Diệt Trừ Chấp Ngã
Tinh Hoa Nikāya
Diệt Trừ Chấp Ngã
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Chấp ngã PAGEREF _Toc162705407 \h 1
II. Vô ngã PAGEREF _Toc162705408 \h 2
III. Sự nguy hại của chấp ngã PAGEREF _Toc162705409 \h 6
IV. Hóa giải PAGEREF _Toc162705410 \h 8
I. Chấp ngã
Hôm nay chúng ta có một phương pháp thực tập rất quan trọng trong sự tu học, đó là phương pháp thực tập diệt trừ chấp ngã. Có hai gia đình ở cạnh nhau, một gia đình êm ấm, hòa thuận, còn gia đình kế bên thường xuyên gây gổ, bất hòa, cãi vã, một tháng là cãi nhau đủ 30 ngày. Một hôm hai gia đình có dịp hóng mát ngoài mái hiên, gia đình gây gổ hỏi nhà bên kia tại sao nhà đó êm ấm, hòa thuận, ít nghe cự cãi thì bên kia trả lời rằng do trong nhà ai cũng dở nên ít cự cãi, còn nhà bên kia ai cũng giỏi nên cự cãi nhiều.
Nhà này thấy lạ thì bên kia giải thích, nếu trong nhà có người vô ý để ly nước cạnh bàn, có thành viên trong gia đình đi ngang lỡ chạm vào rơi bể ly thì người này lập tức xin lỗi "em xin lỗi, em thật vô ý làm bể ly", người để ly ở mé bàn cũng xin lỗi "anh cũng xin lỗi, anh thật bất cẩn, nếu để ở trong bàn một tí thì đã không có chuyện gì xảy ra", hai bên nhận lỗi với nhau cho nên nhà êm ấm. Còn nhà bên đây làm bể ly sẽ bắt lỗi lại "tại sao để ly như vậy? Để mà không coi, không cẩn thận gì cả", người để cái ly ở mé bàn cũng cãi lại "tại sao đi mà không nhìn ngó, để ý gì hết", cả hai người ai cũng giỏi nên bất hòa, lục đục trong gia đình.
Sau khi nghe xong nhà gia đình hay cãi vã mới hiểu ra vấn đề, nhìn thấy cái dở, cái sơ sót của mình, cái không cẩn thận của mình rồi biết nhận lỗi, xin lỗi, sửa lỗi, hạ thấp cái tôi xuống, sống khiêm tốn, khiêm hạ, khiêm nhường, khiêm cung thì gia đình an vui, hòa thuận, còn trong gia đình mà ai cũng cho rằng mình hay, mình giỏi, mình đúng thì có bất hòa, cãi nhau rồi xảy ra đổ vỡ, tan nát, phân ly hoặc xảy ra án mạng chỉ vì một câu nói, một hành động mà ai cũng cho rằng mình đúng, mình phải, cũng cho mình hợp lý.
Qua câu chuyện thực tế, bình dị trong đời sống để thấy rằng bản ngã này, chấp ngã này, cái ta, cái tôi làm cho gia đình bất an, lục đục, xào xáo, cãi nhau, thậm chí ẩu đả cho đến xảy ra những điều vô cùng đáng tiếc. Đức Thế Tôn nói người ngu biết mình ngu mới thành người có trí, còn người ngu mà cứ nghĩ mình có chí thì đó là chí ngu.
"Người ngu nghĩ mình ngu,
Nhờ vậy thành có trí.
Người ngu tưởng có trí,
Thật xứng gọi chí ngu"
(Kinh Pháp Cú 05 – Phẩm Ngu, kệ 63)
Như vậy mình là người ngu hay là người thông minh? Cứ nghĩ mình thông minh nhưng thật ra là vô minh, chữ "ngu" là tiếng thế gian còn tiếng trong đạo là vô minh, mình vô minh mà cứ nghĩ là thông minh nên đi đến đâu cũng gây chuyện, mọi suy nghĩ, cử chỉ, hành động đều có cái tôi, cái ta trong đó.
Thân trống rỗng không ai trong đó
Thế mà vỗ ngực nói ta đây
Như một bao rác đầy hôi thối
Lại vỗ vào bao nói ta tôi.
Vì chúng ta không thấy bản chất sự thật của thân này, không thấy không biết, không thấu suốt một cách đúng đắn bản chất của sự thật thân này nên chúng ta lầm tưởng, ảo tưởng về một cái tôi, về một tự ngã, ảo tưởng về một cái ta, trong suy nghĩ chúng ta lúc nào cũng đặt cái tôi trên đầu, tôi ở trung tâm vũ trụ nên làm khổ mình, khổ người.
Đầu tiên chúng ta phải biết chấp ngã là gì, bản ngã là gì, phải thấy được sự nguy hiểm và tác hại trong bản ngã này, chúng ta nhàm chán bản ngã để chúng ta có những phương pháp chế ngự, đoạn tận và thoát ra khỏi bản ngã hư ảo, khổ đau, hư danh này. Thật ra không có cái ngã, không có bản ngã, không có tự thể, không có một cái tôi thật sự nhưng vì chúng ta vô minh, không thấy không biết, mê lầm nên trong tâm lúc nào cũng có tư tưởng có một cái tôi, chính ý nghĩ, tư tưởng, cảm giác này vô tình gây nên sự ảo tưởng có thật sự một cái tôi, chứ thật sự không có cái tôi nào cả.
II. Vô ngã
Mình thường nói thân này của mình, thân này là mình, thân này là sở hữu của mình, mình là chủ nhân của thân này thì mình ra lệnh cho nó khỏe hoài đừng bệnh, ra lệnh cho nó đừng bị nhiễm dịch bệnh, ra lệnh cho nó trẻ mãi không già, ra lệnh cho nó không được chết thì có được không? Đức Thế Tôn đã nói thân này là vô chủ nhưng mình cứ lầm tưởng thân này là của tôi rồi tôi toàn quyền làm chủ, đó là sự ảo tưởng, mê muội.
"-- Thưa Ðại vương, có bốn sự thuyết giáo Chánh pháp, được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác giảng dạy. Do tôi biết, tôi thấy và tôi nghe thuyết giáo ấy, mà tôi xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Thế nào là bốn?
"Thế giới là vô thường, đi đến hủy diệt", thưa Ðại vương, đó là thuyết giáo Chánh pháp thứ nhất, do Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, thuyết giảng. Do tôi biết, tôi thấy và tôi nghe thuyết giáo ấy, mà tôi xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
"Thế giới (thân này) là vô hộ, vô chủ", thưa Ðại vương, đó là thuyết giáo Chánh pháp thứ hai, do Thế Tôn, bậc Tri Giả. Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác thuyết giảng. Do tôi biết, tôi thấy và tôi nghe thuyết giáo ấy, mà tôi xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
"Thế giới là vô sở hữu, ra đi cần phải từ bỏ tất cả", thưa Ðại vương đó là thuyết giáo Chánh pháp thứ ba, do Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác thuyết giảng. Do tôi biết, tôi thấy, tôi nghe thuyết giáo ấy, mà tôi xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
"Thế giới là thiếu thốn, khao khát, nô lệ cho tham ái", thưa Ðại vương, đó là thuyết giáo Chánh pháp thứ tư, do Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác thuyết giảng. Do tôi biết, tôi thấy, tôi nghe thuyết giáo ấy, mà tôi xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
Thưa Ðại vương, đây là bốn sự thuyết giáo Chánh pháp, được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác giảng dạy. Do tôi biết, tôi thấy và tôi nghe thuyết giáo ấy, mà tôi xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình". (Trung Bộ Kinh, 82. Kinh Ratthapàla)
Thế giới chính là thân này. Thân này là thứ lắp ráp, kết hợp, là duyên sanh, vô thường, là thứ đổi thay liên tục, nó là thứ lệ thuộc vào đất, nước, gió, lửa, nó là thứ bị vô thường chi phối khốc liệt, có suy hao, có bệnh tật của tai nạn, nó bị già chết chi phối khốc liệt và mình hoàn toàn không thể làm chủ được nó vì thân này là vô chủ, vô ngã, vô sở hữu. Vì không hiểu chân xác, không thấy đúng hay còn gọi là không có chánh kiến nên chúng ta mới ảo tưởng, lầm tưởng, huyễn tưởng, mộng tưởng cho rằng có cái tôi.
Cái tôi chính là ý nghĩ cho rằng mấy chục kí lô thịt này tôi, thứ hai là chúng ta cho những cảm giác vui, buồn hay không vui buồn là tôi, thứ ba là chúng ta cho những hình bóng đó là tôi, thứ tư là cho rằng những suy tư, nghĩ ngợi đó là tôi, "tôi nghĩ", "tôi sướng", "tôi đang có tư tưởng", "tôi đang nhận thức", "tôi đang rõ biết", "tôi đang có nhận định, quan điểm như vậy", "tôi hiểu như vậy", đó là bản ngã ẩn mình trong tâm mê, bản ngã ẩn mình trong năm uẩn sắc; thọ; tưởng; hành; thức này, bản ngã bám vào trong năm tổ hợp này rồi làm hang ổ, làm sào huyệt, làm căn cứ địa trong đó.
"-Thân người, cảnh vật, đồ vật tứ đại là Sắc.
-Cảm giác dễ chịu, cảm giác khó chịu, cảm giác không dễ chịu, không khó chịu là Thọ.
-Bóng dáng thô tế trong tâm là Tưởng.
-Suy nghĩ nói thầm trong tâm là Hành.
-Rõ biết trong ngoài sáu trần là Thức". (Nghi thức tu học Nikāya)
Khi chúng ta đã thấy rõ năm nhóm, năm tổ hợp, năm thành phần, năm yếu tố này thì lúc đó thấy đúng, thoát khỏi cái ngu, thoát khỏi cái mê ngay đó, còn lúc nào không thấy rõ năm nhóm thì chúng ta dính chung với nó, chỉ thấy một cái tôi, một cái ta, một cái ngã thì đó là lúc chúng ta vô minh. Từ nhỏ đến lớn có khi nào chúng ta thoát được cái vô minh này không? Cái dại khờ, ngu muội của mình rất sâu dày, chỉ khi nào học chánh pháp của Đức Thế Tôn mới thấy được điều này, nếu không là vĩnh viễn và mãi mãi không thể thấy ra được vô minh, Thế Tôn đã nói rất nhiều lần trong kinh rằng không thể nói rõ được khởi điểm chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc.
"Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỳ-kheo, khởi điểm không thể nêu rõ đối với lưu chuyển luân hồi của các chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc". (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương IV. Tương Ưng Vô Thỉ (Anamatagga), I. Phẩm Thứ Nhất, I. Cỏ Và Củi)
Đại dương có thể khô kiệt nhưng nỗi khổ của chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc, chấp ngã trong năm uẩn này không có ngày chấm dứt. Thật là khủng khiếp! Sự chấp ngã, bản ngã, ảo tưởng về tự thân chính là những suy nghĩ, cảm giác, hình bóng, nhận thức cho rằng năm tổ hợp này là nó, là của nó, là tự ngã của nó, những tư tưởng, nhận thức đó gọi là chấp ngã, gọi là bản ngã, gọi là ảo tưởng về một tự ngã, sự ảo tưởng này là căn nguyên, nguồn cội của tất cả tham muốn, yêu thích, dục vọng, nắm bắt, tầm cầu, tranh giành, hơn thua, đấu đá, giết hại, làm khổ cho nhau.
Nguồn cơn của khổ đau là từ chấp ngã, từ sự ảo tưởng một cách sai lầm mà Thế Tôn gọi là tâm điên đảo, tưởng điên đảo, kiến điên đảo, tức là những suy nghĩ, hình bóng, cảm giác đều sai lầm, Đức Phật gọi là tà kiến, đó là cái thấy lệch lạc, cái thấy lầm lạc, thấy trong bóng đêm, cái thấy của kẻ mù lòa, cái thấy của kẻ quờ quạng giữa trời đêm, không trăng, không đèn. Đó là hiện trạng của tất cả hữu tình chúng sanh trong tam giới, nắm chặt vào trong sắc; thọ; tưởng; hành; thức này rồi cho rằng có một tự ngã, đó gọi là năm thủ uẩn. Năm thủ uẩn là sự nắm chặt vào năm tổ hợp này, từ đây có ra biết bao tham muốn, nóng giận, hơn thua, ganh đua, cho nên sự thực tập thường xuyên nhìn lại bản chất của thân này chỉ là tứ đại, chỉ là đất, nước, gió, lửa, lúc nào cũng tôi, ta, tao, mi, tớ nhưng khi đứt hơi rồi thì tôi ở đâu.
"Còn động còn ấm còn ta,
Động dừng ấm hết là ma ra đồng.
Thở than khóc lóc não lòng,
Thức thần theo nghiệp hết mong trùng phùng"
(Chiếc Thân Phút Chót - Thiền Viện Chân Không, 01.1985)
Vì vậy thân này là thứ lệ thuộc, thân này muốn tồn tại phải có rất nhiều điều kiện duy trì, hợp tác, hỗ trợ, giúp đỡ, chỉ cần thiếu một điều kiện thôi là thân này ngã xuống, sụp xuống, đổ xuống. Thở khì một cái là gió mất, lạnh ngắt là lửa mất, thân trương phình lên, nứt nẻ, mủ máu chảy ra là nước dần biến mất, thân này xanh xao, đen nám lại, phân hủy ra có giòi bò lổn ngổn ăn hết cơ thể, lâu ngày xương phân hủy thành cát bụi, ở đây chỉ mới nói đến sắc uẩn, trong đây có cái nào là mình, mình ra lệnh cho nó xem có được nữa không. Đang có cảm giác bực bội, sân hận rồi mình ra lệnh đừng giận nữa, mát mẻ đi thì thân này có nghe không?
Cho nên mình không hề làm chủ được thân này, vì vậy Đức Phật mới nói thân này là vô chủ, nó chỉ hoạt động theo nhân duyên, theo thói quen, theo vô minh, tập khí, chấp thủ của nó mà thôi cho nên sự tu rất cần tác ý để giáo dục, dạy dỗ, quở trách, rầy la, mắng chửi tâm ngu si, mê muội, giáo dục chừng nào cho chở thành tâm hiền ngoan thì lúc đó chúng ta thành công cho nên chúng ta không làm chủ được thân vật chất tứ đại này, nó sẽ theo vô thường tan rã nhưng tu thành tựu có thể làm chủ được thọ; tưởng; hành; thức và làm chủ được một phần của sắc, các bậc đã đoạn tận tham, sân, si, đoạn tận vô minh, bản ngã là những vị làm chủ thân tâm. Còn bây giờ đang tham muốn mà mình ra lệnh không tham muốn nữa thì thân không bao giờ nghe lời, tham cứ tham, muốn cứ muốn, dục cứ dục, ái cứ ái.
III. Sự nguy hại của chấp ngã
Đầu tiên chúng ta thấy được chấp ngã là gì, bản ngã là gì. Thứ hai chúng ta thấy được thật sự không có bản ngã, không có cái tôi mà năm uẩn này vô chủ, vô sở hữu, ra đi từ bỏ tất cả, chúng ta thường nhớ như vậy, thường nghĩ như vậy, thường tác ý quán chiếu như vậy để tháo gỡ, xoay đầu chuyển não những nhận thức mê lầm, sai lầm, sai quấy.
Sau đây chúng ta đi vào sự nguy hiểm và tác hại của bản ngã, trở lại cây chuyện ban đầu, ai cũng giỏi, ai cũng cho mình hay, mình hơn thì trong nhà xảy ra chia rẽ, hờn giận, cự cãi, chúng ta sẽ nói từ thô đến tế để thấy sự nguy hiểm và ác độc của bản ngã. Có đứa con mười mấy tuổi về xin tiền mẹ mua xe máy, người mẹ không những không cho còn mắng chửi, đánh nó nên đứa con sanh khởi bản ngã và sân hận sanh, khi thấy người mẹ đội nón lá thì đứa con lấy quai nón lá siết cổ người mẹ đến chết rồi lấy tiền vàng, bỏ xác mẹ vào lu nước, dán băng keo kín lại rồi đứa con đem tiền mua xe đi chơi với bạn.
Mấy ngày sau người cha đi tìm vợ thì ngửi thấy mùi hôi khủng khiếp trong những cái lu, người cha mấy lần muốn mở ra thì đứa con nghịch tử ngăn cản nhưng khi mùi hôi thối nồng nặc không chịu nổi nữa phải mở ra mới thấy kinh hoàng, xác người vợ đang trong quá trình phân hủy. Vậy là người con giết mẹ, vì những lời nói, hành động của mẹ la mắng, quở trách mà đứa con sanh khởi ra bản ngã, ta đây.
"Không ai độc ác bằng bản ngã,
Không ai tị hiềm bằng cái tôi,
Không ai dối lừa bằng cái ngã,
Không ai hại mình bằng cái ta"
(Nghi thức tu học Nikāya)
Chúng ta cứ nghĩ có ai hại mình nhưng khi suy xét sâu sắc bằng tinh thần chánh pháp được Đức Phật dạy thì không ai hại mình bằng bản ngã. Nếu lúc đó người mẹ không đánh mắng mà nói nhẹ nhàng sẽ không xảy ra chuyện đau lòng như vậy, cũng vì cái tôi của bà mẹ, cũng vì cái tôi của đứa con cộng với lòng tham muốn, tham dục muốn có chiếc xe, khi bản ngã sanh khởi lên rồi là không còn mẹ con, không còn cha mẹ, không còn tình nghĩa, lễ giáo, sự hiếu thảo gì nữa.
Quý vị đọc bài sám hối diệt ngã trong quyển Nghi thức tu học Nikāya để nhắc nhở bản thân không ai ác độc bằng bản ngã, không ai giết mình bằng tự cái tôi này, vì bản ngã đó mà bà mẹ nói ra những lời nói, làm ra những hành động và đứa con cũng vì bị chạm vào cái tôi mà sanh khởi ra sân hận. Lúc đó mất hết tất cả hiếu nghĩa, đạo đức, ân sâu nghĩa nặng đều sụp đổ, tan nát nên trở thành thảm án nhưng không phải một chuyện như vầy mà có rất nhiều chuyện như vậy đã xảy ra.
Mình lấy những vụ án xảy ra hằng ngày để chiêm nghiệm, chồng đổ xăng vào vợ rồi bật lửa đốt, con bị mắng chửi rồi lấy cuốc đập vào người cha đến chết, đó là những Thánh chuông cảnh báo cho chúng ta biết bản ngã này rất nguy hại, là hiểm họa, là ác độc nhất trên đời, không phải bất cứ ai bên ngoài hại mình mà chính cái tôi, cái ta, bản ngã của mình hại mình, có khi lấy quyền làm cha mẹ, lấy quyền làm người lớn mà không nghĩ đến cảm nhận của con mình, lấy quyền làm chồng mà không nghĩ đến cảm nhận người vợ, thể hiện bản ngã của người anh mà không hiểu tâm trạng, cảm xúc của người em, như vậy huynh đệ tương tàn, cha con, mẹ con, vợ chồng hủy hoại, hành hạ nhau, sống chung trong nhà như địa ngục trần gian, trải qua những tháng ngày đầy nước mắt, có những cảm thọ đau đớn, khổ sở vì người nào cũng cho mình đúng, mình hay, mình phải nên vợ chồng phân ly, anh em chia lìa, cha con hờn giận, bạn bè thành kẻ thù, thậm chí thầy trò quay lưng nói xấu nhau, tất cả đều do cái tôi, cái ta, cái ngã.
Mình cứ nhìn kĩ trong gia đình hay có bất hòa, không an ổn đều do bản ngã chứ không có gì khác, dùng Thánh trí huệ của Đức Phật soi vào mới thấy được sự sâu sắc, thậm chí vào chùa tu rồi cũng vác bản ngã to đùng theo, cũng giận hờn, phiền não, thậm chí giận luôn thầy, ngoài miệng kêu sư phụ nhưng bản ngã sanh khởi lên cũng giận, cũng hơn thua nên cứ học hoài, học đến chết cũng không nhiếp phục được tham, sân, si, vô minh, bản ngã vì sự chấp thủ của chúng ta quá cứng chắc, sâu dày. Bây giờ phải thấy xấu hổ, thẹn thùng, xót xa.
IV. Hóa giải
Từ lâu con sống trong mê muội,
Không biết tâm mình rất uế nhơ.
Dục, ái, sân, si, không xấu hổ.
Bản ngã vươn cao, chẳng thẹn thùng.
(Nghi thức tu học Nikāya)
Từ lâu mình đã sống trong mê muội, cứ ảo tưởng tấm thân này là hay, là giỏi, là tài, ganh đua với nhau, hơn thua với nhau, cạnh tranh, giành giật với nhau. Đừng nói gì người dưng mà đến cha mẹ cũng khởi bản ngã với họ, ngay cả chồng con mình cũng khởi cái tôi, ngay cả anh em ruột nói vài câu là cự cãi.
Nay thấy tâm mình lắm bùn nhơ,
Rác bẩn hồ tâm đã ngập bờ,
Đáy nước hồ tâm toàn cấu uế,
Thật quá ê chề, quá chán chê.
Chán chê cho cái ngã u mê,
Dối trá, hơn thua, thật não nề.
Chẳng biết vô thường và ảo mộng,
Chẳng biết cuộc đời vốn rỗng không.
Mau tỉnh lại nhìn cuộc sống đi,
Bản ngã cho ta được cái gì?
Phiền não, hư danh và trống rỗng,
Mau tỉnh lại nhìn, ta được chi?
(Nghi thức tu học Nikāya)
Ta được cái gì với bản ngã vênh váo này? Dương dương tự đắc, cống cao ngã mạn, khen mình chê người để rồi được cái gì ngoài nước mắt, buồn đau, không ai ưa thích, không ai muốn lại gần. Bản ngã là một thứ hôi thối, là một thứ dơ bẩn, bản ngã là một thứ nhục nhã của người tu, mỗi lần sanh khởi lên sự hơn thua thì phải tác ý "Bản ngã ơi! Ta nhục mới mi quá, ta xấu hổ với mi quá. Ta thấy hèn hạ quá, ngươi tồi bại quá. Ngươi hơn thua với cha mẹ, chồng con, anh em ruột thịt, ngươi hơn thua với những người có ân nghĩa, với thầy, với huynh đệ. Ngươi có thấy xấu hổ không? Ngươi tan biến hoàn toàn khỏi tâm ta đi, ngươi tan biến thành mây, thành khói đi, đừng bao giờ sanh khởi trở lại trong tương lai nữa".
Mỗi lần sanh khởi cảm giác muốn hơn thua, vênh váo thì mình phải tự nhắc nhở, dạy dỗ, huấn luyện cảm giác, đánh đuổi những suy nghĩ, cảm giác, tư tưởng đó ra để tâm được an tịnh, lắng dịu, hiền lành, dễ thương. Đây là pháp thực tập vô cùng quan trọng nhưng vì thời gian ngắn nên Minh Thành chỉ nói gói gọn, đây là phương pháp thực tập quyết định của người tu, từ cư sĩ cho đến xuất gia.
Bây giờ chúng ta đi qua cách nhiếp phục, chế ngự và diệt trừ chấp ngã. Mình biết rằng cái ác độc nhất trên cuộc đời này chính là ý nghĩ "ta, tôi", ý nghĩ hơn thua, ý nghĩ cho rằng mình hay, mình giỏi, mình tài, mình hướng vào tâm đánh đuổi những ý nghĩ, hình bóng, suy tư đó. Mình thường quán tưởng hình ảnh mình quỳ xuống, cúi đầu xuống lạy những người mà mình sanh khởi bản ngã với họ, bây giờ mình có lỗi với cha mẹ, ông bà, cô chú nhưng chưa quen thì tập quỳ lạy trước bàn Phật rồi tưởng ra cha mẹ, ông bà, cô chú đang ngồi trước mặt để mình hạ thấp cái tôi, cái ta này. Sau khi thực tập như vậy trong tâm tưởng một thời gian sẽ quen, lúc đầu rất ngại ngùng và có tâm lý chống đối nhưng bắt buộc phải quỳ lạy thì sẽ quen, khi đã quen thì mình sẽ quỳ lạy thực sự ở bên ngoài.
Cái ngã, cái ta mau cúi xuống,
Cúi xuống cho mau cái ngã này,
Chính ngươi là kẻ làm ta khổ,
Ngươi nhận chìm ta trong tử sanh
Ngươi mau quỳ xuống, mau quỳ xuống
Cái bản ngã này, quỳ xuống mau.
Ngươi sát hại ta bao nhiêu kiếp,
Giờ ngươi tiếp tục hại ta ư.
(Nghi thức tu học Nikāya)
Mình nhắc nhở tâm như vậy trước khi sanh khởi bản ngã, trong khi sanh khởi bản ngã và sau khi đã hết sanh khởi. Hỡi hình ảnh ảo tưởng về tự thân, tự ngã này mau quỳ mọp xuống, cúi đầu xuống.
Hại ta, ngươi hại thế đủ rồi.
Giết ta, ngươi giết thế vừa chưa?
Giờ ta đã thấy ngươi, bản ngã
Hãy biến, hãy tan khỏi tâm ta.
(Nghi thức tu học Nikāya)
Hãy tan biến khỏi tâm ta đi, đừng đầu độc ta nữa. Giết hại nhau chỉ vì cho rằng người kia nhìn đểu mình, đó là sự nguy hại khủng khiếp khôn lường của bản ngã ác độc này.
Nếu ngươi còn đó, chẳng biến tan,
Thì kẻ ác gian, cúi xuống nào,
Ngươi mau quỳ xuống, mau sám hối,
Cúi đầu thật sát, sám hối mau.
Ngươi mau quỳ mọp sát đất mau
Bản ngã này ngươi quỳ xuống nào.
Sao ngươi còn ngẩng đầu lên nữa,
Quỳ mau, ngã quỳ mọp xuống mau.
Ta đã chịu nhiều những khổ đau,
Ta đã bị ngươi hại quá nhiều,
Nước mắt ta nhiều hơn biển lớn,
Xác ta chồng chất hơn núi cao.
Bản ngã quỳ mọp xuống đất mau!
Ta chẳng cho ngươi ngẩng cao đầu.
Ngươi còn cao ngạo, ta còn khổ,
Ta quyết diệt trừ bản ngã ngươi.
Hãy biến tan đi, kẻ giết người!
Giết người vô lượng kiếp vừa qua.
Giờ ta phải thấy ngươi thật rõ,
Nếu không ngươi lại giết hại ta.
(Nghi thức tu học Nikāya)
Biết bao tham, sân, si, thù hận, bao nhiêu lòng ganh ghét, đố kỵ này đều từ bản ngã.
Mau quỳ xuống lạy bậc chân nhân
Mau quỳ xuống lễ bậc cha, thầy
Mau quỳ xuống lạy bậc chánh kiến
Mau quỳ xuống lạy bậc thiện lương.
(Nghi thức tu học Nikāya)
Hình ảnh nội tâm lúc nào cũng là hình ảnh khiêm cung, khiêm hạ, khiêm nhường, khiêm tốn, khiêm nhã, lúc nào hình ảnh trong tự thân cũng là hình ảnh cúi đầu xuống và lạy dưới tất cả mọi người giống như lạy Phật, bây giờ không chỉ lạy Phật nữa mà lạy dưới tất cả mọi người để phá tan cái ảo tưởng về tự ngã, nó chỉ làm cho mình khổ đau chứ không được gì cả. Sự khiêm hạ càng nhiều chừng nào thì trí tuệ mình càng thâm sâu chừng đó, đức độ càng rộng, từ tâm càng quảng đại chừng đó cho nên hãy cố gắng thực tập hình ảnh này.
Trong đạo tràng Nikāya có một Phật tử đã ứng dụng phương pháp sám hối diệt ngã này, đó là hai mẹ con ở ngoài Hà Nội nhưng không ai thông cảm cho ai, đứa con còn nhỏ nhưng rất mê game, bà mẹ thì nói lời cộc cằn, bản ngã nên hai bên có sự mâu thuẫn lớn nên sống thường hành hạ nhau. Bà mẹ thực tập phương pháp sám hối diệt ngã, thường quán tưởng hình ảnh mình cúi đầu chắp tay lễ lạy cho đến một lúc người mẹ này nói chuyện với đứa con mà chắp tay quỳ lạy trước mặt con.
Lúc đó đứa con chỉ mới mười mấy tuổi nhưng đã nhận thức được điều kì lạ nên nó cũng sụp xuống chắp tay, hai mẹ con ràng rụa nước mắt sám hối diệt ngã với nhau, ôm nhau khóc òa trong dòng nước mắt nhận lỗi, xin lỗi và sửa đổi trong hạnh phúc. Ngày nay hai mẹ con sống hài hòa, đứa con biết hiếu thảo, kính trọng, cả mẹ lẫn con trở thành những người tu hành tinh tấn trong đạo tràng Nikāya tại Hà Nội, đó là người thật việc thật, là lợi ích của sám hối diệt ngã.
Còn trong đạo tràng Sài Gòn cũng có người thật việc thật, cô này có những lời nói, hành động làm em chồng hiểu lầm kéo dài hơn mười năm, chuyện này không chỉ riêng hai người mà còn liên lụy đến cha mẹ hai bên. Cô này bị hiểu lầm nên vào trong đạo tràng Nikāya với những dòng nước mắt tuôn rơi, bị ray rứt, trạo hối trong tâm không biết làm sao hóa giải. Sau đó Minh Thành chia sẻ với cô bằng tất cả tấm lòng, Minh Thành hướng dẫn thực tập tâm hiền, thực tập tâm từ, thực tập sám hối diệt ngã, từ từ cô này mạnh dạn nói lời xin lỗi, có nhiều hành động xin lỗi, nhận lỗi, cuối cùng cô này hạ bản ngã của cô để lấy được sự thông cảm của đối phương, bây giờ gia đình tháo gỡ được hiểu lầm, ngộ nhận, mọi người được hạnh phúc.
Khi cô trở về Linh Quy Pháp Ấn thì cô lại tuôn trào những dòng lệ của hạnh phúc, khóc vì tháo gỡ được những oan trái, những sự hiểu lầm, nhờ phương pháp sám hối diệt ngã này mà cảm thông nhau, tha thứ cho nhau, xây dựng một gia đình bình an, an ổn, hòa hợp, đó là những lợi ích, giá trị, công năng và tác dụng của phương pháp sám hối diệt trừ bản ngã, của phương pháp thực tập suy nghĩ khiêm nhường, nói lời khiêm hạ, hành động khiêm tốn bằng tâm hiểu thương.
Như vậy hôm nay Minh Thành cúng dường pháp bảo đến đại chúng phương pháp thực tập diệt trừ chấp ngã, mọi người cần nhớ bản ngã là sự ngộ nhận, ảo tưởng bám chấp vào trong năm uẩn, thứ hai là phải thấy được sự nguy hiểm và tác hại của bản ngã, nó làm đổ vỡ tình nghĩa, tình thân, ân đức sinh thành, thầy trò, huynh đệ, anh chị em, cha con, mẹ con, nếu không thực hành nhiếp phục nó thì bản ngã này sẽ phá vỡ hết tất cả đạo nghĩa tình thân, phá tan hạnh đức lễ giáo, sự bình yên trên cuộc đời này.
Phải biết cái ác độc thật sự và lớn nhất trên đời này chính là ý nghĩ cái tôi, cái ta, bản ngã, không ai làm hại mình bằng ý niệm hơn thua, ganh đua, bản ngã đó mới là thứ hại mình cho nên cần nhàm chán, ngao chán, khiếp sợ nó, không ưa thích, không muốn nó nữa, đánh đuổi nó ra khỏi thân tâm bằng sự tác ý "ngươi đã hại ta vô lượng vô biên kiếp, ta đã khổ vì người đủ rồi, ngươi hãy tan biến hoàn toàn đi, ngươi hãy tập quỳ lạy đi", lúc nào cũng an trú vào hình ảnh tự thân quỳ mọp xuống để lạy chẳng những người cao hơn, người ngang bằng mình mà lạy cả những người thấp hơn mình để mình có đời sống thật khiêm hạ, khiêm tốn, để mình thành con người nhân hậu, hiền hòa, đáng kính, để mình có gia đình bình yên, hạnh phúc trong tinh thần vô ngã, vị tha.
./.
Diệt Trừ Chấp Ngã
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Chấp ngã PAGEREF _Toc162705407 \h 1
II. Vô ngã PAGEREF _Toc162705408 \h 2
III. Sự nguy hại của chấp ngã PAGEREF _Toc162705409 \h 6
IV. Hóa giải PAGEREF _Toc162705410 \h 8
I. Chấp ngã
Hôm nay chúng ta có một phương pháp thực tập rất quan trọng trong sự tu học, đó là phương pháp thực tập diệt trừ chấp ngã. Có hai gia đình ở cạnh nhau, một gia đình êm ấm, hòa thuận, còn gia đình kế bên thường xuyên gây gổ, bất hòa, cãi vã, một tháng là cãi nhau đủ 30 ngày. Một hôm hai gia đình có dịp hóng mát ngoài mái hiên, gia đình gây gổ hỏi nhà bên kia tại sao nhà đó êm ấm, hòa thuận, ít nghe cự cãi thì bên kia trả lời rằng do trong nhà ai cũng dở nên ít cự cãi, còn nhà bên kia ai cũng giỏi nên cự cãi nhiều.
Nhà này thấy lạ thì bên kia giải thích, nếu trong nhà có người vô ý để ly nước cạnh bàn, có thành viên trong gia đình đi ngang lỡ chạm vào rơi bể ly thì người này lập tức xin lỗi "em xin lỗi, em thật vô ý làm bể ly", người để ly ở mé bàn cũng xin lỗi "anh cũng xin lỗi, anh thật bất cẩn, nếu để ở trong bàn một tí thì đã không có chuyện gì xảy ra", hai bên nhận lỗi với nhau cho nên nhà êm ấm. Còn nhà bên đây làm bể ly sẽ bắt lỗi lại "tại sao để ly như vậy? Để mà không coi, không cẩn thận gì cả", người để cái ly ở mé bàn cũng cãi lại "tại sao đi mà không nhìn ngó, để ý gì hết", cả hai người ai cũng giỏi nên bất hòa, lục đục trong gia đình.
Sau khi nghe xong nhà gia đình hay cãi vã mới hiểu ra vấn đề, nhìn thấy cái dở, cái sơ sót của mình, cái không cẩn thận của mình rồi biết nhận lỗi, xin lỗi, sửa lỗi, hạ thấp cái tôi xuống, sống khiêm tốn, khiêm hạ, khiêm nhường, khiêm cung thì gia đình an vui, hòa thuận, còn trong gia đình mà ai cũng cho rằng mình hay, mình giỏi, mình đúng thì có bất hòa, cãi nhau rồi xảy ra đổ vỡ, tan nát, phân ly hoặc xảy ra án mạng chỉ vì một câu nói, một hành động mà ai cũng cho rằng mình đúng, mình phải, cũng cho mình hợp lý.
Qua câu chuyện thực tế, bình dị trong đời sống để thấy rằng bản ngã này, chấp ngã này, cái ta, cái tôi làm cho gia đình bất an, lục đục, xào xáo, cãi nhau, thậm chí ẩu đả cho đến xảy ra những điều vô cùng đáng tiếc. Đức Thế Tôn nói người ngu biết mình ngu mới thành người có trí, còn người ngu mà cứ nghĩ mình có chí thì đó là chí ngu.
"Người ngu nghĩ mình ngu,
Nhờ vậy thành có trí.
Người ngu tưởng có trí,
Thật xứng gọi chí ngu"
(Kinh Pháp Cú 05 – Phẩm Ngu, kệ 63)
Như vậy mình là người ngu hay là người thông minh? Cứ nghĩ mình thông minh nhưng thật ra là vô minh, chữ "ngu" là tiếng thế gian còn tiếng trong đạo là vô minh, mình vô minh mà cứ nghĩ là thông minh nên đi đến đâu cũng gây chuyện, mọi suy nghĩ, cử chỉ, hành động đều có cái tôi, cái ta trong đó.
Thân trống rỗng không ai trong đó
Thế mà vỗ ngực nói ta đây
Như một bao rác đầy hôi thối
Lại vỗ vào bao nói ta tôi.
Vì chúng ta không thấy bản chất sự thật của thân này, không thấy không biết, không thấu suốt một cách đúng đắn bản chất của sự thật thân này nên chúng ta lầm tưởng, ảo tưởng về một cái tôi, về một tự ngã, ảo tưởng về một cái ta, trong suy nghĩ chúng ta lúc nào cũng đặt cái tôi trên đầu, tôi ở trung tâm vũ trụ nên làm khổ mình, khổ người.
Đầu tiên chúng ta phải biết chấp ngã là gì, bản ngã là gì, phải thấy được sự nguy hiểm và tác hại trong bản ngã này, chúng ta nhàm chán bản ngã để chúng ta có những phương pháp chế ngự, đoạn tận và thoát ra khỏi bản ngã hư ảo, khổ đau, hư danh này. Thật ra không có cái ngã, không có bản ngã, không có tự thể, không có một cái tôi thật sự nhưng vì chúng ta vô minh, không thấy không biết, mê lầm nên trong tâm lúc nào cũng có tư tưởng có một cái tôi, chính ý nghĩ, tư tưởng, cảm giác này vô tình gây nên sự ảo tưởng có thật sự một cái tôi, chứ thật sự không có cái tôi nào cả.
II. Vô ngã
Mình thường nói thân này của mình, thân này là mình, thân này là sở hữu của mình, mình là chủ nhân của thân này thì mình ra lệnh cho nó khỏe hoài đừng bệnh, ra lệnh cho nó đừng bị nhiễm dịch bệnh, ra lệnh cho nó trẻ mãi không già, ra lệnh cho nó không được chết thì có được không? Đức Thế Tôn đã nói thân này là vô chủ nhưng mình cứ lầm tưởng thân này là của tôi rồi tôi toàn quyền làm chủ, đó là sự ảo tưởng, mê muội.
"-- Thưa Ðại vương, có bốn sự thuyết giáo Chánh pháp, được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác giảng dạy. Do tôi biết, tôi thấy và tôi nghe thuyết giáo ấy, mà tôi xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Thế nào là bốn?
"Thế giới là vô thường, đi đến hủy diệt", thưa Ðại vương, đó là thuyết giáo Chánh pháp thứ nhất, do Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, thuyết giảng. Do tôi biết, tôi thấy và tôi nghe thuyết giáo ấy, mà tôi xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
"Thế giới (thân này) là vô hộ, vô chủ", thưa Ðại vương, đó là thuyết giáo Chánh pháp thứ hai, do Thế Tôn, bậc Tri Giả. Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác thuyết giảng. Do tôi biết, tôi thấy và tôi nghe thuyết giáo ấy, mà tôi xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
"Thế giới là vô sở hữu, ra đi cần phải từ bỏ tất cả", thưa Ðại vương đó là thuyết giáo Chánh pháp thứ ba, do Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác thuyết giảng. Do tôi biết, tôi thấy, tôi nghe thuyết giáo ấy, mà tôi xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
"Thế giới là thiếu thốn, khao khát, nô lệ cho tham ái", thưa Ðại vương, đó là thuyết giáo Chánh pháp thứ tư, do Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác thuyết giảng. Do tôi biết, tôi thấy, tôi nghe thuyết giáo ấy, mà tôi xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
Thưa Ðại vương, đây là bốn sự thuyết giáo Chánh pháp, được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác giảng dạy. Do tôi biết, tôi thấy và tôi nghe thuyết giáo ấy, mà tôi xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình". (Trung Bộ Kinh, 82. Kinh Ratthapàla)
Thế giới chính là thân này. Thân này là thứ lắp ráp, kết hợp, là duyên sanh, vô thường, là thứ đổi thay liên tục, nó là thứ lệ thuộc vào đất, nước, gió, lửa, nó là thứ bị vô thường chi phối khốc liệt, có suy hao, có bệnh tật của tai nạn, nó bị già chết chi phối khốc liệt và mình hoàn toàn không thể làm chủ được nó vì thân này là vô chủ, vô ngã, vô sở hữu. Vì không hiểu chân xác, không thấy đúng hay còn gọi là không có chánh kiến nên chúng ta mới ảo tưởng, lầm tưởng, huyễn tưởng, mộng tưởng cho rằng có cái tôi.
Cái tôi chính là ý nghĩ cho rằng mấy chục kí lô thịt này tôi, thứ hai là chúng ta cho những cảm giác vui, buồn hay không vui buồn là tôi, thứ ba là chúng ta cho những hình bóng đó là tôi, thứ tư là cho rằng những suy tư, nghĩ ngợi đó là tôi, "tôi nghĩ", "tôi sướng", "tôi đang có tư tưởng", "tôi đang nhận thức", "tôi đang rõ biết", "tôi đang có nhận định, quan điểm như vậy", "tôi hiểu như vậy", đó là bản ngã ẩn mình trong tâm mê, bản ngã ẩn mình trong năm uẩn sắc; thọ; tưởng; hành; thức này, bản ngã bám vào trong năm tổ hợp này rồi làm hang ổ, làm sào huyệt, làm căn cứ địa trong đó.
"-Thân người, cảnh vật, đồ vật tứ đại là Sắc.
-Cảm giác dễ chịu, cảm giác khó chịu, cảm giác không dễ chịu, không khó chịu là Thọ.
-Bóng dáng thô tế trong tâm là Tưởng.
-Suy nghĩ nói thầm trong tâm là Hành.
-Rõ biết trong ngoài sáu trần là Thức". (Nghi thức tu học Nikāya)
Khi chúng ta đã thấy rõ năm nhóm, năm tổ hợp, năm thành phần, năm yếu tố này thì lúc đó thấy đúng, thoát khỏi cái ngu, thoát khỏi cái mê ngay đó, còn lúc nào không thấy rõ năm nhóm thì chúng ta dính chung với nó, chỉ thấy một cái tôi, một cái ta, một cái ngã thì đó là lúc chúng ta vô minh. Từ nhỏ đến lớn có khi nào chúng ta thoát được cái vô minh này không? Cái dại khờ, ngu muội của mình rất sâu dày, chỉ khi nào học chánh pháp của Đức Thế Tôn mới thấy được điều này, nếu không là vĩnh viễn và mãi mãi không thể thấy ra được vô minh, Thế Tôn đã nói rất nhiều lần trong kinh rằng không thể nói rõ được khởi điểm chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc.
"Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỳ-kheo, khởi điểm không thể nêu rõ đối với lưu chuyển luân hồi của các chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc". (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương IV. Tương Ưng Vô Thỉ (Anamatagga), I. Phẩm Thứ Nhất, I. Cỏ Và Củi)
Đại dương có thể khô kiệt nhưng nỗi khổ của chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc, chấp ngã trong năm uẩn này không có ngày chấm dứt. Thật là khủng khiếp! Sự chấp ngã, bản ngã, ảo tưởng về tự thân chính là những suy nghĩ, cảm giác, hình bóng, nhận thức cho rằng năm tổ hợp này là nó, là của nó, là tự ngã của nó, những tư tưởng, nhận thức đó gọi là chấp ngã, gọi là bản ngã, gọi là ảo tưởng về một tự ngã, sự ảo tưởng này là căn nguyên, nguồn cội của tất cả tham muốn, yêu thích, dục vọng, nắm bắt, tầm cầu, tranh giành, hơn thua, đấu đá, giết hại, làm khổ cho nhau.
Nguồn cơn của khổ đau là từ chấp ngã, từ sự ảo tưởng một cách sai lầm mà Thế Tôn gọi là tâm điên đảo, tưởng điên đảo, kiến điên đảo, tức là những suy nghĩ, hình bóng, cảm giác đều sai lầm, Đức Phật gọi là tà kiến, đó là cái thấy lệch lạc, cái thấy lầm lạc, thấy trong bóng đêm, cái thấy của kẻ mù lòa, cái thấy của kẻ quờ quạng giữa trời đêm, không trăng, không đèn. Đó là hiện trạng của tất cả hữu tình chúng sanh trong tam giới, nắm chặt vào trong sắc; thọ; tưởng; hành; thức này rồi cho rằng có một tự ngã, đó gọi là năm thủ uẩn. Năm thủ uẩn là sự nắm chặt vào năm tổ hợp này, từ đây có ra biết bao tham muốn, nóng giận, hơn thua, ganh đua, cho nên sự thực tập thường xuyên nhìn lại bản chất của thân này chỉ là tứ đại, chỉ là đất, nước, gió, lửa, lúc nào cũng tôi, ta, tao, mi, tớ nhưng khi đứt hơi rồi thì tôi ở đâu.
"Còn động còn ấm còn ta,
Động dừng ấm hết là ma ra đồng.
Thở than khóc lóc não lòng,
Thức thần theo nghiệp hết mong trùng phùng"
(Chiếc Thân Phút Chót - Thiền Viện Chân Không, 01.1985)
Vì vậy thân này là thứ lệ thuộc, thân này muốn tồn tại phải có rất nhiều điều kiện duy trì, hợp tác, hỗ trợ, giúp đỡ, chỉ cần thiếu một điều kiện thôi là thân này ngã xuống, sụp xuống, đổ xuống. Thở khì một cái là gió mất, lạnh ngắt là lửa mất, thân trương phình lên, nứt nẻ, mủ máu chảy ra là nước dần biến mất, thân này xanh xao, đen nám lại, phân hủy ra có giòi bò lổn ngổn ăn hết cơ thể, lâu ngày xương phân hủy thành cát bụi, ở đây chỉ mới nói đến sắc uẩn, trong đây có cái nào là mình, mình ra lệnh cho nó xem có được nữa không. Đang có cảm giác bực bội, sân hận rồi mình ra lệnh đừng giận nữa, mát mẻ đi thì thân này có nghe không?
Cho nên mình không hề làm chủ được thân này, vì vậy Đức Phật mới nói thân này là vô chủ, nó chỉ hoạt động theo nhân duyên, theo thói quen, theo vô minh, tập khí, chấp thủ của nó mà thôi cho nên sự tu rất cần tác ý để giáo dục, dạy dỗ, quở trách, rầy la, mắng chửi tâm ngu si, mê muội, giáo dục chừng nào cho chở thành tâm hiền ngoan thì lúc đó chúng ta thành công cho nên chúng ta không làm chủ được thân vật chất tứ đại này, nó sẽ theo vô thường tan rã nhưng tu thành tựu có thể làm chủ được thọ; tưởng; hành; thức và làm chủ được một phần của sắc, các bậc đã đoạn tận tham, sân, si, đoạn tận vô minh, bản ngã là những vị làm chủ thân tâm. Còn bây giờ đang tham muốn mà mình ra lệnh không tham muốn nữa thì thân không bao giờ nghe lời, tham cứ tham, muốn cứ muốn, dục cứ dục, ái cứ ái.
III. Sự nguy hại của chấp ngã
Đầu tiên chúng ta thấy được chấp ngã là gì, bản ngã là gì. Thứ hai chúng ta thấy được thật sự không có bản ngã, không có cái tôi mà năm uẩn này vô chủ, vô sở hữu, ra đi từ bỏ tất cả, chúng ta thường nhớ như vậy, thường nghĩ như vậy, thường tác ý quán chiếu như vậy để tháo gỡ, xoay đầu chuyển não những nhận thức mê lầm, sai lầm, sai quấy.
Sau đây chúng ta đi vào sự nguy hiểm và tác hại của bản ngã, trở lại cây chuyện ban đầu, ai cũng giỏi, ai cũng cho mình hay, mình hơn thì trong nhà xảy ra chia rẽ, hờn giận, cự cãi, chúng ta sẽ nói từ thô đến tế để thấy sự nguy hiểm và ác độc của bản ngã. Có đứa con mười mấy tuổi về xin tiền mẹ mua xe máy, người mẹ không những không cho còn mắng chửi, đánh nó nên đứa con sanh khởi bản ngã và sân hận sanh, khi thấy người mẹ đội nón lá thì đứa con lấy quai nón lá siết cổ người mẹ đến chết rồi lấy tiền vàng, bỏ xác mẹ vào lu nước, dán băng keo kín lại rồi đứa con đem tiền mua xe đi chơi với bạn.
Mấy ngày sau người cha đi tìm vợ thì ngửi thấy mùi hôi khủng khiếp trong những cái lu, người cha mấy lần muốn mở ra thì đứa con nghịch tử ngăn cản nhưng khi mùi hôi thối nồng nặc không chịu nổi nữa phải mở ra mới thấy kinh hoàng, xác người vợ đang trong quá trình phân hủy. Vậy là người con giết mẹ, vì những lời nói, hành động của mẹ la mắng, quở trách mà đứa con sanh khởi ra bản ngã, ta đây.
"Không ai độc ác bằng bản ngã,
Không ai tị hiềm bằng cái tôi,
Không ai dối lừa bằng cái ngã,
Không ai hại mình bằng cái ta"
(Nghi thức tu học Nikāya)
Chúng ta cứ nghĩ có ai hại mình nhưng khi suy xét sâu sắc bằng tinh thần chánh pháp được Đức Phật dạy thì không ai hại mình bằng bản ngã. Nếu lúc đó người mẹ không đánh mắng mà nói nhẹ nhàng sẽ không xảy ra chuyện đau lòng như vậy, cũng vì cái tôi của bà mẹ, cũng vì cái tôi của đứa con cộng với lòng tham muốn, tham dục muốn có chiếc xe, khi bản ngã sanh khởi lên rồi là không còn mẹ con, không còn cha mẹ, không còn tình nghĩa, lễ giáo, sự hiếu thảo gì nữa.
Quý vị đọc bài sám hối diệt ngã trong quyển Nghi thức tu học Nikāya để nhắc nhở bản thân không ai ác độc bằng bản ngã, không ai giết mình bằng tự cái tôi này, vì bản ngã đó mà bà mẹ nói ra những lời nói, làm ra những hành động và đứa con cũng vì bị chạm vào cái tôi mà sanh khởi ra sân hận. Lúc đó mất hết tất cả hiếu nghĩa, đạo đức, ân sâu nghĩa nặng đều sụp đổ, tan nát nên trở thành thảm án nhưng không phải một chuyện như vầy mà có rất nhiều chuyện như vậy đã xảy ra.
Mình lấy những vụ án xảy ra hằng ngày để chiêm nghiệm, chồng đổ xăng vào vợ rồi bật lửa đốt, con bị mắng chửi rồi lấy cuốc đập vào người cha đến chết, đó là những Thánh chuông cảnh báo cho chúng ta biết bản ngã này rất nguy hại, là hiểm họa, là ác độc nhất trên đời, không phải bất cứ ai bên ngoài hại mình mà chính cái tôi, cái ta, bản ngã của mình hại mình, có khi lấy quyền làm cha mẹ, lấy quyền làm người lớn mà không nghĩ đến cảm nhận của con mình, lấy quyền làm chồng mà không nghĩ đến cảm nhận người vợ, thể hiện bản ngã của người anh mà không hiểu tâm trạng, cảm xúc của người em, như vậy huynh đệ tương tàn, cha con, mẹ con, vợ chồng hủy hoại, hành hạ nhau, sống chung trong nhà như địa ngục trần gian, trải qua những tháng ngày đầy nước mắt, có những cảm thọ đau đớn, khổ sở vì người nào cũng cho mình đúng, mình hay, mình phải nên vợ chồng phân ly, anh em chia lìa, cha con hờn giận, bạn bè thành kẻ thù, thậm chí thầy trò quay lưng nói xấu nhau, tất cả đều do cái tôi, cái ta, cái ngã.
Mình cứ nhìn kĩ trong gia đình hay có bất hòa, không an ổn đều do bản ngã chứ không có gì khác, dùng Thánh trí huệ của Đức Phật soi vào mới thấy được sự sâu sắc, thậm chí vào chùa tu rồi cũng vác bản ngã to đùng theo, cũng giận hờn, phiền não, thậm chí giận luôn thầy, ngoài miệng kêu sư phụ nhưng bản ngã sanh khởi lên cũng giận, cũng hơn thua nên cứ học hoài, học đến chết cũng không nhiếp phục được tham, sân, si, vô minh, bản ngã vì sự chấp thủ của chúng ta quá cứng chắc, sâu dày. Bây giờ phải thấy xấu hổ, thẹn thùng, xót xa.
IV. Hóa giải
Từ lâu con sống trong mê muội,
Không biết tâm mình rất uế nhơ.
Dục, ái, sân, si, không xấu hổ.
Bản ngã vươn cao, chẳng thẹn thùng.
(Nghi thức tu học Nikāya)
Từ lâu mình đã sống trong mê muội, cứ ảo tưởng tấm thân này là hay, là giỏi, là tài, ganh đua với nhau, hơn thua với nhau, cạnh tranh, giành giật với nhau. Đừng nói gì người dưng mà đến cha mẹ cũng khởi bản ngã với họ, ngay cả chồng con mình cũng khởi cái tôi, ngay cả anh em ruột nói vài câu là cự cãi.
Nay thấy tâm mình lắm bùn nhơ,
Rác bẩn hồ tâm đã ngập bờ,
Đáy nước hồ tâm toàn cấu uế,
Thật quá ê chề, quá chán chê.
Chán chê cho cái ngã u mê,
Dối trá, hơn thua, thật não nề.
Chẳng biết vô thường và ảo mộng,
Chẳng biết cuộc đời vốn rỗng không.
Mau tỉnh lại nhìn cuộc sống đi,
Bản ngã cho ta được cái gì?
Phiền não, hư danh và trống rỗng,
Mau tỉnh lại nhìn, ta được chi?
(Nghi thức tu học Nikāya)
Ta được cái gì với bản ngã vênh váo này? Dương dương tự đắc, cống cao ngã mạn, khen mình chê người để rồi được cái gì ngoài nước mắt, buồn đau, không ai ưa thích, không ai muốn lại gần. Bản ngã là một thứ hôi thối, là một thứ dơ bẩn, bản ngã là một thứ nhục nhã của người tu, mỗi lần sanh khởi lên sự hơn thua thì phải tác ý "Bản ngã ơi! Ta nhục mới mi quá, ta xấu hổ với mi quá. Ta thấy hèn hạ quá, ngươi tồi bại quá. Ngươi hơn thua với cha mẹ, chồng con, anh em ruột thịt, ngươi hơn thua với những người có ân nghĩa, với thầy, với huynh đệ. Ngươi có thấy xấu hổ không? Ngươi tan biến hoàn toàn khỏi tâm ta đi, ngươi tan biến thành mây, thành khói đi, đừng bao giờ sanh khởi trở lại trong tương lai nữa".
Mỗi lần sanh khởi cảm giác muốn hơn thua, vênh váo thì mình phải tự nhắc nhở, dạy dỗ, huấn luyện cảm giác, đánh đuổi những suy nghĩ, cảm giác, tư tưởng đó ra để tâm được an tịnh, lắng dịu, hiền lành, dễ thương. Đây là pháp thực tập vô cùng quan trọng nhưng vì thời gian ngắn nên Minh Thành chỉ nói gói gọn, đây là phương pháp thực tập quyết định của người tu, từ cư sĩ cho đến xuất gia.
Bây giờ chúng ta đi qua cách nhiếp phục, chế ngự và diệt trừ chấp ngã. Mình biết rằng cái ác độc nhất trên cuộc đời này chính là ý nghĩ "ta, tôi", ý nghĩ hơn thua, ý nghĩ cho rằng mình hay, mình giỏi, mình tài, mình hướng vào tâm đánh đuổi những ý nghĩ, hình bóng, suy tư đó. Mình thường quán tưởng hình ảnh mình quỳ xuống, cúi đầu xuống lạy những người mà mình sanh khởi bản ngã với họ, bây giờ mình có lỗi với cha mẹ, ông bà, cô chú nhưng chưa quen thì tập quỳ lạy trước bàn Phật rồi tưởng ra cha mẹ, ông bà, cô chú đang ngồi trước mặt để mình hạ thấp cái tôi, cái ta này. Sau khi thực tập như vậy trong tâm tưởng một thời gian sẽ quen, lúc đầu rất ngại ngùng và có tâm lý chống đối nhưng bắt buộc phải quỳ lạy thì sẽ quen, khi đã quen thì mình sẽ quỳ lạy thực sự ở bên ngoài.
Cái ngã, cái ta mau cúi xuống,
Cúi xuống cho mau cái ngã này,
Chính ngươi là kẻ làm ta khổ,
Ngươi nhận chìm ta trong tử sanh
Ngươi mau quỳ xuống, mau quỳ xuống
Cái bản ngã này, quỳ xuống mau.
Ngươi sát hại ta bao nhiêu kiếp,
Giờ ngươi tiếp tục hại ta ư.
(Nghi thức tu học Nikāya)
Mình nhắc nhở tâm như vậy trước khi sanh khởi bản ngã, trong khi sanh khởi bản ngã và sau khi đã hết sanh khởi. Hỡi hình ảnh ảo tưởng về tự thân, tự ngã này mau quỳ mọp xuống, cúi đầu xuống.
Hại ta, ngươi hại thế đủ rồi.
Giết ta, ngươi giết thế vừa chưa?
Giờ ta đã thấy ngươi, bản ngã
Hãy biến, hãy tan khỏi tâm ta.
(Nghi thức tu học Nikāya)
Hãy tan biến khỏi tâm ta đi, đừng đầu độc ta nữa. Giết hại nhau chỉ vì cho rằng người kia nhìn đểu mình, đó là sự nguy hại khủng khiếp khôn lường của bản ngã ác độc này.
Nếu ngươi còn đó, chẳng biến tan,
Thì kẻ ác gian, cúi xuống nào,
Ngươi mau quỳ xuống, mau sám hối,
Cúi đầu thật sát, sám hối mau.
Ngươi mau quỳ mọp sát đất mau
Bản ngã này ngươi quỳ xuống nào.
Sao ngươi còn ngẩng đầu lên nữa,
Quỳ mau, ngã quỳ mọp xuống mau.
Ta đã chịu nhiều những khổ đau,
Ta đã bị ngươi hại quá nhiều,
Nước mắt ta nhiều hơn biển lớn,
Xác ta chồng chất hơn núi cao.
Bản ngã quỳ mọp xuống đất mau!
Ta chẳng cho ngươi ngẩng cao đầu.
Ngươi còn cao ngạo, ta còn khổ,
Ta quyết diệt trừ bản ngã ngươi.
Hãy biến tan đi, kẻ giết người!
Giết người vô lượng kiếp vừa qua.
Giờ ta phải thấy ngươi thật rõ,
Nếu không ngươi lại giết hại ta.
(Nghi thức tu học Nikāya)
Biết bao tham, sân, si, thù hận, bao nhiêu lòng ganh ghét, đố kỵ này đều từ bản ngã.
Mau quỳ xuống lạy bậc chân nhân
Mau quỳ xuống lễ bậc cha, thầy
Mau quỳ xuống lạy bậc chánh kiến
Mau quỳ xuống lạy bậc thiện lương.
(Nghi thức tu học Nikāya)
Hình ảnh nội tâm lúc nào cũng là hình ảnh khiêm cung, khiêm hạ, khiêm nhường, khiêm tốn, khiêm nhã, lúc nào hình ảnh trong tự thân cũng là hình ảnh cúi đầu xuống và lạy dưới tất cả mọi người giống như lạy Phật, bây giờ không chỉ lạy Phật nữa mà lạy dưới tất cả mọi người để phá tan cái ảo tưởng về tự ngã, nó chỉ làm cho mình khổ đau chứ không được gì cả. Sự khiêm hạ càng nhiều chừng nào thì trí tuệ mình càng thâm sâu chừng đó, đức độ càng rộng, từ tâm càng quảng đại chừng đó cho nên hãy cố gắng thực tập hình ảnh này.
Trong đạo tràng Nikāya có một Phật tử đã ứng dụng phương pháp sám hối diệt ngã này, đó là hai mẹ con ở ngoài Hà Nội nhưng không ai thông cảm cho ai, đứa con còn nhỏ nhưng rất mê game, bà mẹ thì nói lời cộc cằn, bản ngã nên hai bên có sự mâu thuẫn lớn nên sống thường hành hạ nhau. Bà mẹ thực tập phương pháp sám hối diệt ngã, thường quán tưởng hình ảnh mình cúi đầu chắp tay lễ lạy cho đến một lúc người mẹ này nói chuyện với đứa con mà chắp tay quỳ lạy trước mặt con.
Lúc đó đứa con chỉ mới mười mấy tuổi nhưng đã nhận thức được điều kì lạ nên nó cũng sụp xuống chắp tay, hai mẹ con ràng rụa nước mắt sám hối diệt ngã với nhau, ôm nhau khóc òa trong dòng nước mắt nhận lỗi, xin lỗi và sửa đổi trong hạnh phúc. Ngày nay hai mẹ con sống hài hòa, đứa con biết hiếu thảo, kính trọng, cả mẹ lẫn con trở thành những người tu hành tinh tấn trong đạo tràng Nikāya tại Hà Nội, đó là người thật việc thật, là lợi ích của sám hối diệt ngã.
Còn trong đạo tràng Sài Gòn cũng có người thật việc thật, cô này có những lời nói, hành động làm em chồng hiểu lầm kéo dài hơn mười năm, chuyện này không chỉ riêng hai người mà còn liên lụy đến cha mẹ hai bên. Cô này bị hiểu lầm nên vào trong đạo tràng Nikāya với những dòng nước mắt tuôn rơi, bị ray rứt, trạo hối trong tâm không biết làm sao hóa giải. Sau đó Minh Thành chia sẻ với cô bằng tất cả tấm lòng, Minh Thành hướng dẫn thực tập tâm hiền, thực tập tâm từ, thực tập sám hối diệt ngã, từ từ cô này mạnh dạn nói lời xin lỗi, có nhiều hành động xin lỗi, nhận lỗi, cuối cùng cô này hạ bản ngã của cô để lấy được sự thông cảm của đối phương, bây giờ gia đình tháo gỡ được hiểu lầm, ngộ nhận, mọi người được hạnh phúc.
Khi cô trở về Linh Quy Pháp Ấn thì cô lại tuôn trào những dòng lệ của hạnh phúc, khóc vì tháo gỡ được những oan trái, những sự hiểu lầm, nhờ phương pháp sám hối diệt ngã này mà cảm thông nhau, tha thứ cho nhau, xây dựng một gia đình bình an, an ổn, hòa hợp, đó là những lợi ích, giá trị, công năng và tác dụng của phương pháp sám hối diệt trừ bản ngã, của phương pháp thực tập suy nghĩ khiêm nhường, nói lời khiêm hạ, hành động khiêm tốn bằng tâm hiểu thương.
Như vậy hôm nay Minh Thành cúng dường pháp bảo đến đại chúng phương pháp thực tập diệt trừ chấp ngã, mọi người cần nhớ bản ngã là sự ngộ nhận, ảo tưởng bám chấp vào trong năm uẩn, thứ hai là phải thấy được sự nguy hiểm và tác hại của bản ngã, nó làm đổ vỡ tình nghĩa, tình thân, ân đức sinh thành, thầy trò, huynh đệ, anh chị em, cha con, mẹ con, nếu không thực hành nhiếp phục nó thì bản ngã này sẽ phá vỡ hết tất cả đạo nghĩa tình thân, phá tan hạnh đức lễ giáo, sự bình yên trên cuộc đời này.
Phải biết cái ác độc thật sự và lớn nhất trên đời này chính là ý nghĩ cái tôi, cái ta, bản ngã, không ai làm hại mình bằng ý niệm hơn thua, ganh đua, bản ngã đó mới là thứ hại mình cho nên cần nhàm chán, ngao chán, khiếp sợ nó, không ưa thích, không muốn nó nữa, đánh đuổi nó ra khỏi thân tâm bằng sự tác ý "ngươi đã hại ta vô lượng vô biên kiếp, ta đã khổ vì người đủ rồi, ngươi hãy tan biến hoàn toàn đi, ngươi hãy tập quỳ lạy đi", lúc nào cũng an trú vào hình ảnh tự thân quỳ mọp xuống để lạy chẳng những người cao hơn, người ngang bằng mình mà lạy cả những người thấp hơn mình để mình có đời sống thật khiêm hạ, khiêm tốn, để mình thành con người nhân hậu, hiền hòa, đáng kính, để mình có gia đình bình yên, hạnh phúc trong tinh thần vô ngã, vị tha.
./.