Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

PHÁP HÀNH NIKĀYA CHUYÊN SÂU

2026-03-03 00:54:16
Linh Quy Pháp Ấn

center19574600

PHÁP HÀNH NIKĀYA

CHUYÊN SÂU

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u LỜI NGỎ PAGEREF _Toc140819328 \h 1

I.THÁNH TRÍ VỀ NGŨ UẨN PAGEREF _Toc140819329 \h 5

1.Thánh Trí Về Sắc Uẩn PAGEREF _Toc140819330 \h 8

1.1Định nghĩa PAGEREF _Toc140819331 \h 8

1.2 Vị ngọt, sự nguy hại và sự xuất ly PAGEREF _Toc140819332 \h 14

1.3 Chiếu phá sắc uẩn PAGEREF _Toc140819333 \h 21

2.Thánh Trí Về Thọ Uẩn PAGEREF _Toc140819334 \h 29

2.1Định nghĩa PAGEREF _Toc140819335 \h 30

2.2Vị ngọt, sự nguy hại và xuất ly PAGEREF _Toc140819336 \h 32

2.3Tu tập cảm thọ PAGEREF _Toc140819337 \h 37

3.Thánh Trí Về Tưởng Uẩn PAGEREF _Toc140819338 \h 43

3.1Định nghĩa PAGEREF _Toc140819339 \h 43

3.2Vị ngọt và sự nguy hại PAGEREF _Toc140819340 \h 46

3.3Sự xuất ly PAGEREF _Toc140819341 \h 48

4.Thánh Trí Về Hành Uẩn PAGEREF _Toc140819342 \h 56

4.1Định nghĩa PAGEREF _Toc140819343 \h 57

4.2Vị ngọt, sự nguy hại và xuất ly PAGEREF _Toc140819344 \h 60

4.3Như lý tác ý PAGEREF _Toc140819345 \h 61

5.Thánh Trí Về Thức Uẩn PAGEREF _Toc140819346 \h 70

5.1Định nghĩa PAGEREF _Toc140819347 \h 70

5.2Vị ngọt và sự nguy hại PAGEREF _Toc140819348 \h 74

5.3Sự xuất ly PAGEREF _Toc140819349 \h 76

6. Bốn Thánh Trí về Ngũ Uẩn PAGEREF _Toc140819350 \h 79

II.BẢN CHẤT CỦA NGŨ UẨN PAGEREF _Toc140819351 \h 85

1.Khổ Đau PAGEREF _Toc140819352 \h 86

2.Vô Thường PAGEREF _Toc140819353 \h 93

3.Trống Rỗng – Vô Ngã PAGEREF _Toc140819354 \h 97

4.Đáng Nhàm Chán PAGEREF _Toc140819355 \h 101

III.SỰ VẬN HÀNH CỦA NGŨ UẨN PAGEREF _Toc140819356 \h 107

1.Duyên Sanh Pháp PAGEREF _Toc140819357 \h 107

2.Hộ Trì Căn PAGEREF _Toc140819358 \h 113

3.Cẩn Thận Duyên Xúc PAGEREF _Toc140819359 \h 123

IV.NHẬN DIỆN NGŨ UẨN PAGEREF _Toc140819360 \h 130

1.Thực Tập Nhận Diện Năm Uẩn PAGEREF _Toc140819361 \h 130

2.Một Số Bài Tập Nhận Diện Ngũ Uẩn PAGEREF _Toc140819362 \h 133

3.Nhận Diện Tham, Sân, Si PAGEREF _Toc140819363 \h 140

3.1Tham, sân, si ở đâu? PAGEREF _Toc140819364 \h 140

3.2Đối trị tham, sân, si PAGEREF _Toc140819365 \h 144

V.LỢI ÍCH NHẬN DIỆN NGŨ UẨN PAGEREF _Toc140819366 \h 156

LỜI KẾT PAGEREF _Toc140819367 \h 160

LỜI NGỎ

Quý Tăng Ni, Phật tử thân mến, Đức Thế Tôn – Bậc Đạo Sư vĩ đại của chúng ta đã khám phá, giác ngộ một sự thật vĩ đại, to lớn, tột cùng, duy nhất trong mười ngàn thế giới. Chính nhờ thấu triệt lẽ thật này, Ngài đã chứng đắc quả vị Phật Chánh Đẳng Chánh Giác tối thượng, chấm dứt hoàn toàn mọi khổ đau và hướng dẫn cho hàng đệ tử chúng ta con đường đó. Trong bài kinh “Thủ Chuyển” – Tương Ưng Bộ Kinh, Đức Phật đã tuyên bố rằng:

"Nhân duyên ở Sàvatthi...

-- Này các Tỳ-kheo, có năm thủ uẩn này. Thế nào là năm? Sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn.

Này các Tỳ-kheo, khi nào Ta chưa như thật thắng tri năm thủ uẩn này theo bốn chuyển, thì cho đến khi ấy, này các Tỳ-kheo, đối với thế giới chư Thiên, Ma, Phạm thiên, cùng với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người, Ta không xác chứng rằng Ta đã chứng được vô thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác.

Nhưng này các Tỳ-kheo, khi nào Ta đã như thật thắng tri năm thủ uẩn này theo bốn chuyển, cho đến khi ấy, này các Tỳ-kheo, đối với thế giới chư Thiên, Ma, Phạm thiên, cùng với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người, Ta xác chứng rằng Ta đã chứng được vô thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác.

Và thế nào là bốn chuyển? Ta đã thắng tri sắc, Ta đã thắng tri sắc tập khởi, Ta đã thắng tri sắc đoạn diệt, Ta đã thắng tri con đường đưa đến sắc đoạn diệt. Ta đã thắng tri thọ... tưởng... hành... Ta đã thắng tri thức, Ta đã thắng tri thức tập khởi, Ta đã thắng tri thức đoạn diệt, Ta đã thắng tri con đường đưa đến thức đoạn diệt. (Tương Ưng Bộ Kinh III, Chương I. Tương Ưng Uẩn)

Đức Phật tuyên bố rằng, cho đến khi nào Ngài chưa thấu suốt tột cùng về năm uẩn theo bốn chuyển thì cho đến khi ấy Ngài không tuyên bố với tất cả mọi người rằng Ngài chứng đắc quả vị vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Cho đến khi Ngài thấu suốt trọn vẹn, đồng đều, đầy đủ, viên mãn tất cả mọi khía cạnh, góc độ của năm uẩn theo bốn chuyển (trí sanh diệt về ngũ uẩn và sự vận hành của chúng) thì lúc đó Ngài mới tuyên bố giữa chư Thiên, Ma, Phạm thiên, cùng với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người rằng Ngài đã chứng đắc quả vị vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Như vậy sự chứng ngộ của Phật là chứng ngộ Thánh trí về Năm Uẩn.

Ngài đã chỉ ra một cách rốt ráo, rõ ràng rằng thân tâm chính mình và tất cả chúng sanh đều được cấu thành từ năm yếu tố, gọi là năm uẩn, gồm: sắc – thọ – tưởng – hành – thức. Ngài thấu suốt năm uẩn theo bốn chuyển: thắng tri về năm uẩn, thắng tri về sự tập khởi, thắng tri sự đoạn diệt và thắng tri con đường đưa đến sự đoạn diệt của năm uẩn.

Tiếp theo, Đức Thế Tôn chỉ ra sự thật về Lậu hoặc, tức là những rác bẩn nội tâm, những dơ bẩn, cấu nhiễm, ô nhiễm, dục nhiễm, hữu nhiễm, vô minh nhiễm. Ngài chỉ rõ những điều này hình thành từ đâu, vì sao chúng hình thành, vì sao chúng kết thúc và làm thế nào để thoát ra vòng tiếp diễn vô cùng vô tận của chúng. Sau khi thấu triệt được sự thật này thời chúng ta sẽ hoàn toàn tỏ rõ cấu tạo thân tâm của chính mình, của tất cả chúng sanh và toàn bộ thế giới.

Trong bài kinh “Nhân” – Tương Ưng Bộ Kinh II, Đức Phật dạy rằng:

“Như vậy, này Ananda, ai sống thấy tai hại trong các pháp được chấp thủ, ái được đoạn diệt. Do ái diệt nên thủ diệt. Do thủ diệt nên hữu diệt. Do hữu diệt nên sanh diệt. Do sanh diệt, nên già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não đều diệt. Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này đoạn diệt”.

(Tương Ưng Bộ Kinh II, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên, VI. Phẩm Cây, bài kinh Nhân)

Như vậy, mục đích tối thượng, cứu cánh trong sự tu tập của chúng ta chính là thấu suốt được bản chất thật sự của năm uẩn, từ đó nhàm chán, ly tham, không còn ham muốn, ưa thích năm uẩn thêm nữa, khi đó gọi là giải thoát. Bởi vì còn ưa thích năm uẩn nên ta còn bị sanh, già, bệnh, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Một khi không còn ưa thích nữa, thì không còn sự tái tạo, tương tục, tiếp nối, như vậy gọi là đoạn dứt tái sanh, chấm dứt luân hồi

Kính mong quý Tăng Ni, Phật tử có một góc nhìn nghiêm túc, cẩn thận, chân chánh, sáng suốt, đúng đắn về sự giác ngộ của Đức Phật; tránh sự hời hợt, qua loa, thiếu cẩn thận… Bởi đây là Pháp Bảo tối thượng, là sự thật tối thượng, tối tôn, đệ nhất và duy nhất trong toàn bộ lịch sử nhân loại; mãi mãi cho đến hàng nghìn năm về sau cũng không một cá nhân nào có thể tự mình chứng ngộ không thầy chỉ dạy như Đức Thế Tôn.

Ngày hôm nay, sau hơn 2500 năm kể từ khi bánh xe Pháp được Ngài chuyển vận, chúng ta được tiếp cận thật gần, thật gần với chân lý, với sự thật rốt ráo chưa từng xuất hiện, chưa từng hiện hữu, chưa từng biết đến, vượt ngoài tầm hiểu biết và sức tưởng tượng của chúng sanh trong Tam Giới. Chỉ có Đức Phật, Đức Thế Tôn Chánh Đẳng Chánh Giác mới có thể vận chuyển, khai mở được Bánh Xe Chánh Pháp Vô Thượng, đánh tan bánh xe luân hồi, chặn đứng dục – tham – sân hận – si mê – bản ngã… Đưa đến sự giải thoát hoàn toàn mọi khổ đau, tịch tịnh Niết Bàn.

Nếu không giác ngộ Chân Lý Tứ Thánh Đế, không thấu suốt Năm Uẩn, không nhận ra sự thật về thân tâm chính mình thì chúng ta sẽ mãi mãi bị trói buộc trong dòng luân hồi bất tận không tìm thấy điểm bắt đầu; để rồi cứ mãi sanh – lão – bệnh – tử, chịu đựng những sự thống khổ dài lâu.

Giáo Pháp của Đức Phật chỉ tồn tại trên thế gian 5000 năm, sau thời gian đó, Chánh Pháp sẽ hoàn toàn biến mất, sẽ không còn ai được nghe đến danh hiệu Đức Phật, Đức Thế Tôn, còn nói gì đến được nghe Chánh Pháp vĩ đại, còn nói gì đến việc thực hành con đường đi ra khỏi luân hồi…

Thật hy hữu thay chúng ta được làm người, và hy hữu hơn như vậy là được gặp Chánh Pháp, nếu chúng ta không biết nắm bắt cơ hội quý giá này để giải thoát sanh tử luân hồi, thì không biết cho đến khi nào ta mới được may mắn làm người, may mắn được nghe hiểu Chánh Pháp vi diệu như ngày hôm nay.

Chính vì những lẽ đó, mục đích quan trọng nhất, tối thượng, thù thắng, cao cả nhất của đời sống này chính là học và hành theo lời dạy của Đức Thế Tôn, hiểu rõ thân tâm chính mình, thấu triệt rốt ráo bản chất của tự thân; hướng về giải thoát Niết Bàn. Thoát ra khỏi sự trói buộc, tù đày, si mê, tối tăm của luân hồi, xuất ly khổ trở thành một người tự do tự tại, hạnh phúc rốt ráo, tối thượng… Đây chính là kết quả cứu cánh Phạm hạnh của một bậc tu hành, là điều giá trị nhất mà một kiếp người có thể mang đến, cực kỳ xứng đáng để đánh đổi tất cả tuổi thanh xuân, thời gian, tâm lực, trí lực, sức lực, hạnh lực, nguyện lực…

Chính vì vậy, Minh Thành xin mạn phép gửi đến quý Tăng Ni, Phật tử quyển sách có tựa đề “Pháp Hành Nikāya Chuyên Sâu” nhằm trình bày, giải thích và hướng dẫn pháp hành nhận diện ngũ uẩn, có công năng thấu hiểu chính mình, tẩy trừ những cấu uế của thân tâm, nuôi dưỡng thiện nghiệp, thấy ra sự thật về vô thường – khổ – vô ngã của đời sống này. Giúp những ai đang tìm về con đường tu học cội gốc của Đức Thế Tôn có thể thấy được mục đích thật sự của đời tu. Từ đó có được sự an lạc, bình an, ngày một tăng trưởng trí tuệ trên hành trình tu tập của tự thân và giúp đỡ những người có duyên lành đến với mình.

Tuy sự tu học còn nông cạn nhưng bằng tất cả tấm lòng chân thành, xin kính dâng Chư Tôn Thiền Đức và các vị Hiền trí nam nữ Phật tử một đạo lộ thiết thực hiện tại, đến để mà thấy, có hiệu quả tức thì, được người trí tự mình giác hiểu.

Kính chúc quý Tăng Ni, Phật tử luôn tinh tấn, siêng năng trên con đường hành trì Chánh Pháp.

Thích Minh Thành

Kính lễ

THÁNH TRÍ VỀ NGŨ UẨN

Định nghĩa ngũ uẩn:

Định nghĩa 1:

Thân người là Sắc

Cảm giác là Thọ

Hình bóng là Tưởng

Suy nghĩ là Hành

Rõ biết là Thức

Định nghĩa 2:

Thân người, cảnh vật, đồ vật tứ đại là Sắc.

Cảm giác dễ chịu, cảm giác khó chịu, cảm giác không dễ chịu, không khó chịu là Thọ.

Bóng dáng thô tế trong tâm là Tưởng.

Suy nghĩ nói thầm trong tâm là Hành.

Rõ biết trong ngoài sáu trần là Thức.

Quý Tăng Ni, Phật tử thân mến! Từ định nghĩa trên, ta sẽ thấy rằng, thân người, đồ vật, cảnh vật tứ đại là sắc uẩn, thuộc về phần thân; những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ và nhận thức bên trong thuộc về phần tâm. Như vậy, có thể nói khắp trời đất này tất cả chỉ là ngũ uẩn, ngoài ngũ uẩn ra không còn gì khác nữa. Toàn bộ giáo pháp của Đức Phật giải thích đầy đủ các góc độ, khía cạnh, phương diện về ngũ uẩn và người tu nhất định phải thành tựu trí tuệ này.

Vì khi không thấy được ngũ uẩn thì chúng ta sẽ sống trong trường dạ vô minh, sống trong bóng đêm si mê với những tham ái, bản ngã, ảo tưởng... Tâm ta sẽ chấp thủ cho rằng “sắc, thọ, tưởng, hành, thức này là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi” và như thế chúng ta sẽ vĩnh viễn đau khổ. Bởi lẽ, khi nắm chặt vào thân năm uẩn, không thấy được từng uẩn riêng lẻ thì chúng ta sẽ cho rằng có một cái “mình” nguyên khối, có một cái “tôi” trọn vẹn. Nhưng khi đào sâu vào các pháp, chúng ta sẽ thấy thân ngũ uẩn này chỉ là một bộ máy, được vận hành theo định lý được Đức Phật chứng ngộ và tuyên thuyết trong kinh Nikāya, đó là sanh khởi, vận hành, hoạt động, chấm dứt.

Việc quay lại đối diện trực chỉ với thân tâm là vấn đề không dễ dàng, vì trong đó là cả một thế giới phức tạp, không phải đơn giản. Phàm phu chỉ thấy vấn đề của một phần sắc uẩn, sắc pháp, chứ không thể nhìn ra nổi thọ, tưởng, hành, thức đang vận hành bên trong. Chỉ những ai được học với Như Lai hoặc đệ tử của Như Lai thì mới có Chánh Tri Kiến về ngũ uẩn, khi đó nhìn được sắc uẩn bên ngoài và cả thọ, tưởng, hành, thức trong tâm một cách chính xác, tường tận, rõ ràng.

Nếu không biết đạo lộ tu tập này thì cả đời tu chỉ lo hướng ngoại, làm những việc bên ngoài, không thấy được thân tâm của mình. Mặc dù những việc làm này cũng là thiện pháp, đạt được nhiều phước báu, nhưng đời tu chỉ dừng lại ở đó thì không giải quyết được vấn đề sanh tử luân hồi. Chỉ khi nào có trí tuệ về ngũ uẩn, chúng ta mới thấy đâu là sắc, đâu là thọ, đâu là tưởng, đâu là hành, đâu là thức và nhìn ra được căn nguyên, cội rễ, nguồn gốc của tham, sân, si, bản ngã trong những cảm giác, nghĩ, tưởng. Từ đó dụng công xử lý chúng bằng những phương pháp thiện xảo, khéo léo mà Đức Thế Tôn chỉ dạy.

Đức Phật đã tuyên bố rằng, muốn thành tựu trí tuệ phải có tuần tự, không có chuyện đột ngột chứng đắc.

"Ví như, này Pahàràda, biển lớn tuần tự thuận xuôi, tuần tự thuận hướng, tuần tự sâu dần, không có thình lình như một vực thẳm. Cũng vậy, này Pahàràda, trong Pháp và Luật này, các học pháp là tuần tự, các quả dị thục là tuần tự, các con đường là tuần tự, không có sự thể nhập chánh trí thình lình. Này Pahàràda, vì rằng trong pháp và luật này, các học pháp là tuần tự, các quả dị thục là tuần tự, các con đường là tuần tự, không có sự thể nhập chánh trí thình lình, nên này Pahàràda, đây là vi diệu chưa từng có thứ nhất mà do thấy vậy, các Tỳ-kheo thích thú trong Pháp và Luật này”.

(Tăng Chi Bộ Kinh III, Chương Tám Pháp)

Vì vậy, khởi đầu cho hành trình đi đến thành tựu cứu cánh Phạm hạnh trong sự nghiệp tu hành chính là nhận diện ngũ uẩn. Đây là bí quyết Chánh Pháp, là kim chỉ nam, là pháp hành cốt lõi để tu tập, người tu chân chánh không thể bỏ qua chìa khóa mở cánh cửa căn nhà nội tâm này!

Thánh Trí Về Sắc Uẩn

Sau đây là Bảy Trí Về Sắc được trích từ những bài kinh trong tạng Nikāya. Tất cả những định nghĩa này đều là pháp quán chiếu, cần phải học thuộc lòng, khi nhắc về uẩn nào, ta phải nói đúng từng chữ về uẩn đó.

Sắc: “Bốn đại chủng và sắc do bốn đại chủng tạo thành” – Kinh Thủ Chuyển. “Bị thay đổi, nên gọi là sắc. Bị thay đổi bởi gì? Bị thay đổi bởi lạnh, nóng, đói, khát, sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, sức nóng và rắn” – Kinh Đáng Được Ăn.

Sắc sanh: Do các thức ăn tập khởi nên Sắc tập khởi.

Sắc diệt: Do các thức ăn đoạn diệt nên Sắc đoạn diệt.

Sắc diệt đạo: Phương pháp tu tập đưa đến Sắc đoạn diệt là Phương pháp Tám đúng.

Vị ngọt của sắc: Do duyên Sắc khởi lên lạc hỷ gì, lạc hỷ này là vị ngọt của Sắc.

Sự nguy hại của sắc: Sự vô thường, khổ, chịu sự biến hoại của Sắc, đó là sự nguy hại của Sắc.

Sự xuất ly của sắc: Sự nhiếp phục dục và tham, sự đoạn tận dục và tham đối với Sắc. Đây là sự xuất ly của sắc.

Định nghĩa

Kinh “Thủ chuyển” (Tương Ưng Bộ Kinh, tập III):

Và này các Tỳ-kheo, thế nào là sắc? Bốn đại chủng và sắc do bốn đại chủng tạo thành. Này các Tỳ-kheo, đấy được gọi là sắc. Do các thức ăn tập khởi nên sắc tập khởi. Do các thức ăn đoạn diệt nên sắc đoạn diệt. Và con đường đưa đến sắc đoạn diệt là con đường Thánh đạo Tám ngành, tức là chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định"

"Thế nào là sắc? Bốn đại chủng và sắc do bốn đại chủng tạo thành, đấy được gọi là sắc". Như vậy, sắc là đất, nước, gió, lửa và những thứ do đất, nước, gió, lửa tạo thành; chẳng hạn, đồng hồ, cái chuông, cây cối, nhà cửa, con người, núi đồi, sông suối… đều do đất, nước, gió, lửa tạo thành. Do đó, mọi vật, mọi người trên trái đất này đều được gọi là sắc. Đức Phật gói gọn cả địa cầu này trong một chữ “sắc”, thêm chữ “uẩn” phía sau gọi là “sắc uẩn”, nghĩa là tổ hợp của sắc chất, tổ hợp của sắc tướng, tổ hợp vật chất do tứ đại tạo thành. Trí huệ của Đức Phật vô cùng siêu việt, chỉ một chữ “sắc” đã thâu tóm cả trái đất, vũ trụ, thế giới.

“Do các thức ăn tập khởi nên sắc tập khởi”: “tập” nghĩa là tập hợp, tụ tập, nhóm họp rồi sanh khởi ra. Ví dụ, một bông hoa hướng dương cần rất nhiều thứ tập hợp lại thì mới có mặt, không phải tự nhiên mà sanh khởi. Bông hoa này phát triển là nhờ có thức ăn của nó như là đất, phân bón, nước, ánh nắng mặt trời… Nhờ sự chăm sóc, nuôi dưỡng, tưới tẩm, vun bón mỗi ngày thì hạt giống mới nảy mầm và đến ngày nở hoa. Do đó, sự sanh khởi của sắc uẩn là phải có điều kiện; các yếu tố cần thiết phải kết hợp lại với nhau thì sắc uẩn đó mới sanh khởi, tồn tại được.

“Do các thức ăn đoạn diệt nên sắc đoạn diệt”, tấm thân tứ đại này cũng vậy, nó được sanh khởi là do thức ăn tập khởi; nếu một tuần lễ hoặc nửa tháng ăn không được, uống không được thì sẽ đi đến sự hoại diệt, tử vong.

Chẳng hạn, sắc thân tứ đại Minh Thành đang ngồi đây chia sẻ pháp, bên cạnh có để một ly nước, khi nào bị khô cổ thì mượn nước trong ly đổ vào thân này một chút, đó là mình mượn thủy đại. Nước bên trong thân là nội thủy đại, nước bên ngoài là ngoại thủy đại; chỉ cần nội thủy đại bên trong bị trục trặc, nước bên ngoài không có thì mình chết.

Kế đến là địa đại – đất, mỗi ngày mình ăn cơm thì tất cả những món ăn đa phần đều từ đất. Nói cho dễ hiểu, địa đại bao gồm đất ở bên trong và đất ở bên ngoài. Đất bên trong là tim, gan, máu, thịt, gân, xương, bao tử, lá lách, dạ dày, ruột non, ruột già, tỳ, phế, thận, hoành cách mô, tủy, não, tóc, lông, móng, răng, da, gân. Còn đất bên ngoài là thức ăn, đất đai, đồ vật, cảnh vật xung quanh chúng ta.

Phong đại cũng gồm gió bên trong và gió bên ngoài: gió bên trong chính là hơi thở đang khì khịt, tim đập, mạch nhảy, máu huyết tuần hoàn; gió bên ngoài là những cơn gió ở ngoài cơ thể, chỉ cần trúng một cơn gió độc thổi vào người thì mình cũng có thể ra đi.

Cuối cùng là hỏa đại, gồm lửa bên trong và lửa bên ngoài. Lửa bên trong chính là nhiệt độ, hơi ấm cơ thể, nếu cơ thể không được ấm, nhiệt độ thấp, toàn thân lạnh cóng thì mình không thể sống được. Bên ngoài nếu không có lửa thì cũng không nấu nướng được gì; ở xứ lạnh âm mấy chục độ, không có hơi ấm thì mình cũng chết.

Cho nên, sự hiện hữu, sanh khởi của thân này là nhờ tập hợp của thức ăn; nếu không có thức ăn thì sẽ đoạn diệt. Hơn nữa, “thức ăn” ở đây không phải chỉ là đồ ăn, thực phẩm, nước uống chúng ta thọ nhận trên bàn ăn; mà ngay hiện tại, chúng ta cũng đang nạp không khí vào cơ thể, nếu ngưng lại thì sẽ chết.

Những điều này chúng ta thường không nhớ đến, cứ nghĩ hôm nay cũng vậy, ngày mai cũng vậy; đến khi bất ngờ nằm xuống, chỉ còn lại một nắm tro tàn thì chúng ta chưa kịp nhận ra hơi thở này quan trọng đến dường nào. Còn thở là còn sống, còn ăn là còn sống; không có thức ăn sẽ đi đến cái chết. Có những người nằm bán thân bất toại mười năm, hai mươi năm, không ăn uống được, người thân phải xay nhuyễn thức ăn, đút ống vào bao tử rồi đổ thức ăn đó vào để duy trì sự sống, bằng không, thân tứ đại này sẽ từ từ ra đi, tan hoại.

Hàng ngày hàng giờ, chúng ta cứ mượn hơi thở vào rồi lại thở ra, uống nước vào rồi thải ra, thức ăn đưa vào miệng rồi bài tiết ra; hơn nữa lúc ăn vào thì thơm ngon, bổ béo, đủ mùi vị nhưng trả ra phải vào chỗ không có ai, vừa ra là phải dội nước xóa vết tích ngay lập tức. Cho nên tôn giả Xá-lợi-phất nói thân này là thân lủng lỗ, rỉ chảy những thứ bất tịnh, nhàm chán, nhơ nhớp, hôi tanh nhưng do vô minh, tham ái nên không thấy, dù cho thấy cũng cho qua, cũng mê muội.

Như vậy, nói đơn giản là còn ăn thì còn sống, hết ăn thì chết; còn thở được thì sống, hết thở được thì chết; còn uống được thì sống, hết uống được thì chết. Đó là trí tuệ về sắc uẩn do Đức Phật chứng ngộ.

Kinh “Đáng được ăn” (Tương Ưng Bộ Kinh, tập III):

Trong kinh “Đáng được ăn”, Đức Phật định nghĩa:

Bị thay đổi, này các Tỷ-kheo, nên gọi là sắc. Bị thay đổi bởi cái gì? Bị thay đổi bởi lạnh, bị thay đổi bởi nóng, bị thay đổi bởi đói, bị thay đổi bởi khát, bị thay đổi bởi sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, sức nóng và rắn. Bị thay đổi, này các Tỷ-kheo, nên gọi là sắc.

Đức Phật dạy chúng ta thêm một góc độ trong trí tuệ về sắc uẩn, đó là tánh chất của sắc pháp này là bị đổi thay, bị biến họai, dễ đổ vỡ, tan tành, mục nát, rã rời, tiêu ma. Tất cả các sắc đều có tính chất là bị thay đổi: lạnh là thay đổi, nóng là thay đổi, sốt đói là tay chân giở không lên, khát là không còn sức lực, nằm lấy hơi lên. Cho nên Đức Phật nói, sắc này bị thay đổi bị nóng, lạnh, đói, khát… là vậy.

Hoặc khi ngồi thiền, mình bị muỗi, ruồi bay vo ve xung quanh rồi đậu trên người nên mình cảm thấy khó chịu; sau đó, con muỗi còn chích cắn làm mình ngứa ngáy, sưng đỏ, không ngồi thiền được, thế là mình sân tức nổi lên; khi đó, chúng ta bị thay đổi từ thân cho tới tâm. Đó là mình chỉ mới ví dụ bị chích bởi kim của con muỗi, nhìn sâu hơn, nếu bị xúc chạm với con dao sắc bén thì chúng ta có thể chết hoặc bị thương, tật nguyền, nằm liệt một chỗ thì thân xác này còn bị thay đổi đến mức độ nào. Hoặc khi bị gió, bị sức nóng và bị rắn tác động thì sắc này cũng thay đổi nhanh chóng. Bị rắn mổ là sắc này thay đổi, nếu chở đi cấp cứu không kịp là chết ngay. Hoặc không may bị rắn hổ mang chúa, rắn cạp nông, rắn lục đuôi đỏ, mổ vào người một cái là sắc thân này bị thay đổi lập tức, kết thúc sinh mạng.

Cho nên nói, bản chất của sắc này là bị thay đổi. Chúng ta cần để tâm, nghiền ngẫm ba chữ “bị thay đổi” trong kinh “Đáng Được Ăn” thật sâu sắc, bởi vì đặc tánh, bản chất, bản tánh của tất cả sắc pháp trên thế giới này, hình hài này đều bị thay đổi. Hãy lấy ba chữ đó để làm đề mục thiền quán để thấy rằng tất cả chúng ta đã bị thay đổi, đang bị thay đổi và sẽ bị thay đổi.

Ví dụ, buổi học hôm nay mình được phân ngồi bàn thứ nhất, ngay giữa lớp, đối diện với giáo thọ sư. Buổi học hôm sau, giáo thọ lại thay đổi, phân cho mình ngồi bàn cuối cùng để nhường chỗ cho vị khác, lúc đó cảm thọ mình ít nhiều sẽ khó chịu. Nhưng nếu đã được học “các sắc bị thay đổi” thì khi đó mình quán chiếu và thấy tất cả các sắc đều bị thay đổi là lẽ đương nhiên, nhờ vậy tâm mình được bình thản, ngồi an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào. Khi đó, mình cũng tác ý thêm: “Nhường chỗ đó cho sư huynh ngồi rất là tốt, thật vui vì mình có cơ hội để nhường chỗ đẹp, chỗ tốt này cho mọi người”. Nhờ vậy, mình ngồi học với một nội tâm ngọt ngào, yên ổn, an tịnh, lắng dịu. Dù ngồi dưới tận cùng ở góc kẹt nhưng lại dễ chịu làm sao! Đây là chuyện hết sức nhỏ và đơn giản nhưng làm được như vậy là cả một công phu tu học. Cho nên, không phải sự tu này chỉ gồm những chuyện lớn, mà chúng ta phải tu trong từng chuyện nhỏ. Tất cả chuyện lớn là từ chuyện nhỏ, nếu xem thường chuyện nhỏ, chỉ muốn tu chuyện đại sự, như vậy thì vĩnh viễn mình không thành bổn phận sự. Đó là các ví dụ hết sức là đơn giản để mình thấy được tính chất bị thay đổi của các pháp, sâu sắc hơn, đến khi các pháp đổi thay mà tâm vẫn không thay đổi thì lúc đó mình đã thành tựu trí tuệ mà Đức Phật truyền trao.

Minh Thành lấy thêm ví dụ, nhiều huynh đệ thân với nhau từ nhỏ tới lớn, thân thiết với nhau suốt mười mấy năm nhưng do bất đồng, mâu thuẫn nên về sau không nói chuyện, không thèm nhìn mặt nhau, đi ngang qua nhìn nhau như không khí. Lúc đó mình phải thấy rằng “bị thay đổi gọi là sắc”, “sắc này là bị thay đổi” để tâm mình có được bình an. Đó là những ví dụ thực tế, gần gũi nhất trong đời sống để chúng ta quán chiếu và tu tập.

Chúng ta phải chuẩn bị tư thế, chuẩn bị tinh thần, chuẩn bị suốt hai mươi bốn trên hai mươi bốn giờ rằng mọi thứ xung quanh, bao gồm thân thể, tâm thức, cảm giác, suy nghĩ… đều bị thay đổi. Nếu không thành tựu sự thấy biết, nhớ nghĩ thường xuyên về sắc pháp, sắc uẩn thì khi có chuyện xảy ra, đổ ra, vỡ ra, bể ra, nát ra làm sao nội tâm mình bình an, an tịnh, lắng dịu được?!

Đức Phật đã dạy, sắc này bị thay đổi bởi lạnh, bởi nóng, bởi đói, bởi khát, bởi sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, sức nóng và rắn. Cho nên, chỉ một cơn gió cũng đưa mình đi qua đời sau, thay tên đổi họ, thay hình đổi dạng. Một cái hắt xì, một cái nhảy mũi cũng có thể làm mình đầu thai kiếp khác vì dịch bệnh. Sắc này bị thay đổi dễ dàng như vậy nhưng chúng ta không nhớ sự thật, suốt cả đời cứ sống trong nhận thức sai lầm rằng “thân này là tôi, thân này cứng lắm, chắc lắm, vững lắm, bền lắm”, rồi vỗ ngực xưng ta đây, tôi đây. Đó chính là sự vô minh, ngu si, si mê, ngu muội, chấp ngã, mù lòa, không thấy được sự thật của sự “bị thay đổi” này.

Chính vì vậy, phải thường xuyên, thường trực, thường luôn ghi nhớ tất cả các sắc đều ở trong trạng thái bị thay đổi, phải bị thay đổi. Ở đây, chữ “thay đổi” nghĩa là “vô thường” nhưng lại thêm chữ “bị”. Khi đi sâu vào chánh kinh, chúng ta sẽ thấy Đức Phật dùng nhiều từ như vậy, chẳng hạn “bị sanh”, “bị già”, “bị bệnh”, “bị chết”. Phật nói chúng sanh “bị buồn lo, bị sầu khổ, bị bệnh tật mà lại đi tìm cái bị buồn lo, sầu khổ, bệnh tật”; “bị chết mà lại đi tìm cái bị chết”. Qua đó, chúng ta thấy được Thánh trí tuệ của Đức Phật khi thêm chữ “bị” vào những từ đó. Cụ thể, “thay đổi” là vô thường, còn Phật dùng từ “bị thay đổi”, tức là cái sắc này nhất định bị thay đổi. Vậy mà mình không thấy nó bị thay đổi nên cứ sống trong vô minh, si ám, chấp thủ, nắm giữ, nắm chặt.

Minh Thành thường giải thích chữ vô thường là tứ đột: đột ngột, đột biến, đột tử, đột quỵ; vì nếu chỉ dùng từ “vô thường” thì không sanh khởi được nhiều cảm thọ. Cần nhớ rằng, bất thình lình chúng ta có thể bị lên tăng xông, hoặc đột nhiên bị đứt gân máu, hay bất ngờ gặp tai nạn giao thông, thậm chí có thể đột nhiên bị chém chết. Có người vì hát karaoke ồn ào nên bị hàng xóm nhắc nhở vài câu, chỉ như vậy nhưng người này lại lấy dao đâm người hàng xóm, vì đưa vào bệnh viện không kịp nên người hàng xóm chết trên đường đi cấp cứu. Qua đó, chúng ta mới thấy rằng, sắc này chịu sự biến hoại khốc liệt như vậy.

Mùa mưa ta ở đây

Ðông, hạ cũng ở đây,

Người ngu tâm tưởng vậy,

Không tự giác hiểm nguy.

(Kinh Pháp cú – Phẩm Đạo)

Phần lớn con người đều nghĩ hiện tại đang ở đâu thì tháng sau cũng sẽ ở đó, năm sau cũng vậy, năm năm sau, mười năm sau rồi vẫn mãi vậy. Những người ngu thường nghĩ như vậy nên không tự biết mình đang bị hiểm nguy vì mình đang bị thay đổi. Chỉ một chữ “bị thay đổi” thôi mà chúng ta phải chiêm nghiệm vô cùng sâu sắc, vì vậy, việc học kinh đòi hỏi sự chiêm nghiệm, quán chiếu, soi xét thâm sâu, thâm thúy vô cùng.

Vị ngọt, sự nguy hại và sự xuất ly

Do duyên sắc, lạc hỷ sanh; cái ấy gọi là vị ngọt của sắc. Sự vô thường, đau khổ, chịu sự biến hoại của sắc; cái ấy gọi là sự nguy hiểm của sắc. Sự nhiếp phục dục và tham đối với sắc, sự đoạn tận dục và tham; cái ấy là xuất ly của sắc.

(Tương Ưng Bộ Kinh, tập III)

Lạc hỷ là sự vui thích, vui sướng, vui mừng, thích thú, hân hoan. Do duyên với sắc mà sanh khởi lên những cảm giác hoan hỉ, khoan khoái trong ấy thì đó là vị ngọt. Vị ngọt này giết chết tất cả tam giới và chúng sanh không ai ra khỏi vị ngọt này. Chúng ta bị vị ngọt này ám ảnh, xâm chiếm, nhận chìm mà không hay biết, vì vậy, người tu phải biết cái nào là vị ngọt, cái nào là vị đắng của sắc rồi thì mới tìm cách thoát ra khỏi nó.

Vậy, thế nào là vị ngọt của sắc? Ví dụ, bình thường chúng ta được ngồi học trong căn phòng rất trang nghiêm, sạch sẽ, mát mẻ, dễ chịu nhưng hôm nay thầy giáo thọ đổi ý cho ra sân ngồi học dưới bóng cây giữa trưa hè, không có bàn ghế gì cả thì lúc đó cảm thọ của mình rất là khó chịu. Đó là do chúng ta bị vị ngọt dễ chịu của những sắc pháp trong phòng học trói cột. Hoặc không may hôm nào lớp học cúp điện, trời rất nóng nực thì mình cảm thấy rất khó chịu vì mình bị vị ngọt của máy lạnh trói cột.

Ở chùa, mình lao tác mệt mỏi từ sáng đến trưa, lúc nghỉ ngơi ai cũng được cho một ly cà phê sữa đá, đến lượt mình do làm nhiều nên vào trễ thì chỉ còn nước suối, lúc ấy cảm thọ mình sẽ ra sao? Tại sao có cảm thọ không hài lòng? Đó là do mình bị vị ngọt của ly cà phê sữa đá trói cột; vì thích, muốn mà không có được nên sân giận, bực bội sanh khởi.

Nửa đêm, khi đang ngủ ngon thì bị gọi dậy đi làm công việc gấp ở chùa, lúc đó mình bực bội, không vui, đó là mình bị vị ngọt của giấc ngủ trói cột. Thậm chí, trước sân chùa mình trồng hoa hướng dương mấy tháng mới có hoa, đem hết tâm tư vào chăm sóc nhưng có người chê khen, không thấy đẹp thì mình tức giận, khó chịu vì những sắc uẩn bên ngoài. Những sự phiền não bủa vây khắp mọi nơi; nếu không đề phòng, cẩn trọng, kỹ lưỡng, phòng hộ, bảo vệ, canh chừng tâm này từng chút một thì rác bẩn sanh khởi mà mình không biết được; thậm chí khi mặt mày đỏ bừng lên hết nhưng vẫn nói “tôi có giận ai đâu”.

Đến lúc công phu, đang ngồi thiền an lạc, thanh tịnh thì bất ngờ có Phật tử nữ đến cúng dường; khi tiếp tục ngồi thiền thì hình bóng người đó chập chờn trong tâm, những cảm thọ khi tiếp xúc, nói chuyện, nghe lời nói dịu dàng cứ lưu giữ lại và tiếp tục suy nghĩ, đó là vị ngọt của sắc tưởng. Hoặc đang ngồi thiền tĩnh lặng, nhẹ nhàng thì bất ngờ có người bảo “ra làm công chuyện, ngồi gì mà ngồi hoài vậy”, đang tu nhưng có giận không? Có khó chịu, bực bội không? Đó là mình bị vị ngọt của thiền trói cột, muốn ở trong cảm thọ an tịnh, lắng dịu, dễ chịu; khi bị bắt ra khỏi cảm thọ đó, làm mất vị ngọt đó sẽ khiến mình khó chịu. Đây là chỗ vi tế, mình không thấy được đó là vị ngọt, vì chỉ thấy rằng “tôi đang ngồi thiền cũng kêu nữa, giờ tu cũng không cho tu nữa”, mà không biết đó là đang dính mắc trong vị ngọt của sắc.

Có một vị Phật tử cúng cho chiếc xe đời mới rất đẹp, rất êm ái, mình rất thích thú nên liền lên ngồi chạy thử; nhưng do xe mới chưa quen nên không may gây ra tai nạn, thế là sự nguy hại xuất hiện. Phải thường xuyên quán sự nguy hiểm và tác hại thì mới thoát ra được, còn bây giờ chỉ thấy vị ngọt thì làm sao thoát ra khỏi nó, chỉ toàn thấy xe đẹp, xe mới, thích thú, khoan khoái, hoan hỷ thì làm sao thoát ra khỏi nó?

Ngoài đời, có những cặp vợ chồng giàu có, ăn mặc sang trọng, đẹp đẽ, xài đồ hàng hiệu, ai ai cũng nghĩ rằng họ rất hạnh phúc, sung sướng, nhưng không ai biết họ đang chuẩn bị ly dị. Cũng có những cặp vợ chồng cự cãi, đánh nhau ầm ầm, đồ đạc trong nhà đập vỡ hết nhưng có khách đến nhà thăm hỏi thì họ nói rằng mình vẫn ổn, vẫn hạnh phúc. Đó là lý do chúng ta phải quán chiếu sự nguy hiểm và tác hại của sắc thường xuyên, vì chỉ có phép quán này mới giúp tâm mình xuất ly, thoát ra; đây cũng là một sự như lý tác ý, vì nếu không tác ý thì không thể quán chiếu được.

---

Mọi hình sắc bao gồm cả thân hình chúng ta đang ngồi đây, cùng tất cả cảnh vật, sắc pháp xung quanh chỉ là tứ đại, gồm đất, nước, gió, lửa; là tổ hợp của sắc chất. Nếu thường xuyên tác ý, nhìn thấy được bản chất thật sự của các sắc chỉ là tứ đại thì chúng ta mới không bị sự lòe loẹt của thế giới này dối lừa. Phải thực tập nhận diện các sắc chỉ là tứ đại, gồm đất, nước, gió, lửa, không hơn không kém. Dù người đó có đẹp đẽ thế nào đi nữa; dù tòa lâu đài đó có làm bằng vàng, bằng ngọc đi nữa thì tất cả cũng chỉ là sắc pháp. Còn nếu nhìn lâu đài là lâu đài, nhà tranh là nhà tranh rồi có sự khen chê, ưa thích, chán ghét thì cái nhìn đó là cái nhìn của phàm phu, không phải cái nhìn của bậc Đa văn Thánh đệ tử.

Cho nên, bản chất của sắc là đau khổ, là thống khổ, là khổ lụy, là biến đổi, là đột biến, là tan hoại. Không sớm thì muộn, không trước cũng sau, ai rồi cũng phải đi đến nghĩa trang, nghĩa địa, đi đến lò thiêu, đi đến chỗ hoại diệt, chết chóc… nhất định phải như vậy, không thể khác hơn nữa. Chúng ta hãy tác ý nhắc nhở liên tục để không còn tham muốn, tham lam nữa: "Cái đồ biến đổi tan hoại này có gì để mà hơn thua, giành giật". Có khi chỉ vì vài tấc đất mà anh em tương tàn cho nên bản chất của sắc là khổ, có cái gì là khổ cái đó, có nhiều khổ nhiều, có ít khổ ít, có vừa khổ vừa, không có không khổ. Tuy nhiên, phải là “không có” của bậc Thánh nhân đã chứng được Thánh trí tuệ về ngũ uẩn thì mới không còn khổ, còn phàm phu miệng nói “không có cũng được” nhưng tâm ngược lại thì không phải. Vì vậy, phải thường xuyên tác ý và quán chiếu về sự nguy hiểm và tác hại của sắc này, đừng để các sắc pháp lừa dối.

Mỗi năm Tết đến, chúng ta dành nhiều tháng, nhiều ngày để chăm sóc hoa mai, hoa đào, gieo trồng hoa cúc, hoa vạn thọ, hoa hướng dương... nhưng chưng được chẳng bao lâu thì nó cũng rã rời, tàn tạ, tả tơi, cũng đem quăng vào thùng rác. Bản chất của sắc pháp là vậy, phải nhìn sâu và nhìn xuyên, nhìn thấu, nhìn thủng tất cả những hình tướng này và lấy đó làm đề mục quán chiếu.

---

Trong tạng kinh Nikāya, Đức Phật định nghĩa về vị ngọt của sắc như sau:

"Và này các Tỳ-kheo, thế nào là vị ngọt các sắc pháp? Này các Tỳ-kheo, như các thiếu nữ Sát-đế-lị, thiếu nữ Bà-la-môn hay thiếu nữ Gia chủ, tuổi khoảng độ mười lăm hay mười sáu tuổi, không quá lớn, không quá thấp, không quá ốm, không quá mập, không quá đen, không quá trắng, này các Tỳ-kheo, có phải trong thời ấy, họ đạt đến mỹ diệu tối thượng, sắc đẹp tối thượng?

-- Bạch Thế Tôn, phải.

-- Này các Tỳ-kheo, y cứ sắc đẹp mỹ diệu ấy khởi lên lạc thọ và hỷ thọ, như vậy là vị ngọt các sắc pháp.

Đức Phật nói rằng, ở làng nọ, quốc độ nọ, thành ấp nọ, có cô gái tuổi tròn đôi mươi, mặt hoa da phấn, cao ráo, đẹp đẽ, sang trọng, nụ cười nghiêng nước đổ thành, đó chính là vị ngọt. Thời gian trôi qua ba mươi năm, bốn mươi năm thì người này tóc bạc, da nhăn, lưng còng, gói mỏi, đứng ngồi khó khăn, đó là sự nguy hiểm của sắc.

Và này các Tỳ-kheo, thế nào là sự nguy hiểm các sắc pháp? Này các Tỳ-kheo, ở đây người ta có thể thấy bà chị ấy trong một thời khác, khoảng tám mươi tuổi, chín mươi tuổi hay một trăm tuổi, già yếu, cong như nóc nhà, lưng còm, phải dựa gậy để chống đỡ, vừa đi vừa run rẩy, đau ốm, tuổi trẻ đã tận, râu rụng, tóc bạc, hư rụng, sói đầu, da nhăn, tay chân bị khô đét tái xám. Này các Tỳ-kheo, các Người nghĩ thế nào? Có phải sự mỹ diệu về sắc đẹp xưa kia của người đó nay đã biến mất và sự nguy hiểm đã hiện ra?

-- Bạch Thế Tôn, sự thật là vậy.

-- Này các Tỳ-kheo, như vậy là sự nguy hiểm các sắc pháp".

Khi cô gái đó tắt thở thì những dòng lệ của những người thân xung quanh rơi xuống, những tiếng khóc vang lên. Đưa thi hài đó vào trong thi lâm, thân nằm dài ra đó xanh đen lại, trương phình lên, nứt chảy ra, bốc lên mùi kinh hãi và khiếp đảm, những con giòi từ bên trong thi thể bò ra, bên ngoài là những con chó rừng, kên kên, diều hâu, quạ bay xuống rỉa thịt. Sau đó bộ xương chỉ còn dính lại chút máu, chút da, từ từ cũng khô quắc lại, cuối cùng chỉ còn dính lại chút gân, sau đó gân cũng không còn mà lộ ra bộ xương trắng màu vỏ ốc. Thời gian dần trôi, bộ xương đó cũng rời ra, đây là xương ống tay, nọ là xương sườn, xa xa là xương chân. Vài chục năm sau thì xương đó cũng rã nát thành cát bụi, gió thổi bay vào trong hư không. Đó là tính nguy hại của sắc pháp.

Lại nữa, này các Tỳ-kheo, người ta thấy cô gái ấy, thi thể bị quăng vào nghĩa địa, một ngày hay hai ngày hay ba ngày, thi thể ấy trương phồng lên, xanh đen lại, nát thối ra. Này các Tỳ-kheo, các Người nghĩ thế nào? Có phải sự mỹ diệu sắc đẹp xưa kia của cô gái đã biến mất và sự nguy hiểm đã hiện ra?

-- Bạch Thế Tôn, sự thật là vậy.

-- Này các Tỳ-kheo, như vậy là sự nguy hiểm các sắc pháp. Lại nữa, này các Tỳ-kheo, người ta thấy cô gái ấy, thi thể bị quăng vào nghĩa địa, bị các loài quạ ăn, hay bị các loài diều hâu ăn, hay bị các chim kên ăn, hay bị các loài chó ăn, hay bị các loài giả can ăn, hay bị các loài côn trùng ăn. Này các Tỳ-kheo, các Người nghĩ thế nào? Có phải sự mỹ diệu về sắc đẹp xưa kia của cô gái nay đã biến mất và sự nguy hiểm đã hiện ra?

-- Bạch Thế Tôn, sự thật là vậy.

-- Này các Tỳ-kheo, như vậy là sự nguy hiểm các sắc pháp.

Lại nữa, này các Tỳ-kheo, người ta thấy cô gái ấy, thi thể bị quăng trong nghĩa địa, với các bộ xương còn liên kết với nhau, còn dính thịt và máu, còn được các đường gân cột lại... với các bộ xương còn liên kết với nhau, không còn dính thịt nhưng còn dính máu, còn được các đường gân cột bộ xương, không còn thịt, không có máu, còn được gân cột lại, chỉ còn có xương không dính lại với nhau, rải rác chỗ này chỗ kia, ở đây là xương tay, ở đây là xương chân, ở đây là xương ống, ở đây là xương bắp vế, ở đây là xương mông, ở đây là xương sống, ở đây là xương đầu. Này các Tỳ-kheo, các Người nghĩ thế nào? Có phải sự mỹ diệu về sắc đẹp xưa kia của cô gái nay đã biến mất, và sự nguy hiểm đã hiện ra?

-- Bạch Thế Tôn, sự thật là vậy.

-- Này các Tỳ-kheo, như vậy là sự nguy hiểm các sắc pháp.

Lại nữa, này các Tỳ-kheo, người ta thấy cô gái ấy, thi thể bị quăng vào nghĩa địa, chỉ có toàn xương trắng màu vỏ ốc... chỉ còn một đống xương lâu hơn một năm... chỉ còn các xương thối trở thành bột. Này các Tỳ-kheo, các Người nghĩ thế nào? Có phải sự mỹ diệu về sắc đẹp xưa kia của cô gái nay đã biến mất, và sự nguy hiểm hiện ra?

-- Bạch Thế Tôn, sự thật là vậy.

-- Này các Tỳ-kheo, như vậy là sự nguy hiểm các sắc pháp".

(Trung Bộ Kinh I, 13. Ðại kinh Khổ uẩn)

Các vị Tỳ-kheo thời Đức Phật thực tập phương pháp quán chín giai đoạn của một tử thi mỗi ngày, mỗi giờ để nhiếp phục dục, đoạn tận dục thì mới vào được Sơ thiền. Nghĩa là khi các Ngài nhìn thấy sắc hay nghĩ về sắc thì tâm các Ngài không còn ưa thích, ham muốn nữa, mà chỉ còn sự nhàm chán, chán ghét, ghê sợ, rùng rợn, không dục ái, không khoan khoái nữa, như vậy mới chứng đắc được vào các tầng thiền để phá các dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu. Còn chúng ta, có khi tu mười năm cũng chưa chắc biết quán bất tịnh là gì, hoặc biết thì quán bất tịnh mà có khi chỉ thấy tịnh. Như vậy là chúng ta không đi đúng đạo lộ của Đức Phật, thế nên những gì Đức Phật và những bậc Thánh thành tựu mình không đạt được.

---

Sau khi quán chiếu thật nhiều về sự nguy hiểm và tác hại của các sắc thì chúng ta mới thấy nhàm chán và muốn tìm con đường thoát ra. Tại sao chúng ta không ở ngoài đời mà lại đi tu? Vì mình thấy ngoài đời nhiều phiền não, nhiều khổ đau, nhiều lo lắng, bất an, hệ lụy, tác hại nên mình xuất gia. Đến khi nào mình chán chê, ê chề cái sắc, không còn muốn sắc thì xuất ly khỏi sắc, ngày nào mình chưa gớm ghê, chưa nhàm chán, chưa muốn từ bỏ thì ngày đó còn khổ.

"Ai ưa thích các sắc, này các Tỳ-kheo, người ấy ưa thích khổ. Ai ưa thích khổ, Ta nói người ấy không thoát khỏi khổ. Ai không ưa thích các sắc, này các Tỳ-kheo, người ấy không ưa thích khổ. Ai không ưa thích khổ, Ta nói người ấy thoát khỏi khổ. (Tương Ưng Bộ Kinh IV, I. Tương Ưng Sáu Xứ (a)).

Đi sâu vào dòng kinh này rồi chúng ta mới thấy được trí tuệ Đức Phật vi diệu, tối thượng ngoài sức tưởng tượng. Nếu còn nhìn bên ngoài sắc tướng, hình thức thì sẽ có sự phân biệt xấu đẹp, lớn nhỏ, ngon dở, dẫn đến tham lam, sân si, so đo, có tôi và của tôi; còn nhìn bằng tứ đại, thấy được sắc uẩn thì những cái ngon dở, xấu đẹp, cao thấp, ta đây, hơn thua sẽ bị phá vỡ, không còn ham muốn nữa mà chỉ muốn thoát ra, lúc đó là xuất ly khỏi sắc. Sở dĩ mình có những xác thân này là vì mình còn yêu thích, còn khoan khoái, mình nắm giữ và cho rằng thân này là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi. Một khi đã xuất ly khỏi sắc thì không còn trở lại những xác thân giống như thế nữa.

Các bậc Thánh Tăng ngày xưa quán bất tịnh đến khi chứng ngộ rất nhiều, những vị bệnh gần chết thì chứng ngộ ngay lúc đó. Nếu thiện xảo trong pháp tu thì lúc bệnh dễ chứng ngộ hơn lúc không bệnh. Tại sao lại vậy? Vì lúc bệnh là lúc bày hiện ra tính nguy hại của sắc, đau chỗ này, nhức chỗ kia, thốn chỗ nọ, khó chịu toàn thân, có như vậy mới thấy thân này đáng nhàm chán, thân này là ổ vi trùng, là nơi chứa nhóm bệnh hoạn, là tổ hợp của những vi rút, vi trùng, vi khuẩn. Cứ suy nghĩ và tác ý như vậy liên tục rồi đến một ngày thể nhập Thánh trí huệ, nhàm chán hoàn toàn đối với tất cả hình sắc, sắc tướng trên thế giới này, không còn ái luyến, ham thích, mong muốn đối với bất cứ cái gì trên cuộc đời này nữa thì lúc đó là Bất Lai Thánh quả, lên Tịnh Cư Thiên không còn ở thế giới loài người nữa, thậm chí là chứng đạt A-la-hán, ái tận.

1.3 Chiếu phá sắc uẩn

Sự chấp thủ vào sắc uẩn này vô cùng nặng nề, thâm căn cố đế, từ ngàn đời muôn kiếp nên được gọi là sắc thủ uẩn. Nguy hiểm và tác hại của các sắc khiến cho tất cả chúng sanh khổ não vô cùng. Muốn nhiếp phục, tu tập, xuất ly khỏi sắc uẩn, phá được sự chấp thủ vào thân này thì không phải đơn giản một pháp mà có thể thành tựu. Chính vì vậy, Đức Phật đưa ra sáu phương diện, sáu khía cạnh, sáu thần kiếm, sáu trí tuệ tu tập về thân gọi chung là Niệm Thân để có thể phá được chấp thân này, gồm:

Niệm hơi thở

Niệm oai nghi

Niệm hành động

Niệm tứ đại

Niệm 32 thể trược

Niệm 9 giai đoạn của một tử thi

Đầu tiên là Niệm Hơi Thở, trong Tứ Niệm Xứ, Đức Phật có dạy: “Tỉnh giác, vị ấy thở vô; tỉnh giác, vị ấy thở ra” – tức là rõ biết hơi thở đang vào, hơi thở đang ra và biết hơi thở đi đến đâu. “Thở vô dài, vị ấy tuệ tri: "Tôi thở vô dài"; hay thở ra dài, vị ấy tuệ tri: "Tôi thở ra dài"” – tức là rõ biết được hơi thở ra vô đó là dài hay ngắn và thấy được tính chất vô thường, sanh diệt của nó. Lưu ý, chỉ rõ biết hơi thở đang như thế nào, không phải điều khiển hơi thở.

Thứ hai là Niệm Oai Nghi, Đức Phật có dạy: “Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đi, tuệ tri: "Tôi đi", hay đứng, tuệ tri: "Tôi đứng", hay ngồi, tuệ tri: "Tôi ngồi", hay nằm, tuệ tri: "Tôi nằm"”. Ở đây không phải khi đi thì niệm “Tôi đi”; chữ “tôi” này chỉ là tạm sử dụng ngôn từ, cần hiểu rằng thật sự không có “tôi” nào đang đi, chỉ có tứ đại đang đi, sắc uẩn đang đi, sắc pháp đang đi, bao thịt, bao máu mủ đang đi. Đức Phật dạy khi đi, đứng, ngồi, nằm – người tu phải luôn quán sát, kiểm soát để bốn oai nghi chính này luôn được trang nghiêm, thanh tịnh, ngay thẳng, tề chỉnh, chánh niệm.

Thứ ba là Niệm Hành Động, Đức Phật dạy rằng: “Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo, khi bước tới bước lui, biết rõ việc mình đang làm”. Khi bước tới rõ biết chân đang bước, lúc bước lui rõ biết chân đang bước lui; bước chân không được hấp tấp, vội vàng, mà phải từ tốn, chánh niệm, nhẹ nhàng, thành thơi.

Khi ngó tới ngó lui, biết rõ việc mình đang làm… Trong cái nhìn cũng phải làm chủ con mắt, không phải muốn nhìn là nhìn, muốn ngó là ngó. Nếu quên rõ biết trước mặt mình sẽ liếc qua, liếc lại, nhìn láo liêng, hoặc trước cái đẹp thì nhìn hoài, còn gặp cái không thích thì con mắt hơi khó chịu, như vậy là không biết việc mình đang làm. Cho nên, phải thường trực hộ trì con mắt, biết mình nên nhìn cái gì, không nên nhìn cái gì, biết mình đang nhìn người nào, nhìn cái gì, rõ biết những gì mắt đang hướng tới có đúng pháp hay không để phòng hộ con mắt trước các pháp bất thiện.

Khi co tay, khi duỗi tay, biết rõ việc mình đang làm… Chẳng hạn muốn lấy ly nước để uống thì phải biết rõ việc mình đang làm, biết mình nên lấy vào lúc nào, lấy như thế nào và để nắp của ly nước xuống không được phát ra tiếng động. Khi co tay, khi duỗi tay, khi lấy cái tô, cái chén, cái muỗng, hay dọn thức ăn lên bàn cũng phải biết rõ việc mình đang làm, không được làm trong sự thất niệm, không được làm trong sự lãng quên, không được làm trong sự không rõ biết. Trong sự tu học này, chúng ta phải tập đem tâm trở về thân, tập thân đâu tâm đó, tập làm cái gì thì biết cái nấy và để tâm vào đó, nhờ vậy hạn chế được rất nhiều sai sót. Bằng không, thân ở đây mà tâm không ở đây, cứ suy nghĩ lung tung thì rất dễ sơ thất, phạm nhiều lỗi lầm.

Khi mang áo Sanghati (Tăng già lê), mang bát, mang y, biết rõ việc mình đang làm… Khi mặc áo phải biết nên mặc ở đâu, mặc như thế nào, có nhẹ nhàng, trang nghiêm, ngay thẳng không, có tề chỉnh chưa, đối với đồ mới có ưa thích, đồ cũ có chê khen không. Một lần, Ngài Xá Lợi Phất lỡ làm chiếc y của mình chấm xuống đất, mặc dù chiếc y Nam tông rất là dài, rất dễ vô ý làm chấm đất nhưng Ngài đã tàm quý vô cùng. Qua đó ta thấy rằng việc chánh niệm tỉnh giác trong từng hành động là vô cùng quan trọng.

Khi ăn, uống, nhai, nếm, biết rõ việc mình đang làm… Khi ăn phải rõ biết mình đang ăn, khi nuốt, khi nhai cũng phải nhai cho chánh niệm, cho đúng pháp. Hơn nữa, không phải chỉ lúc ngồi chánh quán thọ thực, ăn với đại chúng thì mình mới thực hành, còn lúc ăn uống ở ngoài, không có ai bên cạnh thì thả lỏng, ăn trong vô minh, như vậy là không đúng. Chúng ta phải rõ biết sắc uẩn này ăn, uống, nuốt, nhai như thế nào để nhiếp phục tham muốn, sân giận trong khi ăn, tức là nhiếp phục cái ngon với không ngon, thích với không thích, ưa với không ưa, muốn với không muốn.

Khi đại tiện, tiểu tiện, biết rõ việc mình đang làm… Vào nơi đi đại tiện, tiểu tiện cũng phải chánh niệm tỉnh giác, không được buông lung phóng dật. Vì trong đó chúng ta chỉ có một mình, thường cho rằng đây không phải chỗ tu nên rất dễ buông lung, thất niệm, điều này khiến cho dục tham dễ sanh khởi, những tư niệm về dục cũng sẽ sanh khởi. Vì vậy, trong khi đại tiểu tiện, múc nước, xối nước, dội nước… chúng ta đều phải quan sát từng li từng tí.

Khi đi, đứng, ngồi, ngủ, thức, nói, im lặng, biết rõ việc mình đang làm… Tất cả những hành động từ lớn đến nhỏ, ở mọi lúc mọi nơi đều phải rõ biết, chánh niệm, tỉnh thức, nhắc nhở thân tâm này từng chút một. Rõ biết nhân quả của từng hành động, nếu là điều bất thiện thì phải thay đổi, chấm dứt. Khi bước vào thiền đường thì phải xác định được chỗ đứng, chỗ ngồi của mình như thế nào, không phải vào đến thiền đường mà còn lăng xăng, lao xao, tụ họp rộn ràng. Một khi đã bước vào nơi gọi là “Thiền Đường” thì nơi đó là để mọi người thiền tập; bước vào “Pháp Đường” là nơi để mọi người hành pháp, trì pháp, không phải nơi tụ họp cho đông vui, làm náo nhiệt tùng lâm.

Đây là Minh Thành mới chia sẻ phần giáo dục, dạy dỗ sắc uẩn, huấn luyện oai nghi, tế hạnh, cử chỉ ở ngoài thân. Khi làm được những điều này thì người tu mới thành tựu vỏ ngoài của Phạm hạnh, hình ảnh người tu trở nên rất cao đẹp, không uổng phí cơm gạo của đàn na tín thí đã cúng dường. Những điều này không phải là dễ dàng, chỉ cần lơ là, xem thường một chút là trở về vị trí trí buông lung phóng dật, oai nghi, tế hạnh không còn. Chúng ta phải huấn luyện từng chút một đối với cái thân ngu và cái tâm mê này, nếu không dạy dỗ thì trăm năm sau vẫn ngu si, ngàn năm sau vẫn vô minh, triệu năm sau vẫn khát ái, tỷ năm sau vẫn bản ngã.

Thông thường, người tu dễ dừng lại ở ba phương diện: Niệm Hơi Thở, Niệm Oai Nghi, Niệm Hành Động nhẹ nhàng, nghiêm trang, chánh niệm. Còn ba phương diện sau là Niệm Tứ Đại, Niệm 32 Thể Trược, Niệm 9 Giai Đoạn Tử Thi ít được thực tập nhưng chính ba khía cạnh này mới đủ công năng đưa người tu đi đến chỗ phá vỡ cái nhìn sai lầm về thân này. Đức Phật gọi tổ hợp các sắc pháp này là “sắc thủ uẩn”, chữ “thủ” ở giữa chính là tâm vô minh nắm giữ tổ hợp của hình hài sắc chất, không buông ra và đó cũng là nguyên nhân của đau khổ. Ví dụ đơn giản, có người mới lần đầu tiên tiếp xúc nhưng lại phê phán mình: “Nhìn mặt ông/bà thấy ác quá”, nhiều vị khi nghe như vậy sẽ thấy xác thân này bị xúc phạm, bị xem thường, nói xấu, khinh khi, đó là chúng ta bám chặt vào sắc thủ uẩn. Cho nên Niệm Tứ Đại, Niệm 32 Thể Trược, Niệm 9 Giai Đoạn Tử Thi là phần hết sức quan trọng trong Niệm Thân. Nếu không tu tập, quán chiếu những pháp này sẽ không phá được thân kiến, không phá được tham tùy miên, dục, ái, bản ngã.

Chúng ta tiếp tục tìm hiểu phương diện thứ tư trong Niệm Thân là Niệm Tứ Đại, tức là quán sát, phân loại, phân nhóm trong thân này cái nào thuộc về địa đại, cái nào thuộc về thủy đại, cái nào thuộc về hỏa đại hoặc phong đại.

Những chất cứng trong cơ thể như tóc, lông, móng, da, gân, xương, bao tử, lá lách, dạ dày, ruột non, ruột già, tim, gan, tỳ, phế, thận là những bộ phận thuộc về đất – địa đại. Những thức ăn thuộc chất cứng mình nạp vào cơ thể mỗi ngày cũng là địa đại. Những chất ướt trong cơ thể như nước mắt, nước miếng, mồ hôi, nước tiểu, nước trong khớp xương, mủ, máu thuộc về thủy đại; những loại nước mình nạp vào cơ thể cũng là thủy đại. Những yếu tố nóng trong cơ thể như thân nhiệt, nhiệt độ, hơi ấm là hỏa đại. Chính nó làm cho tiêu hóa thức ăn được đưa vào. Những lúc mình giận tức lên, cả người nóng lên, cũng là hỏa đại bốc lên. Tất cả những sự động chuyển trong cơ như hơi thở vào ra, đi, đứng, nói, cười là do sức của phong đại. Khi quơ tay, chỉ chỏ, co, duỗi, cúi, ngước, quay, khom… chúng ta phải nhìn sâu vào để nhận diện đó là phong đại, nhờ sức gió mà tứ đại động chuyển.

Như vậy, Đức Thế Tôn là bậc đã phơi bày, vạch trần, khai thị, hiển lộ, minh thị, tuyên thuyết sự thật về bản chất thân này chỉ là một đống đất, nước, gió, lửa, do cha mẹ sanh, do tứ đại tác thành, do cơm cháo nuôi dưỡng, vô thường, biến hoại, không có cái gì là tôi, là của tôi trong sắc thân này.

Thứ năm là Niệm 32 Thể Trược, chúng ta ngồi lại quán chiếu làm cho trong tâm hiển hiện ra từng bộ phận để phá kiến chấp hư ảo về thân này. Đầu tiên nhổ hết ba mươi cái răng để xuống trước mặt, máu theo đó chảy ra; rứt mười móng tay, mười móng chân để thành một đống; bứt hết tất cả lông, tóc trên cơ thể để thành một đống. Đây là tóc, đây là lông, đây là răng và máu. Sau đó, rạch một đường từ trên xuống dưới, lột hết da trên cơ thể ra để thành một đống trước mặt, máu chảy ra, mỡ lòi ra, thịt, xương, gân bày ra. Bên trong là một bộ đồ lòng gồm tim, gan, phèo, phổi, lá lách, dạ dày, ruột non, ruột già bầy nhầy, nhơ nhớp… chúng ta đặt từng bộ phận đó ra trước mặt. Kế đến máu để riêng, mủ để riêng, mồ hôi để riêng, nước tiểu để riêng, nước khớp xương để riêng, đàm, nước miếng, nước mắt, bộ não, đống phân cũng để riêng từng thứ trước mặt…

Khi quán chiếu như vậy chúng ta sẽ rõ biết những thứ kết hợp lại tạo thành thân xác này; thấy được trong thân này không có ai, không một bản ngã nào, không có một cái tôi, cái ta nào cả. Tâm thân này chỉ là những thứ nhơ nhớp, bất tịnh, hôi thúi với đầy rẫy những tham dục, khao khát, thèm muốn, đòi hỏi, thúc giục. Chỉ một ánh nhìn có thể ràng buộc, trói cột nhau suốt đời; cũng có thể đánh nhau, đâm nhau, giết nhau hoặc một lời nói cũng có thể làm đổ vỡ tất cả, huynh đệ tương tàn, mẹ con chia cắt, vợ chồng phân ly. Vì bản ngã, cái tôi, cái ta ở trong vô minh, chấp thủ này mà dựng lên những vở tuồng khổ đau, bất hạnh, đầy nước mắt và máu trên toàn thế giới. Hãy nhìn thật sâu sắc vào trong sắc thân này và mọi sắc tướng xung quanh như vậy để lột trần hết tất cả những gì bị che kín từ vô lượng kiếp đến nay.

Tu học theo tinh thần kinh Nikāya là phải quán bất tịnh mới phá được kiến chấp về thân. Bằng không, dù có nói bao nhiêu lời hay, bàn những chuyện trên cao thì cũng chỉ toàn nói trong bản ngã, thực tế đời sống vẫn chưa tu hạnh diệt ngã. Tấm thân này cứ dương dương tự đắc, bản ngã to đùng, ai chạm tới một chút là sân si, nổi giận, suốt ngày bảo vệ cho cái tôi, cái ta, cái mình, cái ngã, mà không thấy rằng đó chỉ là một đống đất, nước, gió, lửa, bất tịnh, hôi dơ.

Cuối cùng là Niệm chín Giai Đoạn Tử Thi, khi thân này “lấy hơi lên”, những hơi thở khó khăn sau cùng, trút hơi tàn nằm xuống, bất động giống như một khúc cây. Một ngày, hai ngày, năm ngày, bảy ngày là trương phình lên, xanh xám lại, nứt nẻ ra, rỉ chảy những chất tanh hôi không ai chịu nổi. Tấm thân này từ từ phân hủy rồi bắt đầu sanh ra những con giòi bò lúc nhúc. Từ hai khóe mắt tuôn ra những con giòi, ăn dần dần từng bộ phận; sau đó ruồi nhặng, những con kên kên, diều hâu, quạ bay xuống ăn. Những con chó rừng cắn xé, ngoạm giật ra những sớ thịt. Thân này bị giòi ăn, chim ăn, chó ăn, côn trùng ăn… và trở thành một bữa tiệc lớn cho những loài thú vật. Cứ như vậy cho đến khi thân xác này chỉ vương lại chút xíu da thịt, dần dần da thịt cũng tan biến, cuối cùng chỉ còn những sợi gân. Dần dần nắng mưa, gió giông, phần còn lại tan rã hết chỉ còn bộ xương trắng màu vỏ ốc. Bộ xương này theo năm tháng, nắng mưa cũng từ từ tan hoại, rời rạc… kia là xương sọ, đó là xương mông, xương ống chân, xương bàn chân, xương cánh tay cũng rải rác khắp nơi. Ngày qua ngày, những mẩu xương này cũng tan rã, vụn nát ra trở thành bột, rồi tan biến thành cát bụi, bị gió thổi vào hư không. Cuối cùng thân này là trống rỗng, là trống không, là cát bụi, là hư không, không có ai trong này. Tất cả chỉ là vô thường, tứ đại, ba mươi hai vật bất tịnh, một nắm tro tàn…

---

Người tu cần thường xuyên an trú những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ vào những phép quán trên thì dần dần mới có thể nhàm chán dục vọng đối với thân xác người khác, cũng như thân xác chính mình. Bởi lẽ, tham dục là bệnh nặng nhất của chúng sanh và quan ải khó nhất của người tu cũng chính là sắc dục. Để con đường tu được an ổn thì chúng ta phải nhiếp phục, chế ngự và đoạn tận tham dục; bằng không, nếu cứ để yên cho nó hoành hành thì không có cách nào phá trừ, nhiếp phục. Và nếu không nhiếp phục, đoạn tận, diệt trừ tham dục thì không thể nào ly dục, ly ác bất thiện pháp để đi được vào được Sơ thiền – trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm có tứ. Vì vậy, hãy để tâm tu tập, làm cho sanh khởi những cảm giác nhàm chán, ngao ngán, gớm ghiếc, ê chề, gớm ghê, chán chê đối với sắc uẩn này. Từ đó đưa ta hướng đến sự ly tham, yểm ly, xuất ly, viễn ly, xả ly, chán lìa, từ bỏ, không còn yêu thích, thích thú trong những  dục vọng, ái dục, dâm dục, thèm khát, khao khát, thèm muốn, khát ái đối với thân xác.

Khi những dục vọng dần dần được hạ nhiệt, giảm nhiệt, đoạn giảm thì tâm này từng bước đi đến chỗ an tịnh, lắng dịu, không còn ưa thích, không còn trông mong, thèm khát, đòi hỏi, tìm kiếm, truy tầm nữa. Lúc này tâm được an yên nhờ công phu thiền quán tứ đại, ba mươi hai thể trược và chín đoạn của một tử thi đã đánh phá vào cảm thọ khát ái, dục ái, tham dục, ái dục, dâm dục. Chính vì vậy, đây là công phu tuyệt đối quan trọng của các vị Tỳ-kheo thời Đức Phật, rất nhiều vị nhờ quán pháp này mà chứng ngộ, diệt tận dục ái, khát ái, thành tựu cứu cánh Phạm hạnh của người xuất gia. Chính những pháp này đánh phá vào sự bám chấp, cứng chắc đối với tổ hợp hình hài, xương da, thịt, máu này.

Đức Thế Tôn nói rằng:

“Này các Tỷ kheo, ví như một ung nhọt đã trải qua nhiều năm. Nó có chín miệng vết thương, có chín miệng rạn nứt. Từ đấy có cái gì chảy ra? Chắc chắn bất tịnh rỉ chảy, chắc chắn hôi thúi rỉ chảy, chắc chắn nhàm chán rỉ chảy. Có cái gì nứt chảy? Chắc chắn bất tịnh nứt chảy, chắc chắn hôi thúi nứt chảy, chắc chắn nhàm chán nứt chảy.

Ung nhọt, này các Tỷ kheo, là đồng nghĩa với thân này do bốn đại tác thành, do cơm cháo chất chứa nuôi dưỡng, vô thường, biến hoại, tan nát, hủy hoại, có chín miệng vết thương, có chín miệng rạn nứt. Từ đấy có cái gì chảy ra? Chắc chắn bất tịnh rỉ chảy, chắc chắn hôi thúi rỉ chảy, chắc chắn nhàm chán rỉ chảy. Có cái gì nứt chảy? Chắc chắn bất tịnh nứt chảy, chắc chắn hôi thúi nứt chảy, chắc chắn nhàm chán nứt chảy.

Do vậy, này các Tỷ kheo, hãy nhàm chán thân này”.

(Tăng Chi Bộ Kinh IV, Chương Chín Pháp)

Tấm thân này mỗi ngày rỉ chảy phân, nước tiểu, nước bọt, ghèn, máu, mồ hôi, cứt mũi, cứt ráy... Những thứ chảy ra là nhơ nhớp, khiến mình xấu hổ, phải đem vào chỗ kín để giấu giếm, xóa dấu vết ngay lập tức khi nó bài tiết ra. Bản chất của thân này là một ung nhọt chín lỗ, ngày đêm rạn nứt, rỉ chảy những thứ bất tịnh, những thứ đáng nhàm đáng chán, đáng kinh, đáng tởm, đáng xấu hổ phải giấu kín. Xung quanh đang đông người nhưng bất thình lình rỉ chảy những thứ này là không biết chui ở đâu để trốn, vì chúng ta xem đó là sự xấu hổ, bất tịnh. Nhưng vì vô minh, tham ái, chấp thủ vào đống sắc uẩn này mà chúng ta cứ vỗ ngực xưng tên, xưng tôi, ta, tao, mày, nhân ngã, bỉ thử… không nhìn thấy được bản chất thật sự của sắc uẩn. Giờ đây, chúng ta hãy nhìn kỹ tấm thân bại hoại, mục nát này, bất cứ lúc nào cũng có thể sụp xuống, ngã xuống, đổ xuống, sụm xuống, nằm xuống và rồi trở thành một khúc cây vô dụng.

Thân này không bao lâu

Sẽ vùi sâu đáy mộ

Như cây khô, khúc gỗ

Vứt bỏ vì vô tri.

(Kinh Pháp Cú – Phẩm Tâm)

Khi quán chiếu chúng ta mới thấy tâm dục ái sâu dày vô cùng. Mỗi khi đứng trước gương nhìn mặt mình, có khi chính mình cũng thấy yêu thích hình dáng của bản thân, dù cho nó có xấu xí thế nào. Đó là vô minh, tự ngã, ái thủ, yêu thích và nắm giữ hình hài, hình dáng, hình tướng, hình thể, hình sắc, gọi chung là sắc uẩn. Và chính do sự yêu thích, nắm giữ, tự cho là tôi, là của tôi đối với hình hài này nên chúng ta không giải thoát được. Khi yêu thích hình hài chính mình thì cũng sẽ yêu thích hình hài khác; khi yêu thích hình hài khác thì sẽ có thêm những hình hài nhỏ… Cứ như vậy chúng ta sẽ tiếp tục ở trong một vòng lẩn quẩn của sầu, bi, khổ, ưu, não, nước mắt, đau khổ; sanh tử cứ như vậy tiếp nối biết đến khi nào không còn yêu thích hình hài, sắc pháp này nữa?!

Mỗi ngày, khi đánh răng súc miệng chúng ta phải quán chiếu hơi thở trong miệng mình; mỗi khi đi đại tiểu tiện phải nhìn kĩ, nhìn sâu vào đó để thấy bên trong thân này chứa đựng những thứ gì… Cũng vậy, khi có mồ hôi, nước mắt, nước mũi, máu mủ chảy ra đều phải nhìn sâu vào để cảm nhận cho thật thấm thía, thấu đáo về bản chất hôi dơ, tanh tưởi, bất tịnh của thân ngũ uẩn này. Có như vậy mới bào mòn được những tâm tham ái, ngu si, thúc giục, thèm khát thân xác của người khác, đồng thời nhiếp phục, chế ngự và đoạn tận những sự khao khát, khát ái đối với xác thân đầy ung nhọt, bệnh tật, bất an, lo lắng của chính mình.

Chúng ta phải thấy thân ngũ uẩn này là một thứ bất tịnh, nhơ uế, là ổ chứa nhóm bệnh hoạn, ổ vi trùng, vi khuẩn, vi rút, không còn khoan khoái, yêu thích vào nó nữa. Khi nhìn vào gương phải tác ý đó là tứ đại, bất tịnh, vô thường; chính vì nó mà cứ khởi dục ái, tham muốn, tìm cầu… dần dần chúng ta mới gỡ ra được tâm nắm giữ – “thủ” ở trong sắc thủ uẩn, mở ra được tâm yêu thích – “ái”, tâm hôn mê – “vô minh” đối với sắc uẩn này.

Điều quan trọng cần nhớ là sự quán chiếu này phải được thực hành thường xuyên, liên tục để bứng tận gốc rễ của những cảm thọ khao khát, ưa thích, thèm muốn bên trong. Người tu chúng ta bề ngoài tuy giống như đã xuất ly dục ái rồi nhưng hãy tự nhìn kỹ lại xem trong tâm đã thực sự “ly” hay chưa? Chỉ khi quán bất tịnh, chúng ta sẽ đi thẳng vào trong từng ngóc ngách, đào bới cây cổ thụ ngàn năm từ vô lượng kiếp trong tâm, bứng tận gốc rễ của các ác, bất thiện pháp. Còn nếu không nội soi tự thân để thấy rác bẩn ẩn sâu bên trong, cứ tưởng chừng mình đang được an an ổn ổn nhưng chẳng may nghiệp duyên đưa đẩy thì có thể lở dở đường tu cả đời!

Chúng ta phải Quán Tứ Đại, Quán 32 Thể Trước, Quán Chín Giai Đoạn Tử Thi hằng ngày, hằng giờ; an trú liên tục cho đến lúc thực chứng, tức là khi nhìn vào thân này chỉ thấy nó là tứ đại; bên trong thân này là một đống bầy nhầy, nhơ nhớp, bất tịnh... Khi quán chiếu hình ảnh thân này gồm tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, một đống tim, gan, máu, mủ, dạ dày, ruột non, ruột già, phân và nước tiểu… bị giòi bọ, côn trù ăn sau khi chết đi; có thể chúng ta sẽ thấy ghê sợ nhưng đó chính là Thánh trí tuệ. Những cảm thọ nhàm chán, nhờm gớm được sanh khởi chính là Thiện pháp, Thánh pháp. Bởi lẽ, nhìn lại cuộc đời tu đã qua, những cảm giác nhàm chán như vậy được sanh khởi cực kỳ ít; trừ những lúc phải chứng kiến cảnh tai nạn giao thông, nhìn người khác thân hình bầy nhầy, không nguyên vẹn thì mới thấy khủng khiếp, kinh hãi, ám ảnh. Còn người tu thật sự ngày nào cũng phải quán như vậy thì mới đưa đến sự nhàm chán, ly tham, từ bỏ, viễn ly tất cả các dục, không có ưa thích, thèm muốn, khao khát, tìm tòi nữa.

Chỉ có sự quán chiếu sâu sắc và liên tục như vậy thì tâm dục, tâm ái mới giảm thiểu, sự chấp thủ vào thân xác mới được mở ra từ từ, mới đánh phá vào trong bản ngã, chấp thủ. Nếu không, dẫu tu bao lâu thì cũng không thay đổi, có ai chạm vào là tham, sân, si, bản ngã còn y nguyên, đó là do mình chưa đào gốc, chưa bốc rễ, chưa đốn phá cái gốc tham ái đối với sắc uẩn vô thường, bất tịnh, ung nhọt này.

Hơn nữa, không chỉ riêng thân bất tịnh mà tâm cũng bất tịnh. Những cảm giác thúc giục, ham muốn, những cảm giác sân hận, hơn thua, những cảm giác ta đây, vênh váo bên trong đó là biểu hiện cho một cái tâm đầy bất tịnh, rác bẩn và cấu uế. Cho nên, cả thân tâm này và mọi sắc pháp bên ngoài đều bất tịnh, dơ bẩn; chúng ta phải có một cái nhìn thấu triệt như vậy thì tâm chấp thủ, vô minh, tham ái đối với sắc uẩn từ từ mới nhả ra.

Hãy để sự thật này ngấm thật sâu vào từng lỗ chân lông, vào trong xương, trong tủy, trong não của chúng ta. Hãy để trí tuệ này được xông ướp, tưới tẩm, phát triển lớn mạnh trong sự thấy biết thì chúng ta mới giải phá được vô minh, tham ái đối với sắc uẩn. Bằng không, dù tu cho đến chết cũng chỉ quanh quẩn trong thân xác này, không đi ra được; lúc nào cũng cho rằng đây là mình, là tôi, là của tôi rồi cứ sống trong vô minh, tham ái, chấp thủ; cuối đời tu hành chỉ được hình thức bề ngoài cùng với hư danh.

Thánh Trí Về Thọ Uẩn

Trong cuộc sống hàng ngày, con người thường chỉ chú trọng đến cái ăn, cái mặc, cái ở, mà lại bỏ quên một thứ rất quan trọng, đó chính là cảm xúc. Có rất nhiều câu chuyện ta từng được nghe qua nhưng dần dần cũng quên lãng; có rất nhiều cảnh đẹp ta từng được đi đến nhưng rồi cũng chóng quên; có rất nhiều người ta đã từng gặp gỡ nhưng theo thời gian cũng đi vào dĩ vãng… thế nhưng có những cảm giác, cảm xúc đi theo chúng ta suốt cả đời, không thể nào quên. Tại sao lại như vậy? Minh Thành xin nhắc lại câu kinh trong bài kinh “Cội rễ của sự vật”: “Tất cả pháp hội tụ nơi cảm thọ”, muốn biết trong tâm như thế nào, chỉ cần nhìn trở vào cảm thọ, cảm xúc là sẽ thấy được. Vì vậy, chúng ta sẽ đi vào bảy trí tuệ về cảm thọ:

Thọ: “Được cảm thọ nên gọi là thọ. Cảm thọ gì? Cảm thọ lạc, cảm thọ khổ, cảm thọ phi khổ phi lạc. Được cảm thọ, nên gọi là thọ”.

Thọ sanh: Do Xúc tập khởi nên Thọ tập khởi.

Thọ diệt: Do Xúc đoạn diệt nên Thọ đoạn diệt.

Thọ diệt đạo: Phương pháp tu tập đưa đến Thọ đoạn diệt là Phương pháp Tám đúng.

Vị ngọt của thọ: Do duyên Thọ khởi lên lạc hỷ gì, lạc hỷ này là vị ngọt của Thọ.

Sự nguy hại của thọ: Sự vô thường, khổ, chịu sự biến hoại của Thọ, đó là nguy hại của Thọ.

Sự xuất ly của: Sự nhiếp phục dục và tham, sự đoạn tận dục và tham đối với Thọ, đó là sự xuất ly của Thọ

Đây là bảy loại trí tuệ mà chúng ta phải tu học theo những lời dạy cội gốc của Đức Phật để thấy được thật sự trong thân tâm, thấy được nguyên nhân làm mình đau khổ. Nếu không học những lời dạy nguyên chất của Đức Phật thì không ai biết cảm giác thật sự là gì. Đừng nghĩ Ba Mươi Bảy Phẩm Trợ Đạo, Bát Chánh Đạo, Tứ Niệm Xứ, Tứ Thánh Đế mới là những pháp Đức Phật chứng ngộ, còn cái này thì không phải, thực ra đây đều là những pháp được Ngài chứng ngộ. Ngoài bậc Chánh Đẳng Chánh Giác ra thì trên toàn cầu này không ai giải thích được, đây là tâm lý học tối thượng của Phật giáo, đây là duyên sanh pháp của thân tâm và thế giới.

Định nghĩa

"Này các Tỳ-kheo, thế nào gọi là thọ? Ðược cảm thọ, này các Tỳ-kheo, nên gọi là thọ. Cảm thọ gì? Cảm thọ lạc, cảm thọ khổ, cảm thọ phi khổ phi lạc. Ðược cảm thọ, này các Tỳ-kheo, nên gọi là thọ".

(Tương Ưng Bộ Kinh III, Chương I. Tương Ưng Uẩn (d), III. Phẩm Những Gì Ðược Ăn, bài kinh Ðáng Ðược Ăn)

Đức Thế Tôn dạy rằng, có ba loại cảm thọ: cảm thọ vui (lạc thọ), cảm thọ buồn (khổ thọ), cảm thọ không vui không khổ (bất khổ bất lạc thọ); tất cả cảm giác đều không ra khỏi ba loại cảm thọ này. Trong lạc thọ có tham; trong khổ thọ có sân; trong bất khổ bất lạc thọ có si. Ví dụ, nếu được gặp người mình yêu quý thì mình sanh khởi sự dễ chịu, đó là lạc thọ, trong đó có tham, muốn được gặp nhiều hơn; ngược lại, nếu gặp người không thích, trong cảm thọ sẽ có sự khó chịu, đó là khổ thọ, đi kèm theo đó là sân; còn nếu thấy một người mà mình không ghét cũng không thích, gọi là bất khổ bất lạc thọ thì trong đó có si. Hằng ngay chúng ta quanh quẩn trong ba loại cảm giác này nhưng không biết, Đức Phật gọi đó là vô minh đối với các cảm thọ. Khi được học trí tuệ này là bắt đầu chúng ta có minh, có trí, có sự thấy biết đối với cảm thọ.

Hơn thế nữa, nếu nói về tính chất, đặc tính của cảm thọ thì có ba loại cảm giác là: khổ, vui, không khổ không vui. Nhưng nếu nói về phương diện nơi cư trú của các cảm giác thì có sáu loại cảm giác do sáu sự tiếp xúc mà sanh khởi, gồm: thọ do nhãn xúc sanh, thọ do nhĩ xúc sanh, thọ do tỷ xúc sanh, thọ do thiệt xúc sanh, thọ do thân xúc sanh, thọ do ý xúc sanh. Nghĩa là cảm thọ sanh khởi khi mắt tiếp xúc với các sắc, tai tiếp xúc với các âm thanh, mũi tiếp xúc với các mùi, lưỡi tiếp xúc với các vị, tiếp xúc với các sự xúc chạm, ý tiếp xúc với các pháp thọ, tưởng, hành.

Sâu sắc hơn, chúng ta cần phân biệt cảm thọ thân và cảm thọ tâm. Ví dụ, từ Sài Gòn phải ngồi xe ra Trúc Lâm Yên Tử cả ngày dài, khi đó phải ngồi xe mệt mỏi, có khi không ngủ được, đó là thọ thân là khổ thọ vì mệt mỏi, vất vả vì đường xa; nhưng khi đến Trúc Lâm Yên Tử thì thọ tâm là lạc thọ, vui mừng, thích thú vì đã đến nơi. Khi ấy, thân thì mệt mỏi nhưng tâm lại hoan hỷ, vui sướng, đó là sự khác nhau giữa thọ thân và thọ tâm. Hoặc khi chuẩn bị đại giới đàn, quý thầy cô phải làm công quả, chuẩn bị liên tục nhiều ngày liền, ai ai cũng mệt mỏi nhưng khi giới đàn được diễn ra trang nghiêm, thanh tịnh thì mọi người rất hoan hỷ, dù thân làm mệt nhưng tâm thì hạnh phúc, như vậy thọ thân là khổ, còn thọ tâm là lạc.

Ví dụ khác, lúc ở nhà mình đang có cảm giác hoan hỷ, nhẹ nhàng nhưng do có công việc nên phải ra đường giữa trưa nắng, lúc đầu ra đường thì không sao nhưng nửa tiếng sau thì mồ hôi chảy ra, trời nắng gắt nên thân khó chịu, lúc này tâm bị ảnh hưởng theo nên bức xúc, không còn hoan hỷ, nhẹ nhàng như khi còn trong phòng mát nữa. Nếu không tu tập, không nhiếp phục, không chế ngự cảm thọ thân thì cảm thọ thân đó sẽ xâm chiếm qua cảm thọ tâm, làm cho tâm cũng trở nên khó chịu, bức xúc; lúc ấy, ngoài thân thì nực, trong tâm thì bực, cả thân và tâm đều khó chịu. Mặt khác, nếu mình đang bực bội, khó chịu, cả người không có sức sống, nhưng có người mời đi du lịch miễn phí, mời ăn món ngon thì trong tâm bỗng thấy hoan hỷ, lúc đó bỗng dưng cũng thấy thoải mái, khỏe mạnh, đó là thọ thân thay đổi theo thọ tâm.

Thế nên, các cảm thọ trong tâm biến hóa, sanh diệt, đổi dời, dịch chuyển, thiên lưu liên tục. Nếu không có sự chánh niệm tỉnh giác trong sự nhiếp phục và chế ngự các cảm thọ thì thọ thân và thọ tâm dễ dàng bị tác động, biến đổi mà ta không hề hay biết. Vì vậy, cần có trí tuệ quán chiếu thì chúng ta mới có thể nhận diện được các cảm thọ và chế ngự chúng.

Thậm chí có những cảm thọ mình không nhận diện được nó thuộc thọ gì, có khi phải lắng tâm thật sâu, nhìn thật kĩ trong nhiều ngày mới biết được. Hơn nữa, bên cạnh ba cảm thọ căn bản là lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ đã học, khi đi sâu vào sẽ có rất nhiều trạng thái của thọ, mình sẽ thấy trạng thái thúc giục như thế nào, trạng thái lờ đờ ra sao, trạng thái buông lung phóng dật như thế nào, trạng thái tinh cần tinh tấn ra sao… Cho nên, có rất nhiều khía cạnh, hành tướng của cảm thọ. Muốn biết được những những điều này thì ta phải để tâm nhận diện thật nhiều để chính mình thấy được từng loại cảm thọ ấy, lúc đó chúng ta biết bằng chính trí tuệ của mình; còn khi không thật sự nhận diện được, mà chỉ nghe người khác nói thì chúng ta sẽ không thể thấy được các cảm thọ đang có mặt trong tâm mình.

“Do Xúc tập khởi nên Thọ tập khởi”, nghĩa là do có sự tiếp xúc mà có cảm giác. Ví dụ, nếu chưa từng đến Thiền viện Trúc Lâm thì trong tâm chúng ta không thể có cảm thọ, cảm xúc đối với cảnh đẹp ở Thiền viện Trúc Lâm được. Cũng vậy, nếu chưa từng gặp một cô gái đó thì không thể có cảm giác dễ thương, dễ mến với họ được. Vì vậy, do tiếp xúc nên mới sanh khởi ra cảm giác. Và “do Xúc đoạn diệt nên Thọ đoạn diệt”, tức là khi không tiếp xúc nữa thì không thể sanh khởi cảm giác đối với những cái mà mình chưa tiếp xúc.

Vị ngọt, sự nguy hại và xuất ly

"Do duyên thọ khởi lên lạc hỷ gì, đây gọi là vị ngọt của thọ. Cảm thọ vô thường, khổ, vô ngã, đây gọi là nguy hiểm của thọ. Sự nhiếp phục dục tham, sự đoạn tận dục tham đối với thọ, đây gọi là sự xuất ly của thọ".

(Tương Ưng Bộ Kinh III, Chương I. Tương Ưng Uẩn (d), III. Phẩm Những Gì Ðược Ăn, bài kinh Bảy Xứ)

Từ việc tiếp xúc mà sanh khởi ra cảm giác vui thích, khoan khoái, vui sướng thì đó là vị ngọt của cảm thọ. Vị ngọt này là “ngọt mật chết ruồi”, vị ngọt này nhận chìm cả thế giới, tất cả chúng sanh đều chạy theo cảm giác này. Như người đi làm vất vả, cả ngày cực khổ nhưng tối đến sẵn sàng đi nhậu hết tiền, thậm chí có khi xảy ra đánh nhau, thiếu nợ; người này ham mê nhậu nhẹt vì thích vị ngọt trong đó. Tương tự, dù biết hút thuốc là mắc bệnh, gây hại cho sức khỏe không những cho người hút mà cả người xung quanh nhưng nhiều người bỏ không được vì vị ngọt của cảm giác khi hút thuốc. Thậm chí người xưa cũng có câu “miếng ăn là miếng tồi tàn, mất đi một miếng lộn gan lên đầu”, sẵn sàng tranh giành thức ăn vì vị ngọt của lưỡi khi nếm thức ăn. Lúc chưa quen nhau thì sống bình thường, đến khi yêu thương mà không có người đó bên cạnh là không sống nổi, có người sau khi chia tay thì ôm bệnh tương tư, thậm chí muốn tự vẫn, đó là do vị ngọt trong sự xúc chạm nam nữ đem lại làm họ không bỏ được, gọi thọ do thân xúc sanh, nghĩa là cảm giác do sự đụng chạm, tiếp xúc đem lại.

Tất cả chúng sanh chết với vị ngọt này, đau khổ với vị ngọt này, trong kinh Đức Phật nói thân này là thiếu thốn, thân này là khát khao, thân này là nô lệ cho tham ái. Vì lúc nào cũng cảm thấy thiếu thốn cảm giác được vui thích, khoan khoái, sung sướng nên luôn rong ruổi tìm kiếm: tìm sắc đẹp, cảnh đẹp để nhìn cho đã mắt; tìm tiếng hay để nghe cho sướng tai; tìm mùi thơm hoặc tìm vị ngon để cung phụng cho thân ngũ uẩn này… Vị ngọt này làm chúng sanh hết sức vất vả, nhọc nhằn, trong tâm luôn có cảm giác thèm muốn, khao khát, đòi hỏi và cả cuộc đời chỉ là nô lệ cho những cảm giác vui sướng.

---

Do chỉ thấy vị ngọt mà không hề thấy được cảm thọ này chỉ là vô thường,  hư ảo nên chúng sanh cứ mải mê chạy đuổi theo các cảm giác. Vì vậy, điều cực kì quan trọng trong sự tu này là quán chiếu về tính chất nguy hiểm và tác hại của các cảm giác, khi nhìn cái gì cũng nhìn về khía cạnh nguy hiểm và tác hại của nó chứ đừng chỉ nhìn vị ngọt, vì nếu không thấy được sự nguy hại thì không thể xuất ly ra khỏi các cảm giác.

"Tánh vô thường, khổ, chịu sự biến hoại của thọ là sự nguy hiểm của thọ".

Tính chất của các cảm thọ là vô thường, khổ đau và hoại diệt nhưng điều đau xót là chúng sanh lại đi tìm vị ngọt, ưa thích vị ngọt, đam mê vị ngọt, bị trói buộc trong sự sung sướng của vị ngọt, mà không thấy mặt trái của nó là biến đổi, tan hoại, vô thường, đó chính là sự nguy hiểm của cảm thọ. Đức Thế Tôn đã nói tất cả thọ đều nằm trong đau khổ:

"-- Lành thay, lành thay, này Tỳ-kheo! Này Tỳ-kheo, Ta nói rằng có ba thọ này: lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ. Ba thọ này được Ta nói đến. Nhưng này Tỳ-kheo, Ta lại nói: 'Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ'. Chính vì liên hệ đến tánh vô thường của các hành mà lời ấy được Ta nói lên: 'Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ'. Chính vì liên hệ đến tánh đoạn tận, tánh tiêu vong, tánh ly tham, tánh đoạn diệt, tánh biến hoại của các hành mà lời ấy được Ta nói lên: 'Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ'".

(Tương Ưng Bộ Kinh IV, Chương II. Tương Ưng Thọ, Phần II. Phẩm Sống Một Mình, bài kinh Sống Một Mình)

Chỉ có bậc tối tôn, tối thượng mới thành tựu được trí huệ đó, tất cả cảm giác, cảm xúc đều nằm trong đau khổ dù là lạc thọ, khổ thọ hay bất khổ bất lạc thọ. Nghe đến đây là rung động thân tâm, không còn bất kì cái gì để chúng ta bám víu, không còn cái gì có thể đứng vững trong Thánh trí tuệ.

Chúng ta sẽ thắc mắc “cảm giác khổ tất nhiên là khổ” nhưng “tại sao cảm giác sướng cũng là khổ”? Chẳng hạn như đua xe, xì ke ma túy, những chỗ mua vui là để tìm những sự vui sướng, vui vẻ nhưng tại sao cảm thọ vui đó cũng là đau khổ? Bởi lẽ, đằng sau những cuộc vui đó là tan nhà nát cửa, vợ chồng ly tán, thân bại danh liệt, tán gia bại sản. Ăn uống cũng vậy, ăn vào thì thấy sung sướng, ngon miệng nhưng có khi lát sau lại bị đau bụng, tiêu chảy, đó là vừa vui sướng đã đau khổ. Được đi Mỹ du lịch nhưng có khi lên máy bay bị lây dịch bệnh hoặc ngồi máy bay trong thời gian dài sẽ gây đau nhức, khó chịu thân thể.

Nếu nghĩ trong niềm vui chỉ có cái vui là không đúng, vì trong đó vốn dĩ đã có khổ thọ. Chỉ có những cảm thọ phi vật chất, những cảm thọ của Thánh pháp, cảm thọ hỷ lạc của thiền định, trí tuệ, giác ngộ thì mới là những cảm thọ thuần lạc, không có khổ đau; còn niềm vui trong dục lạc chỉ toàn đau khổ, chúng dính vào nhau như hai mặt đồng tiền. Chính vì vậy, phải quán tất cả cảm thọ đều nằm trong đau khổ. Một khi Đức Phật đã nói ra thì không thể sai khác, lời của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác đã nói ra thì tỷ năm sau cũng không thể đổi thay.

Chúng ta bị cảm thọ trói cột cho nên Đức Thế Tôn nói rằng kẻ vô văn phàm phu không nghe Chánh Pháp, không thực hành Chánh Pháp, không thấy không biết về cảm thọ, không có trí tuệ về cảm thọ nên gặp cảm giác vui thì người này giống như người đang bị trói buộc, gặp cảm giác khổ giống như người đang bị trói cột, gặp cảm giác không vui không khổ, cảm giác đều đều thì người này cũng giống như người đang bị trói cột. Vì đối với cảm thọ vui thì tham đắm, dục ái; đối với cảm thọ khổ là sân hận, bực tức, bức xúc; đối với cảm giác bình thường, đều đều thì ta không biết nó là vô thường, cứ nghĩ nó là thường. Chúng ta cho rằng cuộc sống này cứ bình thường, đều đều mà không biết trong sự bình thường là vô thường, không có cái gì bình thường, đến khi nó biến đổi là chúng ta bất an, lo lắng, sợ hãi, bàng hoàng.

Đức Thế Tôn từng dạy, những kẻ vô văn phàm phu khi có cảm giác vui sướng thì người này giống như người đang bị trói buộc. Khi họ cảm giác bực bội thì giống như người bị ràng buộc. Khi họ bị cảm giác không buồn, chẳng vui, , tức là bất khổ bất lạc thọ, họ cũng giống như đang bị ràng buộc.

Nếu người ấy cảm thọ cảm giác lạc thọ, người ấy cảm thọ cảm giác như người bị trói buộc (sannutto). Nếu người ấy cảm thọ cảm giác khổ thọ, người ấy cảm thọ cảm giác như người bị trói buộc. Nếu người ấy cảm thọ cảm giác bất khổ bất lạc thọ, người ấy cảm thọ cảm giác như người bị trói buộc.

(Tương Ưng Bộ Kinh IV, Chương II. Tương Ưng Thọ, Phần I. Phẩm Có Kệ, VI. Với Mũi Tên)

---

"Sự nhiếp phục dục tham, sự đoạn tận dục tham đối với thọ là sự xuất ly của thọ".

Khi thấy bản chất của các cảm thọ là vô thường, biến đổi, thấy được sự nguy hại của các cảm thọ thì chúng ta tu tập, nhiếp phục, chế ngự, đoạn tận tất cả dục tham đối với các cảm thọ. Vậy, làm thế nào để nhiếp phục được cảm giác vui sướng, thích thú đối với các cảm thọ? Làm sao chấm dứt được sự tham đắm, say đắm, đam mê đối với những cảm giác? Chúng ta phải quán chiếu cảm thọ theo lời dạy của Đức Phật: quán cảm giác vui là khổ đau, cảm giác đau khổ là mũi tên, giác thường thường, đều đều, không khổ không vui là vô thường.

"-- Này các Tỳ-kheo, có ba cảm thọ này. Thế nào là ba? Lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ. Lạc thọ, này các Tỳ-kheo, cần phải thấy là khổ. Khổ thọ cần phải thấy là mũi tên. Bất khổ bất lạc thọ cần phải thấy là vô thường".

(Tương Ưng Bộ Kinh IV, Chương II. Tương Ưng Thọ, Phần I. Phẩm Có Kệ, bài kinh Cần Phải Quán Kiến)

Tại sao phải quán cảm giác vui sướng là đau khổ? Chẳng lẽ Đức Thế Tôn dạy mình đi ngược sự thật hay sao? Ví như những người tham gia đua xe lạng lách, họ sẽ thấy rất phấn khích, thích thú, cười giỡn, sảng khoái, cảm giác được thỏa mãn nên họ rất vui. Nhưng khi té xe gây tai nạn, trầy xước tay chân, thậm chí gãy tay chân hoặc gây tai nạn chết người thì nó chính là khổ đau. Các thanh niên đấu đá, kéo băng nhóm đánh người tỏ vẻ ta đây rất oai phong, hùng dũng nhưng hậu quả là phải vào viện, tù tội vì gây ra cái chết cho người khác, khi đó chỉ còn lại sự đau khổ. Các thanh thiếu niên tổ chức tiệc tùng, tụ tập sử dụng các chất cấm kích thích để có được sự vui vẻ, sung sướng nhất thời nhưng hậu quả nhận được rất nặng nề, thân tàn ma dại, thân bại danh diệt, gia đình tan nát, cha mẹ buồn khổ, xã hội bất an.

Đó là lý do Đức Phật dạy phải quán chiếu cảm giác vui sướng là khổ đau, bởi lẽ, vui sướng trong dục tham, sân hận, tức giận, vui sướng trong ta đây, vô minh, bản ngã thì đó là vui sướng trong đau khổ. Nếu nhìn thấy được sự nguy hiểm và tác hại của những thứ đó thì chúng ta mới có khả năng nhiếp phục được lòng tham muốn với những thứ ác bất thiện pháp. Ngược lại, nếu chỉ thấy được vị ngọt trong những việc đó thì chúng ta sẽ đau khổ lâu dài trong hiện tại và tương lai, chính vì vậy Đức Phật dạy phải quán cảm giác vui là đau khổ để không chạy theo vị ngọt của những cảm giác vui sướng trong tham, sân, si, vô minh và bản ngã.

Tiếp theo, tại sao cần quán cảm giác đau khổ là mũi tên? Những cảnh bệnh tật, sân hận, đấu đá, hơn thua, chết chóc, nằm trên giường bệnh. Những đứa nhỏ mất cha mất mẹ phải lang thang đầu đường xó chợ; những cụ già tám, chín chục tuổi phải vất vả mưu sinh, không nơi nương tự; những gia đình đau khổ phân ly con mất cha, vợ mất chồng vì tai nạn giao thông đột ngột…. Tất cả những điều này chẳng khác gì mũi tên ghim vào tim đau thắt lại. Vì thế chúng ta phải quán cảm giác đau khổ là mũi tên để thấy tính chất đột ngột, đột biến, đột tử, đột quỵ của cuộc đời này, đó cũng chính là ý nghĩa của chữ "vô thường", đột ngột nghe nhiễm bệnh phải đi cách ly, mấy ngày sau lại nghe tin chết rồi, đó lại là những người thân thương, là bà con dòng họ, bạn bè thân quen của mình, thậm chí là những người trong gia đình, đó chính là sự vô thường, biến đổi và tan hoại, không có gì vững chắc và bền lâu, trong tích tắc là thân xác này sẽ nằm xuống, ngã xuống, sụp xuống, không còn tri giác nữa, chỉ như khúc cây khô ai muốn làm gì thì làm.

Chúng ta phải quán chiếu những cảm giác, hình hài này, thân xác này, những suy nghĩ này là vô thường, biến đổi, tan hoại, tự tánh của nó là đổi khác, chỉ có quán như vậy thì chúng ta mới tháo gỡ, mới cắt được những sự trói buộc, ham muốn trong các cảm thọ tham, sân, si, bản ngã, những cảm thọ ganh tỵ, đố kỵ, đấu tranh, khẩu tranh với nhau, hơn nhau từng lời nói, từng ánh mắt, đấu đá nhau trong từng cử chỉ hành động, đó là tự mình làm khổ chính mình, tự mình thắp lửa để thiêu đốt chính mình. Nếu mình ham thích trong cảm thọ vui sẽ giống như rơi vũng lầy, lún sâu trong đầm lầy. Cảm thọ sân hận, tức giận như một đống lửa thiêu đốt mình, cảm giác đó trước tiên đốt mình, con mắt, lỗ tai đỏ lên, quơ tay múa chân rồi làm cho những người xung quanh khổ đau, sống chung với người hay sân hận rất khổ sở, ngày nào cũng có chuyện cự cãi, căng thẳng. Cảm giác lờ đờ, tâm mê muội không tỉnh táo, không chánh niệm giống như màn đêm, đó là mình sống trong bóng tối, sống trong trường dạ vô minh.

Tu tập cảm thọ

Sự tu tập cảm thọ là tuyệt đối quan trọng, người tu phải biết nhận diện cảm thọ trong mọi lúc mọi nơi. Nếu có chuyện xảy ra thì đừng nhìn ra bên ngoài, mà hãy quay ngược lại nhìn cảm thọ trong tâm. Người tu phải biết hóa giải vấn đề triệt từ trong gốc rễ của cảm thọ, còn những tác nhân bên ngoài chỉ là một phần. Hơn nữa, nếu chỉ hướng ra ngoài là mình không tu được, vì chỉ lo đổ lỗi “tại cậu kia, tại huynh đi, tại thầy kia, tại cô kia”. Còn khi quay lại bên trong, nhận diện chính mình thì mới thấy nguyên nhân lớn nhất của mọi phiền não, khổ đau là do ta chưa có khả năng nhiếp phục, chế ngự các cảm thọ, vì vậy, cần nỗ lực tu tập thật nhiều. Khi tâm được tu tập mềm mại, nhu nhuyến, dễ sử dụng thì chúng ta mới làm chủ được cảm thọ và làm chủ sanh tử cũng là ở chỗ này.

Chúng ta thường sống trong cảm giác đơ đơ, bất khổ bất lạc hoặc bị chi phối bởi tham, sân, si; còn cảm thọ an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào của tâm từ là vô lượng kiếp vừa qua mình chưa thực tập, hoặc chưa thực tập sâu sắc nên khi bị chạm đến là phừng lên, phựt lên ngay, thậm chí đang ngồi nghe pháp cũng bực bội, khó chịu. Đặc biệt những lúc buồn ngủ, mệt mỏi, bệnh tật… đều là những lúc cảm thọ không được lắng dịu, ngọt ngào, dễ chịu. Để cảm giác của mình được huân tập, tràn đầy sung mãn, dễ chịu, ngọt ngào thì phải tu tập rất nhiều trong sự tác ý, nuôi dưỡng cảm xúc, cảm thọ. Khi nuôi dưỡng được cảm thọ tâm hiền, tâm từ, tâm dễ chịu, ngọt ngào này thì lúc nào thân tâm mình cũng được nhẹ nhàng, từ hòa. Thậm chí lúc đáng phải bực bội, bức xúc nhưng mình vẫn thư thái, thảnh thơi, ngọt ngào, dễ chịu.

Chẳng hạn lúc ở bếp nấu cơm, xung quanh dù đang phừng phực nhưng bên trong tâm vẫn mát dịu, dễ chịu, như vậy mới là đặc biệt; còn khi đứng kế bên lửa mà nóng theo nó là chuyện bình thường. Gặp người ta khó chịu mình khó chịu lại thì đó là người phàm phu không biết tu; còn người biết tu “khi gặp người khó chịu thì phải chịu khó”. Cho nên, người tu có những điều đặc biệt mà người bình thường không có, đó gọi là bất cộng pháp – pháp không chung cùng với chúng sanh; đó là những pháp chúng ta dùng để nhận diện, nhiếp phục, chế ngự, xử lý và giải tỏa, tẩy sạch được những cảm xúc tiêu cực, ác và bất thiện pháp trong thân tâm mình.

Ví dụ, mỗi lần đến giờ ngồi thiền là xung quanh mở karaoke lên hát, những lúc đó phải tu tập cảm thọ thế nào? Nếu cứ ngồi đó trách “tại sao lại hát giờ này, giờ này là giờ của tôi tu”thì có tu được không; hơn nữa, tuy là giờ tu của mình nhưng đó là giờ nghỉ ngơi của người khác, không phải giờ tu của họ. Nếu cứ hướng ra ngoài phiền trách thì mình sẽ không tu được gì, những lúc như vậy, chúng ta phải quay trở về nhiếp phục cảm thọ.

Khi nghe tiếng ồn đó, bên trong cảm thọ sanh khởi sự khó chịu thì hãy tác ý “An tịnh, lắng dịu, dễ chịu đi!”, đó là giáo dục tâm, dạy dỗ, huấn luyện, dẫn dắt cảm thọ trong tâm. Cũng như tài xế lái xe, chúng ta phải đưa cảm thọ đi trên đại lộ bình an, chứ không thể lèo lái nó xuống vực thẳm. Khi cảm thọ đang khó chịu, tức giận, bực bội là nó đang đi xuống vực sâu; sự khó chịu lúc đó đang thiêu đốt tâm ta. Chúng ta không được để cho cảm thọ ngu ngốc này thiêu đốt, phải tác ý: “An tịnh, lắng dịu, dễ chịu!” cứ niệm câu này như niệm Phật, giống như trì chú, giống như niệm bài Bát Nhã Tâm Kinh.

Quay vào nói với trung tâm của lồng ngực: “Thôi! An tịnh, lắng dịu đi! Dễ chịu đi! Bực bội hoài không thấy mệt hay sao? Khó chịu hoài không thấy mệt hay sao? Sân hoài không thấy mệt hay sao? Thôi tới đây là vừa đủ rồi! Ngươi hãy tan biến khỏi tâm của ta đi. Ngươi hãy tan biến hoàn toàn khỏi tâm ta đi, thành mây, thành khói, thành hư không đi! Đừng ở đây nữa, tan biến hoàn toàn đi. Nghe mà sân si như vậy nghe làm gì nữa tâm? Nên điếc đi, đừng nghe nữa. Thấy, nhìn để bực bội thì nhìn để làm gì? Mày nên nhắm mắt, mù luôn đi tâm!”.

Sau đó, chúng ta trải tâm từ cho tự thân mình: “Ta tội nghiệp tâm mê này quá. Tâm ơi tâm, mê vừa thôi tâm. Tâm ơi tâm, tối ngày cứ giận hoài như vậy mày khỏe lắm hay sao tâm?Nếu càng bực bội là càng bị thêu đốt, càng bị nhiệt não, khó chịu, càng khổ đau thôi chứ có gì đâu tâm! Có nghe không tâm? Tội nghiệp cho mày quá đi tâm. Làm ơn hãy nghe lời nha tâm. Mày đừng ương ngạnh nữa”. Trải tình thương từ trong lồng ngực ra khắp toàn thân, lan tỏa cảm thọ thương xót đến thân này, thương xót cho cảm thọ này, thương xót sự nhận thức, sự nghe này để rồi sân si lên. Vậy mà chúng ta cứ bỏ quên cảm thọ, không biết chăm sóc cảm thọ, cứ để cho cảm thọ bức xúc, bực bội, khó chịu hoài:

“Thương lâu rồi ta sống,

Bỏ quên cảm thọ này,

Để tham sân hành hạ,

Ta để mình khổ đau”.

Hãy dùng một tấm lụa trắng thật sạch, thật đẹp, thật mềm mại của tâm từ để phủ từ đỉnh đầu tới gót chân, bao bọc, lan tỏa đến, bao trùm lấy người đó và tha thứ cho họ. Thật là thương cho những cảm thọ sân hận này, mình không nuôi dưỡng, chất chứa cảm thọ này, mình chỉ muốn tống khứ nó ra khỏi thân tâm mình, mình chỉ muốn có cảm thọ an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào, từ ái, hiền thiện, từ tâm.

Khi thực hành được điều này, chúng ta sẽ thấy rất tuyệt vời, vì mình không giận ai mà từ từ sẽ xót thương chính mình, xót thương hữu tình, xót thương chúng sanh. Đó là cách hóa giải tâm sân trong cảm thọ bằng sự tác ý chân chánh, đưa đến dập tắt hết tất cả những cơn bức xúc, nóng giận, phiền não. Tương tự như vậy, ta muốn sanh khởi cảm thọ nào là có cảm thọ đó, ví dụ muốn cảm thọ hỷ lạc thì cứ tác ý Hỷ vô lượng tâm là chúng ta vui suốt ngày, suốt tuần, suốt tháng, thậm chí vui suốt ba tháng, suốt một năm… ta chỉ cần trú trong tâm hỷ vô lượng đó.

Cho nên, phải biết cách quán chiếu để xa lìa được những cảm xúc tiêu cực, nuôi dưỡng cho mình lòng từ bi, tình thương đong đầy trong cảm thọ. Đó cũng là nuôi dưỡng tâm từ, trải tâm từ, cũng là cách hóa giải tâm nóng giận, còn nếu cứ ngồi yên thì sẽ không hết phiền não. Bởi lẽ, dù cho tránh xúc, không gặp, không nói chuyện với người khiến mình khó chịu nhưng thật sự bên trong vẫn còn chất chứa những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ về người đó. Những nội kết trong tâm vẫn chưa được giải quyết triệt để nên nó sẽ ùn ứ, chất chứa, tồn kho trong cảm thọ; đến khi gặp chuyện thì nó lại bậc lên, bung ra.

Vì vậy, cần hóa giải vấn đề ngay từ trong cảm thọ; diệt những cảm thọ của tham, sân, si, bản ngã từ tận gốc rễ, làm cho nó không sanh khởi trở lại trong tương lai, phải chặt nó giống như cây ta-la, giống như chặt cây dừa, không cho nó mọc trở lại, không cho nó tái sanh, cho nó chết đến tận cùng. Đó gọi là Khổ Diệt Thánh Đế, chữ “diệt” này là diệt tận, không cho sanh khởi trở lại nữa, đây là chữ thâm thúy mà tu suốt ba mươi năm Minh Thành mới thật sự hiểu được. Diệt là diệt tận mầm móng tham, sân, si, vô minh, bản ngã ở trong cảm thọ, trong tưởng, trong suy nghĩ… không cho nó sanh khởi trở lại.

Tâm của các bậc Thánh ở Thánh quả thứ ba là đã hết tham sân, không bao giờ sân có thể sanh khởi trở lại, một mầm móng nhỏ cũng không còn, chỉ toàn là tâm từ. Muốn được như vậy mà mình tu lơ mơ, tu chơi chơi, chờ ngày qua đời thì làm sao thành tựu. Phải có một sự nỗ lực trường viễn, sâu sắc; liên tục nhìn tâm để kiểm tra, kiểm điểm từng chút; mỗi sự động chuyển, nhúc nhích của tâm là phải nhìn thấy xem nó đang làm gì, đang có cảm thọ gì, đang có suy nghĩ gì, đang có hình bóng gì; Sau khi nhìn thấy phải nhiếp phục, chế ngự, đoạn tận và tẩy sạch nó. Dần dần nó sẽ giảm bớt, cho đến cuối cùng là đoạn tận.

Ngoài ra, dùng thọ diệt thọ cũng là một cách tu tập cảm thọ. Nghĩa là nếu tâm ta nhỏ hẹp thì hãy tu tập tâm rộng lớn, tâm vô lượng; nếu là người hay sân si, dễ kiếm chuyện, thường gây sự thì tu tập tâm từ, dùng cảm thọ thương yêu để diệt cảm thọ bực bội, sân hận. Dùng mọi phương pháp để không chất chứa, không nuôi dưỡng, không tích lũy, không để những cảm thọ bất thiện tồn kho trong tâm, phải thẳng tay giải quyết, quăng nó ra khỏi thân tâm ngay lập tức.

Khi tâm đang khó chịu, cau có, dễ nổi nóng, tâm nhỏ hẹp, nhỏ mọn thì ta hãy tìm nơi bầu trời trong xanh, không có gì che khuất để nhìn lên bầu trời rồi quán tâm rộng lớn cùng khắp hư không.

Tâm thương này tỏa rộng

Cùng khắp thế giới này

Tâm thương này tỏa rộng

Khắp trời đất bao la.

Không phải chỉ đọc ngoài miệng mà chúng ta phải đưa nó vào cảm thọ, kết hợp với những hình ảnh quán chiếu để quán tưởng tâm từ, tình thương này vượt qua khỏi các vách tường, lan tỏa ra khắp không gian trời đất nơi này. Trải rộng tâm từ ra khắp bản đồ hình chữ S của chúng ta và rộng cùng khắp năm châu bốn biển.

Nếu cảm thọ đang nóng nảy, lồng ngực đang bừng bừng phát hỏa phẫn nộ thì hãy đem dòng nước mát đến tưới tẩm cho cảm thọ như đang được tắm dưới vòi hoa sen. Xung quanh mình là dòng nước mát trong xanh, sạch sẽ, mát mẻ, thơm tho, hoa sen nở thơm ngát. Chúng ta nhảy vào đó để gội rửa cảm thọ sân giận trong dòng nước đại bi của từ tâm. Hoặc nếu cảm thọ cứ bực bội, muôn gây gổ thì ta có thể quán tưởng hình ảnh con chó gặp ai cũng sủa rồi tác ý: "Người không muốn làm mà muốn làm chó hả", rồi mình sẽ thấy cảm thọ sân giận bị đánh tan như viên thuốc sủi bọt, lồng ngực mình sẽ lắng dịu, an tịnh.

Nếu trong người có suy nghĩ đều đều, an ổn thì chúng ta cũng phải đánh phá cảm thọ đó: "Tâm ngu mê này, làm gì có sự bình an trong cuộc sống này. Bất thình lình cha mẹ có thể chết, bất thình lình mình có thể bi tai biến mạch máu não, bị ung thư mà chết có biết không!". Tác ý như vậy để giải phá cảm thọ lờ đờ như lục bình trôi sông, cảm giác sống ẩn dương nương Phật không biết lo nghĩ, không biết nỗ lực tu tập. Đó là chúng ta diệt tận cảm thọ đó bằng suy nghĩ; sự tác ý càng mạnh chừng nào thì hiệu lực mau nhanh chừng đó.

Vậy nên, đạo lộ tu tập của kinh Nikāya là minh bạch như mặt trời, không có chỗ nào là không thể hiểu, tu tới đâu là rõ ràng tới đó. Từng bước tu tập, chiêm nghiệm, quán sát thì chúng ta sẽ thấy được tâm của mình, xem sân còn nhiều hay còn ít; xem tham, dục, ái còn nhiều hay ít; còn bao nhiêu hay hết rồi thì mình cũng biết rất rõ. Đức Phật gọi là người trí tự mình giác hiểu.

Thánh Trí Về Tưởng Uẩn

Bảy trí về tưởng:

Tưởng: Hình bóng, bóng dáng 6 trần hiện lên trong tâm, đó gọi là Tưởng. Định nghĩa theo kinh Đáng Được Ăn: “Nhận rõ nên gọi là Tưởng” => Bóng dáng 6 trần hiện khởi trong nội tâm, sự hiện khởi này gọi là nhận rõ 6 trần. Sự nhận rõ này, hay sự hiện khởi này được gọi là Tưởng.

Tưởng sanh: Do Xúc tập khởi nên Tưởng tập khởi.

Tưởng diệt: Do Xúc đoạn diệt nên Tưởng đoạn diệt.

Tưởng diệt đạo: Phương pháp tu tập đưa đến Tưởng đoạn diệt là Phương pháp Tám đúng.

Vị ngọt của Tưởng: Do duyên Tưởng khởi lên lạc hỷ gì, lạc hỷ này là vị ngọt của Tưởng.

Sự nguy hại của Tưởng: Sự vô thường, khổ, chịu sự biến hoại của Tưởng, đó là sự nguy hại của Tưởng.

Sự xuất ly của Tưởng: Sự nhiếp phục dục và tham, sự đoạn tận dục và tham đối với Tưởng. Đây là sự xuất ly của Tưởng

Định nghĩa

“Hình bóng, bóng dáng sáu trần hiện lên trong tâm là tưởng”. Khi chưa học nhận diện, mọi người thường nghĩ tưởng là một khối chung, tức là hồi tưởng lại những chuyện đã làm là tưởng uẩn, thế nhưng Đức Thế Tôn bằng trí tuệ đã phân chia tưởng thành sáu loại, gồm: sắc tưởng, thanh tưởng, hương tưởng, vị tưởng, xúc tưởng, pháp tưởng.

Sắc tưởng: Bóng dáng người, cảnh, vật tứ đại, hiện khởi trong tâm, đó là sắc tưởng.

Thanh tưởng: Bóng dáng lời nói, âm thanh, tiếng động, tiếng ồn hiện khởi trong tâm, đó là thanh tưởng.

Hương tưởng: Bóng dáng mùi thơm, mùi hôi hiện khởi trong tâm, đó là hương tưởng.

Vị tưởng: Bóng dáng của các vị mặn, ngọt, chua, chát… hiện khởi trong tâm, đó là vị tưởng.

Xúc tưởng: Bóng dáng sự đụng chạm, xúc chạm giữa thân này và người, vật, tứ đại bên ngoài hiện khởi trong tâm, đó là xúc tưởng.

Pháp tưởng: Bóng dáng thọ, tưởng, hành hiện khởi trong tâm, đó là pháp tưởng.

Đầu tiên là sắc tưởng, ví dụ, một người thích cây kiểng nhìn thấy một cây tùng có dáng thác đổ, bữa sau hay tuần sau người này nhớ lại dáng cây tùng đó, hình bóng của cây tùng hiện lên trong tâm người này gọi là sắc tưởng. Hoặc khi đến Thiền viện Trúc Lâm cùng với bạn bè, được đi dạo quanh hồ Xuân Hương, ngắm nhìn cảnh đẹp với rất những hoa cỏ. Khi về lại nhà, chúng ta nhớ lại hình ảnh hồ Xuân Hương rộng lớn, có Thiền viện Trúc Lâm tuyệt đẹp, có hình ảnh của những người bạn cùng mình đi tham quan hiện khởi trong tâm thì đó là sắc tưởng.

Thứ hai, thanh tưởng là hồi tưởng lại âm thanh. Chẳng hạn, khi đang ngồi thiền, bỗng nhiên hồi tưởng lại âm thanh làm cho mình tức giận, hoặc âm thanh làm cho mình mến thương, nhớ nhung. Sự hồi tưởng lại âm thanh của câu nói, giọng nói, lời nói, tiếng nói ngọt ngào, êm ái, trìu mến, dễ thương đó gọi là thanh tưởng.

Thứ ba là hương tưởng và vị tưởng, ví dụ, buổi trưa chúng ta được ăn món chè rất ngon, khi nhắc lại, chúng ta hồi tưởng lại mùi thơm và vị ngọt của món chè đã ăn, đó chính là hương tưởng và vị tưởng.

Thứ tư, hình ảnh về sự xúc chạm với đồ vật hoặc người khác hiện khởi trong tâm là xúc tưởng. Xúc tưởng rất nguy hiểm, có khi đã xúc vào rồi là khắc ghi suốt đời, không quên được, rất nhiều người chết vì điều này. Nếu chỉ tưởng về sự đụng chạm, tiếp xúc với đồ vật tứ đại thì vẫn là chuyện đơn giản; còn giữa người với người khi gặp nhau, nhìn một chút, bắt tay hay là đụng chạm một chút thì sau đó sự hoạt động của tưởng uẩn rất là khủng khiếp. Sự hồi tưởng về sự xúc chạm này gọi là xúc tưởng. Thậm chí, không những chỉ tưởng lại ngay lúc đó mà còn tưởng tượng thêm nhiều điều khác, tưởng tượng tương lai sẽ ra sao.

Cuối cùng là pháp tưởng, đây là phần quan trọng và sâu sắc trong tưởng uẩn; cần nhận diện thật chính xác pháp tưởng để thấy rõ tâm mình. Trong sáu trần – sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp thì pháp trần chính là thọ, tưởng, hành. Ví dụ, có một nữ Phật tử hai tay dâng phẩm vật cúng dường cho quý thầy, một thầy khi thọ nhận lại vô tình chạm trúng tay người này, do duyên xúc nên thọ, tưởng, hành sanh khởi. Tối đến, khi ngồi thiền ở phòng một mình thì khuôn mặt của cô gái đó hiện ra, cảm thọ về cái tay chạm lúc đó hiện ra, suy nghĩ lúc đó hiện ra. Hình bóng về thọ, tưởng, hành hiện ra trong tâm đó chính là pháp tưởng.

Những hình bóng mình thấy rõ, dễ nhận ra là những tưởng thô, còn những hình bóng sâu kín, có khi không thấy được là những tưởng vi tế. Ví dụ, Minh Thành nhắc mọi người để ý cái lưng thì sẽ có hình bóng cái lưng trong tâm hiện ra, vi tế hơn nữa là hình bóng của tự thân nhưng cái này mình không thấy được, mình nghĩ là không có nhưng thật ra là do mình không thấy. Chúng ta thường chỉ thấy những tưởng thô khi tức giận, ham muốn, bản ngã; còn những tưởng vi tế ít khi thấy được. Chẳng hạn, khi ngồi thiền, tâm được yên lặng, không có hình bóng, suy nghĩ gì cả, cảm giác an tịnh, lắng dịu, mình thấy nhẹ nhàng, an lạc, mênh mông thì mình tưởng tâm mình an tịnh nhưng đó lại là tưởng không vô biên xứ, tưởng này rất vi tế. Đa số mọi người nghĩ khi đó không có hình bóng nên không có tưởng, tuy nhiên lúc đó lại có sự rộng lớn, mênh mông rồi mình thích thú, khoan khoái trong đó cho nên cái này cũng là tưởng uẩn nhưng là tưởng vi tế.

“Do xúc tập khởi nên tưởng tập khởi”, do tiếp xúc với đối tượng đó nên chúng ta mới có những hình bóng trong tâm. Nếu chưa từng thấy Minh Thành giảng pháp thì không thể có hình bóng Minh Thành ngồi chia sẻ kinh Nikāya với mọi người. Hoặc trước khi mình được vào trường thiền ở thì không thể có hình bóng của trường thiền trong tâm, mà là do đã thấy, đã tiếp xúc thì sau đó chúng ta mới tưởng nhớ lại; tương tự, do đã từng nghe, ngửi, nếm, đụng chạm, tiếp xúc thì ta mới nhớ tưởng lại về những đối tượng đó.

“Do Xúc đoạn diệt nên Tưởng đoạn diệt”, nghĩa là không còn tiếp xúc nữa thì những hình bóng trong tâm sẽ chấm dứt. Con đường để đưa đến sự chấm dứt các tưởng là con đường Bát Chánh Đạo, phải thấy đúng về các tưởng, suy nghĩ đúng về các tưởng, có sự tu tập quán chiếu chân xác về tưởng uẩn thì mới đi đến chỗ chấm dứt.

Vị ngọt và sự nguy hại

“Do duyên tưởng khởi lên lạc hỷ gì, lạc hỷ này là vị ngọt của tưởng”.

Vị ngọt của tưởng là ngồi lại tưởng mơ về những hình bóng đã tiếp xúc và sanh khởi sự thích thú, khoan khoái. Có người ngồi một mình nhưng tự nhiên bật cười vui vẻ; thậm chí có khi đứng nói chuyện một mình vì tưởng lại những hình bóng đã từng tiếp xúc, về con người, sự vật, sự xúc chạm. Ví dụ, khi nhớ hình bóng mình được lên bục nhận thưởng, mọi người xung quanh khen ngợi; hoặc tưởng về hình bóng trong tương lại mình trở thành một người thành công sẽ như thế nào; hoặc tưởng về hình bóng của người mình yêu thương thì mình có cảm thọ vui sướng và đắm chìm trong đó. Đó là vị ngọt của tưởng. Hơn thế nữa, tưởng uẩn vận hành rất khủng khiếp, không chỉ hoạt động trong tâm mà còn khiến nhiều người không kiểm soát được nên bật ra thành lời nói, hành vi bên ngoài.

Như câu chuyện về thầy Tăng Hộ nhận người cậu đã xuất gia của mình làm sư phụ để xuất gia tu học. Một hôm chú ra chợ được người ta cho hai xấp vải nên rất vui mừng, thích thú, đem khoe với sư phụ. Sư phụ thấy vậy cũng không bày tỏ thái độ gì, chỉ gọi chú lên quạt cho mình ngồi thiền, vì bên Ấn Độ mùa nắng có nhiều ruồi muỗi. Khi đứng quạt thì Tăng Hộ thấy buồn chán vì chỉ có hai thầy trò tu với nhau mà đem xấp vải về khoe thì sư phụ mặt lạnh lùng, chú nghĩ chắc sư phụ không còn thương mình nữa nên muốn ra đời cưới vợ. Khi đó, chú tưởng đến cảnh mình lấy vợ được một thời gian thì có hai đứa con, một lần, hai vợ chồng về thăm sư phụ, vì hai người giành nhau bế đứa con nhỏ nền chẳng may làm rớt đứa con xuống đất. Chú này bực mình vì nói vợ không nghe nên mới làm con nhỏ rơi xuống đất, thế là chú lấy cán quạt đánh vào đầu người vợ. Bỗng nhiên lúc đó Tăng Hộ nghe sư phụ nói “đập đâu không đập lại đập ngay vào đầu sư phụ”, chú mở mắt ra hoảng hồn vì nãy giờ toàn bộ đều do chú tưởng tượng. Còn đang làm chú tiểu đứng quạt cho sư phụ mà tưởng tượng ra cảnh có vợ hai con, cho nên cái tưởng này rất kinh khủng.

Tình cảm gia đình cũng vậy, vào chùa tu mà cứ nhớ đến hình bóng của cha mẹ, anh chị em, ông bà; cứ tưởng nhớ về những cảm giác thân thương của gia đình, như vậy thì rất dễ bị những bóng hình trong tâm dẫn trở về cuộc sống thế tục, không tu học được. Hoặc có những chuyện vô cùng đơn giản như mình chào người đó nhưng họ đang bận suy nghĩ, không thấy mình nên không đáp lại, thế là về nhà mình tưởng họ khinh khi mình, mình chào mà không thèm nhìn, vậy là phiền não sanh khởi chỉ vì những chuyện rất nhỏ. Nếu hiểu rằng, do ta nằm ngoài tầm mắt nên họ không thấy để chào lại thì mọi chuyện sẽ rất nhẹ nhàng. Tuy nhiên mình lại không thấu hiểu, không cảm thông rồi suy diễn, tưởng tượng ra đủ chuyện nhưng cuối cùng tất cả chỉ là trò ảo thuật của tâm thức; chỉ tưởng tượng một lúc là câu chuyện đi xa khỏi sự thật.

Bản chất của các tưởng là đổi thay, khổ đau, phải chịu sự biến đổi và tan hoại. Chẳng hạn, trước khi trở về thăm chùa cũ thì mình tưởng tượng ra cảnh vật, con người vẫn như cũ, rất dễ thương, rất hiền hòa; nhưng thực tế thì không hề giống với những gì mình đã tưởng, tất cả đều thay đổi, không còn ai ngọt ngào thân thiện, tất cả đều xa mặt cách lòng, cảnh vật đổi thay, dần dần đi đến hoại diệt, tan rã. Tất cả pháp luôn luôn dịch chuyển, thiên lưu chứ không đứng một chỗ cho nên không có gì thường còn. Nếu tưởng rằng có gì đó luôn vững chắc, yên ổn thì không đúng pháp, bởi lẽ, bất cứ lúc nào, mình cũng có thể bị thiêu cháy, hoặc bị động đất chôn vùi. Không ai có thể tưởng tượng được những cơn sóng thần khủng khiếp xảy ra ở Nhật Bản đã cuốn trôi làng mạc, nhà cửa, xe cộ… đó là sự biến hoại của các pháp tứ đại.

Cần phải quán chiếu tất cả các tưởng là vô thường, trống rỗng, trống không. Bằng không, những hình bóng đó sẽ quấy phá, dẫn dắt, dụ dỗ khiến mình không tu tập được. Dù bên ngoài đang ngồi thiền yên tĩnh nhưng những hình bóng bên trong vẫn đang hoạt động không ngừng. Cho nên, đừng tưởng ngồi im là đã tốt, quan trọng là phải xem thọ, tưởng, hành bên trong tâm đang vận hành theo chiều hướng nào. Nếu cứ vui thích, khoan khoái, tham đắm trong các tưởng thì sẽ mãi sống với ảo tưởng, sống với điên đảo tưởng chứ không sống với sự thật. Sự thật là những gì đang diễn ra trong giây phút hiện tại, khi làm gì thì cần tập trung tâm ý vào chỗ đó, nếu tưởng xuất hiện thì phải nhận diện nó cần thiết hay không cần thiết, nên hay không nên, cần nhìn ra các tưởng khi nó sanh khởi, an trú, vận hành, xâm chiếm, áp đảo trong thân tâm của mình.

Vì vậy, cần phải quán chiếu, suy tư, nghiền ngẫm về sự vô thường, đau khổ, biến hoại của tất cả ngũ uẩn này. Tất cả những hình ảnh trong tâm, dù là hình ảnh gì cũng chỉ là ảo ảnh. Cũng như người Nhật làm tượng Phật có râu, người Thái làm tượng Phật đội mão, người Hoa làm ông Phật tròn trịa… mỗi nước làm tượng Phật mỗi kiểu khác nhau, tất cả cũng chỉ là tưởng tượng. Vì vậy, nếu chỉ căn cứ trên hình tướng rồi cho đó là Phật thì không phải vậy, đó chỉ là sắc pháp biểu trưng để chúng ta nhớ lại hạnh đức, trí đức của Phật, từ đó nỗ lực tu tập, thành tựu được Thánh trí tuệ của Ngài truyền trao.

Sự xuất ly

Sự xuất ly của các tưởng là sự nhiếp phục dục và tham, sự đoạn tận dục và tham đối với tất cả các tưởng.

Làm thể nào để phá được những hình bóng trong tâm? Nhiều lúc không có ai xung quanh, chúng ta chỉ ở một mình nhưng vẫn khổ đau vì những hình ảnh. Lúc đầu có nói những hình ảnh tham, dục, ái khiến mình dễ chịu nhưng phân tích sâu hơn thì cuối cùng hình ảnh đó cũng làm mình bức xúc, nhiệt não. Nếu chỉ nói phớt phớt bên ngoài thì những hình ảnh khi nghĩ về người thương, người yêu, những người có luyến ái với nhau thì thấy dễ chịu, nhưng nhìn sâu sắc hơn thì sau cảm giác dễ chịu là sự khó chịu, lưu luyến, ràng buộc, trói trăn, mong muốn được tiếp xúc, được thỏa mãn những cảm giác. Bên trong khi đó là sự bức xúc, đòi hỏi, thiếu thốn, khát khao, nô lệ cho dục, tham, ái chứ không hề có hạnh phúc, an lạc, vui sướng gì cả.

Đức Phật có dạy quán lạc thọ là khổ, quán khổ thọ là mũi tên và quán bất khổ bất lạc thọ là vô thường. Cho nên, đối với hình ảnh dễ chịu thì phải quán đó là khổ đau bởi vì nó ám ảnh trong tâm. Đối với hình ảnh khó chịu thì phải quán đó là mũi tên ngấm độc, tẩm độc và giải phá nó bằng tâm từ. Đối với hình ảnh thường thường, không khó chịu không dễ chịu thì phải biết đó là vô thường, hư ảo, vọng tưởng, hư tưởng, ảo tưởng, chẳng là gì hết, chúng là pháp duyên sanh, pháp khổ đau, pháp biến đổi, hoại diệt, chỉ ảo ảnh sương khói.

Chúng ta phải trực diện, đối mặt, giáp mặt trực chỉ đối với tâm mình. Khi đó ta sẽ thấy cả một sự chua cay, cay đắng và cần phải một sự tinh cần, tinh tấn trong sự tu tập này. Những hình ảnh rất ác độc, chúng ám ảnh trong tâm không ngừng nghỉ. Cái tô, cái chén, cái ly bên ngoài thì còn có thể đập vỡ được, còn hình bóng trong tâm thì không thể nào đập cho nó vỡ được. Thế nên, nếu không có Thánh Pháp, không cắt đi duyên xúc, không dùng chánh tư duy, chánh trí để tác ý đánh đuổi hình bóng ra khỏi tâm thì đập hoài nó cũng không bể, đuổi hoài nó cũng chẳng đi.

Cho nên, bên ngoài chúng ta cắt bớt những duyên xúc, tránh những sắc, thanh, hương, vị, xúc làm sanh khởi những hình bóng tham muốn, nóng giận. Bên trong tu tập sự thấy đúng về các pháp tưởng, tức là thấy những hình bóng trong tâm chỉ là ảo tưởng, vọng tưởng, hư tưởng, là pháp vô thường, pháp duyên sanh. Nếu bị ràng buộc vào những hình bóng đó thì chúng ta sẽ đau khổ, sầu bi, lo lắng, bất an, sợ hãi, già bệnh chết triền miên ở trong sanh tử, khổ đau. Luôn nhận diện rõ các hình bóng sanh khởi trong tâm và quán chiếu về sự nguy hại của các tưởng. Từ đó chúng ta mới có thể giải phá các tưởng ác, bất thiện pháp; các tưởng về dục, tham, ái; các tưởng về sân hận, tức giận, hơn thua; các tưởng về vô minh, si ám, bản ngã.

Chúng ta phải biết những hình bóng đó chỉ là ảo ảnh, vọng tưởng, hư tưởng, huyễn tưởng, ảo tưởng, giả tưởng, điên đảo tưởng, vô minh tưởng. Phải dùng trí tuệ năm uẩn để nhận diện, chiếu phá, chỉ thẳng mặt chúng: “Hình bóng trong tâm là tưởng. Ngươi chỉ là tưởng thôi, hãy tan biến hoàn toàn khỏi tâm ta đi. Mày là ma trơi, quỷ ám, tan biến hoàn toàn khỏi tâm tao đi, đi chỗ khác chơi. Hãy tan biến hoàn toàn khỏi tâm ta đi. Ngươi phải diệt tận, thành mây, khói, hư không đi, đừng có ở trong đây, để cho ta tu”.

Trong kinh Nikāya, tất cả pháp hành đều trong chữ “Như lý tác ý” – tác động tâm ý đúng như chân lý, đây là phương pháp tự mình phải dạy dỗ, giáo dục, dẫn dắt, định hướng cho tâm, chứ không phải nó khởi lên là ta đi theo. Nếu thấy ác, bất thiện pháp là phải xử lý, triệt hạ, diệt tận ngay tại chỗ. Đức Phật dùng hình ảnh giống như chặt cây tala không cho mọc trở lại trong tương lai. Phải chặt cành, bẻ lá, đào bới gốc rễ, bằm ra thành từng miếng nhỏ; xong rồi đốt thành tro bụi, đổ xuống biển xuống sông, cho gió mười phương tám hướng thổi bay trở thành hư không, cho nó không bao giờ sanh trở lại trong tương lai được nữa. Pháp hành của Đức Phật mạnh mẽ như vậy nên mới có thể đi đến chỗ diệt tận hoàn toàn tham, sân, si, vô minh và bản ngã. Khi những cấu nhiễm đó không còn mầm mống để sanh trở lại trong tương lai thì người tu mới đạt tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Còn nếu những hình bóng sanh khởi mà mình cứ để yên, không xử lý, vài ngày sau các tưởng đó lại khởi lên, không đoạn diệt được.

Khi thấy sư đệ mới vào tu mặt mày cứ bí xị, mình hỏi tại sao thì sư đệ nói là tuy vào chùa tu rồi nhưng vẫn nhớ gia đình, nhớ nhà con còn nhỏ, vợ đau, con mới vài tuổi mà họ đã bỏ đi tu. Điều này có nghĩa, dù đi tu rồi nhưng vẫn bị ám ảnh bởi những hình bóng, cảm giác, suy nghĩ về gia đình, cứ nhớ thương nên mặt không tươi nổi, lúc nào cũng bí xị, những hình bóng về gia đình cứ ám ảnh trong tâm. Sau đó, chúng ta đưa ra lời khuyên: “Thôi, đệ đừng nhớ nữa, giờ mình đã quyết chí đi tu, quyết chí từ bỏ tất cả. Người ngoài đời mình còn bỏ được, chẳng lẽ đối với hình bóng, ảo ảnh trong tâm bỏ không được sao? Tại sao thân tướng, da thịt, người thật mà bỏ được, bây giờ cái ảo ảnh, hư huyễn trong mà không bỏ được hay sao?”. Sư đệ nghe sư huynh nói vậy nên khoát nhiên đại ngộ, nhất ngôn liễu ngộ và vỡ lẽ ra rằng, đến con người bằng da, bằng xương, bằng thịt mà còn bỏ được, chẳng lẽ lại không bỏ được những bóng hình giả dối trong tâm? Tất cả những hình bóng, nghĩ, tưởng đó đều là vọng tưởng, ảo tưởng, điên đảo tưởng không bỏ hay sao! Thấy vậy nên vị này quyết định từ bỏ và diệt tận những hình bóng đó và làm cho chúng tan biến hoàn toàn thành mây, thành khói, thành hư không, từ đó có được nội tâm hoàn toàn an tịnh, lắng dịu, nhẹ nhàng để tu học. Sự tác ý đó sẽ làm cho các hình bóng tan rã, tan vỡ, tan nát, tan vụn, tan hoang.

Nếu không chủ động tác động, tẩy sạch những hình bóng bất thiện sanh khởi mà cứ để yên cho nó tăng trưởng thì tâm mình không thể trong sạch. Ví dụ, mình đang ở trong bóng tối, nếu cứ ngồi im, không làm gì cả thì bóng tối không thể tan biến; thay vào đó ta phải mở đèn, đốt lửa lên thì ánh sáng mới tràn vào. Cũng vậy, không phải tu là thụ động, ngồi im là thành tựu, mà phải dùng những phương pháp đối trị phù hợp để diệt tận những ảo ảnh trong tâm. Nếu thấy hình bóng tự thân dương dương tự đắc, ngẩng mặt hơn thua thì chúng ta tưởng đến hình bóng mình lạy diệt ngã dưới chân người. Khi manh nha một hình bóng về dục là chúng ta phải đánh tới tấp, tả tơi, tan tành; ngay lập tức phải lấy hình ảnh bộ xương, quán ba mươi hai thể trược, dùng hình ảnh những con giòi trong quán bất tịnh để chiếu phá. Mỗi khi hình bóng dục, tham, ái, sân, si xuất hiện thì phải đuổi nó giống như đuổi tà: “Đánh là phải thắng – Giết là phải chết – Đoạn là phải tận”.

---

Trong bài kinh “Tưởng 1”, Đức Thế Tôn có dạy năm cách tu tập tưởng đưa đến bất tử: Có năm tưởng này, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến quả lớn, lợi ích lớn, thể nhập vào bất tử, đưa đến cứu cánh bất tử. Thế nào là năm?

Tưởng bất tịnh

Thông thường, những hình bóng về thân này trong tâm ta luôn là sạch sẽ, đẹp đẽ nên mình hoan hỷ, đắm trước, dính chặt trong đó, cho nó là tôi, là của tôi rồi trao chuốt, o bế nó suốt cả cuộc đời, chính điều này làm cho mình khổ. Việc tu tập tưởng bất tịnh là sự vạch trần, phơi bày những gì bị che kín, đem đèn sáng vào bóng tối để thấy được bản chất bất tịnh của thể xác này, bên trong chỉ toàn máu mỡ, gân, xương nhưng vì lớp da trơn láng bao phủ bên ngoài nên che lấp toàn bộ sự thật bất tịnh đó. Vì vậy, Đức Phật dạy phải an trú trong tưởng bất tịnh, thường quán chiếu những hình ảnh bất tịnh, hôi dơ của hình hài này, để phá trừ những nghĩ tưởng cho là tịnh, là đẹp, là sạch, nhờ vậy phá trừ được sự vô minh và lòng tham ái đối với những hình bóng về tự thân.

Tưởng chết,

Hãy khéo léo đặt tâm vào sự quán tưởng mình sẽ chết, thường trực ghi nhớ niệm tử, nếu quên điều này là chúng ta sẽ sống lãng phí, vô tư, hoang phí, không có giá trị. Có vô số cái chết đến bất ngờ không ai có thể lường trước được, vì vậy hãy thường xuyên tác ý, quán tưởng hình ảnh mình chết vì nhiều lí do khác nhau như ngộ độc thức ăn, đi tắm bị đột quỵ, đứng ở trên các đồi cao tạo dáng chụp ảnh rồi trượt chân té chết, hoặc bị tai nạn giao thông, tai nạn hàng không, tai nạn nghề nghiệp… Người thường nhớ về cái chết sẽ đạt đến chỗ không bao giờ chết, người nào nghĩ mình sống hoài thì người đó chết dài dài, vì thế, những ai nhớ mình sẽ chết mới có khả năng thể nhập vào chỗ bất tử. Đồng thời chúng ta phải biết trân quý những phút giây còn được sống, vì vậy hãy nỗ lực hết mình vào học pháp và hành pháp. Chúng ta không còn nhiều thời gian nữa, cái chết luôn cận kề, bất cứ lúc nào tấm thân này cũng có thể ngã xuống, không ngồi dậy nữa.

Tưởng nguy hại

Tất cả các pháp đều sẽ biến đổi, hoại diệt, không có gì là bền chắc: sanh ra rồi chết đi, vui rồi buồn, thành rồi hoại, được rồi mất, thương rồi ghét…Đằng sau những những dục, tham, ái là những sự nguy hại không lường, vì bản chất của đời sống này vốn dĩ là vô thường và đau khổ. Thế giới này tràn đầy những hiểm nguy của bệnh tật, chết chóc, thiên tai, dịch bệnh, không hề an ổn. Tấm thân này rồi sẽ lụng tàn, không thể đổi khác, vậy mà ta cứ nắm chặt vào những thứ cho là đẹp, là hay, là vui mà không thấy được sự nguy hại. Vì vậy, mỗi ngày chúng ta phải an trú vào những hình ảnh của vô thường, khổ đau, hiểm nguy, tai họa, quán chiếu sự bất an, mỏng manh của kiếp sống này. Không được thụ động, biếng nhác, thả lỏng các căn, buông lung phóng dật nữa, mà phải chú tâm, tinh tấn tu hành.

Tưởng ghê tởm các món ăn

“Do các thức ăn tập khởi nên sắc tập khởi. Do các thức ăn đoạn diệt nên sắc đoạn diệt” (kinh Thủ Chuyển). Nếu chúng ta còn ưa thích, còn khoan khoái nặng nề trong món ăn thì không ra khỏi những đời sống ngũ uẩn, dòng sanh tử còn tiếp nối, sanh trở lại để tìm kiếm món ăn. Trong Tương Ưng Bộ tập II, bài kinh “Thịt Đứa Con”, Đức Phật đưa ra hình ảnh có hai vợ chồng cùng một đứa con đi qua vùng hoang vu, đồ ăn cạn kiệt, không còn lương thực. Thế là họ quyết định giết chết đứa con duy nhất của mình để duy trì mạng sống, vượt qua vùng đất hoang vu đó. Đức Phật dạy chư Tỳ-kheo khi ăn phải quán tưởng như vậy để sanh khởi sự nhàm chán đối với các món ăn, thấy rằng ăn không phải để tham đắm, ăn không phải để vui chơi. Khi ăn, nhờ an trú trong tưởng này, ta sẽ dần dần diệt tận tâm ái đối với thức ăn; ngược lại, nếu cứ tham ái đối với thức ăn thì không thể giải thoát khỏi ngũ uẩn.

Tưởng không có hân hoan đối với tất cả thế giới.

Tu tập tưởng không hoan hỷ với tất cả sự lòe loẹt của thế giới, tâm luôn an trú trong hình ảnh tất cả chỉ là một đống đất, nước, gió, lửa. Thế giới này giống như lâu đài xây trên cát, cũng chẳng khác gì nhà chòi của những đứa trẻ. Đừng luyến ái căn nhà của mình, đừng luyến ái với hoàn cảnh xung quanh, không hoan hỷ với tất cả thế giới. Vì những thứ huy hoàng tráng lệ đó là sào huyệt của tham sân si, là căn cứ địa của tham dục, tranh đấu, chiến tranh, giết hại, mưu mô. Càng đẹp đẽ chừng nào, càng to lớn chừng nào thì càng đấu tranh mãnh liệt chừng đó, càng nhiều dục vọng, đau khổ, nước mắt đầy mặt chừng đó. Tu tập tưởng nhàm chán với tất cả thế giới để đi đến đoạn tận các lậu hoặc, chấm dứt khổ đau.

Năm tưởng này, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến kết quả lớn, lợi ích lớn, thể nhập vào bất tử, đưa đến cứu cánh bất tử.

(Tăng Chi Bộ Kinh II, Chương Năm Pháp, VII. Phẩm Tưởng, bài kinh Các Tưởng 1)

Ngoài ra, trong Tương Ưng Bộ Kinh V, phần Bộ Xương, Đức Thế Tôn có dạy:“Tu tập cốt tưởng, này các Tỷ-kheo, làm cho sung mãn, được quả lớn, được lợi ích lớn”. Nghĩa là có một pháp môn đem lại lợi ích, đem lại an lạc, đem lại hạnh phúc lớn, quả báo lớn, công đức lớn, đó là cốt tưởng. Quý vị hãy nhớ rằng, không phải đợi chết mới chúng ta mới trở thành bộ xương, mà tất cả chúng ta là những bộ xương đang di động. Vì vậy, bộ xương này đừng giận bộ xương kia, phải biết tha thứ cho bộ xương kia. Các bộ xương hãy hoan hỷ, hòa ái, hòa kính với nhau để cùng đi đến chỗ hoàn toàn giải thoát, giác ngộ.

Khi đến thăm Thiền viện Mahasi nổi tiếng của Myanmar, Minh Thành thấy treo ngay trước cửa thiền viện là một bộ xương của đệ nhất Hoa hậu Myanmar. Cô này phát nguyện cúng dường bộ xương của mình để mọi người thấy người thấy vẻ đẹp yêu kiều ngày xưa được cả nước tung hô, bây giờ chỉ còn là một bộ xương khô, từ đó giúp mọi người giác ngộ, thức tỉnh. Đây là pháp tu được Đức Phật gọi là cốt tưởng, tức là sự quán chiếu về bộ xương.

---

Điều quan trọng hơn hết cần nhớ là hình bóng sâu sắc nhất, nặng nề nhất, ám ảnh nhất trong tất cả những hình bóng là hình bóng về tự thân, tức là thân kiến – kiến chấp về thân. Chúng ta phải cố gắng tu tập để phá vỡ, phá tung, phá nát hình bóng của thân kiến: "Mày phải chết, hình bóng này mày phải tan biến khỏi tâm ta một cách hoàn toàn." Làm cho nó tan sạch thành mây, thành khói, thành hư không. "Hỡi hình bóng ác độc này, mày phải chết, mày phải tan nát thì trí huệ của ta mới sống được." Thân kiến này phải chết để Thánh trí mới hiển lộ được. Ngày nào mà trong lòng còn hình bóng của vô thường, ảo ảnh này thì ngày đó còn sầu, bi, khổ, còn dục, ái, còn sân hận, còn tôi ta, còn hơn thưa, còn đấu đá, đánh đấm, giết hại.

Hãy quán chiếu cho thật sâu sắc để phá tan hình ảnh về thân kiến này. Đừng bao giờ để hình ảnh của hình hài, thân xác này trong tâm thêm nữa. Không có hình bóng nào nào là tôi, là của tôi, tất cả đều trống rỗng, trống không, trống trơn. Hình bóng ảo ảnh, ảo tưởng về một cái tự ngã là kẻ giết người, làm cho mình luân hồi đời đời kiếp kiếp.

Hãy lưu giữ hình bóng của bộ xương, của "Ba Mươi Hai Thể Trược", của một đống thịt bầy nhầy gan ruột, của một tấm thân giòi ăn phân hủy thối tha, bẩn thỉu, nhầy nhụa những con giòi. Hãy dùng những hình bóng đó để phá tan những hình bóng ảo tưởng về tự ngã. Đánh tan nó ra, đánh cho nát ra, đánh cho nó vỡ thân kiến này để có thể nhẹ nhàng thể nhập vào dòng Thánh trí tuệ.

Với sự tu tập liên tục, quán chiếu sâu sắc để giải phá, phá vỡ hình bóng tự thân, kiến chấp về thân, thân kiến thì đến một lúc trong tâm không còn hình bóng nào có mặt, tất cả các tưởng an tịnh, lắng dịu, không còn điều gì quấy rối. Tức là khi đó có một nội tâm hoàn toàn tịch tịnh, lặng lẽ, trong sạch, không còn bị bất cứ hình bóng nào tác loạn, xâm phạm, chế ngự, ám ảnh. Nội tâm hoàn toàn sạch sẽ hết tất cả mọi hình bóng, tâm được tịch tịnh, lặng lẽ, thanh tịnh, trong sáng, trong sạch, trong veo, trong trẻo, như vậy, sự thể nhập của Phạm hạnh này như là các tưởng đoạn diệt. Tâm khi đó được lặng lẽ, trong veo, trong suốt, trong ngần, tâm lặng yên bất động. Nội tâm như vậy là một nội tâm tuyệt vời!

Cuối cùng, Minh Thành xin kết thức bằng câu: phàm tất cả các hình bóng đều nằm trong đau khổ, biến hoại, sầu bi, bất an, lo lắng, sợ hãi và khổ đau. Vì vậy, chúng ta không nên lưu giữ bất cứ một hình bóng nào, nếu nắm giữ những hình bóng đó thì ta sẽ đau khổ, sầu bi và ưu não. Khi đó, chúng ta sẽ có được nội tâm như mặt gương trong sáng, tròn đầy, không lưu giữ bất cứ một hình bóng nào.

Thánh Trí Về Hành Uẩn

Đã từ rất lâu chúng ta vô minh đối với những lời nói lầm thầm trong tâm và bị nó chi phối, áp đảo, làm chủ, sai khiến, mà không biết rằng đó chỉ là tổ hợp của suy nghĩ, gọi là Hành thủ uẩn. Vì vô minh che đậy và tham ái trói buộc, chúng ta cho rằng tất cả những suy nghĩ là tôi, là của tôi, thế nhưng tại sao suy nghĩ có mặt, tại sao suy nghĩ chấm dứt, thế nào là vị ngọt của suy nghĩ, thế nào là nguy hiểm và tác hại của suy nghĩ, làm sao để đi ra khỏi tất cả suy nghĩ đó thì chúng ta hoàn toàn không biết. Vì vậy, sau đây là phần tóm thâu trí tuệ về Hành uẩn, được đúc kết từ tạng kinh Nikāya, người tu cần để tâm chiêm nghiệm và hành trì thật nhiều.

Bảy trí về Hành:

Hành sanh: Do Xúc tập khởi nên Hành tập khởi.

Hành diệt: Do Xúc đoạn diệt nên Hành đoạn diệt.

Hành diệt đạo: Phương pháp tu tập đưa đến Hành đoạn diệt là Phương pháp Tám đúng.

Vị ngọt của các Hành: Do duyên Hành khởi lên lạc hỷ gì, lạc hỷ này là vị ngọt của các Hành.

Sự nguy hại của các Hành: Sự vô thường, khổ, chịu sự biến hoại của Hành, đó là sự nguy hại của các Hành.

Sự xuất ly của các Hành: Sự nhiếp phục dục và tham, sự đoạn tận dục và tham đối với các Hành. Đây là sự xuất ly của các Hành.

Sáu hành:

Sắc tư: Suy nghĩ, suy tư về người, cảnh, vật, tứ đại, là sắc tư.

Thanh tư: Suy nghĩ, suy tư về lời nói, âm thanh, tiếng động, tiếng ồn

Hương tư: Suy nghĩ, suy tư về mùi thơm, mùi tanh, mùi hôi, mùi thối.

Vị tư: Suy nghĩ, suy tư về vị mặn, vị ngọt…

Xúc tư: Suy nghĩ, suy tư về sự đụng chạm, xúc chạm giữa thân này và người, vật, tứ đại bên ngoài.

Pháp tư: Suy nghĩ, suy tư về những thọ, tưởng, hành trong tâm.

Định nghĩa

Này các Tỷ-kheo, thế nào gọi là hành?

Làm cho hiện hành (pháp) hữu vi nên gọi là hành. Làm cho hiện hành (pháp) hữu vi gì? Làm cho hiện hành sắc với sắc tánh, làm cho hiện hành thọ với thọ tánh, làm cho hiện hành tưởng với tưởng tánh, làm cho hiện hành các hành với hành tánh, làm cho hiện hành thức với thức tánh. Làm cho hiện hành (pháp) hữu vi, này các Tỷ-kheo, nên gọi là các hành.

(Tương Ưng Bộ Kinh III, Phần 22b - B. Năm Mươi Kinh Ở Giữa III. Phẩm Những Gì Được Ăn, bài kinh Đáng Được Ăn)

Câu kinh này có nghĩa như sau: Hành là những tư duy, suy nghĩ đã làm cho sanh khởi, làm cho hiện hành ra sắc, thọ, tưởng, hành, thức với bản tánh là duyên sanh và vô thường, hoại diệt. Hữu là có, vi là thấy. Hữu vi là những pháp có thể thấy biết và có thể trình bày rõ sự sanh khởi, sự an trú và sự hoại diệt của chúng. Khi nói pháp hữu vi là nói về năm uẩn. Ngũ uẩn là những pháp có thể thấy biết và có thể trình bày rõ sự sanh khởi, sự an trú và sự hoại diệt của nó. (trích Tóm Tắt Năm Uẩn)

Làm cho hiện hành sắc với tính chất của sắc; làm cho hiện hành thọ với tính chất của thọ; làm cho hiện hành tưởng với tính chất của tưởng; làm cho hiện hành các hành với tính chất của hành; làm cho hiện hành thức với tính chất của thức nên được gọi là hành. “Hữu vi” nghĩa là tất cả các pháp được làm ra, tạo ra đều nằm trong sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Những sắc, thọ, tưởng, hành, thức được biểu hiện ra, được vận hành ra, được trình bày ra thì được gọi là hiện hành. Đức Phật đã tuyên bố:“Tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi”, nghĩa là tất cả mọi sự vật, mọi việc trên thế gian này do sự suy nghĩ của mình mà ra, từ suy nghĩ mới sanh khởi tất cả các pháp. Như vậy làm hiện hành các pháp hữu vi nên gọi là hành.

Ví dụ, khi ăn cơm xong, đầu bếp hỏi mình “cơm có ngon không”, mình trả lời “nấu ngon lắm”, chính câu “nấu ngon lắm” đó làm hiện hành cảm thọ, cảm giác vui sướng khi ăn ngon miệng. Khi nói đồ ăn ngon thì hình bóng của những món ăn, như canh chua, đậu hũ, đồ kho... hiện ra, đó chính là tưởng. Cho nên, chỉ một câu nói đơn giản nhưng nó tạo thành những thọ, tưởng, hành, thức và câu nói đó gọi là khẩu hành; hoặc nếu nó còn nằm trong suy nghĩ thì gọi là ý hành.

Có một thầy tri khố đi chợ mua đồ, khi mua rau gặp cô bán hàng mặt như hoa, da như phấn, nở nụ cười như sen hồng nở, lúc về chùa thầy cứ im lặng, không nói gì cả mà mặt mũi cứ buồn. Tuần lễ sau có huynh đệ thân thiết hỏi xem thấy ấy có bệnh gì không mà mặt cứ buồn buồn. Sau khi hỏi ba bốn lần thì cuối cùng vị thầy này mới chịu nói là sau khi gặp cô bán hàng ở chợ thì trong tâm thầy rất khó chịu vì cứ bị ám ảnh bởi hình bóng của cô bán rau ngoài chợ. Chúng ta thấy rằng, nếu thầy này không nói câu đó ra thì người khác không biết nguyên nhân tại sao thầy ấy khó chịu, không vui. Cho nên, từ suy nghĩ bên trong mới phát ra lời nói tương ứng để làm sáng tỏ các pháp, từ đó các pháp mới hiện hành, biểu hiện, vận hành.

Như vậy, từ trong suy nghĩ có thể phát ra lời nói, nếu người này không nói ra thì không ai biết gì cả, còn nếu như nói: “Mấy nay tôi thấy mình tu tinh tấn lắm, tôi nhận diện được ngũ uẩn, thấy được tham, sân, si, vui quá, mừng quá” thì người ta mới biết mình tu như thế nào. Cho nên, cái hành này làm cho hiện hành các pháp hữu vi tức là biểu hiện ra ngũ uẩn đang vận hành như thế nào, tình trạng ra sao. Chính sự biểu hiện của những suy nghĩ, lời nói đó làm cho ngũ uẩn vận hành, các pháp sanh khởi và Đức Phật gọi là “làm hiện hành các pháp hữu vi nên gọi là hiện hành”.

Tóm lại, chữ hành này có nghĩa là những suy nghĩ, lời nói làm biểu hiện, vận hành ra ngũ uẩn. Khi nói ra thì người khác mới biết mình đang có cảm giác gì, nếu cứ im lặng thì người ta không thể biết được. Khi nói ra “tôi thích quá”, hoặc “tôi thấy bực mình ghê” thì người nghe mới biết mình đang có cảm thọ gì, đang suy nghĩ điều gì; không thôi người ta cứ nghĩ tưởng đủ thứ, không đúng với sự thật. Chính vì vậy, những suy nghĩ làm cho các pháp hiện hành; từ suy nghĩ phát ra lời nói, nhờ đó người khác mới biết được cảm giác, hình bóng, suy nghĩ, nhận thức của mình ra sao khi phát ra lời nói đó. Điều cần lưu ý là những suy nghĩ, tưởng tượng, lời nói này đều nằm trong năm uẩn, không thể ra khỏi năm uẩn.

Lưu ý, cần phân biệt được “hành” trong ngũ uẩn là chỉ cho những suy nghĩ, lời nói thầm trong tâm, đây còn được gọi là “ý hành”; lời nói phát ra là “khẩu hành”; thân làm ra hành động gọi là “thân hành”. Còn từ “các hành” tức là tất cả sự vật, hiện tượng trên thế gian này đều dịch chuyển, thiên lưu, vận hành, biến đổi.

Bên cạnh đó, chúng ta thấy rằng, trong sự vận hành của sắc, thọ, tưởng, hành, thức thì có chữ “tánh” đi theo sau: sắc với sắc tánh, thọ với thọ tánh, tưởng với tưởng tánh, các hành với hành tánh, thức với thức tánh. Câu kinh này là nhắc đến bản tánh của năm uẩn là vô thường, khổ não, trống không, vô ngã. Ví dụ đơn giản, hôm qua ta vừa nhìn thấy một người nọ giàu sang, phú quý, sống vui vẻ, hạnh phúc nhưng hôm nay nghe tin họ đã chết. Ví dụ này đã làm rõ đầy đủ ý nghĩa của câu “làm hiện hành sắc với sắc tánh”, cụ thể, người đó là sắc; còn sắc tánh là người này hôm qua còn sống bình thường nhưng hôm nay đã chết, tức là sắc này bị đổi thay, bị biến đổi vô thường, đó là tánh chất của ngũ uẩn.

Khi nói “bệnh rồi mới thấy thân thể này rất khó tu” là chúng ta thấy được tính chất bệnh tật, vô thường của thân này. Câu nói đó làm hiện hành ra các pháp, thân này là sắc, sắc này là biến động, bệnh hoạn, bất an; cảm giác trong khi bệnh khó chịu là thọ; những hình bóng trong tâm là tưởng. Qua câu nói đó mà thấy được thân xác này đầy rẫy bệnh tật, bất an, vô thường, không yên ổn mãi mà luôn biến đổi trong trạng thái bứt rứt, khổ thọ là làm hiện hành sắc với sắc tánh, thọ với thọ tánh, tưởng với tưởng tánh, hành với hành tánh, thức với thức tánh. Câu nói đó biểu hiện ra ngũ uẩn để người ta biết mình đang như thế nào, biết được tính chất của đời sống thân tâm ngũ uẩn này là bất an, là bệnh tật. Câu nói này xuất phát từ trong suy nghĩ, từ ý hành rồi phát ra khẩu hành.

Do xúc tập khởi nên hành tập khởi – Do xúc đoạn diệt nên hành tập đoạn diệt, sở dĩ có suy nghĩ là do tiếp xúc với sự vật, sự việc, con người, hình bóng, cảm giác đó; khi không còn tiếp xúc thì sẽ không còn suy nghĩ về những đối tượng đó nữa.

Vị ngọt, sự nguy hại và xuất ly

Do duyên Hành khởi lên lạc hỷ gì, lạc hỷ này là vị ngọt của các Hành.

Những suy nghĩ làm sanh khởi lên sự vui sướng, thích thú thì đó là vị ngọt của suy nghĩ. Chẳng hạn, suy nghĩ về những sắc pháp khả ái, khả ý, suy nghĩ về tương lai được giàu sang, sung sướng, hạnh phúc, suy nghĩ về địa vị, quyền hạn, suy nghĩ về những thứ tham ái, dục lạc trong sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp làm sanh khởi những cảm thọ khoan khoái, thích thú và ta đắm chìm trong đó, không muốn thoát ra, đó là vị ngọt của hành uẩn.

Sự vô thường, khổ, chịu sự biến hoại của Hành, đó là sự nguy hại của các Hành.

Bản chất của các pháp là biến đổi, vô thường, chịu sự biến hoại, nếu cứ đắm chìm, ảo tưởng, viễn vông trong những suy nghĩ không có thật, đến khi không đúng như mong muốn thì sẽ khổ đau, đó là tai hại của những dòng suy nghĩ. Đức Phật nói chúng sanh điên cuồng trong suy nghĩ, chết chìm trong tư tưởng, chính suy nghĩ hại mình chứ không ai khác hại mình. Tại sao mình nổi sân? Do cho rằng mình đúng, người kia sai, phải làm cho ra lẽ nên sân sanh khởi. Nếu lúc đó nhận diện được đây chỉ là hành uẩn, là pháp vô thường, biến hoại, không có gì đáng để cho mình hơn thua, bản ngã trong những ngũ uẩn đau khổ này thì mọi chuyện đã được bình yên. Cho nên, suy nghĩ đúng sẽ đưa đến chấm dứt suy nghĩ sai, còn suy nghĩ sai sẽ khiến ta tiếp tục sai lầm, không chấm dứt được

Sự nhiếp phục dục và tham, sự đoạn tận dục và tham đối với các Hành. Đây là sự xuất ly của các Hành.

Chúng ta không được lập tức chấp nhận bất cứ một suy nghĩ bất nào. Suy nghĩ nào sanh khởi lên tương ứng với pháp thì mới duy trì và phát huy; còn những suy nghĩ bất thiện khởi lên khiến ta thích thú, say mê, tham muốn, không liên hệ đến pháp thì phải chế ngự, nhiếp phục, đoạn tận, tẩy sạch; nhất quyết không để tiếp tục tăng trưởng những suy nghĩ về dục tham, sân hận, bản ngã, hơn thua. Đó là sự xuất ly của các hành. Vậy, cần lấy gì để diệt suy nghĩ? Đó chính là dùng suy nghĩ để diệt suy nghĩ, đây là chỗ sâu sắc của pháp hành, đây cũng là pháp hành thâm sâu trong kinh Nikāya.

Như lý tác ý

Đức Phật có dạy : “Tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi” (Tăng Chi Bộ Kinh IV, bài kinh Cội rễ của sự vật).

Như ý tác ý nghĩa là tác động tâm ý đúng như chân lý, đây là pháp hành cực kì quan trọng trong kinh tạng Nikāya, phần lớn pháp tu của Đức Phật sử dụng pháp hành này. Sự tác động tâm ý cũng chính là suy nghĩ đúng theo chân lý, mà suy nghĩ chính là hành, cho nên sự tu tập hành uẩn rất là quan trọng. Người tu phải biết cách tác ý đúng như chân lý bằng Chánh tư duy, Thánh tư duy một cách liên tục thì sự tu mới tiến bộ. Mặt khác, chúng ta thấy rằng, suy nghĩ đúng cũng được gọi là Thánh tư duy – suy nghĩ của bậc Thánh, cho nên bậc Thánh không phải là không có suy nghĩ, mà những suy nghĩ của các Ngài là những là suy nghĩ đúng với sự thật, đúng với trí tuệ để lìa tham, sân, si, vô minh, bản ngã.

Đức Thế Tôn vận chuyển bánh xe pháp trong suốt bốn mươi năm cũng chính bằng thân hành, khẩu hành, ý hành, đó là phương tiện để Ngài tuyên thuyết Chánh Pháp. Tất cả thân hành, khẩu hành, ý hành của Ngài đều là trí tuệ, không lẫn lộn vô minh, dục, tham, ái trong đó nên đã trở thành Thánh Pháp. Sự nhận diện ngũ uẩn của chúng ta giờ đây là đọc những lời nói trong tâm, đọc những suy nghĩ xem cái nào thiện thì giữ lại, bất thiện thì đánh phá và chuyển hướng những suy nghĩ đó. Vì thế, vai trò của Như lý tác ý trong đời tu rất quan trọng, tu mà không biết tác ý thì trí tuệ sẽ không sanh.

Trên đường tu rất cần dùng suy nghĩ để tu học và tư duy. Cũng như trước khi quyết định xuất gia, chúng ta phải suy nghĩ rất nhiều, chứ không phải tự nhiên xuống tóc. Ai ai cũng rất đắn đo, do dự; phải suy tư, phân tích, nghiền ngẫm về rất nhiều khía cạnh, góc độ; lo nghĩ cho cha mẹ, ông bà, thậm chí là vợ con… sau nhiều lần khó khăn quyết định thì mới chắc chắn con đường sẽ đi. Cho nên tu là không phải không suy nghĩ, mà tu là không suy nghĩ những điều sai quấy; thay vào đó phải suy nghĩ những cái đưa đến chân lý, đưa đến sự thật, đưa đến ly tham, nhàm chán, xuất ly, từ bỏ.

Các vị Hòa Thượng, Cao Tăng, Tôn Túc, Thánh Tăng đã để lại cho đời rất nhiều tác phẩm lớn, đó là tất cả những sự quán chiếu, như lý tác ý đạt được trong suốt cuộc đời tu của các Ngài. Nếu không có suy nghĩ của trí tuệ thì làm sao viết ra được những điều đó. Hơn nữa, những suy nghĩ đó căn cứ trên sự thật, trên Chánh Pháp, trên trí tuệ nên trở thành pháp ngữ, pháp bảo, thiền tạng. Còn nếu cứ suy nghĩ trong vô minh, trong si ám, có khi cùng nhau bàn luận về từ bi nhưng nói một lúc lại không kiểm soát được hành uẩn, lời nói trở thành sân si, bản ngã. Cho nên, sự tu tập Như lý tác ý là rất quan trọng.

---

Sử dụng Như lý tác ý trong việc tu học tức là dùng suy nghĩ để diệt suy nghĩ; dùng hành để phá hành; dùng hành uẩn để diệt hành uẩn giống như dùng độc trị độc. Cụ thể là dùng suy nghĩ bất tịnh, nhơ nhớp để dẹp bỏ suy nghĩ đẹp đẽ, ham muốn; dùng suy nghĩ vô thường để dẹp bỏ cái nhìn thường còn; dùng suy nghĩ thiện để đánh đuổi suy nghĩ bất thiện; dùng suy nghĩ trí tuệ đánh phá những suy nghĩ vô minh; dùng suy nghĩ hùng lực đánh phá những suy nghĩ nhu nhược. Khi nào còn một suy nghĩ cho rằng đây là đẹp, là hấp dẫn thì mình sẽ còn bị suy nghĩ đó trói cột, ràng buộc, khống chế, chinh phục và áp đảo. Chúng ta phải cố gắng tu tập thật nhiều để dùng những suy nghĩ của những bậc Thánh, bậc đại trí tuệ, bậc xuất trần thượng sĩ đánh phá những suy nghĩ nhu nhược, yếu hèn, hạ liệt, phàm phu, thấp kém.

Ví dụ, trong khi đang tập trung nghe pháp, học bài mà mình bị bệnh nên cứ ho không ngừng, khiến cảm thọ vô cùng khó chịu, mệt mỏi, không muốn học nữa; lúc đó phải khéo tác ý để nhiếp phục cảm thọ: "Thân này là ổ tật bệnh, là nơi chứa nhóm bệnh đau, bệnh khổ. Không có gì là tôi, là của tôi trong đây. Bệnh là lẽ dĩ nhiên, có gì đâu mà sân hận. Hãy cố mà tu để không phải đau khổ trong sanh, già, bệnh, chết như thế này thêm nữa". Khi tác ý như vậy thì cảm giác khó chịu kia sẽ tan biến, suy nghĩ khó chịu cũng không còn, đồng thời sanh khởi những suy nghĩ trí tuệ về sự nhàm chán thân này.

Sự tu này phải liên tục tác ý vì có tác ý thì trí huệ mới sanh. Giống như ở trong một ngôi nhà đầy rác, nếu ngồi yên, không dùng chổi quét thì không thể sạch được. Nhưng có chổi mà không quét thì không hết rác, hoặc quét qua loa cũng không sạch hết bụi bẩn, cho nên quét nhà có rất nhiều cấp độ, sự tác ý cũng vậy. Người chỉ quét qua loa bên ngoài, còn trong hốc kẹt, gián chết, chuột chết không đụng đến thì dù căn nhà được sạch sẽ nhưng mùi hôi vẫn còn. Cũng vậy, sự tác ý nếu không đúng mức, ngồi trong thiền đường thì tác ý, lúc trở ra ngoài không tác ý nữa thì ta sẽ trở lại vị trí của vô minh, tham ái, buông lung phóng dật, tu như vậy thì đến khi nào thành tựu?

---

Việc thấy được ngũ uẩn là hết sức quan trọng trong bước đầu tu tập, nhờ vậy, ta biết hành là hành, tức là suy nghĩ chỉ là suy nghĩ, suy nghĩ này không phải là mình. Bước thứ hai là phân loại suy nghĩ, Đức Phật dạy ngài La-hầu-la trước khi suy nghĩ phải suy xét là thiện hay bất thiện, đang suy nghĩ phải dò xét cẩn thận là thiện hay bất thiện, sau khi suy nghĩ cũng phải kiểm tra xem suy nghĩ này là thiện hay bất thiện, có lợi hay có hại. Trước khi nói, trong khi nói, sau khi nói, trước khi làm, trong khi làm và sau khi làm đều phải soi xét, dò xét, kiểm tra xem nó là thiện hay bất thiện, có lợi hay có hại, đó là sự chánh niệm và tỉnh giác trong các hành. Nhờ vậy, ta sẽ biết được trong tâm đang có những suy nghĩ lành mạnh hay là đang có những ung nhọt của của tham dục, sân hận, si mê, bản ngã để tìm phương pháp trị liệu.

Này Rahula, Ông nghĩ thế nào? Mục đích của cái gương là gì?

-- Bạch Thế Tôn, mục đích là để phản tỉnh.

-- Cũng vậy, này Rahula, sau khi phản tỉnh nhiều lần, hãy hành thân nghiệp. Sau khi phản tỉnh nhiều lần, hãy hành khẩu nghiệp. Sau khi phản tỉnh nhiều lần, hãy hành ý nghiệp.

(Trung Bộ Kinh II, 61. Kinh Giáo giới La-hầu-la ở rừng Ambala)

Còn mình nghĩ gì là làm đó, làm theo dục, theo tham, không biết hành uẩn đang điều khiển nên nhập cuộc với nó, như vậy là vô minh, không thấy sự vận hành, sanh khởi, chấm dứt của các suy nghĩ. Do không nhận diện được hành uẩn đang hoạt động nên mình càng không phân loại được suy nghĩ thiện hay bất thiện? Đã không phân loại được thì làm sao nhiếp phục, hơn nữa còn tạo nghiệp theo những ý nghĩ bất thiện.

Đức Phật phân Tà tư duy gồm có: Dục tư duy, Sân tư duy và Hại tư duy; đây là những suy nghĩ tham dục, tham muốn; suy nghĩ về sân giận; suy nghĩ muốn làm hại mình, hại người, hại cả hai. Còn những suy nghĩ lìa dục, suy nghĩ để không còn bực bội, suy nghĩ không còn hại ai thì gọi là Ly dục tư duy, Ly sân tư duy và Bất hại tư duy là Chánh tư duy. Nếu không tu tập Như lý tác ý nương theo Chánh tư duy thì những suy nghĩ tiêu cực của Tà tư duy sẽ ngấm vào tâm mình dần dần. Sau đó tạo thành khối u trong tâm mà ngay cả chính mình cũng không hay biết. Đến khi phát hiện, phát giác thì đã đến giai đoạn cuối. không thể cứu chữa được.

Tại sao chúng ta quán vô thường không thành công? Quán khổ nhưng chỉ thấy vui? Đó là vì mình không Như lý tác ý thường xuyên, miên mật. Ví dụ, khi đi ngang đám cưới, người phàm tình không biết tu tập chỉ thấy cổng hoa tinh xảo, áo dài khăn đóng, cô dâu chú rể, đàn hát vui tươi… thế là lạc thọ sanh khởi, dục, ái, tham có mặt. Còn người biết tu tập sẽ dùng tác ý về sự trói buộc, hệ lụy, khổ đau, phiền não trong đời sống gia đình để đánh đuổi những thọ, tưởng, hành của tham, dục, ái. Tác ý như vậy thường xuyên thì về sau nhìn vào đám cưới nào cũng không thấy vui trong đó, không sanh khởi cảm thọ lạc, suy nghĩ lạc và không có những hình bóng cho đó là vui sướng.

Đến chùa, nhìn thấy tượng Phật đẹp thì phải nghĩ đây cũng là tứ đại, quan trọng là sự tu tập của mình, không nên tham lam vào những hình sắc bên ngoài. Hoặc lâu lâu lên núi tu tập, nhìn thấy cây cảnh đẹp muốn xin đem về nhà trồng dù không thật sự cần thiết thì phải biết đó là tham ái, lúc đó phải tác ý: “Mình lên đây cầu Pháp hay cầu cây? Cầu đạo hay cầu cảnh?”.

Lúc tu học, người ta ngồi thiền hai tiếng là bình thường, còn mình ngồi mới nửa tiếng, bốn mươi phút đã nghĩ rằng: “Đau quá không ngồi thêm được nữa, xả thiền thôi”, rồi chiều theo suy nghĩ đó, không muốn cố gắng, tu như vậy làm sao tiến bộ? Nhiều vị tâm sự ngồi thiền đau quá nên đã tác ý: “Tao ngồi cho mày chết luôn” thì tự nhiên lát sau hết đau, an tịnh trở lại và ngồi thiền được tăng tiến. Người không chịu tác ý, đau một chút liền bỏ cuộc, một mặt là không có sự cầu tiếng trong tu học, sâu xa hơn là nuôi dưỡng tâm ái đối với thân này. Thế nên, chúng ta phải để ý tu tập trong suy nghĩ sẽ làm mình “xuất cách”, nghĩa là vượt khỏi cung cách bình thường, không còn là người tầm thường nữa, nếu không suốt đời cũng không có gì thay đổi.

---

Như vậy, khi nắm được phương pháp Như lý tác ý, chúng ta sẽ làm chủ được tâm, muốn tâm hoan hỷ thì có thể tác ý để vui liên tục; hoặc muốn khởi tâm từ là an trú vào tâm từ suốt cả tuần, lúc nào trong người cũng dào dạt tình thương, từ tâm. Muốn được như vậy thì phải thực tập rất nhiều; sự thực tập Tứ vô lượng tâm cũng đều từ sự tác ý.

Nhiều vị lúc đầu mới vào tu cũng rất nhiệt tâm nhưng ở lâu trong chùa thì dần đơ ra, lên ngồi thiền đều đều, thấy gì cũng bình thường, không có pháp hỷ, không có pháp lạc, không có thiền duyệt, trí tuệ không sanh, thiền định không thành tựu, không nếm được hương vị của ly dục, ly ác bất thiện pháp, chứng và trú sơ thiền. Do tu lâu mà không có pháp hỷ, pháp lạc, thiền duyệt nên lại đi tìm dục lạc với những sắc tướng bên ngoài, tìm niềm vui với những danh lợi của thế gian, không thấy được sự vi diệu trong Thánh pháp. Đó là do rơi vào bất khổ bất lạc thọ, cảm thọ trơ ra đối với pháp. Lúc đầu nghe pháp cũng thích thú nhưng nghe một thời gian thấy lạc lẽo, rơi vào trạng thái trơ trơ, không tiến bộ; những lúc đó cần Như lý tác ý làm cho mình hân hoan, phấn khởi, thích thú, nhiệt tâm đối với sự tu tập: “Thật hạnh phúc thay cho ta khi giờ đây được nếm hương vị của bất tử, rời xa những thứ tham ái, dục lạc tầm thường của thế gian, không còn bị sân hận, si mê làm chủ. Còn niềm vui nào bằng hàng ngày được sống trong Chánh Pháp, được gặp thầy lành bạn tốt, được tu học giáo pháp ly tham tối thượng, thù thắng này! Ta phải tinh cần, tinh tấn, nỗ lực hết mình trong sự tu học này, không còn mê ăn, không còn mê ngủ, không còn thích dạo chơi, đi du lịch nữa, mà chỉ thích được đi trong hoa viên của Thánh trí, Thánh tuệ, Thánh đạo, Thánh quả!”.

Hoặc nếu thấy mình dễ nổi nóng, dễ giận thì phải biết cách thực tập, tác ý làm sanh khởi tâm thương, tâm từ: “Thật là tội nghiệp cho ta, mình đáng tội nghiệp quá, mình bỏ cha bỏ mẹ để vào đây sân hận, mình bỏ bà con quyến thuộc để vào đây bực bội các bạn đồng tu. Mình thật là thấp hèn, đê tiện, ba mẹ tựa cửa chờ mong mà mình không chịu lo tu, mà cứ so đo với các bạn đồng Phạm hạnh. Ngươi là kẻ đáng thương nhất hành tinh này, tội nghiệp cho ta quá, tội nghiệp cho tâm sân si, ngu muội này quá. Thật là đau khổ khi có đời tu xuất gia như vậy”.

Như lý tác ý liên tục để làm sanh khởi một cảm thọ xót thương, ưu tư, đau khổ: “Mình đi tu mà không làm được một người tu thật sự, cứ chất chứa những cảm giác sân hận với các bạn đồng Phạm hạnh? Tại sao tu mà cứ bực bội, sân si, đây là những thứ cần tẩy sạch, diệt tận hoàn toàn, không cho nó lưu trú trong thân tâm mình. Nó là rắn độc, thiêu đốt thân tâm, không đáng để mình chất chứa, ta quyết định từ bỏ tất cả cảm thọ nóng bức, nhiệt não. Ngươi tan biến hoàn toàn khỏi tâm ta đi, thành mây, thành khói, thành hư không đi". Tác ý như vậy thì cảm thọ bực bội sẽ run sợ, lắng dịu xuống và tan ra từ từ, giống như viên thuốc sủi tan từ từ trong ly nước.

Trong tất cả pháp quán đều phải quán cho mình trước, mình được rồi mới quán cho người ta. Vì vậy, sau khi tác ý tự thương mình thì tác ý thương cho đối tượng mình đang sân hận. Bởi lẽ, họ cũng là kẻ đáng thương, họ cũng là nạn nhân của những cảm thọ sân hận, họ cũng là kẻ bị hại của những cảm giác thiêu đốt, họ cũng như mình là những kẻ đáng thương nhất hành tinh. Chúng ta cùng là nạn nhân với nhau thì sân hận để làm gì? Hãy hiểu nhau, cảm thông nhau, tha thứ cho nhau, lục hòa cộng trụ đồng tu.

Như vậy, sau khi thấy được những cảm giác, suy nghĩ, hình bóng khiến mình sân giận thì chúng ta phải tác động tâm ý, quán chiếu để tâm từ lan rộng ra, bao trùm cả người kia. Sau đó khi đã trải được tâm từ với đối tượng mà mình giận thì cảm thọ bực bội trong người sẽ lắng dịu, dễ chịu. Tiếp theo là mở rộng tâm từ đến tất cả bà con, cô bác, anh chị em xung quanh… vì họ cũng sân si, bản ngã, đau khổ giống như mình, giống như đối tượng sân hận của mình. Tất cả đều là nạn nhân của tham, sân, si; tất cả đều bị cơn giận đốt cháy, thiêu rụi, vô cùng đáng thương. Trải rộng tâm từ ra khắp hữu tình chúng sanh và làm cho tâm thương lan tỏa cùng khắp về phương trước mặt, phía sau, bề dọc, bề ngang, lan tỏa ra khắp mười phương, an trú trong tâm thương vô lượng.

Đó là thực tập Từ vô lượng tâm, quán tâm từ bằng cách Như lý tác ý. Lúc đó trong người mình sẽ sanh ra cảm xúc dào dạt, dễ chịu, nhuần thấm đến tất cả hữu tình vạn loại chúng sanh. Minh Thành đang nói nhưng trong người đang có cảm thọ dạt dào, ngọt ngào, sung mãn từ đỉnh đầu đến gót chân, mình trú trong cảm thọ đó, khi tu tập một thời gian thuần thục trong tâm từ thì bất cứ lúc nào mình muốn là trú luôn trong tâm từ, chừng nào muốn xả thì xả. Muốn được vậy thì phải thực tập kiên trì, bền chí chứ không phải một ngày một bữa là được. Thực tập tâm từ cho đến mức nước mắt đầy mặt, xót xa, đau đớn vì tâm đầy rẫy tham, sân, si, bản ngã của chính mình, sau đó mới thương chúng sanh, hữu tình vạn loại.

---

Nếu thấy mình còn nặng về dục thì phải liên tục tác ý, quán chiếu, nhắc nhở tâm mình trong cả đi, đứng, ngồi, nằm. Dành thời gian liệt kê ra những tội lỗi mà dục mang lại, trong kinh dùng từ là “quán nguy hại”của dục. Việc “quán” như vậy chính là Như lý tác ý, tức là khởi lên suy nghĩ; cho nên, quý vị đừng nghĩ thiền quán là cái gì xa xôi, phải tu thâm sâu lắm mới được, mà quán chỉ là sự tác ý nhắc nhở tâm vận hành theo chiều hướng đúng với trí tuệ.

Mỗi khi dục sanh khởi, nói với tâm rằng: “Nhìn bạn học của mày đi, nữ thì có bốn đứa con, hai đời chồng. Nam thì nằm một chỗ, vợ thì ốm yếu,, con thì bệnh đau. Cũng chỉ vì một chút dục, ái mà phải hệ lụy, trói cột, phải sầu, bi, ưu, não. Còn mình hạnh phúc quá vì mình đã thoát khỏi nó, mình may mắn quá khi được xuất gia, mình hân hạnh quá khi đi ra khỏi nhà lửa. Hiện tại mình đi một mình, ngồi một mình, đứng một mình trong tịnh thất, trong thiền tư, trong một đại chúng hiền thiện, trang nghiêm". Như lý tác ý càng mạnh chừng nào, càng sâu sắc chừng nào, càng đi vào nhiều góc độ, phương diện chừng nào thì trí tuệ có được càng mạnh chừng ấy; đó gọi là tuệ lực, sức mạnh của trí tuệ do Như lý tác ý. Chứ tu không phải ngồi im lặng, không sanh khởi điều gì, đó chỉ là một phương diện nhỏ của thiền chỉ, tức là khi tâm bị dao động quá thì làm cho tâm yên lặng nhưng khi đã yên lặng thì phải triển khai thiền quán, dùng Như lý tác ý, dùng Chánh tư duy để phá tà tư duy.

Nếu vị nào có đủ cơ duyên nhập thất, trong khoảng thời gian ấy nên chỉ lấy một định tướng là quán bất tịnh. Khi ngồi thiền, xả thiền hay đi kinh hành là lập tức tác ý: “Nhìn thân hôi thối bẩn thỉu này đi, đầy phân và nước tiểu. Hãy nhìn cho kĩ đi hỡi tâm ngu si, mê muội này”. Cứ tác ý như vậy liên tục thì dần dần tâm khát ái sẽ bị đánh vỡ; những ái dục, dâm dục được giảm bớt; không còn mê muội chìm đắm trong cái dục hèn hạ của phàm phu. Nhờ sự tác động tâm ý nên các thọ, tưởng, hành sẽ vận hành theo pháp, thấy trong tâm hiện ra hình ảnh đống phân, nước tiểu cùng một đống bầy nhầy của gan, ruột văng ra khi bị tai nạn giao thông. Đó là thọ, tưởng, hành đang được an trú trong sự thật về sự nhơ nhớp, bẩn thỉu của hình hài này, đây chính là sự thật, là trí, là minh, là tuệ; cho nên gọi là Thánh tư duy, Chánh tư duy, là Như lý tác ý vì mình tác động tâm ý như vậy là đúng với sự thật.

Nếu không biết tác ý thì cả đời tu vẫn cứ đều đều, hai năm gặp lại cũng vậy, bốn năm gặp lại cũng vậy, mười năm gặp lại cũng vậy, không thay đổi gì cả. Người này không tăng thượng giới học, không tăng thượng tâm học, không tăng thượng tuệ học, không tăng thượng giải thoát uẩn, không tăng thượng giải thoát tri kiến uẩn, cứ dậm chân tại chỗ, nhiều khi thối đọa cũng không biết. Vì không nhìn thấy đạo lộ của bậc Thánh nên không thể bước chân lên đó được, người này cũng không biết mình sẽ đi đến đâu, không biết mình đi đúng hay đi sai đường, vị trí mình ở đâu trên bước đường cũng không biết. Tu như vậy gọi là tu trong vô minh, không thấy không biết về sự tu học của chính mình và kết cuộc đời tu ra sao cũng không thấy rõ.

Trên đây là Minh Thành chia sẻ phương pháp Như lý tác ý, cũng là cách huấn luyện hành uẩn, giúp chúng ta có thể vận dụng suy tư, tác ý đúng pháp trong sự tu tập này.

Thánh Trí Về Thức Uẩn

Bảy trí về Hành:

Thức sanh: Do Danh sắc tập khởi nên Thức tập khởi.

Thức diệt: Do Danh sắc đoạn diệt nên Thức đoạn diệt.

Thức diệt đạo: Phương pháp tu tập đưa đến Thức đoạn diệt là Phương pháp Tám đúng.

Vị ngọt của Thức: Do duyên Thức khởi lên lạc hỷ gì, lạc hỷ này là vị ngọt của Thức.

Sự nguy hại của Thức: Sự vô thường, khổ, chịu sự biến hoại của Thức, đó là sự nguy hại của Thức.

Sự xuất ly của Thức: Sự nhiếp phục dục và tham, sự đoạn tận dục và tham đối với Thức, đó là sự xuất ly của Thức.

- Danh sắc: Thọ, tưởng, tư, xúc, tác ý là Danh. Tứ đại và sắc do tứ đại tạo thành, đây gọi là Sắc.

Định nghĩa

Kinh “Đáng Được Ăn”

Và này các Tỷ-kheo, thế nào gọi là thức?

Rõ biết, này các Tỷ-kheo, nên gọi là thức. Rõ biết gì? Rõ biết chua, rõ biết đắng, rõ biết cay, rõ biết ngọt, rõ biết chất kiềm... rõ biết không phải chất kiềm, rõ biết mặn, rõ biết không mặn. Rõ biết, này các Tỷ-kheo, nên gọi là thức.

(Tương Ưng Bộ kinh – tập III, Phần 22b - B. Năm Mươi Kinh Ở Giữa III. Phẩm Những Gì Được Ăn, kinh Đáng Được Ăn)

Qua đoạn kinh trên, Đức Phật đã khẳng định “rõ biết nên gọi là thức”. Sau đây là định nghĩa Sáu Thức:

- Thấy rõ, biết rõ người, cảnh, vật - Nhãn thức

- Nghe rõ, biết rõ lời nói, âm thanh - Nhĩ thức

-Rõ biết mùi hương thơm, thối – Tỷ thức

-Rõ biết vị ngọt, chua, cay – Thiệt thức

- Rõ biết thân đụng chạm người, vật - Thân thức

- Rõ biết thọ, tưởng, hành - Ý thức".

Người tu nhận diện được sáu thức thì thân tâm sẽ sáng tỏ như chỉ như lòng bàn tay, tất cả các pháp trong ngoài sẽ hiện ra rõ ràng, minh bạch, không có gì trong thân tâm mà mình không biết.

Đầu tiên, thấy rõ, biết rõ người, cảnh, vật là nhãn thức. Ví dụ, khi mọi người đang ngồi nghe Minh Thành giảng pháp, nhìn lên pháp tòa sẽ nhìn thấy Minh Thành, sự rõ biết hình bóng Minh Thành và cảnh vật xung quanh gọi là nhãn thức.

Sự rõ biết âm thanh Minh Thành đang nói ra gọi là nhĩ thức.

Sự biết rõ mùi thơm hay thối là tỷ thức, chẳng hạn xung quanh mình có mùi của gỗ, mùi của bàn ghế, hoặc mùi thơm của thức ăn và mình rõ biết được những mùi đó, như vậy gọi là tỷ thức.

Sự rõ biết được các vị ngọt, đắng, chua, cay… ở trong lưỡi gọi là thiệt thức.

Tiếp theo là thân thức – rõ biết sự tiếp xúc với người, vật; tức là rõ biết được sự đụng chạm trên thân. Ví dụ, thân đang đụng chạm với quần áo; tay chân mông đùi đang tiếp xúc với bàn ghế; hai tay đang chắp lại, có sự xúc chạm với nhau; hoặc tay mình đụng phải tay của người khác… sự rõ biết chỗ đụng chạm, tiếp xúc đó được gọi là thân thức.

Cuối cùng, sự rõ biết thọ, tưởng, hành là ý thức. Ví dụ khi đang ngồi thiền thì hình bóng cha mẹ chúng ta hiện ra (tưởng); có một cảm giác thân thương, dễ chịu sanh khởi (thọ); có suy nghĩ “không biết giờ này cha mẹ có mạnh khoẻ không, không biết cha mẹ đang làm gì” (hành). Chúng ta biết rõ mình có suy nghĩ về cha mẹ, có cảm giác nhớ thương, có hình bóng cha mẹ hiện lên trong tâm. Sự rõ biết đó là ý thức, tức là rõ biết thọ, tưởng, hành.

Ví dụ khác, khi ngồi học bị đau chân, có cảm giác khó chịu, mình có suy nghĩ “lẹ lẹ hết giờ đi, ông gác thiền ngủ gục hay sao mà chưa chịu đánh chuông báo hết giờ”. Trong đó, suy nghĩ lầm thầm là hành; cảm giác tê chân mỏi lưng, cảm thấy khó chịu là khổ thọ; hình bóng ông gác thiền ngủ gục hiện lên là tưởng. Lúc đó, tâm thức nhận biết được mình đang có cảm giác khó chịu, đang có hình bóng, suy nghĩ như vậy khởi lên, sự rõ biết này là ý thức.

Hoặc khi đang ngồi thiền thì hình ảnh ngôi nhà ở quê hiện (tưởng); lúc đó mình có cảm giác gần gũi, ấm áp, dễ chịu (thọ); mình có suy nghĩ “lâu rồi chưa được về quê thăm nhà, không biết khi nào được về thăm” (hành). Sự rõ biết trong tâm đang có hình bóng căn nhà, có cảm giác dễ chịu và đang có suy nghĩ muốn về thăm nhà là ý thức.

Ở chùa, có những lúc mình bị bệnh, khi đó cảm thọ sanh khởi những cảm giác khó chịu (thọ); những hình bóng trong sinh hoạt của đại chúng bên ngoài hiện ra trong tâm (tưởng); mình có suy nghĩ “bệnh hoạn thật khó khăn cho sự tu học” (hành). Sự biết rõ đang có thọ, tưởng, hành đó được gọi là ý thức. Việc nhận diện ngũ uẩn trong lúc bệnh có hiệu quả rất trong sự tu học, vì đó là lúc chúng ta được phản tỉnh.

Nhờ có ý thức nên khi quay ngược vào trong tâm, chúng ta sẽ thấy được tâm này đang có hình bóng gì; đang có suy nghĩ gì; đang có cảm giác gì. Cần nhớ rằng, các thọ, tưởng, hành này ở trong tâm chính mình, chứ không phải mình đối diện với cảnh mới có thọ, tưởng, hành. Bởi lẽ, khi chúng ta ở một mình, thậm chí nhắm mắt lại thì mình vẫn phải tiếp xúc với cảm giác, hình bóng, suy nghĩ bên trong. Đây là điểm quan trọng trong sự tu. Cho nên, không phải mình đóng cửa phòng lại tu học là tránh được hết duyên xúc, vì khi đó chỉ là không có nhãn xúc, nhĩ xúc, tỷ xúc, thiệt xúc, thân xúc ở bên ngoài; nhưng vẫn có ý xúc với với các thọ, tưởng, hành bên trong. Vì vậy, chúng ta nhớ kỹ rằng ý thức là sự rõ biết thọ, tưởng, hành trong tâm.

---

Lưu ý, mỗi một thức có phạm trù, lãnh vực riêng, chẳng hạn, nhãn thức chỉ rõ biết sắc pháp chứ không biết được tiếng. Các thức này bị giới hạn nên gọi là nhãn thức giới, nhĩ thức giới, tỷ thức giới… chữ “giới” nghĩa là ranh giới, giới vức. Vì vậy nhãn thức chỉ biết được các sắc tướng, không thể rõ biết được các tiếng. Nhĩ thức chỉ rõ biết được âm thanh, ngoài âm thanh ra không biết gì khác, hoặc âm thanh ở ngoài tầm thì cũng không nghe được. Trước cổng chùa có ai nói xấu mà mình không nghe được thì mình sân không thể sanh khởi lên, vì tiếng nói đó ở ngoài phạm trù nhận thức của mình; chỉ khi âm thanh ở trong tầm nghe hiểu được thì mới rõ biết. Cũng vậy, thiệt thức chỉ biết rõ về các vị, thân thức chỉ biết rõ chỗ đụng chạm, ý thức chỉ rõ biết thọ, tưởng, hành.

Ngoài ra, cần chú ý rằng, năm thức đầu: nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức rõ biết sắc, thanh, hương, vị, xúc ở bên ngoài. Mắt rõ biết sắc, nhĩ thức rõ biết âm thanh, tỷ thức rõ biết mùi, thiệt thức rõ biết vị, thân thức rõ biết chỗ đụng chạm – đây là những sự rõ biết đối với các pháp bên ngoài, gọi là ngũ trần, ngoại trần; còn ý thức không rõ biết bên ngoài, mà chỉ biết thọ, tưởng, hành bên trong.

Kinh “Thủ Chuyển”:

Trong kinh “Thủ Chuyển”, Đức Phật định nghĩa về thức như sau:

"Do danh sắc tập khởi nên thức tập khởi. Do danh sắc đoạn diệt nên thức đoạn diệt".

(Tương Ưng Bộ Kinh III, Chương I. Tương Ưng Uẩn (c), B. Năm Mươi Kinh Ở Giữa, I. Phẩm Tham Luyến, bài kinh Thủ Chuyển)

“Do danh sắc tập khởi nên thức tập khởi”, trong đó “sắc” là tứ đại; “danh” là thọ, tưởng, tư, xúc, tác ý; “tập khởi” nghĩa là sự tập hợp và sanh khởi. Sở dĩ có thức, có sự rõ biết này là do có sắc thân này – phần cơ thể vật chất, gân xương, máu mủ; phần thứ hai là danh chính là tâm của mình, gồm: thọ là cảm giác, tưởng là hình bóng trong tâm, tư là hành, xúc là sự tiếp xúc và tác ý là sự tác động tâm ý. Do có danh và sắc tập khởi, kết hợp lại với nhau nên thức mới tập khởi. Như vậy, do duyên có các pháp duyên sanh từ tứ đại và qua quá trình cảm thọ, nghĩ, tưởng, tác ý, tiếp xúc với đối tượng đó thì mới tạo thành thức.

“Do danh sắc đoạn diệt nên thức đoạn diệt”, chính vì chỗ thức diệt cho nên mới chứng ngộ được Niết-bàn, tức là khi hết vô minh, tham ái, chấp thủ thì thức này sẽ diệt. Thức này là pháp duyên sanh, nương dựa vào tứ đại là sắc và nương dựa vào tâm, những cái đó tụ tập sanh khởi lên thì có thức, nếu những cái này trục trặc, hoại diệt thì các thức không hiện hành ra được hoặc là bị chấm dứt hoàn toàn. Cho nên sắc, thọ, tưởng, hành, thức đều giống nhau, là những pháp vô thường, tập hợp lại sanh khởi ra, khi hết duyên thì đoạn diệt, tan rã.

Vị ngọt và sự nguy hại

Do duyên thức khởi lên lạc hỷ gì, đây là vị ngọt của thức.

Ví dụ, khi tay cầm lên cục vàng thì cảm thọ sẽ khác, còn cầm tờ giấy không giá trị, đã bị vứt bỏ thì cảm thọ sẽ khác. Vậy, tại sao khi thấy cục vàng hay xấp tiền là mình thích còn khi cầm những tờ giấy không giá trị lại không thích? Đó là do sự chấp thủ, do sự huân tập hiểu biết trước đó, từ khi mới sinh ra đã biết vàng, tiền là quý; trong khi nhiều người dân tộc ở vùng xa xôi, hẻo lánh không biết tiền đô là gì, không biết kim cương là gì nên họ không biết giá trị của những thứ đó.

Cho nên, những cái biết mà sanh khởi lên tham muốn, khoan khoái, thích thú, vui sướng thì đó là vị ngọt của thức. Ví dụ, quý thầy cô học ở đây nên biết trường thiền này có cơ sở vật chất đầy đủ, cảnh quan trường thiền cũng đẹp nên rất thích ở đây, đó là vị ngọt. Do biết trường thiền là nơi tiện nghi, sạch sẽ, đẹp đẽ, cái thức quen với chỗ thoải mái, nếu sau đó nghe phải đến ở chỗ điện không có, nước thì thiếu thốn, nơi ở chỉ có tấm tôn che lại thì tâm liền thay đổi. Cho nên, đối với mọi việc, cần nhìn sâu vào thọ, tưởng, hành thức bên trong và phá tan tâm khoan khoái, thích thú.

Sự vô thường, khổ, chịu sự biến hoại của Thức, đó là sự nguy hại của Thức.

Cùng đi vào một khu rừng, theo chiều hiểu biết đã huân tập sẵn, lâm tặc thấy cây gỗ là nghĩ đến việc chặt cây đi bán lấy tiền; thầy thuốc thì thấy vị thuốc trong từng nhành cây cọng cỏ; thú rừng, chim chóc nhìn những tàng cây thì thấy đó là chỗ trú ẩn. Cho nên cái biết này là biết theo nghiệp chứ không phải cái biết theo chánh trí, theo chân lý, vì vậy nó rất vô thường, biến đổi, không có thật.

Có một Phật tử kể lại trong sự xúc động và bàng hoàng, vừa rồi người trong gia đình cô đổ cồn ra rửa tay nhưng lại đứng gần bếp gas, thế là lửa phựt lên gây hỏa hoạn sập nhà, có đến mấy người chết. Chỉ vì rửa tay một chút thôi mà nhà sập, mấy người chết, ông cụ thành phế nhân, sự việc này xảy ra đột ngột, ngoài sức tưởng tượng, không ai nghĩ tới. Cô vốn dĩ cho rằng mọi người sẽ ở đó bình thường, không có gì nguy hiểm xảy ra nên khi có biến động, ngoài tầm dự tính thì đau khổ vô cùng.

Cho nên cái biết này là vô thường và đau khổ, nếu không thấy biết đúng sự thật về đời sống này thì ta mãi ở trong sự dối lừa của thức uẩn. Có những vụ án oan sai khiến người vô tội phải ở tù mấy chục năm vì những kết luận sai lầm; có những vụ án đã tuyên án xong nhưng sau một thời gian phải lật lại điều tra tiếp tục vì kết luận trước đó chính xác; thậm chí có những vụ án mãi mãi là bí ẩn, không ai biết được chân tướng thật sự là gì.

Trong từng cái nhìn, nghe, ngửi, nếm, xúc chạm sẽ sanh khởi tham, dục, ái, hoặc sân hận, sân si, cống cao ngã mạn, giành giật, đấu đá. Có khi hai anh em giết nhau chỉ vì vài tấc đất, người anh biết tin miếng đất của người em lớn hơn của mình nên cự cãi, tranh giành rồi xảy ra án mạng. Giờ nghỉ trưa nhưng nhà bên cạnh hát karaoke lớn tiếng, thế là hàng xóm hai bên cãi qua cãi lại rồi đâm nhau chết, nếu lúc đó không có ở nhà không nghe thấy tiếng hát thì làm sao có án mạng xảy ra. Cũng vì nhĩ thức – rõ biết âm thanh, nhãn thức – rõ biết các sắc rồi sân giận, dẫn đến ác nghiệp.

Đau đớn thay, thức uẩn là duyên sanh, vô thường nhưng ta lại để nó dắt dẫn mình đến những tham muốn, dục vọng; đưa mình đến sân hận, bực bội, thù hằn, khó chịu; khiến mình hơn thua, cao thấp, ta đây, bản ngã: "Tôi tu mười năm nay, biết rất nhiều kiến thức, ông mới vô chùa mà muốn dạy tôi hay sao". Đó là bản ngã của người tu lâu, chấp thủ vào hiểu biết của mình, rồi chê khen những người khác

Mọi người thường nghĩ, người mình mới gặp, mới quen thì chưa hiểu biết về họ nhưng nếu ở chung vài năm là mình sẽ đi guốc trong bụng họ, biết được tánh tình, thói quen, sở thích của họ nhưng đó chỉ là cái biết cạn cợt theo các pháp thế gian. Có những người sống chung với nhau mấy chục năm nhưng cuối cùng lại chia tay, nói rằng "đến giờ tôi mới biết được bộ mặt thật của họ" nhưng nếu không biết bằng trí tuệ của Đức Phật thì họ vẫn tiếp tục bị tâm thức lừa đảo, lừa dối bằng nhiều hình thức khác.

Chúng ta sống trong một chuỗi dài của sự lừa dối, bị dối trá, dối gạt. Đừng nói chi người ngoài đến chính sắc thân của mình cũng dối gạt mình. Có những chuyện dù cho mắt thấy tai nghe nhưng cũng chưa chắc là sự thật. Vậy mà vừa nghe một điều gì thôi là tai lùng bùng, chưa tỏ rõ đúng sai, phải quấy thì cảm thọ đã sôi sục, những hình bóng trong tâm bắt đầu sanh khởi ra, những suy nghĩ đến dồn dập mà mình không biết tất cả những cái đó chỉ là tâm thức đang diễn tuồng ảo thuật.

Tất cả pháp trong ngũ uẩn là bất an, biến hoại, có thể sụp đổ bất cứ lúc nào nhưng vì vô minh, tham ái, chấp thủ nên cho rằng những gì mình biết sẽ mãi như vậy. Vì thế phải y cứ theo trí tuệ của Đức Phật, phá vỡ kiến chấp về những sự nhận thức, hiểu biết mà mình cho là đúng, mình thấy, mình nghe rõ ràng, mình có cảm xúc rõ ràng nhưng đó là trò ảo thuật của thức, Đức Phật đã nói thức giống như trò ảo thuật.

Tâm thức này là tâm thức mù lòa, si ám, cứ nắm giữ sắc thọ, tưởng, hành, thức không muốn buông ra nên khổ đau dài dài, khổ đau muôn đời, đã khổ đau, đang khổ đau và tiếp tục khổ đau. Cho đến khi nào nhận thức một cách sâu sắc ngũ uẩn là thứ tan nát, hủy hoại, hoại diệt, vô thường nên nhàm chán, ly tham, từ bỏ thì lúc đó mới hết khổ.

Sự xuất ly

Sự nhiếp phục dục và tham, sự đoạn tận dục và tham đối với Thức, đó là sự xuất ly của Thức.

Trước hết, chúng ta cần nhận diện rằng, sự rõ biết này đơn thuần chỉ là thức uẩn, không phải tôi, không phải của tôi. Mọi người thường cho rằng cái biết của mình là cái biết rộng lớn, đúng đắn và tin tưởng trong những cái biết đó. Nhưng không phải vậy, cái biết của mình rất nhỏ hẹp và giới hạn. Cái biết này do duyên sanh, thiếu một duyên tai hoặc mắt là không thấy, không nghe; hoặc các duyên không được tiếp xúc với nhau thì không sanh khởi ra thức. Ví dụ có người đứng trước cổng chùa chửi mình, mình ở trong chùa nên không nghe, không biết thì không thể giận; nhưng nếu lúc đó mình cũng ở ngoài cổng chùa, nghe hết những người ta chửi mắng thì cảm thọ mới khó chịu. Hơn nữa, có khi hiện tại chư Thiên, Long Thiên Bát Bộ hay Long Thần, Địa Thần, Thọ Thần đang đứng bên cạnh nhưng mình cũng không thấy được, cho nên cái thức này rất hạn hẹp. Vì vậy, đối với những sự rõ biết, nhận thức, ta phải thấy rõ bản chất của nó là pháp duyên sanh, vô thường, không để cảm thọ bị biến động bởi nhà ảo thuật thức uẩn.

Sau đó chín chắn suy xét thật sâu sắc xem những gì mình cho là “kiến thức của tôi, hiểu biết của tôi, tôi thấy, tôi biết, tôi hiểu, tôi nhận định…” có tương ứng với pháp hay không, có tương ứng với trí tuệ của bậc Thánh hay không, có tương ứng với những pháp ấn hay không, có phải thiện lành trong Thánh pháp không? Hay đó là những kiến chấp, định kiến, vọng kiến; những cái biết trong vô minh, biết trong tham ái, biết trong nghiệp, biết trong bản ngã, biết theo hư vọng, biết theo dục. Khi thấy được dục và tham đối với những sự rõ biết này, chúng ta phải dùng Như Lý Tác Ý để đánh pháp những thức uẩn sai lầm đó:

“Nhận thức theo vô minh để làm gì? Biết để thêm tham dục thì biết để làm gì? Biết để thêm sân hận, thêm si mê, thêm bản ngã, thêm hơn thua thì biết để làm gì? Nhàm chán cái biết này đi, nhàm chán những cái thấy, cái nghe theo phàm tình, theo nghiệp, theo dục tham này đi. Biết để tăng thêm cái ta đây thì biết để làm gì? Biết để khởi lên sân hận đặng thiêu đốt với nhau thì biết để làm gì? Đó là những cái biết của ngu si, mê muội. Ta phải diệt tận lòng dục, lòng tham đối với những cái biết của tưởng tri, của thức tri, của ảo giác.

Hãy nhàm chán những cái biết đưa đến ta đây, khen mình chê người, cống cao ngã mạn, dương dương tự đắc. Hãy từ bỏ, chán chê, não nề với những cái biết sanh ra tham, sân, si, vô minh, bản ngã. Những cái biết ngu si này chính là thức ăn của luân hồi, là nhiên liệu của tái sanh, là sự tiếp tế cho những đời sống vô minh, khát ái tiếp tục được sanh khởi.

Hãy dùng Thánh trí tuệ, Thánh tri kiến, Chánh tri kiến của bậc tối tôn, tối thượng đánh đuổi hết tất cả những sự rõ biết trong si ám, mê muội, tham sân, điên đảo. Không được tin tưởng vào cái biết vô minh, cái biết của nghiệp thức, tham ái và bản ngã. Cái biết này chỉ đưa đến nước mắt, dục vọng, tham ái, sân hận, si mê và bản ngã. Cái biết này là nguồn cội của khổ đau. Cái biết hơn thua đúng sai, nhân ngã, thị phi đó là sát nhân. Chính cái biết đó mà sanh sanh tử tử, hơn hơn thua thua, tao tao mi mi. Chính cái biết đó mà thị thị phi phi, nhân nhân ngã ngã. Chính cái biết đó mà bất cung bất kính, vô lễ, ngang tàng, hống hách. Chính cái biết đó hủy diệt hết tất cả đức hạnh, hiền thiện của một người tu!”.

Đối với những cái biết làm sanh khởi tham dục, tham muốn, tham lam; sanh ra sân hận, bực dọc; sanh ra những sự ta đây, vênh váo, ganh tỵ, ích kỉ, hẹp hòi, lừa đảo, gian trá thì phải diệt tận, từ bỏ, đoạn tận nó. Vì đó là thức ăn cho vô minh, cho ngũ uẩn, cho tham sân si. Cho nên, người biết nhiều chưa chắc là hay là giỏi, chúng ta đừng ham biết nhiều, đừng vội tự hào với những hiểu biết của thế gian, vì đó là những cái biết của vô minh, không phải trí tuệ. Chúng ta cũng đừng ham đi đây đi đó mở mang kiến thức, vì đó có thể là cái đi trong dục, trong buông lung phóng dật. Nếu muốn tìm tòi học hỏi để thành tựu giáo pháp, chứng ngộ giáo pháp thì mới nên đi tìm cầu học đạo, như vậy mới mang về lợi ích cho mình, cho người. Còn học để đáp ứng nhu cầu cho lòng dục, tham, yêu thích thì cái biết đó có hại chứ không tốt. Nếu không phân biệt được những điều này thì chúng ta đang cho vô minh ăn, đang cho ngũ uẩn ăn, đang nuôi lớn tham, sân, si, bản ngã mà không biết.

6. Bốn Thánh Trí về Ngũ Uẩn

-Sự chấp thủ ngũ uẩn là phiền não và khổ đau.

-Ngũ uẩn sanh khởi là do vô minh và khát ái.

-Ngũ uẩn diệt tận là khi hết vô minh và hết khát ái.

-Bát Chánh Đạo là phương pháp đúng, đưa đến tẩy sạch vô minh và khát ái đối với ngũ uẩn.

Đây là sự kết hợp Tứ Thánh Đế và Bốn Thánh Trí về Ngũ Uẩn, là định lý giải thoát, là trái tim của tạng kinh Nikāya.

Sự chấp thủ ngũ uẩn là phiền não và khổ đau

Sở dĩ chúng sanh đau khổ là do bám chấp vào năm uẩn – gọi là Ngũ Thủ Uẩn.

“Thủ” là sự chấp thủ, giữ chặt, nắm giữ; “ngũ thủ uẩn” là sự nắm chặt vào thân tâm này, cho rằng ngũ uẩn này là tôi, là của tôi; không biết thân này là đất, nước, gió, lửa; không biết vật chất, tiền tài, danh lợi địa vị cũng chỉ là những sắc pháp vô thường; không biết tâm này là thọ, tưởng, hành, thức. Sự nắm chặt vào hình hài này, cùng những sắc pháp xung quanh gọi là Sắc thủ uẩn. Nắm chặt vào trong các cảm giác, sợ mất đi những cảm giác bình bình yên yên, sợ mất đi những cảm giác vui sướng, đồng hóa với những cảm giác sân hận, nhận những cảm giác đó là tôi, là của tôi, gọi là Thọ thủ uẩn. Sự nắm chặt vào những hình bóng trong tâm là Tưởng thủ uẩn. Sự nắm chặt vào trong những suy nghĩ là Hành thủ uẩn. Sự nắm chặt vào trong nhận thức là Thức thủ uẩn. Tóm lại, sự chấp thủ vào năm uẩn là phiền não, khổ đau.

Mua một đôi dép mới ở tiệm giờ mang vào chân thì là của tôi, mắt kiếng người ta bán ở tiệm giờ đeo vào thì là của tôi? Thậm chí miếng đất của người ta, mình chỉ mới đến xem, chưa mua nhưng nói đó là đất của mình. Khi còn ở nhà, chưa xuất gia thì thương cha mẹ, thương anh em, thương bà con, vào chùa tu rồi thì thương thầy, thương huynh đệ, thương nhớ chùa, đi đâu cũng lo không ai trông chừng chùa. Mình tu theo tông phái này nhưng có người nói “Tu tông phái này không hay!” thì lúc đó mình lại hơn thua, chấp thủ, cho rằng “Đó là tông phái của tôi!”. Hoặc mình tên Trần Văn A nhưng khi có ai đó nói người tên Trần Văn A không tốt, không hay, thậm chí đó không phải là nói mình thì thọ, tưởng, hành cũng đã khó chịu. Tên tuổi đó chỉ là giả danh nhưng mình lại gắn liền, xem đó là tên của tôi, vậy làm sao giải thoát? Đi tới đâu gắn bảng hiệu “của tôi” tới đó nên cứ đau khổ mãi.

Chúng sanh tham ái, chấp thủ vào những thứ đi đến hoạt diệt rồi tạo biết bao ác nghiệp, kết quả nhận được là đau khổ không chỉ trong đời này mà trong những kiếp sống về sau, thật đớn đau thay! Sự bất hạnh nhất trong tất cả sự bất hạnh là nắm chặt vào thân xác vô thường. Sự đau khổ, mê lầm sâu dày nhất của tất cả chúng sanh là chấp thủ vào những thọ, tưởng, hành, thức không có thật; đó chính là nguyên nhân của phiền não và khổ đau.

Ngũ uẩn sanh khởi là do vô minh và tham ái

Vô minh là không thấy ngũ uẩn, không thấy sự sanh diệt của ngũ uẩn, không thấy tính chất vô thường, phiền não, khổ đau, tan hoại của ngũ uẩn. Chính vì không thấy nên tham ái, yêu thích, say mê, bám chặt vào trong ngũ uẩn này nên nó có chỗ y cứ để tiếp tục sanh khởi. Giống như không biết món ăn thơm ngon đó bên trong có độc, tưởng nó là ngon nên mình thích thú, thèm muốn, mua đem về ăn mà không ngờ miếng bánh đó nguy hiểm chết người. Cũng vậy, vì không biết trong ngũ uẩn này là sầu, bi, khổ, ưu, não, tưởng đâu là vui nên ta yêu thích, nắm chặt, cho nó làm hang, làm ổ, làm tổ, làm sào huyệt bên trong tâm. Cho nên, từ vô minh nên có tham ái, chính hai điều này siết chặt nhau, kết thành tấm thân mấy chục kí lô này, làm ta luân hồi mãi mãi.

Chúng sanh yêu thích, khoan khoái những hình thể, những cảm giác, suy nghĩ, hình bóng, nhận thức rồi dính chặt vào đó nên có ra thân năm uẩn. Từ thân người cho đến thân mang lông đội sừng, thân gà, thân chuột, thân mèo… miễn có thân là được, ở trong tấm thân nào cũng thích thú, say mê trong đó. Người này nhìn người kia thấy đẹp; con gà mái nhìn con gà trống thấy đẹp, con chó đực nhìn con chó cái thấy đẹp, con gián này nhìn con gián kia thấy đẹp, khả lạc, khả hỷ, khả ái liên hệ đến dục hấp dẫn. Vì nghiệp lực hút nhau, tham ái thu hút nhau nên “ách giữa đàng mang vào cổ” và hối hận suốt đời,

Có một chú lên núi trình pháp nói rằng, lúc chưa cưới nhau thì cô vợ của chú rất dễ thương, ngoan hiền, nhưng đến khi cưới về lại không lo làm lụng, chỉ biết đòi hỏi, đày đọa chú; bây giờ chú ly dị được nên rất khỏe, chỉ muốn đi tu vì thấy rõ bản chất của cuộc đời. Chỉ vì lúc đầu mê muội, nhận lầm sự thật về người vợ, say mê sắc đẹp mà không tìm hiểu tánh tình, đức hạnh, sau khi cưới về thì tự rước vào mình phiền não và khổ đau. Đó là ví dụ cho sự say mê của cảm thọ trong sắc, thọ, tưởng, hành, thức, mà không thấy được bản chất của ngũ uẩn.

Ngũ uẩn diệt tận là khi hết vô minh và hết khát ái

Hết vô minh là tâm tỉnh ra nhìn thấy được bản chất của năm uẩn. Khi tâm đã tỉnh và đã hết vô minh thì không còn yêu thích ngũ uẩn nữa nên không còn tham ái. Khi đã hết vô minh, hết tham ái thì ngũ uẩn diệt.

Nhìn sâu sắc vào mới thấy vô minh, tham ái rất thực tế chứ không có gì xa xôi. Ta thường nghĩ vô minh là từ vô thỉ kiếp về trước nhưng thật ra ngay hiện tại nếu không thấy thấy rõ sắc, thọ, tưởng, hành, thức; chỉ thấy có cái tôi đang ngồi, đang học, đang làm việc thì đó đã là vô minh và chúng ta đã sống trong vô minh từ vô thỉ kiếp. Trong Tương Ưng Vô Thỉ, Đức Thế Tôn đã nói rằng: “Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỳ-kheo, khởi điểm không thể nêu rõ đối với lưu chuyển luân hồi của các chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc”. Từ vô thỉ kiếp mình sống trong tự ngã nên bây giờ thực tập nhìn lại ngũ uẩn sẽ có chút không quen, nhưng quyết tâm thực hành thì sẽ làm được. Minh Thành thường ví dụ hình ảnh năm ngón tay nắm chặt lại tạo thành một nắm tay: năm ngón tay là sắc, thọ, tưởng, hành, thức; còn một nắm tay là một cái tôi. Do tâm mê mờ, không sáng, không nhìn thấy ngũ uẩn nên nói có một cái tôi, một cái ta, một tự ngã, chứ không thấy năm nhóm riêng lẻ. Đến khi nào nhận diện ngũ uẩn thuần thục, chúng ta nhìn vào sẽ thấy năm nhóm chứ không có một cái tôi. Khi có trí tuệ thấy được sắc, thọ, tưởng, hành, thức thì tâm không còn khoan khoái, yêu thích đối với ngũ uẩn. Chúng ta sẽ nhàm chán, mong muốn thoát ra, từ bỏ sáu căn, ly dị sáu trần, ly tham ngũ uẩn.

Bát Chánh Đạo là phương pháp đúng, đưa đến tẩy sạch vô minh và khát ái đối với ngũ uẩn

Bát Chánh Đạo là phương pháp chân chánh, thần diệu, tối thượng, có công năng tẩy sạch hết vô minh và khát ái đối với ngũ uẩn, không còn chấp thủ vào trong ngũ uẩn. Bát Chánh Đạo trong Nikāya vô cùng siêu việt, không giống như mình học trước đây. Những ai thành tựu Chánh Tri Kiến là thành tựu Nhập Lưu Sơ quả Tu-đà-hoàn, những ai thực tập đến Chánh Tư Duy, Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp, Chánh Tinh Tấn là những vị đi đến Nhị quả, tu đến Chánh Niệm là Tam quả, còn đi đến Chánh Định là Tứ quả. Đó là đạo lộ của tất cả các bậc Chánh Đẳng Giác thuở xưa đã đi qua, vô cùng thâm sâu, tối thượng, vô thượng Phật đạo là Bát Thánh Đạo.

Đây là con đường giúp ta triệt phá vô minh, diệt tận khát ái, chấm dứt ngũ uẩn. Bát Chánh Đạo đại diện cho uy lực thần thánh, là tám mặt của Thánh trí tuệ đánh vào tám mặt của vô minh; tám mặt của sự thật đánh tan tám lãnh vực của giả dối; tám mặt của ánh sáng chiếu phá bát giác hắc ám; tám mặt của sự thấy biết đập tan, xóa sạch những sự không thấy, không biết. Tám mặt tuyệt diệu, tối tôn, tối thượng giải phá tất cả những uế nhiễm trong tâm.

- Chánh kiến: Trí về năm thủ uẩn, Trí về Vô minh, Trí về Đoạn diệt vô minh, Trí về Bát Chánh đạo, trí về Khổ, trí về Khổ tập, trí về Khổ diệt, trí về Khổ diệt đạo.

- Chánh tư duy: Tư duy về ly dục, Tư duy về ly sân, Tư duy về bất hại.

- Chánh ngữ: Từ bỏ nói dối, Từ bỏ nói hai lưỡi, Từ bỏ nói lời độc ác, Từ bỏ nói lời phù phiếm.

- Chánh nghiệp: Từ bỏ sát sanh, Từ bỏ lấy của không cho, Từ bỏ tà hạnh trong các dục.

- Chánh mạng: Từ bỏ nghề bán vũ khí, bán rượu, bán thịt, bán người, bán thuốc độc (đối với cư sĩ).

- Chánh tinh tấn: Chế ngự sáu căn, Đoạn tận tham sân, Tu tập Tứ niệm xứ, Hộ trì các thiện pháp đã có.

- Chánh niệm: Niệm thân, Niệm thọ, Niệm tâm, Niệm pháp.

- Chánh định: Định tâm theo Tứ thiền.

Người tu thành tựu được Chánh Kiến để Nhập Lưu đã là một sự thành công. Vì sau khi có được sự thấy biết viên mãn thì ở chỗ nào mình cũng tu được. Nếu được bậc thầy chỉ dẫn mình sẽ đi nhanh hơn nhưng nếu không có thì tự động Chánh Kiến cũng sẽ đưa mình về phía trước. Người đã Nhập Lưu tức là đi vào được dòng chảy của bậc Thánh, khi đã dự vào dòng chảy trí tuệ của Đức Phật và các bậc Thánh thì dần dần sẽ đi vào đại dương của Niết-bàn.

Chánh kiến ở đây không đơn thuần chỉ là thấy cái này đúng cái kia sai, cái này phải cái kia quấy, đó là cái thấy của phàm phu. Thấy đúng của bậc Thánh là phải thấy được ngũ uẩn; thấy bản chất của sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Chỉ khi thấy đúng theo trí tuệ của bậc Chánh Đẳng Giác thì mới đưa đến ly tham, giải thoát. Chúng ta giờ đây đang được học chi phần đầu tiên trong Bát Chánh Đạo là Chánh Tri Kiến, tức là tu tập để thành tựu trí tuệ về ngũ uẩn, từ đó phát hiện được tham, sân, si, vô minh, bản ngã, sau đó tẩy sạch, diệt tận chúng thì mới hướng đến thành tựu Thánh quả. Đức Phật đã nói chỉ trong Pháp và Luật nào có Bát Chánh Đạo thì ở đó mới có đệ nhất Sa-môn, đệ nhị Sa-môn, đệ tam Sa-môn và đệ tứ Sa-môn.

"Này Subhadda, trong pháp luật nào không có Bát Thánh đạo, thời ở đây không có đệ nhất Sa-môn, ở đây cũng không có đệ nhị Sa-môn, cũng không có đệ tam Sa-môn, cũng không có đệ tứ Sa-môn. Này Subhadda trong pháp luật nào có Bát Thánh đạo, thời ở đây có đệ nhất Sa-môn, cũng có đệ nhị Sa-môn, cũng có đệ tam Sa-môn, ở đấy cũng có đệ tứ Sa-môn. Này Subhadda, chính trong pháp luật này có Bát Thánh Ðạo, thời này Subhadda, ở đây có đệ nhất Sa-môn, ở đây cũng có đệ nhị Sa-môn, cũng có đệ tam Sa-môn, cũng có đệ tứ Sa-môn. Những hệ thống ngoại đạo khác đều không có những Sa-môn. Này Subhadda, nếu những vị Tỳ-kheo này sống chơn chánh, thời đời này không vắng những vị A-la-hán".

(Trường Bộ Kinh, 16. Kinh Ðại Bát-Niết-Bàn)

Như vậy, trong giáo pháp nào không có Bát Chánh Đạo sẽ không có bốn Thánh quả của Sa-môn.

Niệm Bát Chánh Đạo:

Chánh tri kiến = Thấy biết đúng

Chánh tư duy = Suy nghĩ đúng

Chánh ngữ = Nói lời đúng

Chánh nghiệp = Hành động đúng

Chánh mạng = Nuôi mạng đúng

Chánh tinh tấn = Siêng đúng việc

Chánh niệm = Quán đúng chỗ

Chánh định = Định đúng cách

Phương Pháp Tám Đúng:

Thấy đúng

Nghĩ đúng

Nói đúng

Làm đúng

Sống đúng

Siêng đúng

Quán đúng

Định đúng

BẢN CHẤT CỦA NGŨ UẨN

Người xuất gia ai cũng tha thiết, khát ngưỡng tìm cầu pháp hành nhưng có khi học rất lâu, tu rất nhiều cũng chưa thấy được phương pháp thật sự. Trong bài kinh “Vị giữ giới”, Tương Ưng Bộ III, Ngài Xá-lợi-phất và các bậc thượng thủ Thánh đệ tử sẽ cho chúng ta thấy được tiến trình của sự tu học chân chính bằng việc chỉ ra một pháp hành xuyên suốt từ lúc mới tu cho đến khi thành tựu Thánh quả tối cao của Phật giáo.

"Một thời, Tôn giả Sàriputta (Xá-lợi-phất) và Tôn giả Mahà Kotthika trú ở Bàrànasi (Ba-la-nại), tại Isipatana (Chư Tiên đọa xứ), vườn Lộc Uyển.

Rồi Tôn giả Mahà Kotthika, vào buổi chiều, từ Thiền tịnh đứng dậy, đi đến Tôn giả Sàriputta... thưa như sau:

-- Thưa Hiền giả Sàriputta, những pháp gì Tỳ-kheo giữ giới cần phải như lý tác ý?

-- Này Hiền giả Kotthika, Tỳ-kheo giữ giới cần phải như lý tác ý năm thủ uẩn là vô thường, khổ, bệnh hoạn, ung nhọt, mũi tên, bất hạnh, ốm đau, người lạ, hủy hoại, rỗng không, vô ngã.

Thế nào là năm? Tức là sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn. Này Hiền giả Kotthika, vị Tỳ-kheo giữ giới cần phải như lý tác ý năm thủ uẩn là vô thường, khổ, bệnh hoạn, ung nhọt, mũi tên, bất hạnh, ốm đau, người lạ, hủy hoại, rỗng không, vô ngã.

Này Hiền giả, sự kiện này xảy ra: Tỳ-kheo giữ giới do như tác ý năm thủ uẩn này là vô thường... vô ngã, có thể chứng được quả Dự lưu"

Ngài Xá-lợi-phất nói rằng, nếu quán về năm thủ uẩn như vậy thì có thể chứng Thánh quả thứ nhất – Dự Lưu. Ngài Kotthika tiếp tục hỏi rằng sau khi đã chứng Thánh quả thứ nhất – Dự Lưu thì muốn chứng Thánh quả thứ hai – Nhất Lai, Thánh quả thứ ba – Bất Lai cho đến chứng A-la-hán thì phải tu tập tác ý như thế nào. Ngài Xá-lợi-Phất cũng đều trả lời giống nhau:

-- Vị A-la-hán, này Hiền giả Kotthika, cần phải như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường, khổ, bệnh hoạn, ung nhọt, mũi tên, bất hạnh, ốm đau, người lạ, hủy hoại, rỗng không, vô ngã.

Với vị A-la-hán, này Hiền giả, không có gì phải làm nữa, hay không có phải thêm gì nữa trong công việc làm. Nhưng sự tu tập, làm cho sung mãn những pháp này sẽ đưa đến hiện tại lạc trú và chánh niệm tỉnh giác".

(Tương Ưng Bộ Kinh III, Chương I. Tương Ưng Uẩn (g), C. Năm Mươi Kinh Sau, II. Phẩm Thuyết Pháp, bài kinh Vị Giữ Giới)

Như vậy, pháp tu này dành cho người phàm phu mới tu cho đến bậc chí Thánh, đó là đạo lộ của bậc Thánh, những câu kinh này giống như khẩu quyết, không phải dễ hiểu. Trong đây là cả xương máu, trí tuệ, tự mình phải chiêm nghiệm, tư duy, triển khai thiền quán trong đời sống hằng ngày, không được đọc phớt qua, vì đọc phớt qua không ai chứng quả. Cho đến khi nào trong nhận thức, suy nghĩ đều thấy năm thứ này là ác độc, là đau khổ, là vô thường, là bất an, là mũi tên, là kẻ sát nhân và mình không còn thèm khát, ưa thích chúng thì ta mới bắt đầu đặt chân vào bốn đôi tám chúng Hiền Thánh Tăng, là ruộng phước vô thượng của chư Thiên và loài Người.

Vì vậy, chúng ta phải nhìn quán chiếu thật sâu sắc về bản chất của ngũ uẩn này là khổ đau, là vô thường, là bệnh hoạn, là ung nhọt, là mũi tên, là bất hạnh, là ốm đau, là người lạ, là rỗng không, vô ngã thì mới sanh khởi sự nhàm chán đối với ngũ uẩn, từ đó nỗ lực tu tập để thành tựu Thánh trí tuệ, bước lên Thánh đạo, đạt đến Thánh quả.

Khổ Đau

Đức Thế Tôn đã tuyên bố rằng: “Này các Tỷ-kheo, chính vì không giác ngộ, không thông hiểu Khổ Thánh đế mà chúng ta phải lưu chuyển luân hồi lâu năm, Ta và các Ngươi” (trích Trường Bộ Kinh - Kinh Đại Bát Niết Bàn). Cho nên, nguồn cơn về sự có mặt trong thân xác này và nguyên nhân tại sao ta cứ lẩn quẩn, lanh quanh luân hồi trong đời sống vô thường, ở trong những ham muốn, khao khát, khát ái chính là do không thấy không biết trí tuệ về khổ đau của bậc Thánh, không thấy bản chất của ngũ uẩn là khổ đau.

Giây phút thân năm uẩn sanh trên cuộc đời này đồng nghĩa khổ được sanh ra, bệnh tật có chỗ để cư trú, già chết chuẩn bị xuất hiện. Sự có mặt của sắc thân – tay chân tứ chi, hình hài, bộ xương, nội tạng này là sự có mặt của khổ đau, lo âu, bất an, sợ hãi. Đời sống của chúng sanh là một chuỗi dài khổ đau vì chấp thủ sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Sự vận hành của đời sống này là sự vận hành của tham, sân, si, chấp ngã, tôi, tao, mi, tớ, hơn thua và đó là sự vận hành của khổ.

Cho nên, sắc, thọ, tưởng, hành, thức mới là kẻ thù của mình, chứ không phải người nào khác bên ngoài. Những dục tham, vô minh, mù lòa đối với năm uẩn mới làm mình đau khổ, chứ không phải bất cứ một ai ở bên ngoài làm mình khổ đau. Vì mù lòa không thấy không biết năm uẩn nên yêu thích năm uẩn, say đắm năm uẩn, nắm chặt năm uẩn, say sưa trong này, rồi đau khổ trong này, vui ở đây rồi cũng khóc tại đây.

Này các Tỷ-kheo, thế nào là đau khổ?

Sắc, này các Tỷ-kheo, là đau khổ; thọ là đau khổ; tưởng là đau khổ; các hành là đau khổ; thức là đau khổ. Đây, này các Tỷ-kheo, gọi là đau khổ.

(Tương Ưng Bộ Kinh III, Chương I. Tương Ưng Uẩn, Phẩm Gánh nặng, bài kinh Cội gốc của đau khổ)

Sắc, này các Tỷ-kheo, là đau khổ. Nhà cửa này là đau khổ, đất đai này là đau khổ, vườn rẫy này là đau khổ; tài sản vật chất này, tiền của tích góp này là đau khổ; thân xác này, da thịt này, phèo, phổi, tim, gan này là đau khổ; đời sống này là đau khổ. Sự khao khát, tham muốn, mê thích, say đắm trong những thứ đó là cội gốc của đau khổ. Sự nắm giữ vào những thứ vô thường, làm cho mình ràng buộc, khao khát, khát ái là đau khổ. Biết bao nhiêu nước mắt, lo lắng, sợ hãi, bất an, khổ sở cũng vì nắm giữ, nắm chặt, nắm cứng, nắm chắc vào trong thân xác này và những sắc pháp xung quanh. Nắm chặt vào trong thân xác này chính là nắm chặt vào những lo lắng, bất an, sợ hãi, bất hạnh, ung nhọt, mũi tên, tai họa. Nắm chặt vào thân xác này chính là sự nắm chặt vào bệnh hoạn, thống khổ, khổ sở.

Vô lượng kiếp qua, chúng ta đã chấp thủ vào không biết bao nhiêu thân xác. Ở trong thân con giòi thì thấy thân giòi cũng đẹp, những thứ con người chúng ta thấy là dơ bẩn bất tịnh thì nó xem là đồ ăn ngon, những nơi mình xem là nhớp nhúa thì nó xem là sang trọng. Ở trong thân con kiến thì thấy cái thân kiến rất tốt, rất hãnh diện với đời sống của nó. Ở trong thân con gián, con chuột thì cũng thích thú với những dục, ái, tham, sân, si, bản ngã trong đó. Ở trong thân con muỗi suốt ngày tìm kiếm chích máu để nuôi dưỡng sắc thân, vì ác nghiệp phải làm như vậy nhưng nó lại thấy hạnh phúc, sung sướng, bản ngã, dục ái, si mê. Trong tấm thân súc sanh, thú vật, đầy rẫy những tai nạn, khốn khổ nhưng chúng không thấy đau khổ; mà thấy đời sống đó là vui sướng.

Cũng vậy, trong thân xác con người, từ giàu có, quyền thế, địa vị, cao quý cho đến tấm thân nghèo hèn, lê lếch ăn xin, tật nguyền, xấu xí, khùng điên, cũng đầy những tham ái, si mê, bản ngã. Mang vác cái thân này là khổ, mỗi ngày phải cho nó ăn, uống, tắm, giặt; phải cho nó đòi hỏi những dục ái, khao khát; ai đụng chạm là thân tâm này liền sân si lên. Trong những tấm thân bệnh hoạn, vô thường, tạm bợ nhưng cả đời cứ giành giật, mưu tính, hãm hại lẫn nhau, để rồi đưa nhau chìm nổi trong sầu bi, đau khổ; cho nên, đối với các sắc, “người ngu mới say đắm, kẻ trí nào đắm say”! Khi nhìn bằng Thánh trí thì chúng ta sẽ thấy được tất cả những hình thể, hình thái, hình thức, hình dáng, hình tướng của ngũ uẩn đều là khổ.

Các cảm thọ này là đau khổ. Lòng tham muốn, tham ái đối với các cảm thọ này là cội gốc của khổ đau. Vì không biết được tất cả cảm thọ là khổ cho nên mới yêu thích những cảm thọ vui sướng; ghét bỏ những cảm thọ khó chịu; si mê trong những cảm thọ đơ đơ, trơ trơ, mê muội, si ám, vô minh. Những cảm giác trong tâm cứ ngày đêm sanh diệt: bực bội, khó chịu, tức tối, tham muốn, đòi hỏi, buông thả, buông lung, phóng dật, vô minh, si ám, ganh tị, đố kị, ta đây, tôi, ta, tao, chấp thủ thay phiên nhau sanh khởi không ngừng. Những cảm giác ác độc này nhận chìm khắp nhân sinh. Chỉ cần một cảm giác bực dọc, khó chịu, sân hận, sừng sộ, tức giận phừng phựt nổi lên là có thể đốt cháy, hủy diệt mọi thứ, đem đến đau khổ cho mọi loài, mọi người.

Tất cả chúng sanh bị nhận chìm trong đại hải, đại dương, biển cả của cảm xúc. Chỉ cần một chút cảm xúc êm ái thôi là si mê, điên đảo, đắm chìm vĩnh viễn, vạn kiếp bất phục. Có thể bỏ cha, bỏ mẹ, đi bụi đời lang thang vì một chút cảm giác. Có thể lừa thầy, phản bạn vì một chút cảm giác. Có thể hủy hoại tất cả đạo đức luân thường, lễ giáo chì vì một chút cảm giác. Có thể bỏ hình thức tu hành để hoàn tục chỉ vì một chút cảm giác. Có thể sụp đổ hết tất cả ý chí cao thượng của đời tu mình vì một chút cảm giác. Có thể hủy hoại hết tất cả lí tưởng thánh thiện vì một chút cảm giác. Chỉ vì một chút cảm giác bản ngã, ta đây mà có thể làm cho tan nát hết tất cả. Thương thay cho chúng ta, đau xót thay cho chúng ta khi vô lượng, vô biên, vô thỉ kiếp qua phải làm kẻ tôi đòi, cung phụng, hầu hạ, phục dịch cho những cảm giác. Còn gì đau khổ, thê thảm, hoạn nạn hơn những cảm thọ của dục, tham, ái, vô minh, bản ngã, sân hận ác độc này! Đây là khổ! Khổ là đây!

Tưởng là đau khổ, những hình bóng trong tâm là đau khổ. Những hình bóng này đã và đang từng ngày lôi kéo, giam hãm tâm thức của chúng sanh. Hình bóng đó có khi là tham ái hoặc có khi là sân hận. Ta gặp hình bóng thì dính mắc, mất hình bóng thì đau khổ; càng tiếp xúc với hình bóng đó nhiều chừng nào thì hình bóng càng đi sâu vào tâm chừng đó; càng nghĩ nhiều về hình bóng thì cảm xúc sẽ lại nhiều hơn. Nếu ôm ấp những hình bóng ưa thích thì tham ái càng tăng; còn chất chứa những hình bóng của sân hận thì ngày càng tưới tẩm cho những cảm thọ khó chịu, bức xúc, tức giận, thù hận. Tưởng cũng là sướng, nhưng sướng đó là khổ, không phải sướng thật. Tưởng về những thứ dục ái làm cho mình khổ đau. Vậy mà chúng ta bị ám ảnh, say mê vào những hình bóng vô thường; lại còn chấp thủ vào hình bóng chập chờn của tự ngã. Đè nặng trên đầu chúng sanh là muôn ngàn hình bóng của sân giận, tham ái, si mê, bản ngã, được khen là phơi phới, bị chê là mặt xụ xuống. Lúc nào cũng tôi, lúc nào cũng ta trong những hình bóng ảo tưởng, huyễn hoặc vô thường, tràn đầy khổ đau.

Những suy nghĩ nói thầm trong tâm là đau khổ. Chúng sanh chết ở trong những tư tưởng, suy nghĩ, lời nói thì thầm của ý hành. Những suy nghĩ của dục, tham, ái; những suy nghĩ của sân hận, nổi loạn, buông thả này sẽ dẫn ta đến đau khổ, luân hồi sanh tử triền miên. Hành uẩn này rất mưu mô và xảo quyệt; rất khéo léo, ma mị và quỷ quyệt. Nó dùng lời nói ngọt ngào để giết mình chết, vì đó là những lời nói thuận theo dục, theo ái, thuận theo bản ngã, vô minh, si mê. Những ý hành đó kích động, khiến mình phát ra những khẩu hành, thân hành làm khổ mình khổ người, hại mình hại người. Có khi chỉ vì một suy nghĩ nông nổi nhất thời mà dẫn đến con giết mẹ, vợ giết chồng, bạn bè

Người tu càng phải đọc kỹ và lắng nghe một cách thật là sâu sắc những lời nói lầm thầm, quái quỷ, tinh ma, xảo trá, gian ngụy này. Chính nó dẫn dắt mình đi theo dục, theo tham, theo ái, theo thế gian. Khiến đời tu của ta đi theo chủ nghĩa của dục, chủ nghĩa của hưởng lạc, đi tu để tìm dục lạc để rồi đi vào đau khổ. Những suy nghĩ đẩy mình ra khỏi dòng Thánh pháp này làm cho mình thối đọa, thối lui, thối chuyển, thối thất, làm cho mình thối rửa và mục nát trong giới luật, thiền định, trí tuệ và giải thoát của bậc Thánh; quên đi lời dạy ly dục tư duy, ly sân tư duy, bất hại tư duy – suy nghĩ ly dục, suy nghĩ ly sân, suy nghĩ không hại mà Đức Thế Tôn đã trao truyền.

Thức uẩn là đau khổ, sự rõ biết này là đau khổ. Chính tâm khát ái, tham ái bám chặt vào trong nhận thức, cho đây là “sự rõ biết của tôi, nhận thức của tôi, kiến thức của tôi, trí huệ của tôi, hiểu biết của tôi” là cội gốc của khổ đau. Suốt cả đời cứ tự cho mình hay, mình giỏi, mình tài; rồi sự việc không đúng như mình biết thì lại đau khổ. Vì ai cũng cho mình là đúng nên thường xảy ra bất hòa, hơn thua với nhau, con cãi cha mẹ, trò cãi thầy, huynh đệ hơn thua đúng sai cũng vì chấp vào sự hiểu biết. Nhưng những hiểu biết ngoài thế gian dù sâu rộng đến đâu cũng chỉ xoay vòng trong sanh, già, bệnh, chết, đau khổ, luân hồi. Dầu cho tai nghe, mắt thấy thì những sự rõ biết đó cũng chưa chắc là đúng, vì sự nhận thức này lúc nào cũng bị vô minh trùm phủ, tham ái che đậy, không biết Chánh Pháp. Chúng sanh nếu cứ mãi chấp chặt và nghe theo những nhận biết sai lầm, không nhìn theo trí tuệ của Đức Phật thì cuối cùng chỉ mang đến đau khổ cho chính mình và những người xung quanh.

---

Như vậy, sắc, thọ, tưởng, hành, thức đã mô giới, cấu kết với nhau khiến cho tất cả chúng sanh sập vào bẫy mồi của sanh tử khổ đau. Vô lượng vô biên kiếp tu hành cũng ra không nổi cái bẫy này nếu cứ chấp thủ vào ngũ uẩn; và như thế những nổi khổ, niềm đau mà năm uẩn mang lại sẽ triền miên, không dứt.

Sắc, thọ, tưởng, hành, thức,

Dựng lên mọi vai tuồng,

Sắc, thọ, tưởng, hành, thức,

Là nguồn của khổ đau.

Sắc, thọ, tưởng, hành, thức

Làm sanh tử không dừng,

Sắc, thọ, tưởng, hành, thức

Dựng vở tuồng tái sanh.

(Cửa Vào Bất Tử)

Vở kịch này kết thúc bằng nước mắt; vở tuồng này kết thúc bằng những dòng lệ; bi kịch này kết thúc bằng máu, bằng bộ xương, bằng chiếc quan tài, bằng đống tro tàn, bằng hũ cốt. Đó là chung kịch, là hạ màn những tuồng diễn của ngũ uẩn, những tuồng kịch đầy nước mắt, máu, đầy những tham lam, sân hận, hơn thua, đấu đá, tranh giành, tranh đấu và khổ đau.

Trí tuệ của bậc Thánh nổ tung hết tất cả pháp để chúng ta nhìn thấy được cả địa cầu này chỉ là một đống khổ. Dù cho ở trên địa vị làm chủ thiên hạ nhưng Bồ tát Tất-đạt-đa đã nhìn thấy nguy hiểm và tác hại ở trên ngai vàng nên Ngài ra đi tìm đường thoát khổ. Nhìn lại chúng ta, ngoài đời khi được bầu lên làm nhóm trưởng, lớp trưởng, quản lý, giám đốc cho đến trong chùa được làm chúng trưởng, tri sự, quản chúng, trụ trì là tâm mình liền đổi khác, đời tu như vậy là thất bại hoàn toàn, vì chỉ gieo được chút ít nhân thiên phước báo. Nếu không khéo thì tu từ nhỏ đến già cũng “tôi là tôi”, “ta là ta” trong bản ngã, không được thấy chân tướng khổ đau mà Đức Thế Tôn phơi bày trong Thánh trí Ngũ uẩn. Thế nên trong kinh tạng Nikāya, Đức Phật được tán thán như người bị dựng đứng lại những gì đã bị quăng ngã xuống, chỉ đường cho người lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối, cho những ai có mắt có thể thấy sắc, phơi bày ra những gì bị che kín. Đây chính là mục đích Đức Phật xuất hiện và cũng là công năng của giáo pháp.

Vô Thường

Đức Phật ví dụ, một món đồ bằng gốm dù đã nung hay chưa nung thì tính bể đã nằm sẵn trong đó, cũng như thế, thân ngũ uẩn của chúng sanh dù đã sanh ra hay chưa sanh thì cái chết đã nằm trong sự sống:

“Tất cả chúng sanh đều phải chết, đều kết thúc trong sự chết, đều không vượt qua sự chết. Ví như, thưa Đại Vương, tất cả đồ gốm do người thợ gốm làm ra, chưa nung chín hay đã nung chín, tất cả đồ gốm ấy đều phải bể, đều kết thúc trong sự bể, đều không vượt qua sự bể. Cũng vậy, thưa Ðại Vương, tất cả chúng sanh đều phải chết, đều kết thúc trong sự chết, đều không vượt qua sự chết”.

(Tương Ưng Bộ Kinh I, chương III. Tương Ưng Kosala, III phẩm Thứ Ba, bài kinh Tổ Mẫu) 

Chúng ta phải thấy đời sống này đầy bất an, lo lắng, bệnh tật và sợ hãi. Mặc dù hiện tại chúng ta đang được bình an nhưng ở ngoài kia, biết bao nhiêu người gặp tai nạn phải ra đi đột ngột. Thế nhưng, đáng thương thay, khi trong cảm giác, nghĩ, tưởng của chúng ta là lúc nào mình cũng được bình an, đều đều, không đổi khác, không có chuyện bất ngờ ra đi, nghĩ mình đến bảy mươi tuổi, tám mươi tuổi mới chết, suy nghĩ như vậy là vô minh. Hoặc bây giờ mình được ngồi học kinh, nghe pháp và nghĩ ngày mai cũng được học y như vậy; suy nghĩ đó là si mê, vì trên đời này không có gì là chắc chắn. Tất cả pháp luôn biến động, luôn vận hành, Đức Thế Tôn gọi đó là các hành; tức là sắc, thọ, tưởng, hành, thức luôn luôn ở trong trạng thái vận hành, dịch chuyển, thiên lưu, biến diệt. Nhưng chúng ta nhìn các pháp là thường hằng, không đổi khác; khi nhìn thấy người khác khổ đau, tai nạn, già chết thì không nghĩ mình cũng sẽ như vậy; khi nào mình sắp chết thì mới khóc, lúc gặp tai nạn mới thấy là khổ; còn bình thường không thấy các pháp đang biến đổi, đi dần đến hoại diệt.

Cả cuộc đời của chúng sanh, hữu tình mải mê chạy tìm, theo đuổi những sắc, thọ, tưởng, hành, thức mà không biết bản chất của nó là lắp ráp, kết hợp, nương dựa, đổi thay, vô thường, tạm bợ, mong manh. Người thân thương nhất của chúng ta có thể ra đi bất cứ lúc nào. Bất thình lình chúng ta có thể nghe điện thoại báo tin “bà mất rồi, mẹ mất rồi, cha mất rồi, anh em mất rồi” mà không một lời báo trước. Trước đó, họ vẫn còn hình hài của một con người; có đầy đủ những cảm giác, nhận thức, suy tư; nhưng khi trở về chỉ còn một nắm tro tàn, một hũ cốt. Chúng ta phải nhìn nhận thật sâu điều này, không phải chỉ học trên lớp, khi mở kinh ra đọc, hay lúc ngồi trên thiền đường thì mới nhớ; mà phải thường nhắc nhở tâm mình rằng tất cả những sắc pháp là vô thường, tan rã, biến hoại, tiêu vong. Thân xác này là đột ngột, đột biến, đột quỵ, đột tử, hình hài này là dễ tan nát, dễ biến hoại, dễ biến hoại, dễ hoại diệt.

Có nhiều sự việc xảy ra làm cho chúng ta bàng hoàng, không thể ngờ được. Một anh chàng tài xế dừng xe lại ven đường ngủ, hừng sáng anh dậy đi vệ sinh rồi kiểm tra xe thì anh thấy có một anh thanh niên chạy xe máy tông vào xe tải của anh chết tại chỗ. Anh tài xế bàng hoàng, bủn rủn tay chân vì xe đậu lại cũng bị người ta tông vào chết. Vừa rồi, một người mẹ chở con đi học, con vừa xuống xe, mẹ quay đầu xe lại định về thì có xe tải chạy đến, bất ngờ tông chết đứa con, người mẹ chứng kiến cảnh đố bất tỉnh tại chỗ.

Đây chính là “Nikāya sống” của thế kỉ 21, chúng ta phải đem hai chữ “vô thường” vào sâu trong sắc, thọ, tưởng, hành, thức của tự thân mình, đừng nghĩ đó là chuyện của người khác. Hãy đọc vào cổ kinh 2600 trước và kết hợp với những thực tế hiện trạng trong đời sống hiện nay để làm bừng sáng sự thật mà Đức Phật chứng ngộ. Đó là những bài học sống động, là kinh sống, là pháp sống, là chân lí sống đang diễn ra trước mắt mình, bên cạnh mình và cả những người xung quanh. Hãy lấy sự thật về vô thường của thân ngũ uẩn này để chiêm nghiệm, quán chiếu, tư duy, tư sát để tu tập; làm cho mình có một động lực mạnh mẽ, càng tinh tấn hơn, nỗ lực hơn, càng dành nhiều thời gian hơn nữa để tu tập các thiện pháp và công đức. Bởi lẽ, chúng ta không biết được mình sẽ ra đi lúc nào, ở chỗ nào và ra đi như thế nào.

Nhìn sâu vào tâm, ta sẽ thấy tất cả cảm giác cũng là vô thường, đây là đối tượng không được tham đắm, không được hoan hỷ. Các cảm thọ biến đổi liên tục, nếu không nhận diện rõ thì mình sẽ bị ba loại cảm giác: vui, khổ, không vui không khổ xoay vần cuộc đời mình như chong chóng, luân hồi sanh tử chính tại ở chỗ này. Vì không thấy được cảm thọ là vô thường nên chúng ta cứ si mê trong bất khổ bất lạc thọ, chấp chặt vào những khổ thọ, say đắm trong những lạc thọ, đến khi mất đi thì đau khổ, bàng hoàng. Ba loại cảm giác này cứ thay nhau trói buộc, khiến tất cả chúng sanh chìm ngập trong sầu, bi, khổ, ưu, não. Những hình bóng, suy nghĩ, nhận thức trong tâm cũng vậy, cứ sanh rồi diệt, diệt rồi sanh, biến đổi không ngừng. Vậy mà ta lại nhận lầm những sắc, thọ, tưởng, hành, thức này là thật có, là thường còn, là không thay đổi, nên khi vô thường xảy đến, ta khổ đau vô vàn.

Chúng ta không thể an ổn, bình an trong thế giới ngũ uẩn này. Thế giới này là thế giới của vô thường, của tan hoại, của bại hoại, của biến hoại, của hoại diệt. Không sớm thì muộn cũng sụp đổ, tan vỡ, tan tành. Tấm thân mấy chục kí lô của mình không bền chắc, kiên cố một chút nào. Nó là đồ trống rống như bong bóng nước, chỉ cần chạm nhẹ là bể nát ra. Mình phải chiêm nghiệm, tư duy, quán chiếu những điều ngày thật sâu sắc. Mỗi khi lên giường nằm ngủ phải quán mình đang chết, phải thường xuyên niệm tử, nhắc nhở bản thân cái chết này là bất thình lình, bất cứ lúc nào cũng có thể xảy ra với mình, vì vậy, những buồn thương giận ghét hãy buông bỏ hết đi, giận buồn làm chi đối với ngũ uẩn vô thường này.

Ngoài kia, núi đồi sạt lở, động đất, sóng thần, thiên tai, dịch bệnh… đầy những thảm họa và bất trắc. Thật không khỏi bàng hoàng, bất ngờ, lo lắng và sợ hãi trước sự vô thường của hoàn cảnh xung quanh. Chúng ta cứ tưởng rằng mọi sự, mọi vật xung quanh cứ mãi mãi như vậy, cứ bền chắc, kiên cố, vững vàng; mà không ngờ tích tắc thôi là sụp đổ, tan vỡ, tan nát, tan hoại, tan tành. Nhìn thấy những cảnh đó, mình phải phát sanh cảm giác lo lắng và sợ hãi, thức tỉnh trước vô thường để chuyên tâm tu học. Bằng không, ta sẽ sống trong sự lãng quên vô thường đang cận kề ngay cạnh bên.

Những người xung quanh mình, họ lo ăn, lo chơi, lo đi du lịch, lo hưởng thụ… nhưng cuối cùng thì chỉ có già bệnh chết ập tới, tóc bạc, lưng còng, mắt mờ, tai điếc, gối mỏi. Đó là trường hợp những người sống thọ, được sống đến tuổi già. Thế nhưng, xung quanh ta cũng không thiếu những người chỉ vài tuổi cho đến mười mấy, hai mươi, ba mươi tuổi là đã hết thọ mạng; không kịp bước sang giai đoạn của già, của bệnh. Tấm thân vô thường, mong manh, tạm bợ, ngắn ngủi như vậy mà tâm mê mờ lại ảo tưởng nó là thật, là bền chắc, là sạch đẹp, là lâu dài. Đến khi nó lung lay, sứt mẻ, đau ốm là chúng ta khổ, sầu, bi, ưu, não.

Cho nên chúng ta đừng mở mắt ra là nghĩ xem hôm nay ăn cái gì, đi chơi ở đâu, như vậy thì thật sự uống phí cho kiếp người mong manh này. Thay vào đó, mỗi ngày nghĩ xem hôm nay mình phải làm những thiện pháp gì, những công đức gì, tu tập trí tuệ như thế nào để thoát khỏi những kiếp sống vô thường, giả tạm này.Chúng ta phải tu tập theo Thánh Trí Tuệ của Đức Phật để giải phá, phá vỡ, phá nát, phá tung, phá sập, phá đổ hết những chấp thủ, mê lầm, ngộ nhận về đời sống này. Một khi Thánh trí tuệ rực sáng trong tâm thì tất cả những hôn ám, si mê sẽ bị xóa sạch. Không phải chỉ khi trên lớp, khi mở kinh ra đọc, lúc nghe pháp hay lúc lên Thiền đường thì ta mới nhớ đến vô thường, mà phải thường nhắc nhở tâm si mê này rằng ngũ uẩn này là vô thường, đi đến biến hoại, hoại diệt, tiêu vong.

Mỗi lần Minh Thành bước lên xe đi công việc hoặc lên máy bay là không nghĩ rằng có thể trở về an toàn, trong suy nghĩ lúc nào cũng nhớ vô thường, tác ý nói với tâm mê rằng: "Mày phải nhớ đến vô thường, không được phép quên. Mày đừng nghĩ thân này là của mày, xe này của mày, chùa này của mày, dẹp bỏ thân ngu si đó đi. Mày phải nhìn thấy được bản chất vô thường của ngũ uẩn này. Phải mở to con mắt này ra để nhìn thấy sự thật này".

Người tu thật sự thấy được như vậy mới là thực chứng bằng trí tuệ của tự thân. Ngược lại, nếu chỉ mường tượng về “vô thường, khổ, không, vô ngã” trên từ ngữ, trên sách vở thì đó mãi mãi là trí tuệ của Đức Phật, chúng ta vẫn mãi ở trong vô minh, không thông tỏ về sự vô thường của ngũ uẩn. Vì vậy, điều quan trọng nhất vẫn là thực tập, hành trì, quán chiếu miên mật về vô thường thì mới mong đạt tới chỗ Thánh trí, mới thật thấy, thật chứng về bản chất của thân và tâm. Như khi nói hoa rơi lá rụng, người này chết, người nọ bị thương… thì ta chỉ thấy vô thường ở trên miệng, biết về vô thường qua lỗ tai. Chỉ khi nào ta thực thấy vô thường trong sắc, thọ, tưởng, hành, thức; thấy rõ thật pháp đang diễn ra thì mới tỏ ngộ chân lý vô thường mãnh liệt. Đó là “đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, người trí tự mình giác hiểu”.

Trống Rỗng – Vô Ngã

Đức Thế Tôn đã chứng ngộ rằng, tấm thân này được làm bằng sữa, quét tô bằng thịt và máu. Trong đây là sự lụng tàn của già nua, bệnh tật, chết chóc, ngã mạn, chất chứa những sự lừa đảo và dối trá.

Thành này làm bằng xương,

Quét tô bằng thịt máu,

Ở đây già và chết,

Mạn, lừa đảo chất chứa.

(Kinh Pháp Cú – Phẩm Già)

Trong tấm thân máu mủ, da thịt trống rỗng này không có một tự ngã, không có một cái tôi cứng chắc mà chỉ là một tâm chấp ngã, hơn thua, bản ngã, ngã mạn. Đầy ấp cả trời đất này là một cái tôi siêu to khổng lồ đè lên đầu, lên vai, lên mặt, lên tâm thức của mình; đối với những cảm giác, nghĩ, tưởng, suy nghĩ, nhận thức lúc nào ta cũng cho đó là tôi, là của tôi. Thế nhưng sự thật phũ phàng là: “Thân trống rỗng, không ai trong đó, Chỉ có tim, gan, máu, thịt, xương, Phủ ngoài một lớp da trơn lán, Che đậy vô vàn thứ nhớp nhơ”.

Không ai ở trong thân ngũ uẩn này, tất cả chỉ là đất, nước, gió, lửa, chỉ là những cảm giác, nghĩ, tưởng sanh diệt, vô thường, trống rỗng. Một khi thân này ngã xuống, đổ xuống, sập xuống thì chỉ còn một đống tim, gan, máu, thịt, xương bầy nhầy, bất tịnh; những người thân thương nhất vội vã tiễn đưa mình đi xa. Nhưng đau đớn vô cùng khi chỉ cần một lớp da bên ngoài là mọi thứ nhớp nhơ bên trong được che giấu và nó lừa dối hết tất cả chúng sanh trên toàn thế giới. Cho nên, nắm chặt vào thân xác này là sự nắm chặt vào chỗ trống không, rỗng không, trống trơn, trống rỗng.

Bản chất cuộc đời là trống rỗng,

Bản chất cuộc đời là trống không,

Bản chất cuộc đời là cảnh mộng,

Dễ dàng tan biến vào hư không.

Vì vậy, đừng nghĩ rằng tấm thân này là tôi, là của tôi; mà hãy thấy đây là một khối thịt bao bọc bởi lớp da và chứa đầy bên trong là những vật bất tịnh; trong tâm là nhóm thọ, tưởng, hành, thức vô thường; thân và tâm này không có gì là tôi, là của tôi bên trong đó. Tấm thân năm uẩn này có thể trở thành một thứ vô tri, bất động như khúc cây, tan rã như đống tro tàn, hoại diệt dần thành những bộ xương khô, không có ở bên trong. Như vậy, hình hài này là mình hay bộ xương khô kia là mình? Đống thịt bầy nhầy kia là mình hay đống tro tàn, thu lượm được sau khi đem ra từ lò hỏa táng là mình? Cái nào là mình? Hay ngũ uẩn này chỉ là vô ngã, rỗng không?

Hiện tại chúng ta thấy mình còn ngồi đây làm việc, ăn uống, tu học bình thường nhưng chẳng may lát sau bước ra đường, tai nạn "ầm" một cái là lên bàn thờ, cuối cùng tất cả cũng trở thành khói mây. Đám cúng thất thứ nhất, thứ hai, thứ ba thì mọi người còn nhớ đến một chút, nhưng đến bốn mươi chín ngày là đâu cũng vào đó, chẳng còn gì sót lại ngoài nghiệp quả. Vậy mà nhìn nhau một chút là khó chịu, sân hận; nói chuyện thảo luận một chút là tự ái, giận buồn, hơn thua với nhau; đó là ngu mê, si ám, bản ngã rồi khổ đau.

Tất cả các sắc pháp sẽ đoạn diệt, hình hài này là có thể tan họai bất cứ lúc nào và ở nơi nào, không một lời báo trước, chính mình cũng không thể định đoạt được cho tự thân, vì vậy, chớ có suy nghĩ tấm thân này là ta, là của ta, là tự ngã của ta. Thân này chỉ là thứ rỗng không, chẳng khác gì một món đồ, nhìn qua thấy đẹp nhưng rơi bể là lập tức bị vứt bỏ. Những cảm giác, cảm thọ sanh ra do sự tiếp xúc là vui, khổ hay không vui không khổ cũng không phải là tôi, không phải là của tôi. Những hình bóng, suy nghĩ, nhận thức cũng không phải là tôi, không phải của tôi. Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý; sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp cũng không phải là tôi, không phải của tôi; mà nó là công cụ của ác nghiệp, là thành phẩm của vô minh và tham ái, là kết quả của tham, sân, si, bản ngã. Đừng cho rằng ngôi nhà, chiếc xe, tài sản, ruộng vườn, ngọn núi, ngôi chùa, tấm y, chiếc áo, đôi dép, mắt kiếng này là tôi, là của tôi; vì chỉ cần một chút bất cẩn thì mọi thứ có thể bốc cháy, không còn lại gì ngoài đống đổ nát và mình sẽ sầu bi, khổ, ưu não, sẽ đau khổ, khóc than, bứt tóc, đấm ngực, kêu trời; trong khi bản chất, bản tánh của nó là bại hoại, vô thường, vô ngã.

Ví dụ, có người lấy đồ đạc trong nhà mình ra đốt ngay trước mặt mình thì cảm thọ ta lúc đó thế nào? Bình thường chỉ cần người khác nói năng đụng chạm một chút là mình đã khó chịu; đừng nói gì đến việc có người đốt đồ trước mặt mình, khi đó làm sao tâm bất động được. Cho nên, do tâm chấp thủ vào những đồ vật, xem đó là mình, là của mình, không thấy bản chất của các sắc pháp là vô ngã nên trong tâm liền sân giận, bản ngã. Đối với người không nghĩ những thứ đó đó là tôi, là của tôi, thấu rõ bản chất của ngũ uẩn thì tâm sẽ không bị dao động nhiều. Hoặc khi đi chùa, vào chánh điện lễ Phật xong, bước ra ngoài thì bị mất dép. Lúc này thọ, tưởng hành khó chịu sẽ sanh khởi nhưng nếu biết tác ý “không có đôi dép nào là của mình” thì ta sẽ rất nhẹ nhàng, thậm chí còn có thể cười, hoan hỷ, xem đây là cơ hội để cho mình bố thí, không cần đi làm từ thiện ở đâu xa xôi.

Đối với người tu, nếu có người đến nói: “Cô mà tu cái gì! Thầy mà tu cái gì!”, lúc đó tâm mình ra sao? Nếu có sự quán chiếu các cảm thọ, thấy tất cả chỉ là pháp duyên sanh; lỗ tai này không phải là tôi, không phải của tôi; âm thanh đó không phải là tôi, không phải của tôi; sự rõ biết âm thanh đó không phải là tôi, không phải của tôi; cảm thọ này cũng không phải là tôi, không phải của tôi, không phải tự ngã của tôi thì mình có thể tách tâm ra khỏi cảm thọ. Quán chiếu như vậy thì dù phải đối mặt với những lời chê bai, chỉ trích, hoặc là lời khen thì tâm cũng không biến động.

Cho đến những bất trắc xảy ra ngay trên thân, như tai nạn giao thông, xe cán gãy hai chân, không còn hai chân nữa thì mình sẽ ra sao. Chỉ vừa nghe nói vậy thì thọ, tưởng, hành trong tâm đã hoạt động mạnh mẽ, nếu xảy ra thật thì chúng ta sẽ khổ đau đến nhường nào. Chỉ khi thường xuyên thực tập quán chiếu vô ngã nên thì những thứ xung quanh biến động, mọi việc vui buồn xảy đến, ta mới có thể bình thản đón nhận. Đó cũng là cơ hội cho mình chứng pháp, đắc pháp, ngộ pháp.

Vì vậy, mọi người thường nhớ niệm câu: "thân này không phải của tôi, không phải là tôi", "cảm giác này không phải là tôi, không phải của tôi", "những hình bóng trong tâm này không phải là tôi, không phải của tôi", "những suy nghĩ này không phải là tôi, không phải của tôi", "những sự rõ biết này không phải là tôi, không phải của tôi", "ngũ uẩn này không phải là tôi, không phải của tôi". Ngũ uẩn này là pháp vô thường tan hoại, khổ đau, vô ngã, nếu ta xem nó là mình, là của mình thì làm sao không sầu bi, ưu não cho được. Cho nên, hãy nhớ rằng, công phu quán chiếu ngũ uẩn vô ngã ở mức độ nào thì tâm ta sẽ được bình an ở mức độ đó.

Niệm Thân Vô Chủ (Kinh Ratthapala – Trung Bộ Kinh):

- Thân này là vô thường, đi đến hoại diệt.

- Thân này là vô hộ, vô chủ.

- Thân này là vô sở hữu, ra đi bỏ lại tất cả.

- Thân này là thiếu thốn, là khao khát, là nô lệ cho tham ái.

Đáng Nhàm Chán

Ổ tật bệnh – Bất tịnh – Ung nhọt:

Thân này bị suy già,

Ổ tật bệnh mỏng manh,

Nhóm bất tịnh đổ vỡ,

Chết, chấm dứt mạng sống

(Kinh Pháp Cú – Phẩm Già)

Vừa rồi Minh Thành ngồi trên chuyến bay bên cạnh một bà cụ sáu mươi mấy tuổi, người đó nói: “Thầy ơi con bị ung thư xương! Mỗi tuần phải đi hóa trị, đau nhức khó tả”. Vị khác đến tâm sự cũng nói: “Thầy ơi con bị ung thư gan!”. Bao nhiêu những chứng bệnh tàn phá hết thảy chúng sanh, mỗi năm có biết bao người phải chết vì ung thư và có thể trong cơ thể chúng ta có những mầm móng ung thư đang sanh khởi, đang có mặt. Hoặc dù hiện tại chúng ta không mắc bệnh ung thư thì cũng đừng quên mình sẽ bệnh, đang bệnh và đã bệnh; mình sẽ chết, mình đang chết và mình đã chết.

Hãy nhìn xuyên suốt vào sự thật đầy bất an, đầy đột biến trong xác thân đang ngồi đây. Không có chút gì chắc chắn, không có chút gì kiên cố, không có một chút gì bền lâu, bất cứ lúc nào cũng có thể ngã xuống, đổ xuống, quỵ xuống. Thân này là thứ đáng nhàm chán, không phải là thứ có thể tin cậy và nương dựa được. Thân này là thứ đầy bất an, lo lắng, bệnh tật, đầy phiền não, khổ đau và sợ hãi. Cần nhìn sâu vào trong để thấy được sự thật phũ phàng này.

Trước khi đại dịch Covid-19 xảy ra, không ai trong chúng ta nghĩ đến cảnh tượng người với người gặp nhau mà phải lo lắng, sợ hãi và chết chóc như vậy. Thân này là ổ vi trùng, là ổ chứa nhóm bệnh hoạn, đứng gần nhau nghe tiếng ho thôi là về ngủ không được, lo lắng, bất an, tưởng tượng ra đủ thứ chuyện. Một tiếng ho thôi có thể gây chết người, một sự tiếp xúc cũng có thể bị chôn trong nấm mồ tập thể, một cuộc nói chuyện cũng có thể mất mạng, đó là sự thật của thân sắc uẩn này, của đống máu mủ, phân và nước tiểu này.

Ung nhọt, này các Tỳ-kheo, là đồng nghĩa với thân này do bốn đại tác thành, do cha mẹ sinh ra, do cơm cháo chất chứa nuôi dưỡng, vô thường, biến hoại, tan nát, hủy hoại, hoại diệt, có chín miệng vết thương, có chín miệng nứt rạn. Từ đấy có cái gì chảy ra, chắc chắn bất tịnh rỉ chảy, chắc chắn hôi thúi rỉ chảy, chắc chắn nhàm chán rỉ chảy; có cái gì nứt chảy, chắc chắn bất tịnh nứt chảy, chắc chắn hôi thúi nứt chảy, chắc chắn nhàm chán nứt chảy.

Do vậy, này các Tỳ-kheo, các Thầy hãy nhàm chán thân này".

(Tăng Chi Bộ Kinh IV, Chương Chín Pháp, II. Phẩm Tiếng Rống Con Sư Tử, bài kinh Một Ung Nhọt)

Cái ung nhọt chín lỗ này chảy ra những thứ bất tịnh, nhờm tởm, kinh tởm, mình phải đem đi cất giấu, hủy diệt nó ngay lập tức khi nó vừa đào thải ra. Rỉ chảy ra những thứ nhàm chán, tanh hôi, thối tha, xú uế, dơ bẩn là thân xác này. Chúng ta phải tập nhàm chán chán ngán, chán chê cái hang ổ của tật bệnh, ung nhọt, ung hạch, ung bướu, ung thư này. Đây là nơi phát ra mầm dịch bệnh truyền nhiễm, là hang ổ của tật bệnh, là căn cứ địa của khổ đau.

Có cái gì ở trong ngũ uẩn này? Tiểu đường, tăng xông, mỡ trong máu, đau bao tử, đui điếc, câm ngọng, què quặt, cùi hủi, điên loạn, ung thư gan, ung thư phổi, ung thư ruột, ung thư vòm họng… Không có chỗ nào trên thân thể này không phải là chỗ của khổ đau, tật bệnh. Dù bất tịnh, hôi thối, tật bệnh, già nua, chết chóc, bất an, bất trắc như vậy mà trong tâm cũng đầy rẫy những dục tham, kiêu mạn, dối trá, lừa đảo, lừa lọc, mưu mô, mưu toan, mưu ác. Những sân hận thiêu nhau, đốt nhau, đâm nhau, giết nhau, chặt xác nhau, lừa gạt nhau, thủ đoạn với nhau, giành giật với nhau…

Vậy mà chúng ta cứ si mê, bám chấp vào thân này. Khi ai đó chê mình “hôi quá” thì sân si, bản ngã, bực bội, tức giận, trong khi điều đó là sự thật. Không phải đợi bên trong thân này bài tiết ra bên ngoài mới là hôi dơ, mà ngay khi không bài tiết ra thì bản chất của của thân ngũ uẩn này cũng là hôi dơ, nhưng vì tâm mê lầm che đậy nên mình không thấy. Toàn thân này không có chỗ nào là thật sự sạch sẽ, đâu đâu cũng có mủ, máu, mồ hôi, phân và nước tiểu; còn trong tâm là những uế nhiễm, rác bẩn của tham, sân, si từ vô lượng kiếp. Cho nên, chúng ta cần phải có một cái nhìn thấu triệt rằng cả thân và tâm này đều bất tịnh, dơ bẩn, đầy bệnh tật; nhờ thấy rõ như vậy thì sự chấp thủ, vô minh, tham ái đối với ngũ uẩn uẩn từ từ được nhả ra. Hãy quán chiếu thật sâu sắc để nhàm chán ngũ uẩn này một cách thấm thía, triệt để, trọn vẹn!

Nỗi bất hạnh:

Chúng ta mang tấm thân này là một sự bất hạnh, chứ không có gì hãnh diện gì đây. Một tấm thân đầy bệnh tật; một tấm thân chảy ra những thứ xấu hổ, nhục nhã; một tấm thân suốt ngày đòi ăn, đòi uống, đòi dục, đòi ái; một tấm thân suốt ngày chỉ muốn hơn người ta chứ không muốn thua. Chính vì dục, vì ái, vì vô minh nên mới có sắc thân này, cho nên, mang cái thân này không có gì đáng để khoe, để nói, để ngã mạn, ta đây.

Yêu thích hình hài ngũ uẩn này thật sự là bất hạnh. Bị rơi vào trong những cạm bẫy của cảm giác thật dục ái, sân hận, bản ngã là bất hạnh. Say mê, ưa thích được sống trong những cảm giác đó thật sự là bất hạnh. Những suy nghĩ bực bội, bức xúc, tranh giành, hơn thua thật sự là bất hạnh. Có khi chỉ vì một ánh mắt bị cho là nhìn đểu rồi lấy dao đâm giết nhau, cho nên cái thấy này là bất hạnh, ánh nhìn đó là bất hạnh. Huynh đệ hòa kính, tương ái, an ổn tu tập cùng nhau, nhưng có khi chỉ vì một câu nói rồi giận nhau, cho nên lỗ tai này là bất hạnh, âm thanh này là bất hạnh. Ngũ thủ uẩn này thật sự là bất hạnh, hễ còn ở trong đây là còn khổ đau, còn tai nạn, còn bệnh hoạn, còn nguy nan, còn khổ nạn, cho nên các bậc Thánh xả ly, viễn ly, xuất ly đối với sắc, thọ, tưởng, hành, thức; chỉ có phàm phu vô minh, si ám mới đam mê, say mê, tham đắm trong đó rồi đau khổ.

Mũi tên:

Sự hoành hành của ngũ uẩn này như mũi tên đâm vào tim tất cả chúng sanh. Thân xác này là mũi tên, đồ đạc chúng ta cất giữ là mũi tên, những cảm giác, hình bóng, rõ biết theo tham ái, vô minh, chấp thủ là mũi tên làm ta rỉ máu. Có khi ngồi một mình rồi suy nghĩ đủ thứ, tủi thân rồi khóc, những thọ, tưởng, hành, thanh tưởng, thanh tư, xúc tưởng, xúc tư hiện lên làm ta nhức nhối. Ta ray rứt, đau khổ vì những dĩ vãng của thất tình lục dục, mừng, giận, thương, sợ, yêu, ghét. Món đồ của mình lỡ bị ai lấy là mình tức tối, bực bội; vườn rau mình trồng, vườn bonsai mình chăm sóc mà bị hư hao, bể nát thì cảm thọ lại khó chịu, sân giận, giống như mũi tên bắn vào tim mình. Những suy nghĩ, hình bóng sân hận hay yêu thương cũng đều là mũi tên nhọn, khiến ta nhức nhói không ngày nào yên. Chúng ta bị trúng mũi tên độc bắn vào ngay tim nên đau khổ suốt cuộc đời, không phải chỉ trong kiếp này mà là vô lượng vô biên kiếp.

Người lạ:

Năm uẩn này thật sự là người lạ, không hề quen biết với mình. Chúng ta đừng nghĩ thân này là người quen, vì đời trước có khi mình đã là cô hồn, còn đời này khi nhắm mắt chưa biết có bị rơi vào súc sanh hay không. Thân này là người lạ, thật sự là người lạ, hôm này còn lành lặn, ngày mai có thể sẽ đổi khác; hôm nay hạnh phúc, ngày mai có thể sẽ buồn khổ; hôm nay là người yêu ngày mai có thể trở thành kẻ thù; hôm nay trên đỉnh cao danh vọng, ngày mai có thể trở thành kẻ bần cùng không ai giúp đỡ. Vậy mà, tài giỏi, hiểu biết một chút là ta đây, ngã mạn, không xem ai ra gì. Đi tu hiểu biết được một chút thì không còn kính thầy mến bạn. Đừng lấy đó làm tự hào, đừng lấy đó làm vênh váo, đừng vì tên người lạ năm uẩn này mà đưa mình đến tai họa, địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh.

Kẻ giết người:

Ngũ uẩn này là tên trộm, lén lút lấy hết kho báu trí huệ, kho tàng công đức của mình, là tên sát nhân giấu mặt, đưa mình vào đau khổ mà mình không hay biết. Trong Tương Ưng Uẩn, Đức Phật nói: “Sắc là kẻ giết người”, “Thọ là kẻ giết người”, “Tưởng là kẻ giết người”, “Các hành là kẻ giết người”, “Thức là kẻ giết người”.

Những cảm giác, nghĩ tưởng, suy tư, màu sắc loè lẹt của thế giới này là kẻ giết người. Người đời có khi dành đến mấy mươi năm đi làm để xây một ngôi nhà. Người tu không khéo có khi dành cả cuộc đời để xây một ngôi chùa. Sự nghiệp tu nếu đặt tâm không đúng hướng sẽ bị sắc uẩn giết chết hết một đời. Đối với những cảm giác, nghĩ, tưởng trong tâm, chúng ta có tin tưởng, xem nó là người thân tín, bạn tri âm, tri kỷ không? Chúng ta có yêu quý hình hài này nhiều không, có xem thân này là của báu, là báu vật không? Một khi sắc, thọ, tưởng, hành, thức này trở thành người thân tín thì nó sẽ từ từ giết chết ta.

Vì chỉ lo trau chuốt cho sắc thân; lo tranh giành địa vị, danh lợi; lo ăn ngon, mặc đẹp, ở sang, xe cộ, quần áo, giày dép mà mình quên đi cái chết, không biết ngũ uẩn đang từng ngày giết chết mình. Những cảm giác cứ thúc giục, đòi hỏi mình phải đáp ứng, cung phụng; nếu không nhìn ra tên sát nhân này thì cả kiếp người bị chìm trong vòng xoáy của cảm xúc. Rồi những suy nghĩ, hình bóng khiến mình cả ngày tưởng nhớ, mơ mộng, nhớ lại trước kia còn trẻ, tưởng tượng tuần sau, tháng sau sẽ làm gì. Những điều đó thúc giục khiến mình cứ chạy đuổi để thực hiện và mình sẽ già, bệnh, chết lúc nào không hay.

Lưỡi kiếm của dục tham trong năm uẩn lúc nào cũng kề ngay cổ mình, đeo đẳng bên mình như hình với bóng. Lúc nào chúng ta cũng phải nhớ nó ngay bên cạnh mình, nếu mình lơ là, chểnh mảng, không lo tu tập là nó sẽ hạ đao. Những thúc giục, ham muốn, ưa thích đối với sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp giống như đao phủ đang kề cận bên mình, vậy mà mình chỉ lo ăn mặc, lo chơi, lo cười, lo nói mà không hề nghĩ rằng cái chết đang kề cận, tới chừng phát hiện thì đã muộn. Vì vậy, hãy luôn nhớ rằng, ngũ uẩn là tên sát nhân giấu mặt đang giết chết ta từng ngày để nỗ lực tu học trong đời này.

Gánh nặng:

“Này các Tỳ-kheo, thế nào là gánh nặng? Năm thủ uẩn là câu trả lời. Thế nào là năm? Sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là gánh nặng.

(Tương Ưng Bộ Kinh III, Chương I. Tương Ưng Uẩn (b), III. Phẩm Gánh Nặng, I. Gánh Nặng)

Người đời cứ nghĩ gánh nặng là cơm áo gạo tiền, gánh nặng là gia đình chồng con, gánh nặng là bệnh tật đang mang của thân thể. Còn nhiều người tu nghĩ gánh nặng là ngôi chùa, là công việc, là bổn phận, là trách nhiệm… Tất cả những điều đó chưa phải là gánh nặng thật sự, Đức Thế Tôn chỉ ra rằng sự nắm chặt sắc, thọ, tưởng, hành, thức này mới chính là gánh nặng.

Việc mang thân xác, cảm giác, nghĩ, tưởng, nhận thức vô thường, trống rỗng, khổ đau này là một gánh nặng. Nhà cửa là gánh nặng, đất đai ruộng vườn là gánh nặng, xe cộ tài sản là gánh nặng, vợ chồng con cái là gánh nặng, những cảm giác, nghĩ, tưởng là gánh nặng… Chúng ta phải vác gánh nặng như vậy mà đi suốt cả cuộc đời, càng lớn tuổi thì càng chồng chất những sự chấp thủ, bản ngã, tham ái và tham ái này đưa đến tái sanh. Vì vô minh nên không thấy ngũ uẩn là gánh nặng, chỉ thấy vui thích, đam mê trong những sắc, thọ, tưởng, hành, thức; đó là động lực để tiếp tục có thêm những gánh nặng khác.

Chúng sanh hữu tình mang gánh nặng của năm uẩn, đi đường xa, đường dài, vô cùng mệt mỏi. Gánh sắc, gánh thọ, gánh tưởng, gánh hành, gánh thức khiến chúng sanh oằn vai, ngã quỵ xuống nhưng vẫn tiếp tục bò lên để gánh nữa. Gánh trong nước mắt, gánh trong sự đau đớn, gánh trong sự thống khổ. Vì vậy, hãy ý thức về gánh nặng một cách sâu sắc, quán chiếu về gánh nặng một cách triệt để, trọn vẹn để từ từ đặt gánh nặng xuống, buông gánh nặng xuống thì chúng ta sẽ được nhẹ nhàng. Đặt gánh nặng xuống chúng ta sẽ được thảnh thơi. Bỏ gánh nặng xuống chúng ta sẽ được bình an. Quăng gánh nặng đi chúng ta sẽ được giải thoát. Thật tự do và tự tại khi chúng ta có thể đặt hoàn toàn gánh nặng của năm uẩn này xuống!

SỰ VẬN HÀNH CỦA NGŨ UẨN

Duyên Sanh Pháp

Trước nay, khi nghe các từ “duyên sanh pháp”, “duyên sanh”, “duyên khởi”, “nhân duyên” thì nhiều vị chỉ nghĩ đến những duyên sanh, duyên khởi, nhân duyên ở bên ngoài. Nhưng theo tinh thần Đức Phật dạy trong Kinh Tạng Nikāya, duyên sanh pháp là sự hướng nội, nội soi vào bên trong để thấy sư vận hành của thân tâm; thấy được tính chất của các pháp là duyên sanh, nương dựa lẫn nhau mà sanh khởi, không có một chủ thể bên trong mà chỉ là một dây chuyền với nhiều mắc xích kết hợp lại với nhau. Từ đó thấy rõ sâu thẳm bên trong thân tâm này không có một tự ngã hay cái tôi nào cả. Vì với cái nhìn phàm phu, ta thường chỉ nhìn thấy bề ngoài một cách thiển cận, cạn cợt, nông cạn, nhỏ hẹp, không nhìn được vào sâu sắc bản chất, sự thật, gốc rễ của vấn đề. Ví dụ, khi mình đang giận, mình đơn giản cho rằng có một cái tôi đang giận, suy nghĩ đó là tà kiến, vô minh, chấp ngã. Khi học duyên sanh pháp, chúng ta sẽ thấy được cả một guồng máy vận hành mới làm sanh khởi cơn giận và cơn giận đó chỉ là cảm thọ. Đó là ý nghĩa của việc thực hành quán chiếu để thấy được duyên sanh pháp.

Cho nên nói, thân tâm này là những sự kết nối rời rạc, từng chặng vận hành giống như một bộ máy. Phải nhìn từ nhiều khía cạnh, góc độ của một vấn đề thì mới có thể thấy biết một cách toàn diện, rốt ráo, đầy đủ về thân tâm chính mình. Giống như các công ty, xí nghiệp sản xuất thực phẩm, thức ăn, mì gói, bánh kẹo theo dây chuyền thì từng khâu làm bột, cho vào khuôn rồi đóng gói đều được thực hiện theo từng quy trình riêng lẻ, cuối cùng mới cho ra thành phẩm… Cũng vậy, khi học duyên sanh pháp, chúng ta sẽ biết được ngũ uẩn vận hành theo bao nhiêu lớp, bao nhiêu chặng và các pháp sanh khởi như thế nào, nhờ hiểu được nguyên lý vận hành đó mà ta có khả năng nhiếp phục và chế ngự các pháp ác và bất thiện. Để được như vậy, trước tiên mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý phải được cẩn thận giữ gìn. Muốn phòng hộ cho thật trọn vẹn, chúng ta cần phải hiểu rõ sự vận hành của căn, trần, thức, xúc, thọ, ái trong Duyên Sanh Pháp như sau:

Mắt:

"Do duyên có mắt và các sắc, sanh khởi Nhãn thức (rõ biết các sắc). Sự hội tụ của ba pháp này là Nhãn xúc. Do duyên có Nhãn xúc nên sanh khởi thọ do nhãn xúc sanh, sắc tưởng, sắc tư.

Mắt + Sắc => Nhãn thức => Nhãn xúc => Thọ do Nhãn xúc sanh + Sắc tưởng + Sắc tư"

Đầu tiên là duyên sanh pháp của mắt: do duyên có mắt (căn) và các sắc (trần), sanh khởi lên sự rõ biết các sắc (nhãn thức). Ba pháp này giao thoa, hội tụ với nhau tạo thành sự tiếp xúc của mắt gọi là nhãn xúc. Do duyên có nhãn xúc nên sanh khởi thọ do nhãn xúc sanh, sắc tưởng, sắc tư.

Cảm thọ sanh khởi sẽ rơi vào một trong ba loại: cảm giác dễ chịu, cảm giác khó chịu, cảm giác không dễ chịu không khó chịu. Khi có một cảm giác dễ chịu thì ta thích, tham, ái; cảm giác khó chịu thì sanh tức giận, sân hận; cảm giác không dễ chịu không khó chịu thì ta đơ đơ trơ trơ, không ý thức rõ, tức si.

Sắc tưởng là những hình bóng hiện khởi lên trong tâm do sự tiếp xúc của mắt đối với trần cảnh. Sắc tư chính là những giọng nói lầm thầm khởi lên trong tâm do sự tiếp xúc của mắt đối với trần cảnh. Chẳng hạn khi ta ngắm nhìn bức hình của mẹ, sanh khởi lên cảm giác dễ chịu thì đây chính là thọ do nhãn xúc sanh; sanh khởi lên hình bóng liên quan đến mẹ như hình ảnh mẹ đang nói cười thì đây chính là sắc tưởng; sanh khởi lên những giọng nói thì thầm “không biết mẹ bây giờ có khỏe không” thì đây chính là sắc tư.

Tai

"Do duyên có tai và các tiếng, sanh khởi Nhĩ thức (nghe rõ, rõ biết các âm thanh). Sự hội tụ của ba pháp này là Nhĩ xúc. Do duyên có Nhĩ xúc nên sanh khởi thọ do nhĩ xúc sanh, thanh tưởng, thanh tư.

Tai + Tiếng => Nhĩ thức => Nhĩ xúc => Thọ do Nhĩ xúc sanh + Thanh tưởng +Thanh tư" (nghi thức tu học Nikāya)

Do duyên có tai (căn), có âm thanh (trần), sanh khởi lên sự rõ biết âm thanh (nhĩ thức). Ba pháp này giao thoa, hội tụ với nhau tạo thành sự tiếp xúc của tai (nhĩ xúc). Do duyên có nhĩ xúc nên sanh khởi thọ do nhĩ xúc sanh, thanh tưởng, thanh tư. Thọ này cũng gồm có ba loại: dễ chịu, khó chịu, không dễ chịu không khó chịu. Nếu lời nói được nghe là êm ái, ngọt ngào, ta sanh khởi sự tham, ái, thích thì mình phải nhiếp phục cảm thọ lạc đó, không để nó làm mất chánh niệm. Còn nếu phải nghe những lời người khác chỉ trích, phỉ báng, thậm chí là mắng chửi mình thì hãy nhận diện kỹ trong cảm thọ có ác, bất thiện pháp không, nếu có phải lập tức chế ngự, hóa giải cảm thọ đó. Đó là sự hộ trì nhĩ căn, giữ gìn lỗ tai khi nghe tiếng.

Mũi

-Do duyên có mũi và các mùi, sanh khởi Tỷ thức (rõ biết các mùi). Sự hội tụ của ba pháp này là Tỷ xúc. Do duyên có Tỷ xúc nên sanh khởi thọ do tỷ xúc sanh, hương tưởng, hương tư.

Mũi + Mùi => Tỷ thức => Tỷ xúc => Thọ do Tỷ xúc sanh + Hương tưởng + Hương tư.

Ví dụ, do duyên có lỗ mũi (căn) và có mùi (trần), sanh khởi ra sự rõ biết các mùi (tỷ thức). Khi lỗ mũi, mùi, sự rõ biết các mùi hội tụ, tiếp xúc thì sanh ra tỷ xúc. Do sự tiếp xúc này mà sanh khởi thọ do tỷ xúc sanh, hương tưởng, hương tư. Nếu đó là mùi khó chịu thì có cảm thọ sân, bực bội; nếu là mùi thơm thì có cảm thọ dễ chịu. Sự hồi tưởng lại những hình ảnh về mùi hương đã từng tiếp xúc gọi là hương tưởng; suy nghĩ về mùi hương đó gọi là hương tư.

Lưỡi

-Do duyên có lưỡi và các vị, sanh khởi Thiệt thức (rõ biết các vị). Sự hội tụ của ba pháp này là Thiệt xúc. Do duyên có Thiệt xúc nên sanh khởi thọ do thiệt xúc sanh, vị tưởng, vị tư.

Lưỡi + Vị => Thiệt thức => Thiệt xúc => Thọ do Thiệt xúc sanh + Vị tưởng + Vị tư"

Do duyên có lưỡi (căn), có vị của thức ăn (trần), sanh khởi sự rõ biết các vị (thiệt hức). Ba pháp căn, trần, thức này hội tụ, giao thoa thì gọi là thiệt xúc – sự tiếp xúc của lưỡi. Do duyên có thiệt xúc sanh khởi ra cảm giác dễ chịu, khó chịu hoặc bình thường, không dễ chịu cũng không khó chịu, cùng với vị tưởng, vị tư.

Kết hợp mũi và lưỡi, Minh Thành có ví dụ như sau, khi vào bếp, ngửi được mùi hương thơm của thức ăn thì sanh khởi sự thích thú, đó là thọ dễ chịu cho tỷ xúc sanh. Khi được ăn, do thức ăn ngon quá nên muốn ăn nhiều, trong đó có tham; nếu thức ăn dở, ăn không vào, có sự khó chịu, đó là sân, gọi là thọ do thiệt xúc sanh. Sau khi ăn xong, hồi tưởng lại hương thơm của món ăn, đó gọi là hương tưởng; hồi tưởng lại hình bóng, màu sắc của món ăn đó là sắc tưởng; hồi tưởng lại vị ngon của thức ăn là vị tưởng, suy nghĩ về món ăn gọi là vị tư.

Mặt khác, khi lưỡi tiếp xúc món ăn, nếu vị ngon sẽ thích món ăn đó nên ái sanh khởi, trong tâm có sự thúc giục ăn nhiều, ăn nhanh là dục và tham. Nếu không nhiếp phục dục tham ái, không thấy sự vận hành của các cảm giác, cảm thọ thì ta sẽ ăn trong dục tham ái chứ không ăn trong chánh niệm, cảm thọ trong lưỡi xâm chiếm toàn bộ thân tâm, thậm chí làm rớt đũa muỗng, tay áo dính cả vào thức ăn vì lúc đó không có chánh niệm, không có Thân Hành Niệm nên bị cảm thọ đó áp đảo, lôi kéo.

Ngoài ta, ta cần thấy rằng, sự rõ biết được mùi thơm, vị ngon của món ăn là nhờ mũi và lưỡi có chức năng bình thường. Nhưng nếu mũi bị mất mùi, lưỡi bị mất vị thì không biết được thức ăn ngon hay dở; hoặc biết nhưng không rõ ràng. Cho nên, đây là pháp duyên sanh, biến đổi, vô thường, dịch chuyển, biến hoại, sự nhận thức không còn rõ ràng, không còn đúng nữa vì mất vị giác, mất khứu giác. Qua đó chúng ta cũng thấy được thức uẩn là vô thường, biến đổi.

Thân

-"Do duyên có thân và có sự đụng chạm, sanh khởi Thân thức (rõ biết sự đụng chạm). Sự hội tụ của ba pháp này là Thân xúc. Do duyên có Thân xúc nên sanh khởi thọ do thân xúc sanh, xúc tưởng, xúc tư.

Thân + Sự đụng chạm => Thân thức => Thân xúc => Thọ do Thân xúc sanh + Xúc tưởng + Xúc tư"

Do duyên có thân (căn), có sự đụng chạm (trần), sanh khởi sự rõ biết tiếp xúc (thân thức). Sự giao thoa của ba pháp này là sự tiếp xúc của thân – thân xúc. Do duyên có thân xúc nên sanh khởi thọ do thân xúc sanh, xúc tưởng, xúc tư. Thân xúc sẽ sanh khởi cảm thọ dễ chịu, hoặc khó chịu, hoặc không dễ chịu không khó chịu. Sự tiếp xúc của da với các đối tượng như quần áo, bàn ghế, giày dép… chính là thân xúc; cảm giác đến từ đó gọi là thọ do thân xúc sanh. Ví dụ, khi ngồi ghế gỗ cứng thì mông đau, khó chịu; cảm giác khó chịu đó là thọ do thân xúc sanh. Còn khi được ngồi trên một chiếc salon êm ái, đắt tiền, cảm thấy dễ chịu, thoải mái thì cảm giác dễ chịu đó cũng là thọ do thân xúc sanh. Sự hồi tưởng lại hình ảnh của sự tiếp xúc là xúc tưởng; những suy nghĩ về sự tiếp xúc gọi là xúc tư.

Ý

-"Do duyên có ý và các pháp thọ, tưởng, hành nên sanh khởi ý thức (rõ biết thọ, tưởng, hành). Sự hội tụ của ba pháp này là Ý xúc. Do duyên có Ý xúc nên sanh khởi thọ do ý xúc sanh, pháp tưởng, pháp tư.

Ý + Thọ, Tưởng, Hành => Ý thức => Ý xúc => Thọ do ý xúc sanh + Pháp tưởng + Pháp tư" (nghi thức tu học Nikāya)--

Cuối cùng là duyên sanh pháp của ý, đây là phần hết sức sâu sắc và vi tế của tâm. Do duyên có ý (căn) và các pháp thọ, tưởng, hành (trần) nên sanh khởi sự rõ biết thọ, tưởng, hành (ý thức). Sự hội tụ của ba pháp này là Ý xúc. Do duyên có Ý xúc nên sanh khởi thọ do ý xúc sanh, pháp tưởng, pháp tư. Nếu đối tượng tiếp xúc của mắt là các hình ảnh bên ngoài (sắc trần); đối tượng tiếp xúc của tai là các âm thanh bên ngoài (thanh trần)… thì đối tượng tiếp xúc của ý căn chính là các pháp thọ, tưởng, hành bên trong tâm.

Có những việc ta làm hằng ngày nhưng ta không biết, không nhận thức được, đó chính là vô minh. Ví như ta đi đâu đó, bị va quẹt, trầy xước mà không hề hay biết; chỉ đến khi cảm thấy có sự khó chịu, đau rát ở nơi bị xước, ta để ý lại thì mới biết mình bị trầy; sự để ý đến nơi nào thì các pháp hiện ra trong tâm chính là ý căn. Ví dụ rõ hơn về ý căn, trong đêm tối hoặc ở trong căn phòng tối bị mất điện, xung quanh không có ánh sáng, ta cầm đèn pin trên tay, muốn thấy chỗ nào thì ta rọi vào chỗ đó, lúc này những cái gì ở hướng có ánh sáng sẽ hiện ra trước mắt ta; đèn pin là ví dụ cho ý căn. Cũng như vậy, khi ý căn soi rọi, để ý đến đâu thì nơi đó các pháp nơi đó hiện ra; còn bình thường không để ý thì các pháp không hiển lộ. Đối với những vị có công phu nội quán, mỗi khi nhìn lại trong tâm sẽ thấy những cảm thọ, hình bóng, giọng nói thì thầm bên trong. Ngược lại, người có công phu nội quán còn yếu thì rất khó để nhận ra các thọ, tưởng, hành.

Như vậy, sự để ý hướng vào tâm để nhìn thấy các pháp chính là ý căn; sự rõ biết các cảm thọ, hình bóng, suy nghĩ chính là ý thức; những điều ta đã nghe, đã thấy, đã tiếp xúc trước đây giờ còn lưu bóng trong tâm và giờ hiện khởi trở lại chính là pháp trần. Ba pháp này chạm nhau, gặp gỡ ở một điểm giao thoa với nhau, đây gọi là ý xúc. Do duyên có ý xúc nên sanh khởi thọ do ý xúc sanh, pháp tưởng, pháp tư.

Chẳng hạn, khi ta đang ngồi thiền thì bỗng nhiên trong tâm xuất hiện hình ảnh của một người quen, hình bóng này chính là tưởng, có sự rõ biết hình bóng đó là ý thức. Sự hội tụ của ý căn, pháp tưởng, ý thức chính là ý xúc – sự tiếp xúc của ý căn với hình bóng bên trong tâm. Do duyên có ý xúc này nên sanh khởi thọ do ý xúc sanh, pháp tưởng, pháp tư. Khi hình bóng của người này xuất hiện thì ngay sau đó là một cảm giác tương ứng đi theo hình bóng đó. Nếu đó là người mình thích thì có cảm giác dễ chịu; nếu là người mình ghét thì cảm giác khó chịu. Cùng với đó là những hình bóng, giọng nói thì thầm liên quan gọi là pháp tưởng, pháp tư.

---

Như vậy, chuỗi vận hành của Duyên Sanh Pháp rất cụ thể, rõ ràng, chúng ta sử dụng hằng ngày hằng giờ, hằng tháng, hằng năm cho đến suốt cuộc đời và vô lượng vô biên kiếp nhưng không thấy không biết nên Đức Phật gọi đó là vô minh. Bởi lẽ, do không thấy không biết sự vận hành của ngũ uẩn nên ta xem tất cả là một khối thống nhất; không biết căn, trần, thức, xúc, thọ, tưởng, tư… là như thế nàp. Mọi thứ trong thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc chạm từ bên ngoài, cho đến các pháp đến bên trong đều là sự thấy biết của vô minh, tham ái và chấp thủ; không thấy không biết bản chất thật sự của ngũ uẩn nên yêu thích và nắm giữ nó để rồi đau khổ lâu dài.

Tâm phàm phu là tâm chấp thủ từ bên trong đến bên ngoài, vì vậy, cần phải hiểu rõ sự vận hành của ngũ uẩn để phòng hộ, hộ trì thì đời tu mới tiến bộ và có thành tựu. Do đó, sau khi nắm rõ nguyên lý vận hành của ngũ uẩn, thấy được duyên sanh pháp thì phần hộ trì các căn là tuyệt đối quan trọng, đây là điều căn bản của người xuất gia, nếu không hiểu, không thực tập thì mình không phải là một người xuất gia chân chánh của Đức Phật.

Hộ Trì Căn

Quý Tăng Ni thân mến, sự tiếp xúc của sáu căn với sáu trần có ảnh hưởng vô cùng lớn đối với đời tu nói riêng và toàn thể chúng sanh nói chung. Nếu ta không hộ trì căn, không cẩn thận giữ gìn, bảo hộ mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý mà lại chấp nhận và bị cuốn theo những thọ, tưởng, hành bất thiện thì tham, sân, si, sầu, bi, khổ, ưu, não sẽ xâm chiếm, tăng trưởng quảng đại, tàn phá tâm này và ta sẽ sống một đời khổ sở, bất an, dẫu thân đang ở nơi thanh vắng.

Bởi lẽ, không nhất thiết phải đi đâu xa xôi, chỉ cần ở trong phòng với một chiếc điện thoại thông minh, là bao nhiêu xúc, bao nhiêu thọ, tưởng, hành được sanh khởi, vận hành. Bằng chứng là rất nhiều thanh thiếu niên nghiện game, sa đà vào những ấn phẩm đồi trụy, phụ thuộc vào mạng xã hội… đến quên cả ăn ngủ, thân thể hao mòn, đầu óc trì trệ. Đó chính là xúc sanh thọ, thọ sanh ái, ái sanh thủ… rồi đưa đến những đau thương, mất mát không ngừng.

Ví dụ dễ thấy, trong mùa dịch Covid-19, nếu không biết phòng hộ, không biết giữ gìn, không biết bảo hộ bản thân thì chúng ta bị nhiễm dịch bệnh. Ngay trong thời gian đó, pháp hộ trì phải thành tựu, vì không hộ trì thì đi ra ngoài, tiếp xúc với người khác thì bị nhiễm dịch bệnh. Thậm chí mình có thể chết hoặc bệnh tật đau khổ gần như chết, những người khác cũng khổ vì mình vì bị lây bệnh. Thảm cảnh đó là do không thực hành sự hộ trì, giữ gìn; mà không thực hành sự hộ trì, giữ gìn là do trong tâm có sự thúc giục muốn đi ra ngoài, muốn gặp gỡ, muốn giao lưu, khiến ta hướng ngoại.

Vì lẽ đó, chúng ta phải cố gắng từ bỏ những hình ảnh, âm thanh, lời nói, mùi, vị, xúc chạm, nghĩ, tưởng… đưa ta đến tham ái, đau khổ, mệt mỏi… Để làm được như vậy là nhờ công phu hộ trì căn, thực hành điều này thì ta mới không để tâm mình bị tàn phá, đau đớn, khổ sở. Trong kinh Pháp Cú, Đức Phật dạy rằng:

“Lành thay, phòng hộ mắt!

Lành thay, phòng hộ tai.

Lành thay, phòng hộ mũi,

Lành thay, phòng hộ lưỡi.

Lành thay, phòng hộ thân!

Lành thay, phòng hộ lời,

Lành thay, phòng hộ ý.

Lành thay, phòng tất cả.

Tỷ-kheo phòng tất cả.

Thoát được mọi khổ đau.”

(Kinh Pháp Cú – Phẩm Tỳ-Kheo)

Đức Phật dạy, vị Tỷ-kheo có sự thực hành phòng hộ mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, phòng hộ tất cả sáu căn thì sẽ giải thoát mọi khổ đau. Còn không chánh niệm, cẩn thận, đề phòng những duyên xúc cả bên ngoài lẫn trong tâm thì đời tu sẽ cực kỳ nguy hiểm, bởi những bất trắc luôn rình rập, những ác pháp luôn chực chờ để xâm chiếm tâm ta. Vì vậy, hộ trì căn là pháp tu cực kỳ quan trọng.

Sau đây là Thánh ngôn Đức Thế Tôn đã dạy về sự Hộ Trì Các Căn trong kinh tạng Nikāya:

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo hộ trì các căn?

- Ở đây, này các Tỷ-kheo, khi mắt thấy sắc, Tỷ-kheo không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì, làm cho nhãn căn không được chế ngự, khiến tham ái ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên, Tỷ-kheo tự chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì nhãn căn, thực` hành sự hộ trì nhãn căn. Khi tai nghe tiếng... khi mũi ngửi hương... khi lưỡi nếm vị... khi thân cảm xúc... khi ý nhận thức các pháp, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì, làm cho ý căn không được chế ngự, khiến tham ái ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên, Tỷ-kheo chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì ý căn, thực hành sự hộ trì ý căn. Như vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo hộ trì ý căn.

(Tăng Chi Bộ Kinh I, Chương Bốn Pháp, IV. Phẩm Bánh Xe, bài kinh Không Thể Rơi Xuống)

“Khi mắt thấy sắc, Tỷ-kheo không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng”. Tướng chung là tổng quát, tướng riêng là chi tiết, ví dụ, nhìn một người tổng quát là thấy người đó dáng người cao ốm thì đó là tướng chung; còn tướng riêng là nhìn rõ mắt mũi miệng họ như thế nào, đẹp xấu ra sao, tóc tai như thế nào… Phật dạy khi mắt thấy một món đồ, cảnh vật hay con người thì y không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng của sắc mà con mắt đã thấy. Chỉ riêng một điều này nhưng từ ngày xuất gia đến giờ mình có làm được chưa? Hay nhìn chằm chằm món đồ, cảnh vật, con người rồi còn phân tích từng đặc điểm của họ, tướng chung lẫn tướng riêng mình đều nắm giữ, như vậy là không có sự hộ trì mắt. Hộ trì, giữ gìn con mắt nghĩa là nhìn thấy và biết nhưng không nắm giữ hình tướng đó, không để ý những chi tiết trên hình tướng đó, tức là nhìn phớt qua chứ không nhìn kĩ, không để ý, đó là bước thứ nhất.

Bước thứ hai là những nguyên nhân gì khiến cho con mắt không được chế ngự, khiến khởi lên tham ái hoặc ưu bi thì phải chế ngự. Nghĩa là, khi mắt thấy sắc đẹp, khả ái, khả ý liền khởi lên tham ái, yêu thích, muốn nhìn thêm nữa, muốn được tiếp xúc, muốn người đó ở lại lâu hơn hoặc là thấy đồ đẹp là thích, đó là những nguyên nhân khiến con mắt không được chế ngự. Vì khi nhìn như vậy là mình thọ cái sắc đó vào tâm, hình bóng của món đồ hoặc con người đó sẽ được cất giữ trong tâm, do vậy sắc tưởng được an trú trong tâm. Hoặc khi thấy cái gì làm ta khó chịu, bức xúc, tức giận thì gọi là ưu bi, đó là những pháp ác bất thiện, tham, sân, si, bản ngã sanh khởi. Đối với những nguyên nhân khiến tham ái và ưu bi sanh khởi như vậy phải lập tức được chế ngự, nghĩa là phải trở về cảm giác toàn thân, thâu nhiếp con mắt, không tiếp tục nhìn con người, cảnh vật hay món đồ đó. Chỉ riêng phần bảo hộ, giữ gìn con mắt cũng là cả một công trình tu tập công phu.

Các vị Tỳ-kheo ngày xưa tu rốt ráo như vậy nên mới dễ dàng đi vào thiền định. Các Ngài không để ý nhìn bất kì cái gì, lúc nào cũng thâu nhiếp sáu căn để nhìn vào nội tâm, nhận diện ngũ uẩn. Tâm các Ngài hướng nội chứ không hướng ngoại và để hướng nội được là nhờ sự hộ trì, phòng hộ, giữ gìn, bảo vệ các căn.

Còn khi tiếp xúc với trần cảnh mà nắm giữ tướng chung, nắm giữ tướng riêng thì những tham ái, ưu, bi, ác bất thiện pháp sẽ sanh khởi, tăng trưởng, xâm nhập vào thành trì nội tâm. Vì khi nắm giữ tướng chung, tướng riêng, tức là ta đã thọ nhận và khởi lên tâm yêu thích hoặc ghét bỏ; khi đã vướng vào yêu thích thì ta bị trói buộc bởi tham ái, vướng vào ghét bỏ thì ta bị ưu bi trói buộc.

Cho nên, để không tham muốn và buồn lo, đau khổ thì chúng ta cần phải hộ trì các căn, khi tiếp xúc không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Muốn làm được như vậy thì cần phải biết dụng tâm, chánh niệm miên mật, giữ gìn, chế ngự các căn để diệt trừ tham ái, ưu bi, ác, bất thiện pháp ở đời. Người tu thiện xảo phải chế ngự, phòng tránh ngay từ mầm mống, nguyên nhân manh nha sanh khởi các pháp.

---

Tai nghe tiếng, mũi ngửi mùi, lưỡi nếm vị, thân xúc chạm cũng giống như vậy… Khi tai nghe tiếng nói, âm thanh ngọt ngào, êm ái, dễ thương thì lập tức trở về an trú cảm giác toàn thân, chánh niệm tỉnh giác, không để sự yêu thích lời nói sanh khởi lên. Hoặc nghe những tiếng không hay, khiến tâm bực bội, tức giận thì cũng phải lập tức quay lại an trú cảm giác toàn thân, nội tâm tỉnh giác, không chạy theo âm thanh, không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng.

Ví dụ, có người đến chùa mời mình đi tụng đám hoặc đi công việc, lên xe tài xế mở nhạc trữ tình, lời ca ướt át, nỉ non, tình ái; khi đó nếu không hộ trì lỗ tai thì mình sẽ bị tiếng nhạc cuốn đi, hình ảnh ca sĩ thể hiện sanh khởi, suy nghĩ nhẩm theo lời hát bài đó hiện lên, cảm xúc về bài hát như thác lũ tràn về cuốn trôi mọi thứ. Nếu không thường xuyên thực tập sự hộ trì, giữ gìn, bảo hộ lỗ tai đối với các tiếng thì chỉ cần vừa nghe nhạc là mình bị cuốn theo lời hát, đây là cấp độ không chấp nhận được trong sự tu học; còn người có sự thực tập sẽ khéo léo nhờ tài xế tắt nhạc giúp mình, đây là cấp độ thứ hai; cuối cùng là cấp độ thứ ba, mặc dù tai nghe nhạc nhưng có thể nhiếp phục cảm thọ, thực hành hộ trì căn, vì có những hoàn cảnh không thể nói người ta tắt nhạc được, lúc này phải tự mình tu tập.

Trong một cuộc gọi điện thoại, trong một tin nhắn, trong khi giao tiếp, nói chuyện hay lắng nghe… chúng ta cũng phải thâu nhiếp, bảo vệ mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, nếu không, mình sẽ khổ dài dài, vì sẽ bị lửa đốt hoặc là bị nước cuốn trôi. Lửa là ví dụ cho cảm thọ sân, nước là ví dụ cho cảm thọ tham ái, nếu không hộ trì căn thì mình không chết cháy thì cũng bị chết chìm, vì chỉ cần nghe, thấy, tiếp xúc là tham và sân khởi lên ngay. Đức Phật phải rất thương chúng sanh mới dạy cách hộ trì các căn, chỉ cần chúng ta để tâm thực hành thì sẽ thấy sự màu nhiệm.

Hôm qua, khi các loại xe cơ giới chạy ầm ầm để cải tạo lại đường đi, lúc nghe những âm thanh đó thì Minh Thành khởi lên cảm giác khó chịu, lúc đó Minh Thành đã tác ý, quán chiếu rằng:

“Con mắt này không phải là mình, không phải của mình, không phải tự ngã của mình. Lỗ tai này này không phải là mình, không phải của mình, không phải tự ngã của mình. Các tiếng này không phải là mình, không phải của mình, không phải tự ngã của mình. Những sự tiếp xúc của ai này là vô thường, vô ngã, trống rỗng, những cảm thọ sanh khởi này là duyên sanh, là vô thường, vô ngã, trống rỗng. Không có cái gì ở đây là của mình, không có đất nào của mình, không có chùa nào của mình. Sắc này là vô thường, những cảm thọ này là vô thường, là khổ, là vô ngã, những suy nghĩ, hình bóng này là trống rỗng, là duyên sanh. Lúc trước không có nhưng giờ nghe tiếng nên sanh khởi lên thì sự sanh khởi này là rỗng không, là sự đau khổ. Khi mình chấp nhận có tôi và của tôi trong này rồi mình sân hận, bực bội, khó chịu.

Sắc, thọ, tưởng, hành, thức này là vô thường, khổ, vô ngã, không có gì là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi. Âm thanh này là vô thường, trống rỗng, tai này là vô thường, trống rỗng, sự tiếp xúc của tai là duyên sanh, trống rỗng, những cảm thọ sanh khởi từ sự tiếp xúc của tôi là vô ngã, trống rỗng. Tất cả các pháp này là tiêu tan, hoại diệt, đổ vỡ, là món đồ gốm dễ bể nát. Đây không phải là chỗ của mình, mình sẽ thoát ra khỏi chỗ này, viễn ly, xuất ly, thoát ly. Mình chuẩn bị đi xa rồi nên những món đồ này không phải của mình. Mình đi ra khỏi căn trần thức, xứ, giới, uẩn. Mình đi ra khỏi sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Mình đi ra khỏi mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Mình ra khỏi những cảm xúc này”.

Sau khi tác ý như vậy tất cả cảm thọ bức xúc tan biến như viên thuốc sủi, Minh Thành mỉm cười rồi đi thiền hành. Cho nên, những cảm thọ mình có chỉ là pháp duyên sanh. Nếu ở ngoài giới vức thì lỗ tai không nghe được âm thanh, nhĩ thức có giới hạn, có giới vức, vì vậy cái thức này là vô thường, là duyên sanh. Cái thấy, cái nghe, cái ngửi, cái nếm, cái xúc cũng là duyên sanh, không có thật, nhưng vì vô minh, vì chấp thủ mà chúng sanh thấy, nghe, nếm, ngửi, tiếp xúc cái gì sanh khởi cảm thọ cũng đều cho là thật nên họ đau khổ.

---

Trong các căn, phần khó nhất là hộ trì ý căn, vì phần này rất sâu sắc. Người có sự hộ trì ý căn, mỗi khi trong tâm xuất hiện bất kỳ thọ, tưởng, hành nào đều rõ biết trong tâm đang có thọ, tưởng, hành đó; khi tâm có tham, sân, si cũng phát hiện ngay lập tức. Khi đó, ta sẽ tác ý “Tham gì trong những thứ mong manh, tạm bợ này”, “Sân hận này đưa đến tang thương, mất mát, hãy biết từ tâm với tất cả chúng sanh”, “Đừng si mê, buông lung thêm nữa”, “Hãy an tịnh, lắng dịu, cẩn thận”… Tác ý như vậy để hóa giải những cảm giác, những hình bóng, những suy nghĩ bất thiện ra khỏi tâm. Luôn ngăn chặn, không cho tâm chạy theo những cảm giác, hình bóng, nghĩ tưởng bất thiện; đưa tâm trở về với trạng thái an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, đó chính là sự thực tập hộ trì ý căn.

Duyên sanh pháp của ý rất ghê gớm. Dù chỉ ở một mình, mắt, tai, mũi, lưỡi, thân không tiếp xúc với ngoại cảnh thì các thọ, tưởng, hành trong tâm vẫn vận hành liên miên không ngớt, kéo ta từ nơi này đến chốn nọ. Ở một mình mà vẫn tham lam, sân giận, si mê, ích kỷ, ngã mạn… lúc này, tâm ta là một nội tâm hoang vu, bất ổn.

Lúc đó, nếu hình bóng của người ta ưa thích hiện ra, những cảm giác dễ chịu từng tiếp xúc sanh khởi, những suy nghĩ lầm thầm về những điều thích thú sanh khởi… mà ta không hộ trì, không giữ gìn ý căn thì sẽ cuốn theo. Rồi từ một cảm thọ, một hình bóng, một nghĩ tưởng ban đầu sau khi ý căn tiếp xúc sẽ sanh khởi lên thọ, tưởng, hành thứ hai; thọ, tưởng, hành thứ ba; thọ, tưởng, hành thứ tư… cứ như vậy, chúng cùng nhau khởi lên liên miên không dứt, nên được gọi là chúng sanh. Người không thực hành hộ trì ý căn thì bất kỳ thọ, tưởng, hành nào sanh khởi trong tâm đều nhập cuộc, chạy theo chúng.

Người có sự hộ trì ý căn thì ngay lúc thọ, tưởng, hành đầu tiên vừa manh nha sanh khởi sẽ liền phát giác mà chế ngự, không đi theo chúng ngay từ đầu. Nhờ vậy mà hạn chế được rất nhiều thọ, tưởng, hành bất thiện; hạn chế được rất nhiều phiền não, khổ đau. Chính vì vậy mà sự tu này là một sự hướng nội thường xuyên, liên tục, chánh niệm miên mật.

Vì vậy, ngay khi hình bóng yêu thích sanh khởi, thấy trong tâm có sự tham đắm, muốn nắm giữ thì phải cố gắng tìm cách giải phá, chế ngự và đánh tan những hình bóng của dục, tham, ái, không để nó tồn tại, an trú, xâm chiếm, ám ảnh trong tâm. Đối với cảm giác, suy nghĩ cũng vậy. Nếu có suy nghĩ sân hận, hình bóng làm mình sân hận, có cảm giác sân hận; nghĩa là thọ, tưởng, hành đều sân hận thì lúc đó cũng phải tìm cách hóa giải. Nếu không nhận diện được nó thì mình sẽ đồng hóa với cơn giận đó, có khi còn nhớ lại xem tuần trước người đó nói câu gì, nhớ lại ba tháng trước họ từng làm điều gì có lỗi với ta, thậm chí nhớ những chuyện một, hai năm trước.

Người không chánh niệm, không thực hành hộ trì ý căn thì đã, đang và sẽ mãi mãi chạy theo những cảm giác, hình bóng, nghĩ tưởng và tâm ta sẽ là một mớ hỗn độn, bất an, dao động trong sự chi phối của dục, tham, ái, sân, si vô minh và bản ngã… không có ngày thoát ra. Đây một điều cực kỳ nguy hiểm và xấu hổ đối với một người tu.

Cho nên, mỗi khi tiếp xúc điều gì làm mình dễ chịu hoặc khó chịu thì phải vận dụng tư duy quán chiếu các pháp để nhiếp phục cảm thọ; nếu không mình sẽ thọ nhận, chấp nhận, thậm chí còn tăng trưởng, nuôi dưỡng cảm thọ đó rồi có những suy nghĩ, ngôn ngữ, hành động bất thiện. Đặc biệt đối với những cảm thọ sân giận, nếu không khéo chế ngự, có thể dẫn đến những cuộc tranh cãi, ẩu đả, thậm chí mất mạng. Người thế gian rất dễ rời vào tình trạng này vì họ không biết thực hành sự hộ trì các căn.

---

Sâu sắc hơn, cái khổ không chỉ nằm ở sắc, thanh, hương, vị, xúc ở bên ngoài; vì từ sự giao thoa của ba pháp căn-trần-thức mà tạo thành sự tiếp xúc, từ xúc sanh khởi cảm thọ, thế nên, điểm mấu chốt nhất là ta nhiếp phục được cảm thọ trong tâm thì những pháp bên ngoài sẽ không là gì. Còn không nhiếp phục đúng cách thì dù có làm gì đi nữa cũng chỉ là tránh né, khỏa lấp, lãng quên tạm thời, khi nhớ nghĩ lại thì vẫn khổ đau. Vì vậy, chỉ khi thấy chính xác các khía cạnh, góc độ, phương diện trong sự vận hành các pháp thì ta mới đi đến sự trừ diệt tận gốc những uế nhiễm từ trong cảm thọ, như vậy thì sự tu mới đi đến chỗ rốt ráo, đạt được tâm an tịnh.

Thói quen của đa số mọi người khi tiếp xúc với con người, cảnh vật, đồ vật… là luôn chất chứa những sự tiếp xúc lớn nhỏ của các căn vào tâm và thọ nhận tất cả. Do vậy mà cảm thọ là một yếu tố hết sức quan trọng trong đời tu mỗi người. Theo chuỗi duyên sanh pháp, từ sự tiếp xúc nên mới sanh khởi lên cảm giác; sau khi thọ vào sẽ dẫn tới tham, sân, si, sầu, bi, khổ, ưu, não; mà nơi tiếp xúc với sáu trần để sanh khởi cảm thọ chính là sáu căn. Chính vì vậy, nếu ta chánh niệm giữ gìn sáu căn thì sẽ hạn chế được rất nhiều sự tiếp xúc, nhờ đó mà hạn chế được rất nhiều những cảm thọ.

Trường hợp không có công phu thực tập, giữ gìn, hộ trì, phòng hộ căn; sống trong sự buông lung, phóng dật, thả lỏng các căn thì căn-trần-thức sẽ giao thoa, hội tụ liên tục; xúc, thọ, ái cũng vì vậy mà vận hành không ngừng; do đó tham, sân, si liên tục sanh khởi, xâm chiếm, chế ngự thân tâm. Đây là một sự thống khổ, đau khổ tột cùng và tất cả bắt đầu từ việc chúng ta không hộ trì các căn; để mặc tâm hướng ra ngoài, buông thả con mắt, muốn nhìn gì là nhìn, buông thả tai, mũi, lưỡi, thân, không kiểm soát những cử chi, oai nghi, tế hạnh và ý căn thỏa thích duyên với hình bóng, suy tư, nghĩ ngợi… như vậy làm sao thấy được thực pháp đang diễn ra trong tâm.

"Trời đất nấu nung vạn tượng thành,

Xưa nay không mống cũng không manh.

Chỉ sai hữu niệm quên vô niệm,

Liền trái không sanh nhận có sanh.

Mũi đắm các hương, lưỡi tham vị,

Mắt mờ chúng sắc, tiếng mê tai.

Lang thang làm khách phong trần mãi,

Ngày cách quê hương muôn dặm trình".

(Núi Thứ Nhất – Trần Thái Tông)

Tâm không được tu tập là một cái tâm lang thang, dính mắt vào những cái đẹp, yêu thích trong những tiếng hay, tham đắm những mùi thơm vị ngon, say mê trong những sự xúc chạm êm ái, sân giận đối với những gì không bất như ý, chuyện người thì sáng còn chuyện mình thì quáng (gà); còn khi biết hộ trì các căn thì sẽ đi ngược lại, tức là việc mình thì sáng, việc người thì không thấy, không nhìn, không cần biết. “Sự đời thà khuất đôi tròng thịt – Lòng đạo xin tròn một tấm gương” (Nguyễn Đình Chiểu). Thà đôi mắt thịt bị mù lòa để không nhìn thấy thế gian chỉ toàn tham, sân, si, bản ngã, danh lợi, lọc lừa, dối trá, vô tình vô nghĩa này nữa; nhưng ngọn đèn tâm được sáng tỏ, trong sạch, con đường tâm linh ngời sáng, lòng đạo tròn đầy một tấm gương.

Còn thấy để tham, sân, si thì thấy làm gì? Nghe để hơn thua, tranh đấu thì nghe làm chi? Mình tác ý với con mắt “Mày mù đi vì thấy rồi cứ tham lam, ưa thích, luyến ái! Mày điếc đi vì nghe mà cứ hơn thua!”. Bên ngoài thâu nhiếp các căn, bên trong nhìn vào tâm để phát giác rác bẩn, bề bộn ra sao để mà quét dọn, chùi rửa, làm cho căn nhà nội tâm được thanh lương, mát mẻ thì đó là Niết-bàn. Còn trong tâm là một mớ hỗn độn, một đống xà bần, đầy rác bẩn hôi thối thì làm sao mát mẻ, thanh lương được. Vì vậy, sự tu này là công cuộc làm sạch căn nhà nội tâm.

Những thứ cấu nhiễm ngủ ngầm trong tâm sẽ bị Thánh trí tuệ Ngũ uẩn, Thánh trí huệ lậu hoặc giải phá, giải phóng hết tất cả. Vì vậy đầu tiên là phải giữ giới, kế đó là giữ gìn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Khi con mắt tiếp xúc với sắc, không được nắm giữ tướng chung và không nắm giữ tướng riêng; những nguyên nhân nào sanh khởi ra tham, sân, si phải bị chế ngự, nhiếp phục, thực hành sự giữ gìn con mắt. Khi lỗ tai nghe tiếng mà sanh khởi ra tham, sân, si thì phải nhiếp phục, chế ngự, tẩy sạch trong cảm thọ. Khi mũi ngửi mùi, lưỡi nếm vị sanh khởi ra sự khó chịu hoặc đam mê, thích thú thì cũng phải chế ngự, tẩy sạch, đoạn tận. Khi thân tiếp xúc, đụng chạm sanh khởi ra dục, ái, tham, bản ngã thì cũng phải nhiếp phục, chế ngự. Và chúng ta không thể biết được sự sanh khởi của các pháp nếu không để ý, không hướng nội, không nhìn vào tâm, do đó, lúc nào cũng phải hộ trì ý căn. Như vậy, khi tiếp sáu căn xúc với sáu trần, hãy thực tập không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng, không thấy đây là tôi, đây là của tôi, phải biết tất cả chỉ là pháp duyên sanh, vô thường, tạm bợ, giả dối, vô ngã.

Sự tu này rất bài bản, có thứ lớp trình tự rõ ràng, đầu tiên là giữ gìn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý trước các sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp bên ngoài, sau đó đi vào trong tâm nhìn ra các cảm thọ, hình bóng, suy nghĩ. Đi sâu hơn nữa là nhìn ra những sự thúc giục, ham muốn, ưa thích, nắm giữ, nhìn ra những cảm giác thiêu đốt, nóng bức, muốn phá hoại, đạp đổ, ta đây, vênh váo; khi nhìn ra thì bắt đầu chế ngự, tẩy sạch, đoạn tận.

Qua đó ta thấy rằng, pháp hành này minh bạch, rõ ràng, trong sáng vô cùng. Nếu từ đầu không giữ gìn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý thì làm sao có thể nhìn thấy được những thọ, tưởng, hành bên trong. Nếu không nhìn ra những cảm giác, nghĩ, tưởng bên trong thì làm sao biết đang có tham, sân, si hay bản ngã. Nếu không biết không thấy về các lậu hoặc, phiền não thì làm sao nhiếp phục, đoạn tận, tẩy sạch. Nếu không nhiếp phục, đoạn tận, tẩy sạch thì chúng vĩnh viễn tồn tại, chất chứa. Và như vậy, dẫu tu hoài thì tham, sân, si vẫn cứ còn hoài, vô lượng vô biên kiếp cứ phàm phu, bản ngã, vô minh không chấm dứt.

Cẩn Thận Duyên Xúc

Chính vì sự nguy hại đó, Đức Thế Tôn rất quan trọng sự tiếp xúc của người tu, vì càng tiếp xúc là càng sanh ra những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ trong tâm. Từ đó những tham ái, những sự dính mắc, hệ lụy sẽ âm thầm ngủ ngầm, tăng trưởng, phát triển, thống trị trong thọ, tưởng, hành mà chúng ta không hề hay biết. Vì vậy, Đức Thế Tôn dạy phải canh phòng, đề phòng, giữ gìn, hộ trì sáu xúc xứ. Ngài đã tuyên bố “Xúc tập khởi cho nên thọ, tưởng, hành tập khởi”.

Như vậy, có tiếp xúc thì sẽ sanh ra cảm giác, giữa những người có cảm giác với nhau mà ở gần nhau là không thể nào dứt ra được, vì “lửa gần rơm lâu ngày cũng bén”, cho nên sự tiếp xúc rất nguy hiểm. Khi Đức Thế Tôn độc cư thì Ngài đi vào rừng, cắt tất cả duyên xúc, không tiếp xúc với bất kì ai.

"Này Sariputta, như thế này là sự độc cư của Ta. Này Sariputta, Ta đi sâu vào một khu rừng và an trú tại chỗ ấy. Khi Ta thấy người chăn bò, người mục súc, người cắt cỏ, người đốn củi hay người thợ rừng, Ta liền chạy từ rừng này qua rừng khác, từ lùm cây này qua lùm cây khác, từ thung lũng này qua thung lũng khác, từ đồi cao này qua đồi cao khác. Vì sao vậy? Ta nghĩ rằng: Mong họ đừng thấy Ta, và mong Ta đừng thấy họ!".

(Trung Bộ Kinh, 12. Ðại kinh Sư tử hống)

Khi ta có suy nghĩ về một người, một cảnh vật, một món đồ … là do ta đã từng tiếp xúc với con người, cảnh vật, đồ vật ấy. Chẳng hạn, do đã tiếp xúc với trái sầu riêng rồi nên ta mới biết về nó: đã thấy nên biết màu xanh bên ngoài, màu vàng bên trong vỏ sần sùi, gai góc; đã ngửi nên biết mùi thơm; đã nếm thử nên biết vị nó ngọt, bùi, béo, bổ. Từ đó, mới có suy nghĩ quả sầu riêng rất ngon, mình thích ăn sầu riêng; hình bóng sầu riêng hiện ra trong tâm; cảm giác thích thú khi mỗi khi ăn sầu riêng cũng sanh khởi. Như vậy là do tiếp xúc cho nên mới có ra nghĩ ngợi, suy tư, hình bóng và những cảm giác.

Cũng như hôm nay Minh Thành đi giảng được gặp quý thầy. Lúc trở về chùa, Minh Thành nhớ lại gương mặt của các vị Tăng sinh rất hiền từ, nghiêm trang tu học. Minh Thành suy nghĩ, quý thầy tuổi nhỏ như vậy mà quyết tâm tu học, thật là quý báu. Cảm giác dễ chịu khi tiếp xúc với quý thầy trong sự hiền từ, nhẹ nhàng, oai nghi cũng sanh khởi. Như vậy là do từng được gặp, tức là từng được tiếp xúc nên mới sanh khởi suy nghĩ, hình bóng, cảm giác trong tâm. Do đó, “Xúc tập khởi nên thọ, tưởng, hành tập khởi” – đây là định lý chứng ngộ siêu việt của Đức Phật, điều này rất quan trọng trong pháp hành kinh tạng Nikāya.

Trong môi trường tu học mà ngày nào cũng có nhiều “bóng hồng” lướt ngang qua thì rất nguy hiểm. Nhiều vị tâm sự cứ tiếp xúc nhiều là tu không được, ngồi lại là trong tâm bị trạo cử, bị những hình bóng, suy nghĩ, cảm thọ xô ngã. Lịch sử Việt Nam có vị công chúa thương một nhà sư đến nỗi khi nhà sư nhập thất không cho gặp mạt, nàng van nài xin thầy đưa tay ra chỉ để được chạm vào tay, đến khi chết cũng muốn được thờ chung, cái xúc ghê gớm đến vậy. Cho nên thật sự là phước lành cho chúng ta, phước lạc cho chúng ta, phước báo cho chúng ta khi được tu tập trong môi trường lành thiện, cắt hết duyên xúc bên ngoài, còn duyên xúc tế nhị thì tự mỗi người phải biết mà nhiếp phục. Sáu xúc sanh khởi liên tục, đòi hỏi người tu phải cẩn trọng và quán chiếu thâm sâu ngũ uẩn, không phải chỉ nhìn bên ngoài là đủ.

Có chàng rể nọ rất đàng hoàng, hiền lành, trong xóm ai cũng thương. Một hôm, chàng rể này nhậu với bạn bè thì cha vợ không hài lòng nên có lời mắng chửi. Cậu này có nói lại vài câu thì bị cha vợ đánh mấy bạt tai. Chàng rể nổi nóng lấy xe về nhà ba mẹ ruột định đi ngủ, không may lúc mở cốp xe ra thì cậu nhìn thấy con dao. Lúc đó, người cha vẫn còn chửi nên người con rể này lấy dao đâm luôn vào người cha vợ làm ông chết tại chỗ. Vụ án xảy ra làm cả làng xóm bàng hoàng vì người con rể này ngày thường rất hiền lành, hay giúp đỡ mọi người, bây giờ rượu vào lời ra, cộng thêm bị đánh nữa, dù đã ráng kiềm chế nhưng không may khi mở cốp xe lại có con dao trong đó nên xảy ra án mạng. Nếu lúc đó không có con dao trong cốp thì có xảy ra án mạng không? Nếu không mở cốp ra thì có thể không xảy ra án mạng cho nên các pháp đó là duyên sanh, xúc sanh ra thọ, tưởng, hành. Tiếp xúc những cái tát tay và bao nhiêu lời mắng chửi rồi sanh ra suy nghĩ “lấy dao ra xử”, những hình bóng, tưởng là lấy dao nhào tới đâm, những cảm giác thúc giục bên trong tâm và người này hoàn toàn bị sự nhiệt não, nóng bức, phẫn nộ xâm chiếm, áp đảo hoàn toàn, chàng rể kia nghe theo những cái thọ, tưởng, hành đó rồi xảy ra chuyện đau lòng. Nếu chàng rể mở cốp xe ra mà trong đó là hoa sen hoặc hình của Đức Thế Tôn hay những pháp khí của nhà Phật thì có lẽ kết cục sẽ khác rất nhiều.

Trong câu chuyện vừa rồi có thọ do nhãn xúc sanh – thấy chàng rể nhậu; thọ do thân xúc sanh – bị tát vào mặt; thọ do nhĩ xúc sanh – những câu mắng chửi; thọ do ý xúc sanh – cảm giác phẫn nộ sôi sục, hình bóng sát hại và những suy nghĩ làm sao cho hả giận; cộng với rượu bia làm chất xúc tác… có rất nhiều pháp kết hợp nhau, bày trận trong tâm tấn công người con rể.

Cho nên Đức Phật dạy rằng, có những phiền não cần phải tránh né để đoạn trừ, có những phiền não cần kham nhẫn để đoạn trừ, tùy theo loại phiền não nào mà ta dùng phương pháp phù hợp. Như khi ra đường gặp người điên hay chó điên thì nên tránh, không nên tiếp xúc gần. Ví như ta biết người đó hay gây sự, trao đổi dễ sinh chuyện không hay, nhờ nhận thức như vậy mà ta tránh đi, bảo vệ các căn của mình. Một người thường xuyên sân hận, kiếm chuyện thì tốt nhất là ta nên tránh xa, để tránh những chuyện không hay có thể xảy ra, vì hễ có tiếp xúc là sanh ra chuyện, không ít thì nhiều. Ngoài đời có rất nhiều chuyện đau lòng xảy ra, có người lúc đầu chỉ định mua xăng về hù dọa người khiến mình tức giận, nhưng khi tiếp xúc, họ bị cơn sân làm chủ nên thật sự phóng hỏa, dẫn đến chết người. Thế nên, khi tiếp xúc là tham, sân, si, bản ngã sanh khởi lên không tự chủ được. Chúng ta đừng đùa giỡn, khinh thường những dục, tham, ái, sân, si, bản ngã; mà phải biết lo sợ, kinh hãi đối với những cảm giác dục vọng, si mê, bản ngã, vì ta đã bị chúng giết trong vô lượng vô biên kiếp.

Trường hợp bất đắc dĩ phải tiếp xúc, chúng ta cần phải cẩn thận quan sát tất cả những cảm thọ, những gì ta thọ nhận đều phải được hộ trì, quán xét, quản lý. Cần phải nhìn thấy tham ái, ưu bi, sân hận, si ám sanh khởi trong từng cảm thọ. Từ đó nhiếp phục, đi đến đoạn tận, không để chúng xâm chiếm, chế ngự thân tâm thêm phút giây nào nữa. Phải nhìn ra tất cả cảm thọ ác, bất thiện đang hoành hành trong tâm và nhất định không thọ nhận chúng thêm một chút nào nữa. Bởi có những cảm thọ, chỉ cần ta chấp nhận một lần thì sẽ bị chúng trói buộc suốt một đời. Giới luật chính là ở điểm này, Đức Phật đã vì lòng thương xót đối với chúng sanh, Ngài là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, Ngài biết cảm thọ nào nên nhận, cảm thọ nào cần phải được ngăn ngừa. Những giới luật, oai nghi, chuẩn tắc Đức Phật đã định ra chính là để bảo vệ, bảo hộ cho chúng ta tránh khỏi những xúc, thọ không nên có.

---

Đó là chúng ta nói đến duyên xúc tiêu cực, còn duyên xúc tích cực lại là phương diện khác. Vì khi xúc với sự thật của Khổ Thánh Trí, xúc với Thánh Pháp, xúc với định lý chứng ngộ của Đức Phật thì đó lại là cái xúc tối thượng. Đừng cho rằng mình đi tu rồi, tránh duyên không gặp cha mẹ nữa là hay, vì khi gặp, thấy cha mẹ càng ngày càng già, bệnh tật nhiều hơn, tóc bạc nhiều hơn, da nhăn nhiều hơn, lưng còng gối mỏi nhiều hơn để sanh khởi cảm thọ mạnh mẽ, tu hành tinh tấn, cố gắng báo hiếu hai đấng sanh thành thì sự tiếp xúc đó không vô ích. Nhiều vị nói mười năm rồi không về thăm nhà, nghe qua có vẻ tự hào, nhưng điều quan trọng là hãy quán xét lại xem tâm hiếu đạo của mình còn không hay đã lãng quên? Mình có siêng năng tinh tấn, hướng đến thành tựu cứu cánh Phạm hạnh để báo hiếu cho cha mẹ không hay đã quên mất bổn phận làm con?

Tôn giả Xá Lợi Phất cũng vì thấy dáng vẻ oai nghi của ngài Mã Thắng nên đến hỏi đạo và thành tựu được Chánh Tri Kiến, trở thành tướng quân Chánh Pháp. Nhiều huynh đệ sau khi xuất gia cũng tâm sự rằng, trước kia khi nhìn thấy hình ảnh chư Tăng Ni thì trong lòng cảm thấy ấm áp, gần gũi, mến thích, cung kính; về nhà nghĩ đến hình bóng của Tăng đoàn không ngừng, sau đó tìm hiều dần dần và cuối cùng quyết định xuất gia; quyết định này cũng bắt nguồn từ cái xúc ban đầu.

Vì thế có rất nhiều khía cạnh trong sự tu học chứ không hề đơn giản như mình nghĩ. Cho nên, điều cần lưu ý ở đây là phải đặt tâm đúng hướng trong những sự tiếp xúc. Vì nếu không đặt tâm đúng hướng thì có khi xúc với thiện pháp nhưng lại trở thành bất thiện; có khi tránh xúc nhưng cũng chưa thật sự là thiện pháp. Chỉ khi đặt tâm đúng hướng trong sự tiếp xúc, đồng thời như lý tác ý đúng pháp thì chúng ta mới có thể lớn mạnh trong pháp và luật, tăng trưởng trong thiền định và trí tuệ.

---

Sự tiếp xúc này không phải là tự nhiên mà do duyên có các căn và các trần, khi tiếp xúc là lập tức sinh ra cảm thọ. Chỉ cần xúc một cái là sanh khởi sự thích hay không thích, muốn hay không muốn, ưa hay không ưa, đẹp hay xấu, sanh khởi ra cảm thọ, suy nghĩ. Các pháp này diễn ra cực kỳ nhanh. Nếu không nhận diện sâu sắc ngũ uẩn thì mình bị cuốn vào mà không biết, khi nhận ra thì mọi chuyện đã rồi. Cần phải hiểu rằng, tất cả các pháp đều là do duyên sanh, vô thường, trống rỗng, không có thật, vô ngã. Bởi vì trước đây đôi mắt của ta đã từng nhìn thấy những hình ảnh đó, đôi tai ta từng nghe những âm thanh đó, mũi, lưỡi, thân… nên những hình ảnh, âm thanh, mùi, vị, sự tiếp xúc đó mới sanh khởi lên trong tâm. Nếu tham đắm, chấp thủ vào đó thì chỉ mang về sầu, bi, khổ, ưu, não.

"Có sáu xúc xứ này, này các Tỳ-kheo, không nhiếp phục, không phòng hộ, không bảo vệ, không thâu nhiếp, đem lại đau khổ. Thế nào là sáu?

Mắt xúc xứ, này các Tỳ-kheo, không nhiếp phục, không phòng hộ, không bảo vệ, không thâu nhiếp, đem lại đau khổ... Tai... Mũi... Lưỡi... Thân...

Ý xúc xứ, này các Tỳ-kheo, không nhiếp phục, không phòng hộ, không bảo vệ, không thâu nhiếp, đem lại đau khổ.

Sáu xúc xứ này, này các Tỳ-kheo, không nhiếp phục, không phòng hộ, không bảo vệ, không thâu nhiếp, đem lại đau khổ.

Có sáu xúc này, này các Tỳ-kheo, khéo nhiếp phục, khéo phòng hộ, khéo bảo vệ, khéo thâu nhiếp, đem lại an lạc. Thế nào là sáu?

Mắt xúc xứ, này các Tỳ-kheo, khéo nhiếp phục, khéo phòng hộ, khéo bảo vệ, khéo thâu nhiếp, đem lại an lạc... Tai... Mũi... Lưỡi… Thân…

Ý xúc xứ, này các Tỳ-kheo, khéo nhiếp phục, khéo phòng hộ, khéo bảo vệ, khéo thâu nhiếp, đem lại an lạc.

Sáu xúc xứ này, này các Tỳ-kheo, khéo nhiếp phục, khéo phòng hộ, khéo bảo vệ, khéo thâu nhiếp, đem lại an lạc".

(Tương Ưng Bộ Kinh IV, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (c), V. Phẩm Từ Bỏ, I. Thâu Nhiếp)

Nếu ai biết bảo vệ, phòng hộ, giữ gìn sáu xúc xứ này thì người đó được bình an, bớt khổ đau; còn cứ nghe ngóng, chạy theo mùi vị, các sự xúc chạm thì người đó mãi bất an, lo lắng, khổ sầu. Chính vì vậy, phần hộ trì các căn rất quan trọng, tu mà không thực hành hộ trì căn thì không thể hết khổ.

Trong kinh, Đức Phật dạy rằng, xung quanh là gai, trước mặt là gai, hai bên là gai, sau lưng là gai, đi đâu cũng có gai. Cho nên, người tu là người hộ trì rất cẩn thận, miên mật rất lớn, vì không không cẩn thận thì sẽ bị đạp trúng gai. Từ trong ra ngoài, từ căn, trần đến thức, Đức Phật dạy rất nhiều trí tuệ để ứng phó các trận tuyến trong mặt trận của dục, tham, ái, vô minh, si mê, bản ngã. Bên ngoài cần hộ trì căn, giảm bớt tiếp duyên xúc cảnh; bên trong là hộ trì ý căn, không để cho thọ, tưởng, hành muốn như thế nào cũng được. Đức Thế Tôn dùng rất nhiều phương pháp để đánh sập, đánh tan, đánh nát khối vô minh này chứ không phải chỉ có một pháp, thế nên, nếu chỉ tu một pháp là không bao giờ thành công vì phiền não, vô minh, lậu hoặc không đơn giản mà diệt tận.

NHẬN DIỆN NGŨ UẨN

Định nghĩa 1:

Thân người là Sắc

Cảm giác là Thọ

Hình bóng là Tưởng

Suy nghĩ là Hành

Rõ biết là Thức

Định nghĩa 2:

Thân người, cảnh vật, đồ vật tứ đại là Sắc.

Cảm giác dễ chịu, cảm giác khó chịu, cảm giác không dễ chịu, không khó chịu là Thọ.

Bóng dáng thô tế trong tâm là Tưởng.

Suy nghĩ nói thầm trong tâm là Hành.

Rõ biết trong ngoài sáu trần là Thức.

Sắc uẩn là tất cả vật chất, được cấu thành từ tứ đại (đất, nước, gió, lửa), có thể kể đến như: thân người, đồ vật, cảnh vật. Thọ uẩn là cảm giác. Tưởng uẩn là những hình bóng thô, tế trong tâm. Hành uẩn là những lời nói thì thầm trong tâm. Thức uẩn là sự nhận thức, rõ biết. Từ những trí tuệ đã được học về sắc, thọ, tưởng, hành, thức, cũng như sự vận hành của các pháp, chúng ta bắt đầu thực tập nhận diện ngũ uẩn, đây là bước tuyệt đối quan trọng, quyết định tất cả sự nghiệp tu hành.

Thực Tập Nhận Diện Năm Uẩn

Đầu tiên, Minh Thành mời quý Tăng Ni, Phật tử nhắm mắt nghĩ về mẹ của mình. Lúc này, chúng ta sẽ nhận thấy hình bóng lờ mờ của mẹ hiện ra trong tâm, đây là tưởng uẩn. Tiếp theo là cảm giác về mẹ, chẳng hạn mẹ đang già bệnh sẽ có cảm giác lo lắng, buồn khổ; hoặc những về những sự chăm lo, dịu dàng, yêu thương của mẹ thì ta có sự dễ chịu; những sự khó chịu, dễ chịu hoặc không khó chịu không dễ chịu trong tâm là thọ uẩn. Kế đến là những lời thầm thì “Không biết mẹ bây giờ ra sao?”, “Bây giờ mẹ đang làm gì nhỉ?”... đây là hành uẩn. Sự nhận thức được những cảm giác, hình bóng và lời nói thì thầm trong tâm; đây là thức uẩn.

Hoặc ta nhắm mắt nhớ về một người mà ta không thích, tức thì hình bóng của người đó sẽ hiện ra trong tâm, những hình ảnh họ làm mình khó chịu hiện về – tưởng uẩn, tiếp theo là cảm giác khó chịu sanh khởi – thọ uẩn và trong tâm nghĩ rằng “Nếu gặp nhau nhất định không nhìn, không chào hỏi” – hành uẩn; sự nhận thức được những điều kể trên diễn ra trong tâm là thức uẩn.

Ví dụ khác, trên Linh Quy Pháp Ấn có một loại sầu riêng rất đặc biệt “không thuốc, không phân, không tưới” – Minh Thành gọi là sầu riêng “ba không”, tự phát triển trong tự nhiên. Khi quả rụng xuống, mình đem vào, khui ra thì hương thơm ngào ngạt, nếm vào thì vị rất ngon, ngọt, bùi và béo. Khi nghe Minh Thành diễn tả như vậy, nhìn lại cảm giác của mình, lúc đó thấy vui vui, thích thích, ngon ngon thì đó là lạc thọ . Hình bóng những quả sầu riêng hiện ra trong tâm là tưởng uẩn. Suy nghĩ nói thầm: “Có dịp lên Linh Quy Pháp Ấn ăn thử” là hành uẩn. Trong tâm biết được có cảm giác, hình bóng, lời nói như vậy là thức uẩn.

Ví như chiếc tivi phát sóng những chương trình truyền hình, hình ảnh luôn đi kèm với âm thanh và cảm giác, nếu là hài kịch thì ta vui vẻ, bi kịch thì ta buồn lo, xúc động, lắm lúc còn rơi cả nước mắt. Tâm thức của chúng ta cũng giống như màn hình TV kia, có hình bóng, giọng nói thì thầm và cảm giác.

Ngũ uẩn này vận hành liên tục, thậm chí cả trong giấc chiêm bao, chúng cũng chi phối, xâm chiếm, áp đảo mà ta hoàn toàn không hề hay biết. Điều này, Đức Phật gọi là vô minh, tức là không nhận ra ngũ uẩn mà chỉ thấy một cái tôi to tướng; giống như chỉ thấy một nắm tay nguyên vẹn, mà không biết rằng năm ngón tay kết hợp mới thành bàn tay. Khi nào nhìn ra từng pháp duyên sanh riêng lẻ, ta mới bắt đầu bước ra khỏi sự chi phối của ngũ uẩn, làm chủ được tự thân. Đây là chìa khóa mở ra căn nhà nội tâm, mở ra Thánh Pháp Tạng của Đức Thế Tôn, kính mong quý Tăng Ni, Phật tử lưu ý.

Tổng kết nhận diện năm uẩn:

Đầu tiên, nhận diện về “sắc pháp”. Thực tập nhìn con người, cảnh vật, đồ vật, tứ đại là sắc, từ đó loại bỏ những suy nghĩ, nhận thức cho rằng đó là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi. Tập nhìn ra sự thật rằng thân này là đất, nước, gió, lửa; tập nhìn những đồ vật, nhà cửa, đồ đạc, xe cộ, chùa chiềng… mọi thứ xung quanh đều là tứ đại và hãy điểm danh, chỉ mặt, gọi đúng tên của nó là sắc pháp. Không được nghĩ rằng “cái bàn này là của tôi”, “chỗ này là của tôi”, “cái ghế này là của tôi”, “cái phòng này là của tôi”, “đôi dép này là của tôi”; mà hãy tập trong từng suy tư, nghĩ ngợi, nhận thức, lời nói của mình rằng những thứ đó đều là sắc pháp, là đất, nước, gió, lửa không hơn không kém. Từ những cảnh vật bên ngoài và những đồ vật mình đang sử dụng (tạm gọi đó là mình sở hữu), cho đến thân xác này, chúng ta phải tập nhìn và gọi đúng tên của nó là sắc pháp, là tứ đại.

Chẳng hạn soi gương thấy tóc đã bạc đi nhiều, mình nói “sắc uẩn này bắt đầu suy tàn”, chứ đừng nói “tóc của tôi hôm nay bạc đi nhiều”. Hoặc ăn trúng thức ăn cứng khiến răng bị gãy thì mình không nói “răng của tôi gãy rồi”, mà hãy nói “sắc uẩn này bắt đầu hư hoại”. Khi bị bệnh ta quán chiếu “sắc uẩn này rệu rã rồi, chiếc xe sắc pháp chạy bảy chục năm sắp tan hoại rồi, phải vậy thôi”, rồi chiêm nghiệm câu “Thân này tánh chất là như vậy, bản tánh là như vậy, không vượt khỏi tánh chất ấy” (Kinh Niệm Xứ). Chúng ta tập không dùng từ “tôi, của tôi”, mà thay bằng từ “sắc uẩn này, sắc pháp này”. Đó là mình tập nhận diện sắc uẩn, tập nhìn ra tổ hợp sắc chất đất, nước, gió, lửa này từ trong suy nghĩ, nhận thức, lời nói ở mọi lúc mọi nơi.

Thứ hai, tập nhìn những cảm giác, cảm thọ để thấy được các dòng cảm thọ, cảm giác, cảm xúc luôn sanh diệt, khởi diệt, luôn vận hành, vận chuyển, vận động trong ba dạng cảm thọ: vui, buồn, không vui không buồn (nói cách khác là cảm giác dễ chịu, cảm giác khó chịu, cảm giác không dễ chịu không khó chịu). Chúng ta phải nhìn nhận cảm thọ là cảm thọ, bởi vì trước nay mình luôn lầm lẫn, nghĩ rằng cảm giác là mình, từ đó dẫn đến việc khi giận lên mình cho là “tôi giận”, khi vui lên mình nói là “tôi vui quá, tôi thích quá”. Bây giờ, khi đã biết nhận diện cảm thọ, chúng ta không được nói, không được nghĩ như vậy nữa. Thay vào đó phải biết rằng trong người mình đang có cảm giác vui (lạc thọ), hoặc là bên trong đang có cảm giác bực bội, khó chịu (khổ thọ), hoặc đang có cảm giác thường thường (bất khổ bất lạc thọ). Như vậy là chúng ta đang tập nhận diện và nhìn ra đúng sự thật về các cảm thọ đang có mặt ở bên trong.

Thứ ba, nhận diện các hình bóng trong tâm. Chúng ta phải tập nhìn lại để xem trong tâm đang có hình bóng gì và chỉ điểm rõ rằng những hình bóng đó là tưởng. Chúng ta phải nắm thật vững phần định nghĩa về năm uẩn và áp dụng vào thực tế khi ngồi thiền và mọi lúc mọi nơi, trong sinh hoạt thường nhật cũng như tu học. Thường xuyên tập nhìn vào những hình bóng trong tâm để không lầm nhận đó là “tôi tưởng”, mà thấy đó là tưởng uẩn – những tổ hợp của các hình bóng.

Thứ tư, nhận diện các suy nghĩ, lời nói lầm thầm trong tâm. Chúng ta cần phải đọc, nghe, kiểm tra, kiểm soát từng suy nghĩ và biết rõ những suy nghĩ trong tâm là ý hành. Không được để cho những suy nghĩ đó đồng hóa mình rồi cho rằng “tôi đang suy nghĩ”, “ý nghĩ này là của tôi”, mà phải tách mình riêng ra suy nghĩ đó, đồng thời dùng trí tuệ để nhìn ngược lại vào bản chất của những suy nghĩ đó, thấy rõ những suy nghĩ này là tổ hợp của hành uẩn. Sau đó, ngăn chặn những suy nghĩ cho rằng những ý hành đó là “tôi nghĩ”, “tôi tính”, “tôi suy tư”. Bằng không, nếu mình nhập cuộc, cho rằng suy nghĩ và mình là một, lúc đó không phải là nhận diện hành uẩn nữa, mà ta đã nhập chung với những ý hành, gọi là hành thủ uẩn, không còn trí tuệ để nhận diện ngũ uẩn nữa.

Cuối cùng là thức uẩn, đây là phần hết sức khó khăn. Chúng ta hiểu đơn giản: rõ biết về sắc là nhãn thức; rõ biết về tiếng là nhĩ thức; rõ biết về mùi là tỷ thức; rõ biết về vị là thiệt thức; rõ biết về xúc là thân thức; rõ biết về thọ, tưởng, hành trong tâm là ý thức.

Một Số Bài Tập Nhận Diện Ngũ Uẩn

Người tu cần phải thường xuyên thực tập nhận diện ngũ uẩn vì sự nhận diện này rất quan trọng, nếu không thấy được ngũ uẩn, sự tu học này sẽ không thể chạm tới sự thật của thân tâm, đa số chỉ dừng lại trên tưởng tượng. Nếu không làm bài tập thường xuyên và không chịu thực hành thì đi vào trong kinh sẽ không hiểu được. Sau đây là những bài tập chúng ta cần liên tục thực hành trong sự nhận diện ngũ uẩn:

Trong tu học:

Bài tập đầu tiên là nhận diện ngũ uẩn khi ngồi thiền. Khi bắt đầu ngồi thiền, ta thực hành Ba pháp:

Đầu tiên là Chánh Niệm Trước Mặt: mắt nhìn về phía trước, không nhắm mắt, mở rộng tầm nhìn hết mức ra hai bên, rõ biết ở trước mặt. Tiếp theo là Cảm Giác Toàn Thân: cảm nhận hơi thở, cảm nhận ba chỗ chuyển động của hơi thở là lồng ngực, chóp mũi và bụng; từ ba chỗ động chuyển này, lan tỏa cảm nhận ra khắp cơ thể, cảm nhận đỉnh đầu, mặt, cổ, cảm nhận vai, cánh tay, bàn tay, lòng bàn ta, cảm nhận mình, mông, chân, ống chân, bàn chân, lòng bàn chân; cảm nhận cảm giác của toàn bộ cơ thể. Bước thứ ba là Nội Tâm Tỉnh Giác, rõ biết chánh niệm ở trước mặt, rõ biết hơi thở, rõ biết cảm giác của toàn thân. Rõ biết những cảm giác (Thọ uẩn), những hình bóng (Tưởng uẩn) và những suy nghĩ (Hành uẩn) trong tâm. Sự rõ biết đó là Thức uẩn.

Lúc này, hãy nhận diện sắc uẩn, xem sắc thân này đang như thế nào; những cảm giác sanh diệt và vận hành ra sao; trong suốt thời gian đó có suy nghĩ gì xuất hiện, hành uẩn vận hành như thế nào; những hình bóng gì xuất hiện, tưởng uẩn sanh khởi ra làm sao; thức uẩn hoạt động như thế nào, rõ biết được thọ, tưởng, hành ra sao; thấy rõ được sự sanh khởi, an trú và chấm dứt của những thọ, tưởng, hành. Nếu đó là thiện pháp thì tiếp tục chiêm nghiệm, tác ý, làm cho phát triển. Còn nếu có dục tham, sân hận, bực bội, khó chịu, bản ngã sanh khởi thì phải soi gương rửa mặt, tác ý, lau chùi, tẩy rửa những pháp ác, bất thiện đó. Ví dụ, khi ngồi thiền, hình ảnh của gia đình thân yêu hiện lên, khiến ta có cảm giác nhớ mong, có suy nghĩ muốn về với gia đình, thối lui trong tu học. Khi đó phải mạnh mẽ tác ý, đập tan những suy nghĩ, ý hành bất thiện, thấy được đó chỉ là những thọ, tưởng, hành dẫn ta tiếp tục đi vào sanh tử luân hồi không có ngày thoát ra.

Cho nên pháp thứ ba – nội tâm tỉnh giác là nhìn vào bên trong để chiến đấu với những rác bẩn bên trong, chứ không phải chỉ nhìn thấy là xong. Vì thế ngồi thiền không phải là giờ ngồi im rồi ngủ gục để chờ tới lúc xả thiền, mà đây là lúc người tu cần nhận diện ngũ uẩn thật rõ ràng để chiến đấu và xử lý những vấn đề sâu thẳm bên trong. Bởi lẽ, đối với những hình bóng, suy nghĩ, cảm giác trong tâm mỗi người, không ai có thể rõ được nếu người đó không nói ra, cho nên chỉ có tự thân mình chiến đấu với chúng.

Ngoài ra cũng cần chiến đấu với cảm giác của thân, cần nhận diện ngũ uẩn thật rõ để phân biệt được thọ thân và thọ tâm, cảm giác ở nơi thân và cảm giác trong tâm. Khi ngồi thiền lâu, sanh khởi cảm thọ khó chịu nơi thân thì ta phải chiến đấu với cơn đau đó, không bỏ chân ra, phải gồng mình chịu đựng, chiến đấu với thân đau, chân tê, lưng mỏi, tác ý “thân đau nhưng tâm không đau”.

Khi sắp hết giờ thiền, hãy nhận diện ngũ uẩn để xem bên trong cảm thọ có sự thúc giục hay không; tưởng và hành có những suy nghĩ gì, có hướng ngoại, tính làm chuyện này chuyện kia hay không? Đến khi nghe chuông báo hiệu xả thiền thì cũng phải nhận diện ngũ uẩn, xem cảm thọ vận hành thế nào, có sự thích thú, vui mừng, nhẹ nhõm không. Hoặc khi đã hết giờ ngồi thiền, mà chưa thấy đánh chuông xả thiền, phải ngồi thiền lâu hơn bình thường thì có khó chịu hay không. Chúng ta phải nhận diện liên tục và thấy được cảm giác, ý hành, suy nghĩ, hình bóng trong tâm hoạt động.

Nhận diện ngũ uẩn là bài tập hết sức quan trọng trong khi ngồi thiền. Vì lúc ngồi thiền thì tâm ta rất trong sáng, nhờ vậy sự nhận diện ngũ uẩn sẽ được tỉnh sáng, sâu sắc và chính xác hơn lúc bình thường. Hơn nữa, đối với một vị đã nhận diện ngũ uẩn thường xuyên và quen sắc bén thì vị này có thể nhìn ngũ uẩn mọi lúc mọi nơi, còn người mới tu thì nhận diện ngũ uẩn trong lúc ngồi thiền sẽ dễ thấy hơn.

Trong giờ học kinh, nghe pháp, các thời khóa tu tập cũng vậy, chúng ta phải thường xuyên nhận diện ngũ uẩn. Đặc biệt, mỗi khi tu học, nhìn kỹ xem tâm ta có cảm thọ gì, dễ chịu hay khó chịu; còn lúc được ra chơi, được giải lao thì cảm thọ dễ chịu hay khó chịu? Có sự thúc giục, mong chờ, muốn được nghỉ nhanh hơn không. Thường luôn nhận diện ngũ uẩn trong sự tu học để kịp thời phát hiện những pháp bất thiện khi chúng vừa manh nha sanh khởi, để sự nghiệp tu hành luôn được tăng thượng,

---

Khi thọ trai, phải tập nhận diện ngũ uẩn trước khi ăn, trong khi ăn và sau khi ăn. Trước khi ăn phải xem lại ngũ uẩn như thế nào, trong khi ăn phải xem ngũ uẩn đang thế nào và sau khi ăn cũng phải xem lại ngũ uẩn thế nào. Nhận diện xem cảm giác sanh khởi như thế nào; hình bóng trong tâm lúc ăn cơm vận hành ra sao; có suy nghĩ gì trong khi đang nhai, ăn, nuốt, uống… Chẳng hạn, khi thức ăn không vừa ý có sanh khởi cảm giác khó chịu không; còn khi trước mặt là thức ăn ngon thì ngũ uẩn vận hành thế nào; dục, tham, ái khi ăn hoạt động ra sao, có gắp nhiều, ăn nhanh, tham đắm thức ăn không? Khi đó có nhìn thấy ngũ uẩn không, hay hoàn toàn bị nó làm chủ. Chỉ riêng vấn đề ăn uống cũng đòi hỏi công phu thâm hậu chứ không đơn giản, nếu nhận thấy mình ăn trong tham, trong dục, trong ái thì phải Như lý tác ý diệt tận dục ái đã sanh, để cảm thọ an tịnh lắng dịu xuống rồi mới ăn tiếp. Lúc đầu mới thực tập sẽ khó khăn vì trong tâm có sự chống đối, quen với việc ăn cơm theo thói quen thường tình, nhưng cố gắng thực tập thì từ từ mình sẽ ăn trong trạng thái an tịnh lắng dịu.

Mặt khác, khi đồ ăn được dọn sẵn lên bàn, chỉ cần lên ngồi ăn thì ngũ uẩn thế nào; còn nếu phải ôm bình bát đi khất thực xin ăn thì ngũ uẩn vận hành ra sao? Giữa trời trưa nắng, đi khất thực đầu trần chân đất, mặt đường nhựa nắng nóng, chân đạp lên sỏi đá, y áo luộm thuộm, ôm bình bát không quen, đồ ăn phải trộn chung lại, hoặcngười khác được cúng nhiều thức ăn ngon, mình được cúng ít… thì thọ, tưởng, hành thế nào, cảm thọ có sân không, hãy nhận diện để tác ý nhiếp phục những pháp bất thiện.

---

Khi pháp đàm, thảo luận về pháp, việc nhận diện ngũ uẩn là rất quan trọng. Cần xem xét mình đang nói bằng bản ngã, nói bằng sự hơn thua, nói vì phân định đúng sai, khen mình chê người hay thảo luận để tìm cầu chân lý, tìm cầu sự thật, tìm cầu pháp? Nếu trong câu nói đó có cảm giác hơn thua và một cảm giác giành phần thắng, giành phần đúng, giành phần hơn thì đó là bản ngã nói, khi đó mình phải nhìn ra được nhờ nhận diện ngũ uẩn.

Nhiều người chỉ thích những gì cao siêu, cao thâm, nói toàn những chuyện xa vời trong khi thân tâm đầy rẫy tham, sân, si, dục ái, bản ngã mà không để tâm tu tập để đoạn trừ; đó là tâm không chân thật, tâm không hiền thiện, tâm không chân chánh nên không thành tựu được Chánh Pháp. Các thầy Tỳ-kheo thời xưa phạm lỗi là khai ra và nhận lỗi ngay, còn mình có khi được hỏi thì lại chối ngay, bảo không có gì cả, tâm như vậy là không chánh trực, không ngay thẳng, không hiền thiện, không thật thà. Tâm tà thì làm sao thành tựu Chánh Pháp được?

Thế nên, trong sự tu học này, người tu cần nhận diện ngũ uẩn thật rõ ràng để thấy thấy thân tâm mình một cách chính xác, trực chỉ, trực diện, trực tiếp, có sao là nhìn thấy đúng như vậy. Đó là bước đầu để thành tựu đức hạnh của bốn đôi tám chúng Hiền Thánh của Đức Phật, tức là có tâm chánh trực, tâm ngay thẳng. Có tham thì nói là có tham, nếu có sân thì nhận là có sân, cảm thấy xấu hổ và xin sám hối với thầy, với sư huynh, sư đệ: "Con thấy cảm thọ sân hận là cái thứ thấp hèn, thấp kém, hèn hạ, xấu hổ. Con muốn đào thải cảm thọ sân hận, bực bội này ra khỏi thân tâm con, con không muốn chất chứa nó nữa, con xấu hổ khi có những ngôn hạnh như vậy đối với huynh đệ đồng tu", sau đó thật tâm sám hối giữa đại chúng thì người đó tu mới tiến. Ngược lại được chỉ lỗi thì quanh co ngụy biện hoặc đổ lỗi người khác, đó là tâm không ngay thẳng, không tàm quý tức là không thấy xấu hổ và sợ hãi thì không thành tựu được Thánh pháp vi diệu tối thượng này.

Trong sinh hoạt:

Khi làm việc với chúng, chẳng hạn phụ trách dọn trai đường hoặc nấu nướng trong nhà bếp, khi lau dọn chánh điện hoặc quét sân, khi nhổ cỏ hoặc tưới cây… Những lúc đó, chúng ta cần để tâm xem hành uẩn có suy nghĩ gì, cảm giác như thế nào, trong tâm có hình bóng gì sanh khởi. Vì những lúc làm việc, ta thường không an trú trong pháp, không nhớ đến nhận diện ngũ uẩn, mà chỉ an trú trong công việc, đây là cơ hội để bản ngã hoạt động, dục hoạt động, sân hoạt động, tập khí hoạt động, thói quen hoạt động, nghiệp hoạt động. Vì vậy, nhận diện ngũ uẩn lúc lao tác là rất cần thiết, tránh những mâu thuẫn, bất đồng trong đại chúng. Mặt khác, nhận diện được ngũ uẩn ngay cả lúc không phải trong thiền đường đòi hỏi công phu tu tập sâu sắc, độ chánh niệm cao. Mặt khác, cần xem xét rõ xem công việc đó có cần thiết phải làm ngay lúc đó không, hay làm để tránh giờ tu học, không muốn tu nên làm việc để được nghỉ ngơi. Đó là do hữu lậu bên trong vận hành, hoạt động, không cho mình ngồi yên, ngồi yên là chịu không nổi, thà ra lao động chân tay, được nói chuyện, thả lỏng các căn mà khoẻ; còn vào nghe pháp, ngồi thiền là bứt rứt, khó chịu. Cho nên, cần nhận diện ngũ uẩn và soi xét kỹ từng ý hành đang ngấm ngầm khiến chúng ta thối đọa trong tu học.

Khi chuẩn bị đi ngủ, được đặt lưng lên giường nằm xuống, hãy nhìn vào bên trong xem mình có cảm giác như thế nào; lúc nhắm mắt lại thì trong tâm có hình bóng gì; đọc được những suy nghĩ của hành uẩn trong lúc đó; nhận diện sắc uẩn lúc đó để xem thân tướng mình trong lúc ngủ như thế nào, có đúng oai nghi của người tu không, hay buông lung thả lỏng, không có chánh niệm.

Trong lúc tắm, nếu có sự nhận diện ngũ uẩn thì chúng ta sẽ rất bất ngờ vì thấy được những điều luôn sanh khởi và vận hành trong thân tâm chính mình nhưng trước nay mình chưa từng được biết. Ví dụ, chỉ cần nghe tiếng xối nước của người tắm kế bên là mình biết người đó có chánh niệm hay không chánh niệm. Nếu xối nước bằng dục là xối nước ào ào, vì lúc đó dục đang hoạt động theo cảm giác mát mẻ, thoải mái mà không có sự kiểm soát thân hành niệm. Cái thúc giục mình xối nước ào ào lúc tắm chính là cảm giác bên trong đang hối thúc, thúc đẩy mình nhanh mau xối ào ào để được mát mẻ, sung sướng. Nếu không nhận diện ngũ uẩn những lúc này, chính ta cũng sẽ tắm trong dục, chìm trong lạc thọ, mất chánh niệm.

Trong mỗi bước đi cũng phải nhận diện ngũ uẩn. Nếu đi trong hối thúc, giục giã, hấp tấp, vội vàng, lăng xăng giống như có đuổi theo đằng sau thì đó là đi trong dục. Lập tức phải quay trở lại kiểm soát, nhận diện cảm thọ; nhận diện suy nghĩ xem vì sao mình muốn đi nhanh; nhận diện sắc thân này, xem dáng vẻ đang đi như thế nào, có giữ oai nghi hay không. Sau đó, bắt mình đi chậm lại, không đi theo kiểu ngũ uẩn muốn, không bước theo kiểu bị dục dắt dẫn.

Khi nói chuyện, cần phải luôn luôn nhận diện ngũ uẩn lúc nói, bằng không, nói một lúc là trong đó sân, có dục, có bản ngã. Ví dụ, hai huynh đệ đang ngồi thảo luận về pháp nhưng nói một chút thì sân giận, cự cãi, bất hòa, không nói chuyện nữa vì bất đồng quan điểm.

---

Như vậy, nhận diện ngũ uẩn chính là bài tập người tu phải làm đến suốt cuộc đời, cho đến khi thành tựu cứu cánh Phạm hạnh, đạt được Thánh quả tối cao. Vì ngũ uẩn chính là nguyên nhân của đau khổ, là kẻ sát nhân giết chết chúng sanh từ vô lượng vô biên kiếp. Thế nhưng tất cả hữu tình chúng sanh lại nắm chặt, nắm giữ, say mê, khao khát nó và cho rằng nó là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi rồi đau khổ. Để nhìn ra những sự thật này là cả một sự chiến đấu, là cả một công phu, công trình, công lực tu tập của những người con Phật. Nếu lúc bình thường không thực tập nhận diện thì khi tham muốn, nóng giận, si mê sanh khởi, ta không thể nào thấy được.

Khi nhận diện ngũ uẩn, chúng ta sẽ thấy được trong người mình có đầy ngập những tập khí bất bất thiện: ham ăn, mê ngủ, thích đi chơi, ham danh lợi… Người tu phải “lắng nghe những thọ, tưởng, hành thật kĩ – nghe rồi dẫn chúng đến hiền tâm” Suốt ngày nhìn lại tâm của mình, không được sơ hở phút nào. Từng suy nghĩ, từng cảm giác, từng hình bóng trong tâm phải được nội soi, nội quán thật rõ ràng; không nhìn lỗi người chỉ thấy lỗi mình, nếu thấy người khác có lỗi thì quay trở về xem xét chính mình. Có như vậy thì chúng ta mới có thể phát hiện và nhiếp phục được tham, sân, si, dục, ái, vô minh và bản ngã trong tự thân mình.

Nhận Diện Tham, Sân, Si

Sau khi nhận diện ngũ uẩn, chúng ta tiến thêm một bước là phát hiện và nhiếp phục tham, sân, si. Trong bài kinh “Sa môn hạnh”, Tương Ưng Bộ Kinh V, Đức Phật dạy rằng: “Này các Tỷ-kheo, đoạn tận tham, đoạn tận sân, đoạn tận si. Ðây gọi là mục đích Sa-môn hạnh (sàmannattho)”.

Thật vậy, khi làm điều gì cũng phải có mục đích của việc làm đó, nếu không xác định được mục đích, mục tiêu của việc đang hướng tới thì ta làm không đến đâu, có khi làm sai, làm lệch hoặc làm nửa vời. Đời tu cũng vậy, điều đau đớn nhất của đời tu là không xác định được mục đích, không biết được điểm nhắm đến là chỗ nào. Do đó mà sự tu không có kết quả, bằng chứng là rất nhiều người trong chúng ta tu học mấy mươi năm nhưng không đạt được sự an lạc như mong muốn.

Trong kinh tạng Nikāya, Đức Phật đã tuyên bố rất rõ ràng mục đích của đạo Phật là diệt tham, sân, si. Vậy tham, sân, si ở đâu? Tu mà không biết tham, sân, si ở chỗ nào thì giống như ra trận đánh giặc, nhưng hỏi giặc ở đâu, mặc đồ gì, giặc cao lớn hay thấp bé cũng không biết, như vậy thì làm sao chiến đấu? Cũng vậy, tham, sân, si là kẻ thù, là tên ác độc, là thứ làm mình khổ đau, nhưng mình không biết nó ở đâu thì không thể diệt trừ, nhiếp phục. Vì vậy, chúng ta phải thấy rõ được hang ổ, sào huyệt của tham, sân, si, sau đó ra sức diệt trừ, chiến thắng được giặc phiền não thì đời tu mới đi đến thành tựu.

Tham, sân, si ở đâu?

Đức Phật đã dạy: Này các Tỷ-kheo, có ba thọ này. Thế nào là ba ? Lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ. Này các Tỷ-kheo, tham tùy miên đối với lạc thọ cần phải đoạn tận. Sân tùy miên đối với khổ thọ cần phải đoạn tận. Vô minh tùy miên đối với bất khổ bất lạc thọ cần phải đoạn tận.

(Tương Ưng Bộ Kinh V, chương II. Tương Ưng Thọ, Phần I. Phẩm có kệ, bài kinh Đoạn Tận)

Như vậy, Tham nằm ở trong Lạc thọ, Sân nằm trong Khổ thọ và vô minh tùy miên, tức là Si nằm trong Bất khổ, bất lạc thọ. Tóm lại, tham, sân, si chính là nằm trong cảm thọ. Chính vì vậy, phần nhận diện cảm giác rất quan trọng. Bởi vì tưởng uẩn là những hình ảnh lờ mờ trong tâm, hành là những suy nghĩ phớt qua rồi mất, thức là sự nhận biết, không có hình tướng, nhưng cảm giác thì có biểu hiện trên gương mặt, trong ánh mắt, trên thân. Đức Phật có dạy: “Tất cả pháp hội tụ nơi cảm thọ”, nếu thường nhìn lại cảm giác thì chúng ta thấy rõ được tất cả pháp. Tức là thấy được căn cứ địa của phiền não; thấy được hang ổ của tham, sân, si; thấy được cội gốc, gốc rễ của bản ngã, chấp ngã, chấp thủ, tật đố, hơn thua trong cảm giác đó.

Sau đây, chúng ta sẽ chứng minh để thấy sự vận hành của tham, sân, si trong thực tế đời sống.

Tham:

Khi thọ trai, ngồi trước những món mình thích, bên trong có một cảm giác thúc giục muốn được ăn ngay, nhưng nghi thức tụng kinh còn lâu, vị chủ lễ đáp từ dài; mình thì đói bụng, muốn đọc kinh thật nhanh, đáp từ cho thật mau để được ăn; đó là dục. Lưu ý, không phải dục nam nữ mới gọi là dục, đó là suy nghĩ phàm phu, bình thường, ai cũng biết. Sự thúc giục, làm nhanh, đi nhanh, nói nhanh cũng là dục. Sâu sắc hơn, mình muốn đọc nhanh cho xong mà mọi người cứ kéo dài, mình phải chờ lâu thì trong cảm thọ sẽ có sự khó chịu, dù ít hay nhiều thì cũng có sân trong đó.

Khi vị chủ lễ đáp từ xong, nghe chuông gõ bắt đầu ăn là mình lập tức gắp thức ăn. Khi được ăn thì có cảm giác đã đã, khoái khoái, thích thích; đó là ái. Miệng nhai chưa xong nhưng mà gắp liên tục chờ sẵn, muốn ăn thêm, ăn nữa; đó là tham. Trước nay, chúng ta chỉ nghĩ rằng, đồ người ta không cho mà mình lấy trộm, ăn cắp thì mới là tham, đó là suy nghĩ bình thường của phàm phu, còn bậc đa văn Thánh đệ tử là nhìn thấy căn nguyên, gốc rễ của các pháp vận hành ở trong ngũ uẩn. Trên đây là sự vận hành của dục, tham, ái trong khi ăn. Cảm thọ lúc đó dễ chịu và dục, tham, ái ở trong đó mà mình không hề hay biết; chỉ khi nào nhận diện cảm thọ thì mới thấy được. Thành ra trong khi mình ăn cơm thì tham, sân, si, dục, ái hoạt động liên tục.

Ví dụ khác, khi lao động giữa trời nắng nóng, mình đang khát nước thì có người đưa cho mình một ly nước cam mật ong hoặc ly cà phê sữa rất thơm ngon, đúng món mình thích. Lúc đó bên trong có một cảm giác thúc giục muốn uống nhanh (dục), khi uống vào một ngụm thì có sự dễ chịu, thích thích, khoái khoái (ái), nhiều khi uống một hơi là hết cả ly, mà còn muốn uống thêm (tham). Tất cả sự vận hành này đều nằm trong lạc thọ.

Hoặc mình đang đi giữa trời trưa nóng, kẹt xe rất khó chịu; vừa về đến nhà được bước vào máy điều hòa, không khí mát mẻ thì cảm thọ liền chuyển đổi, từ khổ thọ chuyển sang lạc thọ, nói cách khác là từ sân chuyển thành tham,. Ngược lại, mình đang được ở trong máy điều hòa mát mẻ, dễ chịu nhưng có việc phải đi ra đường giữa trời trưa nắng, lúc đó sanh khởi cảm giác khó chịu không những trên thân mà cả trong tâm. Tham và sân hoạt động rất vi tế và nhỏ nhiệm, nếu ta không nhận diện sâu sắc thì rất khó thấy.

Như vậy, khi đối diện với người đẹp, đồ ăn ngon, những đồ vật vừa ý, những cảm giác dễ chịu, thoải mái, trong tâm có sự thúc giục, đó chính là dục. Khi tiếp xúc với đối tượng đó, mình có sự yêu thích, khoan khoái, thích thú, lưu luyến, bịn rịn thì đó là ái. Vì ưa thích nên muốn được tiếp xúc nhiều hơn, gặp nhiều hơn, muốn thêm, muốn thêm… đó chính là tham.

Sân:

Chẳng hạn, mình đang đi nhẹ nhàng bình thường, tâm trạng đang vui vẻ thì một người lạ đi đến, chỉ thẳng vào mặt mình mà nói: “Ông mà tu cái gì, tu hú chứ tu gì, chỉ là giả trang thiền tướng!”. Lúc đó, ngay tại lồng ngực – trung tâm của các cảm thọ sẽ động chuyển, hơi nóng bốc lên, gương mặt đỏ lên, hai lỗ tai lùng bùng, mắt lờ mờ, miệng mấp máy, cảm thọ khó chịu sanh khởi và sân nằm ngay trong cảm thọ đó. Khi nghe người này nói nặng như thế, bên trong tâm bực bội, sân hận, sôi lên. Người biết tu có khi chỉ đáp nhẹ lại hoặc im lặng không nói gì, nhưng không phải như vậy là xong, vì cơn sân đó chất chứa trong cảm thọ, bất cứ lúc nào cũng có thể bùng phát ra.

Như vậy, cảm thọ là nơi động chuyển trước tiên, rồi sau đó cơn sân mới nung lên, phát ra, lan dần đến những chỗ khác, thậm chí có thể phát ra lời nói hoặc hành động. Khi ấy, nếu không nhận diện cảm giác thì chúng ta không còn làm chủ được mình, mà hoàn toàn bị cơn sân điều khiển. Ví như khi đun nước sôi, từ lúc tim bọt nổi lên thì ta biết nước đã bắt đầu sôi, chứ không phải đợi nước sôi ùng ục 80-90-100ºC, bọt tuôn tràn ra, thậm chí là cái nắp rớt ra thì mới biết là nước sôi. Điều này giống như đến lúc những dòng cảm thọ của khó chịu, bức xúc, sân hận, phẫn nộ, phẫn uất, xông lên, bùng lên, cháy lên thì mới thấy được cơn sân, chứ không thấy cơn sân manh nha từ trong cảm giác.

Cái biết như vậy là cái biết muộn màng, biết ở trên ngọn chứ không biết từ tận cùng gốc rễ. Đó là cái biết của vô văn phàm phu, tức là phàm phu không học Chánh Pháp, biết như vậy thì tu để làm gì! Người tu phải biết được tham, sân, si ngay khi những tim bọt nước bắt đầu nổi lên và dùng phương pháp thích hợp để nhiếp phục nó, như vậy mới là cái biết của người thành tựu trí huệ, gọi là Đa văn Thánh đệ tử. Người có học, có tu, có thực hành pháp, nhìn thường trực vào cảm giác thì khi cảm thọ có sự động chuyển đã lập tức phát giác được tham, sân, si.

Si:

Cuối cùng là Si, cảm giác không dễ chịu cũng không khó chịu. Dễ thấy nhất là khi ngồi nghe pháp nhưng mắt cứ nhíu lại, thở vào, thở ra. Pháp âm thì vang dội, còn mình cứ thở đều đều, vai bắt đầu thụng xuống, đầu ngả sang một bên, gương mặt trì trệ, đơ đơ. Mình không phát hiện ra là bởi vì mình không nhìn lại cảm giác. Nếu có nhìn, khi bắt đầu đơ đơ là mình liền thấy được và nhiếp phục: “Vô đây tu hay ngủ? Giờ này nghe pháp hay ngủ?”.

Đi sâu hơn vào trạng thái của si, chẳng hạn, mình đi học nhưng khi được hỏi vị thầy đó giảng như thế nào thì mình thấy cũng bình thường, cũng không rõ đã giảng những gì. Khi đầu bếp hỏi món ăn đó như thế nào thì mình thấy không ngon cũng không dở. Hoặc có nhiều vị nói rằng: “Thưa thầy, con tu cũng tiến bộ lắm, ba tháng nay con không buồn, giận ai hết; cũng không tham lam bất cứ điều gì”, nhưng thật ra trong đó có si mà mình không biết.

Trạng thái đó không phải là tham, cũng không phải là sân, mọi thứ cứ thường thường, đều đều, bất khổ bất lạc thọ là trạng thái của si. Đến giờ tu thì lên bồ đoàn ngồi, tụng kinh gõ mõ đều đặn ngày hai thời, giờ thọ trai thì ra dùng bữa, giờ lao tác thì làm xong trách nghiệm, giờ ngủ nghỉ thì ngủ nghỉ, không có giận hay thương ai – tưởng rằng đời tu như là tốt nhưng đó là trạng thái của bất khổ, bất lạc thọ và vô minh tùy miên ở trong đó. Vị này không thấy sắc, thọ, tưởng, hành, thức, không thấy duyên sanh pháp, không thấy được những pháp vô thường, khổ, vô ngã nên sống với một tự ngã mà không biết. Lúc nào cũng thấy có cái tôi ngon lành, trọn vẹn đang nói nín đứng đi, nói năng, hành động, khi nhìn vào gương cũng có sự hài lòng với hình hài đó, như vậy tất cả sự tu học chỉ nằm trong si mê, chấp ngã, vô minh và tham ái.

---

Như vậy, về phần tâm, tham, sân, si biểu hiện từ trong cảm thọ. Còn ở trên thân, tham, sân, si cũng có biểu hiện rõ ràng. Ví dụ, tham sắc thì con mắt sáng lên, nhìn mãi đối tượng đó, tham ăn thì miệng tươm nước miếng. Dục tham thì biểu hiện ở nơi phát dục, khi có dục khởi lên thì chỗ đó chuyển động. Khi giận lên thì chỗ lồng ngực nóng lên, mắt đỏ, mặt đổi màu, lỗ tai lùng bùng, cho nên chỗ lồng ngực là chỗ tập trung các cảm thọ. Khi si thì thể hiện nhiều nhất ở con mắt, người nào ánh mắt có sự tinh minh, sáng tỏ thì người đó có sự tỉnh sáng, còn nhìn vào thấy con mắt lờ đờ thì người đó đang rơi vào trạng thái si. Hoặc là lúc ngồi thiền mà mình tỉnh táo, chánh niệm, tinh anh thì hai con mắt tỏ tường, minh bạch, còn ngồi mà bị hôn trầm, lờ đờ thì hai con mắt cứ nhướng lên rồi sụp xuống; như vậy si biểu hiện nhiều nhất ở con mắt.

Đối trị tham, sân, si

Khi thấy được sự vận hành của tham, sân, si chính là nguyên nhân dẫn đến vô vàn những sầu, bi, khổ, ưu, não; chúng ta sẽ có phương pháp nhiếp phục, diệt tận đau khổ ngay trong tự thân mình theo đúng lời Đức Thế Tôn đã dạy. Sau đây, Minh Thành xin chia sẻ phương pháp đối trị tham, sân, si và bản ngã trong kinh tạng Nikāya.

Tham – Dục – Ái:

Trong Tăng Chi Bộ, Đức Phật có dạy:

"Do nhân gì, này chư Hiền, do duyên gì tham chưa sanh được sanh khởi, và tham sanh rồi đưa đến tăng trưởng, quảng đại?"

Cần phải trả lời là "Tịnh tướng".

(Tăng Chi Bộ Kinh I, Chương Ba Pháp, V. Phẩm Nhỏ, bài kinh Du Sĩ Ngoại Đạo)

Sở dĩ tham sanh khởi và tăng trưởng là vì ta cho rằng những cảnh vật, đồ vật hoặc con người đó là đẹp, là thật, là bền, là chắc nên có sự tham thích, mơ mộng, say mê. Khi gặp những thứ mình thích như nhà cửa, tiền tài, đất đai, danh lợi, địa vị, người đẹp cho đến xe hơi đời mới, đồng hồ, đôi giày, cây cảnh bonsai… thì thọ, tưởng, hành, thức lập tức bị chi phối, ám ảnh, cho rằng chúng là thật có, là đẹp đẽ, là hấp dẫn. Nghĩ như vậy nên ta nuôi lớn thêm lòng tham, tham chưa sanh sẽ sanh, tham sanh rồi sẽ lớn mạnh.

Như vậy, do sự ưa thích và cho rằng những đối tượng xung quanh là khả ái, khả ý, là tốt đẹp, là tịnh tướng nên mới có tham; còn nếu thấy đó là xấu, là dở, là bất tịnh, là mong manh thì làm sao tham được? Vì vậy, giờ đây khi thấy một món đồ quý hoặc một người đẹp, trong tâm sanh khởi cảm giác ưa thích thì chúng ta phải nhìn đó là Bất Tịnh Tướng, tức là nhìn vào những khía cạnh không sạch sẽ, không tốt đẹp, không bền chắc; nhìn vào khía cạnh vô thường, biến đổi, tan hoại của nó thì tham sẽ không sanh khởi, hoặc nếu tham đã sanh sẽ được giảm xuống. Hơn nữa, bản chất tất cả các sắc pháp vốn là vô thường, trống rỗng, hoại diệt; nếu yêu thích, chấp thủ, nắm giữ vào đó thì ta chỉ nhận lấy khổ đau. Ví dụ đơn giản, đồ vật mình yêu thích mà bị rớt bể, hư hại thì mình đã đau khổ, đừng nói chi đến những thứ to lớn hơn.

Cho nên, để đối trị tham, chúng ta phải quán xét khía cạnh không sạch sẽ, biến hoại, vô thường, không bền chắc của các pháp khiến mình sanh khởi tâm tham, ghi nhớ chúng là “hàng dễ vỡ”; kết hợp quán tưởng về bộ xương, ghi nhớ hình ảnh nắm tro tàn, quán chiếu cái chết để diệt tâm tham. Trong bài kinh Già, Tương Ưng Bộ Kinh IV, Đức Thế Tôn đã dạy: “Tánh già nằm trong tuổi trẻ; tánh bệnh ở trong sức khỏe; tánh chết ở trong sự sống”. Thường thấy như vậy, quán như vậy, xét như vậy thì ta sẽ đi đến chỗ ly tham.

Khi đứng trước món đồ đẹp, người đẹp, mùi thơm, tiếng hay, vị ngon... trong tâm khởi lên sự ham muốn, thúc giục, chúng ta phải biết đó là ác, bất thiện pháp và hướng tâm mình vào sự an tịnh, lắng dịu; thấy đó là lò lửa, là rắn độc, là khổ đau, phải dừng lại, không được tham muốn. Nhờ thường nhìn sâu vào cảm giác, có sự an trú cảm giác toàn thân nên khi tham rục rịch, manh nha là ta lập tức phát hiện và Như lý tác ý:“Mày tham hả, tham cho luân hồi sinh tử khổ đau mấy chục năm rồi, giờ tiếp tục muốn khổ nữa phải không? Thôi đừng có tham nữa, bỏ cái tham đi, ly cái tham đi, lìa cái tham đi, dứt cái tham đi, sạch cái tham đi, vứt cái tham đi, quăng cái tham đi rồi mới tới Niết-bàn an lạc.”

Thường thực hành quán bất tịnh, quán 32 thể trược, quán 9 giai đoạn tử thi để diệt dục, tham, ái. Quán hình ảnh tử thi đang nằm đó, giòi ăn trong hai tròng mắt, ăn hết cái mặt, bò nheo nhút toàn thân: “Thân này rồi sẽ bị giòi ăn tan nát hết, chỉ còn lại một bộ xương, sau cùng cũng tan biết thành cát bụi, chẳng có gì trong này để tham mê, say đắm. Tham đến đây là quá đủ rồi! Làm nô lệ cho tham dục đến đây là quá đủ rồi! Hãy thoát ra!”.

Người nhặt các loại hoa,

Ý đắm say, tham nhiễm,

Các dục chưa thỏa mãn,

Đã bị chết chinh phục.

(Kinh Pháp Cú – Phẩm Hoa)

Nếu không thoát khỏi ngục tù của tham dục thì suốt cuộc đời mình cứ lo phân biệt cái này đẹp, cái kia không đẹp; cái này tốt, cái kia không tốt; cái này thơm, cái kia không thơm để ròi“Ý đắm say, tham nhiễm” vào đó. Thế nhưng, khi“các dục chưa thỏa mãn”, còn muốn nhiều hơn nữa thì“đã bị chết chinh phục”. Có buồn không khi mình chính là người đó? Chúng ta khổ không biết bao nhiêu lần rồi mà vẫn chìm nổi trong dục, tham, ái hoài không dứt. Chúng ta đã từng dâm dục, ái dục, tham dục trong ngàn tỷ năm rồi chứ không phải mới đây. Còn gì nữa để mà say mê, đắm chìm, trôi nổi trong đó, hãy nhàm chán, từ bỏ và thoát ra cội gốc của khổ đau này.

Mỗi khi dục khởi lên thì mình phải hướng tâm vào đó để tác ý: “Chính vì cái này mà mình cứ khổ mãi, không tu hành được, suốt ngày cứ khao khát, thèm muốn, đòi hỏi, trong vô lượng vô biên kiếp đã dục ái rồi mà vẫn chưa hài lòng hay sao, tới giờ vẫn còn thèm muốn những thứ thấp hèn như vậy? Thích giòi lắm phải không? Thích phân và nước tiểu lắm phải không? Hãy tan biến hoàn toàn khỏi tâm ta đi”. Khi tác ý như vậy thì cảm thọ sẽ được lắng dịu và nhẹ nhàng, dục, tham, ái cũng được giảm xuống. Cần chịu khó rà soát thường xuyên và liên tục trong thân để phát hiện những cảm giác của tham muốn và xử lý đúng lúc. Bất cứ nơi nào cũng phải an trú cảm giác toàn thân; tức là khi đi, đứng, làm việc, lúc nào cũng để ý cảm giác toàn bộ cơ thể. Nơi nào biến động thì mình lập tức phát hiện và tác ý: "Lắng dịu đi để ta tu, hỡi những cảm giác dục tham ác độc này".

Trước khi ngủ phải tác ý diệt dục, khi mới thức dậy phải tác ý diệt dục, trong khi ngồi thiền cũng tác ý diệt dục liên tục; nhờ la rầy, quở trách tâm thường xuyên thì những cảm thọ bất thiện dần dần sẽ được thanh lọc và gội rửa. Tâm ương ngạnh, cứng đầu, ngông nghênh, hoang vu sẽ bị nhiếp phục và chế ngự, phải có tuệ lực, hùng lực, phải có những phương pháp thật mạnh để đánh đuổi nó tan thành mây, thành khói, thành hư không, không còn tái sanh trở lại trong tương lai nữa.

Bản thân chúng ta đã và đang làm nô lệ cho những tham muốn mà không hay biết. Hãy nhìn lại tự thân mình và xem mục đích thật sự của đời sống này là cái gì? Chẳng lẽ chúng ta sinh ra là để tìm kiếm những món đồ đẹp để sở hữu, những món ăn ngon để tham đắm, những cảnh đẹp để đi chơi, những người đẹp để luyến ái? Chẳng lẽ mục đích đời sống của chúng ta chỉ có như vậy thôi sao? Chẳng lẽ cả cuộc đời chúng ta chỉ mải cố gắng làm việc để được hưởng thụ một chút dục lạc rồi chờ đến ngày nhắm mắt? Nếu không muốn sống một cuộc đời vô nghĩa thì ngay bây giờ chúng ta hãy nỗ lực nhiếp phục những dục, tham, ái đầy tràn khổ đau này để hướng đến nhàm chán, ly tham, bước vào cánh cửa bất tử.

Sân:

Đối với sân, Đức Phật dạy như sau:

"Do nhân gì, này các chư Hiền, do duyên gì sân chưa sanh không sanh khởi, hay sân đã sanh được đoạn tận?"

Cần phải trả lời là "từ tâm giải thoát" ." Với ai như lý tác ý từ tâm giải thoát, thời sân chưa sanh không sanh khởi, hay sân đã sanh được đoạn tận. Đây là nhân, này các Hiền giả, đây là duyên khiến sân chưa sanh không sanh khởi, hay sân đã sanh được đoạn tận."”

(Tăng Chi Bộ Kinh I, Chương Ba Pháp, V. Phẩm Nhỏ, bài kinh Du Sĩ Ngoại Đạo)

Khi nhìn một người nào đó, ta khởi lên sự sân giận là tại vì mình cho người đó là chướng ngại; nhìn người đó là thấy ghét, chướng tai, gai mắt, tướng đi nhìn cũng ghét, cái miệng nói nhìn cũng ghét, từ hành động đến dáng ngồi cũng không ưa. Những điều đó là nguyên nhân làm “sân chưa sanh khởi sẽ sanh khởi, sân đã sanh khởi sẽ tăng trưởng, quảng đại” trong nội tâm của mình, gọi là Chướng Ngại Tướng. Khi cho rằng một người là chướng ngại, chướng tai, gai mắt, nếu vẫn còn nuôi dưỡng tư tưởng đó thì không bao giờ chấm dứt cơn sân được.

Cho nên, Đức Phật dạy phải tu Từ Tâm Giải Thoát. Cần hiểu rằng, mỗi người một nỗi khổ, mỗi loài một niềm đau, tất cả hữu tình chúng sanh, vạn loại này đều có nỗi khổ riêng của họ. Khi thấy rõ điều này thì không bất cứ một ai trên cuộc đời này để cho mình đáng giận hết. Ngu thì mới giận, hiểu thì sẽ không giận. Không có bất cứ một lý do nào làm cho mình giận, mình giận là vì mình ngu, mình làm cho mình khổ và làm cho người khác khổ. Khi mình đã hiểu ra thì không có bất cứ một chúng sanh nào đáng cho mình giận, vì tất cả đều đắm chìm trong khổ thì giận gì. “Khổ như vậy chưa vừa, chưa đủ hay sao? Khổ như vậy chưa hày lòng mà muốn gây sự kiếm chuyện để khổ nữa hay sao? Tâm ơi là tâm, mày ngu vừa vừa thôi!”.

Chúng ta đã từng sân hận, tức giận, đốt cháy biết bao người trong ngàn vạn ức năm chứ không phải mới đây. Hãy quán chiếu thật sâu sắc để thấy nhàm chán với những cảm thọ này: “Giận tới đây là vừa đủ rồi. Giận tới đây là ngao ngán rồi. Giận tới đây là đủ để thiêu rụi tất cả rồi. Thôi đừng giận nữa, hãy nhàm chán cảm giác giận này đi, nhàm chán cảm giác bực bội này đi, nhàm chán cảm giác đốt cháy này đi. Ngươi tan biến đi, đừng ở trong tâm ta nữa, hãy mát dịu tịch tịnh cho ta yên ổn mà tu”.

Đó là cách hóa giải tâm sân trong cảm thọ. Tức là nhìn người đó mình phải thấy họ đáng thương, người ta không hiểu đạo, chưa biết tu. Còn mình biết Phật pháp, nghe biết bao nhiêu bài pháp, đọc biết bao nhiêu cuốn kinh, thính bao nhiêu pháp hội nhưng vẫn còn sân như thế này, còn họ chưa có được gì hết, vậy sao mình không thương mà còn giận nữa? “Thôi tội nghiệp họ, thương đi, người ta không hiểu mà”. Hơn nữa, không có một người nào đáng cho mình giận, tại vì ai cũng là nạn nhân của tham, sân, si, bản ngã và chính mình cũng vậy. Ai cũng là người đáng thương và người đáng thương trong tất cả người đáng thương là chính mình. Phải tự thương chính mình vì luôn đắm chìm trong vô minh, tham ái, chấp ngã, khổ hoài, bây giờ còn để cho hận sân hành hạ hay sao?

Nếu người ta dùng những lời nặng nề làm mình đau khổ, nhức nhối thì mình hiểu rằng họ là người đáng tội nghiệp, họ đang bị thiêu đốt trong những cảm xúc của sân hận, tức giận, buồn phiền. Cho nên mình phải thương họ, trong lòng sanh khởi lòng bi mẫn, lòng thương xót và trải tâm từ đến đối tượng đang kiếm chuyện, gây sự, chỉ trích mình. Tác ý rằng: “Họ đang bị thiêu đốt mà, không lẽ giờ mình ném lửa, ném củi, ném xăng, đổ dầu vào đốt thêm hay sao? Ta hãy dùng dòng nước mát thanh lương tưới lên người họ để dập tắt ngọn lửa sân giận này”. Còn nếu mình tiếp tục đổ xăng, đưa củi, thêm lửa vào để đốt cháy họ và chính mình thì mình cũng là kẻ vô minh, mù lòa mà thôi.

Khi thấy trong tâm có cảm giác giận hờn, hơn thua, nhân ngã, bỉ thử với người khác, lúc đó hãy tự nhũ: “Thôi, hơn thua để được cái gì, tranh giành để được cái gì, thị phi để được cái gì? Tất cả chỉ là ngũ uẩn vô thường, đều bị tham, sân, si hành hạ, có gì đâu mà lên mặt với nhau. Hãy an tịnh, lắng dịu, ngọt ngào và dễ chịu đi”. Nhờ khéo léo tác động tâm ý, giáo dục, dạy dỗ, huấn luyện, nuôi dưỡng tâm như vậy nên dần dần những cảm xúc sục sôi bên trong tâm mình sẽ được an tịnh, lắng dịu, dễ chịu và dễ thương.

Hơn nữa, nhờ lúc bình thường tâm từ được nuôi dưỡng rộng lớn, quảng đại, khi sân sanh khởi chúng ta mới đủ tình thương để hóa giải tâm sân. Cũng như một dòng sông rộng lớn của tâm từ sẽ không bị một chút sân giận làm cho xao động. Ngược lại, thường ngày không thực tập, không nuôi dưỡng tâm từ, tình thương không đủ, khi có chuyện xảy đến, ta sẽ không trải tâm từ đến với những đối tượng làm ta giận được; thậm chí có khi còn bị đồng hóa với cơn sân mà không biết.

Vì vậy, chúng ta phải thường tưới tẩm, phát triển, tăng trưởng những cảm giác của tâm từ, của tình thương, của sự cảm thông, ngọt ngào, bao dung, tha thứ. Nuôi dưỡng tâm ý bằng những suy nghĩ hiền lành, hiền đức, hiền thiện, hiền trí; đào thải những cảm xúc cộc cằn, cau có, gắt gỏng, khó chịu, bức xúc, sân hận chất chứa trong tâm. Nhờ tưới tẩm và nuôi dưỡng tâm từ rộng lơn nên mọi chuyện bên ngoài dù có nóng bức, có bất như ý thì cảm giác bên trong vẫn được mát dịu, lắng dịu, nhẹ nhàng, từ ái và yêu thương. Tâm sân không còn chỗ để trú ẩn và hoành hành thêm nữa!

Si:

Cuối cùng là si, Đức Phật có dạy:

"Do nhân gì, này các chư Hiền, do duyên gì si chưa sanh được sanh khởi, và si đã sanh được tăng trưởng, quảng đại?"

Cần phải trả lời là "Không như lý tác ý". "Với ai không như lý tác ý, thời si chưa sanh được sanh khởi, và si đã sanh được tăng trưởng quảng đại.

(Tăng Chi Bộ Kinh I, Chương Ba Pháp, V. Phẩm Nhỏ, bài kinh Du Sĩ Ngoại Đạo)

Bước đầu tu tập, chúng ta thường tập trung phá tham với sân nhưng không biết rằng si là một cái hết sức là khủng khiếp. Tại vì tham, sân không phải lúc nào cũng chúng ta cũng thấy, mình thường chỉ thấy những tham sân ở trạng thái thô, còn tham vi tế phải thành tựu chánh tri kiến mới thấy được. Đối với sân thì không phải lúc nào mình cũng sân giận từ sáng tới chiều, từ ngày này qua tháng nọ, mà cơn sân sanh khởi, bùng phát ra một lúc rồi sẽ hết. Còn tâm si thì lại là thứ thâm căn cố đế, ăn sâu vào trong xương tủy của mình, phải dùng sự tác ý tinh cần, tinh tấn, thấy được bản chất vô thường của đời sống này để diệt những cảm thọ si mê.

Và người khác không biết,

Chúng ta đây bị hại,

Chỗ ấy, ai hiểu được,

Tranh luận được lắng yên.

(Kinh Pháp Cú – Phẩm Song Yếu)

Quý Tăng Ni, Phật tử thân mến, quý vị có biết chúng ta đây đang bị hại không? Và đang bị cái gì hại? Chúng ta đang bị cái già hại, bị cái bệnh hại, bị cái chết hại và bị tham, sân, si, bản ngã, ganh tỵ, tật đố, hơn thua, tranh chấp cao thấp, nhân ngã bỉ thử hại… nhưng mình hoàn toàn không biết. Nếu biết rằng tất cả chúng ta đang bị hại thì mọi sự tranh luận sẽ được lắng yên. Bởi lẽ, khi biết sự thật đó thì thời gian đâu nữa mà tranh cãi, tranh chấp, tranh tụng trong khi mái đầu đã điểm sương! Thời gian đâu nữa mà hơn thua trong khi tóc đen này đã bạc trắng! Hãy nỗ lực, tinh tấn hành trì, đừng để ngày tháng trôi qua lãng phí.

“Ví như, giọt sương trên đầu ngọn cỏ, khi mặt trời mọc, mau chóng biến mất, không tồn tại lâu dài. Cũng vậy, như giọt sương là đời sống loài Người, nhỏ bé, không đáng kể, nhiều khổ đau, nhiều ưu não. Với trí huệ, hãy giác ngộ! Hãy làm điều lành, sống đời Phạm hạnh! Với người đã sanh, không có bất tử” (Tăng Chi Bộ Kinh III, Chương Bảy Pháp, VII. Đại Phẩm, bài kinh Araka). Với người đã sanh ra, không thể không chết, đừng tưởng mình sẽ sống hoài, vì vậy phải luôn nhớ đến vô thường để đánh tan sự đều đều trong cảm thọ. Hãy nhớ cho thật kĩ mình đang bị hại để phá vỡ cảm giác si mê, trì trệ, lười biếng, giải đãi không chịu hết lòng tu tập.

Khi nhìn kĩ cảm giác, chúng ta thấy chỉ toàn mê ăn, mê chơi, mê ngủ, mê nói, thậm chí lên ngồi thiền, nghe pháp mà bên trong vẫn suy nghĩ không ngừng, hoặc bị hôn trầm chiếm đóng. Khi đó phải chấn chỉnh lại, ngồi thẳng lưng, thẳng cổ, vai đều đàng hoàng, mở mắt ra tầm nhìn sáng tỏ, chánh niệm trước mặt. Nhất định không được để con mắt này lờ đờ, mờ mờ rồi đi vào giấc ngủ. Phải khai mở trí huệ sáng suốt, mạnh mẽ tác ý: “Già, bệnh, chết tới nơi rồi mà không lo. Nhắm mắt hoài rồi đi tới đâu? Cứ ngủ giấc ngủ ngàn thu không lo nghe chân diệu pháp. Thức dậy đi! Tỉnh giác!”. Hai mắt mở lớn, cảm thọ thật mạnh ở con mắt, tác ý la mắng cơn hôn trầm, đánh đuổi cảm thọ si mê ra khỏi mắt, để đôi mắt được tinh anh, tỉnh táo, tinh tấn tu học.

Bên cạnh đó, phải xem cảm giác bất khổ bất lạc trong sự êm đềm hằng ngày ở chùa như thế nào, mình có yêu thích cảm giác này không, có bị dính mắc trong này không? Nếu ưa thích sự êm ái, đều đều này qua ngày đoạn tháng, lười biếng, giải đãi là sự thất bại của đời tu, lập tức tác ý thoát ra. Trong sự tu học, phải tác ý mạnh mẽ làm cho sanh khởi sự nhiệt tâm, tinh cần, nỗ lực. Liên tục tư sát, quán sát ngũ uẩn, xem cảm giác như thế nào, có suy nghĩ và hình bóng gì trong tâm, thức có tinh minh không, thân có trì trệ không?

Trạng thái của si trong thọ uẩn phải được coi trọng. Nếu không phá được, không diệt được cái si thì không thể đi vào trong Chánh tri kiến (thấy đúng) và chúng ta sẽ suy nghĩ, nói năng, hành động trong vô minh, không biết cái gì nên nói - cái gì không nên nói, không biết cái gì nên làm - cái gì không nên làm, không biết cái gì nên nghĩ - cái gì không nên nghĩ. Tất cả sự vận hành của tâm thức, thân xác, suy nghĩ, cảm giác, nghĩ tưởng, nhận thức đi trong guồng máy của vô minh mà không thấy, không biết, vẫn đi nói cười bình thường. Như vậy thì ai có thể cứu được mình.

Đức Phật đã nói trong kinh Pháp Cú:

Cười gì, hân hoan gì,

Khi đời mãi bị thiêu?

Bị tối tăm bao trùm,

Sao không tìm ngọn đèn?

(Kinh Pháp Cú 11 – Phẩm Già)

Chúng ta đã có được ngọn đèn Chánh Pháp thì tại sao không sử dụng? Nếu giờ ngồi thiền mà còn không tỉnh táo, tinh anh, sáng tỏ; nếu giờ nghe pháp mà không có cảm xúc, tỏ tường thì giờ bình thường làm sao có thể tỉnh giác trong những sinh hoạt thường nhật? Chúng ta quen sống với những thói quen, những tập khí, tánh tình của phàm phu thấp kém, hạ liệt; hoạt động trong sự buông lung phóng dật để bản thân được thoải mái, phóng túng, không kiểm soát, không phòng hộ thu nhiếp, không chế ngự các căn; ăn, ngủ, nói, nín đều trong si mê, vô minh mà không biết. Đời tu như thế dù 5 năm, 10 năm, 15 lăm, 20 năm cũng không có sự thay đổi, thậm chí nếu không thật tâm tu thì còn tệ hơn nữa. Những tập khí đó sẽ thành thâm căn cố đế trong chùa, sẽ bám vào công việc, địa vị và nhàm chán đối với sự tu học, rồi thấy những điều này là bình thường, không còn tha thiết, chân thành trong pháp học và pháp hành. Một đời tu như vậy là đáng thương, đáng tủi hổ, đáng nhục nhã!

Vì vậy, Đức Phật ví dụ giống như khăn cháy trên đầu thì phải dùng hết sức lực, tâm lực dập tắt được ngọn lửa.

"-- Này các Tỳ-kheo, khi khăn đầu hay đầu bị lửa cháy, thời phải làm gì?

-- Bạch Thế Tôn, khi khăn đầu hay đầu bị bị lửa cháy, để dập tắt khăn đầu hay đầu bị lửa cháy cần phải có ước muốn tăng thượng (chanda), tinh tấn (vàyàmo), cố gắng (ussàho), nỗ lực (ussohii), không có thối thất (appativami), chánh niệm và tỉnh giác".

(Tương Ưng Bộ Kinh V, Chương XII - Tương Ưng Sự Thật (a), IV. Phẩm Rừng Simsapà, IV. Khăn Ðầu)

Nhờ tác ý tinh cần, tinh tấn, trí tuệ như vậy mới phá được cái si mê, tâm lờ đờ, không nhiệt huyết tu hành, không chánh niệm tỉnh giác. Nếu tu học không chân chánh, không để tâm học hỏi để nhiếp phục tự thân chính mình, mà chỉ sống qua ngày đoạn tháng, ẩn dương nương Phật, dù cho có biết Chánh Pháp thì cả đời tu chỉ sống trong tập khí của vô minh, phóng dật, si ám, bản ngã, hơn thua. Cho nên, chúng ta phải để tâm học hỏi thật nhiều, mỗi ngày tự nhắc nhở, dạy dỗ, huấn luyện chính mình tinh tấn tu học. Phải làm cho mình nhức nhối, thao thức, ưu tư khi những ác, bất thiện pháp vẫn còn hiện hữu trong người.

Chúng ta không thể sống trơ ra như gỗ đá, không thể sống theo cách chai sạn, nhàn nhã. Chúng ta đang đi dần đến sự chết, trong khi cha mẹ ở quê nhà đang da diết nhớ mong, người thân đặt vào ta biết bao hy vọng. Chúng ta phải lấy đó làm động lực tiến lên trong học pháp, thà sống một ngày cho rực rỡ còn hơn sống cả đời trong bóng đêm của si mê. Mỗi ngày mình sống là mỗi ngày rực sáng, bừng sáng trong Chánh Pháp, dù cho bất thình lình có chết đi cũng không hối hận. . Thường xuyên tác ý mạnh mẽ như vậy để đánh tan cơn si mê này!

Tổng kết:

Trong pháp hành này, đầu tiên chúng ta nhận diện sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Bước thứ hai là nhận diện ba cảm thọ: khổ thọ, lạc thọ, bất khổ bất lạc thọ – dễ chịu, khó chịu, không dễ chịu không khó chịu để phát hiện ra tham, sân, si trong đó và tìm cách nhiếp phục: dùng bất tịnh để trị tham dục; dùng tâm từ hóa giải sân hận; đối với những hình bóng bình thường, suy nghĩ, cảm thọ đều đều thì phải quán vô thường để phá vỡ trạng thái đơ đơ, làm cho tinh cần, tinh tấn, dõng mãnh, thắp lên ngọn lửa nhiệt huyết tu tập.

Đức Phật chỉ ra đường lối tu tập rất rõ ràng, minh bạch, chân chánh, xác quyết trực tiếp vào đời sống, thân thể và tâm thức này. Làm được tất cả những điều này, chúng ta sẽ có được một bầu trời thanh lương, an lành, mát mẻ và tự thấy rằng: “Phật pháp là thiết thực, hiện tại, đến để mà thấy, có hiệu quả tức thời, có khả năng đưa mình lên cao hướng thượng, người trí tự mình giác hiểu”. Tự mình sẽ thấy, tự mình sẽ biết, tự mình sẽ hiểu, tự mình sẽ nếm được hương vị ngọt ngào trong Chánh Pháp.

Như vậy, tất cả sự tu hành của chúng ta là nhiếp phục và đoạn tận tham, sân, si đối với ngũ uẩn. Đó là tổng cương lĩnh, là cốt lõi của Thánh giáo, là con mắt của mười hai phần giáo, là trái tim của ba tạng Thánh điển. Nếu không nắm vững được cương lĩnh này thì đời tu không bao giờ thành tựu.

LỢI ÍCH NHẬN DIỆN NGŨ UẨN

Câu hỏi nhận diện ngũ uẩn để làm gì là rất quan trọng. Ngũ uẩn bao gồm thân và tâm, như vậy nhận diện ngũ uẩn là để rõ biết thân tâm mình một cách chính xác, chân thật. Bình thường, chúng ta thường quen hướng ngoại, mắt hướng tìm các sắc, lỗ tai hướng đến âm thanh, mũi hướng theo mùi, lưỡi hướng theo vị, thân hướng tìm những sự xúc chạm và tâm lẩn quẩn theo các pháp trần – những hình bóng, cảm giác, suy nghĩ miên man. Còn khi nhận diện ngũ uẩn là chúng ta quay lại nhìn thân tâm chính mình, thấy rõ sắc, thọ, tưởng, hành, thức đang vận hành thế nào; khi đó ta hướng nội chứ không còn hướng ngoại.

Vì vậy, nếu không đọc được những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ, nhận thức đang có mặt thì ta sẽ không thể nhận diện tâm mình một cách chính xác, rõ ràng; cũng không thấy được tâm này cấu nhiễm, dơ bẩn như thế nào; càng không thấy được hang ổ, sào huyệt của tham, sân, si, bản ngã. Hoặc có thấy thì ta chỉ thấy một chút tham, sân, si, bản ngã ở ngoài da, sau khi nó đã hoành hành bá đạo, đã làm khổ cho mình và người, đã đem đến hậu quả khốc liệt cho mình và người… như vậy thì đã quá muộn màng.

Cho nên, nếu chưa thấy được ngũ uẩn mà nói là “mình đang tu tâm” thì điều đó chưa chính xác, bởi lẽ, nếu không biết gì về tâm này thì làm sao gọi là “tu tâm”? Có nhiều Phật tử trình pháp, nói rằng các vị tụng Bát Nhã Tâm Kinh bốn mươi năm mà không biết ngũ uẩn là gì, không biết thọ, tưởng, hành, thức là gì; mãi đến khi nghe pháp này mới biết ngũ uẩn là gì nên họ xúc động, tràn dâng nước mắt. Tiếp tục được học sâu vào những lời dạy của Đức Phật trong kinh Nikāya thì các vị ấy vỡ òa, vì bấy giờ họ mới thật sự thấy được nội tâm của mình, thấy được những suy nghĩ, cảm giác, hình bóng, nhận thức, từ đó phát hiện ra những rác bẩn, uế nhiễm trong tâm.

Nhờ vậy, mình sẽ thấy được hang ổ, sào huyệt của tham, sân, si nằm trong thọ uẩn, nằm trong những cảm giác, nghĩ, tưởng thiêu đốt, thúc giục, thèm khát, khát ái. Từ đó chúng ta dụng công, nhiếp phục, diệt tận chúng bằng những phương pháp thiện xảo, khéo léo được Đức Phật dạy trong Ba mươi bảy phẩm trợ đạo, đặc biệt là Như lý tác ý, thiền định, thiền tuệ, thiền chỉ, thiền quán. Cho nên nhận diện ngũ uẩn để thấy được thân tâm cấu nhiễm, rác bẩn, ô uế, từ đó mới ra công dụng hạnh để làm vệ sinh, tẩy sạch những cấu nhiễm đó làm cho thân tâm được trong sạch, thành tựu cứu cánh Phạm hạnh.

Chính vì vậy, ngũ uẩn là chìa khóa mở ra Thánh pháp tạng trong toàn bộ hệ thống giáo lý của Đức Phật, nếu không nhận diện được ngũ uẩn, chúng ta sẽ không nhìn thấy chính xác thân tâm mình, từ đó không nhận ra các phiền não, lậu hoặc, do đó, đây là bước cực kỳ quan trọng. Một điểm nữa cần lưu ý, chúng ta phải nhận diện chính xác từng uẩn, không được nhẫm lẫn; nếu lẫn lộn giữa các uẩn thì tương lai sẽ không thể đi vào pháp hành, không thể thực tập, thông hiểu, giải thích chính xác kinh điển.

Bấy lâu nay, vì không nhìn thấy ngũ uẩn nên thân tâm của chúng ta như một căn nhà bị bỏ hoang trong một thời gian dài, nay ta bắt đầu mở cánh cửa để nhận rõ được thân tâm của chính mình, nhìn thấy những cảm giác, những hình bóng, những suy nghĩ mà ta đã lãng quên từ rất lâu. Chúng ta sẽ cực kỳ bất ngờ với những cảm thọ, những hình bóng, những suy nghĩ bên trong gây ra bao nhiêu đau khổ cho chính ta và những người xung quanh.

Bản thân Minh Thành nghe tạng kinh hơn mười năm nhưng vẫn không biết được con đường để đi vào pháp hành; sự học hiểu có được chỉ dừng lại trên mặt ngôn ngữ, chữ nghĩa, kiến thức. Mãi cho đến khi được nghe lời chỉ dạy của những bậc Thiện Tri Thức đã có sự tu học thành tựu thì Minh Thành mới bắt đầu nắm được lõi cây, thấy được hồng tâm của đạo lộ tu tập, nhờ đó biết được chìa khóa đi vào Tạng kinh Nikāya chính là Nhận Diện Ngũ Uẩn.

Nếu không có bậc Chánh Đẳng Giác xuất hiện, nếu giáo pháp của Ngài không được truyền thừa, nếu không có bậc Thiện tri thức chia sẻ, hướng dẫn thì chúng ta vĩnh viễn, mãi mãi không bao giờ thấy biết được ngũ uẩn. Thấy biết rõ ngũ uẩn là cái thấy biết của bậc Thánh, cũng được gọi là Chánh Kiến, cũng được gọi là đắc pháp nhãn tịnh, là sự thấy biết chân chánh, chính xác, trực diện thân tâm của chính mình. Nhờ vậy ta được thắp sáng con mắt trí tuệ đã bị mù lòa trong vô lượng vô biên kiếp sống vừa qua.

Nhận diện ngũ uẩn còn giúp ta ngăn chặn ác pháp khi chúng vừa manh nha, luôn tỉnh táo trong đời sống để nuôi dưỡng thiện nghiệp, tu tập để chứng ngộ lý vô thường, thấu rõ sự khổ, sanh khởi trí tuệ. Khi nhận diện ngũ uẩn thường xuyên và liên tục, từ từ chúng ta sẽ thành tựu một loại trí tuệ thâm sâu, tách mình ra khỏi ngũ uẩn, không còn bị ngũ uẩn xâm chiếm, áp đảo, mà từ từ sẽ làm chủ lại ngũ uẩn. Bằng không, tất cả hữu tình chúng sanh không biết ngũ uẩn, dù cho ở trong hình tướng gì đi nữa thì vẫn là nạn nhân của ngũ uẩn – bị thân xác này, bị những hình bóng, suy nghĩ, nhận thức trong tâm nhấn chìm, làm chủ, sai khiến, trở thành nô lệ cho dục, tham, ái, lúc nào mình cũng nghĩ bản thân tốt đẹp, giỏi giang. Còn người thấy được ngũ uẩn, khi đi sâu vào kinh tạng Nikāya sẽ luôn trú trong cảm giác tàm quý, xấu hổ, thấp kém, hạ liệt. Vì khi thật sự thấy pháp thì chúng ta sẽ thật thấy tâm này là ô nhiễm, cấu bẩn, đầy rẫy dục, tham, ái, si mê, vô minh và bản ngã.

Các bậc Thánh là thấy thân này là một tấm nùi giẻ rách để chùi chân, thân này là một ung nhọt, năm thủ uẩn này là năm đống khổ lớn. Khi nhìn đó chỉ thấy tủi hổ, xấu hổ, ê chề, nhàm chán, không ưa thích, không nắm giữ, không say mê, không ham thích, không cho đó là tự ngã và điều quan trọng là các Ngài nhìn thấy ngũ uẩn là nguyên nhân của khổ. Những cảm xúc buồn giận, thương ghét trong cuộc sống cũng chỉ là duyên sanh, vô thường, dù nghe tiếng khen hay lời chỉ trích thì cũng như nhau.

Nhưng do không thấy không biết ngũ uẩn mà tất cả đời sống này, tất cả thế gian này chỉ lòng vòng trong những cảm giác, hình bóng, nghĩ tưởng; lòng vòng trong tham, sân, si, ham muốn, thúc giục, tức tối, bản ngã. Chính những thứ này là nguồn cơn của tất cả đau khổ, tràn đầy nước mắt và máu trong tham lam, thù hận, chết chóc, hủy diệt trên khắp địa cầu này. Chúng ta sẽ không thể thấy biết được các pháp đang vận hành, đốt cháy, xâm chiếm, áp đảo, hủy hoại chính tự thân mình và những người thân thương quanh ta như thế nào nếu không thấy ngũ uẩn. Tất cả những bí mật trên thế gian này, tất cả những nỗi khổ niềm đau, những tham, sân, si trên cuộc đời này sẽ được Thánh trí ngũ uẩn giải mã. Cho nên Thế Tôn đã nói:

"Chư Tỳ-kheo, xưa cũng như nay, Ta chỉ nói lên sự khổ và sự diệt khổ". (Trung Bộ Kinh I, 22. Kinh Ví dụ con rắn)

Nếu không thấy biết về ngũ uẩn, không thấy biết về duyên sanh pháp thì làm sao biết được thật sự cái gì là khổ, nguyên nhân tại sao khổ? Nếu không thể thấy được tận tường về khổ thì làm sao mình nhiếp phục, chế ngự, ngăn chặn và diệt tận khổ? Vì vậy, lợi ích của nhận diện ngũ uẩn trong sự tu tập này không thể nghĩ bàn. Nếu không biết được đạo lộ tuần tự tu học chính xác thì chúng ta sẽ lạc đường trong rừng rậm của kinh sách mà không có lối ra.

Cho nên, nhận diện ngũ uẩn là điều đặc biệt quan trọng trong tinh thần Kinh tạng Nikāya, đây là bước tiền phương tiện, là trí tuệ căn bản, là điều kiện tiên quyết, là nền tảng nhất định phải có để mở được cánh cửa nội tâm, chạm đến kho tàng trí tuệ của Đức Phật. Sự thấy biết rõ về ngũ uẩn sẽ giúp tâm đâm thủng được vô minh, thoát khỏi trạng thái hôn mê, không tiếp tục tạo tác các ác nghiệp dẫn ta đi trong luân hồi, sanh tử, phiền não và khổ đau.

LỜI KẾT

Quý Tăng Ni và quý Phật tử thân mến! Quyển sách “Pháp Hành Nikāya Chuyên Sâu” là tập hợp những lời dạy nguyên chất nhất của Đức Phật, là tóm thâu những trí tuệ tinh hoa nhất của tạng kinh Nikāya. Hành trì theo đó sẽ giúp quý vị nhìn thấy được thân tâm chính mình, từ đó vững bước chân tiến thẳng vào đạo lộ của Thánh trí. Là người con Phật, chúng ta vô cùng phước báu khi được kế thừa kho tàng trí tuệ siêu việt của Đức Thế Tôn, thế nên việc còn lại là nỗ lực thực hành, xả thân vì Chánh Pháp.

Đức Phật đã tuyên bố:“Pháp do Thế Tôn khéo thuyết, thiết thực hiện tại, có hiệu quả tức thời, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu”. Quý vị hãy đến với giáo pháp tối thượng này để thấy được ngũ uẩn – thấy được thân tâm chính mình; từ đó nhìn ra những tham, sân, si, dục, ái, lậu hoặc, bản ngã, chấp thủ bên trong. Khi thấy đầy đủ tất cả những thứ này thì pháp nhãn đã sanh, mắt đạo đã mở, trí tuệ đã khai, minh sanh, quang sanh, tuệ sanh, trí sanh. Bước cuối cùng là quyết tâm nhiếp phục, đoạn trừ, ly tham, từ bỏ tất cả những uế nhiễm đó. Do công phu hành trì, tẩy sạch, thanh lọc rác bẩn khác nhau mà có ra các thứ bậc Hiền Thánh sai biệt nhưng bước khởi đầu đều từ sự nhận diện ngũ uẩn, đây chìa khóa mở ra cánh cửa thân tâm, là điều tuyệt đối quan trọng, quyết định cả sự nghiệp tu hành!

Sau khi đã thấy rõ con đường, chúng ta hãy cố gắng chân thành tu tập để mỗi khoảnh khắc, mỗi giờ phút được sống thật sự có ý nghĩa. Hãy sử dụng cuộc đời này một cách thông minh, trí tuệ trong sự tinh cần, tinh cấn, nỗ lực học pháp và hành trì. Đừng quên lý tưởng cao đẹp của đời tu, đừng quên mục đích thật sự của kiếp sống này. Chúng ta đã sống trong mê lầm, tăm tối, vô minh từ vô lượng kiếp vừa qua; phước báu thay khi đời này được làm người và được nghe diệu pháp. Vì vậy, đừng lãng phí thêm phút giây nào nữa, hãy dấn thân vào sự nghiệp tu hành để bước đến bến bờ an vui, hạnh phúc, đại bình an.

Hãy đứng dậy, lên đường,

Hãy dấn thân Phật giáo,

Hãy đánh bại Ma quân,

Như voi phá chòi lá.

Ai trong pháp luật này,

An trú không phóng dật,

Đoạn tận vòng sống chết,

Sẽ chấm dứt khổ đau.

(Tương Ưng Bộ Kinh I, chương VI. Tương Ưng Phạm Thiên, II. Phẩm thứ hai, Arunàvati)

Mong rằng quý Tăng Ni và quý Phật tử nỗ lực chiêm nghiệm, hành trì bằng tất cả trái tim để đi đúng đạo lộ tu tập chân chánh. “Sống đúng trách nhiệm – Sống đẹp với đời – Nhận diện ngũ uẩn – Thể nhập Thánh Trí – Diệt tham, sân, si – Thoát ly sanh tử”. Kính chúc Chư tôn đức Tăng Ni và các bậc Hiền trí nam nữ Phật tử tăng thượng giới đức, tăng thượng thiền định, tăng thượng Thánh trí tuệ để sớm thành tựu Chánh Tri Kiến, dự vào Bốn đôi tám chúng Hiền Thánh của Đức Phật.

./.