Thiền Quán - Thiền Hành - Lễ Pháp Bảo & Thanh Quy
Nikāya Thiền Quán
Thiền Hành - Lễ Pháp Bảo & Thanh Quy
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Thiền quán vô thường PAGEREF _Toc179395821 \h 1
II. Đảnh lễ Pháp Bảo PAGEREF _Toc179395822 \h 4
III. Thanh quy đạo tràng PAGEREF _Toc179395823 \h 14
I. Thiền quán vô thường
Nhìn chuyên chú, chăm chú như lý quán sát những đống bọt sắc uẩn này. Những đống bọt sắc uẩn ấy sẽ hiện rõ ra tính chất rỗng không, sẽ hiện rõ ra tính chất trống không, sẽ hiện rõ ra tính chất không có gì cứng chắc ở bên trong.
"-- Ví như, này các Tỳ-kheo, sông Hằng này chảy mang theo đống bọt nước lớn. Có người có mắt nhìn đống bọt nước ấy, chuyên chú, như lý quán sát. Do nhìn chuyên chú, như lý quán sát nó, đống bọt nước ấy hiện rõ ra là trống không, hiện rõ ra là rỗng không, hiện rõ ra là không có lõi cứng. Làm sao, này các Tỳ-kheo, lại có lõi cứng trong đống bọt nước được?" (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (f), V. Phẩm Hoa, III. Bọt Nước)
Hãy nhìn kĩ vô vàng là những đống bọt, vô số là những đống bọt. Những đống bọt trôi nổi, trôi dạt, chìm nổi, vỡ nát rồi tiếp tục nổi lên, nổi lên rồi tham, sân, si, bản ngã rồi nát, rồi lại nổi lên tìm kiếm, khao khát rồi nát, rồi lại nổi lên tranh giành, tranh đấu, tranh chiến rồi nát, rồi nổi lên hơn thua, bản ngã, thắng bại, đúng sai rồi nát, vậy mà cứ nổi lên rồi nát… nổi lên rồi nát… nổi lên rồi nát tan.
Chìm nổi trong ba cõi sáu đường với những dòng nước mắt tan thương, thật là nhọc nhằn cho những đống bọt này, thật là mệt mỏi cho những đống bọt này, thật là đáng thương cho những đống bọt này, thật đáng thương hại cho những đống bọt, thật đáng xót xa cho vô lượng vô số, vô biên những đống bọt sắc uẩn, sắc pháp này. Vô thường nhưng lại lầm tham sân, trống rỗng, trống không, trống trơn nhưng trong đó là rất nhiều kế hoạch, những dự định, dự tính, dự án của tham lam, của chiếm hữu, chiếm đoạt, của sự xâm chiếm.
Nếu chưa đạt được thì đau khổ, lo âu, đã đạt được thì sợ mất, khi mất đi lại càng đau khổ hơn, ba thời đều khổ đối với dục vọng, đó là đặc tính của những đống bọt, đó là bản chất của những đống bọt, đó là đời sống của những đống bọt, đó là hệ điều hành của những đống bọt sắc uẩn này, là mô típ, là cấu trúc, là dạng thức, là guồng máy hoạt động của những đống bọt trống rỗng, trống không đầy tham, sân, si và bản ngã này.
Thật là đáng thương, đáng thương cho những đống bọt ngu muội, si ám, dại khờ, điên loạn và nhọc nhằn. Thật là đau thương cho những đống bọt này. Hãy nhìn chăm chú và quán sát thật kĩ những đống bọt nước dưới sông Hằng sẽ thấy được tính rỗng không, trống không và hãy nhìn những thân xác này, những đồ đạc này, tài sản này, ruộng vườn, đất đai, xe cộ, tiền bạc, nhà cửa, chùa chiền này là những đống bọt, là những chùm bọt nổi lềnh bềnh, nổi chìm, tan nát, tan vỡ, tan biến và tan hoại. Bất cứ khi nào và bất cứ ở đâu đống bọt này có thể bất thình lình tan ra, nát ra và biến mất trên cuộc đời này.
Đáng thương cho những đống bọt đầy sầu đau, buồn tủi và phiền não, chúng ta ngày đêm chuyên chú, chăm chú, chú trọng, chú tâm hằng giờ. Hãy nhìn cho kĩ tính chất trống rỗng, vô thường, bất an, bệnh khổ và bại hoại của đống bọt này để hướng đến sự nhàm chán, không tham, từ bỏ, thoát ra, đó là hạnh phúc tối thượng, cứu cánh cùng cực của đời sống tu hành. Hãy buông bỏ hết đi.
Chúng ta tập trung tác ý vào định tướng thiền quán mà mình mới vừa được nghe, tác ý quán chiếu sắc uẩn này là đống bọt, tác ý theo những gì mình được nghe.
"Một thời Thế Tôn ở Ayujjàya, trên bờ sông Hằng.
Ở đấy Thế Tôn gọi các Tỳ-kheo...
-- Ví như, này các Tỳ-kheo, sông Hằng này chảy mang theo đống bọt nước lớn. Có người có mắt nhìn đống bọt nước ấy, chuyên chú, như lý quán sát. Do nhìn chuyên chú, như lý quán sát nó, đống bọt nước ấy hiện rõ ra là trống không, hiện rõ ra là rỗng không, hiện rõ ra là không có lõi cứng. Làm sao, này các Tỳ-kheo, lại có lõi cứng trong đống bọt nước được?
Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, phàm có sắc gì thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc nội hay ngoại, hoặc thô hay tế, hoặc liệt hay thắng, hoặc xa hay gần; vị Tỳ-kheo thấy sắc, chuyên chú, như lý quán sát sắc. Do vị Tỳ-kheo nhìn chuyên chú, như lý quán sát sắc, sắc ấy hiện rõ ra là trống không, hiện rõ ra là rỗng không, hiện rõ ra là không có lõi cứng. Làm sao, này các Tỳ-kheo, lại có lõi cứng trong sắc được?
Ví như, này các Tỳ-kheo, trong mùa thu, khi trời mưa những giọt mưa lớn, trên mặt nước, các bong bóng nước hiện ra rồi tan biến. Một người có mắt nhìn chuyên chú, như lý quán sát nó, bong bóng nước ấy hiện rõ ra là trống không, hiện rõ ra là rỗng không, hiện rõ ra là không có lõi cứng. Làm sao, này các Tỳ-kheo, lại có lõi cứng trong bong bóng nước được?
Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, phàm có thọ gì thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc nội hay ngoại, hoặc thô hay tế, hoặc liệt hay thắng, hoặc xa hay gần; Tỳ-kheo nhìn chuyên chú, như lý quán sát thọ ấy. Do Tỳ-kheo nhìn chuyên chú, như lý quán sát nó, thọ ấy hiện rõ ra là trống không, hiện rõ ra là rỗng không, hiện rõ ra là không có lõi cứng. Làm sao, này các Tỳ-kheo, lại có lõi cứng trong thọ được?" (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (f), V. Phẩm Hoa, III. Bọt Nước)
Hãy nhìn sâu, hãy nhìn chuyên chú, như lý quán sát các sắc uẩn, hãy nhìn chăm chú vào đống bọt nước đang ngồi đây, hãy chuyên chú nhìn vào nó suốt ngày đêm, suốt năm tháng, mọi phút giây tính chất vô thường sẽ hiện rõ ra, tính chất biến đổi và tan hoại của nó sẽ lộ rõ ra, tính chất ốm đau và bệnh tật của nó sẽ bày lộ ra, tính chất lo lắng, bất an sẽ hiện rõ ra, tính chất bệnh khổ và lo âu của nó sẽ bày lộ ra, phô bày ra. Hãy nhìn chuyên chú, nhìn chăm chú vào đống bọt này, tính chất tan vỡ của nó sẽ lộ rõ ra, tính chất nguy hiểm của nó sẽ hiện bày ra, tính chất đau khổ, sợ hãi, biến hoại của nó sẽ minh bạch.
Như lý quán sát, chánh tư duy, chăm chú nhìn vào đống bọt này, đống bọt mấy chục kí lô giả danh là ta, là tôi này, ngày đêm giờ phút hãy chăm chú nhìn vào thì tính vô thường sẽ hiện rõ ra, tính khổ não sẽ hiện rõ ra, tính trống rỗng, vô ngã sẽ bày lộ ra, dù là sắc quá khứ, hiện tại hay tương lai, dù là bên trong hay bên ngoài thì tính chất đồ gốm sẽ bể nát, sẽ tan nát, sẽ nát vỡ bất cứ lúc nào, bất cứ ở đâu.
Nhìn chuyên chú, như lý quán sát sắc này thì sắc ấy sẽ hiện rõ ra tính chất rỗng không, sắc ấy sẽ hiện rõ ra tính chất trống không, sắc ấy sẽ hiện rõ ra bản chất rỗng không, sẽ hiện rõ ra không có lõi cứng bên trong, hiện rõ ra tính chất tan nát, hủy hoại, biến hoại, hư hoại, hoại diệt, tính chất đau khổ của sắc này sẽ hiện rõ ra nếu chúng ta chăm chú và liên tục nhìn vào nó.
Tính chất nhơ nhớp và bất tịnh sẽ bày lộ ra, tính chất phiền phức, phiền bực sẽ lộ rõ ra, tính chất phiền não, phiền đau sẽ lộ rõ ra. Chúng ta nhìn chăm chú, liên tục vào hình thể này, thân xác này thì tính chất bệnh tật, bức xúc sẽ lộ rõ ra. Chú tâm nhìn kĩ vào thân xác này tính chất mệt mỏi sẽ hiện rõ ra, tính chất mệt nhọc sẽ hiện rõ ra, tính chất nhọc nhằn sẽ bày lộ rõ ra, bản chất đau khổ hiện bày một cách đầy đủ, trọn vẹn trong cái đống sắc uẩn vô thường, bất an, đầy lo lắng và sợ hãi này.
Làm sao có sự vững chắc trong thân xác vô thường này được? Làm sao lại có sự chắc chắn trong đời sống biến đổi này được? Làm sao có sự vững chắc trong tứ đại bại hoại, tan rã, hư ảo này được?
"Thành này làm bằng xương,
Quét tô bằng thịt máu,
Ở đây già và chết,
Mạn, lừa đảo chất chứa"
(Kinh Pháp Cú 11 – Phẩm Già, kệ 150)
Thân này làm bằng xương và da, quét tô bằng thịt và máu, ở đây là già nua, bệnh tật và chết chóc. Trên tấm thân này là sự bất an, tan vỡ và trống rỗng, bên trong là ngã mạn, lọc lừa và dối trá chất đầy trong đó. Ngày đêm chăm chú, chuyên chú nhìn thật kĩ, nhìn thật là sâu, nhìn cho thấu đáo, nhìn cho minh bạch, rõ ràng.
II. Đảnh lễ Pháp Bảo
"- Có bốn hạng người này, này các Tỳ-kheo, có mặt, hiện hữu ở đời. Thế nào là bốn?
Thân viễn ly, tâm không viễn ly; thân không viễn ly, tâm viễn ly; thân không viễn ly, tâm không viễn ly; thân viễn ly và tâm viễn ly.
Này các Tỳ-kheo, thế nào là thân viễn ly, tâm không viễn ly?
- Ở đây, này các Tỳ-kheo, các hạng người sống tại các núi non, khóm rừng, các trú xứ xa vắng; vị ấy nghĩ đến dục tầm, nghĩ đến sân tầm, nghĩ đến hại tầm. Như vậy, này các Tỳ-kheo, là hạng người thân viễn ly, nhưng tâm không viễn ly.
Này các Tỳ-kheo, thế nào là thân không viễn ly, nhưng tâm viễn ly?
- Ở đây, này các Tỳ-kheo, các hạng người không sống tại các núi non, khóm rừng, các trú xứ xa vắng; vị ấy tại đó nghĩ đến tầm xuất ly, nghĩ đến tầm vô sân, nghĩ đến tầm bất hại. Như vậy, này các Tỳ-kheo, là hạng người thân không viễn ly, nhưng tâm viễn ly.
Này các Tỳ-kheo, thế nào là thân không viễn ly, tâm không viễn ly?
- Ở đây, này các Tỳ-kheo, các hạng người không sống tại các núi non, khóm rừng, các trú xứ xa vắng; Tại đấy, vị ấy nghĩ đến dục tầm, nghĩ đến sân tầm, nghĩ đến hại tầm. Như vậy, này các Tỳ-kheo, là hạng người thân không viễn ly, tâm không viễn ly.
Này các Tỳ-kheo, thế nào là thân viễn ly và tâm viễn ly?
- Ở đây, này các Tỳ-kheo, các hạng người sống tại các núi non, khóm rừng, các trú xứ xa vắng; vị ấy tại đó nghĩ đến tầm xuất ly, nghĩ đến tầm không sân, nghĩ đến tầm không hại. Như vậy, này các Tỳ-kheo, là hạng người thân viễn ly và tâm viễn ly.
Có bốn hạng người này, này các Tỳ-kheo, có mặt, hiện hữu ở đời". (Tăng Chi Bộ, Chương IV – Bốn Pháp, XIV. Phẩm Loài Người, (VIII). Viễn Ly)
"Sáu pháp này, này các Tỳ-kheo, đưa Tỳ-kheo hữu học đến thối đọa. Thế nào là sáu?
Ưa công việc, ưa nói chuyện, ưa ngủ, ưa hội chúng, các căn không phòng hộ, ăn uống không tiết độ. Sáu pháp này, này các Tỳ-kheo, đưa Tỳ-kheo hữu học đến thối đọa.
Sáu pháp này, này các Tỳ-kheo, không đưa Tỳ-kheo hữu học đến thối đọa. Thế nào là sáu?
Không ưa công việc, không ưa nói chuyện, không ưa ngủ nghỉ, không ưa hội chúng, các căn có phòng hộ, ăn uống có tiết độ.
Sáu pháp này, này các Tỳ-kheo, không đưa Tỳ-kheo hữu học đến thối đọa". (Tăng Chi Bộ, Chương VI – Sáu Pháp, IV. Phẩm Chư Thiên, (I) Hữu Học)
"Nhân duyên ở Sàvatthi...
Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ràdha bạch Thế Tôn:
-- 'Ðoạn diệt sợi dây tái sanh. Ðoạn diệt sợi dây tái sanh', bạch Thế Tôn, được nói đến như vậy. Thế nào là sợi dây tái sanh, bạch Thế Tôn? Thế nào là sự đoạn diệt sợi dây tái sanh?
-- Này Ràdha, phàm dục gì, tham gì, hỷ gì, khát ái gì, phàm những chấp thủ phương tiện, tâm kiên trú, thiên chấp tùy miên gì đối với sắc, như vậy gọi là sợi dây tái sanh. Sự đoạn diệt chúng là sự đoạn diệt sợi dây tái sanh.
... đối với thọ... với tưởng... với các hành...
Phàm dục gì, tham gì, hỷ gì, khát ái gì, phàm những chấp thủ phương tiện, tâm kiên trú, thiên chấp tùy miên gì đối với thức, đó gọi là sợi dây tái sanh. Sự đoạn diệt chúng là sự đoạn diệt sợi dây tái sanh". (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương II. Tương Ưng Ràdha, I. Phẩm Thứ Nhất, III. Sợi Dây Tái Sanh)
"Lại nữa, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo đi, tuệ tri: 'Tôi đi', hay đứng, tuệ tri: 'Tôi đứng', hay ngồi, tuệ tri: 'Tôi ngồi', hay nằm, tuệ tri: 'Tôi nằm'. Thân thể được sử dụng như thế nào, vị ấy tuệ tri thân như thế ấy.
Vị ấy sống quán thân trên nội thân; hay vị ấy sống quán thân trên ngoại thân; hay vị ấy sống quán thân trên nội thân, ngoại thân; hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên thân; hay vị ấy sống quán tánh diệt tận trên thân; hay vị ấy sống quán tánh sanh diệt trên thân. 'Có thân đây', vị ấy an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỳ-kheo, như vậy là Tỳ-kheo sống quán thân trên thân". (Trung Bộ Kinh, 10. Kinh Niệm xứ)
"Do tôi biết, tôi thấy và tôi nghe thuyết giáo ấy, mà tôi xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Thế nào là bốn?
'Thế giới là vô thường, đi đến hủy diệt', thưa Ðại vương, đó là thuyết giáo Chánh pháp thứ nhất, do Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, thuyết giảng. Do tôi biết, tôi thấy và tôi nghe thuyết giáo ấy, mà tôi xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
'Thế giới là vô hộ, vô chủ', thưa Ðại vương, đó là thuyết giáo Chánh pháp thứ hai, do Thế Tôn, bậc Tri Giả. Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác thuyết giảng. Do tôi biết, tôi thấy và tôi nghe thuyết giáo ấy, mà tôi xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
'Thế giới là vô sở hữu, ra đi cần phải từ bỏ tất cả', thưa Ðại vương đó là thuyết giáo Chánh pháp thứ ba, do Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác thuyết giảng. Do tôi biết, tôi thấy, tôi nghe thuyết giáo ấy, mà tôi xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
'Thế giới là thiếu thốn, khao khát, nô lệ cho tham ái', thưa Ðại vương, đó là thuyết giáo Chánh pháp thứ tư, do Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác thuyết giảng. Do tôi biết, tôi thấy, tôi nghe thuyết giáo ấy, mà tôi xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình". (Trung Bộ Kinh, 82. Kinh Ratthapàla)
"Cười gì, hân hoan gì,
Khi đời mãi bị thiêu?
Bị tối tăm bao trùm,
Sao không tìm ngọn đèn?"
(Kinh Pháp Cú 11 – Phẩm Già, kệ 146)
"Hãy xem bong bóng đẹp,
Chỗ chất chứa vết thương,
Bệnh hoạn nhiều suy tư,
Thật không gì trường cửu".
(Kinh Pháp Cú 11 – Phẩm Già, kệ 147)
"Sắc này bị suy già,
Ổ tật bệnh, mỏng manh,
Nhóm bất tịnh, đỗ vỡ,
Chết chấm dứt mạng sống".
(Kinh Pháp Cú 11 – Phẩm Già, kệ 148)
"Như trái bầu mùa thu,
Bị vất bỏ quăng đi,
Nhóm xương trắng bồ câu,
Thấy chúng còn vui gì?"
(Kinh Pháp Cú 11 – Phẩm Già, kệ 149)
"Xe vua đẹp cũng già.
Thân này rồi sẽ già,
Pháp bậc thiện, không già.
Như vậy bậc chí thiện
Nói lên cho bậc thiện"
(Kinh Pháp Cú 11 – Phẩm Già, kệ 151)
"Lang thang bao kiếp sống
Ta tìm nhưng không gặp
Người xây dựng nhà này,
Khổ thay, phải tái sanh".
(Kinh Pháp Cú 11, Phẩm Già, kệ 153)
"Ôi! Người làm nhà kia
Nay ta đã thấy ngươi!
Ngươi không làm nhà nữa.
Ðòn tay ngươi bị gẫy,
Kèo cột ngươi bị tan
Tâm ta đạt tịch diệt,
Tham ái thảy tiêu vong".
(Kinh Pháp Cú 11- Phẩm Già, kệ 154)
"Lúc trẻ, không phạm hạnh,
Không tìm kiếm bạc tiền.
Như cò già bên ao,
Ủ rũ, không tôm cá"
(Kinh Pháp Cú 11- Phẩm Già, kệ 155)
"Lúc trẻ không phạm hạnh,
Không tìm kiếm bạc tiền;
Như cây cung bị gẫy,
Thở than những ngày qua"
(Kinh Pháp Cú 11- Phẩm Già, kệ 156)
"Rồi Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
- Này các Tỳ-kheo, đây là lời Ta nhắn nhủ các Ngươi. Các hành là vô thường. Hãy tinh tấn lên để tự giải thoát, không lâu Như Lai sẽ diệt độ. Sau ba tháng bắt đầu từ hôm nay, Như Lai sẽ diệt độ.
Ðó là lời Thế Tôn dạy. Sau khi nói vậy, Thiện Thệ lại nói thêm:
Ta đã già, dư mạng chẳng còn bao,
Từ biệt các Ngươi, Ta đi một mình.
Tự mình làm sở y cho chính mình,
Hãy tinh tấn, chánh niệm, giữ giới luật,
Nhiếp thúc ý chí, bảo hộ tự tâm.
Ai tinh tấn trong pháp và luật này
Sẽ diệt sanh tử, chấm dứt khổ đau.
Và Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
- Này các Tỳ-kheo, nay Ta khuyên dạy các ngươi: 'Các pháp hữu vi là vô thường, hãy tinh tấn, chớ có phóng dật'.
Ðó là lời cuối cùng Như Lai" (Trường Bộ Kinh, 16. Kinh Đại Bát Niết Bàn, Tụng Phẩm III).
" - Thành tựu tám pháp này, này các Tỳ-kheo, vị Tỷkheo đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được chắp tay, là ruộng phước vô thượng ở đời. Thế nào là tám ?
Ở đây, này các Tỳ-kheo, vị Tỳ-kheo :
Giữ giới … chấp nhận và học tập trong các học pháp.
Nghe nhiều, khéo thể nhập trong chánh tri kiến.
Làm bạn với thiện, thân hữu với thiện, giao du với thiện.
Có chánh tri kiến, thành tựu chánh kiến.
Chứng được bốn Thiền thuộc tăng thượng tâm, hiện tại lạc trú, chứng được không khó khăn, chứng được không mệt nhọc, chứng được không phí sức.
Nhớ được nhiều đời trước, như một đời, hai đời … nhớ được nhiều đời trước với các tướng trạng với các chi tiết.
Với thiên nhãn thanh tịnh siêu nhân … rõ biết các chúng sanh, tùy theo hạnh nghiệp của chúng.
Do đoạn diệt các lậu hoặc … chứng ngộ, chứng đạt và an trú.
Thành tựu tám pháp này, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo đáng được cung kính … là ruộng phước vô thượng ở đời. (Tăng Chi Bộ, Chương VIII - Tám Pháp, VI. Phẩm Gotamì, (VII). Xứng Ðáng Ðược Cúng Dường (1))
"Quá khứ không truy tìm
Tương lai không ước vọng.
Quá khứ đã đoạn tận,
Tương lai lại chưa đến,
Chỉ có pháp hiện tại
Tuệ quán chính ở đây
Không động, không rung chuyển
Biết vậy, nên tu tập,
Hôm nay nhiệt tâm làm,
Ai biết chết ngày mai?
Không ai điều đình được,
Với đại quân thần chết,
Trú như vậy nhiệt tâm,
Ðêm ngày không mệt mỏi,
Xứng gọi Nhứt dạ Hiền,
Bậc an tịnh, trầm lặng". (Trung Bộ Kinh, 131. Kinh Nhất dạ hiền giả)
" ... Trú ở Sàvatthi.
-- Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỳ-kheo, khởi điểm không thể nêu rõ đối với sự lưu chuyển luân hồi của các chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc.
Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỳ-kheo, cái gì là nhiều hơn, sữa mẹ mà các Ông đã uống trong khi các Ông lưu chuyển luân hồi trong một thời gian dài, hay là nước trong bốn biển?
-- Bạch Thế Tôn, theo như lời Thế Tôn thuyết pháp, chúng con hiểu rằng cái này là nhiều hơn, tức là sữa mẹ mà chúng con đã uống trong khi chúng con lưu chuyển luân hồi trong một thời gian dài chớ không phải nước trong bốn biển!
-- Lành thay, lành thay, này các Tỳ-kheo! Lành thay, này các Tỳ-kheo, các Ông đã hiểu như vậy Pháp do Ta dạy!
Cái này là nhiều hơn, này các Tỳ-kheo, tức là sữa mẹ mà các Ông đã uống trong khi các Ông lưu chuyển luân hồi trong một thời gian dài chớ không phải nước trong bốn biển.
Vì sao? Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỳ-kheo... là vừa đủ để các Ông giải thoát đối với tất cả các hành". (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương IV. Tương Ưng Vô Thỉ (Anamatagga), I. Phẩm Thứ Nhất, IV. Sữa)
"Có năm sự kiện này, này các Tỳ-kheo, cần phải thường xuyên quán sát bởi nữ nhân hay nam nhân, bởi tại gia hay xuất gia. Thế nào là năm?
Ta phải bị già, không thoát khỏi già
Ta phải bị bệnh, không thoát khỏi bệnh
Ta phải bị chết, không thoát khỏi chết
Tất cả pháp khả ái, khả ý đối với ta sẽ phải đổi khác, sẽ phải biến diệt
Ta là chủ nhân của nghiệp, là thừa tự của nghiệp, nghiệp là thai tạng, nghiệp là quyến thuộc, nghiệp là điểm tựa. Phàm nghiệp nào ta sẽ làm thiện hay ác, ta sẽ thừa tự nghiệp ấy" (Tăng Chi Bộ Kinh, Chương V. Năm Pháp, VI. Phẩm Triền Cái, (VII). Sự Kiện Cần Phải Quan Sát)
"Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, Ta đã thấy một con đường cũ, một đạo lộ cũ do các vị Chánh Đẳng Giác thuở xưa đã đi qua.
Và này các Tỳ-kheo, thế nào là con đường cũ, đạo lộ cũ ấy do các vị Chánh Đẳng Giác thuở xưa đã đi qua? Đây chính là con đường Thánh đạo tám ngành, tức là chánh tri kiến... chánh định. Con đường ấy, này các Tỳ-kheo, là con đường cũ, đạo lộ cũ do các bậc Chánh Đẳng Giác thuở xưa đã đi qua. Ta đã đi theo con đường ấy. Đi theo con đường ấy, Ta thấy rõ già chết; Ta thấy rõ già, chết tập khởi; Ta thấy rõ già chết đoạn diệt; Ta thấy rõ con đường đưa đến già chết đoạn diệt.
Ta đã đi theo con đường ấy. Đi theo con đường ấy; Ta thấy rõ sanh... Ta thấy rõ hữu... Ta thấy rõ thủ... Ta thấy rõ ái... Ta thấy rõ thọ... Ta thấy rõ xúc... Ta thấy rõ sáu xứ... Ta thấy rõ danh sắc... Ta thấy rõ thức... Ta đi theo con đường ấy. Đi theo con đường ấy, Ta thấy rõ các hành; Ta thấy rõ các hành tập khởi; Ta thấy rõ các hành đoạn diệt, Ta thấy rõ con đường đưa đến các hành đoạn diệt
Cái được Ta biết rõ, Ta đã tuyên bố cho các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ được biết. Này các Tỳ-kheo, tức là Phạm hạnh này, phồn vinh, thịnh vượng, quảng đại, chúng đa, người nhiều và được chư Thiên, loài Người khéo léo trình bày". (Tương Ưng Bộ , Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (c), VII. Ðại Phẩm Thứ Bảy, V. Thành Ấp)
"Này Magandiya, câu kệ này trong thời quá khứ đã được các bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác nói lên:
Không bệnh, lợi tối thắng,
Niết-bàn, lạc tối thắng.
Bát chánh là độc đạo,
An ổn và bất tử". (Trung Bộ Kinh, 75. Kinh Màgandiya)
Đảnh lễ Đức Thế Tôn bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác phục nguyện. Chư Phật thời quá khứ, chư Phật thời vị lai và Đức Phật thời hiện tại đoạn sầu muộn nhiều người. Tất cả những vị ấy đã, đang và sẽ sống cung kính và tôn trọng pháp chơn chánh vi diệu, pháp nhĩ là như vậy, đối với chư Phật đà, do vậy muốn lợi ích, ước vọng làm đại nhân, hãy cung kính tôn trọng pháp chơn chánh vi diệu, hãy ghi nhớ giáo pháp, chư Phật Chánh Đẳng Giác.
Ai quy y Đức Phật, chánh pháp và chư Tăng. Ai dùng chánh tri kiến thấy được Bốn Thánh Đế, thấy khổ và khổ tập, thấy sự khổ vượt qua, thấy đường Thánh Tám Ngành đưa đến khổ não tận, thật quy y an ổn, thật quy y tối thượng. Có quy y như vậy mới thoát mọi khổ đau.
III. Thanh quy đạo tràng
Tinh thần chung của đạo tràng
"Đạo tràng Nikāya
Tâm hiền hòa, lắng dịu
Tụ hợp trong hòa ái,
Tạm biệt trong an vui,
Chân chánh thân, khẩu, ý.
Tám Chánh là đường đi,
Nhìn đời bằng Thánh trí
Giới, Định, Tuệ thực thi".
Ứng xử trong đạo tràng
Đạo tràng ứng xử theo tinh thần "Năm Khiêm, Hai Khéo"
"Lời nói khiêm nhường,
Tâm hồn khiêm hạ,
Hành xử khiêm cung,
Hiền hòa, khiêm tốn.
Kính trên, nhường dưới,
Khiêm nhã, nhún nhường,
Khéo xét lỗi mình
Khéo phòng hộ căn".
Tình thân trong đạo tràng
- Đạo hữu trong đạo tràng Nikāya sinh hoạt trên tinh thần tương thân, tương ái, hiền hòa, lắng dịu và từ ái. Sẵn sàng giúp đỡ nhau. Sẵn sàng chung vai gánh vác những công việc trong đạo tràng.
- Tránh to tiếng nhau, tránh cãi vã nhau.
- Tình đồng đạo được kết nối trong sự thân thiện, hòa nhã, hòa đồng, hòa ái nhưng không rời xa giới đức, giới hạnh và giới hạn cần thiết trong các mối quan hệ. Xác định rõ ràng ranh giới giữa trên và dưới, ranh giới giữa nam và nữ, giữa nam và nam, giữa nữ và nữ. Không xô bồ, phóng dật, buông lung, quá thân mật, quá gần gũi, quá đà trong các mối quan hệ.
- Tự mình gìn giữ giới đức trang nghiêm, thanh tịnh. Nhắc nhở bạn đạo gìn giữ giới đức trang nghiêm, thanh tịnh.
- Kính trên nhường dưới. Cùng nhau tôn trọng thanh quy của đạo tràng, tôn kính chư Tăng Ni, tôn trọng huynh trưởng, tôn trọng bạn đồng tu và tự trọng bản thân. Luôn tâm niệm trong lòng: "Chúng ta hãy là hội chúng Tinh ba, chớ không là hội chúng Cặn bã".
Kiểm soát thân khẩu ý
- Thân hành: Thân hành nhẹ nhàng, an tịnh. Mọi thao tác trong đạo tràng đều tế nhị, không thô thiển, tránh tạo tiếng động, tiếng ồn. Tập chánh niệm trong oai nghi, hành động. Thấy sự nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt.
- Khẩu hành: Khẩu hành an tịnh trong suốt ngày tu học. Chỉ nói khi trình pháp, hỏi pháp. Tránh hỏi pháp, trình pháp quá dài, còn để thời gian cho các bạn khác. Để không cắt ngang dòng tâm ý của vị giảng pháp, nên người nghe pháp không chen ngang vào giữa buổi pháp được giảng, dù vị giảng pháp đang im lặng. Sau buổi giảng sẽ có phần hỏi đáp. Vì vậy, chỉ hỏi pháp, trình pháp khi đến giờ hỏi đáp, đó là điều cần cẩn trọng lưu ý. Không phát biểu giữa buổi giảng pháp. Không cắt ngang bài pháp đang được chia sẻ. Không cắt ngang lời vị hướng dẫn.
- Ý hành: Ý hành an trú trong tâm hiền, tâm an tịnh, hoặc như lý tác ý về pháp, hoặc duy trì định tướng trong suốt ngày tu.
Giới hạn trong thảo luận
- Chủ đề thảo luận nằm trong tinh thần kinh Nikāya. Không thảo luận những vấn đề ngoài dòng pháp này. Thảo luận có chừng mực, thuộc phạm vi của bài pháp được nghe trong ngày tu tập.
- Khi đang thảo luận, đang phát biểu, nếu nghe tiếng chuông của trưởng lớp thì phải dừng lại, xem lại cảm thọ lúc đó, Như lý tác ý để từ bỏ cảm thọ bất thiện sanh khởi.
- Không để bản ngã sanh khởi trong khi thảo luận, trình pháp, phát biểu ý kiến.
- Phát biểu với thái độ nhẹ nhàng, với tâm hiền lành mến pháp, với lòng từ mẫn, với tâm chân thành muốn chia sẻ pháp.
- Khi tâm có sân, có bản ngã thì lúc đó không nên phát biểu, hãy giữ im lặng.
- Người phát biểu, đóng góp ý kiến cho người trình pháp hay cho lớp học, sẽ phát biểu trong chừng mực, không quá lâu, không quá dài dòng, không đi xa khỏi vấn đề đang tu học, không ngắt ngang lời của người trình pháp, không phát biểu quá 5 phút.
Thọ thực thanh tịnh
- Chuẩn bị cơm trưa trong im lặng, thanh tịnh. Khi cần thiết thì ra dấu, tránh tối đa việc động khẩu. Dọn cơm, xếp đặt bàn ghế, sắp xếp tô chén muỗng đũa trong nhẹ nhàng, thanh tịnh, tránh gây ra tiếng động. Chánh niệm trong hành động.
- Ăn trưa trong chánh niệm như đã được hướng dẫn trong bài "Chánh quán khi thọ thực". Ăn xong, nói lời tùy hỷ công đức.
Giải tỏa bất hòa
- Vì đang tu học sự nhiếp phục thân tâm nên chắc chắn sẽ có lỗi lầm, có bất đồng ý kiến, chưa dễ nói, chưa hiền thuận, chưa nhu hòa trong sinh hoạt, trong hành vi, trong ứng xử, trong thân hành, khẩu hành. Vì vậy, khi có chuyện không hài lòng xảy ra trong đạo tràng, những người liên đới nên tự xét mình trước, xem lỗi của mình trước, sau đó, nên thông cảm với lỗi lầm của bạn đồng tu.
- Nếu thấy cần phải góp ý thì trước khi nói cần phải an trú nội tâm 5 pháp: "Nói đúng thời, nói đúng sự thật, nói từ tốn, nói lời có lợi ích, nói với từ tâm".
- Người được góp ý cần nghiêm túc đón nhận lời góp ý và nghiêm túc quán xét bản thân. Ghi nhớ câu Pháp Cú 76:
"Nếu thấy bậc Hiền Trí
Chỉ lỗi và khiển trách,
Như chỉ chỗ chôn vàng.
Hãy thân cận người trí,
Thân cận người như vậy,
Chỉ tốt hơn không xấu".
Chân thành - Chân chánh
- Pháp hành này là một đường lối tu hành chân chánh với Tám sự Chân chánh, tức là: Thấy biết chân chánh, suy nghĩ chân chánh, nói lời chân chánh, hành động chân chánh, nuôi mạng chân chánh, siêng năng chân chánh, quán niệm chân chánh và định tâm chân chánh. Vì vậy, chỉ có người chân chánh mới có thể tu tập được pháp chân chánh, chỉ có người chân thành mới tu tập được pháp chân thật. Do đó, nếu hành giả xét thấy trong mình còn có những pháp không chân chánh, không chân thật thì nên phát lộ sám hối và quyết chí từ bỏ thì mới có thể tu tập sâu vào dòng pháp này. Nếu không, thì dòng pháp Tám Chánh sẽ đào thải người bất chánh ra khỏi pháp chân chánh. Xin hãy nhớ kỹ điều này.
•Ngoài ra, cần lưu ý:
- Trưởng lớp cần biết: Trưởng lớp chăm lo cho sinh hoạt của đạo tràng; sắp xếp người chịu trách nhiệm về sự an tịnh của lớp trong mỗi buổi học; sắp xếp người trình pháp trong các buổi học; kiểm soát giờ giấc sinh hoạt trong lớp; kiểm soát các buổi trình pháp; không để các ý kiến đi quá xa khỏi bài pháp đã được nghe, đi quá xa khỏi pháp hành trong con đường này; đánh chuông nhắc nhở những phát biểu dài dòng, đi xa ngoài vấn đề. Khi có những ý kiến bất đồng, sau khi hai lần ý kiến vẫn không tìm được điểm chung thì trưởng lớp cho dừng lại việc thảo luận vấn đề đó, sau đó, khi thuận tiện thì hỏi lại vị hướng dẫn. Trưởng lớp tuy chăm lo cho đạo tràng nhưng không được quên trau dồi giới hạnh, thiền định và trí tuệ của tự thân.
- Người trình pháp cần biết: Đối với đạo tràng Nikāya được thành lập trên một năm: Trưởng lớp sẽ sắp xếp người trình pháp trong các buổi học. Mỗi lần tu học sẽ có giờ trình chiếu một bài pháp do người trình pháp chọn. Người trình pháp sẽ thông báo trước một tuần bài pháp mà mình sẽ trình bày với lớp. Trong ngày tu học, sau khi xem xong video bài giảng, người trình pháp sẽ trình bày lại nội dung, lợi ích, tác dụng, giá trị, tầm quan trọng, điểm chính, điểm cần nhớ, điểm cần tu tập, điểm yêu thích trong bài pháp vừa nghe và lý do chọn bài pháp này để trình bày. Người trình pháp không quá 20 phút. Sau đó, người trình pháp chân thành mời các bạn đồng tu phát biểu, đóng góp ý kiến nếu thấy có thiếu xót trong sự trình bày của mình.
- Đạo hữu mới cần biết: Trưởng lớp hướng dẫn cách ăn và cách sinh hoạt của đạo tràng cho người mới đến. Cẩn thận khi giới thiệu người mới vào đạo tràng. Người giới thiệu phải chịu trách nhiệm về người mình giới thiệu. Nếu người không có lòng hướng về con đường này (dù mình đã giới thiệu nghe bài giảng rồi) thì không nên cố chấp, gượng ép mời vào đạo tràng, để tránh rắc rối cho sinh hoạt của đạo tràng sau này.
- Giữ lửa: Mục đích của đạo tràng Nikāya là giúp cho các vị đang muốn đi vào thực hành lời Phật dạy trong kinh Nikāya có được một môi trường tu tập lành mạnh, trong sạch, đúng pháp, có thể duy trì và phát triển ngọn đèn trí tuệ của Nikāya trong tự thân. Vì vậy, để làm quen, ổn định và duy trì ngọn lửa Nikāya trong tự thân và giúp duy trì ngọn lửa Nikāya cho đạo hữu trong đạo tràng, nên các đạo tràng Nikāya cố gắng sinh hoạt ổn định 2 lần trong tháng, vào thứ bảy hoặc chủ nhật, nếu nhiều hơn càng tốt.
./.
Thiền Hành - Lễ Pháp Bảo & Thanh Quy
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Thiền quán vô thường PAGEREF _Toc179395821 \h 1
II. Đảnh lễ Pháp Bảo PAGEREF _Toc179395822 \h 4
III. Thanh quy đạo tràng PAGEREF _Toc179395823 \h 14
I. Thiền quán vô thường
Nhìn chuyên chú, chăm chú như lý quán sát những đống bọt sắc uẩn này. Những đống bọt sắc uẩn ấy sẽ hiện rõ ra tính chất rỗng không, sẽ hiện rõ ra tính chất trống không, sẽ hiện rõ ra tính chất không có gì cứng chắc ở bên trong.
"-- Ví như, này các Tỳ-kheo, sông Hằng này chảy mang theo đống bọt nước lớn. Có người có mắt nhìn đống bọt nước ấy, chuyên chú, như lý quán sát. Do nhìn chuyên chú, như lý quán sát nó, đống bọt nước ấy hiện rõ ra là trống không, hiện rõ ra là rỗng không, hiện rõ ra là không có lõi cứng. Làm sao, này các Tỳ-kheo, lại có lõi cứng trong đống bọt nước được?" (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (f), V. Phẩm Hoa, III. Bọt Nước)
Hãy nhìn kĩ vô vàng là những đống bọt, vô số là những đống bọt. Những đống bọt trôi nổi, trôi dạt, chìm nổi, vỡ nát rồi tiếp tục nổi lên, nổi lên rồi tham, sân, si, bản ngã rồi nát, rồi lại nổi lên tìm kiếm, khao khát rồi nát, rồi lại nổi lên tranh giành, tranh đấu, tranh chiến rồi nát, rồi nổi lên hơn thua, bản ngã, thắng bại, đúng sai rồi nát, vậy mà cứ nổi lên rồi nát… nổi lên rồi nát… nổi lên rồi nát tan.
Chìm nổi trong ba cõi sáu đường với những dòng nước mắt tan thương, thật là nhọc nhằn cho những đống bọt này, thật là mệt mỏi cho những đống bọt này, thật là đáng thương cho những đống bọt này, thật đáng thương hại cho những đống bọt, thật đáng xót xa cho vô lượng vô số, vô biên những đống bọt sắc uẩn, sắc pháp này. Vô thường nhưng lại lầm tham sân, trống rỗng, trống không, trống trơn nhưng trong đó là rất nhiều kế hoạch, những dự định, dự tính, dự án của tham lam, của chiếm hữu, chiếm đoạt, của sự xâm chiếm.
Nếu chưa đạt được thì đau khổ, lo âu, đã đạt được thì sợ mất, khi mất đi lại càng đau khổ hơn, ba thời đều khổ đối với dục vọng, đó là đặc tính của những đống bọt, đó là bản chất của những đống bọt, đó là đời sống của những đống bọt, đó là hệ điều hành của những đống bọt sắc uẩn này, là mô típ, là cấu trúc, là dạng thức, là guồng máy hoạt động của những đống bọt trống rỗng, trống không đầy tham, sân, si và bản ngã này.
Thật là đáng thương, đáng thương cho những đống bọt ngu muội, si ám, dại khờ, điên loạn và nhọc nhằn. Thật là đau thương cho những đống bọt này. Hãy nhìn chăm chú và quán sát thật kĩ những đống bọt nước dưới sông Hằng sẽ thấy được tính rỗng không, trống không và hãy nhìn những thân xác này, những đồ đạc này, tài sản này, ruộng vườn, đất đai, xe cộ, tiền bạc, nhà cửa, chùa chiền này là những đống bọt, là những chùm bọt nổi lềnh bềnh, nổi chìm, tan nát, tan vỡ, tan biến và tan hoại. Bất cứ khi nào và bất cứ ở đâu đống bọt này có thể bất thình lình tan ra, nát ra và biến mất trên cuộc đời này.
Đáng thương cho những đống bọt đầy sầu đau, buồn tủi và phiền não, chúng ta ngày đêm chuyên chú, chăm chú, chú trọng, chú tâm hằng giờ. Hãy nhìn cho kĩ tính chất trống rỗng, vô thường, bất an, bệnh khổ và bại hoại của đống bọt này để hướng đến sự nhàm chán, không tham, từ bỏ, thoát ra, đó là hạnh phúc tối thượng, cứu cánh cùng cực của đời sống tu hành. Hãy buông bỏ hết đi.
Chúng ta tập trung tác ý vào định tướng thiền quán mà mình mới vừa được nghe, tác ý quán chiếu sắc uẩn này là đống bọt, tác ý theo những gì mình được nghe.
"Một thời Thế Tôn ở Ayujjàya, trên bờ sông Hằng.
Ở đấy Thế Tôn gọi các Tỳ-kheo...
-- Ví như, này các Tỳ-kheo, sông Hằng này chảy mang theo đống bọt nước lớn. Có người có mắt nhìn đống bọt nước ấy, chuyên chú, như lý quán sát. Do nhìn chuyên chú, như lý quán sát nó, đống bọt nước ấy hiện rõ ra là trống không, hiện rõ ra là rỗng không, hiện rõ ra là không có lõi cứng. Làm sao, này các Tỳ-kheo, lại có lõi cứng trong đống bọt nước được?
Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, phàm có sắc gì thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc nội hay ngoại, hoặc thô hay tế, hoặc liệt hay thắng, hoặc xa hay gần; vị Tỳ-kheo thấy sắc, chuyên chú, như lý quán sát sắc. Do vị Tỳ-kheo nhìn chuyên chú, như lý quán sát sắc, sắc ấy hiện rõ ra là trống không, hiện rõ ra là rỗng không, hiện rõ ra là không có lõi cứng. Làm sao, này các Tỳ-kheo, lại có lõi cứng trong sắc được?
Ví như, này các Tỳ-kheo, trong mùa thu, khi trời mưa những giọt mưa lớn, trên mặt nước, các bong bóng nước hiện ra rồi tan biến. Một người có mắt nhìn chuyên chú, như lý quán sát nó, bong bóng nước ấy hiện rõ ra là trống không, hiện rõ ra là rỗng không, hiện rõ ra là không có lõi cứng. Làm sao, này các Tỳ-kheo, lại có lõi cứng trong bong bóng nước được?
Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, phàm có thọ gì thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc nội hay ngoại, hoặc thô hay tế, hoặc liệt hay thắng, hoặc xa hay gần; Tỳ-kheo nhìn chuyên chú, như lý quán sát thọ ấy. Do Tỳ-kheo nhìn chuyên chú, như lý quán sát nó, thọ ấy hiện rõ ra là trống không, hiện rõ ra là rỗng không, hiện rõ ra là không có lõi cứng. Làm sao, này các Tỳ-kheo, lại có lõi cứng trong thọ được?" (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (f), V. Phẩm Hoa, III. Bọt Nước)
Hãy nhìn sâu, hãy nhìn chuyên chú, như lý quán sát các sắc uẩn, hãy nhìn chăm chú vào đống bọt nước đang ngồi đây, hãy chuyên chú nhìn vào nó suốt ngày đêm, suốt năm tháng, mọi phút giây tính chất vô thường sẽ hiện rõ ra, tính chất biến đổi và tan hoại của nó sẽ lộ rõ ra, tính chất ốm đau và bệnh tật của nó sẽ bày lộ ra, tính chất lo lắng, bất an sẽ hiện rõ ra, tính chất bệnh khổ và lo âu của nó sẽ bày lộ ra, phô bày ra. Hãy nhìn chuyên chú, nhìn chăm chú vào đống bọt này, tính chất tan vỡ của nó sẽ lộ rõ ra, tính chất nguy hiểm của nó sẽ hiện bày ra, tính chất đau khổ, sợ hãi, biến hoại của nó sẽ minh bạch.
Như lý quán sát, chánh tư duy, chăm chú nhìn vào đống bọt này, đống bọt mấy chục kí lô giả danh là ta, là tôi này, ngày đêm giờ phút hãy chăm chú nhìn vào thì tính vô thường sẽ hiện rõ ra, tính khổ não sẽ hiện rõ ra, tính trống rỗng, vô ngã sẽ bày lộ ra, dù là sắc quá khứ, hiện tại hay tương lai, dù là bên trong hay bên ngoài thì tính chất đồ gốm sẽ bể nát, sẽ tan nát, sẽ nát vỡ bất cứ lúc nào, bất cứ ở đâu.
Nhìn chuyên chú, như lý quán sát sắc này thì sắc ấy sẽ hiện rõ ra tính chất rỗng không, sắc ấy sẽ hiện rõ ra tính chất trống không, sắc ấy sẽ hiện rõ ra bản chất rỗng không, sẽ hiện rõ ra không có lõi cứng bên trong, hiện rõ ra tính chất tan nát, hủy hoại, biến hoại, hư hoại, hoại diệt, tính chất đau khổ của sắc này sẽ hiện rõ ra nếu chúng ta chăm chú và liên tục nhìn vào nó.
Tính chất nhơ nhớp và bất tịnh sẽ bày lộ ra, tính chất phiền phức, phiền bực sẽ lộ rõ ra, tính chất phiền não, phiền đau sẽ lộ rõ ra. Chúng ta nhìn chăm chú, liên tục vào hình thể này, thân xác này thì tính chất bệnh tật, bức xúc sẽ lộ rõ ra. Chú tâm nhìn kĩ vào thân xác này tính chất mệt mỏi sẽ hiện rõ ra, tính chất mệt nhọc sẽ hiện rõ ra, tính chất nhọc nhằn sẽ bày lộ rõ ra, bản chất đau khổ hiện bày một cách đầy đủ, trọn vẹn trong cái đống sắc uẩn vô thường, bất an, đầy lo lắng và sợ hãi này.
Làm sao có sự vững chắc trong thân xác vô thường này được? Làm sao lại có sự chắc chắn trong đời sống biến đổi này được? Làm sao có sự vững chắc trong tứ đại bại hoại, tan rã, hư ảo này được?
"Thành này làm bằng xương,
Quét tô bằng thịt máu,
Ở đây già và chết,
Mạn, lừa đảo chất chứa"
(Kinh Pháp Cú 11 – Phẩm Già, kệ 150)
Thân này làm bằng xương và da, quét tô bằng thịt và máu, ở đây là già nua, bệnh tật và chết chóc. Trên tấm thân này là sự bất an, tan vỡ và trống rỗng, bên trong là ngã mạn, lọc lừa và dối trá chất đầy trong đó. Ngày đêm chăm chú, chuyên chú nhìn thật kĩ, nhìn thật là sâu, nhìn cho thấu đáo, nhìn cho minh bạch, rõ ràng.
II. Đảnh lễ Pháp Bảo
"- Có bốn hạng người này, này các Tỳ-kheo, có mặt, hiện hữu ở đời. Thế nào là bốn?
Thân viễn ly, tâm không viễn ly; thân không viễn ly, tâm viễn ly; thân không viễn ly, tâm không viễn ly; thân viễn ly và tâm viễn ly.
Này các Tỳ-kheo, thế nào là thân viễn ly, tâm không viễn ly?
- Ở đây, này các Tỳ-kheo, các hạng người sống tại các núi non, khóm rừng, các trú xứ xa vắng; vị ấy nghĩ đến dục tầm, nghĩ đến sân tầm, nghĩ đến hại tầm. Như vậy, này các Tỳ-kheo, là hạng người thân viễn ly, nhưng tâm không viễn ly.
Này các Tỳ-kheo, thế nào là thân không viễn ly, nhưng tâm viễn ly?
- Ở đây, này các Tỳ-kheo, các hạng người không sống tại các núi non, khóm rừng, các trú xứ xa vắng; vị ấy tại đó nghĩ đến tầm xuất ly, nghĩ đến tầm vô sân, nghĩ đến tầm bất hại. Như vậy, này các Tỳ-kheo, là hạng người thân không viễn ly, nhưng tâm viễn ly.
Này các Tỳ-kheo, thế nào là thân không viễn ly, tâm không viễn ly?
- Ở đây, này các Tỳ-kheo, các hạng người không sống tại các núi non, khóm rừng, các trú xứ xa vắng; Tại đấy, vị ấy nghĩ đến dục tầm, nghĩ đến sân tầm, nghĩ đến hại tầm. Như vậy, này các Tỳ-kheo, là hạng người thân không viễn ly, tâm không viễn ly.
Này các Tỳ-kheo, thế nào là thân viễn ly và tâm viễn ly?
- Ở đây, này các Tỳ-kheo, các hạng người sống tại các núi non, khóm rừng, các trú xứ xa vắng; vị ấy tại đó nghĩ đến tầm xuất ly, nghĩ đến tầm không sân, nghĩ đến tầm không hại. Như vậy, này các Tỳ-kheo, là hạng người thân viễn ly và tâm viễn ly.
Có bốn hạng người này, này các Tỳ-kheo, có mặt, hiện hữu ở đời". (Tăng Chi Bộ, Chương IV – Bốn Pháp, XIV. Phẩm Loài Người, (VIII). Viễn Ly)
"Sáu pháp này, này các Tỳ-kheo, đưa Tỳ-kheo hữu học đến thối đọa. Thế nào là sáu?
Ưa công việc, ưa nói chuyện, ưa ngủ, ưa hội chúng, các căn không phòng hộ, ăn uống không tiết độ. Sáu pháp này, này các Tỳ-kheo, đưa Tỳ-kheo hữu học đến thối đọa.
Sáu pháp này, này các Tỳ-kheo, không đưa Tỳ-kheo hữu học đến thối đọa. Thế nào là sáu?
Không ưa công việc, không ưa nói chuyện, không ưa ngủ nghỉ, không ưa hội chúng, các căn có phòng hộ, ăn uống có tiết độ.
Sáu pháp này, này các Tỳ-kheo, không đưa Tỳ-kheo hữu học đến thối đọa". (Tăng Chi Bộ, Chương VI – Sáu Pháp, IV. Phẩm Chư Thiên, (I) Hữu Học)
"Nhân duyên ở Sàvatthi...
Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ràdha bạch Thế Tôn:
-- 'Ðoạn diệt sợi dây tái sanh. Ðoạn diệt sợi dây tái sanh', bạch Thế Tôn, được nói đến như vậy. Thế nào là sợi dây tái sanh, bạch Thế Tôn? Thế nào là sự đoạn diệt sợi dây tái sanh?
-- Này Ràdha, phàm dục gì, tham gì, hỷ gì, khát ái gì, phàm những chấp thủ phương tiện, tâm kiên trú, thiên chấp tùy miên gì đối với sắc, như vậy gọi là sợi dây tái sanh. Sự đoạn diệt chúng là sự đoạn diệt sợi dây tái sanh.
... đối với thọ... với tưởng... với các hành...
Phàm dục gì, tham gì, hỷ gì, khát ái gì, phàm những chấp thủ phương tiện, tâm kiên trú, thiên chấp tùy miên gì đối với thức, đó gọi là sợi dây tái sanh. Sự đoạn diệt chúng là sự đoạn diệt sợi dây tái sanh". (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương II. Tương Ưng Ràdha, I. Phẩm Thứ Nhất, III. Sợi Dây Tái Sanh)
"Lại nữa, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo đi, tuệ tri: 'Tôi đi', hay đứng, tuệ tri: 'Tôi đứng', hay ngồi, tuệ tri: 'Tôi ngồi', hay nằm, tuệ tri: 'Tôi nằm'. Thân thể được sử dụng như thế nào, vị ấy tuệ tri thân như thế ấy.
Vị ấy sống quán thân trên nội thân; hay vị ấy sống quán thân trên ngoại thân; hay vị ấy sống quán thân trên nội thân, ngoại thân; hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên thân; hay vị ấy sống quán tánh diệt tận trên thân; hay vị ấy sống quán tánh sanh diệt trên thân. 'Có thân đây', vị ấy an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỳ-kheo, như vậy là Tỳ-kheo sống quán thân trên thân". (Trung Bộ Kinh, 10. Kinh Niệm xứ)
"Do tôi biết, tôi thấy và tôi nghe thuyết giáo ấy, mà tôi xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Thế nào là bốn?
'Thế giới là vô thường, đi đến hủy diệt', thưa Ðại vương, đó là thuyết giáo Chánh pháp thứ nhất, do Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, thuyết giảng. Do tôi biết, tôi thấy và tôi nghe thuyết giáo ấy, mà tôi xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
'Thế giới là vô hộ, vô chủ', thưa Ðại vương, đó là thuyết giáo Chánh pháp thứ hai, do Thế Tôn, bậc Tri Giả. Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác thuyết giảng. Do tôi biết, tôi thấy và tôi nghe thuyết giáo ấy, mà tôi xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
'Thế giới là vô sở hữu, ra đi cần phải từ bỏ tất cả', thưa Ðại vương đó là thuyết giáo Chánh pháp thứ ba, do Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác thuyết giảng. Do tôi biết, tôi thấy, tôi nghe thuyết giáo ấy, mà tôi xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
'Thế giới là thiếu thốn, khao khát, nô lệ cho tham ái', thưa Ðại vương, đó là thuyết giáo Chánh pháp thứ tư, do Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác thuyết giảng. Do tôi biết, tôi thấy, tôi nghe thuyết giáo ấy, mà tôi xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình". (Trung Bộ Kinh, 82. Kinh Ratthapàla)
"Cười gì, hân hoan gì,
Khi đời mãi bị thiêu?
Bị tối tăm bao trùm,
Sao không tìm ngọn đèn?"
(Kinh Pháp Cú 11 – Phẩm Già, kệ 146)
"Hãy xem bong bóng đẹp,
Chỗ chất chứa vết thương,
Bệnh hoạn nhiều suy tư,
Thật không gì trường cửu".
(Kinh Pháp Cú 11 – Phẩm Già, kệ 147)
"Sắc này bị suy già,
Ổ tật bệnh, mỏng manh,
Nhóm bất tịnh, đỗ vỡ,
Chết chấm dứt mạng sống".
(Kinh Pháp Cú 11 – Phẩm Già, kệ 148)
"Như trái bầu mùa thu,
Bị vất bỏ quăng đi,
Nhóm xương trắng bồ câu,
Thấy chúng còn vui gì?"
(Kinh Pháp Cú 11 – Phẩm Già, kệ 149)
"Xe vua đẹp cũng già.
Thân này rồi sẽ già,
Pháp bậc thiện, không già.
Như vậy bậc chí thiện
Nói lên cho bậc thiện"
(Kinh Pháp Cú 11 – Phẩm Già, kệ 151)
"Lang thang bao kiếp sống
Ta tìm nhưng không gặp
Người xây dựng nhà này,
Khổ thay, phải tái sanh".
(Kinh Pháp Cú 11, Phẩm Già, kệ 153)
"Ôi! Người làm nhà kia
Nay ta đã thấy ngươi!
Ngươi không làm nhà nữa.
Ðòn tay ngươi bị gẫy,
Kèo cột ngươi bị tan
Tâm ta đạt tịch diệt,
Tham ái thảy tiêu vong".
(Kinh Pháp Cú 11- Phẩm Già, kệ 154)
"Lúc trẻ, không phạm hạnh,
Không tìm kiếm bạc tiền.
Như cò già bên ao,
Ủ rũ, không tôm cá"
(Kinh Pháp Cú 11- Phẩm Già, kệ 155)
"Lúc trẻ không phạm hạnh,
Không tìm kiếm bạc tiền;
Như cây cung bị gẫy,
Thở than những ngày qua"
(Kinh Pháp Cú 11- Phẩm Già, kệ 156)
"Rồi Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
- Này các Tỳ-kheo, đây là lời Ta nhắn nhủ các Ngươi. Các hành là vô thường. Hãy tinh tấn lên để tự giải thoát, không lâu Như Lai sẽ diệt độ. Sau ba tháng bắt đầu từ hôm nay, Như Lai sẽ diệt độ.
Ðó là lời Thế Tôn dạy. Sau khi nói vậy, Thiện Thệ lại nói thêm:
Ta đã già, dư mạng chẳng còn bao,
Từ biệt các Ngươi, Ta đi một mình.
Tự mình làm sở y cho chính mình,
Hãy tinh tấn, chánh niệm, giữ giới luật,
Nhiếp thúc ý chí, bảo hộ tự tâm.
Ai tinh tấn trong pháp và luật này
Sẽ diệt sanh tử, chấm dứt khổ đau.
Và Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
- Này các Tỳ-kheo, nay Ta khuyên dạy các ngươi: 'Các pháp hữu vi là vô thường, hãy tinh tấn, chớ có phóng dật'.
Ðó là lời cuối cùng Như Lai" (Trường Bộ Kinh, 16. Kinh Đại Bát Niết Bàn, Tụng Phẩm III).
" - Thành tựu tám pháp này, này các Tỳ-kheo, vị Tỷkheo đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được chắp tay, là ruộng phước vô thượng ở đời. Thế nào là tám ?
Ở đây, này các Tỳ-kheo, vị Tỳ-kheo :
Giữ giới … chấp nhận và học tập trong các học pháp.
Nghe nhiều, khéo thể nhập trong chánh tri kiến.
Làm bạn với thiện, thân hữu với thiện, giao du với thiện.
Có chánh tri kiến, thành tựu chánh kiến.
Chứng được bốn Thiền thuộc tăng thượng tâm, hiện tại lạc trú, chứng được không khó khăn, chứng được không mệt nhọc, chứng được không phí sức.
Nhớ được nhiều đời trước, như một đời, hai đời … nhớ được nhiều đời trước với các tướng trạng với các chi tiết.
Với thiên nhãn thanh tịnh siêu nhân … rõ biết các chúng sanh, tùy theo hạnh nghiệp của chúng.
Do đoạn diệt các lậu hoặc … chứng ngộ, chứng đạt và an trú.
Thành tựu tám pháp này, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo đáng được cung kính … là ruộng phước vô thượng ở đời. (Tăng Chi Bộ, Chương VIII - Tám Pháp, VI. Phẩm Gotamì, (VII). Xứng Ðáng Ðược Cúng Dường (1))
"Quá khứ không truy tìm
Tương lai không ước vọng.
Quá khứ đã đoạn tận,
Tương lai lại chưa đến,
Chỉ có pháp hiện tại
Tuệ quán chính ở đây
Không động, không rung chuyển
Biết vậy, nên tu tập,
Hôm nay nhiệt tâm làm,
Ai biết chết ngày mai?
Không ai điều đình được,
Với đại quân thần chết,
Trú như vậy nhiệt tâm,
Ðêm ngày không mệt mỏi,
Xứng gọi Nhứt dạ Hiền,
Bậc an tịnh, trầm lặng". (Trung Bộ Kinh, 131. Kinh Nhất dạ hiền giả)
" ... Trú ở Sàvatthi.
-- Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỳ-kheo, khởi điểm không thể nêu rõ đối với sự lưu chuyển luân hồi của các chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc.
Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỳ-kheo, cái gì là nhiều hơn, sữa mẹ mà các Ông đã uống trong khi các Ông lưu chuyển luân hồi trong một thời gian dài, hay là nước trong bốn biển?
-- Bạch Thế Tôn, theo như lời Thế Tôn thuyết pháp, chúng con hiểu rằng cái này là nhiều hơn, tức là sữa mẹ mà chúng con đã uống trong khi chúng con lưu chuyển luân hồi trong một thời gian dài chớ không phải nước trong bốn biển!
-- Lành thay, lành thay, này các Tỳ-kheo! Lành thay, này các Tỳ-kheo, các Ông đã hiểu như vậy Pháp do Ta dạy!
Cái này là nhiều hơn, này các Tỳ-kheo, tức là sữa mẹ mà các Ông đã uống trong khi các Ông lưu chuyển luân hồi trong một thời gian dài chớ không phải nước trong bốn biển.
Vì sao? Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỳ-kheo... là vừa đủ để các Ông giải thoát đối với tất cả các hành". (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương IV. Tương Ưng Vô Thỉ (Anamatagga), I. Phẩm Thứ Nhất, IV. Sữa)
"Có năm sự kiện này, này các Tỳ-kheo, cần phải thường xuyên quán sát bởi nữ nhân hay nam nhân, bởi tại gia hay xuất gia. Thế nào là năm?
Ta phải bị già, không thoát khỏi già
Ta phải bị bệnh, không thoát khỏi bệnh
Ta phải bị chết, không thoát khỏi chết
Tất cả pháp khả ái, khả ý đối với ta sẽ phải đổi khác, sẽ phải biến diệt
Ta là chủ nhân của nghiệp, là thừa tự của nghiệp, nghiệp là thai tạng, nghiệp là quyến thuộc, nghiệp là điểm tựa. Phàm nghiệp nào ta sẽ làm thiện hay ác, ta sẽ thừa tự nghiệp ấy" (Tăng Chi Bộ Kinh, Chương V. Năm Pháp, VI. Phẩm Triền Cái, (VII). Sự Kiện Cần Phải Quan Sát)
"Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, Ta đã thấy một con đường cũ, một đạo lộ cũ do các vị Chánh Đẳng Giác thuở xưa đã đi qua.
Và này các Tỳ-kheo, thế nào là con đường cũ, đạo lộ cũ ấy do các vị Chánh Đẳng Giác thuở xưa đã đi qua? Đây chính là con đường Thánh đạo tám ngành, tức là chánh tri kiến... chánh định. Con đường ấy, này các Tỳ-kheo, là con đường cũ, đạo lộ cũ do các bậc Chánh Đẳng Giác thuở xưa đã đi qua. Ta đã đi theo con đường ấy. Đi theo con đường ấy, Ta thấy rõ già chết; Ta thấy rõ già, chết tập khởi; Ta thấy rõ già chết đoạn diệt; Ta thấy rõ con đường đưa đến già chết đoạn diệt.
Ta đã đi theo con đường ấy. Đi theo con đường ấy; Ta thấy rõ sanh... Ta thấy rõ hữu... Ta thấy rõ thủ... Ta thấy rõ ái... Ta thấy rõ thọ... Ta thấy rõ xúc... Ta thấy rõ sáu xứ... Ta thấy rõ danh sắc... Ta thấy rõ thức... Ta đi theo con đường ấy. Đi theo con đường ấy, Ta thấy rõ các hành; Ta thấy rõ các hành tập khởi; Ta thấy rõ các hành đoạn diệt, Ta thấy rõ con đường đưa đến các hành đoạn diệt
Cái được Ta biết rõ, Ta đã tuyên bố cho các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ được biết. Này các Tỳ-kheo, tức là Phạm hạnh này, phồn vinh, thịnh vượng, quảng đại, chúng đa, người nhiều và được chư Thiên, loài Người khéo léo trình bày". (Tương Ưng Bộ , Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (c), VII. Ðại Phẩm Thứ Bảy, V. Thành Ấp)
"Này Magandiya, câu kệ này trong thời quá khứ đã được các bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác nói lên:
Không bệnh, lợi tối thắng,
Niết-bàn, lạc tối thắng.
Bát chánh là độc đạo,
An ổn và bất tử". (Trung Bộ Kinh, 75. Kinh Màgandiya)
Đảnh lễ Đức Thế Tôn bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác phục nguyện. Chư Phật thời quá khứ, chư Phật thời vị lai và Đức Phật thời hiện tại đoạn sầu muộn nhiều người. Tất cả những vị ấy đã, đang và sẽ sống cung kính và tôn trọng pháp chơn chánh vi diệu, pháp nhĩ là như vậy, đối với chư Phật đà, do vậy muốn lợi ích, ước vọng làm đại nhân, hãy cung kính tôn trọng pháp chơn chánh vi diệu, hãy ghi nhớ giáo pháp, chư Phật Chánh Đẳng Giác.
Ai quy y Đức Phật, chánh pháp và chư Tăng. Ai dùng chánh tri kiến thấy được Bốn Thánh Đế, thấy khổ và khổ tập, thấy sự khổ vượt qua, thấy đường Thánh Tám Ngành đưa đến khổ não tận, thật quy y an ổn, thật quy y tối thượng. Có quy y như vậy mới thoát mọi khổ đau.
III. Thanh quy đạo tràng
Tinh thần chung của đạo tràng
"Đạo tràng Nikāya
Tâm hiền hòa, lắng dịu
Tụ hợp trong hòa ái,
Tạm biệt trong an vui,
Chân chánh thân, khẩu, ý.
Tám Chánh là đường đi,
Nhìn đời bằng Thánh trí
Giới, Định, Tuệ thực thi".
Ứng xử trong đạo tràng
Đạo tràng ứng xử theo tinh thần "Năm Khiêm, Hai Khéo"
"Lời nói khiêm nhường,
Tâm hồn khiêm hạ,
Hành xử khiêm cung,
Hiền hòa, khiêm tốn.
Kính trên, nhường dưới,
Khiêm nhã, nhún nhường,
Khéo xét lỗi mình
Khéo phòng hộ căn".
Tình thân trong đạo tràng
- Đạo hữu trong đạo tràng Nikāya sinh hoạt trên tinh thần tương thân, tương ái, hiền hòa, lắng dịu và từ ái. Sẵn sàng giúp đỡ nhau. Sẵn sàng chung vai gánh vác những công việc trong đạo tràng.
- Tránh to tiếng nhau, tránh cãi vã nhau.
- Tình đồng đạo được kết nối trong sự thân thiện, hòa nhã, hòa đồng, hòa ái nhưng không rời xa giới đức, giới hạnh và giới hạn cần thiết trong các mối quan hệ. Xác định rõ ràng ranh giới giữa trên và dưới, ranh giới giữa nam và nữ, giữa nam và nam, giữa nữ và nữ. Không xô bồ, phóng dật, buông lung, quá thân mật, quá gần gũi, quá đà trong các mối quan hệ.
- Tự mình gìn giữ giới đức trang nghiêm, thanh tịnh. Nhắc nhở bạn đạo gìn giữ giới đức trang nghiêm, thanh tịnh.
- Kính trên nhường dưới. Cùng nhau tôn trọng thanh quy của đạo tràng, tôn kính chư Tăng Ni, tôn trọng huynh trưởng, tôn trọng bạn đồng tu và tự trọng bản thân. Luôn tâm niệm trong lòng: "Chúng ta hãy là hội chúng Tinh ba, chớ không là hội chúng Cặn bã".
Kiểm soát thân khẩu ý
- Thân hành: Thân hành nhẹ nhàng, an tịnh. Mọi thao tác trong đạo tràng đều tế nhị, không thô thiển, tránh tạo tiếng động, tiếng ồn. Tập chánh niệm trong oai nghi, hành động. Thấy sự nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt.
- Khẩu hành: Khẩu hành an tịnh trong suốt ngày tu học. Chỉ nói khi trình pháp, hỏi pháp. Tránh hỏi pháp, trình pháp quá dài, còn để thời gian cho các bạn khác. Để không cắt ngang dòng tâm ý của vị giảng pháp, nên người nghe pháp không chen ngang vào giữa buổi pháp được giảng, dù vị giảng pháp đang im lặng. Sau buổi giảng sẽ có phần hỏi đáp. Vì vậy, chỉ hỏi pháp, trình pháp khi đến giờ hỏi đáp, đó là điều cần cẩn trọng lưu ý. Không phát biểu giữa buổi giảng pháp. Không cắt ngang bài pháp đang được chia sẻ. Không cắt ngang lời vị hướng dẫn.
- Ý hành: Ý hành an trú trong tâm hiền, tâm an tịnh, hoặc như lý tác ý về pháp, hoặc duy trì định tướng trong suốt ngày tu.
Giới hạn trong thảo luận
- Chủ đề thảo luận nằm trong tinh thần kinh Nikāya. Không thảo luận những vấn đề ngoài dòng pháp này. Thảo luận có chừng mực, thuộc phạm vi của bài pháp được nghe trong ngày tu tập.
- Khi đang thảo luận, đang phát biểu, nếu nghe tiếng chuông của trưởng lớp thì phải dừng lại, xem lại cảm thọ lúc đó, Như lý tác ý để từ bỏ cảm thọ bất thiện sanh khởi.
- Không để bản ngã sanh khởi trong khi thảo luận, trình pháp, phát biểu ý kiến.
- Phát biểu với thái độ nhẹ nhàng, với tâm hiền lành mến pháp, với lòng từ mẫn, với tâm chân thành muốn chia sẻ pháp.
- Khi tâm có sân, có bản ngã thì lúc đó không nên phát biểu, hãy giữ im lặng.
- Người phát biểu, đóng góp ý kiến cho người trình pháp hay cho lớp học, sẽ phát biểu trong chừng mực, không quá lâu, không quá dài dòng, không đi xa khỏi vấn đề đang tu học, không ngắt ngang lời của người trình pháp, không phát biểu quá 5 phút.
Thọ thực thanh tịnh
- Chuẩn bị cơm trưa trong im lặng, thanh tịnh. Khi cần thiết thì ra dấu, tránh tối đa việc động khẩu. Dọn cơm, xếp đặt bàn ghế, sắp xếp tô chén muỗng đũa trong nhẹ nhàng, thanh tịnh, tránh gây ra tiếng động. Chánh niệm trong hành động.
- Ăn trưa trong chánh niệm như đã được hướng dẫn trong bài "Chánh quán khi thọ thực". Ăn xong, nói lời tùy hỷ công đức.
Giải tỏa bất hòa
- Vì đang tu học sự nhiếp phục thân tâm nên chắc chắn sẽ có lỗi lầm, có bất đồng ý kiến, chưa dễ nói, chưa hiền thuận, chưa nhu hòa trong sinh hoạt, trong hành vi, trong ứng xử, trong thân hành, khẩu hành. Vì vậy, khi có chuyện không hài lòng xảy ra trong đạo tràng, những người liên đới nên tự xét mình trước, xem lỗi của mình trước, sau đó, nên thông cảm với lỗi lầm của bạn đồng tu.
- Nếu thấy cần phải góp ý thì trước khi nói cần phải an trú nội tâm 5 pháp: "Nói đúng thời, nói đúng sự thật, nói từ tốn, nói lời có lợi ích, nói với từ tâm".
- Người được góp ý cần nghiêm túc đón nhận lời góp ý và nghiêm túc quán xét bản thân. Ghi nhớ câu Pháp Cú 76:
"Nếu thấy bậc Hiền Trí
Chỉ lỗi và khiển trách,
Như chỉ chỗ chôn vàng.
Hãy thân cận người trí,
Thân cận người như vậy,
Chỉ tốt hơn không xấu".
Chân thành - Chân chánh
- Pháp hành này là một đường lối tu hành chân chánh với Tám sự Chân chánh, tức là: Thấy biết chân chánh, suy nghĩ chân chánh, nói lời chân chánh, hành động chân chánh, nuôi mạng chân chánh, siêng năng chân chánh, quán niệm chân chánh và định tâm chân chánh. Vì vậy, chỉ có người chân chánh mới có thể tu tập được pháp chân chánh, chỉ có người chân thành mới tu tập được pháp chân thật. Do đó, nếu hành giả xét thấy trong mình còn có những pháp không chân chánh, không chân thật thì nên phát lộ sám hối và quyết chí từ bỏ thì mới có thể tu tập sâu vào dòng pháp này. Nếu không, thì dòng pháp Tám Chánh sẽ đào thải người bất chánh ra khỏi pháp chân chánh. Xin hãy nhớ kỹ điều này.
•Ngoài ra, cần lưu ý:
- Trưởng lớp cần biết: Trưởng lớp chăm lo cho sinh hoạt của đạo tràng; sắp xếp người chịu trách nhiệm về sự an tịnh của lớp trong mỗi buổi học; sắp xếp người trình pháp trong các buổi học; kiểm soát giờ giấc sinh hoạt trong lớp; kiểm soát các buổi trình pháp; không để các ý kiến đi quá xa khỏi bài pháp đã được nghe, đi quá xa khỏi pháp hành trong con đường này; đánh chuông nhắc nhở những phát biểu dài dòng, đi xa ngoài vấn đề. Khi có những ý kiến bất đồng, sau khi hai lần ý kiến vẫn không tìm được điểm chung thì trưởng lớp cho dừng lại việc thảo luận vấn đề đó, sau đó, khi thuận tiện thì hỏi lại vị hướng dẫn. Trưởng lớp tuy chăm lo cho đạo tràng nhưng không được quên trau dồi giới hạnh, thiền định và trí tuệ của tự thân.
- Người trình pháp cần biết: Đối với đạo tràng Nikāya được thành lập trên một năm: Trưởng lớp sẽ sắp xếp người trình pháp trong các buổi học. Mỗi lần tu học sẽ có giờ trình chiếu một bài pháp do người trình pháp chọn. Người trình pháp sẽ thông báo trước một tuần bài pháp mà mình sẽ trình bày với lớp. Trong ngày tu học, sau khi xem xong video bài giảng, người trình pháp sẽ trình bày lại nội dung, lợi ích, tác dụng, giá trị, tầm quan trọng, điểm chính, điểm cần nhớ, điểm cần tu tập, điểm yêu thích trong bài pháp vừa nghe và lý do chọn bài pháp này để trình bày. Người trình pháp không quá 20 phút. Sau đó, người trình pháp chân thành mời các bạn đồng tu phát biểu, đóng góp ý kiến nếu thấy có thiếu xót trong sự trình bày của mình.
- Đạo hữu mới cần biết: Trưởng lớp hướng dẫn cách ăn và cách sinh hoạt của đạo tràng cho người mới đến. Cẩn thận khi giới thiệu người mới vào đạo tràng. Người giới thiệu phải chịu trách nhiệm về người mình giới thiệu. Nếu người không có lòng hướng về con đường này (dù mình đã giới thiệu nghe bài giảng rồi) thì không nên cố chấp, gượng ép mời vào đạo tràng, để tránh rắc rối cho sinh hoạt của đạo tràng sau này.
- Giữ lửa: Mục đích của đạo tràng Nikāya là giúp cho các vị đang muốn đi vào thực hành lời Phật dạy trong kinh Nikāya có được một môi trường tu tập lành mạnh, trong sạch, đúng pháp, có thể duy trì và phát triển ngọn đèn trí tuệ của Nikāya trong tự thân. Vì vậy, để làm quen, ổn định và duy trì ngọn lửa Nikāya trong tự thân và giúp duy trì ngọn lửa Nikāya cho đạo hữu trong đạo tràng, nên các đạo tràng Nikāya cố gắng sinh hoạt ổn định 2 lần trong tháng, vào thứ bảy hoặc chủ nhật, nếu nhiều hơn càng tốt.
./.