Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Làm Sao Để Thành Người Xuất Gia Đúng Nghĩa 5 - Kinh Xóm Ngựa

2026-03-03 00:54:15
KINH NIKAYA GIẢNG GIẢI - LÀM SAO ĐỂ THÀNH NGƯỜI XUẤT GIA ĐÚNG NGHĨA 5 – KINH XÓM NGỰA - TRUNG BỘ

Thích Minh Thành

Này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo tự mình, quán năm triền cái chưa xả ly, như món nợ, như bệnh hoạn, như ngục tù, như cảnh nô lệ, như con đường qua sa mạc. (Trung Bộ Kinh, 39. Ðại kinh Xóm ngựa, (Ðoạn trừ các triền cái))

Khi nhìn lại thân tâm thấy còn nhiều sự tham muốn, đòi hỏi, ưa thích thì biết rằng mình như một người bị bệnh, phải quán như vậy để xả ly tham muốn, tham ái, tham dục đó. Cái thèm thuồng, khao khát là một chứng bệnh của nội tâm, nỗi khi sanh khởi lên những tham muốn mình phải tác ý "bệnh nặng lắm rồi", trị bệnh để giảm bớt tham, thực tập sự ít muốn biết đủ. Đối với thức ăn, y áo, phòng ốc ngủ nghỉ, vật dụng, thuốc men đều phải tập nhìn và kiểm soát tâm tham, những trạng thái của dục tham ái sanh khởi khi ngồi thiền thì phải tác ý đánh đuổi và nhiếp phục "tâm này là tâm bị bệnh" để mình không đi theo tâm đó, không chấp nhận, nuôi dưỡng, nhập cuộc với những dục tham ái đó. Mình thực tập một đời sống ly tham, tập ăn gì cũng được, tập ngủ ở đâu cũng được, không vì chỗ ngủ mà buồn phiền, không vì phòng ốc mà sân hận, không vì miếng ăn mà hờn giận, không vì bộ đồ là tức giận, mình khuyên người ta bố thí thì có người lấy của mình cứ xem như mình làm từ thiện thì có gì mà sân hận. Phải tập quán như vậy, lỡ bị mất dép mình cũng không buồn giận, "thay vì mình phải đi làm từ thiện, người ta không có dép thì lấy của mình cũng được", đó là sự từ thiện, bố thí, đó cũng là sự nhiếp phục tâm tham ái của mình với đôi dép đó. Phải nhiếp phục tâm tham ái dục, phải sống đời sống đơn giản, ít muốn biết đủ trong mọi hoàn cảnh, ở trong chòi tranh, có 2-3 bộ đồ cũng hạnh phúc, có cơm ăn không đói là được rồi còn đòi hỏi gì nữa. Tập nhiếp phục và đoạn tận lòng dục, lòng tham, lòng ái, nếu ở trong trạng thái đó là trạng thái của một người bệnh, khi xả ly được lòng dục, lòng tham, lòng ái thì mình là người khỏe mạnh trong Phật pháp, không có tật bệnh. Cho đến khi nào cái tham dục ái trong thân tâm mà mình khó chịu, bực bội, mình thấy mình là một người bệnh thì sự tu học mới tiến bộ, còn mình để nó trong thân tâm, lại còn ưa thích, khoan khoái là mình không có tu, không phải thật sự là bậc thánh đệ tử. Ví dụ người ta lạy mình cúng dường mà tâm mình sanh khởi ưa thích, khoan khoái thì mình phải tự tác ý quở trách "mày là người bệnh, tâm ưa thích, khoan khoái này là bệnh" để loại trừ những sự tham muốn, ưa thích, thèm khát, say đắm trong các sắc pháp. Điều này không đáng để tham, những thứ vô thường, tan nát, hoại diệt này thì tham để được gì ngoài cái khổ, sầu, bi, ưu, não? Vì bản chất của nó là như vậy, bản tánh là như vậy, bản tánh tan hoại, hủy hoại là như vậy không thể vượt khác được, nó phải là như vậy.

Thân này bản tánh là như thế, bản chất là như thế không thể vượt qua bản chất ấy. (Trung Bộ Kinh, 10. Kinh Niệm Xứ)

Nhiếp phục và giảm bớt lòng dục, lòng tham, lòng ái để đi đến chỗ đoạn tận, lần lần mình phá được triền cái thứ nhất là sự trói cột, che đậy tâm làm cho yếu ớt trí tuệ không đưa đến minh và giải thoát. Mình tập từ những thứ gần gũi và đơn giản trong đời sống hằng ngày như bộ đồ, đôi dép, túi, thậm chí cả quyển kinh sách, không tham ái và bám chấp vào đó, lỡ người ta lấy cuốn kinh thì hãy xem như mình cúng dường pháp, bố thí pháp và hoan hỉ rồi đi tìm cuốn khác. Tại sao lại phải sân hận vì mất cuốn kinh? Người ta lấy kinh để học pháp thì phải mừng chứ sao lại giận "cuốn kinh của tôi để đây ai lấy mất rồi?", mình sân vì không Như lý tác ý, không đặt tâm đúng hướng về pháp cho nên đi sai đường. Vì miếng ăn mà mình giận thì tự hỏi bản thân "mình vào đây để cầu pháp hay cầu thực? Vào đây cầu đạo hay cầu gạo?", tác ý như vậy thì tự nhiên tâm sân hận trong miếng ăn được lắng dịu và thành người khỏe mạnh trong pháp, còn đi theo nó sẽ trở thành người đau ốm và bệnh hoạn, tật nguyền trong pháp và luật của Như Lai. Phải tác ý thường xuyên và liên tục, mình phải làm một con người khỏe mạnh chứ không thể làm người bệnh hoạn, yếu hèn được, đừng để dính mắc vào đồ đạc, vật chất, những thứ mà người thế gian đã vứt bỏ như mấy đồng bạc lẻ. Những thứ đó họ đã vứt bỏ thì tại sao mình lại lấy đó làm của mình, lại đam mê, dính mắc vào đó? Người ta vào cúng chùa là cúng tiền lẻ, nếu là tiền chẵn thì đó là mồ hôi, nước mắt và xương máu của họ cho nên tu làm sao để xứng đáng. Mình tác động tâm ý để dục tham ái được giảm thiểu, diệt tận, đó là công phu của chúng ta, thậm chí ngay trên lớp học cũng phải công phu diệt dục tham ái, đừng tưởng trong lớp học là không có những thứ nó, nó muốn thoải mái, muốn để tâm đi lang thang chứ không tập trung nghe giảng, khi thấy trạng thái tâm như vậy mà không nhiếp phục, cứ để tâm rong chơi là mình vẫn còn ái trạng thái đó, dục trạng thái đó. Ngay khi ngồi thiền mà để những hình bóng hiện lên xâm chiếm thân tâm, mình không đánh phá ra khỏi thân tâm, để những hình bóng, cảm giác, suy nghĩ ác và bất thiện pháp làm ô nhiễm trong tâm thì đó là mình đang ái, đang ưa thích những pháp trần đó, bị dính mắc trong sắc tưởng đó. Cho nên sự tu học nghiêm túc, sâu sắc là phải nỗ lực nhìn lại thân tâm thường xuyên và liên tục trong mọi lúc mọi nơi, nhiếp phục dục tham và đoạn tận dục tham là tông chỉ, cương lĩnh, là cốt lõi và là trái tim của Đức Phật và thánh giáo. Không làm cái này là không tu gì hết, chỉ có cái xác trong chùa chứ không phải là người tu chân chánh của Đức Phật.

Hình ảnh thứ hai là ngục tù, trong ví dụ thứ nhất tham dục như món nợ, sân hận là bệnh hoạn. Khi bị tham muốn, tham ái, tham đắm thì phải biết mình đang bị mắc nợ. Khi tham ái, dính mắc vào cái gì đó là mình mắc nợ đó, đi đến đâu nó cũng theo mình. Ví dụ thích chiếc xe, cây kiểng, con vật thì những thứ đó trở thành món nợ trong tâm, đi đâu hình bóng những thứ đó cũng hiện ra. Mình thích người nào là đi đến đâu hình bóng người đó cũng hiện ra, đó là đang mắc nợ, cái tham thích đeo đuổi, đeo bám theo mình, đi đến đâu cũng có nó để đòi nợ, cái sắc tưởng đó ám ảnh trong tâm mình. Tưởng uẩn là hình bóng trong tâm, cho nên khi ưa thích con chó thì hình bóng con chó hiện ra trong tâm, đi đâu cũng nhớ nó, hình bóng đó ám ảnh, xâm chiếm, áp đảo và người ta đau khổ với hình bóng, cảm giác, suy nghĩ đó, đi đâu cũng đi theo dù cho có đi cách xa nửa vòng Trái Đất thì những hình bóng, cảm giác đó vẫn ám ảnh làm cho họ đau khổ. Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du đã nói "người buồn cảnh có vui đâu bao giờ" là vậy đó, cứ tơ tưởng hình bóng đó cho nên chữ tương tư cũng đọc là tướng trong tiếng Hán, là nhớ nhau, hình bóng đó xâm chiếm, áp đảo, làm cho tâm người đó bị ray rứt, luôn bất an nên không thể tu tập thiền định được, chính vì vậy mà phải giữ giới vì dính vào sẽ bị sắc ám ảnh, cảm giác, suy nghĩ đó ám ảnh nên chắc chắn không đi vào thiền định được. Vì vậy mỗi điều luật được chế định ra không phải không có lý do, đó là đạo lộ, tuần tự để tẩy sạch tâm, thanh tịnh tâm, đạt đến tâm bất động giải thoát. Không phải tự nhiên Thế Tôn đặt ra mà đạo lộ, trình tự phải như thế thì mới đi tới chỗ giải thoát, nếu không đi theo đó thì không giải thoát được. Người nào bị tham ái, tham dục chi phối có đi đến đâu đi nữa cũng bị hình bóng đó đeo đuổi đến đó, có những trường hợp gặp mặt là cự cãi mà xa nhau không được do còn đang mắc nợ, vấn đề này không chỉ là chuyện vợ chồng, nam nữ mà còn là huynh đệ, thầy bạn, dính mắc vào ái này rất rộng chứ không phải chỉ chuyện nam nữ. Hai ông thầy đi nhập hạ ở đâu cũng đi chung mà hai người này hay cãi nhau, một người thích mở quạt còn người kia không chịu được thế là cự nhau nhưng đi đâu cũng rủ nhau đi chung. Dân gian có câu "ghét của nào trời trao của nấy", hễ ghét người đó là thường hay gặp họ, cho nên trong kinh Pháp Cú, Đức Phật có nói:

Chớ gần gũi người yêu,

Trọn đời xa kẻ ghét.

Yêu không gặp là khổ,

Oán phải gặp cũng đau.

(Kinh Pháp Cú 16 – Phẩm Hỷ Ái, kệ 210)

Do vậy chớ yêu ai,

Ái biệt ly là ác;

Những ai không yêu ghét,

Không thể có buộc ràng.

(Kinh Pháp Cú 16 – Phẩm Hỷ Ái, kệ 211)

Cho nên khi đã dính mắc vào tham ái, không chỉ dính mắc vào con người mà kể cả là món đồ hoặc con vật nào đó thì cũng sẽ đau khổ. Ví dụ dính mắc vào ngôi chùa mà giờ lũ lên cuốn trôi mọi thứ, sụp đổ tan nát tất cả thì đau khổ vô cùng, nhưng khi thường quán vô thường, mình biết nó sẽ là như vậy, hôm nay bị vậy là đúng lời Phật dạy rồi, hư thì sửa lại, sập thì xây lại thôi, cái tâm mình vẫn tiếp xúc vô thường nhưng ít khổ, đó là sự chuẩn bị tâm, còn đằng này tham ái, dính mắc nên chết trong đó, cho nên phải nhớ rằng đang tham ái là đang bị thiếu nợ, đang bị mắc nợ. Cho đến khi nào nhiếp phục tham ái, xóa sổ được tham ái, những hình bóng không còn ám ảnh nữa, những cảm giác không còn sanh khởi, những suy nghĩ không còn đeo bám nữa thì lúc đó hết nợ, Đức Phật ví dụ hình ảnh được phát đạt, người ấy không những trả được nợ cũ, còn có tiền dư để nuôi dưỡng vợ. Người ấy nhờ vậy được sung sướng, hoan hỷ. Vì thế đạt được sơ thiền, ly sanh hỷ lạc địa, tức là đi ra khỏi tham dục là được vui sướng, hạnh phúc, không còn bị những cảm giác, hình ảnh đó đeo đuổi nữa. Có một cô Phật tử mỗi lần nhắc đến con gái là khóc nức nở, khi gặp Minh Thành con cô đã chết được 5-6 năm đến giờ người con gái đó mất cũng được 8-9 năm rồi, cô cứ thương nhớ hoài hình bóng đứa con gái duy nhất rồi đau khổ. Trong chùa Bửu Liên có hai hủ cốt, cả hai người mới ngoài hai mươi, thương mến nhau nhưng gia đình không đồng ý, hai người quyết định cùng nhau buộc dây vào đá nhảy sông tự tử, gia đình cô gái rất giàu có, người mẹ vô chùa khóc nức nở, xỉu lên xỉu xuống đau khổ. Cho nên tu là phải quán chiếu cho sâu sắc tác hại và nguy hiểm của dục ái, quán cho đầy đủ nhiều phương diện khía cạnh góc độ của dục tham ái, nó nguy hiểm như thế nào, nó tác hại như thế nào để giảm bớt, xa lìa, còn bây giờ cứ nói "đời là khổ nên tu để hết khổ" mà toàn thấy nhào vào mấy cái khổ, miệng thì nói khổ nhưng trong bụng tìm khổ để nhào vô, miệng thì nói tu giải thoát mà trong bụng không thấy khổ, toàn thấy tham muốn, vui thích, khao khát, cho nên không thể gọi là đệ tử chân chánh của Đức Phật.

Cái sân như một người bị bệnh, đau đớn, trầm trọng, ăn uống không tiêu, thể lực suy yếu. Khi sân giận lên giống như người bị bệnh, không được khỏe, mình ăn cơm mà ngồi đối diện với người ghét thì ăn có ngon không? Ở chung phòng với người mình giận có thích không? Nghe tiếng dép lẹp xẹp bước vào cũng thấy bực mình, người xưa có câu "Yêu nhau cau sáu bổ ba. Ghét nhau cau sáu bổ ra làm mười", "Yêu nhau yêu cả đường đi, ghét nhau ghét cả tông chi họ hàng". Thương nhau có trái cau bổ ra làm ba cho to, bự để ăn được nhiều, còn ghét thì xẻ cho nhiều để ăn cho ít, nhiều khi thương quá lấy cho một tô lớn ăn không nổi, còn ghét khỏi cho ăn luôn, thành ra ghét cũng khổ mà thương quá cũng khổ, cho nên thương vừa vừa thôi, thương quá chịu không nổi, thương quá nên cứ kiểm soát, kiểm tra mình hằng ngày. Vì vậy một khi nổi sân lên phải quán chiếu "mình là người bị bệnh", đóng cửa phòng lại ngồi một mình trải tâm từ, mở bài trải tâm từ quán tâm từ chứ còn ở ngoài là có chuyện, gây sự với người khác, nặng thì không những chửi rủa mà còn đánh nhau, sân tầm, hại tầm phát triển tăng trưởng như con rắn độc trong lúc nổi sân nếu mình không biết kiểm soát. Vì thế khi giận hãy ở một mình, đừng tiếp xúc với ai, ở một mình xem lại nội tâm đồng thời niệm "an tịnh, lắng dịu, dễ chịu", rồi bắt đầu quán chiếu nguyên nhân nghiệp quả, tìm ra nguyên nhân tại sao lại vậy. Nếu không lúc đó mình sẽ phi Như lý tác ý, mình cứ nghĩa người ta sai mình đúng làm tăng trưởng thêm sân hận mà Đức Phật gọi là đối ngại tướng, mình cho người kia là chướng tai gai mắt thì cái sân đó không bao giờ trừ diệt được, phải trải tâm từ và tìm ra nguyên nhân cơn giận, phải biết rằng lúc đó mình đang bị bệnh nặng, lập tức điều trị bằng cách vào phòng ở một mình "không hết giận thì ở luôn trong phòng", chừng nào hết giận mới ra khỏi phòng. Cơn giận đó như bệnh truyền nhiễm, có những người đi đâu ngoài đường giận rồi về nhà xổ ra làm tan tành nhà cửa, giận cá chém thớt, giận người này nhưng đổ qua người kia, đó là cái tâm lậu hoặc. Còn khi thấy những người đang nổi sân thì "tránh xa, coi chừng bị lây bệnh", tất cả những người sân đều là những người bệnh nhưng nếu như đó là thiện pháp, là một sự giáo huấn dạy dỗ thì khác, đó là vì tình thương, vì lợi ích cho mình trong hiện tại và tương lai.

Nếu thấy bậc hiền trí,

Chỉ lỗi và khiển trách,

Như chỉ chỗ chôn vàng

Hãy thân cận người trí!

Thân cận người như vậy,

Chỉ tốt hơn, không xấu.

(Kinh Pháp Cú 06 – Phẩm Hiền Trí, kệ 76)

Người bị nhốt trong tù là người bị hôn trầm – thụy miên, cái tâm lúc nào cũng u ám, đờ đẫn, ngồi đâu gục đó, thậm chí đang tụng kinh cũng có thể ngủ được, nhất là khi tụng chú Lăng Nghiêm, vừa ngủ vừa tụng với cái giọng nhựa nhựa, nghe là biết người đó đang ngủ, đứng một hồi là chúi nhủi ra phía trước. Có nhiều người vào tụng là không cần biết nhịp phách gì nữa, cứ vào tụng là la lên không cần biết ai nữa làm người gõ mõ sân lên. Mình phải quán hôn trầm – thụy miên đó như người bị nhốt trong ngục, tự nhiên đang ở nhà rồi muốn cạo đầu bỏ cha bỏ mẹ để đi vào ngục ở để làm gì? Hôm nào đến giờ ngồi thiền cũng đơ đơ, đến giờ học cũng uể oải, mệt mỏi, như vậy là vào ngục tù, phải quán chiếu "Sao đáng thương cho mày quá vậy? Tội nghiệp, đau khổ cho mày quá. Mày làm tù binh chi vậy?". Tác ý để thoát ra khỏi cảm giác trì trệ đó, tác ý cho mạnh để đi ra cơn hôn trầm – thụy miên đó. Trạng thái hôn trầm này gây nguy hại rất lớn, có khi chết người, lái xe mà buồn ngủ sẽ gây hậu quả nghiêm trọng, phải tập tỉnh táo, sáng suốt, tinh minh, phải tập chú tâm cảnh giác và chánh niệm trong tất cả trường hợp, ngay cả khi ngủ cũng phải tập cảnh giác và chánh niệm, đừng để đi vào trạng thái không biết gì, đó là trạng thái của vô minh, si ám, đại lao tù ngục. Lúc nào cảm thấy buồn ngủ là tác ý để thoát ra "mày làm tù binh mày thoát ra khỏi đó đi", tác ý thật mạnh để trạng thái đó đi ra khỏi thân tâm. Lúc xưa có nhiều vị cao Tăng ngồi thiền là ngủ nên các vị đi ra cái cây mọc ngay vực thẳm, leo lên cái cây đó ngồi là khỏi ngủ, hồi xưa người ta tu học như vậy đó còn mình bây giờ như thế nào? Phải chống cự, đánh đuổi nó ra, đánh đuổi nó đi rồi vui sướng, ra khỏi ngũ cái là chứng nhập sơ thiền, trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh. Mình tu cả cuộc đời xuất gia mà không nếm được hương vị sơ thiền thì uổng cuộc đời tu hành, nếu tu học tinh tấn sẽ thường trực ở trong này, thậm chí là ở trong đó cả năm nếu đi ra khỏi ngũ cái.

Đức Phật ví dụ trạo hối như một người nô lệ, không được tự chủ, lệ thuộc người khác, không được tự do đi lại. Mình muốn im lặng tịnh khẩu mà không im lặng được, muốn ở không để tu hành mà không làm được, muốn nhập thất 7 ngày mà mới 2-3 ngày đã ra thất cuốc đất trồng rau, làm kế hoạch chương trình này nọ, cho nên không phải làm nhiều là hay, Đức Phật đã nói ưa thích công việc là pháp thối đọa của Tỳ-kheo.

Sáu pháp này, này các Tỳ-kheo, đưa Tỳ-kheo hữu học đến thối đọa. Thế nào là sáu?

Ưa công việc, ưa nói chuyện, ưa ngủ, ưa hội chúng, các căn không phòng hộ, ăn uống không tiết độ. (Tăng Chi Bộ, Chương VI – Sáu Pháp, IV. Phẩm Chư Thiên, (I) Hữu Học)

Ưa thích công việc là sự lùi lại, rơi xuống của người xuất gia chứ không phải là tốt, tức là mình bỏ giờ thiền định, bỏ giờ học pháp, không còn thích nghe pháp nữa, không thích nghe nói về ly tham, viễn ly, sự thật của thế giới này nữa, làm biếng ngồi thiền chỉ thích ra làm này làm kia thì đó là thối đọa, lùi lại và rơi xuống, vì lần lần mình sẽ đi vào thế tục, thế gian, đối với đời sống ly tham không ưa thích nữa mà muốn đi vào phố thị, muốn nổi tiếng, muốn nhiều người biết đến chùa của mình, đó là đi vào thế tục, ráng làm mọi cách để người ta biết đến chùa của mình, những cái đó đều là thế pháp chứ không phải là Phật pháp, cho nên mình lăng xăng không có giờ thiền định, không có giờ quán chiếu, bày công việc ra để làm, tưởng cái đó là hay nhưng ở trong chánh Phật pháp là không tốt, nhưng nếu nói tương đối thì làm chuyện thiện pháp vẫn đỡ hơn đi làm chuyện không đâu hoặc không chịu phụng sự Phật pháp, chỉ muốn hưởng thụ. Cho nên bây giờ để tìm được chánh Phật pháp nguyên chất của Phật giáo là cực kì khó khăn, từ ngày xuất gia đến giờ không bao giờ Minh Thành đi chơi, trên đường đi mà thấy chùa nào là ghé vào xem trong đó tu học ra sao hoặc đem kinh sách đến tặng, nhưng thường thì thất vọng, mình không nói người ta sai mình đúng nhưng vẫn thấy thương vì rất khó tìm thấy được Phật pháp nguyên chất, thông thường người ta sẽ hài lòng với những sắc pháp, với những điều họ làm nhưng cái đó lại là vô thường, hủy hoại, tiêu tan, trống rỗng, chúng ta lại luôn bận rộn với những cái này thì đó là trạo cử, không có thời gian thiền định, không có thời gian Bố tát tụng giới để thỉnh nguyện bày tỏ những cái xấu, những cái dở, ác bất thiện pháp trong tâm, không có thời gian để sám hối mà cứ chạy ra ngoài, cuối cùng bản chất của người tu không có mà chỉ có số lượng và hình thức, đây là điều đau xót. Vì thế trạo hối là nô lệ cho hình tướng, màu sắc bề ngoài, nô lệ cho danh lợi, ở yên tu không được mà phải đi để có bằng cấp, hiểu pháp rồi cũng không chịu tu, không chịu thực hành mà muốn có bằng cấp học vị với người ta, đó là cái dục đang thúc giục mình đi tìm danh lợi, địa vị mà đúng ra mình phải bỏ, cho nên khi đến chùa mà thấy im lặng, các thầy, các cô ngồi thiền là điều quý báu vô cùng, đó là điều hiếm có khó gặp. Khi đến chùa mà thấy trang nghiêm lặng lẽ, trong đó đang thảo luận về pháp, đang hướng dẫn pháp, đang tuyên dương thánh pháp là tuyệt vời. Hai điều quan trọng của bậc thánh là sự im lặng của bậc thánh và nói năng đúng chánh pháp, đó là hai điều quan trọng nhất của người xuất gia. Vì thế trong sự tu thì trạo hối cực kì sâu sắc, nhiều khi tu cả đời mà bị trạo hối vẫn không biết, nếu không thành tựu chánh kiến, nếu không biết nhận diện ngũ uẩn thì không biết mình bị trạo hối, nghe pháp một tiếng cũng không ngồi nổi, các căn dao động, lăng xăng, tất bật, đi cũng đi nhanh, nói cũng nói cho mau, lúc nào cũng tỏ ra mình là người bận rộn, đó là sự xấu hổ trong đạo, người tu không phải là người bận rộn, lăng xăng, cái chất của người tu là một chất ung dung chánh niệm, viễn ly đối với các pháp nhưng khi làm việc vẫn làm hết mình, nhưng phong thái của người tu phải là sự ung dung chánh niệm đối với các pháp. Riêng bản thân Minh Thành, chỗ nào càng dao động thì chỗ đó mình càng phải tỉnh táo chừng đó, lấy tĩnh chế động, cho nên chỗ càng dao động chừng nào thì càng phải giữ tâm kĩ chừng đó, nếu không mình sẽ bị cuốn theo, bị dao động theo. Vì thế mà người tu cần đạt đến chỗ vô vi, vô vi là đoạn tận tham, đoạn tận sân, đoạn tận si, vì tham dục của mình còn mạnh nên vẫn còn lăng xăng. Người đã có chiều hướng ly dục, nhiếp phục được dục thì sự thanh thoát sẽ biểu hiện ra, trong tâm không còn cảm giác thúc giục, tìm kiếm, khao khát nữa nên không cần dao động, bận rộn nữa. Còn trong tâm vẫn còn thúc giục, đòi hỏi, truy cầu nên phải chạy đi tìm, lăng xăng, cho nên trạng thái của các bậc thánh là ly dục tịch tịnh. Vì thế mà mình vẫn còn lăng xăng, tháo động thì mình biết mình là kẻ nô lệ, "mày là kẻ nô lệ không tự chủ được, không có tự do". Cứ bình thản nhưng bình thản những lúc bình thường chứ những khi hữu sự như nhà cháy, có chuyện gấp lại đi thiền hành là không đúng, mình phải tùy vào hoàn cảnh mà tu, phải biết ứng dụng cho đúng chỗ đúng lúc.

Hoài nghi như một người giàu có, nhiều tài sản, đang đi qua bãi sa mạc, trong tâm người đó cứ hoài nghi Phật, hoài nghi pháp, hoài nghi Tăng, không biết hướng nào để đi cho đúng, cả một hoang mạc mênh mông không có sự định hướng. Định hướng của người tu là nhiếp phục tham sân si, tăng thượng giới – định – tuệ, đời sống của người xuất gia là đời sống ly tham, diệt bản ngã, đạo lộ tu tập được Đức Phật vạch ra rất rõ ràng trong kinh Nikāya thì còn gì nữa mà nghi ngờ. Phải xác quyết trong tâm chứ không cứ như đứng ở ngã 6, ngã 7, lúc thì niệm Phật, lúc thì trì chú, lúc thì ngồi thiền, phải tìm hiểu cho chính xác để thành tựu chánh kiến, tìm hiểu cho sâu sắc, tới nơi tới chốn để trong tâm tịnh tính bất động với chánh pháp. Phải quay trở về nguyên chất của Đức Phật dạy trong kinh tạng Nikāya, nhận diện được ngũ uẩn, nhìn thấy được tham sân si, nhiếp phục được bản ngã, sống đời sống ly tham, ít muốn biết đủ, phá hủy năm triền cái, thành tựu được hỷ lạc, khi đã phá được ngũ cái sẽ đi đến cảnh giới của sơ thiền./.