều, bằng tất cả tấm lòng của mình để đem sự tu tập, giới hạnh, thiền định, trí tuệ làm món quà thực sự đối với mẹ cha hay không? Hay là chúng ta trong một sự quên lãng, sống trong một sự dễ vui, sống trong sự buông lung và phóng dật?
Chúng ta quên mất sau lưng chúng ta hai đấng sanh thành, công ơn rất là nặng. Chúng ta sống ngày qua tháng lại trong sự lững lờ, sống vất vơ vất vưởng, sống không có chánh niệm tỉnh giác, không có sự phòng hộ, thu nhiếp các căn. Sống không có niệm thân, không có tỉnh giác khi đi, khi đứng, khi ngồi, khi nằm. Sống không có chánh niệm trong oai nghi, trong hành động. Sống không có niệm tứ đại, 32 thể trược, không có nhìn thâm sâu để thấy 9 giai đoạn của một tử thi. Sống như vậy là có xác mà không có hồn, chỉ là tử thi trong Phật giáo.
Rồi cuộc đời tu của chúng ta sẽ đi đến đâu? Bất thình lình nhiễm dịch bệnh, bất thình lình tai nạn giao thông, bất thình lình phát hiện ra ung thư thời kì cuối thì như thế nào? Một tâm thức đầy rẫy những dục, tham, ái, sân hận, ganh tỵ, đố kị, hơn thua, bản ngã, đời sống tiếp theo là một đời sống tăm tối, đời sống tiếp theo là một đời sống gông cùm, địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Cô phụ một tấm lòng bao la, một tình thương thiêng liêng của cha và mẹ, của những người thân thương nhất của mình. Mình bỏ cha mẹ vô tu, bắt đầu mình kết bè, kết bạn, mình sư phụ, sư bác, sư thúc, sư tỷ, một đời sống lần lần trở thành thế tục với những luyến ái phàm tình của vô minh, tham ái và chấp thủ.
II. Nội quán
Chúng ta kết thân với người này, ghét người kia, càng ngày càng xa với đích đến của ly tham, đích đến của từ bỏ, đích đến của nhàm chán, yểm li đối với ngũ uẩn, đối với thế gian, đối với cuộc đời. Như vậy là đại bại, một sự thất bại lớn lao của đời sống xuất gia. Không có đem được cái gì về cho cha mẹ mà trong thân thể là đầy rẫy những tham, sân, si, bản ngã, của sự dễ vui. Sống trong chùa riết rồi trở thành nhàm chán, vô vị, vô cảm. Không hứng thú trong ngồi thiền nữa, không nhiếp tâm trong khi nghe pháp, không chánh niệm trong lúc tụng kinh mà ưa thích hướng ngoại. Nhìn thấy người kia có cái này cũng muốn giống vậy, nhìn thấy người khác có cái kia cũng muốn được theo. Quên mất cái đầu trọc, quên Tăng bảo là gì?
“Diệu hạnh là đệ tử của Thế Tôn. Trực hạnh là đệ tử của Thế Tôn. Chân chính hạnh là đệ tử của Thế Tôn. Ứng lý hạnh là đệ tử của Thế Tôn. Đệ tử của Thế Tôn là bốn đôi tám chúng, đáng được chắp tay, đáng được cung kính, đáng được đảnh lễ, đáng được cúng dường, là ruộng phước vô thượng ở trên đời.”
(Tương Ưng Bộ, Tập V- Thiên Đại Phẩm, Chương XI. Tương Ưng Dự Lưu (a), I. Phẩm Veludvàra, I. Vua).
Chúng ta đáng không? Khi mình ngồi để cho Phật tử, những cụ già quỳ lạy dưới chân, dâng bao thư lên, thì chúng ta đáng không, có xấu hổ không, có lo sợ không, có thấy tàm quý không, hay là ngồi trơ trơ đó? Con xin thưa đại chúng là rất phải lo sợ, những cái lạy đó là những nòng súng, những cái bao thư đó là vay nóng của xã hội đen. Những bao thư đó còn gấp một trăm lần vay nóng của xã hội đen. Nếu mình tu không thành, không tăng thượng giới học, không tăng thượng tâm học, không tăng thượng tuệ học thì những đồng tiền đó là than đỏ, là cột đồng, là dầu sôi. Những cái cúi đầu đó là gông cùm, xiềng xích trong tương lai khi mình nhắm mắt.
Con rất là lo sợ, thực sự là mỗi giờ con đều lo sợ cho đời tu của mình, lo lắng, sợ hãi những khi trong mình sanh khởi những cảm giác, những suy nghĩ về dục. Mình thấy hoảng sợ, kinh sợ, khiếp sợ, thấy nhục nhã “Tại sao mình là người xuất gia mà lại có những cảm giác, nghĩ tưởng như vậy?” Mỗi khi mình nổi lên một cảm giác bực dọc, tức tối, sân hận thì mình thấy xấu hổ. Nhục nhất trên đời này là cái đầu tròn, áo vuông mà mặt mày dữ dằn, sân hận, đó là mối nhục lớn nhất của người xuất gia. Cảm giác sân hận thiêu đốt tim gan, những cảm thọ bực bội đốt cháy ruột gan, những cảm xúc cau có, gắt gỏng, hơn thưa tàn phá thân tâm của mình.
Mình phải nhìn thấy đó là những tên giặc, là kẻ thù, mình phải hóa giải và diệt tận tất cả các cảm giác dục, tham, ái, sân hận, bản ngã, ta đây. Mình phải có phương pháp, đường lối tu tập một cách cụ thể triệt hạ, triệt phá tất cả những thứ gì mà nó ngăn chướng tâm thanh tịnh, tâm an lạc giải thoát của mình. Mình phải nỗ lực, phải có sự quyết tâm, phải làm bằng tất cả trái tim của mình trong sự tu học. Chứ không phải lên hai thời tụng kinh là xong, cái đó là quan niệm của con nít.
Khi ngồi yên tịnh một mình thì hãy nhìn bên trong là những hình bóng gì, là những cảm giác gì, những suy nghĩ gì nó đang có ở bên trong? Phải nhìn thấy, phải nhận diện ngũ uẩn, phải nhìn thấy các dòng cảm thọ, những cảm giác nó đang có mặt, nó đang vận hành, nó đang chi phối, xâm chiếm, áp đảo thân tâm của mình. Phải nhìn thấy những cảm giác thúc giục, những cảm giác rạo rực, những cảm giác bức xúc, bức bối, bực bội, nực nội, nhiệt não. Phải nhìn thấy “Tất cả pháp hội tụ ở nơi cảm thọ”, đó là câu kinh nổi tiếng trong bài kinh Cội rễ của sự già. Mình muốn biết tâm mình đang muốn có cái gì thì chỉ cần nhìn nơi cảm giác thôi là nó sẽ hiện ra hết. Mình chỉ cần cần nhìn vô cảm giác là mình thấy tất cả những gì đang có ở trong tâm của mình hiện ra hết.
Con thưa thật với các cô, có khi mình tu suốt đời ở chùa mà mình không biết tham, sân, si trú ẩn ở chỗ nào nếu không có Chánh tri kiến của kinh tạng Nikāya. Mình chỉ thấy cái đuôi của tham, sân, si thôi. Chỉ có nhận diện được năm uẩn, quán chiếu được các cảm giác mới nhận diện được căn nguyên của tham, sân, si. Ví dụ cụ thể cho đại chúng thấy, mình nghỉ học 3, 4 tháng này thì khi có thông báo đi học thì trong mình sanh khởi cảm giác như thế nào? Nó có nôn nôn, nao nao không? Người nói không là người chưa có thấy biết về chính mình. Thật ra mình khó biết về chính mình lắm, không có dễ biết đâu. Nếu mà mình biết về chính mình một cách chính xác thì các cô biết quả vị nằm ở đâu không, đó là Thánh quả thứ nhất mới nhìn thấy một cách đầy đủ về thân, tâm của mình, là bậc Tu đà hoàn. Thấy được thân tâm và thấy được ngũ uẩn.
Thấy ngũ uẩn là thấy như thế nào? Thân người, cảnh vật là sắc uẩn, sắc gồm có đất, nước, gió, lửa. Đây không phải lí thuyết suông mà cho thực tập luôn. Học với Minh Thành thì các cô sẽ thấy, thực tập trên lớp hết chứ không phải lí thuyết suông. Ngay tại lớp phải nhìn ra được ngũ uẩn, ngay tại lớp này phân tích sự vận hành của dục, tham, ái, sân, si và bản ngã. Thân người là sắc, cảm giác là thọ, hình bóng trong tâm là tưởng, suy nghĩ là hành, rõ biết là thức. Đây là định nghĩa của ngũ uẩn phải học thuộc lòng. Đây là định nghĩa đơn giản nhất của ngũ uẩn, mình phải học thuộc cái này và về nhà thực tập khi ngồi thiền hay bất cứ lúc nào mình nhìn lại coi cảm giác nó ra làm sao?
Cảm giác có ba loại cảm giác: dễ chịu, khó chịu, không sễ chịu, không khó chịu – lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ. Tất cả cảm giác đều bao gồm trong ba cảm giác này hết. Lớp này con chưa hướng dẫn về nhận diện ngũ uẩn, bây giờ mình học đại khái như vậy rồi từng bước mình sẽ thực tập ngay tại lớp luôn. Tất cả hình bóng trong tâm của mình là tưởng. Khi nói về cha mẹ của mình thì trong tâm mình có hình bóng lờ mờ, thì đó là tưởng.
Mình có cảm giác hơi hơi khó chịu, nhớ, nếu cha mẹ mình bệnh hay gì mình lo, đó là thọ – cảm giác khó chịu. Mình suy nghĩ không biết cha mẹ ở nhà có khỏe không, đó là hành, suy nghĩ là hành. Lúc đó mình biết mình có cảm giác lo lắng, khó chịu đó, đang có hình bóng của cha mẹ, đang có những suy nghĩ không biết giờ cha mẹ mình sao, mình biết là mình đang có những cảm giác nghĩ tưởng đó, thì đó là thức. Cái này mà không có người chỉ cho thì mình học suốt đời cũng không ra. Xin thưa đại chúng, con học gần 30 năm không có ai chỉ được ngũ uẩn này hết. Đọc kinh suốt ngày thuộc làu làu, giải thích chữ nghĩa từng chương toàn là tri thức nhưng mà thật sự là không nhận diện được, chính vì vậy mình tu không được. Phải nhìn thấy được ngũ uẩn tức là nhìn thấy được thân tâm mình một cách chính xác và đầy đủ tất cả khía cạnh.
Khi con nói về cha mẹ của sư cô, cha mẹ của con thì trong tâm của đại chúng ở đây, hình bóng cha mẹ của mỗi người sẽ hiện lên. Cảm giác sẽ xuất hiện. Suy nghĩ sẽ có mặt. Sự nhận thức, biết được điều đó hiện hữu, ngũ uẩn đang vận hành. Suốt ngày, suốt tháng, suốt năm, suốt đời, từng giây, từng phút ngũ uẩn vận hành mà mình không biết gì hết, không thấy gì hết, đó gọi là vô minh. Không thấy, không biết chính mình. Cho nên mình ngồi, nhắm mắt, thở vô, thở ra rồi ra nói mình thiền thì cái đó không phải thiền của Phật giáo. Thiền của Đức Phật trong kinh Nikāya là nhìn thấy được sự hoạt động của những cảm giác, nghĩ tưởng. Thọ ra thọ, tưởng ra tưởng, hành ra hành, thức ra thức, không có lẫn lộn, đó gọi là trạch pháp giác chi.
Lúc đầu con tâm sự như vậy, đại chúng cảm giác trầm xuống, xúc động, đó là khổ thọ. Khi con nói về sư phụ, sư huynh, sư bá, sư thúc, sư tỷ thì hình bóng hiện ra, đó là tưởng. Lúc đó có suy nghĩ mình cần coi lại sự tu học của mình thì đó là hành uẩn – suy nghĩ. Ngay lúc đó mình nhận thức được, biết được thì đó là thức uẩn. Đơn giản lắm. Đó là mình bắt đầu thực tập để nhìn thấy ngũ uẩn, là nhìn thấy thân tâm của mình. Trước giờ mình ở trong đó, mình sống trong đó, nó vận hành trong đó, có mặt trong đó, hiện hữu trong đó nó sai khiến, áp đảo mà mình không thấy không biết gì là ngũ uẩn.
Mình chỉ thấy có một đại uẩn thôi, tức là một cái tôi to tướng, tổ bố, một cái bản ngã chình ình của vô minh, tham ái và chấp thủ đối với năm uẩn, như thế gọi là ngũ thủ uẩn, trong năm cái này, cái nào mình cũng cho là tôi hết. Mấy chục kí lô thịt này là tôi, tay của tôi, sống mũi của tôi, cái miệng của tôi, con mắt của tôi, chân mày của tôi. Đừng nói chi người ta đụng tới, nói miệng ở ngoài thôi “Mắt gì xấu hoắc vậy”, là sân giận lên, bực bội lên, khó chịu lên. Sự chấp thủ rất ghê gớm, đó là sự chấp thủ sắc thủ uẩn.
Như vậy mãi mãi là phàm phu, mãi mãi là vô minh, mãi mãi là tham, sân, si và bản ngã. Tại vì không thấy được sắc, thọ, tưởng, hành, thức, không phải tôi, không phải của tôi, không phải tự ngã của tôi. Đó là pháp duyên sanh vô thường, cấu tạo, kết hợp. Không có quán trí, không có nghe pháp này, không có tư duy pháp này, không có chiêm nghiệm pháp này, không có tu tập pháp này, không có hành trì pháp này thì chỉ có hướng ra ngoài để đi làm mấy cái gì ở bên ngoài, cầu cái này, mong cái kia. Đó là phàm phu tri kiến, dầu cho có làm được gì đi nữa thì cũng là phàm phu thôi, tham, sân, si, bản ngã y nguyên. Tại vì không hiểu được chính mình, tức là vô minh. Phải tập đọc những cảm giác nghĩ tưởng trong tâm, đó là thiền tuệ của Phật giáo. Bất cứ ở đâu hay lúc nào mình cũng phải thấy được của giác của mình như thế nào, nó trong trạng thái gì.
Thí dụ cái chuông tan học vừa reo thôi là ngũ uẩn trong mình hoạt động khủng khiếp lắm. Thậm chí chưa reo mà sắp reo là đã nhìn giờ. Cho nên khi mình nhận diện được ngũ uẩn rồi thì mình sẽ phát giác, phát hiện thêm khủng khiếp lắm. Ở trong mình là dục, tham, ái, sân, si, vô minh và bản ngã nó lồng trong này, đầy rẫy trong đó hết, đó gọi là Thánh trí về lậu hoặc. Bồ Tát Tất Đạt Đa dưới cội bồ đề đầu tiên chứng ngộ bốn Thánh trí về ngũ uẩn, sau đó chứng ngộ bốn Thánh trí về lậu hoặc, sau đó lậu tận mới chứng tam minh. Không nhìn thấy ngũ uẩn, thì không nhìn thấy lậu hoặc, nếu không nhìn thấy những cảm giác nghĩ tưởng đang vận hành bên trong, nó đang vận hành như thế nào, nó đang có cái gì trong đó, làm sao mình biết được ngũ uẩn.
Thói quen của mình là dòm người ta, đó là thói quen hướng ngoại. Thí dụ có cái gì xảy ra, mình sân lên là đổ thừa cho người ta không. Đó là phàm phu vô minh, không thấy được khổ tập thánh đế. Nguyên nhân của khổ không phải người kia, không phải cô kia, bà kia, cậu kia, không phải anh kia, mà nguyên nhân của cái khổ là dục, tham, ái, chấp thủ đối với ngũ uẩn. Chấp thủ vô sắc, sắc nói cụ thể là con mắt này, cái lỗ mũi này, cái miệng này, cái môi này, cái lỗ tai này, cái bàn tay, bàn chân này, cái da dẻ này, cái cơ thể, hình hài này. Tâm mê lậu hoặc, dục, tham, ái nó làm tổ, làm ổ ở trong cái thân mấy chục kí lô này không đi ra được. Nó làm ổ 9999 năm qua rồi, vô lượng vô biên kiếp.
Cho nên phá được sắc thủ uẩn này, phá được thân kiến này thì nhập lưu Thánh quả thứ nhất của Tu đà hoàn, gọi là đắc pháp nhãn tịnh. Mà muốn phá được thì đầu tiên phải thấy được ngũ uẩn, không có một cái tôi nào hết mà nó là năm thứ kết hợp giống như bàn tay là năm ngón kết hợp, rời năm ngón này thì không có bàn tay. Sắc, thọ, tưởng, hành, thức cũng y hệt như năm ngón này kết hợp thành một bàn tay. Bao giờ mình nhìn mình cũng nói đây là một bàn tay chứ không nói đây là năm ngón. Nó là năm ngón kết hợp, nhưng mình chỉ nhìn một thôi. Cũng vậy, chính vì nhìn một con người, một tự thể, một cái tôi trọn vẹn như vậy thì mình gắn chặt vô đây muôn kiếp không có ngày ra. Học kinh Nikāya này hay lắm, sướng lắm, thấm thía lắm. Nó phá vỡ vô minh, chấp thủ, tham ái của mình, từ từ trí huệ của mình bừng lên, tỏa lên, rực lên, sáng chói lên, chiếu lên. Tuyệt diệu lắm, phải học cái này! Thậm thâm vi diệu!
Vô minh, tham ái, chấp thủ làm ổ, làm tổ, làm sào huyệt, làm căn cứ địa nơi tấm thân này. Mà tấm thân này nó làm pháp duyên sanh, vô thường, khổ não, vô ngã, trống rỗng, nó là pháp biến hoại cho nên làm sao mà không khổ đau cho được. Đây là thứ bại hoại, tan hoại, thứ hoại diệt, tan nát, tan rã nhưng mình lại lấy cái đó làm mình, làm tôi, làm của tôi, mình đầu tư tất cả thời gian, suy nghĩ, tâm huyết, trao chuốt cho nó, vun vén, vun bồi, vun đắp cho nó. Cuối cùng nó tan nát, hoại diệt, lúc đó đau khổ, nước mắt đầm đìa đầy mặt, bứt tóc, đấm ngực, ngất xỉu, từ chết cho đến bị thương, trong kinh Nikāya diễn tả như vậy.
Vì vậy sự tu học của mình không phải ở chỗ hình thức bên ngoài, mà sự tu học của mình là thành tựu trí huệ để nhìn thấy được ngũ uẩn này là sự tham ái, vô minh, chấp thủ ở đây. Ngày nào mà còn yêu, còn thích, còn mê, còn đắm, còn say, còn khao, còn khát, còn dục, còn ái, còn tham đối với cục thịt mấy chục kí lô này thì ngày đó còn sầu, bi, khổ, ưu não tiếp nối. Không bao giờ có sự hạnh phúc và bình an với một sự vô minh, tham ái và chấp thủ ở trong đống sắc uẩn này. Muốn phá được sắc uẩn này Đức Phật đưa ra bao nhiêu pháp? Không trả lời được thì đó là chỗ quờ quạng của chúng ta, chúng ta biết tùm lum, tá lả hết, biết trên trời, trên mây, bên Mỹ, bên Pháp, bên Úc, bên Châu Âu chỗ nào cũng biết hết, hàng ngày cập nhật trên điện thoại nhưng đường lối tu mình lại không nắm được thì làm sao mình đi đến thành công. Lý thuyết mình còn không nắm thì làm sao thực hành?
III. Thân Hành Niệm
Muốn phá được sắc thủ uẩn này Đức Phật dạy 6 pháp gọi là Thân Hành Niệm trong kinh Tứ Niệm Xứ: niệm hơi thở, niệm oai nghi, niệm hành động, niệm tứ đại, niệm 32 thể trượt, niệm 9 giai đoạn của một tử thi. Con xin thưa đại chúng, ngoài 6 pháp này ra không thể có bất cứ một pháp môn nào có thể phá triệt hạ hoàn toàn sắc thủ uẩn, dó là con đường của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác. Bây giờ lý thuyết mình còn không biết thì làm sao thực hành, phải thực hành đầy đủ 6 pháp đó. Thành ra sự tu bây giờ chúng ta thấy là tìm cái gì cho nó dễ, đơn giản, thích cái gì đơn giản, đó là từ tâm vô minh thích như vậy.
Giãi đãi, ngu si mới thích cái đơn giản, thích cái gì cho khỏe tấm thân, tham ái, chấp thủ cho nên không thể nào đi ra khỏi ngũ thủ uẩn được hết. Thường chúng ta tu thiền có niệm hơi thở, niệm oai nghi, hành động gọi là tạm tạm có đối với những người tu thiền nhưng không có đầy đủ giống như kinh Tứ Niệm Xứ. Bây giờ quán tứ đại ai còn dạy, trường như bây giờ rất là hiếm, trừ các Phật giáo nguyên thủy; quán 32 thể trượt càng ít; rồi quán 9 giai đoạn của một tử thi, có khi nào mình tu trong chùa 5 – 7 năm ngồi đây nhưng có từng quán 9 giai đoạn của một tử thi lần nào chưa. Như vậy thì làm sao chúng ta có thể phá được tâm tham, tâm dục, tâm ái, tâm chấp thủ ở trong thân xác này.
Chính như vậy mà tu không có kết quả, mình không đi đúng đường của Đức Phật thì làm sao có kết quá. Đó gọi là Thánh đạo thì mới có Thánh quả, không có đạo làm sao có quả. Mình không đi theo Thánh đạo mà mình đi theo lời dạy của những người sau họ bày ra, đặt ra, mình bị gạt, mình không đi đúng đường của Đức Phật.
Mình thấy mấy người sơn đông mãi võ, mấy người bán đồ trên xe buýt quảng cáo thuốc này quý lắm, bệnh nào cũng trị hết, đưa đây 300, 500 ngàn, đem về rồi quăng vứt luôn. Sự tu học của mình không khéo nó giống như vậy, mình không tìm ra truy nguyên nguồn cội của Phật pháp trong kinh tạng Nikāya, mình đi theo những lời dạy sau này, ai cũng nói ta là nhất hết thì mình bị gạt giống như mình bị gạt bởi sơn đông mãi võ, bán thuốc dạo vậy.
Cứ gặp là đọc, cứ nghe “Như thị ngã văn” là Phật, như vậy có ai vô viết, rồi cũng đề “Như thị ngã văn” là kinh hết thì không phải, đâu có đơn giản như vậy. Thánh pháp xuất thế của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác không phải đơn giản như mình nghĩ. Thâm sâu lắm, không phải đơn giản. Bây giờ sự tu học của chúng ta đại đa số là cầu an với cầu siêu, như vậy không đúng, chết trong đó. Đó là do Ngọc Lâm quốc sư đời Thanh soạn ra. Tại sao Đức Phật bậc Chánh Đẳng Chánh Giác mà mình không học để rồi cuối cùng đi lệch đường hết. Tu không có kết quả, tu càng ngày bản ngã càng tăng, tu càng ngày cái dục, tham càng to lớn ra, tu càng ngày danh lợi càng phình trương lên, khủng khiếp!
Đâu có làm đúng theo lời Đức Phật. Nhiều khi chính tự thân mình tu cho đã rồi, vô cái gương nhìn mặt mình nhưng mình thấy mình còn không muốn nhìn, Phật tử hoặc người khác họ nhìn họ cũng chạy luôn,“Ủa sao kỳ vậy, người tu mà tại sao lại như vậy?” Con nói ít, các cô hiểu nhiều giùm con. Thật sự nhiều khi con lủi lủi con không dám nhìn, con đi về núi con ở, con chỉ xuất hiện khi nào giảng pháp và hướng dẫn tu học thôi, đau lòng lắm! Mục đích của đạo Phật là ly tham đối với sắc dục này. Ly tham, lìa tham đó là sự thành công của người tu, đó là thành công của bậc Thánh. Còn bây giờ mình không khéo là mình đi ngược trở lại, mình căn cứ trên ngôi chùa cho lớn, nổi tiếng, chúng cho đông là chết rồi. Thái tử Tất Đạt Đa tu làm sao, ai cũng biết lịch sử hết nhưng cuối cùng đời sống hiện tại của mình như thế nào? Vô minh và tham ái nó che đậy, bao trùm hết từ đầu tới chân, không còn thấy đường nữa.
Cho nên chúng ta có nhân duyên lớn, vĩ đại, thù thắng trong thời đại sắp sửa mạc pháp này mà còn nghe được Chánh pháp. Con thưa thật với đại chúng là Chánh pháp thật sự là cực kì, cực kì khó nghe, không phải dễ. Tông chỉ của đạo Phật là nhiếp phục dục tham, đoạn tận dục tham đối với sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Phá vỡ cái ổ này, phá vỡ sào huyệt, căn cứ địa của dục, ái, chấp thủ vô ngũ uẩn này để vượt ra khỏi ngũ uẩn, đó gọi là giải thoát sanh tử, chấm dứt luân hồi. Phá tung hết năm thủ uẩn này, không còn thấy bất cứ một cái nào là tôi, là của tôi trong đó nữa hết mới chứng nhập bất động tâm giải thoát.
Không còn bất cứ một thứ gì trên đời này có thể làm cho bậc A La Hán động tâm được nữa. Các Ngài xem thân này là nùi giẻ rách, là một đống phân và nước tiểu, xem thân này là một bao máu, mủ tanh hôi, bất tịnh quán đã thâm nhập vào Thánh trí. Không còn ưa, không còn thích đối với tất cả những tấm thân như thế này nữa, vượt thoát khỏi sanh tử, không còn tiếp tục nhào vô, lủi vô, chung vô những thân xác thối tha, bân thỉu, tanh hôi, nhơ nhớp, sanh tử này nữa. Đó là sự thành tựu của bậc Thánh giả. Đó mới gọi là đoạn tận sanh tử, cho nên thái tử Tất Đạt Đa đi xuất gia để làm gì? Khi phụ vương nói rằng Ngài ở nhà tu đi, thì Ngài yêu cầu nếu phụ vương giúp cho Ngài không già, không bệnh, không chết thì Ngài sẽ ở nhà, ở hoàng cung. Như vậy, mục đích của Ngài là chấm dứt sanh, già, bệnh, chết đạt được cảnh giới bất tử và Ngài đã thật sự chứng nhấp cảnh giới bất tử. Đức Thế Tôn nói trong bài kinh Thánh cầu:
“Chư Tỷ-kheo, và thế nào là phi Thánh cầu? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người tự mình bị sanh lại tìm cầu cái bị sanh, tự mình bị già lại tìm cầu cái bị già, tự mình bị bệnh... tự mình bị chết... tự mình bị sầu... tự mình bị ô nhiễm lại tìm cầu cái bị ô nhiễm.”
(Trung Bộ Kinh – Kinh Thánh Cầu)
Các ông, các cô bị sanh mà lại đi tìm cái bị sanh; bị già mà lại đi tìm cái bị già; bị bệnh mà đi tìm cá bị bệnh; bị chết mà đi tìm cái bị chết; bị sầu, bi, khổ, ưu não mà lại đi tìm sầu, bi, khổ, ưu não thì làm sao chấm dứt được khổ đau.
Một tấm thân mà mỗi ngày xì ra những thứ mình không chịu nỗi, nó thối rùm, mà đi tìm thêm nữa để ôm, không có cái đó là chết, chịu không nỗi, khổ không? Khổ chứ, biết cái đó nó dơ, nó bẩn, nó hôi, nó thối mà bỏ không được, trong này cứ thúc giục đi tìm, đi kiếm, khao khát. Đức Phật dùng từ khát ái là cực kì thâm sâu, khát ái là khao khát đi tìm, đi kiếm cái đó. Chữ ái của Đức Phật nói nó rộng, nó sâu lắm, chứ không phải ái là chỉ có nam nữ. Cái ăn, mặc, ở, chiếc xe, mắt kính, cuốn sách, đồng hồ, đủ thứ hết, cái nào cũng dính khát ái vô đó hết, gỡ không ra.
Thử lượm cái mắt kiếng hay đang đeo thì bị lại giật thì biết liền, thử cầm điện thoại đang nói thì bị mất cái điện thoại thì còn bình thản được không? Mấy vật ngoài thân, đồ người ta cúng không chứ không phải đồ của mình nữa mà mình còn đau khổ thì tới khi người ta đụng vô thân thể mình thì lúc đó sao mình bình an được. Rồi tai nạn, một đống thịt bầy nhầy như vậy, xe tải nó cán văng óc ra thì lúc đó mình đi đâu? Thọ, tưởng, hành, thức, nghiệp dẫn mình đi đâu, khủng khiếp lắm! Phải tu tập, phải quá chiếu thâm sâu về cái ngũ uẩn này, diệt tận tham, sân, si, vô minh và bản ngã rồi mình sẽ thấy cuộc đời này kỳ diệu lắm.
Chuyện gì xảy đến với mình, mình cũng có thể giải phá các dòng cảm thọ trong tâm của mình và mình có thể bình an. Phải là chân tu thật học mới biết được Chánh pháp là gì, nếu không là mình ở trong một lớp sương mù rất dày, trong một bóng đêm rất dài. Rồi mình tu ở trong bóng đêm, trong bóng tối, tu bằng cách cầu xin, lạy lục, trông chờ ai đó đến giúp, cứu mình, Đức Phật không dạy điều đó. Đức Phật dạy quay lại nhìn các cảm giác nghĩ tưởng, nhiếp phục các tham, dục, sân, si, bản ngã trong đó, đạt được cái tâm hoàn toàn thanh tịnh, trong sạch là hoàn toàn làm chủ, tự chủ, tự do, bình an.
Con nhớ con đã ví dụ cho đại chúng dục, tham, ái khác nhau rồi? Ai có thể nhắc lại dục như thế nào, tham như thế nào, ái như thế nào. Thí dụ, mình lên bàn ăn hôm đó cúng trai tăng, có nhiều món mình thích nhưng vị đáp từ ở trên đáp từ dài quá, nói hoài, trong này thì cái bụng nó đói, món mình thích ở trước mặt. Bắt đầu thấy cảm giác nó làm việc ra sao chưa? Con chứng minh cho đại chúng thấy, trong này nó có một cảm giác nôn nôn, nói lẹ lẹ đi, dài quá, ăn cho rồi, đang đói bụng, thúc giục ở trong này. Thúc giục đó là dục, nhớ kỹ, điều này quan trọng lắm. Mình tu suốt đời mình cũng không biết đâu, ở bên trong có một cảm giác thúc giục thì đó là dục. Khi đáp từ xong rồi thì được cho gắp ăn, lúc ăn để một miếng vô lưỡi, nước miếng chảy ra, sướng sướng, khoái khoái, cái món này ngon, thích thích thì đó là ái.
Hồi nãy là nó thúc giục, bây giờ thì nó thích thích, khoái khoái, nó đã, nó sướng thì đó là ái. Rồi ngon như vậy, lúc đó đã, khoái thì trong này cái miệng nhai chưa xong thì đã gắp miếng thứ hai chờ sẵn, trong này nhai chưa hết thì đã đưa vô miếng thứ hai thì đó là tham. Ngay trong bữa ăn của mình mà dục, tham, ái hoạt động mà mình không thấy. Từ một cái đó mình nhìn ra những cái khác để thấy dục, tham, ái nó vận hành mọi chỗ, mọi nơi hết. Đó là trong cảm giác để mình nhìn dục, tham, ái. Như vậy dục là thúc giục, ái là ưa thích, khoan khoái, tham là muốn thêm nữa, thêm nữa. Khi ăn cứ dòm dòm coi có người châm đồ ăn không, mà người đó không nhìn, cứ đi châm mấy bàn lớn ở trên không thì sân.
Nên cái tham sân này nó rất là tế nhị, chứ mình đừng tưởng đâu “Thầy ơi, hai thời con lên con công phu, con tu. Tới giờ đánh leng keng thì con lên con tụng. Tới giờ ăn, con ăn. Tới giờ ngủ, con ngủ. Tới giờ làm, con làm. Như vậy có thấy tham, sân, si gì đâu.” Đó là phàm phu, vô minh, nếu như vậy người không biết tu có khác gì người tu đâu. Bậc đa văn Thánh đệ tử là bậc nhìn ra được ngũ uẩn, nhìn ra sự vận hành của các cảm giác nghĩ tưởng ở bên trong. Khi mình ngồi thiền như vậy, đừng tưởng đâu là im re, ở trong này dục, sân nó khởi, si mê ở trong này mà mình không nhìn thấy. Khi mình thấy nó rồi mình phải đánh đuổi nó nữa, những bước sau từ từ con chia sẻ chứ không phải nhìn thôi là xong đâu.
Thành ra sự tu của mình là cả một công trình vĩ đại ở bên trong, chiến đấu dữ lắm, còn hơn dũng sĩ, chiến sĩ, hơn cả liệt sĩ nữa. Chứ mình đừng tưởng đâu tu là leo lên ngồi thở vô, thở ra, nhắm mắt lại rồi nghe cái boong là giật mình hết giờ xong trở ra. Hỏi sao ngồi thiền nó êm, tại vì vô ngủ không, hôn trầm, vô minh, si chứ thiền cái gì. Thiền là phải thấy trạng thái vận hành của ngũ uẩn, coi trong cảm giác có tham không, có bản ngã, có sân không? Thí dụ đang ngồi nhớ lại hồi nãy tại sao chị đó nói mình như vậy rồi mình bực lên thì ngay lúc đó sân khởi trong hành. Mỗi hình bóng, cảm giác khởi lên mình phải thấy được hết, rồi mình tác ý trải tâm từ, diệt tâm sân. Thành ra sự tu này làm việc hết sức là tích cực ngay khi mình đang ngồi yên lặng, mình làm siêu việt bao nhiêu công chuyện, xung trận ngay khi ngồi thiền chứ không phải lên ngồi đó là thở phồng, xẹp, xẹp, phồng, phồng xẹp rồi nó xẹp luôn.
Tu là phải quyết liệt lắm, tinh tấn lắm!
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Đời sống vô thường PAGEREF _Toc114412053 \h 1
II. Nội quán PAGEREF _Toc114412054 \h 2
III. Thân Hành Niệm PAGEREF _Toc114412055 \h 9
I. Đời sống vô thường
Minh Thành được sự phó thác của sư cô giáo thọ, sư cô đã khóc điện thoại cho con nói về bệnh trạng của thân phụ và thân mẫu của sư cô. Con rất là xúc động. Đúng ra chương trình của con không phải ở lớp này, đã có chương trình ở lớp khác, khóa khác. Cũng đúng nhân duyên, cũng như tấm lòng của sư cô giáo thọ và có lẽ cũng là duyên của các sư cô với con cho nên con đảm nhận trong thời gian này, nếu mình có duyên thì nó sẽ lâu dài. Con mong muốn gửi đến các sư cô những giáo pháp tinh túy nhất, chánh thống của Đức Phật. Một đạo lộ hành trì thiết thực hiện tại, có hiệu quả tức thì, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu, đó là tinh hoa của kinh tạng Nikāya.
Hình ảnh của sư cô giáo thọ, tuy là nói qua điện thoại nhưng con thấy được những dòng nước mắt, những sự lo lắng, đau buồn khi cha mẹ lâm vào tình cảnh già yếu, lẫn lộn của tuổi già, cha mẹ của con cũng đã bảy mươi mấy tuổi, tóc cũng đã bạc, da nhăn, lưng còng, gối mỏi. Vậy mà nhìn thấy các lậu hoặc, dục, ái, tham, sân, si, vô minh và bản ngã, tâm cấu nhiễm của chúng ta chưa được nhiếp phục và đoạn tận, đó là mối nhục của người xuất gia, chúng ta không có đem một cái gì để đền đáp cho cha mẹ.
Cho nên những hình ảnh này là những tiếng chuông, những lời nhắc nhở đối với giới tu sĩ chúng ta, đừng quên ở chân trời xa có người mẹ già, người cha già đang dõi theo từng bước chân của mình, đang ngày đêm mong đợi, thương nhớ, hy vọng. Chúng ta tự kiểm lại từ ngày mình cạo tóc tới bây giờ, giới hạnh, đạo hạnh, đức hạnh của một người xuất gia mình có nỗ lực hết mình chưa, có để tâm thật là nhiều, bằng tất cả tấm lòng của mình để đem sự tu tập, giới hạnh, thiền định, trí tuệ làm món quà thực sự đối với mẹ cha hay không? Hay là chúng ta trong một sự quên lãng, sống trong một sự dễ vui, sống trong sự buông lung và phóng dật?
Chúng ta quên mất sau lưng chúng ta hai đấng sanh thành, công ơn rất là nặng. Chúng ta sống ngày qua tháng lại trong sự lững lờ, sống vất vơ vất vưởng, sống không có chánh niệm tỉnh giác, không có sự phòng hộ, thu nhiếp các căn. Sống không có niệm thân, không có tỉnh giác khi đi, khi đứng, khi ngồi, khi nằm. Sống không có chánh niệm trong oai nghi, trong hành động. Sống không có niệm tứ đại, 32 thể trược, không có nhìn thâm sâu để thấy 9 giai đoạn của một tử thi. Sống như vậy là có xác mà không có hồn, chỉ là tử thi trong Phật giáo.
Rồi cuộc đời tu của chúng ta sẽ đi đến đâu? Bất thình lình nhiễm dịch bệnh, bất thình lình tai nạn giao thông, bất thình lình phát hiện ra ung thư thời kì cuối thì như thế nào? Một tâm thức đầy rẫy những dục, tham, ái, sân hận, ganh tỵ, đố kị, hơn thua, bản ngã, đời sống tiếp theo là một đời sống tăm tối, đời sống tiếp theo là một đời sống gông cùm, địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Cô phụ một tấm lòng bao la, một tình thương thiêng liêng của cha và mẹ, của những người thân thương nhất của mình. Mình bỏ cha mẹ vô tu, bắt đầu mình kết bè, kết bạn, mình sư phụ, sư bác, sư thúc, sư tỷ, một đời sống lần lần trở thành thế tục với những luyến ái phàm tình của vô minh, tham ái và chấp thủ.
II. Nội quán
Chúng ta kết thân với người này, ghét người kia, càng ngày càng xa với đích đến của ly tham, đích đến của từ bỏ, đích đến của nhàm chán, yểm li đối với ngũ uẩn, đối với thế gian, đối với cuộc đời. Như vậy là đại bại, một sự thất bại lớn lao của đời sống xuất gia. Không có đem được cái gì về cho cha mẹ mà trong thân thể là đầy rẫy những tham, sân, si, bản ngã, của sự dễ vui. Sống trong chùa riết rồi trở thành nhàm chán, vô vị, vô cảm. Không hứng thú trong ngồi thiền nữa, không nhiếp tâm trong khi nghe pháp, không chánh niệm trong lúc tụng kinh mà ưa thích hướng ngoại. Nhìn thấy người kia có cái này cũng muốn giống vậy, nhìn thấy người khác có cái kia cũng muốn được theo. Quên mất cái đầu trọc, quên Tăng bảo là gì?
“Diệu hạnh là đệ tử của Thế Tôn. Trực hạnh là đệ tử của Thế Tôn. Chân chính hạnh là đệ tử của Thế Tôn. Ứng lý hạnh là đệ tử của Thế Tôn. Đệ tử của Thế Tôn là bốn đôi tám chúng, đáng được chắp tay, đáng được cung kính, đáng được đảnh lễ, đáng được cúng dường, là ruộng phước vô thượng ở trên đời.”
(Tương Ưng Bộ, Tập V- Thiên Đại Phẩm, Chương XI. Tương Ưng Dự Lưu (a), I. Phẩm Veludvàra, I. Vua).
Chúng ta đáng không? Khi mình ngồi để cho Phật tử, những cụ già quỳ lạy dưới chân, dâng bao thư lên, thì chúng ta đáng không, có xấu hổ không, có lo sợ không, có thấy tàm quý không, hay là ngồi trơ trơ đó? Con xin thưa đại chúng là rất phải lo sợ, những cái lạy đó là những nòng súng, những cái bao thư đó là vay nóng của xã hội đen. Những bao thư đó còn gấp một trăm lần vay nóng của xã hội đen. Nếu mình tu không thành, không tăng thượng giới học, không tăng thượng tâm học, không tăng thượng tuệ học thì những đồng tiền đó là than đỏ, là cột đồng, là dầu sôi. Những cái cúi đầu đó là gông cùm, xiềng xích trong tương lai khi mình nhắm mắt.
Con rất là lo sợ, thực sự là mỗi giờ con đều lo sợ cho đời tu của mình, lo lắng, sợ hãi những khi trong mình sanh khởi những cảm giác, những suy nghĩ về dục. Mình thấy hoảng sợ, kinh sợ, khiếp sợ, thấy nhục nhã “Tại sao mình là người xuất gia mà lại có những cảm giác, nghĩ tưởng như vậy?” Mỗi khi mình nổi lên một cảm giác bực dọc, tức tối, sân hận thì mình thấy xấu hổ. Nhục nhất trên đời này là cái đầu tròn, áo vuông mà mặt mày dữ dằn, sân hận, đó là mối nhục lớn nhất của người xuất gia. Cảm giác sân hận thiêu đốt tim gan, những cảm thọ bực bội đốt cháy ruột gan, những cảm xúc cau có, gắt gỏng, hơn thưa tàn phá thân tâm của mình.
Mình phải nhìn thấy đó là những tên giặc, là kẻ thù, mình phải hóa giải và diệt tận tất cả các cảm giác dục, tham, ái, sân hận, bản ngã, ta đây. Mình phải có phương pháp, đường lối tu tập một cách cụ thể triệt hạ, triệt phá tất cả những thứ gì mà nó ngăn chướng tâm thanh tịnh, tâm an lạc giải thoát của mình. Mình phải nỗ lực, phải có sự quyết tâm, phải làm bằng tất cả trái tim của mình trong sự tu học. Chứ không phải lên hai thời tụng kinh là xong, cái đó là quan niệm của con nít.
Khi ngồi yên tịnh một mình thì hãy nhìn bên trong là những hình bóng gì, là những cảm giác gì, những suy nghĩ gì nó đang có ở bên trong? Phải nhìn thấy, phải nhận diện ngũ uẩn, phải nhìn thấy các dòng cảm thọ, những cảm giác nó đang có mặt, nó đang vận hành, nó đang chi phối, xâm chiếm, áp đảo thân tâm của mình. Phải nhìn thấy những cảm giác thúc giục, những cảm giác rạo rực, những cảm giác bức xúc, bức bối, bực bội, nực nội, nhiệt não. Phải nhìn thấy “Tất cả pháp hội tụ ở nơi cảm thọ”, đó là câu kinh nổi tiếng trong bài kinh Cội rễ của sự già. Mình muốn biết tâm mình đang muốn có cái gì thì chỉ cần nhìn nơi cảm giác thôi là nó sẽ hiện ra hết. Mình chỉ cần cần nhìn vô cảm giác là mình thấy tất cả những gì đang có ở trong tâm của mình hiện ra hết.
Con thưa thật với các cô, có khi mình tu suốt đời ở chùa mà mình không biết tham, sân, si trú ẩn ở chỗ nào nếu không có Chánh tri kiến của kinh tạng Nikāya. Mình chỉ thấy cái đuôi của tham, sân, si thôi. Chỉ có nhận diện được năm uẩn, quán chiếu được các cảm giác mới nhận diện được căn nguyên của tham, sân, si. Ví dụ cụ thể cho đại chúng thấy, mình nghỉ học 3, 4 tháng này thì khi có thông báo đi học thì trong mình sanh khởi cảm giác như thế nào? Nó có nôn nôn, nao nao không? Người nói không là người chưa có thấy biết về chính mình. Thật ra mình khó biết về chính mình lắm, không có dễ biết đâu. Nếu mà mình biết về chính mình một cách chính xác thì các cô biết quả vị nằm ở đâu không, đó là Thánh quả thứ nhất mới nhìn thấy một cách đầy đủ về thân, tâm của mình, là bậc Tu đà hoàn. Thấy được thân tâm và thấy được ngũ uẩn.
Thấy ngũ uẩn là thấy như thế nào? Thân người, cảnh vật là sắc uẩn, sắc gồm có đất, nước, gió, lửa. Đây không phải lí thuyết suông mà cho thực tập luôn. Học với Minh Thành thì các cô sẽ thấy, thực tập trên lớp hết chứ không phải lí thuyết suông. Ngay tại lớp phải nhìn ra được ngũ uẩn, ngay tại lớp này phân tích sự vận hành của dục, tham, ái, sân, si và bản ngã. Thân người là sắc, cảm giác là thọ, hình bóng trong tâm là tưởng, suy nghĩ là hành, rõ biết là thức. Đây là định nghĩa của ngũ uẩn phải học thuộc lòng. Đây là định nghĩa đơn giản nhất của ngũ uẩn, mình phải học thuộc cái này và về nhà thực tập khi ngồi thiền hay bất cứ lúc nào mình nhìn lại coi cảm giác nó ra làm sao?
Cảm giác có ba loại cảm giác: dễ chịu, khó chịu, không sễ chịu, không khó chịu – lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ. Tất cả cảm giác đều bao gồm trong ba cảm giác này hết. Lớp này con chưa hướng dẫn về nhận diện ngũ uẩn, bây giờ mình học đại khái như vậy rồi từng bước mình sẽ thực tập ngay tại lớp luôn. Tất cả hình bóng trong tâm của mình là tưởng. Khi nói về cha mẹ của mình thì trong tâm mình có hình bóng lờ mờ, thì đó là tưởng.
Mình có cảm giác hơi hơi khó chịu, nhớ, nếu cha mẹ mình bệnh hay gì mình lo, đó là thọ – cảm giác khó chịu. Mình suy nghĩ không biết cha mẹ ở nhà có khỏe không, đó là hành, suy nghĩ là hành. Lúc đó mình biết mình có cảm giác lo lắng, khó chịu đó, đang có hình bóng của cha mẹ, đang có những suy nghĩ không biết giờ cha mẹ mình sao, mình biết là mình đang có những cảm giác nghĩ tưởng đó, thì đó là thức. Cái này mà không có người chỉ cho thì mình học suốt đời cũng không ra. Xin thưa đại chúng, con học gần 30 năm không có ai chỉ được ngũ uẩn này hết. Đọc kinh suốt ngày thuộc làu làu, giải thích chữ nghĩa từng chương toàn là tri thức nhưng mà thật sự là không nhận diện được, chính vì vậy mình tu không được. Phải nhìn thấy được ngũ uẩn tức là nhìn thấy được thân tâm mình một cách chính xác và đầy đủ tất cả khía cạnh.
Khi con nói về cha mẹ của sư cô, cha mẹ của con thì trong tâm của đại chúng ở đây, hình bóng cha mẹ của mỗi người sẽ hiện lên. Cảm giác sẽ xuất hiện. Suy nghĩ sẽ có mặt. Sự nhận thức, biết được điều đó hiện hữu, ngũ uẩn đang vận hành. Suốt ngày, suốt tháng, suốt năm, suốt đời, từng giây, từng phút ngũ uẩn vận hành mà mình không biết gì hết, không thấy gì hết, đó gọi là vô minh. Không thấy, không biết chính mình. Cho nên mình ngồi, nhắm mắt, thở vô, thở ra rồi ra nói mình thiền thì cái đó không phải thiền của Phật giáo. Thiền của Đức Phật trong kinh Nikāya là nhìn thấy được sự hoạt động của những cảm giác, nghĩ tưởng. Thọ ra thọ, tưởng ra tưởng, hành ra hành, thức ra thức, không có lẫn lộn, đó gọi là trạch pháp giác chi.
Lúc đầu con tâm sự như vậy, đại chúng cảm giác trầm xuống, xúc động, đó là khổ thọ. Khi con nói về sư phụ, sư huynh, sư bá, sư thúc, sư tỷ thì hình bóng hiện ra, đó là tưởng. Lúc đó có suy nghĩ mình cần coi lại sự tu học của mình thì đó là hành uẩn – suy nghĩ. Ngay lúc đó mình nhận thức được, biết được thì đó là thức uẩn. Đơn giản lắm. Đó là mình bắt đầu thực tập để nhìn thấy ngũ uẩn, là nhìn thấy thân tâm của mình. Trước giờ mình ở trong đó, mình sống trong đó, nó vận hành trong đó, có mặt trong đó, hiện hữu trong đó nó sai khiến, áp đảo mà mình không thấy không biết gì là ngũ uẩn.
Mình chỉ thấy có một đại uẩn thôi, tức là một cái tôi to tướng, tổ bố, một cái bản ngã chình ình của vô minh, tham ái và chấp thủ đối với năm uẩn, như thế gọi là ngũ thủ uẩn, trong năm cái này, cái nào mình cũng cho là tôi hết. Mấy chục kí lô thịt này là tôi, tay của tôi, sống mũi của tôi, cái miệng của tôi, con mắt của tôi, chân mày của tôi. Đừng nói chi người ta đụng tới, nói miệng ở ngoài thôi “Mắt gì xấu hoắc vậy”, là sân giận lên, bực bội lên, khó chịu lên. Sự chấp thủ rất ghê gớm, đó là sự chấp thủ sắc thủ uẩn.
Như vậy mãi mãi là phàm phu, mãi mãi là vô minh, mãi mãi là tham, sân, si và bản ngã. Tại vì không thấy được sắc, thọ, tưởng, hành, thức, không phải tôi, không phải của tôi, không phải tự ngã của tôi. Đó là pháp duyên sanh vô thường, cấu tạo, kết hợp. Không có quán trí, không có nghe pháp này, không có tư duy pháp này, không có chiêm nghiệm pháp này, không có tu tập pháp này, không có hành trì pháp này thì chỉ có hướng ra ngoài để đi làm mấy cái gì ở bên ngoài, cầu cái này, mong cái kia. Đó là phàm phu tri kiến, dầu cho có làm được gì đi nữa thì cũng là phàm phu thôi, tham, sân, si, bản ngã y nguyên. Tại vì không hiểu được chính mình, tức là vô minh. Phải tập đọc những cảm giác nghĩ tưởng trong tâm, đó là thiền tuệ của Phật giáo. Bất cứ ở đâu hay lúc nào mình cũng phải thấy được của giác của mình như thế nào, nó trong trạng thái gì.
Thí dụ cái chuông tan học vừa reo thôi là ngũ uẩn trong mình hoạt động khủng khiếp lắm. Thậm chí chưa reo mà sắp reo là đã nhìn giờ. Cho nên khi mình nhận diện được ngũ uẩn rồi thì mình sẽ phát giác, phát hiện thêm khủng khiếp lắm. Ở trong mình là dục, tham, ái, sân, si, vô minh và bản ngã nó lồng trong này, đầy rẫy trong đó hết, đó gọi là Thánh trí về lậu hoặc. Bồ Tát Tất Đạt Đa dưới cội bồ đề đầu tiên chứng ngộ bốn Thánh trí về ngũ uẩn, sau đó chứng ngộ bốn Thánh trí về lậu hoặc, sau đó lậu tận mới chứng tam minh. Không nhìn thấy ngũ uẩn, thì không nhìn thấy lậu hoặc, nếu không nhìn thấy những cảm giác nghĩ tưởng đang vận hành bên trong, nó đang vận hành như thế nào, nó đang có cái gì trong đó, làm sao mình biết được ngũ uẩn.
Thói quen của mình là dòm người ta, đó là thói quen hướng ngoại. Thí dụ có cái gì xảy ra, mình sân lên là đổ thừa cho người ta không. Đó là phàm phu vô minh, không thấy được khổ tập thánh đế. Nguyên nhân của khổ không phải người kia, không phải cô kia, bà kia, cậu kia, không phải anh kia, mà nguyên nhân của cái khổ là dục, tham, ái, chấp thủ đối với ngũ uẩn. Chấp thủ vô sắc, sắc nói cụ thể là con mắt này, cái lỗ mũi này, cái miệng này, cái môi này, cái lỗ tai này, cái bàn tay, bàn chân này, cái da dẻ này, cái cơ thể, hình hài này. Tâm mê lậu hoặc, dục, tham, ái nó làm tổ, làm ổ ở trong cái thân mấy chục kí lô này không đi ra được. Nó làm ổ 9999 năm qua rồi, vô lượng vô biên kiếp.
Cho nên phá được sắc thủ uẩn này, phá được thân kiến này thì nhập lưu Thánh quả thứ nhất của Tu đà hoàn, gọi là đắc pháp nhãn tịnh. Mà muốn phá được thì đầu tiên phải thấy được ngũ uẩn, không có một cái tôi nào hết mà nó là năm thứ kết hợp giống như bàn tay là năm ngón kết hợp, rời năm ngón này thì không có bàn tay. Sắc, thọ, tưởng, hành, thức cũng y hệt như năm ngón này kết hợp thành một bàn tay. Bao giờ mình nhìn mình cũng nói đây là một bàn tay chứ không nói đây là năm ngón. Nó là năm ngón kết hợp, nhưng mình chỉ nhìn một thôi. Cũng vậy, chính vì nhìn một con người, một tự thể, một cái tôi trọn vẹn như vậy thì mình gắn chặt vô đây muôn kiếp không có ngày ra. Học kinh Nikāya này hay lắm, sướng lắm, thấm thía lắm. Nó phá vỡ vô minh, chấp thủ, tham ái của mình, từ từ trí huệ của mình bừng lên, tỏa lên, rực lên, sáng chói lên, chiếu lên. Tuyệt diệu lắm, phải học cái này! Thậm thâm vi diệu!
Vô minh, tham ái, chấp thủ làm ổ, làm tổ, làm sào huyệt, làm căn cứ địa nơi tấm thân này. Mà tấm thân này nó làm pháp duyên sanh, vô thường, khổ não, vô ngã, trống rỗng, nó là pháp biến hoại cho nên làm sao mà không khổ đau cho được. Đây là thứ bại hoại, tan hoại, thứ hoại diệt, tan nát, tan rã nhưng mình lại lấy cái đó làm mình, làm tôi, làm của tôi, mình đầu tư tất cả thời gian, suy nghĩ, tâm huyết, trao chuốt cho nó, vun vén, vun bồi, vun đắp cho nó. Cuối cùng nó tan nát, hoại diệt, lúc đó đau khổ, nước mắt đầm đìa đầy mặt, bứt tóc, đấm ngực, ngất xỉu, từ chết cho đến bị thương, trong kinh Nikāya diễn tả như vậy.
Vì vậy sự tu học của mình không phải ở chỗ hình thức bên ngoài, mà sự tu học của mình là thành tựu trí huệ để nhìn thấy được ngũ uẩn này là sự tham ái, vô minh, chấp thủ ở đây. Ngày nào mà còn yêu, còn thích, còn mê, còn đắm, còn say, còn khao, còn khát, còn dục, còn ái, còn tham đối với cục thịt mấy chục kí lô này thì ngày đó còn sầu, bi, khổ, ưu não tiếp nối. Không bao giờ có sự hạnh phúc và bình an với một sự vô minh, tham ái và chấp thủ ở trong đống sắc uẩn này. Muốn phá được sắc uẩn này Đức Phật đưa ra bao nhiêu pháp? Không trả lời được thì đó là chỗ quờ quạng của chúng ta, chúng ta biết tùm lum, tá lả hết, biết trên trời, trên mây, bên Mỹ, bên Pháp, bên Úc, bên Châu Âu chỗ nào cũng biết hết, hàng ngày cập nhật trên điện thoại nhưng đường lối tu mình lại không nắm được thì làm sao mình đi đến thành công. Lý thuyết mình còn không nắm thì làm sao thực hành?
III. Thân Hành Niệm
Muốn phá được sắc thủ uẩn này Đức Phật dạy 6 pháp gọi là Thân Hành Niệm trong kinh Tứ Niệm Xứ: niệm hơi thở, niệm oai nghi, niệm hành động, niệm tứ đại, niệm 32 thể trượt, niệm 9 giai đoạn của một tử thi. Con xin thưa đại chúng, ngoài 6 pháp này ra không thể có bất cứ một pháp môn nào có thể phá triệt hạ hoàn toàn sắc thủ uẩn, dó là con đường của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác. Bây giờ lý thuyết mình còn không biết thì làm sao thực hành, phải thực hành đầy đủ 6 pháp đó. Thành ra sự tu bây giờ chúng ta thấy là tìm cái gì cho nó dễ, đơn giản, thích cái gì đơn giản, đó là từ tâm vô minh thích như vậy.
Giãi đãi, ngu si mới thích cái đơn giản, thích cái gì cho khỏe tấm thân, tham ái, chấp thủ cho nên không thể nào đi ra khỏi ngũ thủ uẩn được hết. Thường chúng ta tu thiền có niệm hơi thở, niệm oai nghi, hành động gọi là tạm tạm có đối với những người tu thiền nhưng không có đầy đủ giống như kinh Tứ Niệm Xứ. Bây giờ quán tứ đại ai còn dạy, trường như bây giờ rất là hiếm, trừ các Phật giáo nguyên thủy; quán 32 thể trượt càng ít; rồi quán 9 giai đoạn của một tử thi, có khi nào mình tu trong chùa 5 – 7 năm ngồi đây nhưng có từng quán 9 giai đoạn của một tử thi lần nào chưa. Như vậy thì làm sao chúng ta có thể phá được tâm tham, tâm dục, tâm ái, tâm chấp thủ ở trong thân xác này.
Chính như vậy mà tu không có kết quả, mình không đi đúng đường của Đức Phật thì làm sao có kết quá. Đó gọi là Thánh đạo thì mới có Thánh quả, không có đạo làm sao có quả. Mình không đi theo Thánh đạo mà mình đi theo lời dạy của những người sau họ bày ra, đặt ra, mình bị gạt, mình không đi đúng đường của Đức Phật.
Mình thấy mấy người sơn đông mãi võ, mấy người bán đồ trên xe buýt quảng cáo thuốc này quý lắm, bệnh nào cũng trị hết, đưa đây 300, 500 ngàn, đem về rồi quăng vứt luôn. Sự tu học của mình không khéo nó giống như vậy, mình không tìm ra truy nguyên nguồn cội của Phật pháp trong kinh tạng Nikāya, mình đi theo những lời dạy sau này, ai cũng nói ta là nhất hết thì mình bị gạt giống như mình bị gạt bởi sơn đông mãi võ, bán thuốc dạo vậy.
Cứ gặp là đọc, cứ nghe “Như thị ngã văn” là Phật, như vậy có ai vô viết, rồi cũng đề “Như thị ngã văn” là kinh hết thì không phải, đâu có đơn giản như vậy. Thánh pháp xuất thế của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác không phải đơn giản như mình nghĩ. Thâm sâu lắm, không phải đơn giản. Bây giờ sự tu học của chúng ta đại đa số là cầu an với cầu siêu, như vậy không đúng, chết trong đó. Đó là do Ngọc Lâm quốc sư đời Thanh soạn ra. Tại sao Đức Phật bậc Chánh Đẳng Chánh Giác mà mình không học để rồi cuối cùng đi lệch đường hết. Tu không có kết quả, tu càng ngày bản ngã càng tăng, tu càng ngày cái dục, tham càng to lớn ra, tu càng ngày danh lợi càng phình trương lên, khủng khiếp!
Đâu có làm đúng theo lời Đức Phật. Nhiều khi chính tự thân mình tu cho đã rồi, vô cái gương nhìn mặt mình nhưng mình thấy mình còn không muốn nhìn, Phật tử hoặc người khác họ nhìn họ cũng chạy luôn,“Ủa sao kỳ vậy, người tu mà tại sao lại như vậy?” Con nói ít, các cô hiểu nhiều giùm con. Thật sự nhiều khi con lủi lủi con không dám nhìn, con đi về núi con ở, con chỉ xuất hiện khi nào giảng pháp và hướng dẫn tu học thôi, đau lòng lắm! Mục đích của đạo Phật là ly tham đối với sắc dục này. Ly tham, lìa tham đó là sự thành công của người tu, đó là thành công của bậc Thánh. Còn bây giờ mình không khéo là mình đi ngược trở lại, mình căn cứ trên ngôi chùa cho lớn, nổi tiếng, chúng cho đông là chết rồi. Thái tử Tất Đạt Đa tu làm sao, ai cũng biết lịch sử hết nhưng cuối cùng đời sống hiện tại của mình như thế nào? Vô minh và tham ái nó che đậy, bao trùm hết từ đầu tới chân, không còn thấy đường nữa.
Cho nên chúng ta có nhân duyên lớn, vĩ đại, thù thắng trong thời đại sắp sửa mạc pháp này mà còn nghe được Chánh pháp. Con thưa thật với đại chúng là Chánh pháp thật sự là cực kì, cực kì khó nghe, không phải dễ. Tông chỉ của đạo Phật là nhiếp phục dục tham, đoạn tận dục tham đối với sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Phá vỡ cái ổ này, phá vỡ sào huyệt, căn cứ địa của dục, ái, chấp thủ vô ngũ uẩn này để vượt ra khỏi ngũ uẩn, đó gọi là giải thoát sanh tử, chấm dứt luân hồi. Phá tung hết năm thủ uẩn này, không còn thấy bất cứ một cái nào là tôi, là của tôi trong đó nữa hết mới chứng nhập bất động tâm giải thoát.
Không còn bất cứ một thứ gì trên đời này có thể làm cho bậc A La Hán động tâm được nữa. Các Ngài xem thân này là nùi giẻ rách, là một đống phân và nước tiểu, xem thân này là một bao máu, mủ tanh hôi, bất tịnh quán đã thâm nhập vào Thánh trí. Không còn ưa, không còn thích đối với tất cả những tấm thân như thế này nữa, vượt thoát khỏi sanh tử, không còn tiếp tục nhào vô, lủi vô, chung vô những thân xác thối tha, bân thỉu, tanh hôi, nhơ nhớp, sanh tử này nữa. Đó là sự thành tựu của bậc Thánh giả. Đó mới gọi là đoạn tận sanh tử, cho nên thái tử Tất Đạt Đa đi xuất gia để làm gì? Khi phụ vương nói rằng Ngài ở nhà tu đi, thì Ngài yêu cầu nếu phụ vương giúp cho Ngài không già, không bệnh, không chết thì Ngài sẽ ở nhà, ở hoàng cung. Như vậy, mục đích của Ngài là chấm dứt sanh, già, bệnh, chết đạt được cảnh giới bất tử và Ngài đã thật sự chứng nhấp cảnh giới bất tử. Đức Thế Tôn nói trong bài kinh Thánh cầu:
“Chư Tỷ-kheo, và thế nào là phi Thánh cầu? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người tự mình bị sanh lại tìm cầu cái bị sanh, tự mình bị già lại tìm cầu cái bị già, tự mình bị bệnh... tự mình bị chết... tự mình bị sầu... tự mình bị ô nhiễm lại tìm cầu cái bị ô nhiễm.”
(Trung Bộ Kinh – Kinh Thánh Cầu)
Các ông, các cô bị sanh mà lại đi tìm cái bị sanh; bị già mà lại đi tìm cái bị già; bị bệnh mà đi tìm cá bị bệnh; bị chết mà đi tìm cái bị chết; bị sầu, bi, khổ, ưu não mà lại đi tìm sầu, bi, khổ, ưu não thì làm sao chấm dứt được khổ đau.
Một tấm thân mà mỗi ngày xì ra những thứ mình không chịu nỗi, nó thối rùm, mà đi tìm thêm nữa để ôm, không có cái đó là chết, chịu không nỗi, khổ không? Khổ chứ, biết cái đó nó dơ, nó bẩn, nó hôi, nó thối mà bỏ không được, trong này cứ thúc giục đi tìm, đi kiếm, khao khát. Đức Phật dùng từ khát ái là cực kì thâm sâu, khát ái là khao khát đi tìm, đi kiếm cái đó. Chữ ái của Đức Phật nói nó rộng, nó sâu lắm, chứ không phải ái là chỉ có nam nữ. Cái ăn, mặc, ở, chiếc xe, mắt kính, cuốn sách, đồng hồ, đủ thứ hết, cái nào cũng dính khát ái vô đó hết, gỡ không ra.
Thử lượm cái mắt kiếng hay đang đeo thì bị lại giật thì biết liền, thử cầm điện thoại đang nói thì bị mất cái điện thoại thì còn bình thản được không? Mấy vật ngoài thân, đồ người ta cúng không chứ không phải đồ của mình nữa mà mình còn đau khổ thì tới khi người ta đụng vô thân thể mình thì lúc đó sao mình bình an được. Rồi tai nạn, một đống thịt bầy nhầy như vậy, xe tải nó cán văng óc ra thì lúc đó mình đi đâu? Thọ, tưởng, hành, thức, nghiệp dẫn mình đi đâu, khủng khiếp lắm! Phải tu tập, phải quá chiếu thâm sâu về cái ngũ uẩn này, diệt tận tham, sân, si, vô minh và bản ngã rồi mình sẽ thấy cuộc đời này kỳ diệu lắm.
Chuyện gì xảy đến với mình, mình cũng có thể giải phá các dòng cảm thọ trong tâm của mình và mình có thể bình an. Phải là chân tu thật học mới biết được Chánh pháp là gì, nếu không là mình ở trong một lớp sương mù rất dày, trong một bóng đêm rất dài. Rồi mình tu ở trong bóng đêm, trong bóng tối, tu bằng cách cầu xin, lạy lục, trông chờ ai đó đến giúp, cứu mình, Đức Phật không dạy điều đó. Đức Phật dạy quay lại nhìn các cảm giác nghĩ tưởng, nhiếp phục các tham, dục, sân, si, bản ngã trong đó, đạt được cái tâm hoàn toàn thanh tịnh, trong sạch là hoàn toàn làm chủ, tự chủ, tự do, bình an.
Con nhớ con đã ví dụ cho đại chúng dục, tham, ái khác nhau rồi? Ai có thể nhắc lại dục như thế nào, tham như thế nào, ái như thế nào. Thí dụ, mình lên bàn ăn hôm đó cúng trai tăng, có nhiều món mình thích nhưng vị đáp từ ở trên đáp từ dài quá, nói hoài, trong này thì cái bụng nó đói, món mình thích ở trước mặt. Bắt đầu thấy cảm giác nó làm việc ra sao chưa? Con chứng minh cho đại chúng thấy, trong này nó có một cảm giác nôn nôn, nói lẹ lẹ đi, dài quá, ăn cho rồi, đang đói bụng, thúc giục ở trong này. Thúc giục đó là dục, nhớ kỹ, điều này quan trọng lắm. Mình tu suốt đời mình cũng không biết đâu, ở bên trong có một cảm giác thúc giục thì đó là dục. Khi đáp từ xong rồi thì được cho gắp ăn, lúc ăn để một miếng vô lưỡi, nước miếng chảy ra, sướng sướng, khoái khoái, cái món này ngon, thích thích thì đó là ái.
Hồi nãy là nó thúc giục, bây giờ thì nó thích thích, khoái khoái, nó đã, nó sướng thì đó là ái. Rồi ngon như vậy, lúc đó đã, khoái thì trong này cái miệng nhai chưa xong thì đã gắp miếng thứ hai chờ sẵn, trong này nhai chưa hết thì đã đưa vô miếng thứ hai thì đó là tham. Ngay trong bữa ăn của mình mà dục, tham, ái hoạt động mà mình không thấy. Từ một cái đó mình nhìn ra những cái khác để thấy dục, tham, ái nó vận hành mọi chỗ, mọi nơi hết. Đó là trong cảm giác để mình nhìn dục, tham, ái. Như vậy dục là thúc giục, ái là ưa thích, khoan khoái, tham là muốn thêm nữa, thêm nữa. Khi ăn cứ dòm dòm coi có người châm đồ ăn không, mà người đó không nhìn, cứ đi châm mấy bàn lớn ở trên không thì sân.
Nên cái tham sân này nó rất là tế nhị, chứ mình đừng tưởng đâu “Thầy ơi, hai thời con lên con công phu, con tu. Tới giờ đánh leng keng thì con lên con tụng. Tới giờ ăn, con ăn. Tới giờ ngủ, con ngủ. Tới giờ làm, con làm. Như vậy có thấy tham, sân, si gì đâu.” Đó là phàm phu, vô minh, nếu như vậy người không biết tu có khác gì người tu đâu. Bậc đa văn Thánh đệ tử là bậc nhìn ra được ngũ uẩn, nhìn ra sự vận hành của các cảm giác nghĩ tưởng ở bên trong. Khi mình ngồi thiền như vậy, đừng tưởng đâu là im re, ở trong này dục, sân nó khởi, si mê ở trong này mà mình không nhìn thấy. Khi mình thấy nó rồi mình phải đánh đuổi nó nữa, những bước sau từ từ con chia sẻ chứ không phải nhìn thôi là xong đâu.
Thành ra sự tu của mình là cả một công trình vĩ đại ở bên trong, chiến đấu dữ lắm, còn hơn dũng sĩ, chiến sĩ, hơn cả liệt sĩ nữa. Chứ mình đừng tưởng đâu tu là leo lên ngồi thở vô, thở ra, nhắm mắt lại rồi nghe cái boong là giật mình hết giờ xong trở ra. Hỏi sao ngồi thiền nó êm, tại vì vô ngủ không, hôn trầm, vô minh, si chứ thiền cái gì. Thiền là phải thấy trạng thái vận hành của ngũ uẩn, coi trong cảm giác có tham không, có bản ngã, có sân không? Thí dụ đang ngồi nhớ lại hồi nãy tại sao chị đó nói mình như vậy rồi mình bực lên thì ngay lúc đó sân khởi trong hành. Mỗi hình bóng, cảm giác khởi lên mình phải thấy được hết, rồi mình tác ý trải tâm từ, diệt tâm sân. Thành ra sự tu này làm việc hết sức là tích cực ngay khi mình đang ngồi yên lặng, mình làm siêu việt bao nhiêu công chuyện, xung trận ngay khi ngồi thiền chứ không phải lên ngồi đó là thở phồng, xẹp, xẹp, phồng, phồng xẹp rồi nó xẹp luôn.
Tu là phải quyết liệt lắm, tinh tấn lắm!