Nghiệp Và Tư Tưởng
NGHIỆP VÀ TƯ TƯỞNG
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Khuyến tấn hành thiện PAGEREF _Toc112767269 \h 1
II. Xúc – tưởng – tư PAGEREF _Toc112767270 \h 7
I. Khuyến tấn hành thiện
Sáng nay vừa trả bài, vừa ví dụ chứng minh Bảy trí về sắc. Bây giờ chúng ta qua Bảy trí về tưởng. Sắc là hình sắc bên ngoài, mình có thể nhìn thấy được. Thân người, cảnh vật, đồ vật tứ đại bên ngoài gọi là sắc.
Và này các Tỳ-kheo, thế nào là sắc? Bốn đại chủng và sắc do bốn đại chủng tạo thành. Này các Tỳ-kheo, đấy được gọi là sắc.
(Tương Ưng Bộ, Tập III. Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (c), B. Năm Mươi Kinh Ở Giữa, I. Phẩm Tham Luyến, IV. Thủ Chuyển)
Đất, nước, gió, lửa chỗ nào cũng có nên gọi là tứ đại. Sắc do tứ đại tạo thành như cái cây, ghế ngồi, cái thân mình. Gọi là bốn đại vì 4 thứ này quảng đại, cùng khắp mọi nơi. Nói rộng sẽ có 6 đại là không đại và thức đại, còn nói gọn là 4 đại. Nghĩa là 4 cái này có khắp nơi khắp chốn, những cái sắc do 4 cái này tạo ra, tức là tất cả hình sắc, sự vật đều từ 4 đại tạo ra. Cho nên khi nhìn bằng trí quán 4 đại thì mình ít chạy theo hình tướng để phân biệt vì sắc nào cũng do đất, nước, gió, lửa tạo thành.
Con người đẹp nhất hành tinh cũng là 4 đại, người bị cùi hủi, lở loét, bại liệt cũng là 4 đại, tất cả 4 đại đều như nhau, người kia có gì là người này có đó, chỉ khác ở chỗ người này do cái nghiệp ác mà 4 đại biểu hiện ra vậy, còn người kia có nghiệp thiện nên nó hiện ra vậy, thành ra phải biết sợ cái nghiệp. Những cậu thanh niên bên Mỹ cao lớn, trắng trẻo, đẹp trai, sinh ra trong môi trường tốt nhưng cũng là thanh niên, còn giờ người dân tộc ở đây cũng có 2 mắt, 2 lỗ mũi, 2 tay 2 chân nhưng lại xấu xí, bần cùng, đen đúa, không có học vấn, không có tri thức. Cũng là tứ đại nhưng khác nhau về nghiệp, cho nên cái nghiệp trong vòng luân hồi sanh tử này cực kì quan trọng, trừ khi chấm dứt sanh tử thì mới không sợ, chứ còn ở trong sanh tử là cái nghiệp quyết định tất cả.
Ta là chủ nhân của nghiệp, là thừa tự của nghiệp, nghiệp là thai tạng, nghiệp là quyến thuộc, nghiệp là điểm tựa. Phàm nghiệp nào ta sẽ làm thiện hay ác, ta sẽ thừa tự nghiệp ấy.
(Tăng Chi Bộ Kinh, Chương V. Năm Pháp, VI. Phẩm Triền Cái, (VII) (57) Sự Kiện Cần Phải Quan Sát).
Giữa một người minh tinh điện ảnh, một người mẫu đẹp với một người bò lếch dưới đường bị cùi, nằm liệt gường 20 năm bị lở loét khắp người, đại tiểu tiện một chỗ, muốn đứng dậy là phải có người dìu, muốn nằm xuống phải có người đỡ thì có khổ không? Đó là sự sai biệt của tứ đại là do nghiệp. Khi quán chiếu về nghiệp quả sẽ thấy rất hay, cho nên mình quán chiếu nghiệp quả thường xuyên sẽ không nghĩ xấu về ai, dù người đó có nghĩ xấu về mình thì mình cũng dùng từ tâm, dùng bi tâm, dùng thiện tâm, dùng hỷ tâm để hỷ xả cho họ, như vậy phước đức của mình rất lớn, có thể đời sau sanh ra mình có đầy đủ tất cả, vừa có sắc đẹp vừa có sức khỏe, vừa tài năng vừa trí huệ, giàu có và quyền lực, đó là do cái phước của thiện nghiệp biểu hiện như vậy. Minh Thành nhắc nhở từ xuất gia đến cư sĩ, mới vào chùa cho đến ở lâu cũng đừng đối xử không tốt đối với người khác, dù cho người khác hay người mới tập tu, đối với các bậc tôn trưởng càng phải tôn kính. Những ý niệm, lời nói, hành vi bất thiện của mình sẽ chiêu cảm quả báo không thể tưởng tượng được cho nên thiện nghiệp rất tốt. Đức Phật trong kinh Pháp Cú cực kì khen ngợi thiện nghiệp.
Nay vui, đời sau vui,
Làm phước, hai đời vui.
Người ấy vui, an vui,
Thấy nghiệp tịnh mình làm .
(Kinh Pháp Cú Phẩm Song Yếu, kệ 16)
Nay sướng, đời sau sướng,
Làm phước, hai đời sướng.
Mừng rằng: "Ta làm thiện",
Sanh cõi lành, sướng hơn.
(Kinh Pháp Cú Phẩm Song Yếu, kệ 18)
Vui sướng khi thấy quả thiện của mình nở rộ ra, người đó đi chỗ nào cũng sướng, gặp toàn người đẹp, ở chỗ tốt, ăn toàn món ngon. Tất cả những cái sắc; thanh; hương; vị; xúc; pháp của người đó là thù thắng tối thượng, là người có phước đức trong thiện nghiệp. Họ thấy cái gì cũng đều là đẹp, nghe những lời hay, ngửi, nếm, xúc chạm đều là thiện nghiệp thù thắng. Hai huynh đệ trẻ bên nước ngoài về thăm, hôm qua nghe thầy nói chuyện PCCC thì tự động rủ cha mẹ mua để cúng dường bình xịt cho chùa, thanh thiếu niên bình thường thì đâu nghĩ đến chuyện này. Những cái này là thiện tâm, thiện ngữ, thiện hạnh của mình, những cái này sẽ giúp cho mình vui trong hiện tại và tương lai.
Những cái này mới nuôi dưỡng cái thiện, phát huy cái thiện, nghĩ thật nhiều về cái tốt, nói thật nhiều lời tốt về những người khác, làm thật nhiều việc tốt cho người khác thì mình sanh ra ở đâu cũng tốt, cũng được thù thắng. Bản thân Minh Thành không biết nhiều đời nhiều kiếp của mình tu tập ra sao nhưng khi thấy cụ già hơn 70 tuổi bán vé số hay nhặt ve chai là thấy như có ai bóp nghẹt tim gan, mới nhìn thôi nước mắt đã chảy ra. Minh Thành trên đường đi dạy học ở trường thấy có người bán nước, không có chỗ ngồi tử tế mà phải cầm những cái ly chạy ra chỗ đèn xanh đèn đỏ đưa ra tài xế xe tải, gặp xe nào chạy nhanh có thể nguy hiểm tính mạng mà 1 ly trà đá đâu có bao nhiêu tiền.
Chỉ có 3 ngàn, 5 ngàn mà phải bán mạng mình như thế, tại sao người ta phải làm vậy? Vì người ta thiếu phước, không có thiện nghiệp. Minh Thành hay nhắc mọi người, nhất là những người trong gia đình hãy làm phước, đừng keo kiệt, đừng gom góp cho riêng mình. Đức Phật dạy khi nhà bị lửa cháy mà mình không biết lấy đồ quý ra thì nó sẽ cháy hết mọi thứ, lấy đồ ra đem đi bố thí, cúng dường giúp người nghèo khổ. Cháy hết giống như lúc chết không còn gì nữa. Thà là mất đồ chứ đừng để mất thiện tâm của mình, cái tâm thiện phải biết bảo hộ, cái này còn quý hơn đồ đạc, vì một khi đã mất tâm thiện thì những thứ khác không còn quan trọng gì nữa. Người không biết sẽ nghĩ đồ đạc bên ngoài mới quan trọng nhưng cái thiện tâm, cái tâm lành, nhân hậu, từ bi mới là quý giá nhất.
Có cái tâm đó là có tất cả, giống như mình hay nói giữ non xanh rừng cây thì lo gì không có củi. Lo giữ mấy khúc củi để làm gì trong khi không giữ lấy cánh rừng? Cánh rừng đó là từ bi tâm, từ vô lượng tâm, bi vô lượng tâm, hỷ vô lượng tâm, xả vô lượng tâm của mình, giữ lấy núi xanh, rừng rậm thì tại sao lại không có củi, cho nên phải rất sợ đối với nghiệp quả. Những suy nghĩ, lời nói, hành động xấu về người khác nếu chưa biết chắc thì không được nói mà lỡ có biết thì cũng hạn chế nói, trừ khi có những việc cần nói vì trách nhiệm. Tu như vậy thì từ đỉnh đầu đến gót chân đều là thiện pháp, nhìn ở đâu cũng thấy bầu trời trong sáng.
Nhất thiên minh mỵ,
Thôn thôn liễu lục hoa hồng,
Vạn lý phong quang,
Xứ Xứ oanh đề điệp vũ.
Dịch nghĩa: Một trời quang đãng đáng yêu,
Nơi nơi liễu thắm hoa hồng,
Muôn dặm sáng tươi,
Chốn chốn oanh ca bướm lượn.
Từ tâm thiện nhìn ra, mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý đều có thiện pháp tích tụ cho nên ở thiên quốc, cõi trời là tất cả đều là thiện. Thiên là thiện, cái thiện đó biểu hiện ra thành thiên quốc, thiên đàng. Còn mình ở đây gọi là Cổng Trời là vì nghiệp thiện biểu hiện ra cảnh thiên, từ gốc thiện của mình biểu hiện ra sự đối đãi tốt của bao nhiêu người từ chân núi lên Cổng Trời, nếu người ta dùng đủ thủ đoạn xấu mà mình đem tâm thiện đối xử ngược lại thì mình sẽ được phước báu chứ mình không có chống đối, không có đối ngại tưởng vì đối ngại tưởng là thức ăn của sân hận. Những cái này phải học pháp mới biết được hành tướng của tâm, đối ngại tưởng là mình khởi lên ý tưởng người đó hay đối tượng đó là chướng ngại, là phá hoại mình, làm mất lợi ích của mình.
Khi khởi ý tưởng đó lên thì đó là thức ăn của sân hận, mình nuôi cái tâm nóng giận, cho nên khi thấy có đối ngại tưởng là phải dùng từ bi tâm phá ngay, dập cái tâm sân đó tan thành mây khói, phải diệt tận, bứng gốc rễ bỏ ngay. Trong cuộc đời tu của Minh Thành có nhiều người nói xấu mình, ghét mình mà mình biết, lúc đầu chưa học nhiều thì có khi cũng thấy khó chịu nhưng về sau mình tập không khó chịu mà quán chiếu "đây chắc là nghiệp quả từ đời trước của mình", học cao lên nữa thì quán từ bi tâm, trải tâm từ đến họ, thương họ chứ không giận nữa, như vậy mình mới chuyển hóa được cái nghiệp trong hiện tại và quá khứ.
Cho nên trong cuộc đời mình sẽ có nhiều trường hợp như vậy, có nhiều người tự nhiên đến gây sự, kiếm chuyện gây sự mà mình không làm gì họ thì mình phải biết đây là hoa trái của quá khứ, nghiệp quả của mình. Còn khi mình không học, không biết thì mình sẽ sân hận, như vậy cái quả dị thục của nghiệp trong quá khứ sẽ trổ ra, mình không có Túc Mạng Minh, tức là mình không có trí huệ để nhìn thấy những đời trước của mình nên mình phải nương nơi trí huệ nhân quả nghiệp báo của Đức Phật để mình quán chiếu, từ đó mới hóa giải được nghiệp quả. Nếu không dùng thiện tâm, không dùng từ tâm thì làm sao mình trụ ở núi được?
Không thể ở được chứ đừng nói gì đến phát triển rộng mở, mình ở không xong thì ai ở nữa, ở không yên thì làm sao tu học được? Thấy bên ngoài như vậy chứ bên trong còn thâm sâu hơn nữa, phải tu tập rất nhiều, gặp nhiều nhân duyên, có nhiều sự quán chiếu. Cho nên cái nghiệp rất quan trọng, nghiệp là điểm tựa trong hiện tại và đời sau cho nên phải cẩn thận đối với suy nghĩ, lời nói, hành động của mình. Khi thấy bất thiện phải tìm mọi cách ngăn chặn, nhiếp phục, chuyển hóa theo chiều thiện. Vào khoảng 4-5 năm trước, có khi một mình Minh Thành chống gậy đi lên Quán Chiếu Đường đứng một mình thấy mây trời bao la, chim hót líu lo, bình minh mây giăng trắng xóa thì bên trong Minh Thành có cảm giác đặc biệt, thấy rằng tất cả ở đây đang biểu hiện thiện nghiệp trong quá khứ và hiện tại mình tu hành, không phải mình ở núi này mới trong đời này.
Có 1 thầy Tỳ-kheo, lúc Đức Phật còn tại thế, ở Ấn Độ vào mùa hè quá nóng. Khi thầy ngồi thiền có mồ hôi quá nhiều thì thầy muốn xả thiền nhưng thầy quán chiếu mới nóng một chút như vầy mà chịu không nổi thì mai đây xuống địa ngục làm sao chịu nổi? Khi vị thầy này quán như vậy, triển khai tuệ quán đến mức cùng cực thì đốt cháy phiền não, chứng quả A-la-hán ngay đó. Có một vị thầy khác gặp lạnh chịu không nổi, muốn nằm ngủ chứ không muốn ngồi thiền thì thầy quán mới lạnh một chút đã chịu không nổi thì sau này vào hàn băng địa ngục làm sao chịu nổi, như vậy là thầy này tinh tấn nỗ lực, quyết liệt tu hành thì cuối cùng thầy chứng quả, diệt tận tham sân si.
Cho nên cái tuệ quán rất hay, nhìn lại các huynh đệ cùng tu với mình hoặc nhìn các Phật tử thì Minh Thành thấy thương, vì người ta không biết nghiệp quả, không biết phước thiện thì người ta hay oán trách, người nào không quán chiếu lý nhân quả, nghiệp báo thì người đó thường hay oán trách, oán trời trách đất và hận đời, hận những người xung quanh rồi ganh tỵ, họ không biết giữ rừng mà chỉ lo nhìn những cây củi, tức là họ chỉ nhìn những cái mình được mà họ không biết tại sao lại được những cái đó, họ không có trí huệ nên không thể biết được nên họ tật đố rồi ganh tỵ. Trong sự tu của mình mà mình quán chiếu về nghiệp quả là rất hay, thành ra sự quán chiếu này làm cho mình tăng trưởng thiện pháp.
II. Xúc – tưởng – tư
Mình phải phân biệt được sắc và sắc tưởng. Sắc là hình sắc, vật chất, sự vật. Sắc tưởng là những hình bóng về những cái sắc đó ở trong nội tâm của mình. Khi mình phân biệt thì sẽ nhìn rất rõ. Thanh là tiếng ở bên ngoài, khi ngồi thì mình nhớ lại những âm thanh đó thì gọi là thanh tưởng. Tưởng là sự tưởng nhớ. Hương là mùi thơm, mùi ngon, mùi hôi. Hương tưởng là mình hồi tưởng lại, liên tưởng lại cái mùi đó. Một cái là thật pháp, một cái là bóng của các pháp đó. Vị là khi mình ăn một món nào đó. Khi ngồi một mình mà nhớ lại cái vị đó thì gọi là vị tưởng. Xúc là sự tiếp xúc, khi ngồi lên máy bay, được thắt dây an toàn, cảm thấy đồ ăn trên máy bay ngon thì đó là xúc, nhãn xúc, tỷ xúc, nhĩ xúc, thiệt xúc, thân xúc.
Xúc trong sự lạc thọ, có khi cũng có khổ thọ mà mình không thấy như phải chờ bay lâu quá hoặc bị trễ chuyến, khổ thọ nhưng vẫn có lạc thọ vì lần đầu tiên được bay máy bay. Khi mình xúc như vậy thì đó là xúc trần, còn xúc tưởng là khi đi rồi, trở về chùa nhớ lại những cái mình đã tiếp xúc, bay lên có cảm giác ra sao, đáp xuống cảm giác ra sao, có người phục vụ trên máy bay cảm giác ra sao, những cái đó là khi mình tưởng nhớ lại sự tiếp xúc của mắt, tai, mũi, lưỡi, thân thì gọi là xúc tưởng, còn khi mình trực tiếp tiếp xúc thì gọi là xúc trần. Lúc chưa đi tu mình và người bạn rất thân, còn giờ tu 5 năm rồi không gặp nhau nữa, khi ngồi thiền thì hình bóng người đó hiện ra, mình thấy người đó cười nói như khi xưa mình đã nói với họ thì đó là xúc tưởng, là những hình bóng đó hiện khởi trở lại. Sắc chất bên ngoài khó làm mình chết hơn là sắc tưởng.
Đi qua rồi nhìn, nói chuyện vài câu là xong, người ta đã đi rồi nhưng mình về nhà mà sắc tưởng vẫn còn, có khi mấy ngày sau vẫn chưa hết, lâu lâu lại nhớ đến hình bóng người đó. Đức Phật đã nói Ngài không thấy một sắc nào lại làm cho say mê, điên đảo, ràng buộc giống như sắc của người nữ đối với người nam, giống như sắc người nam đối với người nữ. Chỉ cần một nụ cười, một câu nói, một cử chỉ thôi cũng làm cho mình có thể mê say, đắm đuối, ràng buộc trong đó, không thể thoát ra được. Nếu có giọng nói êm ái nữa là thanh tưởng, có mùi hương đặc biệt tỏa ra từ cơ thể là hương tưởng, mời ăn cái gì là vị tưởng, lỡ đưa đồ cúng dường chạm trúng tay thì đó là xúc tưởng, trở về chùa thì thọ; tưởng; hành; thức vận hành lại là pháp tưởng. Như vậy 6 tưởng tấn công đồng thời cùng lúc thì làm sao mình chống đỡ nổi?
Này các Tỳ-kheo, Ta không thấy một sắc nào khác lại khả ái như vậy, đẹp đẽ như vậy, mê ly như vậy, trói buộc như vậy, say sưa như vậy, chướng ngại như vậy cho sự đạt đến an ổn khỏi các khổ ách, tức là, này các Tỳ-kheo, sắc đẹp của nữ nhân.
Này các Tỳ-kheo, Ta không thấy một tiếng nào khác... một hương nào khác... một vị nào khác... một xúc nào khác lại khả ái như vậy, đẹp đẽ như vậy, mê ly như vậy, trói buộc như vậy, say sưa như vậy, chướng ngại như vậy cho sự đạt đến an ổn khỏi các khổ ách, tức là, này các Tỳ-kheo, cảm xúc của nữ nhân. Và này các Tỳ-kheo, loài hữu tình nào ái nhiễm, tham luyến, tham đắm, say đắm, say mê cảm xúc nữ nhân, chúng sẽ bị sầu ưu lâu dài, vì bị rơi vào uy lực của nữ xúc. Nữ nhân, khi đang đi, sẽ đứng lại để chinh phục tâm người đàn ông; khi đứng, khi ngồi, khi nằm, khi cười, khi nói, khi hát, khi khóc, khi bất tỉnh, khi chết, sẽ đứng lại để chinh phục tâm người đàn ông.
(Tăng Chi Bộ Kinh, Chương V – Năm Pháp, VI. Phẩm Triền Cái, (V) (55) Mẹ Và Con).
Trong một bài kinh Đức Phật ví dụ người ta làm cái bẫy, bắt con khỉ, người ta để keo dính, con khỉ lấy tay phải đụng vào thì dính tay phải, lấy tay trái gỡ ra thì dính luôn tay trái, lấy chân phải gỡ ra thì dính chân phải, lấy chân trái gỡ ra thì dính chân trái, lấy miệng gỡ ra thì dính luông cái miệng, càng gỡ thì nó càng dính.
Đức Phật đưa ra cho mình các pháp, 7 trí về sắc, thế nào là sắc, thế nào là sắc sanh, thế nào là sắc diệt, thế nào là sắc diệt đạo, thế nào là sự nguy hiểm của sắc, thế nào là vị ngọt của sắc, thế nào là sự xuất ly khỏi sắc. Phải nắm vững 7 trí về sắc, nắm cho thuần phục, điêu luyện.
Tôn giả Ananda, vào buổi sáng, đắp y, cầm y bát vào thành Vesàli để khất thực.
Tôn giả Ananda thấy một số đông thiếu niên người Licchavi trong hội trường tập bắn cung, từ xa bắn xuyên qua lỗ khóa nhỏ, từ lông đuôi mũi tên này tiếp lông đuôi mũi tên khác, không sai trượt lần nào.
Thấy vậy, Tôn giả suy nghĩ: "Thật có tập luyện, các thiếu niên Licchavi này! Thật khéo tập luyện, các thiếu niên Licchavi này! Vì rằng, từ xa họ bắn xuyên qua lỗ khóa nhỏ, từ lông đuôi mũi tên này tiếp lông đuôi mũi tên kia, không sai trượt lần nào".
Rồi Tôn giả Ananda, sau khi khất thực ở Vesàli xong, sau bữa ăn, trên con đường đi khất thực trở về, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:
Bạch Thế Tôn, con thấy rất nhiều thiếu niên Licchavi trong hội trường tập bắn cung, từ xa bắn xuyên qua lỗ khóa nhỏ, từ lông đuôi mũi tên này tiếp lông đuôi mũi tên khác, không sai trượt lần nào. Thấy vậy con nghĩ như sau: "Thật có tập luyện, các thiếu niên Licchavi này! Thật khéo tập luyện, các thiếu niên Licchavi này! Vì rằng từ xa họ bắn xuyên qua lỗ khóa nhỏ, từ lông đuôi mũi tên này nối tiếp lông đuôi mũi tên khác, không sai trượt lần nào".
-- Ông nghĩ thế nào, này Ananda, cái gì khó làm hơn hay cái gì khó đạt đến (abhisambhava), từ xa bắn xuyên qua lỗ khóa nhỏ, từ lông đuôi mũi tên này tiếp lông đuôi mũi tên khác, không sai trượt lần nào, hay bắn xuyên đầu một sợi lông được chia nhỏ một trăm lần?
-- Việc này khó làm hơn, bạch Thế Tôn, khó đạt đến hơn, tức là bắn xuyên đầu một sợi lông được chia nhỏ một trăm lần.
-- Cũng vậy, này Ananda, chúng đâm xuyên ngang qua một cái gì khó đâm xuyên hơn là những ai như thật đâm xuyên qua: "Ðây là Khổ"... như thật đâm xuyên qua: "Ðây là Con Ðường đưa đến sự Khổ diệt".
Do vậy, này Ananda, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Khổ"... một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt"
(Tương Ưng Bộ, Tập V – Thiên Đại Phẩm, Chương XII. Tương Ưng Sự Thật (b), V. Phẩm Vực Thẳm, 45. V. Chiggala (1) (Lỗ khóa hay sợi lông))
Người thấu được trí Tứ Đế này là giỏi gấp trăm ngàn lần việc bắn chẻ sợi lông ra làm 100 lần, người như thế mới đứng được trong pháp và luật của Như Lai. Bắn một phát là thành tựu được khổ trí, thấy được thân ngũ uẩn này là khổ, thấy tham sân si là nguyên nhân của khổ và biết thực tập Bát Chánh Đạo để chấm dứt khổ thì người đó mới gọi là xạ thủ, bắn tan tành cái khổ uẩn, vô minh uẩn to lớn. Khi học 6 tưởng khi ngồi thiền đối diện với nó rất nhiều, trước mắt mình không có gì nhưng khi ngồi là bao nhiêu cảnh hiện ra trong nội tâm, tất cả đều là 6 tưởng.
Thành ra khi ngồi thiền phải nhận diện được 6 tưởng, còn nếu không biết mình sẽ nói những cái đó là tâm của mình "tôi đang nghĩ", đang ngồi thiền trong thất tự nhiên thấy đói bụng, lại còn nghe mùi sầu riêng bốc lên, vậy là xả thiền ra ăn sầu riêng, ở một mình rất dễ buông lung phóng dật nên lúc đó mình phải biết đó là hương tưởng, sắc tưởng. Hoặc đang ngồi thiền mà đột nhiên nhớ có chuyện gấp phải gọi điện, vậy là xả thiền đi lấy điện thoại để gọi điện. Giờ ngồi thiền là phải cắt hết mọi thứ, phải làm chủ thân tâm mình, không để cho các thứ này hoạt động, chi phối, vận hành. Khi thấy rõ được 6 tưởng thì việc tu hành rất lợi ích.
Mình phải nắm thật vững 7 trí về tưởng vì hằng ngày mình sống với cái tưởng mà không biết thì gọi là vô minh, tưởng hoạt động suốt ngày trong nội tâm của mình. Xúc tập khỏi nên tưởng tập khởi, từ tiếp xúc nên mới có thọ; tưởng; hành, có cảm giác, hình bóng và những suy nghĩ. Do xúc đoạn diệt nên tưởng đoạn diệt, không xúc nữa thì sẽ không có tưởng, tiếp xúc với các loại game nên sanh ra các tưởng; thọ; hành. Khi xúc thì tưởng thua, tưởng thắng, tưởng bại rồi bắt đầu có cảm giác, suy nghĩ, lại tiếp tục xúc thì lại sanh ra tưởng rồi lại có cảm giác, suy nghĩ.
Cứ như vậy không dừng lại được, còn khi cắt đứt xúc thì hết tưởng. Ăn, uống, ngủ là bình thường nhưng mình không có trí huệ cho nên mình bị dính mắc, bây giờ mình có trí huệ sẽ biết vị ngọt, sự nguy hại và biết sự xuất ly của nó. Vị ngọt thì đương nhiên khi ăn ngon sẽ thích thú, nhưng mình biết sự nguy hại là nếu mình ăn nhiều, ăn hoài thì có thể dẫn đến bệnh, chất béo nhiều đưa đến bệnh gan hay khó tiêu. Mình muốn ăn món này hoài là mình sẽ khổ vì không phải ngày nào cũng nấu, mà nếu ngày nào cũng nấu thì không thích vì ngán, lâu ngày ăn mới thích. Mình phải quán chiếu cái vị này vô thường, cái hương này vô thường.
Nhiếp phục dục tham ở trong cái món đó, có thì ăn không có thì thôi. Hôm đó nấu món mình thích mà mình đi công việc xa về trễ nên hết đồ ăn, lúc đó mình không quán chiếu sẽ bị phiền não, nhưng có quán chiếu thì nhiếp phục được phiền não. Nói rộng ra, con người không dừng lại ở món ăn mà tiến lên chiếc xe, đối tượng tham ái chứ món ăn là còn dễ nhưng không dừng lại ở đó, nó bị hệ lụy, ràng buộc vào một con người. Mình phải biết rằng nó là vô thường, biến đổi và khi nhiếp phục dục tham trong đó thì được bình an.
Khi cái tưởng khởi lên các hỷ lạc thì mình phải biết đó là vị ngọt. Ngồi một mình là hình bóng của ai hiện lên rồi cười một mình thì phải biết đó là vị ngọt của tưởng và sự nguy hại của tưởng. Phải nhiếp phục dục tham để mình thoát ra khỏi cái tưởng đó, đại đa số con người bị cái tưởng làm khổ vì tưởng không đúng sự thật. Có một ông làm nghề bổ củi, một hôm ông bị văng lưỡi búa ra mà lưỡi đó vẫn còn tốt và rất đẹp. Ông tìm hoài không được nên khi thấy đứa nhỏ hàng xóm đi ngang, trong đầu ông nghĩ cái tướng của đứa nhỏ này là tướng người ăn cắp, chỉ nó có lấy lưỡi búa của mình chứ không ai lấy. Cuối cùng ông tìm ra lưỡi búa của mình bị mắc kẹt trong hốc, tìm ra rồi ông nhìn lại đứa nhỏ thì thấy nó không giống kẻ trộm, chỉ thấy một đứa nhỏ bình thường vô tư. Như vậy cái tưởng đó làm mình không thấy được sự thật và mình bị cái tưởng đó lừa gạt.
Vì thế mình phải phát huy trí huệ để nhìn thấu được cái tưởng. Khi Minh Thành bảo làm gì thì lại nói cái này chắc khó lắm, làm không được đâu, cái đó là tưởng. Tới chừng bắt tay vào làm lại được, thành ra mình bị cái tưởng che mờ cho nên cứ việc đi vào thực pháp, mình cứ nghĩ khóa tu 7 ngày thì làm sao tu nổi hay tu luôn 1 tháng thì làm sao nổi. Nhưng đó chỉ là tưởng tượng chứ thật sự vào tu không có bệnh mà ngược lại còn khỏe ra. Thọ; tưởng; hành lừa dối mình, cứ đi vào thực pháp mới chinh phục được cái tưởng, xuất ly khỏi cái tưởng, nhiếp phục cái tưởng, còn không là cái tưởng làm cho mình khổ sở, đi ngang hỏi thăm mà không trả lời là trong đầu suy nghĩ ra đủ thứ chuyện, vẽ ra đủ thứ lý do cho việc sao hỏi mà người kia không trả lời. Đó là mình đã rơi vào cái bẫy của tưởng rồi bị dính chặt trong đó.
./.
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Khuyến tấn hành thiện PAGEREF _Toc112767269 \h 1
II. Xúc – tưởng – tư PAGEREF _Toc112767270 \h 7
I. Khuyến tấn hành thiện
Sáng nay vừa trả bài, vừa ví dụ chứng minh Bảy trí về sắc. Bây giờ chúng ta qua Bảy trí về tưởng. Sắc là hình sắc bên ngoài, mình có thể nhìn thấy được. Thân người, cảnh vật, đồ vật tứ đại bên ngoài gọi là sắc.
Và này các Tỳ-kheo, thế nào là sắc? Bốn đại chủng và sắc do bốn đại chủng tạo thành. Này các Tỳ-kheo, đấy được gọi là sắc.
(Tương Ưng Bộ, Tập III. Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (c), B. Năm Mươi Kinh Ở Giữa, I. Phẩm Tham Luyến, IV. Thủ Chuyển)
Đất, nước, gió, lửa chỗ nào cũng có nên gọi là tứ đại. Sắc do tứ đại tạo thành như cái cây, ghế ngồi, cái thân mình. Gọi là bốn đại vì 4 thứ này quảng đại, cùng khắp mọi nơi. Nói rộng sẽ có 6 đại là không đại và thức đại, còn nói gọn là 4 đại. Nghĩa là 4 cái này có khắp nơi khắp chốn, những cái sắc do 4 cái này tạo ra, tức là tất cả hình sắc, sự vật đều từ 4 đại tạo ra. Cho nên khi nhìn bằng trí quán 4 đại thì mình ít chạy theo hình tướng để phân biệt vì sắc nào cũng do đất, nước, gió, lửa tạo thành.
Con người đẹp nhất hành tinh cũng là 4 đại, người bị cùi hủi, lở loét, bại liệt cũng là 4 đại, tất cả 4 đại đều như nhau, người kia có gì là người này có đó, chỉ khác ở chỗ người này do cái nghiệp ác mà 4 đại biểu hiện ra vậy, còn người kia có nghiệp thiện nên nó hiện ra vậy, thành ra phải biết sợ cái nghiệp. Những cậu thanh niên bên Mỹ cao lớn, trắng trẻo, đẹp trai, sinh ra trong môi trường tốt nhưng cũng là thanh niên, còn giờ người dân tộc ở đây cũng có 2 mắt, 2 lỗ mũi, 2 tay 2 chân nhưng lại xấu xí, bần cùng, đen đúa, không có học vấn, không có tri thức. Cũng là tứ đại nhưng khác nhau về nghiệp, cho nên cái nghiệp trong vòng luân hồi sanh tử này cực kì quan trọng, trừ khi chấm dứt sanh tử thì mới không sợ, chứ còn ở trong sanh tử là cái nghiệp quyết định tất cả.
Ta là chủ nhân của nghiệp, là thừa tự của nghiệp, nghiệp là thai tạng, nghiệp là quyến thuộc, nghiệp là điểm tựa. Phàm nghiệp nào ta sẽ làm thiện hay ác, ta sẽ thừa tự nghiệp ấy.
(Tăng Chi Bộ Kinh, Chương V. Năm Pháp, VI. Phẩm Triền Cái, (VII) (57) Sự Kiện Cần Phải Quan Sát).
Giữa một người minh tinh điện ảnh, một người mẫu đẹp với một người bò lếch dưới đường bị cùi, nằm liệt gường 20 năm bị lở loét khắp người, đại tiểu tiện một chỗ, muốn đứng dậy là phải có người dìu, muốn nằm xuống phải có người đỡ thì có khổ không? Đó là sự sai biệt của tứ đại là do nghiệp. Khi quán chiếu về nghiệp quả sẽ thấy rất hay, cho nên mình quán chiếu nghiệp quả thường xuyên sẽ không nghĩ xấu về ai, dù người đó có nghĩ xấu về mình thì mình cũng dùng từ tâm, dùng bi tâm, dùng thiện tâm, dùng hỷ tâm để hỷ xả cho họ, như vậy phước đức của mình rất lớn, có thể đời sau sanh ra mình có đầy đủ tất cả, vừa có sắc đẹp vừa có sức khỏe, vừa tài năng vừa trí huệ, giàu có và quyền lực, đó là do cái phước của thiện nghiệp biểu hiện như vậy. Minh Thành nhắc nhở từ xuất gia đến cư sĩ, mới vào chùa cho đến ở lâu cũng đừng đối xử không tốt đối với người khác, dù cho người khác hay người mới tập tu, đối với các bậc tôn trưởng càng phải tôn kính. Những ý niệm, lời nói, hành vi bất thiện của mình sẽ chiêu cảm quả báo không thể tưởng tượng được cho nên thiện nghiệp rất tốt. Đức Phật trong kinh Pháp Cú cực kì khen ngợi thiện nghiệp.
Nay vui, đời sau vui,
Làm phước, hai đời vui.
Người ấy vui, an vui,
Thấy nghiệp tịnh mình làm .
(Kinh Pháp Cú Phẩm Song Yếu, kệ 16)
Nay sướng, đời sau sướng,
Làm phước, hai đời sướng.
Mừng rằng: "Ta làm thiện",
Sanh cõi lành, sướng hơn.
(Kinh Pháp Cú Phẩm Song Yếu, kệ 18)
Vui sướng khi thấy quả thiện của mình nở rộ ra, người đó đi chỗ nào cũng sướng, gặp toàn người đẹp, ở chỗ tốt, ăn toàn món ngon. Tất cả những cái sắc; thanh; hương; vị; xúc; pháp của người đó là thù thắng tối thượng, là người có phước đức trong thiện nghiệp. Họ thấy cái gì cũng đều là đẹp, nghe những lời hay, ngửi, nếm, xúc chạm đều là thiện nghiệp thù thắng. Hai huynh đệ trẻ bên nước ngoài về thăm, hôm qua nghe thầy nói chuyện PCCC thì tự động rủ cha mẹ mua để cúng dường bình xịt cho chùa, thanh thiếu niên bình thường thì đâu nghĩ đến chuyện này. Những cái này là thiện tâm, thiện ngữ, thiện hạnh của mình, những cái này sẽ giúp cho mình vui trong hiện tại và tương lai.
Những cái này mới nuôi dưỡng cái thiện, phát huy cái thiện, nghĩ thật nhiều về cái tốt, nói thật nhiều lời tốt về những người khác, làm thật nhiều việc tốt cho người khác thì mình sanh ra ở đâu cũng tốt, cũng được thù thắng. Bản thân Minh Thành không biết nhiều đời nhiều kiếp của mình tu tập ra sao nhưng khi thấy cụ già hơn 70 tuổi bán vé số hay nhặt ve chai là thấy như có ai bóp nghẹt tim gan, mới nhìn thôi nước mắt đã chảy ra. Minh Thành trên đường đi dạy học ở trường thấy có người bán nước, không có chỗ ngồi tử tế mà phải cầm những cái ly chạy ra chỗ đèn xanh đèn đỏ đưa ra tài xế xe tải, gặp xe nào chạy nhanh có thể nguy hiểm tính mạng mà 1 ly trà đá đâu có bao nhiêu tiền.
Chỉ có 3 ngàn, 5 ngàn mà phải bán mạng mình như thế, tại sao người ta phải làm vậy? Vì người ta thiếu phước, không có thiện nghiệp. Minh Thành hay nhắc mọi người, nhất là những người trong gia đình hãy làm phước, đừng keo kiệt, đừng gom góp cho riêng mình. Đức Phật dạy khi nhà bị lửa cháy mà mình không biết lấy đồ quý ra thì nó sẽ cháy hết mọi thứ, lấy đồ ra đem đi bố thí, cúng dường giúp người nghèo khổ. Cháy hết giống như lúc chết không còn gì nữa. Thà là mất đồ chứ đừng để mất thiện tâm của mình, cái tâm thiện phải biết bảo hộ, cái này còn quý hơn đồ đạc, vì một khi đã mất tâm thiện thì những thứ khác không còn quan trọng gì nữa. Người không biết sẽ nghĩ đồ đạc bên ngoài mới quan trọng nhưng cái thiện tâm, cái tâm lành, nhân hậu, từ bi mới là quý giá nhất.
Có cái tâm đó là có tất cả, giống như mình hay nói giữ non xanh rừng cây thì lo gì không có củi. Lo giữ mấy khúc củi để làm gì trong khi không giữ lấy cánh rừng? Cánh rừng đó là từ bi tâm, từ vô lượng tâm, bi vô lượng tâm, hỷ vô lượng tâm, xả vô lượng tâm của mình, giữ lấy núi xanh, rừng rậm thì tại sao lại không có củi, cho nên phải rất sợ đối với nghiệp quả. Những suy nghĩ, lời nói, hành động xấu về người khác nếu chưa biết chắc thì không được nói mà lỡ có biết thì cũng hạn chế nói, trừ khi có những việc cần nói vì trách nhiệm. Tu như vậy thì từ đỉnh đầu đến gót chân đều là thiện pháp, nhìn ở đâu cũng thấy bầu trời trong sáng.
Nhất thiên minh mỵ,
Thôn thôn liễu lục hoa hồng,
Vạn lý phong quang,
Xứ Xứ oanh đề điệp vũ.
Dịch nghĩa: Một trời quang đãng đáng yêu,
Nơi nơi liễu thắm hoa hồng,
Muôn dặm sáng tươi,
Chốn chốn oanh ca bướm lượn.
Từ tâm thiện nhìn ra, mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý đều có thiện pháp tích tụ cho nên ở thiên quốc, cõi trời là tất cả đều là thiện. Thiên là thiện, cái thiện đó biểu hiện ra thành thiên quốc, thiên đàng. Còn mình ở đây gọi là Cổng Trời là vì nghiệp thiện biểu hiện ra cảnh thiên, từ gốc thiện của mình biểu hiện ra sự đối đãi tốt của bao nhiêu người từ chân núi lên Cổng Trời, nếu người ta dùng đủ thủ đoạn xấu mà mình đem tâm thiện đối xử ngược lại thì mình sẽ được phước báu chứ mình không có chống đối, không có đối ngại tưởng vì đối ngại tưởng là thức ăn của sân hận. Những cái này phải học pháp mới biết được hành tướng của tâm, đối ngại tưởng là mình khởi lên ý tưởng người đó hay đối tượng đó là chướng ngại, là phá hoại mình, làm mất lợi ích của mình.
Khi khởi ý tưởng đó lên thì đó là thức ăn của sân hận, mình nuôi cái tâm nóng giận, cho nên khi thấy có đối ngại tưởng là phải dùng từ bi tâm phá ngay, dập cái tâm sân đó tan thành mây khói, phải diệt tận, bứng gốc rễ bỏ ngay. Trong cuộc đời tu của Minh Thành có nhiều người nói xấu mình, ghét mình mà mình biết, lúc đầu chưa học nhiều thì có khi cũng thấy khó chịu nhưng về sau mình tập không khó chịu mà quán chiếu "đây chắc là nghiệp quả từ đời trước của mình", học cao lên nữa thì quán từ bi tâm, trải tâm từ đến họ, thương họ chứ không giận nữa, như vậy mình mới chuyển hóa được cái nghiệp trong hiện tại và quá khứ.
Cho nên trong cuộc đời mình sẽ có nhiều trường hợp như vậy, có nhiều người tự nhiên đến gây sự, kiếm chuyện gây sự mà mình không làm gì họ thì mình phải biết đây là hoa trái của quá khứ, nghiệp quả của mình. Còn khi mình không học, không biết thì mình sẽ sân hận, như vậy cái quả dị thục của nghiệp trong quá khứ sẽ trổ ra, mình không có Túc Mạng Minh, tức là mình không có trí huệ để nhìn thấy những đời trước của mình nên mình phải nương nơi trí huệ nhân quả nghiệp báo của Đức Phật để mình quán chiếu, từ đó mới hóa giải được nghiệp quả. Nếu không dùng thiện tâm, không dùng từ tâm thì làm sao mình trụ ở núi được?
Không thể ở được chứ đừng nói gì đến phát triển rộng mở, mình ở không xong thì ai ở nữa, ở không yên thì làm sao tu học được? Thấy bên ngoài như vậy chứ bên trong còn thâm sâu hơn nữa, phải tu tập rất nhiều, gặp nhiều nhân duyên, có nhiều sự quán chiếu. Cho nên cái nghiệp rất quan trọng, nghiệp là điểm tựa trong hiện tại và đời sau cho nên phải cẩn thận đối với suy nghĩ, lời nói, hành động của mình. Khi thấy bất thiện phải tìm mọi cách ngăn chặn, nhiếp phục, chuyển hóa theo chiều thiện. Vào khoảng 4-5 năm trước, có khi một mình Minh Thành chống gậy đi lên Quán Chiếu Đường đứng một mình thấy mây trời bao la, chim hót líu lo, bình minh mây giăng trắng xóa thì bên trong Minh Thành có cảm giác đặc biệt, thấy rằng tất cả ở đây đang biểu hiện thiện nghiệp trong quá khứ và hiện tại mình tu hành, không phải mình ở núi này mới trong đời này.
Có 1 thầy Tỳ-kheo, lúc Đức Phật còn tại thế, ở Ấn Độ vào mùa hè quá nóng. Khi thầy ngồi thiền có mồ hôi quá nhiều thì thầy muốn xả thiền nhưng thầy quán chiếu mới nóng một chút như vầy mà chịu không nổi thì mai đây xuống địa ngục làm sao chịu nổi? Khi vị thầy này quán như vậy, triển khai tuệ quán đến mức cùng cực thì đốt cháy phiền não, chứng quả A-la-hán ngay đó. Có một vị thầy khác gặp lạnh chịu không nổi, muốn nằm ngủ chứ không muốn ngồi thiền thì thầy quán mới lạnh một chút đã chịu không nổi thì sau này vào hàn băng địa ngục làm sao chịu nổi, như vậy là thầy này tinh tấn nỗ lực, quyết liệt tu hành thì cuối cùng thầy chứng quả, diệt tận tham sân si.
Cho nên cái tuệ quán rất hay, nhìn lại các huynh đệ cùng tu với mình hoặc nhìn các Phật tử thì Minh Thành thấy thương, vì người ta không biết nghiệp quả, không biết phước thiện thì người ta hay oán trách, người nào không quán chiếu lý nhân quả, nghiệp báo thì người đó thường hay oán trách, oán trời trách đất và hận đời, hận những người xung quanh rồi ganh tỵ, họ không biết giữ rừng mà chỉ lo nhìn những cây củi, tức là họ chỉ nhìn những cái mình được mà họ không biết tại sao lại được những cái đó, họ không có trí huệ nên không thể biết được nên họ tật đố rồi ganh tỵ. Trong sự tu của mình mà mình quán chiếu về nghiệp quả là rất hay, thành ra sự quán chiếu này làm cho mình tăng trưởng thiện pháp.
II. Xúc – tưởng – tư
Mình phải phân biệt được sắc và sắc tưởng. Sắc là hình sắc, vật chất, sự vật. Sắc tưởng là những hình bóng về những cái sắc đó ở trong nội tâm của mình. Khi mình phân biệt thì sẽ nhìn rất rõ. Thanh là tiếng ở bên ngoài, khi ngồi thì mình nhớ lại những âm thanh đó thì gọi là thanh tưởng. Tưởng là sự tưởng nhớ. Hương là mùi thơm, mùi ngon, mùi hôi. Hương tưởng là mình hồi tưởng lại, liên tưởng lại cái mùi đó. Một cái là thật pháp, một cái là bóng của các pháp đó. Vị là khi mình ăn một món nào đó. Khi ngồi một mình mà nhớ lại cái vị đó thì gọi là vị tưởng. Xúc là sự tiếp xúc, khi ngồi lên máy bay, được thắt dây an toàn, cảm thấy đồ ăn trên máy bay ngon thì đó là xúc, nhãn xúc, tỷ xúc, nhĩ xúc, thiệt xúc, thân xúc.
Xúc trong sự lạc thọ, có khi cũng có khổ thọ mà mình không thấy như phải chờ bay lâu quá hoặc bị trễ chuyến, khổ thọ nhưng vẫn có lạc thọ vì lần đầu tiên được bay máy bay. Khi mình xúc như vậy thì đó là xúc trần, còn xúc tưởng là khi đi rồi, trở về chùa nhớ lại những cái mình đã tiếp xúc, bay lên có cảm giác ra sao, đáp xuống cảm giác ra sao, có người phục vụ trên máy bay cảm giác ra sao, những cái đó là khi mình tưởng nhớ lại sự tiếp xúc của mắt, tai, mũi, lưỡi, thân thì gọi là xúc tưởng, còn khi mình trực tiếp tiếp xúc thì gọi là xúc trần. Lúc chưa đi tu mình và người bạn rất thân, còn giờ tu 5 năm rồi không gặp nhau nữa, khi ngồi thiền thì hình bóng người đó hiện ra, mình thấy người đó cười nói như khi xưa mình đã nói với họ thì đó là xúc tưởng, là những hình bóng đó hiện khởi trở lại. Sắc chất bên ngoài khó làm mình chết hơn là sắc tưởng.
Đi qua rồi nhìn, nói chuyện vài câu là xong, người ta đã đi rồi nhưng mình về nhà mà sắc tưởng vẫn còn, có khi mấy ngày sau vẫn chưa hết, lâu lâu lại nhớ đến hình bóng người đó. Đức Phật đã nói Ngài không thấy một sắc nào lại làm cho say mê, điên đảo, ràng buộc giống như sắc của người nữ đối với người nam, giống như sắc người nam đối với người nữ. Chỉ cần một nụ cười, một câu nói, một cử chỉ thôi cũng làm cho mình có thể mê say, đắm đuối, ràng buộc trong đó, không thể thoát ra được. Nếu có giọng nói êm ái nữa là thanh tưởng, có mùi hương đặc biệt tỏa ra từ cơ thể là hương tưởng, mời ăn cái gì là vị tưởng, lỡ đưa đồ cúng dường chạm trúng tay thì đó là xúc tưởng, trở về chùa thì thọ; tưởng; hành; thức vận hành lại là pháp tưởng. Như vậy 6 tưởng tấn công đồng thời cùng lúc thì làm sao mình chống đỡ nổi?
Này các Tỳ-kheo, Ta không thấy một sắc nào khác lại khả ái như vậy, đẹp đẽ như vậy, mê ly như vậy, trói buộc như vậy, say sưa như vậy, chướng ngại như vậy cho sự đạt đến an ổn khỏi các khổ ách, tức là, này các Tỳ-kheo, sắc đẹp của nữ nhân.
Này các Tỳ-kheo, Ta không thấy một tiếng nào khác... một hương nào khác... một vị nào khác... một xúc nào khác lại khả ái như vậy, đẹp đẽ như vậy, mê ly như vậy, trói buộc như vậy, say sưa như vậy, chướng ngại như vậy cho sự đạt đến an ổn khỏi các khổ ách, tức là, này các Tỳ-kheo, cảm xúc của nữ nhân. Và này các Tỳ-kheo, loài hữu tình nào ái nhiễm, tham luyến, tham đắm, say đắm, say mê cảm xúc nữ nhân, chúng sẽ bị sầu ưu lâu dài, vì bị rơi vào uy lực của nữ xúc. Nữ nhân, khi đang đi, sẽ đứng lại để chinh phục tâm người đàn ông; khi đứng, khi ngồi, khi nằm, khi cười, khi nói, khi hát, khi khóc, khi bất tỉnh, khi chết, sẽ đứng lại để chinh phục tâm người đàn ông.
(Tăng Chi Bộ Kinh, Chương V – Năm Pháp, VI. Phẩm Triền Cái, (V) (55) Mẹ Và Con).
Trong một bài kinh Đức Phật ví dụ người ta làm cái bẫy, bắt con khỉ, người ta để keo dính, con khỉ lấy tay phải đụng vào thì dính tay phải, lấy tay trái gỡ ra thì dính luôn tay trái, lấy chân phải gỡ ra thì dính chân phải, lấy chân trái gỡ ra thì dính chân trái, lấy miệng gỡ ra thì dính luông cái miệng, càng gỡ thì nó càng dính.
Đức Phật đưa ra cho mình các pháp, 7 trí về sắc, thế nào là sắc, thế nào là sắc sanh, thế nào là sắc diệt, thế nào là sắc diệt đạo, thế nào là sự nguy hiểm của sắc, thế nào là vị ngọt của sắc, thế nào là sự xuất ly khỏi sắc. Phải nắm vững 7 trí về sắc, nắm cho thuần phục, điêu luyện.
Tôn giả Ananda, vào buổi sáng, đắp y, cầm y bát vào thành Vesàli để khất thực.
Tôn giả Ananda thấy một số đông thiếu niên người Licchavi trong hội trường tập bắn cung, từ xa bắn xuyên qua lỗ khóa nhỏ, từ lông đuôi mũi tên này tiếp lông đuôi mũi tên khác, không sai trượt lần nào.
Thấy vậy, Tôn giả suy nghĩ: "Thật có tập luyện, các thiếu niên Licchavi này! Thật khéo tập luyện, các thiếu niên Licchavi này! Vì rằng, từ xa họ bắn xuyên qua lỗ khóa nhỏ, từ lông đuôi mũi tên này tiếp lông đuôi mũi tên kia, không sai trượt lần nào".
Rồi Tôn giả Ananda, sau khi khất thực ở Vesàli xong, sau bữa ăn, trên con đường đi khất thực trở về, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:
Bạch Thế Tôn, con thấy rất nhiều thiếu niên Licchavi trong hội trường tập bắn cung, từ xa bắn xuyên qua lỗ khóa nhỏ, từ lông đuôi mũi tên này tiếp lông đuôi mũi tên khác, không sai trượt lần nào. Thấy vậy con nghĩ như sau: "Thật có tập luyện, các thiếu niên Licchavi này! Thật khéo tập luyện, các thiếu niên Licchavi này! Vì rằng từ xa họ bắn xuyên qua lỗ khóa nhỏ, từ lông đuôi mũi tên này nối tiếp lông đuôi mũi tên khác, không sai trượt lần nào".
-- Ông nghĩ thế nào, này Ananda, cái gì khó làm hơn hay cái gì khó đạt đến (abhisambhava), từ xa bắn xuyên qua lỗ khóa nhỏ, từ lông đuôi mũi tên này tiếp lông đuôi mũi tên khác, không sai trượt lần nào, hay bắn xuyên đầu một sợi lông được chia nhỏ một trăm lần?
-- Việc này khó làm hơn, bạch Thế Tôn, khó đạt đến hơn, tức là bắn xuyên đầu một sợi lông được chia nhỏ một trăm lần.
-- Cũng vậy, này Ananda, chúng đâm xuyên ngang qua một cái gì khó đâm xuyên hơn là những ai như thật đâm xuyên qua: "Ðây là Khổ"... như thật đâm xuyên qua: "Ðây là Con Ðường đưa đến sự Khổ diệt".
Do vậy, này Ananda, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Khổ"... một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt"
(Tương Ưng Bộ, Tập V – Thiên Đại Phẩm, Chương XII. Tương Ưng Sự Thật (b), V. Phẩm Vực Thẳm, 45. V. Chiggala (1) (Lỗ khóa hay sợi lông))
Người thấu được trí Tứ Đế này là giỏi gấp trăm ngàn lần việc bắn chẻ sợi lông ra làm 100 lần, người như thế mới đứng được trong pháp và luật của Như Lai. Bắn một phát là thành tựu được khổ trí, thấy được thân ngũ uẩn này là khổ, thấy tham sân si là nguyên nhân của khổ và biết thực tập Bát Chánh Đạo để chấm dứt khổ thì người đó mới gọi là xạ thủ, bắn tan tành cái khổ uẩn, vô minh uẩn to lớn. Khi học 6 tưởng khi ngồi thiền đối diện với nó rất nhiều, trước mắt mình không có gì nhưng khi ngồi là bao nhiêu cảnh hiện ra trong nội tâm, tất cả đều là 6 tưởng.
Thành ra khi ngồi thiền phải nhận diện được 6 tưởng, còn nếu không biết mình sẽ nói những cái đó là tâm của mình "tôi đang nghĩ", đang ngồi thiền trong thất tự nhiên thấy đói bụng, lại còn nghe mùi sầu riêng bốc lên, vậy là xả thiền ra ăn sầu riêng, ở một mình rất dễ buông lung phóng dật nên lúc đó mình phải biết đó là hương tưởng, sắc tưởng. Hoặc đang ngồi thiền mà đột nhiên nhớ có chuyện gấp phải gọi điện, vậy là xả thiền đi lấy điện thoại để gọi điện. Giờ ngồi thiền là phải cắt hết mọi thứ, phải làm chủ thân tâm mình, không để cho các thứ này hoạt động, chi phối, vận hành. Khi thấy rõ được 6 tưởng thì việc tu hành rất lợi ích.
Mình phải nắm thật vững 7 trí về tưởng vì hằng ngày mình sống với cái tưởng mà không biết thì gọi là vô minh, tưởng hoạt động suốt ngày trong nội tâm của mình. Xúc tập khỏi nên tưởng tập khởi, từ tiếp xúc nên mới có thọ; tưởng; hành, có cảm giác, hình bóng và những suy nghĩ. Do xúc đoạn diệt nên tưởng đoạn diệt, không xúc nữa thì sẽ không có tưởng, tiếp xúc với các loại game nên sanh ra các tưởng; thọ; hành. Khi xúc thì tưởng thua, tưởng thắng, tưởng bại rồi bắt đầu có cảm giác, suy nghĩ, lại tiếp tục xúc thì lại sanh ra tưởng rồi lại có cảm giác, suy nghĩ.
Cứ như vậy không dừng lại được, còn khi cắt đứt xúc thì hết tưởng. Ăn, uống, ngủ là bình thường nhưng mình không có trí huệ cho nên mình bị dính mắc, bây giờ mình có trí huệ sẽ biết vị ngọt, sự nguy hại và biết sự xuất ly của nó. Vị ngọt thì đương nhiên khi ăn ngon sẽ thích thú, nhưng mình biết sự nguy hại là nếu mình ăn nhiều, ăn hoài thì có thể dẫn đến bệnh, chất béo nhiều đưa đến bệnh gan hay khó tiêu. Mình muốn ăn món này hoài là mình sẽ khổ vì không phải ngày nào cũng nấu, mà nếu ngày nào cũng nấu thì không thích vì ngán, lâu ngày ăn mới thích. Mình phải quán chiếu cái vị này vô thường, cái hương này vô thường.
Nhiếp phục dục tham ở trong cái món đó, có thì ăn không có thì thôi. Hôm đó nấu món mình thích mà mình đi công việc xa về trễ nên hết đồ ăn, lúc đó mình không quán chiếu sẽ bị phiền não, nhưng có quán chiếu thì nhiếp phục được phiền não. Nói rộng ra, con người không dừng lại ở món ăn mà tiến lên chiếc xe, đối tượng tham ái chứ món ăn là còn dễ nhưng không dừng lại ở đó, nó bị hệ lụy, ràng buộc vào một con người. Mình phải biết rằng nó là vô thường, biến đổi và khi nhiếp phục dục tham trong đó thì được bình an.
Khi cái tưởng khởi lên các hỷ lạc thì mình phải biết đó là vị ngọt. Ngồi một mình là hình bóng của ai hiện lên rồi cười một mình thì phải biết đó là vị ngọt của tưởng và sự nguy hại của tưởng. Phải nhiếp phục dục tham để mình thoát ra khỏi cái tưởng đó, đại đa số con người bị cái tưởng làm khổ vì tưởng không đúng sự thật. Có một ông làm nghề bổ củi, một hôm ông bị văng lưỡi búa ra mà lưỡi đó vẫn còn tốt và rất đẹp. Ông tìm hoài không được nên khi thấy đứa nhỏ hàng xóm đi ngang, trong đầu ông nghĩ cái tướng của đứa nhỏ này là tướng người ăn cắp, chỉ nó có lấy lưỡi búa của mình chứ không ai lấy. Cuối cùng ông tìm ra lưỡi búa của mình bị mắc kẹt trong hốc, tìm ra rồi ông nhìn lại đứa nhỏ thì thấy nó không giống kẻ trộm, chỉ thấy một đứa nhỏ bình thường vô tư. Như vậy cái tưởng đó làm mình không thấy được sự thật và mình bị cái tưởng đó lừa gạt.
Vì thế mình phải phát huy trí huệ để nhìn thấu được cái tưởng. Khi Minh Thành bảo làm gì thì lại nói cái này chắc khó lắm, làm không được đâu, cái đó là tưởng. Tới chừng bắt tay vào làm lại được, thành ra mình bị cái tưởng che mờ cho nên cứ việc đi vào thực pháp, mình cứ nghĩ khóa tu 7 ngày thì làm sao tu nổi hay tu luôn 1 tháng thì làm sao nổi. Nhưng đó chỉ là tưởng tượng chứ thật sự vào tu không có bệnh mà ngược lại còn khỏe ra. Thọ; tưởng; hành lừa dối mình, cứ đi vào thực pháp mới chinh phục được cái tưởng, xuất ly khỏi cái tưởng, nhiếp phục cái tưởng, còn không là cái tưởng làm cho mình khổ sở, đi ngang hỏi thăm mà không trả lời là trong đầu suy nghĩ ra đủ thứ chuyện, vẽ ra đủ thứ lý do cho việc sao hỏi mà người kia không trả lời. Đó là mình đã rơi vào cái bẫy của tưởng rồi bị dính chặt trong đó.
./.