CÔNG TRÌNH VĨ ĐẠI BÊN TRONG 1
CÔNG TRÌNH VĨ ĐẠI BÊN TRONG 1
-Thích Minh Thành-
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Tinh tấn, cẩn thận: PAGEREF _Toc70145522 \h 1
II. Bảy giác chi: PAGEREF _Toc70145523 \h 5
III. Tâm của mình PAGEREF _Toc70145524 \h 7
I. Tinh tấn, cẩn thận:
Hỏi nội tâm của mình, ăn quan trọng, hay nghe pháp quan trọng? Mình đã ăn mấy mươi năm, sáu mươi năm rồi, vẫn không no. Không ăn một bữa không có chết, kêu pháp xao động, lăng xăng đó lắng dịu, dập tắt đi, đừng dao động nữa. Sau đó mình dùng Như lý tác ý, làm cho thân ở đâu thì tâm ở đó, có trường hợp thân ở đây mà tâm chỗ kia, lo ra. Nói chung hết, không riêng một ai, lo ra thì không có hiệu quả. Quan trọng, sự tu tập của mình phải biết khi nào là quan trọng, nào là thứ yếu, đánh mạnh thêm nữa là mình quán mình chết thì ai nấu cơm? Cho chữ chết hiện ra. Thì lúc đó tất cả sẽ yên tịnh, làm cho thọ của mình lắng dịu, tưởng lắng dịu, hành an tịnh, thức của mình trong sáng, chứ bây giờ thì chưa rõ ràng, nó rõ thọ tưởng hành thức, cái nào phải ra cái đó.
Sự tư tập của mình, tâm của mình dễ bị chấp thủ khi làm một điều gì đó, từ chỗ đó nó trói cột. Hoặc là một điều gì đến khác thường thì nó sẽ làm tâm mình dao động, rối; mọi việc diễn ra đều đặn như vậy hoài, không thay đổi, ở trong tâm cứ luôn luôn như vậy, cứ ở đó. Cái tưởng đó, luôn bên cạnh như vậy là mình chưa thấy được pháp, làm sao tất cả mọi chuyện của mình khi nó đến, mình có thể bình tĩnh tiếp nhận, cái tâm mình nhu nhuyến mềm mại, tùy thuận, dễ sử dụng.
Cái tâm muốn, tưởng mọi thứ như vậy hoài, mà nếu không như vậy thì nó không thích ứng, chính đây là điều nó không thấy được các hành là vô thường. Đến khi nào có một sự thay đổi đột ngột đến với mình, mình bình tĩnh đón nhận, hành pháp, nó là vô thường, các pháp đều là vô ngã, trống rỗng, mọi sự thật trên cuộc đời này đều biến động, biến hoại, biến diệt, biến chuyển, biến hóa, như có một làn hơi nước phun ra trước mặt mình, nó không cố định, nó luôn ở trong sự vận hành, vận động, vận chuyển của các pháp. Như vậy, không phải ở bên ngoài mà là ở trong tâm của mình, khi mình tiếp xúc, thích ứng đối với sự việc ở bên ngoài. Cho nên, Minh Thành chia sẻ với đại chúng công trình vĩ đại bên trong.
Trong tạng kinh Nikäya, các vị Tỳ-kheo chứng đắc từ sơ thiền, tầng thiền thứ nhất, thứ hai, thứ ba và thứ tư, rất bình thường. Các vị đi vào, đi ra một cách ung dung tự tại, không bận lòng, không khó khăn, không có phí sức khi đi vào thiền chi của các tầng thiền. Vì các Ngài đã tu tập một cái tâm thuần thục, còn tại sao mình cả cuộc đời tu trong chùa mà sơ thiền vô không nổi? Tại vì mình không có những công trình ở bên trong, mình chỉ đặt những công trình ở bên ngoài; mình lấy hình thức, hình tướng, hình sắc ở bên ngoài để làm công phu, làm thành tích, thành quả mà mình không làm công trình bên trong.
Công trình thật sự của người xuất gia là công trình bên trong. Làm sao để huấn luyện tâm của mình luôn luôn trú trong trạng thái xả, không để dính vô gì hết, dính vô điều gì là mình tác ý, buông xuống, bỏ, tháo, cởi, bứt, thoát ra. Đó gọi là trú xả, chánh niệm tỉnh giác, khi mắt tai nghe tiếng, mũi ngửi mùi, lưỡi nếm vị, thân tiếp xúc, mình không dính vào các cảm thọ, thích hay không thích, ưa hay không ưa mà luôn chánh niệm tỉnh giác, trú xả.
Đây là một công phu bên trong, đừng để tâm mình dính mắc ưa hay không ưa, thích hay không thích; lo lắng, chuyện nhỏ xíu cũng lo, suy nghĩ hoài, sợ, dao động, bất an bất bình hoài. Phải tập, tập cho nội tâm tịnh chỉ, tối thắng tuệ pháp quán, nội tâm tịnh chỉ là tâm là bên trong tâm có một sự yên lặng, thanh tịnh, chỉ là dừng lại, tịnh là trong sạch. Tại vì tối thắng tuệ pháp quán, sự quán sát bằng trí tuệ một cách sâu sắc. Sự quán sát bằng trí tuệ một cách sâu sắc này thật sự rất sâu sắc.
Khi đại chúng soạn ra quyển Linh Quy Nhật Tụng này, khi đi qua Mỹ, đọc ba tiếng đồng hồ, đọc hết trong đêm đó. Nhưng từ đâu có sản phẩm này? Từ rất nhiều công sức, rất công phu, rất nhiều phương diện, khía cạnh. Sự tu cũng vậy, sự tu còn gấp cả ngàn lần việc làm này. Nếu với một cái tâm qua loa, xem thường, làm cho có thì người này không thể nào bước lên Thánh đạo được, không bao giờ có vị nào Thánh Tri Kiến được. Thánh Tri Kiến, là cái thấy trí của bậc Thánh; một cái tâm qua loa, sơ sài, làm cho có, lười biếng, hèn nhát, một cái tâm thụ động thì làm sao thể nhập được Thánh Tri Kiến.
Không bao giờ có chuyện đó xảy ra đối với một người lười biếng, cẩu thả, không cẩn thận, qua loa, làm cho có, trả nợ quỷ thần, máy móc. Như vậy thì làm sao thể nhập được Thánh Tri Kiến - tri kiến của bậc Thánh. Không bao giờ có, chuyện thế gian còn làm không được thì làm sao trở thành Thánh Tri Kiến? Phải là một cái tâm hết sức cẩn trọng, sâu sắc, chu đáo, hết sức nhỏ nhiệm mới có thể đi vào Thánh Trí. Nếu bình thường mình làm không để tâm, khi hữu sự, là hỏng hết, như lúc sáng mình thấy, một chuyện nhỏ nhưng mình phải học, nếu người nào đó bận thì mình thay thế vào chỗ đó, nếu bất thình lình là bấn loạn tay chân. Đó là một việc mình cần phải học. Chỉ cần công việc của người đó, nếu người đó vắng là rối loạn. Tại sao bình thường không để tâm, để ý? Cho nên, thật sự thể nhập Thánh Trí là cả một công trình vĩ đại bên trong.
Pháp này không dành cho người lười biếng, cẩu thả, Pháp này là Pháp tinh cần tinh tấn; Pháp này không phải dành cho người không có trí, mà là dành cho người thượng trí; Pháp này không dành cho người vô văn phàm phu mà là dành cho người Đa văn Thánh đệ tử; Pháp này không phải dành cho người nhiều ham muốn mà là dành cho người ly dục; Pháp này không dành cho người thích ồn ào náo nhiệt mà là dành cho người viễn ly, an tịnh. Cho nên, mình không phải mình học mấy bài kinh là mình hiểu thôi đâu, còn xa lắm. Đừng nghĩ với chút hiểu biết đó, ở trong phòng, nói “tôi đã Tu-đà-hoàn” là tiêu, đọa à. Mấy vị tu một mình, mừng, nhưng lo nhiều hơn, không phải chuyện đơn giản.
Trong tạng kinh, Đức Phật chỉ từng chút, từng chút một, mới chứng tầng sơ thiền. Khi đó Ngài không có sự thích, không có sự khoan khoái, thích thú, hỷ lạc đối với sự an tịnh của tâm. Tại sao nói như vậy? Vì Ngài chưa làm cho sung mãn về sự nguy hại của dục mà chưa thấy biết, chưa chịu làm cho cái thấy biết về khía cạnh, tác hại, nguy hiểm của dục sung mãn, phải làm cho cái thấy biết sung mãn của dục là nguy hiểm. Nguy hại, nguy hiểm quá. Sau đó mới trú được ở trong trạng thái ly dục, thưởng thức nó, thấy được lợi ích của nó, rồi Ngài mới trú trong sơ thiền, chứng được sơ thiền, cũng vậy với nhị thiền, tam thiền, tứ thiền. Một là làm cho sung mãn tính nguy hại, hai là thưởng thức lợi ích của sự ly dục.
Muốn tu tiến là mình phải làm cho sung mãn sự thấy biết về tính chất nguy hại của sắc, dục, tham, sân, si, bản ngã. Phải làm sung mãn sự thấy biết về những nguy hại đó, trí huệ đó. Làm thế nào để cho nó sung mãn? Phải luôn luôn nghe lời các bậc Thánh, phải làm cho Như lý tác ý… làm cho sung mãn sự thấy biết về sự nguy hại của sắc, dục, tham, ái. Cứ từng chút, từng chút. Là cả một công trình vĩ đại, siêu vĩ đại, chứ không phải ngồi tu bốn mươi chín ngày là chứng thành Chánh giác. Đọc tạng kinh rồi mình sẽ thấy, là cả một công trình, từng chút một, tác ý tới lui, qua lại, đào thải, thanh lọc, tẩy rửa, trần ai gian khổ; cả một sự tinh tấn, cả một sự để tâm, đến nỗi quên ăn mất ngủ, quên hết tất cả đời sống, bỏ mặc tất cả... Bây giờ chưa làm được như vậy nên mình song song, vừa tu vừa truyền pháp, hoằng pháp. Đó là kém xuống một bậc rồi vậy.
Cho nên phải có một cái tâm cẩn thận, vi tế, thận trọng, chu đáo chứ không phải nói đơn giản. Kiểu lề mề như mình thì không biết tu đến bao giờ. Tu theo đúng tinh thần này thì không phút giây nào ngơi nghỉ sự tu, trừ lúc vô phòng ngủ. Phải nhìn hoài nhìn hoài, công trình vĩ đại ở bên trong mà, không nhìn thì làm sao thấy, không thấy thì làm sao phát hiện, hoặc nếu mình cấu nhiễm mà không phát hiện thì làm sao tẩy sạch, đoạn trừ, mà nếu không đoạn trừ thì làm sao đến chỗ diệt tận, mà nếu không diệt tận thì làm sao đến Niết Bàn?
Mấy ngày gần đây Minh Thành nghe từ Diệt Đế, hay vô cùng, tuyệt diệu. Đó giờ không hiểu, Diệt Đế là sao? Nghe từ “diệt” thấy sợ, diệt hết. Là thấy biết sự thật để đoạn tận tất cả vô minh, tham ái, lậu hoặc. Phải tiêu diệt hết, diệt tận. Diệt sạch hết tất cả những mầm mống dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu, những mầm mống ưa thích, ham muốn si mê, bản ngã, phải diệt tận, diệt sạch.
Đức Phật dùng nhiều từ để diễn tả điều này như đoạn xả, đoạn ly, đoạn tận, đoạn diệt, dứt lìa, dứt bỏ, dứt hết, dứt sạch, đó là Diệt Đế. Diệt đế hay lắm, tuyệt vời lắm. Lúc trước nghe Diệt Đế sợ, không biết diệt cái gì. Thật ra, cả cuộc đời tu hành của mình chỉ có một chữ “diệt”, diệt đến khi nào hết thì thôi. Ví dụ như nỗi sợ nhà bếp không ai nấu, mình diệt, diệt nó, cho hoàn toàn chấm dứt trong nội tâm của nó, thì đó là Niết Bàn. Chỗ mà tâm an tịnh, lắng dịu, không còn lo lắng, đó là Niết Bàn. Nếu mình để tâm lao xao, lo lắng trong đó thì đó chưa phải Niết Bàn, còn bất an.
Thiết thực hiện đại ở chỗ đó, thân ngồi đây mà tâm lo ra, biết lo vẫn không được gì nhưng vẫn lo, tại sao vậy, vì lo bị rầy, lo người khác nói mình không tròn trách nhiệm. Đó là một ví dụ rất nhỏ, nhưng đó là cái gì, ai, trong này ai nói, ai không tròn trách nhiệm? Là bản ngã nó sợ, muốn làm tốt, muốn làm tròn trách nhiệm, phải hoàn hảo. Vì yêu thích bản ngã nên sanh ái, sanh ưu, sanh bố, “diệt ly ưu ái, hà ưu hà bố.” Do cái yêu thích chính mình, nên mình mới lo, vì mình yêu thích chính mình nên mới sợ, nếu mình không còn yêu thích vào cái bản ngã thì không còn lo, không còn sợ.
Cho nên sự thực hành phân tích năm uẩn hay lắm, chỉ có một chuyện nhỏ, mình phanh phui ra để tu, chứ chuyện đó rất bình thường, không có gì hết nhưng mình đi sâu vô để tu, thành tựu Thánh Trí là mình phanh phui hết, giải tỏa hết, đem hết mọi khía cạnh của nó ra, không phải chỉ nhận biết đây là Thọ, Tưởng, Hành, Thức, không phải. Từ đâu sanh khởi điều này lên? Tại sao nó sanh khởi? Từ đâu mà có suy nghĩ, ý tưởng này, cảm giác này? Đó là mình biết được tập khởi của năm uẩn, và khi mình dùng các pháp để quán chiếu và tẩy sạch hết thì mình thấy biết được chấm dứt, đoạn diệt năm uẩn. Mình biết được sự xuất hiện, đó là thiết thực hiện đại chứ không phải chỉ lý thuyết suông, a, b, c.., là xong, quậy phá nhà cửa cũng kệ, không phải. Phải huấn luyện.
II. Bảy giác chi:
Có rất nhiều bài kinh, Minh Thành dẫn bài kinh trong Tương ưng bộ kinh, tập 5, Đoạn diệt: “Con đường nào, đạo lộ nào, này các Tỷ-kheo, đưa đến đoạn diệt khát ái, hãy tu tập con đường ấy, đạo lộ ấy. Và này các Tỷ-kheo, con đường nào, đạo lộ nào đưa đến đoạn diệt khát ái? Tức là bảy giác chi. Thế nào là bảy? Niệm giác chi, trạch pháp giác chi, tinh tấn giác chi, hỷ giác chi, tịnh giác chi, định giác chi, xả giác chi. Tu tập như thế nào, làm cho sung mãn như thế nào, này các Tỷ-kheo, bảy giác chi đưa đến đoạn diệt khát ái? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập niệm giác chi liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ, Tỳ kheo tu tập trạch pháp giác chi, tinh tấn, hỷ, tịnh, định xả giác chi liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ. Tu tập như vậy, làm cho sung mãn như vậy, này các Tỷ-kheo, bảy giác chi đưa đến đoạn diệt khát ái.”
(Kinh Đoạn diệt -Tương ưng bộ kinh, trang 2480-2481)
Tuyệt vời lắm, vi diệu lắm. Bảy giác chi là gì? Là Tứ niệm xứ. Mình tu tập, thân hành niệm, luôn luôn quán niệm thân, quán niệm, quán chiếu cảm thọ, nhìn lại, để ý quán xét. Mình nhìn lại nội tâm của mình, quán các pháp vận hành ở bên trong để đưa đến đoạn diệt khát ái. Sự khao khát, ưa thích, ham muốn, phải sắc thân hương vị xúc pháp. Mục đích của mình là đoạn diệt sự khao khát, ưa thích đó. Mình phải thấy được mục đích, trọng tâm của mình là ở chỗ đó.
Có một bài kinh: Ác đưa đến nghiệp, nghiệp đưa đến khổ, khổ đưa đến sinh già bệnh chết, sầu bi khổ não. Như vậy toàn bộ khổ não tập khởi, nên “con đường nào, đạo lộ nào đưa đến đoạn diệt khát ái, hãy tu tập con đường ấy.” Tu tập bảy giác chi, Tứ niệm xứ để liên hệ đến viễn ly, lìa xa sanh lão bệnh tử; ly tham đối với sanh lão bệnh tử; chấm dứt sắc thọ tưởng hành thức. Chỉ nói gọn một từ thôi, là chấm dứt sự khát ái, từ bỏ sự khát ái, sự tham, sự dục, sự ái; từ bỏ mọi thứ, mọi việc, mọi vật trên cuộc đời này… là đoạn diệt sự khát ái, khao khát, ưa thích mấy thứ đó. Không còn ưa thích điều gì nữa thì không còn điều gì làm mình khổ, ràng buộc mình nữa hết.
Nói thì đơn giản, nhưng để làm được việc đó, đòi hỏi mình Thánh Trí, Chánh Đẳng Chánh Giác, chứ không phải chuyện đoạn diệt khát ái trên cuộc đời là chuyện dễ làm. Cho dù mình có chết đi sống lại hàng tỷ lần mà mình không thấy được Thánh Đạo thì mình cũng không đi lên được, không đoạn diệt được.
Cho nên, Minh Thành chia làm ba hạng người trong thế giới này: hạng người thứ nhất đam mê trong dục trưởng dưỡng, cũng mệt mỏi chán chường, nhưng vì có sự đam mê mãnh liệt... rất nhiều, đó là hạng người thứ nhất. Hạng người thứ hai là họ có sự nhàm chán, muốn thoát khỏi nhưng họ không biết con đường thoát, họ không biết xuất ly đạo lộ, mà hạng người này thì cũng nhiều, là những người tu, rất nhiều người muốn nhưng không biết con đường, phương pháp, không gặp Thánh Đạo thì cho dù làm bất cứ điều gì cũng không giải thoát được. Hạng người thứ ba là hạng người cũng nhàm chán, muốn thoát ra nhưng được gặp minh sư, bậc thiện tri thức, Đạo sư, chỉ dạy đúng Chánh Đạo, gặp được Chân nhân, gặp được bậc thiện trí thức thì hạng người này có khả năng, nói là có thể thôi chứ không phải là chắc chắn, sẽ được thành tựu. Đây là hạng người tối thượng trong ba hạng người, thấy khổ, muốn thoát khổ, được người chỉ cho con đường thoát khổ chơn chánh, không phải dễ. Hạng người đó là chúng ta, đang ngồi đây.
III. Tâm của mình
Đau khổ, chán chường, muốn thoát ra mà gặp được Chánh Pháp, nếu mình không có một cách thật thiện xảo trong sự học và hành thì vẫn không thoát như thường. Cho nên, ở đây nói về công trình vĩ đại bên trong, chúng ta liên hệ bài kinh này rất quan trọng, bài kinh Tâm của mình trong Tăng chi bộ kinh, tập 4: “Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo, không thiện xảo trong hành tướng tâm người khác, thời cần phải nguyện rằng: "Ta sẽ thiện xảo trong hành tướng tâm của ta. Như vậy, các Tỷ-kheo, các Thầy cần phải học tập. Ví như, này các Tỷ-kheo, một người đàn bà hay một người đàn ông, còn trẻ, trong tuổi thanh niên, tánh ưa trang điểm, quán sát hình ảnh mặt mình trong tấm gương thanh tịnh trong sáng, hay trong một bát nước trong. Nếu thấy trên mặt có hột bụi hay dấu nhớp gì, người ấy cố gắng đoạn trừ bụi hay dấu nhớp ấy. Nếu không thấy hột bụi hay dấu nhớp, người ấy hoan hỷ, thỏa mãn. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo quán sát như vậy, được nhiều lợi ích trong các thiện pháp.”
(Tâm của mình 1- Tăng chi bộ kinh, tập 4, trang 3172-3173)
Nghĩa là, mình phải soi gương hoài, xây dựng công trình vĩ đại bên trong, tức là nếu không soi gương thì làm sao biết có dính dơ hay không. Người chân tu là không có thời gian để nhìn bên ngoài, phải nhìn hoài sắc thọ tưởng hành thức của mình như thế nào, dục tham ái có mặt không. Mình xem lời Phật dạy, bất ngờ lắm: “quán sát như vậy, được nhiều lợi ích trong các thiện pháp.” Có phải ta sống với nhiều cái tham hay ta sống nhiều với cái không tham. Cho nên, “trình pháp mấy hôm nay tâm con an tịnh, an lạc lắm”, là biết người này chưa thánh tựu Trí Huệ.
Đại chúng có biết câu nói đó là gì không? Đó là câu nói của bậc A-la-hán. Chỉ có hai trường hợp, hoặc là người đó phàm phu hoặc là người đó là bậc Thánh Quả tối cao. Từ từ mình sẽ học bài kinh, có người ô nhiễm mà không biết mình ô nhiễm. Cho nên trình pháp nếu nói “con an lạc, thanh tịnh lắm, con không thấy tham sân si gì hết” là biết người này không thấy Pháp, không thành tựu trí huệ; không thành tựu trí huệ thì tập kiến chưa thành tựu; tập kiến chưa thành tựu thì khổ kiến cũng chưa thành tựu. Tập kiến là sự tập khởi của khổ, nó tập hợp, sanh khởi lên, xem có gì trong đó - dục, tham, ái, tham sân si, bản ngã. Cho nên, “Có phải ta sống nhiều với tham? Có phải ta sống nhiều với không tham? Có phải ta sống nhiều với tâm có sân? Có phải ta sống nhiều với tâm không có sân? Có phải ta sống nhiều với hôn trầm thụy miên chi phối, hay ta sống nhiều với hôn trầm thụy miên được từ bỏ? Có phải ta sống nhiều với trạo cử, hay ta sống nhiều với không trạo cử?”
(Tâm của mình 1- Tăng chi bộ kinh, tập 4, trang 3173-3174)
Rất hay từ Đức Phật sử dụng, là hôn trầm, tùy miên được từ bỏ chứ không phải là không có hôn trầm tùy miên, đã từ bỏ chưa? “Có phải ta sống nhiều với trạo cử hay không sống nhiều với trạo cử?” Kiểm tra lại tâm, xem có phải ta sống với tất bật, vội vàng.. hay không hay là ta không sống nhiều với điều đó, ta sống với thân an tịnh, tâm an tịnh? Có phải ta sống nhiều với sự lơ mơ, ngủ gờ ngủ gật, mở mắt cũng như nhắm mắt, có xác không có hồn, không minh mẫn, dục tham sân, thùy miên, hôn trầm, trạo cử.., đầy trong đó mà lại không tác ý để trừ diệt, trừ tận, đoạn tận, đoạn ly, đoạn xả… cứ để đầy trong đó mà nói an tịnh lắm. Đó là mù lòa. Cho nên người tu theo dòng pháp này, theo kinh tạng Nikāya này, Đức Phật dạy: “người càng thấy nhiều lậu hoặc nhiều chừng nào thì người đó có trí huệ càng thâm sâu chừng đó.”
Đây là cả một công trình vĩ đại bên trong, tại sao? Vì thấy lậu hoặc không phải là xong, thấy lậu hoặc phải đoạn diệt, sau này mình sẽ học bài kinh, không phải có tham biết có tham, có sân biết có sân, là xong, không phải. Phải tinh cần tinh tấn, đoạn tận, đoạn diệt, đoạn dứt, làm cho nó không còn hiện hữu trong nội tâm nữa, điều đó mới là Thánh tinh tấn, sự tinh tấn của bậc Thánh. Là Thánh chánh niệm, chánh niệm của bậc Thánh, chứ không phải chánh niệm của người thường, đi biết đi, ngồi biết ngồi, một thứ nhỏ nhiệm mình cũng phải thấy nó, trong cái đi đó có dục có tham, có sân si bản ngã không, có trạo cử không, nếu có, phải đoạn tận, đoạn diệt, làm cho nó không còn hiện hữu, đó là Thánh tinh tấn.
Thánh chánh niệm, Thánh tư duy, là tư duy của bậc Thánh. Như lý tác ý đó là sự tư duy của bậc Thánh. Nếu mình không có tri kiến của bậc Thánh thì làm sao mình sanh khởi những điều này. Cho nên cứ học hoài cái này, mình muốn mình phải nhập những chất, sáng tỏ trong Chánh Tri Kiến, và mình đem Chánh Tri Kiến này chia sẻ đến hết những người có duyên. Từ chỗ Chánh Tri Kiến mình mới đi đến chỗ Thánh tư duy, là sự suy tư của bậc Thánh, chứ không phải suy tư của người thường, và tất cả những suy nghĩ của mình là suy nghĩ của Thánh huệ, Thánh trí, Thánh đạo… gọi là Thánh tri kiến. Cho nên phải xem lại nội tâm của mình, “Có phải ta sống nhiều với nghi ngờ, hay ta sống nhiều vượt qua được nghi ngờ?”. Đó, nãy giờ đó là năm triền cái, nếu không nhìn vô thì làm sao mình biết, nó xuất hiện, áp đảo, xâm chiếm hết, làm cho tâm lăng xăng, lộn xộn mà không biết gì hết... Một là vọng tưởng, hai là hôn trầm, không gặp thì thôi, gặp là huyên thuyên, không thôi thì ngủ, chỉ có hai trường hợp, hoặc huyên thuyên, hoặc là buồn ngủ. Lên ngồi thiền cũng vậy, một là phóng tâm, vọng tưởng, hai là gục lên gục xuống.
“Có phải ta sống nhiều với phẫn nộ, hay ta sống nhiều không bị phẫn nộ?” Có phải ta sống với nhiều phẫn nộ, bực bội, bực tức không, ai chạm tới là mình bực bội, bực tức.., mình có sống nhiều với điều đó không hay mình không có sống nhiều như vậy? Nếu muốn như vậy thì phải nhìn hoài, nhìn hoài, phản trực, thường trực soi gương sáng, trưa, chiều, tối.., hoài như vậy. Soi gương để nhìn mặt thì điều đó bình thường, còn ở đây phải soi bằng Thánh trí, nhìn sâu vào các ngũ uẩn, đào sâu các lớp cảm thọ.., giải phẫu hết, chỗ nào có bệnh phải cắt bỏ, nếu không mấy thứ có độc sẽ lan ra cùng khắp, nên cần phải cắt bỏ. Đó có phải công trình công phu không? Đây là một công trình vĩ đại ở bên trong. Với những người lười biếng, làm cho có, phớt lờ thì làm sao phát hiện ra được những lậu hoặc, làm sao phát hiện ra nổi, làm sao chuyển hóa, diệt tận, tẩy sạch được?
Phải lạy Đức Thế Tôn và các bậc A-la-hán, người này tập kiểu này, người kia tập kiểu kia là nhức đầu rồi, vô văn phàm phu, thấp hèn, bản ngã, cứ lòng vòng vậy mãi. Không ra khỏi, cứ lầm tưởng mình tu hay, tu giỏi, tu tốt. Cho nên cứ súc sanh, cứ phàm phu hoài thôi, không có nhìn nhận, nhìn thấy.
“Có phải ta sống nhiều với tâm bị ô nhiễm, hay ta sống nhiều với tâm không bị ô nhiễm?” Câu này gom hết cái tâm của mình, xem mình sống với tâm bị ô nhiễm hay sống với tâm không bị ô nhiễm? Sau khi thiền hành, mình thấy ô nhiễm thì có diệt tận không? Khi nhìn thấy cái đó nói rằng “ở nhà ngủ khỏe hơn”, có tưởng những hình ảnh bất thiện pháp không ở trong nội tâm mình khi đi kinh hành, thấy nó có ô nhiễm không hay là không ô nhiễm? Nếu có ô nhiễm, phải tẩy, làm rõ, tự diệt, như vậy thì làm sao hở tay được; với một người tu tập liên tục như vậy thì làm sao rảnh rang được. Và nếu một người đã nhìn sâu vào những chỗ vi tế vận hành của ngũ uẩn thì người này làm sao có thể làm những việc cẩu thả, không thể được. Mà nếu người đó đã cẩu thả bên ngoài, lười biếng, không để tâm, để ý, không vi tế nhỏ nhiệm, cẩn trọng, chu đáo… thì người này khi nhìn vào nội tâm cũng nhìn không ra, không bao giờ nhìn ra.
Không thể nhìn ra hết các ngõ ngách của nội tâm mình, có ô nhiễm, không biết, có dục tham ái, mình cũng không biết. Không phải là chuyện đơn giản. Không phải bây giờ mình ngồi đây là thanh tịnh, không phải, nó đang tùm lum bên trong, đầy dẫy trong đó hết. Ghê gớm, khủng khiếp, kinh khiếp như vậy đó. Phải thấy cho bằng được những điều mình chưa thấy, phải phát giác phát hiện, nó tinh vi tinh tế, nó nhỏ nhiệm, sâu sắc ở trong mọi ngõ ngách, trong kẹt góc, kẹt bàn, kẹt xó.., lôi ra hết, bóc ra hết. Thánh trí là như vậy, làm cho hoàn toàn sạch sẽ, sạch bóng, sạch hết trơn. Công trình vĩ đại ở bên trong là như vậy đó.
“Có phải ta sống nhiều với thân nhiệt nóng, hay ta sống nhiều với thân không nhiệt nóng?” Cái thân lúc nào cũng thấy nóng, nóng bức, cũng hừng hực, mà nóng như vậy rất dễ bị bực lắm. Tại sao nóng? Vì cái tâm không mát lành, không có trải tâm từ, không có trú tâm xả, năm uẩn không an tịnh. Đó là gì? Là dục, là ái, là bản ngã thiêu đốt, nó làm mình cảm thấy khó chiu, bực bội mà không biết vì điều gì. Có những trường hợp thấy khó chịu mà không biết tại sao, tự nhiên hôm nay thấy khó chịu, bực bực, nóng nóng. Nếu tu mà không có trí huệ thì những điều này làm sao mà thấy mỗi ngày nhìn ra cái nào đẹp, ăn cái nào ngon, phải chưa? Đó là không có công trình ở bên trong.
“Có phải ta sống nhiều với biếng nhác, hay ta sống nhiều với tinh tấn, tinh cần, có phải ta sống nhiều với không định tĩnh, hay ta sống nhiều với định tĩnh?" Đó là mười trạng thái của tâm. Xem ta có sống nhiều với định tĩnh không hay ta sống nhiều với không định tĩnh.
“Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo quán sát như vậy, biết rằng: Ta sống nhiều với tâm tham, Ta sống nhiều với tâm sân, Ta sống nhiều với tâm bị hôn trầm thụy miên chi phối, Ta sống nhiều với trạo cử, Ta sống nhiều với nghi ngờ, Ta sống nhiều với phẫn nộ, Ta sống nhiều với tâm bị nhiễm ô, Ta sống nhiều với thân nhiệt nóng, Ta sống nhiều với biếng nhác, Ta sống nhiều với không định tĩnh, thời Tỷ-kheo ấy cần phải quyết định, ước muốn, tinh tấn, nỗ lực, dõng mãnh, bất thối, chánh niệm, tỉnh giác để đoạn tận các pháp ác bất thiện ấy.”
(Tâm của mình 1- Tăng chi bộ kinh, tập 4, trang 3174-3175)
Thấy Đức Phật dùng từ kinh khiếp không, “phải quyết định, ước muốn, tinh tấn, nỗ lực, dõng mãnh, bất thối, chánh niệm, tỉnh giác để đoạn tận các pháp ác bất thiện ấy”, phải dùng từ như vậy, chứ có tham, sân, si thì chỉ biết vậy, rồi thôi là mình đi theo luôn. Vươn lên, ước muốn, mạnh mẽ, nỗ lực, dõng mãnh, bất thối… chánh niệm tỉnh giác, đoạn tận, diệt hết các bất thiện pháp ấy. Ghê gớm không, bản chất, đặc tánh của sa môn, của người xuất gia đó. Là chiến sĩ, dũng sĩ, thượng sĩ, là vô thượng sĩ.
“Ví như, này các Tỷ-kheo, khi khăn bị cháy, hay khi đầu bị cháy, cần phải quyết định, ước muốn, tinh tấn, nỗ lực, dõng mãnh, bất thối, chánh niệm, tỉnh giác để dập tắt khăn ấy cần phải quyết định, ước muốn, tinh tấn, nỗ lực, dõng mãnh, bất thối, chánh niệm, tỉnh giác để đoạn tận các pháp bất thiện ấy.” (Tâm của mình 1- Tăng chi bộ kinh, tập 4, trang 3175)
Thấy ví dụ khiếp không, cái khăn đội trên đầu bị cháy thì sao, đi chơi phải không, ngồi uống trà được không? Đức Phật ví dụ như thế cho mình thấy, đã cháy tới nơi rồi, Đức Phật nói:
“Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo quán sát như vậy biết rằng: Ta sống nhiều với tâm không tham, Ta sống nhiều với tâm không sân, Ta sống nhiều với tâm không trầm thụy miên, Ta sống nhiều với tâm không trạo cử, Ta sống nhiều với tâm nghi ngờ được vượt qua, Ta sống nhiều với tâm không phẫn nộ, Ta sống nhiều với tâm không nhiễm ô, Ta sống nhiều với thân không nhiệt nóng, Ta sống nhiều với tâm tinh tấn, tinh cần, Ta sống nhiều với tâm định tĩnh, thời Tỷ-kheo ấy, sau khi an trú trong các thiện pháp ấy, rồi hơn nữa cần chú tâm đoạn diệt các lậu hoặc.”
(Tâm của mình 1- Tăng chi bộ kinh, tập 4, trang 3175-3176)
Tuyệt vời, “sau khi an trú trong các thiện pháp ấy, rồi hơn nữa cần chú tâm đoạn diệt các lậu hoặc”, cái trạng thái hoạt động ngấm ngầm, sâu kín mà qua mặt mình, mình không thấy, không biết. Ngấm ngầm hoạt động dục nhiễm, hữu nhiễm, vô minh nhiễm, bây giờ người ta có công nghệ lọc nước ở ngoài Hà Nội, mười ngày, một tháng, từ từ, lọc từ từ, sẽ sạch lại, trong lại. Tâm mình cũng vậy, lọc trạng thái nhiễm của dục, ái, tham, nó đã nhiễm lâu ngày, lâu đời, lâu kiếp, thấy là cứ dính vô, ưa thích ngay; nghe là thích ngay, lưỡi nếm là mê, xúc chạm rồi liền điên đảo, nó trở thành trạng thái nhiễm lâu đời. Cho nên bây giờ, nếu mình đánh đuổi nó ra là một công trình vĩ đại ở bên trong, chứ không phải ngồi ở chùa, hai thời gõ boong boong, đọc mấy câu đó, xuống, là xong. Không phải.
Nó đầy dẫy, tràn trề, tràn ngập ở bên trong, hữu nhiễm, vô minh nhiễm, tinh tấn nỗ lực, lọc đi, công nghệ của Nhật Bản, học hỏi ở nước ngoài có các công nghệ lọc nước, từ nước rất dơ, nó đi qua bảy, tám chặng lọc như vậy, qua cả mười chặng như vậy, đến chặng cuối cùng, cho ra nước mình uống. Mà nguồn nước ban đầu, ở chặng đầu tiên nhìn thấy là mửa, nhưng đến chặng cuối cùng là thành ly nước suối mình uống. Cái tâm của mình cũng phải lọc, thanh lọc như vậy. Nhưng làm được như thế là cả một công trình vĩ đại, nên phải hết sức cẩn thận, “quyết định, ước muốn, tinh tấn, nỗ lực, dõng mãnh, bất thối, chánh niệm, tỉnh giác”. Bao nhiêu cái đặc tính, đầu tiên là phải quyết định, tuyên bố là phải quyết định làm cho sạch sẽ; kế đến là phải ước muốn, muốn hoài, phải làm; nỗ lực, tinh tấn, dõng mãnh, bất thối, không được đứng lại, lùi lại, phải tiến lên; phải chánh niệm tỉnh giác, phải dập cháy cái sân, dập tắt cái đầu đang cháy, dập tắt các ác bất thiện pháp đó. Dập tắt rồi vẫn chưa xong, “Thời Tỷ-kheo ấy, sau khi an trú trong các thiện pháp ấy, rồi hơn nữa cần chú tâm đoạn diệt các lậu hoặc.”
Nghe thấy sợ không, nhưng làm được thì hạnh phúc lắm, tuyệt vời lắm. Làm, quyết tâm làm, làm cùng tận khả năng, việc đáng làm nên làm, làm cùng tận khả năng.
Xuất gia sống phóng đãng,
Việc tăng loạn bụi đời.
Hãy làm cùng tận khả năng mình cho công trình vĩ đại siêu việt đó là nhân thiên phổ lợi, lợi ích khắp hết thiên hạ. Bình an, bình an, đại bình an; vi diệu, vi diệu, tối thượng vi diệu; hạnh phúc, hạnh phúc, hạnh phúc tuyệt đối.
Nguyện cho tự thân của chính mình và tất cả chúng sanh thành tựu được thánh trí năm uẩn, thấy rõ lậu hoặc, diệt tận, chấm dứt khổ đau, đạt tới Niết Bàn tối thắng./.
-Thích Minh Thành-
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Tinh tấn, cẩn thận: PAGEREF _Toc70145522 \h 1
II. Bảy giác chi: PAGEREF _Toc70145523 \h 5
III. Tâm của mình PAGEREF _Toc70145524 \h 7
I. Tinh tấn, cẩn thận:
Hỏi nội tâm của mình, ăn quan trọng, hay nghe pháp quan trọng? Mình đã ăn mấy mươi năm, sáu mươi năm rồi, vẫn không no. Không ăn một bữa không có chết, kêu pháp xao động, lăng xăng đó lắng dịu, dập tắt đi, đừng dao động nữa. Sau đó mình dùng Như lý tác ý, làm cho thân ở đâu thì tâm ở đó, có trường hợp thân ở đây mà tâm chỗ kia, lo ra. Nói chung hết, không riêng một ai, lo ra thì không có hiệu quả. Quan trọng, sự tu tập của mình phải biết khi nào là quan trọng, nào là thứ yếu, đánh mạnh thêm nữa là mình quán mình chết thì ai nấu cơm? Cho chữ chết hiện ra. Thì lúc đó tất cả sẽ yên tịnh, làm cho thọ của mình lắng dịu, tưởng lắng dịu, hành an tịnh, thức của mình trong sáng, chứ bây giờ thì chưa rõ ràng, nó rõ thọ tưởng hành thức, cái nào phải ra cái đó.
Sự tư tập của mình, tâm của mình dễ bị chấp thủ khi làm một điều gì đó, từ chỗ đó nó trói cột. Hoặc là một điều gì đến khác thường thì nó sẽ làm tâm mình dao động, rối; mọi việc diễn ra đều đặn như vậy hoài, không thay đổi, ở trong tâm cứ luôn luôn như vậy, cứ ở đó. Cái tưởng đó, luôn bên cạnh như vậy là mình chưa thấy được pháp, làm sao tất cả mọi chuyện của mình khi nó đến, mình có thể bình tĩnh tiếp nhận, cái tâm mình nhu nhuyến mềm mại, tùy thuận, dễ sử dụng.
Cái tâm muốn, tưởng mọi thứ như vậy hoài, mà nếu không như vậy thì nó không thích ứng, chính đây là điều nó không thấy được các hành là vô thường. Đến khi nào có một sự thay đổi đột ngột đến với mình, mình bình tĩnh đón nhận, hành pháp, nó là vô thường, các pháp đều là vô ngã, trống rỗng, mọi sự thật trên cuộc đời này đều biến động, biến hoại, biến diệt, biến chuyển, biến hóa, như có một làn hơi nước phun ra trước mặt mình, nó không cố định, nó luôn ở trong sự vận hành, vận động, vận chuyển của các pháp. Như vậy, không phải ở bên ngoài mà là ở trong tâm của mình, khi mình tiếp xúc, thích ứng đối với sự việc ở bên ngoài. Cho nên, Minh Thành chia sẻ với đại chúng công trình vĩ đại bên trong.
Trong tạng kinh Nikäya, các vị Tỳ-kheo chứng đắc từ sơ thiền, tầng thiền thứ nhất, thứ hai, thứ ba và thứ tư, rất bình thường. Các vị đi vào, đi ra một cách ung dung tự tại, không bận lòng, không khó khăn, không có phí sức khi đi vào thiền chi của các tầng thiền. Vì các Ngài đã tu tập một cái tâm thuần thục, còn tại sao mình cả cuộc đời tu trong chùa mà sơ thiền vô không nổi? Tại vì mình không có những công trình ở bên trong, mình chỉ đặt những công trình ở bên ngoài; mình lấy hình thức, hình tướng, hình sắc ở bên ngoài để làm công phu, làm thành tích, thành quả mà mình không làm công trình bên trong.
Công trình thật sự của người xuất gia là công trình bên trong. Làm sao để huấn luyện tâm của mình luôn luôn trú trong trạng thái xả, không để dính vô gì hết, dính vô điều gì là mình tác ý, buông xuống, bỏ, tháo, cởi, bứt, thoát ra. Đó gọi là trú xả, chánh niệm tỉnh giác, khi mắt tai nghe tiếng, mũi ngửi mùi, lưỡi nếm vị, thân tiếp xúc, mình không dính vào các cảm thọ, thích hay không thích, ưa hay không ưa mà luôn chánh niệm tỉnh giác, trú xả.
Đây là một công phu bên trong, đừng để tâm mình dính mắc ưa hay không ưa, thích hay không thích; lo lắng, chuyện nhỏ xíu cũng lo, suy nghĩ hoài, sợ, dao động, bất an bất bình hoài. Phải tập, tập cho nội tâm tịnh chỉ, tối thắng tuệ pháp quán, nội tâm tịnh chỉ là tâm là bên trong tâm có một sự yên lặng, thanh tịnh, chỉ là dừng lại, tịnh là trong sạch. Tại vì tối thắng tuệ pháp quán, sự quán sát bằng trí tuệ một cách sâu sắc. Sự quán sát bằng trí tuệ một cách sâu sắc này thật sự rất sâu sắc.
Khi đại chúng soạn ra quyển Linh Quy Nhật Tụng này, khi đi qua Mỹ, đọc ba tiếng đồng hồ, đọc hết trong đêm đó. Nhưng từ đâu có sản phẩm này? Từ rất nhiều công sức, rất công phu, rất nhiều phương diện, khía cạnh. Sự tu cũng vậy, sự tu còn gấp cả ngàn lần việc làm này. Nếu với một cái tâm qua loa, xem thường, làm cho có thì người này không thể nào bước lên Thánh đạo được, không bao giờ có vị nào Thánh Tri Kiến được. Thánh Tri Kiến, là cái thấy trí của bậc Thánh; một cái tâm qua loa, sơ sài, làm cho có, lười biếng, hèn nhát, một cái tâm thụ động thì làm sao thể nhập được Thánh Tri Kiến.
Không bao giờ có chuyện đó xảy ra đối với một người lười biếng, cẩu thả, không cẩn thận, qua loa, làm cho có, trả nợ quỷ thần, máy móc. Như vậy thì làm sao thể nhập được Thánh Tri Kiến - tri kiến của bậc Thánh. Không bao giờ có, chuyện thế gian còn làm không được thì làm sao trở thành Thánh Tri Kiến? Phải là một cái tâm hết sức cẩn trọng, sâu sắc, chu đáo, hết sức nhỏ nhiệm mới có thể đi vào Thánh Trí. Nếu bình thường mình làm không để tâm, khi hữu sự, là hỏng hết, như lúc sáng mình thấy, một chuyện nhỏ nhưng mình phải học, nếu người nào đó bận thì mình thay thế vào chỗ đó, nếu bất thình lình là bấn loạn tay chân. Đó là một việc mình cần phải học. Chỉ cần công việc của người đó, nếu người đó vắng là rối loạn. Tại sao bình thường không để tâm, để ý? Cho nên, thật sự thể nhập Thánh Trí là cả một công trình vĩ đại bên trong.
Pháp này không dành cho người lười biếng, cẩu thả, Pháp này là Pháp tinh cần tinh tấn; Pháp này không phải dành cho người không có trí, mà là dành cho người thượng trí; Pháp này không dành cho người vô văn phàm phu mà là dành cho người Đa văn Thánh đệ tử; Pháp này không phải dành cho người nhiều ham muốn mà là dành cho người ly dục; Pháp này không dành cho người thích ồn ào náo nhiệt mà là dành cho người viễn ly, an tịnh. Cho nên, mình không phải mình học mấy bài kinh là mình hiểu thôi đâu, còn xa lắm. Đừng nghĩ với chút hiểu biết đó, ở trong phòng, nói “tôi đã Tu-đà-hoàn” là tiêu, đọa à. Mấy vị tu một mình, mừng, nhưng lo nhiều hơn, không phải chuyện đơn giản.
Trong tạng kinh, Đức Phật chỉ từng chút, từng chút một, mới chứng tầng sơ thiền. Khi đó Ngài không có sự thích, không có sự khoan khoái, thích thú, hỷ lạc đối với sự an tịnh của tâm. Tại sao nói như vậy? Vì Ngài chưa làm cho sung mãn về sự nguy hại của dục mà chưa thấy biết, chưa chịu làm cho cái thấy biết về khía cạnh, tác hại, nguy hiểm của dục sung mãn, phải làm cho cái thấy biết sung mãn của dục là nguy hiểm. Nguy hại, nguy hiểm quá. Sau đó mới trú được ở trong trạng thái ly dục, thưởng thức nó, thấy được lợi ích của nó, rồi Ngài mới trú trong sơ thiền, chứng được sơ thiền, cũng vậy với nhị thiền, tam thiền, tứ thiền. Một là làm cho sung mãn tính nguy hại, hai là thưởng thức lợi ích của sự ly dục.
Muốn tu tiến là mình phải làm cho sung mãn sự thấy biết về tính chất nguy hại của sắc, dục, tham, sân, si, bản ngã. Phải làm sung mãn sự thấy biết về những nguy hại đó, trí huệ đó. Làm thế nào để cho nó sung mãn? Phải luôn luôn nghe lời các bậc Thánh, phải làm cho Như lý tác ý… làm cho sung mãn sự thấy biết về sự nguy hại của sắc, dục, tham, ái. Cứ từng chút, từng chút. Là cả một công trình vĩ đại, siêu vĩ đại, chứ không phải ngồi tu bốn mươi chín ngày là chứng thành Chánh giác. Đọc tạng kinh rồi mình sẽ thấy, là cả một công trình, từng chút một, tác ý tới lui, qua lại, đào thải, thanh lọc, tẩy rửa, trần ai gian khổ; cả một sự tinh tấn, cả một sự để tâm, đến nỗi quên ăn mất ngủ, quên hết tất cả đời sống, bỏ mặc tất cả... Bây giờ chưa làm được như vậy nên mình song song, vừa tu vừa truyền pháp, hoằng pháp. Đó là kém xuống một bậc rồi vậy.
Cho nên phải có một cái tâm cẩn thận, vi tế, thận trọng, chu đáo chứ không phải nói đơn giản. Kiểu lề mề như mình thì không biết tu đến bao giờ. Tu theo đúng tinh thần này thì không phút giây nào ngơi nghỉ sự tu, trừ lúc vô phòng ngủ. Phải nhìn hoài nhìn hoài, công trình vĩ đại ở bên trong mà, không nhìn thì làm sao thấy, không thấy thì làm sao phát hiện, hoặc nếu mình cấu nhiễm mà không phát hiện thì làm sao tẩy sạch, đoạn trừ, mà nếu không đoạn trừ thì làm sao đến chỗ diệt tận, mà nếu không diệt tận thì làm sao đến Niết Bàn?
Mấy ngày gần đây Minh Thành nghe từ Diệt Đế, hay vô cùng, tuyệt diệu. Đó giờ không hiểu, Diệt Đế là sao? Nghe từ “diệt” thấy sợ, diệt hết. Là thấy biết sự thật để đoạn tận tất cả vô minh, tham ái, lậu hoặc. Phải tiêu diệt hết, diệt tận. Diệt sạch hết tất cả những mầm mống dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu, những mầm mống ưa thích, ham muốn si mê, bản ngã, phải diệt tận, diệt sạch.
Đức Phật dùng nhiều từ để diễn tả điều này như đoạn xả, đoạn ly, đoạn tận, đoạn diệt, dứt lìa, dứt bỏ, dứt hết, dứt sạch, đó là Diệt Đế. Diệt đế hay lắm, tuyệt vời lắm. Lúc trước nghe Diệt Đế sợ, không biết diệt cái gì. Thật ra, cả cuộc đời tu hành của mình chỉ có một chữ “diệt”, diệt đến khi nào hết thì thôi. Ví dụ như nỗi sợ nhà bếp không ai nấu, mình diệt, diệt nó, cho hoàn toàn chấm dứt trong nội tâm của nó, thì đó là Niết Bàn. Chỗ mà tâm an tịnh, lắng dịu, không còn lo lắng, đó là Niết Bàn. Nếu mình để tâm lao xao, lo lắng trong đó thì đó chưa phải Niết Bàn, còn bất an.
Thiết thực hiện đại ở chỗ đó, thân ngồi đây mà tâm lo ra, biết lo vẫn không được gì nhưng vẫn lo, tại sao vậy, vì lo bị rầy, lo người khác nói mình không tròn trách nhiệm. Đó là một ví dụ rất nhỏ, nhưng đó là cái gì, ai, trong này ai nói, ai không tròn trách nhiệm? Là bản ngã nó sợ, muốn làm tốt, muốn làm tròn trách nhiệm, phải hoàn hảo. Vì yêu thích bản ngã nên sanh ái, sanh ưu, sanh bố, “diệt ly ưu ái, hà ưu hà bố.” Do cái yêu thích chính mình, nên mình mới lo, vì mình yêu thích chính mình nên mới sợ, nếu mình không còn yêu thích vào cái bản ngã thì không còn lo, không còn sợ.
Cho nên sự thực hành phân tích năm uẩn hay lắm, chỉ có một chuyện nhỏ, mình phanh phui ra để tu, chứ chuyện đó rất bình thường, không có gì hết nhưng mình đi sâu vô để tu, thành tựu Thánh Trí là mình phanh phui hết, giải tỏa hết, đem hết mọi khía cạnh của nó ra, không phải chỉ nhận biết đây là Thọ, Tưởng, Hành, Thức, không phải. Từ đâu sanh khởi điều này lên? Tại sao nó sanh khởi? Từ đâu mà có suy nghĩ, ý tưởng này, cảm giác này? Đó là mình biết được tập khởi của năm uẩn, và khi mình dùng các pháp để quán chiếu và tẩy sạch hết thì mình thấy biết được chấm dứt, đoạn diệt năm uẩn. Mình biết được sự xuất hiện, đó là thiết thực hiện đại chứ không phải chỉ lý thuyết suông, a, b, c.., là xong, quậy phá nhà cửa cũng kệ, không phải. Phải huấn luyện.
II. Bảy giác chi:
Có rất nhiều bài kinh, Minh Thành dẫn bài kinh trong Tương ưng bộ kinh, tập 5, Đoạn diệt: “Con đường nào, đạo lộ nào, này các Tỷ-kheo, đưa đến đoạn diệt khát ái, hãy tu tập con đường ấy, đạo lộ ấy. Và này các Tỷ-kheo, con đường nào, đạo lộ nào đưa đến đoạn diệt khát ái? Tức là bảy giác chi. Thế nào là bảy? Niệm giác chi, trạch pháp giác chi, tinh tấn giác chi, hỷ giác chi, tịnh giác chi, định giác chi, xả giác chi. Tu tập như thế nào, làm cho sung mãn như thế nào, này các Tỷ-kheo, bảy giác chi đưa đến đoạn diệt khát ái? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập niệm giác chi liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ, Tỳ kheo tu tập trạch pháp giác chi, tinh tấn, hỷ, tịnh, định xả giác chi liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ. Tu tập như vậy, làm cho sung mãn như vậy, này các Tỷ-kheo, bảy giác chi đưa đến đoạn diệt khát ái.”
(Kinh Đoạn diệt -Tương ưng bộ kinh, trang 2480-2481)
Tuyệt vời lắm, vi diệu lắm. Bảy giác chi là gì? Là Tứ niệm xứ. Mình tu tập, thân hành niệm, luôn luôn quán niệm thân, quán niệm, quán chiếu cảm thọ, nhìn lại, để ý quán xét. Mình nhìn lại nội tâm của mình, quán các pháp vận hành ở bên trong để đưa đến đoạn diệt khát ái. Sự khao khát, ưa thích, ham muốn, phải sắc thân hương vị xúc pháp. Mục đích của mình là đoạn diệt sự khao khát, ưa thích đó. Mình phải thấy được mục đích, trọng tâm của mình là ở chỗ đó.
Có một bài kinh: Ác đưa đến nghiệp, nghiệp đưa đến khổ, khổ đưa đến sinh già bệnh chết, sầu bi khổ não. Như vậy toàn bộ khổ não tập khởi, nên “con đường nào, đạo lộ nào đưa đến đoạn diệt khát ái, hãy tu tập con đường ấy.” Tu tập bảy giác chi, Tứ niệm xứ để liên hệ đến viễn ly, lìa xa sanh lão bệnh tử; ly tham đối với sanh lão bệnh tử; chấm dứt sắc thọ tưởng hành thức. Chỉ nói gọn một từ thôi, là chấm dứt sự khát ái, từ bỏ sự khát ái, sự tham, sự dục, sự ái; từ bỏ mọi thứ, mọi việc, mọi vật trên cuộc đời này… là đoạn diệt sự khát ái, khao khát, ưa thích mấy thứ đó. Không còn ưa thích điều gì nữa thì không còn điều gì làm mình khổ, ràng buộc mình nữa hết.
Nói thì đơn giản, nhưng để làm được việc đó, đòi hỏi mình Thánh Trí, Chánh Đẳng Chánh Giác, chứ không phải chuyện đoạn diệt khát ái trên cuộc đời là chuyện dễ làm. Cho dù mình có chết đi sống lại hàng tỷ lần mà mình không thấy được Thánh Đạo thì mình cũng không đi lên được, không đoạn diệt được.
Cho nên, Minh Thành chia làm ba hạng người trong thế giới này: hạng người thứ nhất đam mê trong dục trưởng dưỡng, cũng mệt mỏi chán chường, nhưng vì có sự đam mê mãnh liệt... rất nhiều, đó là hạng người thứ nhất. Hạng người thứ hai là họ có sự nhàm chán, muốn thoát khỏi nhưng họ không biết con đường thoát, họ không biết xuất ly đạo lộ, mà hạng người này thì cũng nhiều, là những người tu, rất nhiều người muốn nhưng không biết con đường, phương pháp, không gặp Thánh Đạo thì cho dù làm bất cứ điều gì cũng không giải thoát được. Hạng người thứ ba là hạng người cũng nhàm chán, muốn thoát ra nhưng được gặp minh sư, bậc thiện tri thức, Đạo sư, chỉ dạy đúng Chánh Đạo, gặp được Chân nhân, gặp được bậc thiện trí thức thì hạng người này có khả năng, nói là có thể thôi chứ không phải là chắc chắn, sẽ được thành tựu. Đây là hạng người tối thượng trong ba hạng người, thấy khổ, muốn thoát khổ, được người chỉ cho con đường thoát khổ chơn chánh, không phải dễ. Hạng người đó là chúng ta, đang ngồi đây.
III. Tâm của mình
Đau khổ, chán chường, muốn thoát ra mà gặp được Chánh Pháp, nếu mình không có một cách thật thiện xảo trong sự học và hành thì vẫn không thoát như thường. Cho nên, ở đây nói về công trình vĩ đại bên trong, chúng ta liên hệ bài kinh này rất quan trọng, bài kinh Tâm của mình trong Tăng chi bộ kinh, tập 4: “Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo, không thiện xảo trong hành tướng tâm người khác, thời cần phải nguyện rằng: "Ta sẽ thiện xảo trong hành tướng tâm của ta. Như vậy, các Tỷ-kheo, các Thầy cần phải học tập. Ví như, này các Tỷ-kheo, một người đàn bà hay một người đàn ông, còn trẻ, trong tuổi thanh niên, tánh ưa trang điểm, quán sát hình ảnh mặt mình trong tấm gương thanh tịnh trong sáng, hay trong một bát nước trong. Nếu thấy trên mặt có hột bụi hay dấu nhớp gì, người ấy cố gắng đoạn trừ bụi hay dấu nhớp ấy. Nếu không thấy hột bụi hay dấu nhớp, người ấy hoan hỷ, thỏa mãn. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo quán sát như vậy, được nhiều lợi ích trong các thiện pháp.”
(Tâm của mình 1- Tăng chi bộ kinh, tập 4, trang 3172-3173)
Nghĩa là, mình phải soi gương hoài, xây dựng công trình vĩ đại bên trong, tức là nếu không soi gương thì làm sao biết có dính dơ hay không. Người chân tu là không có thời gian để nhìn bên ngoài, phải nhìn hoài sắc thọ tưởng hành thức của mình như thế nào, dục tham ái có mặt không. Mình xem lời Phật dạy, bất ngờ lắm: “quán sát như vậy, được nhiều lợi ích trong các thiện pháp.” Có phải ta sống với nhiều cái tham hay ta sống nhiều với cái không tham. Cho nên, “trình pháp mấy hôm nay tâm con an tịnh, an lạc lắm”, là biết người này chưa thánh tựu Trí Huệ.
Đại chúng có biết câu nói đó là gì không? Đó là câu nói của bậc A-la-hán. Chỉ có hai trường hợp, hoặc là người đó phàm phu hoặc là người đó là bậc Thánh Quả tối cao. Từ từ mình sẽ học bài kinh, có người ô nhiễm mà không biết mình ô nhiễm. Cho nên trình pháp nếu nói “con an lạc, thanh tịnh lắm, con không thấy tham sân si gì hết” là biết người này không thấy Pháp, không thành tựu trí huệ; không thành tựu trí huệ thì tập kiến chưa thành tựu; tập kiến chưa thành tựu thì khổ kiến cũng chưa thành tựu. Tập kiến là sự tập khởi của khổ, nó tập hợp, sanh khởi lên, xem có gì trong đó - dục, tham, ái, tham sân si, bản ngã. Cho nên, “Có phải ta sống nhiều với tham? Có phải ta sống nhiều với không tham? Có phải ta sống nhiều với tâm có sân? Có phải ta sống nhiều với tâm không có sân? Có phải ta sống nhiều với hôn trầm thụy miên chi phối, hay ta sống nhiều với hôn trầm thụy miên được từ bỏ? Có phải ta sống nhiều với trạo cử, hay ta sống nhiều với không trạo cử?”
(Tâm của mình 1- Tăng chi bộ kinh, tập 4, trang 3173-3174)
Rất hay từ Đức Phật sử dụng, là hôn trầm, tùy miên được từ bỏ chứ không phải là không có hôn trầm tùy miên, đã từ bỏ chưa? “Có phải ta sống nhiều với trạo cử hay không sống nhiều với trạo cử?” Kiểm tra lại tâm, xem có phải ta sống với tất bật, vội vàng.. hay không hay là ta không sống nhiều với điều đó, ta sống với thân an tịnh, tâm an tịnh? Có phải ta sống nhiều với sự lơ mơ, ngủ gờ ngủ gật, mở mắt cũng như nhắm mắt, có xác không có hồn, không minh mẫn, dục tham sân, thùy miên, hôn trầm, trạo cử.., đầy trong đó mà lại không tác ý để trừ diệt, trừ tận, đoạn tận, đoạn ly, đoạn xả… cứ để đầy trong đó mà nói an tịnh lắm. Đó là mù lòa. Cho nên người tu theo dòng pháp này, theo kinh tạng Nikāya này, Đức Phật dạy: “người càng thấy nhiều lậu hoặc nhiều chừng nào thì người đó có trí huệ càng thâm sâu chừng đó.”
Đây là cả một công trình vĩ đại bên trong, tại sao? Vì thấy lậu hoặc không phải là xong, thấy lậu hoặc phải đoạn diệt, sau này mình sẽ học bài kinh, không phải có tham biết có tham, có sân biết có sân, là xong, không phải. Phải tinh cần tinh tấn, đoạn tận, đoạn diệt, đoạn dứt, làm cho nó không còn hiện hữu trong nội tâm nữa, điều đó mới là Thánh tinh tấn, sự tinh tấn của bậc Thánh. Là Thánh chánh niệm, chánh niệm của bậc Thánh, chứ không phải chánh niệm của người thường, đi biết đi, ngồi biết ngồi, một thứ nhỏ nhiệm mình cũng phải thấy nó, trong cái đi đó có dục có tham, có sân si bản ngã không, có trạo cử không, nếu có, phải đoạn tận, đoạn diệt, làm cho nó không còn hiện hữu, đó là Thánh tinh tấn.
Thánh chánh niệm, Thánh tư duy, là tư duy của bậc Thánh. Như lý tác ý đó là sự tư duy của bậc Thánh. Nếu mình không có tri kiến của bậc Thánh thì làm sao mình sanh khởi những điều này. Cho nên cứ học hoài cái này, mình muốn mình phải nhập những chất, sáng tỏ trong Chánh Tri Kiến, và mình đem Chánh Tri Kiến này chia sẻ đến hết những người có duyên. Từ chỗ Chánh Tri Kiến mình mới đi đến chỗ Thánh tư duy, là sự suy tư của bậc Thánh, chứ không phải suy tư của người thường, và tất cả những suy nghĩ của mình là suy nghĩ của Thánh huệ, Thánh trí, Thánh đạo… gọi là Thánh tri kiến. Cho nên phải xem lại nội tâm của mình, “Có phải ta sống nhiều với nghi ngờ, hay ta sống nhiều vượt qua được nghi ngờ?”. Đó, nãy giờ đó là năm triền cái, nếu không nhìn vô thì làm sao mình biết, nó xuất hiện, áp đảo, xâm chiếm hết, làm cho tâm lăng xăng, lộn xộn mà không biết gì hết... Một là vọng tưởng, hai là hôn trầm, không gặp thì thôi, gặp là huyên thuyên, không thôi thì ngủ, chỉ có hai trường hợp, hoặc huyên thuyên, hoặc là buồn ngủ. Lên ngồi thiền cũng vậy, một là phóng tâm, vọng tưởng, hai là gục lên gục xuống.
“Có phải ta sống nhiều với phẫn nộ, hay ta sống nhiều không bị phẫn nộ?” Có phải ta sống với nhiều phẫn nộ, bực bội, bực tức không, ai chạm tới là mình bực bội, bực tức.., mình có sống nhiều với điều đó không hay mình không có sống nhiều như vậy? Nếu muốn như vậy thì phải nhìn hoài, nhìn hoài, phản trực, thường trực soi gương sáng, trưa, chiều, tối.., hoài như vậy. Soi gương để nhìn mặt thì điều đó bình thường, còn ở đây phải soi bằng Thánh trí, nhìn sâu vào các ngũ uẩn, đào sâu các lớp cảm thọ.., giải phẫu hết, chỗ nào có bệnh phải cắt bỏ, nếu không mấy thứ có độc sẽ lan ra cùng khắp, nên cần phải cắt bỏ. Đó có phải công trình công phu không? Đây là một công trình vĩ đại ở bên trong. Với những người lười biếng, làm cho có, phớt lờ thì làm sao phát hiện ra được những lậu hoặc, làm sao phát hiện ra nổi, làm sao chuyển hóa, diệt tận, tẩy sạch được?
Phải lạy Đức Thế Tôn và các bậc A-la-hán, người này tập kiểu này, người kia tập kiểu kia là nhức đầu rồi, vô văn phàm phu, thấp hèn, bản ngã, cứ lòng vòng vậy mãi. Không ra khỏi, cứ lầm tưởng mình tu hay, tu giỏi, tu tốt. Cho nên cứ súc sanh, cứ phàm phu hoài thôi, không có nhìn nhận, nhìn thấy.
“Có phải ta sống nhiều với tâm bị ô nhiễm, hay ta sống nhiều với tâm không bị ô nhiễm?” Câu này gom hết cái tâm của mình, xem mình sống với tâm bị ô nhiễm hay sống với tâm không bị ô nhiễm? Sau khi thiền hành, mình thấy ô nhiễm thì có diệt tận không? Khi nhìn thấy cái đó nói rằng “ở nhà ngủ khỏe hơn”, có tưởng những hình ảnh bất thiện pháp không ở trong nội tâm mình khi đi kinh hành, thấy nó có ô nhiễm không hay là không ô nhiễm? Nếu có ô nhiễm, phải tẩy, làm rõ, tự diệt, như vậy thì làm sao hở tay được; với một người tu tập liên tục như vậy thì làm sao rảnh rang được. Và nếu một người đã nhìn sâu vào những chỗ vi tế vận hành của ngũ uẩn thì người này làm sao có thể làm những việc cẩu thả, không thể được. Mà nếu người đó đã cẩu thả bên ngoài, lười biếng, không để tâm, để ý, không vi tế nhỏ nhiệm, cẩn trọng, chu đáo… thì người này khi nhìn vào nội tâm cũng nhìn không ra, không bao giờ nhìn ra.
Không thể nhìn ra hết các ngõ ngách của nội tâm mình, có ô nhiễm, không biết, có dục tham ái, mình cũng không biết. Không phải là chuyện đơn giản. Không phải bây giờ mình ngồi đây là thanh tịnh, không phải, nó đang tùm lum bên trong, đầy dẫy trong đó hết. Ghê gớm, khủng khiếp, kinh khiếp như vậy đó. Phải thấy cho bằng được những điều mình chưa thấy, phải phát giác phát hiện, nó tinh vi tinh tế, nó nhỏ nhiệm, sâu sắc ở trong mọi ngõ ngách, trong kẹt góc, kẹt bàn, kẹt xó.., lôi ra hết, bóc ra hết. Thánh trí là như vậy, làm cho hoàn toàn sạch sẽ, sạch bóng, sạch hết trơn. Công trình vĩ đại ở bên trong là như vậy đó.
“Có phải ta sống nhiều với thân nhiệt nóng, hay ta sống nhiều với thân không nhiệt nóng?” Cái thân lúc nào cũng thấy nóng, nóng bức, cũng hừng hực, mà nóng như vậy rất dễ bị bực lắm. Tại sao nóng? Vì cái tâm không mát lành, không có trải tâm từ, không có trú tâm xả, năm uẩn không an tịnh. Đó là gì? Là dục, là ái, là bản ngã thiêu đốt, nó làm mình cảm thấy khó chiu, bực bội mà không biết vì điều gì. Có những trường hợp thấy khó chịu mà không biết tại sao, tự nhiên hôm nay thấy khó chịu, bực bực, nóng nóng. Nếu tu mà không có trí huệ thì những điều này làm sao mà thấy mỗi ngày nhìn ra cái nào đẹp, ăn cái nào ngon, phải chưa? Đó là không có công trình ở bên trong.
“Có phải ta sống nhiều với biếng nhác, hay ta sống nhiều với tinh tấn, tinh cần, có phải ta sống nhiều với không định tĩnh, hay ta sống nhiều với định tĩnh?" Đó là mười trạng thái của tâm. Xem ta có sống nhiều với định tĩnh không hay ta sống nhiều với không định tĩnh.
“Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo quán sát như vậy, biết rằng: Ta sống nhiều với tâm tham, Ta sống nhiều với tâm sân, Ta sống nhiều với tâm bị hôn trầm thụy miên chi phối, Ta sống nhiều với trạo cử, Ta sống nhiều với nghi ngờ, Ta sống nhiều với phẫn nộ, Ta sống nhiều với tâm bị nhiễm ô, Ta sống nhiều với thân nhiệt nóng, Ta sống nhiều với biếng nhác, Ta sống nhiều với không định tĩnh, thời Tỷ-kheo ấy cần phải quyết định, ước muốn, tinh tấn, nỗ lực, dõng mãnh, bất thối, chánh niệm, tỉnh giác để đoạn tận các pháp ác bất thiện ấy.”
(Tâm của mình 1- Tăng chi bộ kinh, tập 4, trang 3174-3175)
Thấy Đức Phật dùng từ kinh khiếp không, “phải quyết định, ước muốn, tinh tấn, nỗ lực, dõng mãnh, bất thối, chánh niệm, tỉnh giác để đoạn tận các pháp ác bất thiện ấy”, phải dùng từ như vậy, chứ có tham, sân, si thì chỉ biết vậy, rồi thôi là mình đi theo luôn. Vươn lên, ước muốn, mạnh mẽ, nỗ lực, dõng mãnh, bất thối… chánh niệm tỉnh giác, đoạn tận, diệt hết các bất thiện pháp ấy. Ghê gớm không, bản chất, đặc tánh của sa môn, của người xuất gia đó. Là chiến sĩ, dũng sĩ, thượng sĩ, là vô thượng sĩ.
“Ví như, này các Tỷ-kheo, khi khăn bị cháy, hay khi đầu bị cháy, cần phải quyết định, ước muốn, tinh tấn, nỗ lực, dõng mãnh, bất thối, chánh niệm, tỉnh giác để dập tắt khăn ấy cần phải quyết định, ước muốn, tinh tấn, nỗ lực, dõng mãnh, bất thối, chánh niệm, tỉnh giác để đoạn tận các pháp bất thiện ấy.” (Tâm của mình 1- Tăng chi bộ kinh, tập 4, trang 3175)
Thấy ví dụ khiếp không, cái khăn đội trên đầu bị cháy thì sao, đi chơi phải không, ngồi uống trà được không? Đức Phật ví dụ như thế cho mình thấy, đã cháy tới nơi rồi, Đức Phật nói:
“Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo quán sát như vậy biết rằng: Ta sống nhiều với tâm không tham, Ta sống nhiều với tâm không sân, Ta sống nhiều với tâm không trầm thụy miên, Ta sống nhiều với tâm không trạo cử, Ta sống nhiều với tâm nghi ngờ được vượt qua, Ta sống nhiều với tâm không phẫn nộ, Ta sống nhiều với tâm không nhiễm ô, Ta sống nhiều với thân không nhiệt nóng, Ta sống nhiều với tâm tinh tấn, tinh cần, Ta sống nhiều với tâm định tĩnh, thời Tỷ-kheo ấy, sau khi an trú trong các thiện pháp ấy, rồi hơn nữa cần chú tâm đoạn diệt các lậu hoặc.”
(Tâm của mình 1- Tăng chi bộ kinh, tập 4, trang 3175-3176)
Tuyệt vời, “sau khi an trú trong các thiện pháp ấy, rồi hơn nữa cần chú tâm đoạn diệt các lậu hoặc”, cái trạng thái hoạt động ngấm ngầm, sâu kín mà qua mặt mình, mình không thấy, không biết. Ngấm ngầm hoạt động dục nhiễm, hữu nhiễm, vô minh nhiễm, bây giờ người ta có công nghệ lọc nước ở ngoài Hà Nội, mười ngày, một tháng, từ từ, lọc từ từ, sẽ sạch lại, trong lại. Tâm mình cũng vậy, lọc trạng thái nhiễm của dục, ái, tham, nó đã nhiễm lâu ngày, lâu đời, lâu kiếp, thấy là cứ dính vô, ưa thích ngay; nghe là thích ngay, lưỡi nếm là mê, xúc chạm rồi liền điên đảo, nó trở thành trạng thái nhiễm lâu đời. Cho nên bây giờ, nếu mình đánh đuổi nó ra là một công trình vĩ đại ở bên trong, chứ không phải ngồi ở chùa, hai thời gõ boong boong, đọc mấy câu đó, xuống, là xong. Không phải.
Nó đầy dẫy, tràn trề, tràn ngập ở bên trong, hữu nhiễm, vô minh nhiễm, tinh tấn nỗ lực, lọc đi, công nghệ của Nhật Bản, học hỏi ở nước ngoài có các công nghệ lọc nước, từ nước rất dơ, nó đi qua bảy, tám chặng lọc như vậy, qua cả mười chặng như vậy, đến chặng cuối cùng, cho ra nước mình uống. Mà nguồn nước ban đầu, ở chặng đầu tiên nhìn thấy là mửa, nhưng đến chặng cuối cùng là thành ly nước suối mình uống. Cái tâm của mình cũng phải lọc, thanh lọc như vậy. Nhưng làm được như thế là cả một công trình vĩ đại, nên phải hết sức cẩn thận, “quyết định, ước muốn, tinh tấn, nỗ lực, dõng mãnh, bất thối, chánh niệm, tỉnh giác”. Bao nhiêu cái đặc tính, đầu tiên là phải quyết định, tuyên bố là phải quyết định làm cho sạch sẽ; kế đến là phải ước muốn, muốn hoài, phải làm; nỗ lực, tinh tấn, dõng mãnh, bất thối, không được đứng lại, lùi lại, phải tiến lên; phải chánh niệm tỉnh giác, phải dập cháy cái sân, dập tắt cái đầu đang cháy, dập tắt các ác bất thiện pháp đó. Dập tắt rồi vẫn chưa xong, “Thời Tỷ-kheo ấy, sau khi an trú trong các thiện pháp ấy, rồi hơn nữa cần chú tâm đoạn diệt các lậu hoặc.”
Nghe thấy sợ không, nhưng làm được thì hạnh phúc lắm, tuyệt vời lắm. Làm, quyết tâm làm, làm cùng tận khả năng, việc đáng làm nên làm, làm cùng tận khả năng.
Xuất gia sống phóng đãng,
Việc tăng loạn bụi đời.
Hãy làm cùng tận khả năng mình cho công trình vĩ đại siêu việt đó là nhân thiên phổ lợi, lợi ích khắp hết thiên hạ. Bình an, bình an, đại bình an; vi diệu, vi diệu, tối thượng vi diệu; hạnh phúc, hạnh phúc, hạnh phúc tuyệt đối.
Nguyện cho tự thân của chính mình và tất cả chúng sanh thành tựu được thánh trí năm uẩn, thấy rõ lậu hoặc, diệt tận, chấm dứt khổ đau, đạt tới Niết Bàn tối thắng./.