Pháp Tưởng Pháp Tư-Khi Bệnh Và Buồn Chán Tu Ra Sao-Tâm Từ Giải Nghiệp Oan Gia
Pháp Đàm Nikāya
PHÁP TƯỞNG PHÁP TƯ
KHI BỆNH VÀ BUỒN CHÁN TU RA SAO?
TÂM TỪ GIẢI NGHIỆP OAN GIA
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Tầm quan trọng của đàm luận pháp PAGEREF _Toc80281543 \h 1
II.Pháp tưởng pháp tư PAGEREF _Toc80281544 \h 3
III.Tu thế nào khi bị bệnh PAGEREF _Toc80281545 \h 4
IV.Sám hối oan gia trái chủ PAGEREF _Toc80281546 \h 8
Tầm quan trọng của đàm luận pháp
Hiện tại không có ái dục thật là dễ chịu. Hiện tại không có sân hận thật là dễ chịu. Hiện tại không có trạo cử, không có dao động thật là dễ chịu. Hiện tại không có hôn trầm thật là dễ chịu. Hiện tại không có nghi hoặc thật là dễ chịu.
Ngay trong giây phút hiện tại không có tham dục, tham ái, dễ chịu thay. Ngay trong giây phút hiện giờ không có bực bội, khó chịu, sân hận, thật là dễ chịu, an tịnh, lắng dịu, thật là dễ chịu. Hiện tại không có hôn trầm, buồn ngủ, tâm sáng tỏ, rõ biết thật là dễ chịu. Hiện tại tâm an tịnh, thân lắng dịu thật là dễ chịu, ngọt ngào. Hiện tại không có nghi hoặc pháp, không có nghi ngờ đối với ngũ uẩn thật là dễ chịu. Dễ chịu nên năm triền cái không có mặt, tỉnh giác và chánh niệm trong giây phút hiện tại, thở vào thở ra. Ngay trong giây phút hiện tại cảm nhận sự nhẹ nhàng, sự an tịnh, sự sáng tỏ, sự thấy rõ thực tại, giây phút này thật là dễ chịu, thật là bình an, thật là an tịnh, an lạc.
Không tham dục thật là vui. Không rã rượi, hôn trầm, tỉnh táo, sáng suốt thật là vui. Không dao động, không trạo cử, tịnh chỉ, an tịnh, yên tịnh thật là vui. Ngồi yên thật là vui, thân tâm an tịnh mát dịu thật là vui, hiện tại không nghi ngờ, tâm sáng tỏ thật là vui, yên lặng thật là vui, an tịnh thật là vui. Tịnh chỉ các hành thật là vui, dừng lại sự vận hành đi theo ngũ uẩn thật là vui, thở vào thở ra cảm nhận sự nhẹ nhàng thật là vui, thở vào thở ra trong tỉnh sáng chánh niệm thật là vui. An trú trong tâm hiền hòa, hiền lương, hiền hậu thật là vui. An trú trong tâm hiền đức, hiền thiện thật là vui. An trú trong tâm hiền lành, hiền trí thật là vui. An trú trong lòng từ, trong tâm từ mẫn thật là vui. An trú trong tâm thương xót cho chính mình, thương xót cho những lậu hoặc, vô minh, dục ái của mình, thương xót cho chúng sanh hữu tình trong lòng bi mẫn, bao la, rộng mở thật là vui. An trú trong tâm không có năm triền cái và hiện tại lạc trú, an trú trong tâm hiền thiện là niềm hỷ lạc của thượng nhân pháp, an trú trong tâm từ hòa, từ ái, từ bi và an trú trong tâm của vua trời, trú xứ của Đức Như Lai, an trú trong lòng bi mẫn xót thương chính mình và chúng sanh hữu tình, an trú trong tâm thương rộng lớn, bao la và quảng đại. Khi trú trong những tâm này thật nhiều và thường xuyên thì chúng ta sẽ có sự bình an nơi núi rừng xa vắng, sẽ không thấy buồn chán, mệt mỏi trong sự tu học mà chỉ thấy hỷ lạc, hoan hỉ, hân hoan, hiện tại lạc trú, tâm hiền, tâm từ rộng lớn.
Chúng ta cần nhớ rằng người xuất gia khi gặp nhau chỉ có hai việc cần làm, thứ nhất là thực hành sự im lặng của bậc Thánh tức là thiền định, thứ hai là nói năng như Chánh Pháp tức là thảo luận pháp.
"Này các Tỳ-kheo, lành thay khi Thiện nam tử các Người, vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, cùng nhau hội họp để luận bàn đạo pháp. Này các Tỳ-kheo, khi các Người hội họp với nhau, có hai việc cần phải làm: luận bàn đạo pháp hay giữ sự im lặng của bậc Thánh". (Trung Bộ Kinh, 26. Kinh Thánh cầu)
Minh Thành có dặn dò thầy Nghĩa phải đặt hết tâm mình vào trong pháp và sự tu tập, thực chứng, ngoài ra những chuyện khác, những tài vật, những danh lợi ở ngoài đừng quan tâm nhiều, có các vị hộ pháp sẽ lo việc này. Vì vậy điều quan trọng của người xuất gia là học pháp, hành pháp và chứng ngộ pháp, thực chứng pháp. Chính vì vậy sự thiền định và nghe pháp, pháp đàm tuyệt đối quan trọng, đó là lý do Minh Thành thường để mọi người có buổi pháp đàm giữa các Tăng Ni và Phật tử. Mọi người đừng ngại pháp đàm, đừng nghĩ không biết gì để nói, nếu có tâm như vậy là không học được, ít nhất một tuần một lần phải có buổi pháp đàm. Ngày hôm đó mình sẽ chia sẻ với nhau những sự khó khăn, những nội kết tức là những nút thắt trong tâm. Trong buổi pháp đàm đó sẽ nhờ kiến hòa đồng giải của đại chúng soi sáng, tháo gỡ cho mình, điều này rất quan trọng.
Cho nên, dù Minh Thành chỉ còn hơi thở cuối cùng cũng không bỏ pháp. Dù cho có gì đi nữa mỗi ngày mình phải có giờ nghe pháp và học pháp, vì nếu rời xa pháp sẽ chết lập tức, rời xa pháp là đi vào lãnh vực của vô minh. Đó là lý do tại sao giảng xong rồi nhưng nhiều khi còn phần trình pháp, thảo luận, đó là lý do để đại chúng trú trong pháp dài lâu. Vì nếu mình trú trong pháp càng lâu, càng có thọ; tưởng; hành đối với pháp, đối với minh, đối với trí, đối với sự thật khổ đau, đối với những phiền não thì mình sẽ được tỉnh táo, còn buông ra sẽ trở về si mê lập tức, đó là lý do phải học pháp, nghe pháp, pháp đàm thường xuyên. Nếu nói thì hãy nói những gì trong pháp, còn không thì thiền định tu tập. Vì thế các vị Ni sư, những vị tu học lâu năm lên núi là cơ học để mình học hỏi, nhìn lại sự tu học của mình để thấy mình học tới đâu, hiểu tới đâu, tu tới đâu và lợi ích của pháp như thế nào. Đây là cơ hội để học tập, rèn luyện, chia sẻ, nhìn nhận và thấy biết chính mình, vì thế đại chúng đừng ngại ngùng các buổi pháp đàm, có những tội lỗi, xấu xa, bất an hãy mạnh dạn thưa trình xin để mọi người chỉ dạy cho mình, đây là lợi lạc rất lớn của việc tu học Chánh Pháp.
Pháp tưởng pháp tư
Thầy Thiện Huệ: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Con kính bạch trên thầy, kính bạch quý thầy cùng toàn thể đại chúng. Con có thắc mắc cách đây vài ngày con ngồi ăn cơm với các huynh đệ thì tự nhiên nội tâm con hiện lên hình bóng người em trai và có cảm thọ thấy thương xót và nhớ thương em, có suy nghĩ tội nghiệp em, con rõ biết hình bóng, suy nghĩ, cảm thọ xót xa em trai. Con có hỏi các thầy cái đó có phải là pháp tưởng không vì lúc đó khi nhận diện con cũng nghĩ là pháp tưởng nhưng con không xác quyết được vì việc nhận diện duyên sanh pháp của con vẫn còn mơ hồ. Qua sự việc này con xin thầy giải thích thêm cho con pháp tưởng, pháp tư và thầy hãy cho vài ví dụ cụ thể hơn để con nắm vững được. Con xin tri ân thầy.
***
Thầy ngồi dùng cơm với các huynh đệ thì bỗng nhiên thấy trong tâm hình bóng em trai hiện ra, thầy có cảm xúc nhớ thương, có suy nghĩ thương nhớ đối với em trai mình. Tuy lúc đó không có em trai trước mặt nhưng có tưởng liên hệ, tức là nhìn hình bóng này nhưng cái tưởng liên hệ đến hình bóng khác, điều này phải nhìn kĩ trong tâm mới thấy được. Đầu tiên thầy để ý bên trong thì thấy bên trong có hình bóng em trai, có cảm thọ thương, có những suy nghĩ lo lắng, tức là nhìn vào trong thấy thọ; tưởng; hành và thầy nhận thức rõ biết được, đó chính là pháp tưởng, pháp tư.
Nhiều điều có sự liên hệ với nhau, ví dụ ông Năm hoặc Minh Thành bước vào phòng thấy cái gường bà Năm hay nằm thì hình bóng bà Năm hiện ra, hình ảnh Minh Thành đắp y cho mẹ trong giây phút cuối cùng hiện lên, trong lòng có cảm giác nhớ nhung, có suy nghĩ "thật là mong manh là đời sống này, thật là tạm bợ là kiếp sống này", những video bài giảng bây giờ mới đưa lên mạng có hình ảnh bà Năm đang ngồi nghe pháp với đại chúng hiện lên, các Phật tử bình luận dưới video "bà Năm đang ngồi nghe pháp đây nhưng giờ không còn nữa". Khi bước vào phòng thì hình bóng, cảm giác, suy nghĩ hiện ra đó là pháp tưởng, pháp tư. Nghĩa là những hình ảnh đó tuy không có trước mặt mình nhưng những đồ vật, món đồ kỉ niệm đã khơi gợi lại hình bóng, cảm xúc, suy nghĩ thì đó là pháp tưởng, pháp tư.
Tuy nhiên, phải có sự để ý trong tâm thì những các pháp mới hiện ra. Còn nếu lúc đó thầy lo ăn uống, nói chuyện hoặc nhìn ra núi đồi mây bay mà không nhìn lại nội tâm thì không thấy được những hình ảnh này. Dù có gợn lên, có sanh khởi những liên tưởng nhưng không có sự để tâm (ý căn), không soi sáng, không chánh niệm tỉnh thức thì mình cũng không thấy rõ. Cho nên mới có trường hợp “tính nói cái gì mà quên rồi” hoặc là “nhớ cái gì đó mà giờ quên” rồi: "tôi tính nói cái gì mà giờ tôi quên rồi". Những điều đó là do sự chánh niệm tỉnh giác của mình không sâu sắc, những hình ảnh, suy nghĩ phớt qua là mất và do mình buông lung phóng dật nên các pháp trong tâm không hiện rõ, còn khi tỉnh giác chánh niệm thì pháp nào bên trong cũng hiện rõ ra pháp đó.
Ngoài ra mình phải xem trong cảm giác đó là từ hay ái. Thông thường là ái nhiều hơn vì tham ái của mình chưa hết nên khi nhớ đến người thân thì thường xuyên là ái. Tâm từ tuy cũng có nhưng rất ít, cho nên thường xuyên là liên hệ đến tham ái, sự dính mắc, những cái đó chính là pháp tưởng, pháp tư. Những hình bóng, suy nghĩ đó gợi lại rồi mình tiếp tục nghĩ ngợi, tạo thành thọ; tưởng; hành số 1 đến thọ; tưởng; hành số 2, số 3… Ví dụ, mình nghĩ rằng mai đây về nhà sẽ hướng dẫn cho em hoặc dẫn em lên núi tu học… mình cứ suy nghĩ thì nó cứ tiếp diễn, đó là pháp tưởng pháp tư.
Tu thế nào khi bị bệnh
Thầy Pháp Sỹ: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Kính mong sư phụ hướng dẫn thêm phần tác ý cho con vì bản thân con bị bệnh đau tử và bệnh thận, những chướng duyên đó làm cơ thể đau nhức, mệt mỏi ảnh hưởng đến việc tu học. Con tác ý còn yếu nên mỗi khi không an trú trong pháp được là con bị sân tùy miên, con không biết cách nào nhiếp phục được cảm thọ đau bệnh của con và làm thế nào để có sự vui thích trong khi tu học. Xin sư phụ chỉ dạy thêm cho con.
Khi bị bệnh phải khéo léo điều hòa cái thân, đừng cố quá sức. Nếu có những thời khóa mà mình bị đau thì mình có thể ở tại Tăng xá tịnh dưỡng trong chánh niệm tu tập, đây là chỗ mình cần linh động, không phải mình làm biếng mà do thân bị bệnh, có những lúc mình thấy không thể cố được nữa thì hãy ở lại Tăng xá chứ không cần lên dự chung với đại chúng. Còn nếu mình nhiếp phục được thì có khi lên tu lại hết đau, quên đi cái đau, hễ trú trong pháp thì không đặt nặng cái thân còn lúc nào đặt nặng vào cái thân thì không trú được trong pháp.
Vì thế thứ nhất cần khéo léo điều hòa thân thể trong việc ăn, uống, ngủ, nghỉ ngơi, sinh hoạt trong các thời khóa, đây là chỗ khéo léo điều hòa thân tâm trong trường hợp của người bệnh. Thứ hai là quán chiếu về nghiệp quả, nghiệp báo. Hãy quán chiếu rằng đây là quả báo của ác nghiệp trong quá khứ, là những thành quả mà mình đã gây tạo thuở xưa. Không được buồn, không được hờn trách ai, không được buồn tủi vì thấy người kia sao khỏe khoắn trong khi mình bệnh tật đầy người, sao người ta ngồi thoải mái trong khi mình luôn có cảm giác khó chịu. Hãy tự trách mình do những nghiệp xấu trong quá khứ nên bây giờ mới biểu hiện ra kết quả đau ốm bệnh tật như vầy. Phải khéo léo biết rằng nếu không vững chí, mạnh mẽ, không sáng tỏ, tỉnh táo thì những nghiệp quả này sẽ lôi mình trở lại dòng tăm tối, dòng phiền não, khổ đau. Chính vì nghiệp báo, chính vì cái bệnh này lại là thuận lợi cho mình tu, không phải bệnh là khó tu mà bệnh lại dễ tu hơn người không bệnh.
Có một cô mang chứng bệnh nan y mấy chục năm vẫn tu học bình thường, đó là tấm gương sáng cho mình noi theo. Nếu mình khỏe mạnh, đẹp đẽ, tốt tươi, giàu có thì chưa chắc mình trở thành người xuất gia, xuất ly, cho nên phải cảm ơn cái bệnh này. Nhờ cái bệnh này mà mình thấy được nghiệp quả, nhờ cái bệnh này mà mình thấy được nhân quả, nhờ cái bệnh này mà mình thấy được quả báo ác nghiệp để mình sợ và tránh trong hiện tại và tương lai, nhờ cái bệnh này mà mình thấy được sự đau khổ của đời sống này, nhờ cái bệnh này mà mình ý thức được sự phiền não của thân xác này, nhờ cái bệnh này mà mình ý thức sâu sắc được đời sống này chẳng có là gì, nhờ cái bệnh này mới đưa mình đến chỗ xả ly, xuất ly, nhờ cái bệnh này mình mới có ý niệm tu tập giải thoát đau khổ này. Còn nếu không có bệnh này làm sao mình có thể nhàm chán được, làm sao mình ly tham, thoát ra được!
Cho nên phải tác ý lấy bệnh khổ làm thầy, lấy chướng ngại này làm động lực, làm đòn bẩy, làm sức mạnh, càng bệnh càng tu nhiều hơn người không bệnh vì người không bệnh còn nhiều thời gian, mình bệnh thì có thể chết bất cứ lúc nào. Lấy bệnh khổ làm thầy, lấy bệnh khổ làm cây gậy thúc ngựa, lấy bệnh khổ làm sự tiến lên. Ngày xưa thời Đức Phật còn tại thế có rất nhiều vị Tỳ-kheo chứng ngộ, chứng đắc Thánh quả trong khi các Ngài bệnh. Chúng ta chỉ nói trên miệng sanh là khổ, bệnh là khổ, già là khổ, còn bây giờ cái khổ đang diễn ra ngay trên thân để mình thực chứng, thực nghiệm. Vì thế, ngay cái bệnh đó mà mình phát huy Khổ Thánh Đế, ngay chỗ đau đớn đó mình cho thấm nhuần toàn thân cảm giác Khổ Thánh Đế. Hãy làm sanh khởi lên sự đau khổ, phiền phức của ngũ uẩn này, nó là sầu, bi, ưu, não, nó là đồ giả tạo, xú uế, là đồ đáng để vứt bỏ, ly tham, nhàn chán. Hãy trú trong cảm giác khổ đó mà phát huy Thánh trí huệ của khổ. Mỗi lần đau, mỗi lần bệnh là mỗi lần được tưới tẩm, tăng trưởng, phát triển quảng đại cái Khổ Thánh Trí và trí nhàm chán ly tham, chứ không phải đau bệnh rồi than thở, hờn trách hoặc đau bệnh rồi chán nản không tu. Cho nên, hãy biến cái đau bệnh đó thành sức mạnh tu học! Bản thân Minh Thành nhiều khi chưa bệnh nhưng quán tưởng bị bệnh nặng để tu cho nên có bệnh là thuận lợi để thực chứng, thực thấy, thực biết sự đau khổ của thân xác tứ đại này, của sắc uẩn này.
Tiếp theo, hãy tác ý để vui trong sự tu, mặc chiếc y áo này vào là phải tác ý "tốt lành thay vô thượng phước điền y, đây là chiếc áo mà các bậc Thánh mặc trên người, đây là chiếc áo mà các bậc giải thoát đắp lên, đây là tấm y mà Đức Thế Tôn đã truyền thừa lại. Ta thật là hạnh phúc, ta thật là may mắn, ta thật là phước báo khi được khoác lên người tấm vô thượng phước điền y này". Mỗi lần cạo đầu hay xoa đầu phải cảm thấy "thật là hạnh phúc, thật là phước báo, thật là hy hữu hiếm có trong dòng luân hồi sanh tử vô tận này mà mình được đầu tròn áo vuông, viên đảnh phương bào. Thật là lợi đắc cho ta, trong cõi âm u si ám vô minh trường dạ này mà ta được thoát ra, được nhảy ra khỏi đống lửa và khoác lên tấm y vô thượng phước điền, trong tấm thân đầu tròn áo vuông này ta được nghe chánh pháp, được thực hành chánh pháp, ta được thực chứng chánh pháp. Thật là hạnh phúc, phước lành cho ta". Hãy tác ý "mình thật là vui khi ngay bây giờ mình không có sân hận, thật là hạnh phúc ngay bây giờ mình không có hôn trầm, si mê, mình được tỉnh táo sáng suốt".
Ngoài ra cần thường xuyên trú trong tâm từ và tâm bi. Tâm từ bi sẽ tẩy rửa những ác nghiệp, những oai gia trái chủ, những nghiệp cũ của mình. Dùng tâm từ để tiếp xúc với bệnh đau. Như vậy, ở đây có hai mặt, trước đó là thể nhập Khổ Thánh Trí trong khi đau bệnh, có khi mình sử dụng ngược lại là dùng tâm từ, xót thương cho chính mình, xót thương cho những ác nghiệp oai gia trái chủ, xót thương cho hữu tình chúng sanh đều bệnh khổ, có khi bệnh hơn gấp nhiều lần mình nên cần trải rộng bi tâm đến mọi người. Mỗi ngày đều phải trải tâm từ, lên giường ngủ phải tác ý diệt dục, sau đó trải tâm từ, nghe thêm những bài tác ý đã có sẵn hoặc tự mình ghi âm tác ý của mình để mở lên nghe thường xuyên nhắc nhở bản thân.
Chúng ta phải ý thức sâu sắc giá trị cao thượng của đời sống xuất gia, ý thức thật sâu sắc trong sự gặp gỡ được Thánh Pháp, ý thức sâu sắc trong hình tướng tu hành này. Nặng về cái gì thì phải đem hết toàn lực tác ý vào đó ngày đêm, nếu dục hành hạ thì dồn lực tác ý về nó suốt ngày, la rầy, chửi mắng nó, làm cho mình mạnh mẽ lên, tinh cần, tinh tấn, phải khởi động lên được sức mạnh từ bên trong, thắp sáng lên ngọn lửa của nhiệt huyết, nhiệt tâm tinh cần chứ không được để cho lờ đờ, phải mạnh mẽ, dũng mãnh.
Chúng ta cũng đừng mong chiến thắng mau lẹ, thất bại là bình thường nhưng quan trọng là khi thua rồi có chán nản buông tay không, chỉ sợ bỏ cuộc chứ không sợ thua, vì cái dục là cái khủng khiếp trong vô lượng kiếp nên đâu thể nói vài tháng hoặc vài năm là nhiếp phục được nó. Thất bại là chuyện bình thường nhưng vấn đề là mình không bao giờ đầu hàng, không bao giờ xuôi tay, phải kiên trì mới là quan trọng. Tu trong tinh tần dũng sĩ, chiến sĩ, tu trong tinh thần võ sĩ đạo là không bao giờ buông tay, dù có khó khăn nhưng vẫn tiến về phía trước như Đường Tăng đi thỉnh kinh, thà chết chứ không lùi bước. Lúc nào mệt thì nghỉ chứ khỏe là tiếp tục đánh "tao nhất định phải diệt mày chết, tao phải diệt tận mày hoàn toàn để không còn sanh khởi trở lại trong tương lai nữa". Với tinh thần mạnh mẽ, quyết liệt như vậy thì nhất định mình cũng sẽ nhiếp phục được nó, vì thế lỡ mình có thua cũng không sao, té xuống thì bò lên đánh tiếp, phải kiên trì giữ vững ý chí không thoái lui, đây là con đường độc nhất không có con đường thứ hai.
"Đây là con đường độc nhất đưa đến thanh tịnh cho chúng sanh, vượt khỏi sầu não, diệt trừ khổ ưu, thành tựu chánh trí, chứng ngộ Niết-bàn". (Trung Bộ Kinh, 10. Kinh Niệm xứ)
Nếu mình không diệt nó thì mình còn đau khổ dài dài với nó, nó còn hành hạ mình nữa, nó còn đầu độc, sai khiến cho nên nhất định phải đánh tan nó nhưng quan trọng phải vững chí tiến lên đánh hoài, không bỏ cuộc giữa chừng, không buông tay, không đầu hàng, mệt thì nghĩ còn khỏe thì đánh tiếp tục.
Sám hối oan gia trái chủ
Thầy Pháp Tâm: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, đệ tử con Pháp Tâm kính bạch trên sư phụ, kính bạch trên quý thầy cùng đại chúng. Kính thưa sư phụ trong thời gian vừa qua con thường thực hành thiền, niệm hơi thở, trong quá trình thực hành con thấy nội tâm được tỉnh giác hơn, thấy rõ được cảm giác từ ban đầu của hôn trầm, dục và các vọng tưởng sanh khởi trong tâm nhưng con vẫn chưa đủ khả năng nhiếp phục, đôi lúc có cảm giác mờ mờ chưa tỉnh sáng trong nội tâm, vọng tưởng vẫn dẫn dắt con một thời gian, cái này con vẫn chưa điều phục được.Trong thời gian sinh hoạt thực hành thì bên ngoài con thường an trú trên tưởng bất tịnh thường xuyên, con thường hay rơi vào cảm giác bình thường, đều đều thì con thấy bình an, khi thấy bình an thì con tác ý để sanh khởi cảm giác bất an khi dịch bệnh, trong thân vẫn còn rất nhiều rác bẩn, thấy sợ hãi cho chính tự thân. Bên cạnh đó tập khí vẫn còn chưa được nhu thuận, hiền hòa, còn cảm giác chống đối và khi nhìn thấy các huynh đệ, con thấy xấu hổ và nhục nhã cho tự thân. Khi con thấy các huynh đệ có điều con muốn nói nhưng trong con vẫn chưa đủ từ tâm, vẫn chưa đủ tri kiến, chưa đủ sự thấy biết nên con thấy chưa được mạnh mẽ cũng như sự chia sẻ đối với các huynh đệ chưa có nhiều tình thương. Đôi lúc con cảm thấy xấu hổ khi bản ngã sanh khởi, cho rằng mình đã có kiến thức, sự thấy biết, cho mình là người đi trước thì con cũng thấy sợ hãi với chính tự thân mình.
Khi con thực hành với quý sư cô thì con cảm nhận lại cảm giác toàn thân thì thấy cảm giác khó chịu, ngứa, nóng bức hay sanh khởi, con vẫn chưa nhiếp phục được nên con cố gắng thực hành niệm hơi thở. Khi bước vào buổi thiền con thực hành an trú ba pháp, bắt đầu định niệm trên hơi thở, tâm và cảm giác toàn thân, ba pháp rất sáng tỏ nhưng nửa tiếng sau con có cảm giác bứt rứt, khó chịu trong nội tâm sanh khởi lên, cảm giác này con vẫn chưa nhiếp phục được, qua vài buổi thiền con mở rộng tâm, định tâm theo tâm rộng lớn dựa trên hơi thở nhưng có vài lần bị vọng tưởng, cái này con cũng chưa nhiếp phục được. Xin sư phụ từ bi, hoan hỉ chỉ dạy thêm cho con.
***
Trong thời điểm này đại chúng tu tập tâm hiền và tâm từ. Trong lúc ngồi thiền mình có cảm giác bực bội, khó chịu thì ngay tại đây phải trải tâm từ cho đến cuối thời thiền, trải tâm từ để an tịnh, lắng dịu cảm thọ đó xuống. Tâm từ, tâm hiền này phải tu tập thật kĩ càng, vững chắc, nó là căn bản rất quan trọng vì nếu không có tâm hiền, tâm từ thì tất cả những pháp tu khác không có nền tảng. Nhiều khi chuyện nhỏ nhặt thôi cũng bực bội, cau có, ngồi thiền mà muỗi vo ve ở tai hoặc chích mình đau cũng làm mình sân lên là do tâm từ chưa đủ và tâm hiền chưa sâu dày, cho nên hai cái này phải tu tập liên tục trong ba tháng, sáu tháng. Còn những cái đặc trị thì tự mỗi người sẽ biết, ai nặng về dục thì tập trung diệt dục, ai nặng về bản ngã thì tập trung diệt bản ngã… nhưng thiền tâm từ là căn bản nhất định phải có để làm cho thân tâm an tịnh, lắng dịu, dễ chịu. Thực tập tâm an tịnh, lắng, dịu, dễ chịu rồi qua thực tập tâm hiền, tâm từ thường xuyên và nhất là những lúc bực bội, khó chịu thì càng phải thực tập tâm hiền nhiều hơn nữa. Trải tâm từ giống như đang nắng gắt bốn mươi độ mà mình được đứng trong bóng cây mát rượi từ thân đến tâm, cho nên trong khi có cảm giác không tốt thì cứ việc trải tâm từ. Còn phần nhiếp phục thọ; tưởng; hành đòi hỏi mình phải có thời gian dài thực hành tinh cần, tinh tấn tác ý chứ không thể mau lẹ được.
Ngoài ra còn một vấn đề nữa là phải lạy sám hối, tự thấy bản thân có nhiều nghiệp chướng, bệnh tật, trở ngại thì mình phải sám hối nhiều hơn người khác. Sau khi nghe pháp mọi người ngồi thiền thì mình xin phép đi lạy sám hối, phát lồ những tội lỗi, tật xấu của mình trước Tam bảo rồi lạy xuống chân thành, tha thiết, làm cho cảm thọ sanh khởi ra sự xấu hổ, nhục nhã. Một điều cần phải nhớ người tu càng trú trong tàm quý nhiều chừng nào thì người đó càng tu tiến chừng đó, Minh Thành đã nói “từ nhục nhã mới sanh Thánh quả”. Còn nếu không trú trong tàm quý thì người đó rất khó tu cho nên lúc nào cũng phải thấy xấu hổ, nhục nhã, lo sợ trước các ác bất thiện pháp và phải thường trú trong tâm này. Vì chỉ có chính mình mới thấy rõ được chính thân tâm mình cho nên phải xấu hổ, nhục nhã và phải lạy sám hối thường xuyên chứ không phải đợi nửa tháng mới lên lạy sám hối để tẩy rửa thân tâm.
./.
PHÁP TƯỞNG PHÁP TƯ
KHI BỆNH VÀ BUỒN CHÁN TU RA SAO?
TÂM TỪ GIẢI NGHIỆP OAN GIA
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Tầm quan trọng của đàm luận pháp PAGEREF _Toc80281543 \h 1
II.Pháp tưởng pháp tư PAGEREF _Toc80281544 \h 3
III.Tu thế nào khi bị bệnh PAGEREF _Toc80281545 \h 4
IV.Sám hối oan gia trái chủ PAGEREF _Toc80281546 \h 8
Tầm quan trọng của đàm luận pháp
Hiện tại không có ái dục thật là dễ chịu. Hiện tại không có sân hận thật là dễ chịu. Hiện tại không có trạo cử, không có dao động thật là dễ chịu. Hiện tại không có hôn trầm thật là dễ chịu. Hiện tại không có nghi hoặc thật là dễ chịu.
Ngay trong giây phút hiện tại không có tham dục, tham ái, dễ chịu thay. Ngay trong giây phút hiện giờ không có bực bội, khó chịu, sân hận, thật là dễ chịu, an tịnh, lắng dịu, thật là dễ chịu. Hiện tại không có hôn trầm, buồn ngủ, tâm sáng tỏ, rõ biết thật là dễ chịu. Hiện tại tâm an tịnh, thân lắng dịu thật là dễ chịu, ngọt ngào. Hiện tại không có nghi hoặc pháp, không có nghi ngờ đối với ngũ uẩn thật là dễ chịu. Dễ chịu nên năm triền cái không có mặt, tỉnh giác và chánh niệm trong giây phút hiện tại, thở vào thở ra. Ngay trong giây phút hiện tại cảm nhận sự nhẹ nhàng, sự an tịnh, sự sáng tỏ, sự thấy rõ thực tại, giây phút này thật là dễ chịu, thật là bình an, thật là an tịnh, an lạc.
Không tham dục thật là vui. Không rã rượi, hôn trầm, tỉnh táo, sáng suốt thật là vui. Không dao động, không trạo cử, tịnh chỉ, an tịnh, yên tịnh thật là vui. Ngồi yên thật là vui, thân tâm an tịnh mát dịu thật là vui, hiện tại không nghi ngờ, tâm sáng tỏ thật là vui, yên lặng thật là vui, an tịnh thật là vui. Tịnh chỉ các hành thật là vui, dừng lại sự vận hành đi theo ngũ uẩn thật là vui, thở vào thở ra cảm nhận sự nhẹ nhàng thật là vui, thở vào thở ra trong tỉnh sáng chánh niệm thật là vui. An trú trong tâm hiền hòa, hiền lương, hiền hậu thật là vui. An trú trong tâm hiền đức, hiền thiện thật là vui. An trú trong tâm hiền lành, hiền trí thật là vui. An trú trong lòng từ, trong tâm từ mẫn thật là vui. An trú trong tâm thương xót cho chính mình, thương xót cho những lậu hoặc, vô minh, dục ái của mình, thương xót cho chúng sanh hữu tình trong lòng bi mẫn, bao la, rộng mở thật là vui. An trú trong tâm không có năm triền cái và hiện tại lạc trú, an trú trong tâm hiền thiện là niềm hỷ lạc của thượng nhân pháp, an trú trong tâm từ hòa, từ ái, từ bi và an trú trong tâm của vua trời, trú xứ của Đức Như Lai, an trú trong lòng bi mẫn xót thương chính mình và chúng sanh hữu tình, an trú trong tâm thương rộng lớn, bao la và quảng đại. Khi trú trong những tâm này thật nhiều và thường xuyên thì chúng ta sẽ có sự bình an nơi núi rừng xa vắng, sẽ không thấy buồn chán, mệt mỏi trong sự tu học mà chỉ thấy hỷ lạc, hoan hỉ, hân hoan, hiện tại lạc trú, tâm hiền, tâm từ rộng lớn.
Chúng ta cần nhớ rằng người xuất gia khi gặp nhau chỉ có hai việc cần làm, thứ nhất là thực hành sự im lặng của bậc Thánh tức là thiền định, thứ hai là nói năng như Chánh Pháp tức là thảo luận pháp.
"Này các Tỳ-kheo, lành thay khi Thiện nam tử các Người, vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, cùng nhau hội họp để luận bàn đạo pháp. Này các Tỳ-kheo, khi các Người hội họp với nhau, có hai việc cần phải làm: luận bàn đạo pháp hay giữ sự im lặng của bậc Thánh". (Trung Bộ Kinh, 26. Kinh Thánh cầu)
Minh Thành có dặn dò thầy Nghĩa phải đặt hết tâm mình vào trong pháp và sự tu tập, thực chứng, ngoài ra những chuyện khác, những tài vật, những danh lợi ở ngoài đừng quan tâm nhiều, có các vị hộ pháp sẽ lo việc này. Vì vậy điều quan trọng của người xuất gia là học pháp, hành pháp và chứng ngộ pháp, thực chứng pháp. Chính vì vậy sự thiền định và nghe pháp, pháp đàm tuyệt đối quan trọng, đó là lý do Minh Thành thường để mọi người có buổi pháp đàm giữa các Tăng Ni và Phật tử. Mọi người đừng ngại pháp đàm, đừng nghĩ không biết gì để nói, nếu có tâm như vậy là không học được, ít nhất một tuần một lần phải có buổi pháp đàm. Ngày hôm đó mình sẽ chia sẻ với nhau những sự khó khăn, những nội kết tức là những nút thắt trong tâm. Trong buổi pháp đàm đó sẽ nhờ kiến hòa đồng giải của đại chúng soi sáng, tháo gỡ cho mình, điều này rất quan trọng.
Cho nên, dù Minh Thành chỉ còn hơi thở cuối cùng cũng không bỏ pháp. Dù cho có gì đi nữa mỗi ngày mình phải có giờ nghe pháp và học pháp, vì nếu rời xa pháp sẽ chết lập tức, rời xa pháp là đi vào lãnh vực của vô minh. Đó là lý do tại sao giảng xong rồi nhưng nhiều khi còn phần trình pháp, thảo luận, đó là lý do để đại chúng trú trong pháp dài lâu. Vì nếu mình trú trong pháp càng lâu, càng có thọ; tưởng; hành đối với pháp, đối với minh, đối với trí, đối với sự thật khổ đau, đối với những phiền não thì mình sẽ được tỉnh táo, còn buông ra sẽ trở về si mê lập tức, đó là lý do phải học pháp, nghe pháp, pháp đàm thường xuyên. Nếu nói thì hãy nói những gì trong pháp, còn không thì thiền định tu tập. Vì thế các vị Ni sư, những vị tu học lâu năm lên núi là cơ học để mình học hỏi, nhìn lại sự tu học của mình để thấy mình học tới đâu, hiểu tới đâu, tu tới đâu và lợi ích của pháp như thế nào. Đây là cơ hội để học tập, rèn luyện, chia sẻ, nhìn nhận và thấy biết chính mình, vì thế đại chúng đừng ngại ngùng các buổi pháp đàm, có những tội lỗi, xấu xa, bất an hãy mạnh dạn thưa trình xin để mọi người chỉ dạy cho mình, đây là lợi lạc rất lớn của việc tu học Chánh Pháp.
Pháp tưởng pháp tư
Thầy Thiện Huệ: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Con kính bạch trên thầy, kính bạch quý thầy cùng toàn thể đại chúng. Con có thắc mắc cách đây vài ngày con ngồi ăn cơm với các huynh đệ thì tự nhiên nội tâm con hiện lên hình bóng người em trai và có cảm thọ thấy thương xót và nhớ thương em, có suy nghĩ tội nghiệp em, con rõ biết hình bóng, suy nghĩ, cảm thọ xót xa em trai. Con có hỏi các thầy cái đó có phải là pháp tưởng không vì lúc đó khi nhận diện con cũng nghĩ là pháp tưởng nhưng con không xác quyết được vì việc nhận diện duyên sanh pháp của con vẫn còn mơ hồ. Qua sự việc này con xin thầy giải thích thêm cho con pháp tưởng, pháp tư và thầy hãy cho vài ví dụ cụ thể hơn để con nắm vững được. Con xin tri ân thầy.
***
Thầy ngồi dùng cơm với các huynh đệ thì bỗng nhiên thấy trong tâm hình bóng em trai hiện ra, thầy có cảm xúc nhớ thương, có suy nghĩ thương nhớ đối với em trai mình. Tuy lúc đó không có em trai trước mặt nhưng có tưởng liên hệ, tức là nhìn hình bóng này nhưng cái tưởng liên hệ đến hình bóng khác, điều này phải nhìn kĩ trong tâm mới thấy được. Đầu tiên thầy để ý bên trong thì thấy bên trong có hình bóng em trai, có cảm thọ thương, có những suy nghĩ lo lắng, tức là nhìn vào trong thấy thọ; tưởng; hành và thầy nhận thức rõ biết được, đó chính là pháp tưởng, pháp tư.
Nhiều điều có sự liên hệ với nhau, ví dụ ông Năm hoặc Minh Thành bước vào phòng thấy cái gường bà Năm hay nằm thì hình bóng bà Năm hiện ra, hình ảnh Minh Thành đắp y cho mẹ trong giây phút cuối cùng hiện lên, trong lòng có cảm giác nhớ nhung, có suy nghĩ "thật là mong manh là đời sống này, thật là tạm bợ là kiếp sống này", những video bài giảng bây giờ mới đưa lên mạng có hình ảnh bà Năm đang ngồi nghe pháp với đại chúng hiện lên, các Phật tử bình luận dưới video "bà Năm đang ngồi nghe pháp đây nhưng giờ không còn nữa". Khi bước vào phòng thì hình bóng, cảm giác, suy nghĩ hiện ra đó là pháp tưởng, pháp tư. Nghĩa là những hình ảnh đó tuy không có trước mặt mình nhưng những đồ vật, món đồ kỉ niệm đã khơi gợi lại hình bóng, cảm xúc, suy nghĩ thì đó là pháp tưởng, pháp tư.
Tuy nhiên, phải có sự để ý trong tâm thì những các pháp mới hiện ra. Còn nếu lúc đó thầy lo ăn uống, nói chuyện hoặc nhìn ra núi đồi mây bay mà không nhìn lại nội tâm thì không thấy được những hình ảnh này. Dù có gợn lên, có sanh khởi những liên tưởng nhưng không có sự để tâm (ý căn), không soi sáng, không chánh niệm tỉnh thức thì mình cũng không thấy rõ. Cho nên mới có trường hợp “tính nói cái gì mà quên rồi” hoặc là “nhớ cái gì đó mà giờ quên” rồi: "tôi tính nói cái gì mà giờ tôi quên rồi". Những điều đó là do sự chánh niệm tỉnh giác của mình không sâu sắc, những hình ảnh, suy nghĩ phớt qua là mất và do mình buông lung phóng dật nên các pháp trong tâm không hiện rõ, còn khi tỉnh giác chánh niệm thì pháp nào bên trong cũng hiện rõ ra pháp đó.
Ngoài ra mình phải xem trong cảm giác đó là từ hay ái. Thông thường là ái nhiều hơn vì tham ái của mình chưa hết nên khi nhớ đến người thân thì thường xuyên là ái. Tâm từ tuy cũng có nhưng rất ít, cho nên thường xuyên là liên hệ đến tham ái, sự dính mắc, những cái đó chính là pháp tưởng, pháp tư. Những hình bóng, suy nghĩ đó gợi lại rồi mình tiếp tục nghĩ ngợi, tạo thành thọ; tưởng; hành số 1 đến thọ; tưởng; hành số 2, số 3… Ví dụ, mình nghĩ rằng mai đây về nhà sẽ hướng dẫn cho em hoặc dẫn em lên núi tu học… mình cứ suy nghĩ thì nó cứ tiếp diễn, đó là pháp tưởng pháp tư.
Tu thế nào khi bị bệnh
Thầy Pháp Sỹ: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Kính mong sư phụ hướng dẫn thêm phần tác ý cho con vì bản thân con bị bệnh đau tử và bệnh thận, những chướng duyên đó làm cơ thể đau nhức, mệt mỏi ảnh hưởng đến việc tu học. Con tác ý còn yếu nên mỗi khi không an trú trong pháp được là con bị sân tùy miên, con không biết cách nào nhiếp phục được cảm thọ đau bệnh của con và làm thế nào để có sự vui thích trong khi tu học. Xin sư phụ chỉ dạy thêm cho con.
Khi bị bệnh phải khéo léo điều hòa cái thân, đừng cố quá sức. Nếu có những thời khóa mà mình bị đau thì mình có thể ở tại Tăng xá tịnh dưỡng trong chánh niệm tu tập, đây là chỗ mình cần linh động, không phải mình làm biếng mà do thân bị bệnh, có những lúc mình thấy không thể cố được nữa thì hãy ở lại Tăng xá chứ không cần lên dự chung với đại chúng. Còn nếu mình nhiếp phục được thì có khi lên tu lại hết đau, quên đi cái đau, hễ trú trong pháp thì không đặt nặng cái thân còn lúc nào đặt nặng vào cái thân thì không trú được trong pháp.
Vì thế thứ nhất cần khéo léo điều hòa thân thể trong việc ăn, uống, ngủ, nghỉ ngơi, sinh hoạt trong các thời khóa, đây là chỗ khéo léo điều hòa thân tâm trong trường hợp của người bệnh. Thứ hai là quán chiếu về nghiệp quả, nghiệp báo. Hãy quán chiếu rằng đây là quả báo của ác nghiệp trong quá khứ, là những thành quả mà mình đã gây tạo thuở xưa. Không được buồn, không được hờn trách ai, không được buồn tủi vì thấy người kia sao khỏe khoắn trong khi mình bệnh tật đầy người, sao người ta ngồi thoải mái trong khi mình luôn có cảm giác khó chịu. Hãy tự trách mình do những nghiệp xấu trong quá khứ nên bây giờ mới biểu hiện ra kết quả đau ốm bệnh tật như vầy. Phải khéo léo biết rằng nếu không vững chí, mạnh mẽ, không sáng tỏ, tỉnh táo thì những nghiệp quả này sẽ lôi mình trở lại dòng tăm tối, dòng phiền não, khổ đau. Chính vì nghiệp báo, chính vì cái bệnh này lại là thuận lợi cho mình tu, không phải bệnh là khó tu mà bệnh lại dễ tu hơn người không bệnh.
Có một cô mang chứng bệnh nan y mấy chục năm vẫn tu học bình thường, đó là tấm gương sáng cho mình noi theo. Nếu mình khỏe mạnh, đẹp đẽ, tốt tươi, giàu có thì chưa chắc mình trở thành người xuất gia, xuất ly, cho nên phải cảm ơn cái bệnh này. Nhờ cái bệnh này mà mình thấy được nghiệp quả, nhờ cái bệnh này mà mình thấy được nhân quả, nhờ cái bệnh này mà mình thấy được quả báo ác nghiệp để mình sợ và tránh trong hiện tại và tương lai, nhờ cái bệnh này mà mình thấy được sự đau khổ của đời sống này, nhờ cái bệnh này mà mình ý thức được sự phiền não của thân xác này, nhờ cái bệnh này mà mình ý thức sâu sắc được đời sống này chẳng có là gì, nhờ cái bệnh này mới đưa mình đến chỗ xả ly, xuất ly, nhờ cái bệnh này mình mới có ý niệm tu tập giải thoát đau khổ này. Còn nếu không có bệnh này làm sao mình có thể nhàm chán được, làm sao mình ly tham, thoát ra được!
Cho nên phải tác ý lấy bệnh khổ làm thầy, lấy chướng ngại này làm động lực, làm đòn bẩy, làm sức mạnh, càng bệnh càng tu nhiều hơn người không bệnh vì người không bệnh còn nhiều thời gian, mình bệnh thì có thể chết bất cứ lúc nào. Lấy bệnh khổ làm thầy, lấy bệnh khổ làm cây gậy thúc ngựa, lấy bệnh khổ làm sự tiến lên. Ngày xưa thời Đức Phật còn tại thế có rất nhiều vị Tỳ-kheo chứng ngộ, chứng đắc Thánh quả trong khi các Ngài bệnh. Chúng ta chỉ nói trên miệng sanh là khổ, bệnh là khổ, già là khổ, còn bây giờ cái khổ đang diễn ra ngay trên thân để mình thực chứng, thực nghiệm. Vì thế, ngay cái bệnh đó mà mình phát huy Khổ Thánh Đế, ngay chỗ đau đớn đó mình cho thấm nhuần toàn thân cảm giác Khổ Thánh Đế. Hãy làm sanh khởi lên sự đau khổ, phiền phức của ngũ uẩn này, nó là sầu, bi, ưu, não, nó là đồ giả tạo, xú uế, là đồ đáng để vứt bỏ, ly tham, nhàn chán. Hãy trú trong cảm giác khổ đó mà phát huy Thánh trí huệ của khổ. Mỗi lần đau, mỗi lần bệnh là mỗi lần được tưới tẩm, tăng trưởng, phát triển quảng đại cái Khổ Thánh Trí và trí nhàm chán ly tham, chứ không phải đau bệnh rồi than thở, hờn trách hoặc đau bệnh rồi chán nản không tu. Cho nên, hãy biến cái đau bệnh đó thành sức mạnh tu học! Bản thân Minh Thành nhiều khi chưa bệnh nhưng quán tưởng bị bệnh nặng để tu cho nên có bệnh là thuận lợi để thực chứng, thực thấy, thực biết sự đau khổ của thân xác tứ đại này, của sắc uẩn này.
Tiếp theo, hãy tác ý để vui trong sự tu, mặc chiếc y áo này vào là phải tác ý "tốt lành thay vô thượng phước điền y, đây là chiếc áo mà các bậc Thánh mặc trên người, đây là chiếc áo mà các bậc giải thoát đắp lên, đây là tấm y mà Đức Thế Tôn đã truyền thừa lại. Ta thật là hạnh phúc, ta thật là may mắn, ta thật là phước báo khi được khoác lên người tấm vô thượng phước điền y này". Mỗi lần cạo đầu hay xoa đầu phải cảm thấy "thật là hạnh phúc, thật là phước báo, thật là hy hữu hiếm có trong dòng luân hồi sanh tử vô tận này mà mình được đầu tròn áo vuông, viên đảnh phương bào. Thật là lợi đắc cho ta, trong cõi âm u si ám vô minh trường dạ này mà ta được thoát ra, được nhảy ra khỏi đống lửa và khoác lên tấm y vô thượng phước điền, trong tấm thân đầu tròn áo vuông này ta được nghe chánh pháp, được thực hành chánh pháp, ta được thực chứng chánh pháp. Thật là hạnh phúc, phước lành cho ta". Hãy tác ý "mình thật là vui khi ngay bây giờ mình không có sân hận, thật là hạnh phúc ngay bây giờ mình không có hôn trầm, si mê, mình được tỉnh táo sáng suốt".
Ngoài ra cần thường xuyên trú trong tâm từ và tâm bi. Tâm từ bi sẽ tẩy rửa những ác nghiệp, những oai gia trái chủ, những nghiệp cũ của mình. Dùng tâm từ để tiếp xúc với bệnh đau. Như vậy, ở đây có hai mặt, trước đó là thể nhập Khổ Thánh Trí trong khi đau bệnh, có khi mình sử dụng ngược lại là dùng tâm từ, xót thương cho chính mình, xót thương cho những ác nghiệp oai gia trái chủ, xót thương cho hữu tình chúng sanh đều bệnh khổ, có khi bệnh hơn gấp nhiều lần mình nên cần trải rộng bi tâm đến mọi người. Mỗi ngày đều phải trải tâm từ, lên giường ngủ phải tác ý diệt dục, sau đó trải tâm từ, nghe thêm những bài tác ý đã có sẵn hoặc tự mình ghi âm tác ý của mình để mở lên nghe thường xuyên nhắc nhở bản thân.
Chúng ta phải ý thức sâu sắc giá trị cao thượng của đời sống xuất gia, ý thức thật sâu sắc trong sự gặp gỡ được Thánh Pháp, ý thức sâu sắc trong hình tướng tu hành này. Nặng về cái gì thì phải đem hết toàn lực tác ý vào đó ngày đêm, nếu dục hành hạ thì dồn lực tác ý về nó suốt ngày, la rầy, chửi mắng nó, làm cho mình mạnh mẽ lên, tinh cần, tinh tấn, phải khởi động lên được sức mạnh từ bên trong, thắp sáng lên ngọn lửa của nhiệt huyết, nhiệt tâm tinh cần chứ không được để cho lờ đờ, phải mạnh mẽ, dũng mãnh.
Chúng ta cũng đừng mong chiến thắng mau lẹ, thất bại là bình thường nhưng quan trọng là khi thua rồi có chán nản buông tay không, chỉ sợ bỏ cuộc chứ không sợ thua, vì cái dục là cái khủng khiếp trong vô lượng kiếp nên đâu thể nói vài tháng hoặc vài năm là nhiếp phục được nó. Thất bại là chuyện bình thường nhưng vấn đề là mình không bao giờ đầu hàng, không bao giờ xuôi tay, phải kiên trì mới là quan trọng. Tu trong tinh tần dũng sĩ, chiến sĩ, tu trong tinh thần võ sĩ đạo là không bao giờ buông tay, dù có khó khăn nhưng vẫn tiến về phía trước như Đường Tăng đi thỉnh kinh, thà chết chứ không lùi bước. Lúc nào mệt thì nghỉ chứ khỏe là tiếp tục đánh "tao nhất định phải diệt mày chết, tao phải diệt tận mày hoàn toàn để không còn sanh khởi trở lại trong tương lai nữa". Với tinh thần mạnh mẽ, quyết liệt như vậy thì nhất định mình cũng sẽ nhiếp phục được nó, vì thế lỡ mình có thua cũng không sao, té xuống thì bò lên đánh tiếp, phải kiên trì giữ vững ý chí không thoái lui, đây là con đường độc nhất không có con đường thứ hai.
"Đây là con đường độc nhất đưa đến thanh tịnh cho chúng sanh, vượt khỏi sầu não, diệt trừ khổ ưu, thành tựu chánh trí, chứng ngộ Niết-bàn". (Trung Bộ Kinh, 10. Kinh Niệm xứ)
Nếu mình không diệt nó thì mình còn đau khổ dài dài với nó, nó còn hành hạ mình nữa, nó còn đầu độc, sai khiến cho nên nhất định phải đánh tan nó nhưng quan trọng phải vững chí tiến lên đánh hoài, không bỏ cuộc giữa chừng, không buông tay, không đầu hàng, mệt thì nghĩ còn khỏe thì đánh tiếp tục.
Sám hối oan gia trái chủ
Thầy Pháp Tâm: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, đệ tử con Pháp Tâm kính bạch trên sư phụ, kính bạch trên quý thầy cùng đại chúng. Kính thưa sư phụ trong thời gian vừa qua con thường thực hành thiền, niệm hơi thở, trong quá trình thực hành con thấy nội tâm được tỉnh giác hơn, thấy rõ được cảm giác từ ban đầu của hôn trầm, dục và các vọng tưởng sanh khởi trong tâm nhưng con vẫn chưa đủ khả năng nhiếp phục, đôi lúc có cảm giác mờ mờ chưa tỉnh sáng trong nội tâm, vọng tưởng vẫn dẫn dắt con một thời gian, cái này con vẫn chưa điều phục được.Trong thời gian sinh hoạt thực hành thì bên ngoài con thường an trú trên tưởng bất tịnh thường xuyên, con thường hay rơi vào cảm giác bình thường, đều đều thì con thấy bình an, khi thấy bình an thì con tác ý để sanh khởi cảm giác bất an khi dịch bệnh, trong thân vẫn còn rất nhiều rác bẩn, thấy sợ hãi cho chính tự thân. Bên cạnh đó tập khí vẫn còn chưa được nhu thuận, hiền hòa, còn cảm giác chống đối và khi nhìn thấy các huynh đệ, con thấy xấu hổ và nhục nhã cho tự thân. Khi con thấy các huynh đệ có điều con muốn nói nhưng trong con vẫn chưa đủ từ tâm, vẫn chưa đủ tri kiến, chưa đủ sự thấy biết nên con thấy chưa được mạnh mẽ cũng như sự chia sẻ đối với các huynh đệ chưa có nhiều tình thương. Đôi lúc con cảm thấy xấu hổ khi bản ngã sanh khởi, cho rằng mình đã có kiến thức, sự thấy biết, cho mình là người đi trước thì con cũng thấy sợ hãi với chính tự thân mình.
Khi con thực hành với quý sư cô thì con cảm nhận lại cảm giác toàn thân thì thấy cảm giác khó chịu, ngứa, nóng bức hay sanh khởi, con vẫn chưa nhiếp phục được nên con cố gắng thực hành niệm hơi thở. Khi bước vào buổi thiền con thực hành an trú ba pháp, bắt đầu định niệm trên hơi thở, tâm và cảm giác toàn thân, ba pháp rất sáng tỏ nhưng nửa tiếng sau con có cảm giác bứt rứt, khó chịu trong nội tâm sanh khởi lên, cảm giác này con vẫn chưa nhiếp phục được, qua vài buổi thiền con mở rộng tâm, định tâm theo tâm rộng lớn dựa trên hơi thở nhưng có vài lần bị vọng tưởng, cái này con cũng chưa nhiếp phục được. Xin sư phụ từ bi, hoan hỉ chỉ dạy thêm cho con.
***
Trong thời điểm này đại chúng tu tập tâm hiền và tâm từ. Trong lúc ngồi thiền mình có cảm giác bực bội, khó chịu thì ngay tại đây phải trải tâm từ cho đến cuối thời thiền, trải tâm từ để an tịnh, lắng dịu cảm thọ đó xuống. Tâm từ, tâm hiền này phải tu tập thật kĩ càng, vững chắc, nó là căn bản rất quan trọng vì nếu không có tâm hiền, tâm từ thì tất cả những pháp tu khác không có nền tảng. Nhiều khi chuyện nhỏ nhặt thôi cũng bực bội, cau có, ngồi thiền mà muỗi vo ve ở tai hoặc chích mình đau cũng làm mình sân lên là do tâm từ chưa đủ và tâm hiền chưa sâu dày, cho nên hai cái này phải tu tập liên tục trong ba tháng, sáu tháng. Còn những cái đặc trị thì tự mỗi người sẽ biết, ai nặng về dục thì tập trung diệt dục, ai nặng về bản ngã thì tập trung diệt bản ngã… nhưng thiền tâm từ là căn bản nhất định phải có để làm cho thân tâm an tịnh, lắng dịu, dễ chịu. Thực tập tâm an tịnh, lắng, dịu, dễ chịu rồi qua thực tập tâm hiền, tâm từ thường xuyên và nhất là những lúc bực bội, khó chịu thì càng phải thực tập tâm hiền nhiều hơn nữa. Trải tâm từ giống như đang nắng gắt bốn mươi độ mà mình được đứng trong bóng cây mát rượi từ thân đến tâm, cho nên trong khi có cảm giác không tốt thì cứ việc trải tâm từ. Còn phần nhiếp phục thọ; tưởng; hành đòi hỏi mình phải có thời gian dài thực hành tinh cần, tinh tấn tác ý chứ không thể mau lẹ được.
Ngoài ra còn một vấn đề nữa là phải lạy sám hối, tự thấy bản thân có nhiều nghiệp chướng, bệnh tật, trở ngại thì mình phải sám hối nhiều hơn người khác. Sau khi nghe pháp mọi người ngồi thiền thì mình xin phép đi lạy sám hối, phát lồ những tội lỗi, tật xấu của mình trước Tam bảo rồi lạy xuống chân thành, tha thiết, làm cho cảm thọ sanh khởi ra sự xấu hổ, nhục nhã. Một điều cần phải nhớ người tu càng trú trong tàm quý nhiều chừng nào thì người đó càng tu tiến chừng đó, Minh Thành đã nói “từ nhục nhã mới sanh Thánh quả”. Còn nếu không trú trong tàm quý thì người đó rất khó tu cho nên lúc nào cũng phải thấy xấu hổ, nhục nhã, lo sợ trước các ác bất thiện pháp và phải thường trú trong tâm này. Vì chỉ có chính mình mới thấy rõ được chính thân tâm mình cho nên phải xấu hổ, nhục nhã và phải lạy sám hối thường xuyên chứ không phải đợi nửa tháng mới lên lạy sám hối để tẩy rửa thân tâm.
./.