Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Tương Ưng 6 Xứ - Những Ví Dụ Vi Diệu

2026-03-03 00:54:17
23-12-2020 Kinh NIKĀYA Giảng Giải - Tương Ưng Sáu Xứ - Những Ví Dụ Vi Diệu

Thích Minh Thành

Đại chúng ngồi ở đây có cảm giác hoan hỉ không? Kính thưa đại chúng, hôm nay chúng ta ăn tân gia bằng Pháp, không có lễ tiệc, không có khách khứa gì cả, đại chúng có hoan hỉ không? Làm sao phải trong bất cứ lúc nào và ở đâu đều suy nghĩ an trú trong Pháp, đó là phúc lành tối thượng, đó là công đức cao quý, đó là sự an lạc, ngay cả chư Thiên cũng còn ước ao như vậy. Đừng tìm niềm vui nào ngoài Pháp, chúng ta phải hoan hỉ vì được ở đây học Pháp, dù có xây trăm ngàn ngôi nhà nhưng không có Pháp thì cũng đưa đến tham sân si. Chúng ta vừa để bàn Pháp tòa và quyển đại tạng kinh xuống là mưa lập tức, gọi là Pháp vũ, là điềm lành tối thượng, chư Thiên cũng ăn tân gia chung với mình, trời đất cũng đồng cảm với Thánh Pháp, đại chúng có thấy vui không? Thầy Pháp An có hoan hỉ không? Mọi người đừng rời xa Pháp, đừng suy nghĩ, hành động, nói năng tách rời Pháp. Nhà nào mình ở cũng trở thành Pháp đường, ghế nào mình ngồi cũng thành Pháp tòa, đồ gì mình dùng cũng thành Pháp khí, vì toàn thân của mình là Pháp. Cái bàn này nếu để ở quán café thì chỉ là bàn để uống café nhưng khi đặt ở đây, được sử dụng trong Pháp thì trở thành Pháp tòa. Cũng vậy, con người mình cứ chạy theo tham dục, sân hận, si mê, chấp ngã thì đó là thân bất tịnh, thân cấu nhiễm, cấu uế. Nếu tứ đại ngũ uẩn này lúc nào cũng an trú trong Pháp thì lúc đó gọi là thân chứa đựng Pháp, là Pháp thân. Mình muốn trở thành Pháp thân hay muốn ở trong thân bất tịnh, đau khổ triền miên? Muốn thành Pháp thân thì phải thường xuyên và liên tục ở trong Pháp. Cái cây được Đức Phật ngồi gọi là đạo thọ, cái cây mà Bồ-tát thành đạo gọi là đạo thọ, gọi là cây giác ngộ, cây để chúng sanh phàm phu dùng để đánh nhau thì làm sao được gọi là cây giác ngộ nên phải dùng Pháp, an trú trong Tứ Niệm Xứ, luôn để ý biết thân thể này đúng như thật về bản chất, cảm giác, cảm thọ, về nội tâm chính mình. Những Pháp ác và bất thiện cần phải được phát giác, nhiếp phục, tẩy sạch và diệt tận, đó là việc làm duy nhất của người xuất gia, ngày đêm chuyên chú để tâm quán sát, đó là Tứ Niệm Xứ, là ngôi chùa tâm linh của chúng ta. Người thực hành Tứ Niệm Xứ ở bất cứ chỗ nào thì chỗ đó thành đạo tràng, người không thực hành Tứ Niệm Xứ dù cho ở chùa cao to, đẹp đẽ thì chỗ đó cũng không phải là đạo tràng. Đạo tràng hay không đạo tràng phụ thuộc vào việc có thực hành Pháp hay không thực hành Pháp. Trước khi chúng ta về đây thì ở đây gọi là ngọn đồi 45 còn giờ chúng ta đến đây tu Chánh Pháp thì đây gọi là Pháp Sơn (núi của Chánh Pháp), Pháp Ấn Sơn. Cho nên mình phải thích thú, an trú, hân hoan trong Pháp, ngày đêm chuyên chú siêng năng thực tập Pháp, nếu vô thường, bất trắc có đến thì mình vẫn an lạc.

Phần Tương Ưng Sáu Xứ trong Tương Ưng Bộ kinh có rất nhiều những hình ảnh tuyệt diệu về cách thuyết pháp của Đức Phật, ngài dùng rất nhiều phương tiện thiện xảo để diễn đạt Chánh Pháp. Có rất nhiều hình ảnh Đức Phật dùng để diễn bài cho chúng ta thấy lối trình bày vi diệu của Đức Thế Tôn.

-- "Biển, biển", này các Tỳ-kheo, kẻ vô văn phàm phu nói như vậy. Cái ấy, này các Tỳ-kheo, không phải là biển trong giới luật các bậc Thánh. Cái ấy (của kẻ phàm phu), này các Tỳ-kheo, là một khối nước lớn, là một dòng nước lớn.

Con mắt là biển của người, tốc độ của nó làm bằng các sắc. Ai điều phục được tốc độ làm bằng các sắc ấy, này các Tỳ-kheo, người ấy được gọi là Bà-la-môn đã vượt khỏi biển mắt, với những làn sóng (sàùmim), nước xoáy (sàvattasu), các loại cá mập (sagàham), các loại La-sát (Rakkhasam), đến bờ bên kia và đứng trên đất liền. Tai... Mũi... Lưỡi... Thân...

Ý, này các Tỳ-kheo, là biển của người, tốc độ của nó làm bằng các pháp. Ai điều phục được tốc độ làm bằng các pháp ấy, này các Tỳ-kheo, người ấy được gọi là Bà-la-môn đã vượt khỏi biển ý, với những làn sóng, nước xoáy, các loại cá mập, các loại La-sát, đến bờ bên kia, và đứng trên đất liền. (Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (f), Phần Bốn - Năm Mươi Kinh Thứ Tư, III. Phẩm Biển, I. Biển)

Con mắt là biển không bao giờ đầy, không bao giờ thỏa mãn, muốn nhìn, muốn tìm, muốn đi kiếm các sắc, tốc độ của nó được làm bằng các sắc, người nào điều phục được tốc độ, nhiếp phục, chinh phục được tốc độ đó thì người đó vượt qua được biển cả. Chỉ cần cái gì đẹp, dễ thương, vừa ý là con mắt dính vào đó không gỡ ra được, bị trói buộc trong đó, ai chinh phục được tốc độ đó thì người đó vượt qua khỏi biển mắt và đứng ở bờ bên kia. Lỗ tai, mũi, lưỡi, thân, ý là sáu biển, tốc độ của nó là âm thanh, mùi vị, sự tiếp xúc, những cảm giác, nghĩ tưởng trong tâm. Tất cả chúng sanh chìm đắm trong sáu biển đó, chìm đắm trong sắc, chìm đắm trong mùi vị, sự xúc chạm, chìm đắm trong sự suy tưởng, cảm giác trong tâm. Chừng nào mình nhiếp phục, điều phục được tốc độ của sắc; thanh; hương; vị; xúc; pháp đó thì người ấy được gọi là Bà-la-môn đã vượt khỏi biển ý, biển mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý, đã đứng ở đất liền của bờ bên kia. Chúng ta phải vượt qua được sáu biển đó, khi con mắt nhìn thấy sắc đừng ưa thích cái đẹp, ghét bỏ cái xấu mà hãy trú trong tâm xả. Khi tai nghe tiếng đừng ưa thích tiếng êm ái, khen ngợi, ghét bỏ tiếng chê trách, khó chịu mà hãy trú trong tâm xả, nhiếp phục các cảm thọ do nhĩ xúc sanh. Khi mũi ngửi mùi, khi lưỡi nếm vị đừng ưa thích mùi thơm, vị ngon, đừng ghét bỏ mùi hôi, vị dở mà quán chiếu thọ do tỷ xúc sanh, thọ do thiệt xúc sanh, những cảm giác do lưỡi, do mũi tiếp xúc mà sanh khởi ra, trú trong tâm xả vô lượng, tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Đó là chúng ta đang vượt ra khỏi sáu biển. Khi có những cảm giác, nghĩ tưởng trong tâm thì đừng ưa thích cảm giác, nghĩ tưởng ngọt ngào, bực bội, bực bội với cảm giác, nghĩ tưởng khó chịu mà hãy quán chiếu nó là vô thường, khổ, phiền não, ung nhọt, mũi tên tẩm độc, nó là vết thương, trú trong tâm xả rộng lớn vô lượng, như vậy là đang vượt biển.

Bậc Đạo Sư nói như sau:

Ai vượt qua biển này,

Với cá mập, La-sát.

Với sóng biển hãi hùng,

Biển rất khó vượt qua,

Bậc tối thắng trí tuệ,

Ðã thành tựu Phạm hạnh,

Ðược gọi: "Ðến bờ kia",

Ðã đạt thế giới biên.

(Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (f), Phần Bốn - Năm Mươi Kinh Thứ Tư, III. Phẩm Biển, I. Biển)

Thế giới biên tức là tận cùng của tam giới, xuất ly ba cõi.

Ở đây, thế giới này với Thiên giới, với Ma giới, với Phạm thiên giới, với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, với chư Thiên và loài Người, phần lớn chìm đắm trong ấy, bị rối ren như cuộn chỉ, bị bao trùm như cuộn dây, thành như sợi dây bện bằng cỏ, không thể vượt qua cõi dữ, ác thú, đọa xứ, luân hồi! (Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (f), Phần Bốn - Năm Mươi Kinh Thứ Tư, III. Phẩm Biển, II. Biển)

Trong sáu biển này thì chư Thiên, ma, những người tu hành và các loài đều chìm đắm trong đó, bị rối ren như cuộn chỉ, bị bao trùm như cuộn dây, không thể vượt khỏi địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Chúng ta ngồi yên trong thất, trên bồ đoàn, đi đứng nhẹ nhàng khoan thai nhưng chúng ta là những người đang vượt biển, nhìn lại cảm giác để điều phục tốc độ của nó, của sắc; thanh; hương; vị; xúc; pháp. Người tu mà không nhìn lại để điều phục lại để buông thả thì đó không phải là một người tu.

Ví như, này các Tỳ-kheo, một người câu cá trong hồ nước sâu, quăng xuống một lưỡi câu có mắc mồi. Một con cá, với mắt nhìn vào mồi, nuốt lưỡi câu ấy. Như vậy, này các Tỳ-kheo, con cá ấy vì nuốt lưỡi câu, đi đến bất hạnh, đi đến ách nạn, bị người câu cá muốn làm gì thì làm. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, có sáu lưỡi câu này ở trong đời, đưa đến bất hạnh cho các loài hữu tình, đưa đến tai hại cho các loài chúng sanh. Thế nào là sáu?

Này các Tỳ-kheo, có những sắc do mắt nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Nếu Tỳ-kheo hoan hỷ sắc ấy, tán dương, tham luyến an trú, thời này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ấy được gọi là đã nuốt lưỡi câu của Ác ma, đã đi đến bất hạnh, đã đi đến ách nạn, đã bị Ác ma muốn làm gì thì làm. Có những tiếng do tai nhận thức... Có những hương do mũi nhận thức... Có những vị do lưỡi nhận thức... Có những xúc do thân nhận thức...  (Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (f), Phần Bốn - Năm Mươi Kinh Thứ Tư, III. Phẩm Biển, III. Người Câu Cá)

Sáu lưỡi câu chính là sáu trần, những hình sắc, âm thanh, mùi vị, sự xúc chạm và những cảm giác, nghĩ tưởng trong nội tâm, những thứ đáng yêu, vừa lòng, thích thú liên hệ đến dục hấp dẫn mà người nào tham luyến, an trú tì người ấy được gọi là đã nuốt lưỡi câu của Ác ma, đã đi đến bất hạnh, đã đi đến ách nạn, đã bị Ác ma muốn làm gì thì làm. Một ngày mình mắc câu bao nhiêu lần? Mình có thấy bị mắc câu không? Khi ăn ngon thì lại quên nhiếp phục cảm thọ, say mê trong món ăn là đang mắc câu. Ban đêm mệt mỏi mà lên gường nằm thấy thoải mái, êm ái là đang bị mắc câu trên gường. Được cúng dường bộ đồ mới thì thấy vui vẻ, thích thú là đang bị mắc câu. Bước vào căn nhà mới thì hân hoan, tham ái, yêu thích, nghĩ đây là tôi, là của tôi thì bị mắc câu trong căn nhà mới đó. Nói ra ý kiến hay được mọi người tán thành, hoan nghênh thì thấy mình giỏi, mình hay là đang mắc câu trong cảm giác, nghĩ tưởng đó. Mặc dù mình đang sống viễn ly nhưng một ngày mình dính câu liên tục, còn nếu cứ tiếp xúc, đụng chạm để sanh khởi cảm giác, nghĩ tưởng thì Ác ma muốn chiên, xào, nấu nướng gì là nấu, mình không còn khả năng chống cự. Mình tu mà không chân chánh quán sát, quán chiếu, biết đúng như sự thật về thân tâm như lời Phật dạy thì đời tu không ra gì nhưng mình lại tự phụ, tự kiêu, tự hài lòng, thật sự rất xót xa, đó là sự đau khổ của người tu, là sự lo sợ của người tu, đây cũng là đề tài thiền quán. Khi tiếp xúc với những hình sắc, âm thanh, mùi vị mà mình thấy tham đắm, dính mắc thì khi về ngồi thiền, đi kinh hành phải tẩy sạch các chướng ngại Pháp, bất cứ lúc nào cũng phải xem lại nội tâm.

Ban ngày đi kinh hành (hay) trong lúc ngồi, chúng ta phải tẩy sạch tâm tư khỏi các pháp chướng ngại. Ban đêm canh một đi kinh hành (hay) trong lúc ngồi, chúng ta phải tẩy sạch tâm tư khỏi các pháp chướng ngại. Ban đêm canh giữa, chúng ta phải nằm dáng nằm con sư tử, nghiêng bên hông tay phải, một chân đặt trên chân kia, chánh niệm tỉnh giác, tâm nghĩ đến lúc thức dậy lại. Ban đêm canh đầu thức dậy, đi kinh hành (hay) trong lúc ngồi, chúng ta phải tẩy sạch tâm tư khỏi các pháp chướng ngại". Như vậy, này các Tỳ-kheo, các Ông cần phải tu tập. (Trung Bộ Kinh, 39. Ðại kinh Xóm ngựa, (Chú tâm cảnh giác)) 

Một sư là tiến sĩ khoa học ở Hàn Quốc nhưng về đây không ai biết học vị người đó đến mức như vậy vì nhìn rất chân chất, hiền lành, khiêm hạ, ít nói. Bây giờ sư đã xuất gia và đang nhập thất trên núi, sư xuống thăm con thì con thấy rất tốt vì oai nghi, cử chỉ, hành động của sư đều đang thực hành Tứ Niệm Xứ, còn mình nhìn lại thấy hổ thẹn vì không phòng hộ, hộ trì các căn thì làm sao mình thành tựu? Mình không chịu khó tu tập cho nên sự hộ trì, phòng hộ sáu căn là cực kì quan trọng để ngăn chặn sự tiếp xúc, nếu cứ tiếp xúc, đụng chạm thì nghiệp sẽ sanh, thọ sanh, dục sanh thì làm sao mình đủ sức để tẩy rửa? Lâu ngày thành quen, thành tánh nết không sửa được cho đến chết, không có Sa-môn hạnh, không có chất của người tu và nhìn cũng không ra một người tu, mình bị mắc lưỡi câu, ăn trúng mồi của ác ma trong sáu biển lớn, suốt ngày vội vàng, lăng xăng bận rộn thì cuối cùng cả đời mình được gì trong ngũ triền cái này? Cho nên bước đầu hộ trì căn rất quan trọng, sau đó mới đến quán chiếu các cảm thọ, nhiếp phục cảm thọ, tẩy sạch ác bất thiện pháp, chướng ngại pháp trong thân tâm, còn không mỗi ngày mình đều gặp ách nạn, tai nạn, nguy nan nhưng mình bị mù, bị điếc không sợ nên ngã mạn, ta đây, so đo cao thấp, vai vế, rồi cả đời tu trở thành đại thảm họa, đưa đến bất hạnh cho các loài chúng sanh.

Này các Tỳ-kheo, có những sắc do mắt nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Nếu Tỳ-kheo không hoan hỷ các sắc ấy, không tán dương, không tham luyến an trú, thời này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ấy được gọi là không nuốt lưỡi câu của Ác ma, đã bẻ gãy lưỡi câu, đã bẻ nát lưỡi câu, không đi đến bất hạnh, không đi đến ách nạn, không bị Ác ma muốn làm gì thì làm. Này các Tỳ-kheo, có những tiếng do tai nhận thức... Có những hương do mũi nhận thức... Có những vị do lưỡi nhận thức... Có những xúc do thân nhận thức... (Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (f), Phần Bốn - Năm Mươi Kinh Thứ Tư, III. Phẩm Biển, III. Người Câu Cá)

Khi thấy cái gì đẹp, vừa lòng, hấp dẫn liên hệ đến dục nhưng vị này không vừa lòng, không ưa thích, không khen ngợi cũng không để tâm thì vị đó không nuốt lưỡi câu của Ác ma, đã bẻ gãy lưỡi câu, đã bẻ nát lưỡi câu, không đi đến bất hạnh, không đi đến ách nạn, không bị Ác ma muốn làm gì thì làm. Khi nào mình được người ta xưng tán, khen ngợi thì phải lắng tâm để xem thọ; tưởng; hành như thế nào, khi nào mình bị người ta chê trách, chỉ trích cũng phải lắng tâm thật sâu để xem thọ; tưởng; hành như thế nào. Nếu có tham sân thì phải dùng tất cả những phương pháp đã được học để tác ý tẩy sạch mới có thể đi đến chỗ bẻ nát, bẻ gãy lưỡi câu, nếu không sẽ bị trói buộc, cắn trúng mồi của ác ma. Có biết bao nhiêu người đến cúng dường cho mình rồi sau đó mình bị dính mắc vào danh lợi, tiền tài, sắc dục. Có một bài kinh Đức Phật nói ác ma luôn trong tư thế để ý, nhìn ngó các Tỳ-kheo, ác ma luôn ở trong tư thế theo dõi, nếu các Tỳ-kheo không chánh niệm tỉnh giác thì đó là cơ hội cho ác ma khi nó đi ngang qua mắt; tai; mũi; lưỡi, những tâm ý, suy nghĩ trong tâm mình.

-- Này các Tỳ-kheo, các Ông có thấy làn khói đen tối ấy đi về phía Ðông, đi về phía Tây, đi về phía Bắc, đi về phía Nam, đi về phía Trên, đi về phía Dưới không?

-- Bạch Thế Tôn, chúng con có thấy như vậy.

-- Này các Tỳ-kheo, đó là Ác ma đang đi theo dõi thức của thiện nam tử Godhika: "Thức của thiện nam tử Godhika được an trú ở đâu?". Và này các Tỳ-kheo, thiện nam tử Godhika đã nhập diệt, với thức không an trú ở đâu cả. (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương IV. Tương Ưng Ác Ma, III. Phẩm Thứ Ba (Thêm năm kinh), III. Godhika)

Đức Phật ví dụ tâm không tu tập như đống rơm khô, sắc dục tới là phựt cháy lập tức.

Sống trên các gối rơm, này các Tỳ-kheo, là nếp sống hiện nay của các Tỳ-kheo, không phóng dật, nhiệt tâm trong các nỗ lực. Ác ma không có cơ hội, không có đối tượng để xâm lăng.

Trong tương lai, này các Tỳ-kheo, các Tỳ-kheo sẽ trở thành nhu nhược, tay chân mềm mỏng. Họ nằm trên những đồ nằm mềm mại. Họ ngủ cho đến mặt trời mọc trên những gối bông. Ác ma sẽ nắm được cơ hội, sẽ nắm được đối tượng (để xâm lăng).

Do vậy, này các Tỳ-kheo, các Ông cần phải học tập như sau: "Chúng tôi sẽ sống trên những gối rơm, không phóng dật, nhiệt tâm trong nỗ lực".

Như vậy, này các Tỳ-kheo, các Ông cần phải học tập. (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương XI. Tương Ưng Thí Dụ, VIII. Cỏ Rơm)

Có rất hình ảnh được ví dụ cho sự thuyết pháp của Đức Phật.

Như mái nhà vụng lợp,

Mưa liền xâm nhập vào.

Cũng vậy tâm không tu,

Tham dục liền xâm nhập.

(Kinh Pháp Cú 01 – Phẩm Song Yếu, kệ 13)

Một mái nhà bằng tranh đã được lợp bốn năm năm thì khi ngọn lửa bùng lên làm sao chống đỡ được? Tâm của chúng sanh không tu cũng giống như vậy, những hình ảnh này để chúng ta quán chiếu mỗi khi những âm thanh, hành động tác động làm mình khởi lên sân hận, bản ngã thì mình phải quán chiếu ngôi nhà tranh, ngọn lửa đang đến nên phải tránh né, dập tắt ngay lập tức.

Ví như, này các Tỳ-kheo, một cây có nhựa, hoặc cây Bồ-đề (assattha), hoặc cây bàng (nigrodha), hoặc cây sanh (pilakkha), hoặc cây udumbara, hoặc một loại cây còn tươi. Rồi một người với cái búa sắc bén chặt vào cây ấy. Nước nhựa cây ấy có chảy ra không?

-- Thưa có, bạch Thế Tôn.

-- Vì sao?

-- Vì rằng, bạch Thế Tôn, cây ấy có nhựa.

-- Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, đối với các sắc do mắt nhận thức, Tỳ-kheo hay Tỳ-kheo-ni nào còn có tham, còn có sân, còn có si, tham ấy chưa đoạn tận, sân ấy chưa đoạn tận, si ấy chưa đoạn tận; dầu chỉ có phần nhỏ, khi các sắc do mắt nhận thức đi vào trong tầm mắt nhận thức, chúng chinh phục tâm của vị ấy, còn nói gì cả phần lớn. Vì sao? Này các Tỳ-kheo, vì còn có tham, còn có sân, còn có si, và tham ấy chưa đoạn tận, sân ấy chưa đoạn tận, si ấy chưa đoạn tận... Đối với các tiếng do tai nhận thức... Đối với các hương do mũi nhận thức... Đối với các vị do lưỡi nhận thức... Đối với các xúc do thân nhận thức... (Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (f), Phần Bốn - Năm Mươi Kinh Thứ Tư, III. Phẩm Biển, IV. Cây Có Nhựa)

Chúng sanh bị chúng chinh phục tâm dù chỉ một phần nhỏ chứ còn nói gì đến cả phần lớn. Khi các sắc do con mắt nhìn thấy đi vào trong tầm mắt nhận thức thì chúng chinh phục tâm của người đó, ví dụ hủ vàng, kim cương chôn dưới đất sâu nếu mình không thấy thì không tham muốn, không thích vì các sắc đó không ở trong tầm mắt của mình, mình có biết đâu mà tham. Mình đang ngồi đây mà chư Thiên đang đứng trên đầu mình nhưng mình không biết vì mình không thấy, cho nên cái thấy của con mắt rất nhỏ hẹp và cạn cợt, nó chỉ thấy trong tầm mắt mới sanh ra dục, sân, ra khỏi tầm mắt thì không thấy được, chỉ khi tiếp xúc mới sanh thọ và xúc có tầm hoạt động, ra khỏi tầm đó không thấy, không nghe được. Đúng ta nghe điện thoại sẽ bị la xối xả nhưng đúng lúc đó đang ngồi thiền nên không nghe máy cho nên thấy cuộc gọi nhỡ cũng không gọi lại, bên kia tìm hiểu ra thì không la nữa, vậy là im chuyện, còn ngay lúc đó mà nghe điện thoại không chừng cháy nhà rơm, cháy nhà tranh. Cho nên sự viễn ly rất quan trọng, rời ra, tránh khỏi duyên xúc, mình cứ thích tiếp xúc thì làm cho sắc; thọ; tưởng; hành; thức tăng trưởng, thọ không thể lắng dịu mà lúc nào cũng ở trong trạng thái hồ hởi, hân hoan, hữu ái như cây đầy nhựa sống. Phải quán chiếu nhàm chán, xa lìa, chấm dứt, từ bỏ, chỉ cần trú tâm vào Pháp không buông lung phóng dật sẽ tu rất mau tiến bộ, trú trong tâm viễn ly, nhàm chán, ly tham, từ bỏ thì mình sẽ quay lưng với sự lòe loẹt của thế giới, không thích thú nữa. Còn không trú trong tàm quý, ly tham, nhàm chán, chỉ cần tâm buông lung sẽ nhìn ngó, phê phán, so sánh, đang để cho thọ tăng trưởng, không giảm thiểu, tưởng và hành hoạt động liên tục trong khi tu là làm cạn kiệt thọ; tưởng; hành, không chào đón, phấn khởi gì nữa, không hoan hỉ, hoan nghênh, an trú và đắm trước nữa.

Ví như, này các Tỳ-kheo, một cây có nhựa, cây Bồ-đề hay cây bàng, hay cây sanh, hay cây udumbara đã khô héo, không có nhựa, đã quá mùa. Rồi một người với cây búa sắc bén chặt vào cây ấy. Nước nhựa cây ấy có chảy ra không?

-- Thưa không, bạch Thế Tôn.

-- Vì sao?

-- Vì rằng, bạch Thế Tôn, cây ấy không có nhựa.

-- Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, đối với các sắc do mắt nhận thức, Tỳ-kheo hay Tỳ-kheo-ni nào không có tham, không có sân, không có si... si ấy đã đoạn tận... Ðối với các pháp do ý nhận thức, tham ấy đã đoạn tận, sân ấy đã đoạn tận, si ấy đã đoạn tận; dầu cho cả phần lớn, khi các pháp do ý nhận thức đi vào trong tầm ý nhận thức, chúng không chinh phục tâm vị ấy, còn nói gì chỉ có phần nhỏ. Vì sao? Này các Tỳ-kheo, vì không có tham ấy, không có sân ấy, không có si ấy, và tham ấy đã đoạn tận, sân ấy đã đoạn tận, si ấy đã đoạn tận. (Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (f), Phần Bốn - Năm Mươi Kinh Thứ Tư, III. Phẩm Biển, IV. Cây Có Nhựa)

Đối với các Pháp do ý nhận thức, tham sân si ấy đã đoạn tận. Khi các Pháp do ý nhận thức đi vào trong tầm ý nhận thức, chúng không chinh phục tâm vị ấy. Đi vào trong phạm trù ý có thể nhận biết được thì tâm còn dao động, hướng ngoại, mình nghĩ về dục, tham, sân… tâm không tinh minh, trong sáng vì ngũ triền cái còn hoạt động cho nên tầm nhận thức của ý rất hạn hẹp, mới nói đã quên do tâm còn đầy ngũ cái, tâm như mặt hồ phủ đầy rong rêu không thể thấy được đáy hồ. Hoặc là ở trong trạng thái lờ đờ, uể oải cho nên năm triền cái bao phủ hết làm mình bị mù, làm thành vô trí, yếu ớt trí tuệ. Sự tu tập chúng ta phải nỗ lực diệt tận năm triền cái mới vào Sơ Thiền, trí huệ mới sáng tỏ được. Ví dụ đang ngồi nghe Pháp mà thấy cảnh xung quanh đẹp thì khởi lên thích thú, khoan khoái, đó là đang bị dục tham triền cái. Đang ngồi mà nhớ lại câu nói làm mình khó chịu thì đó là sân triền cái đang trói buộc tâm làm yếu ớt trí huệ, làm mù mắt, làm thành không trí. Ngồi thiền hoặc đang nghe Pháp mà cứ nhớ lại hình ảnh, câu nói, cảm thọ làm mình tức giận, bứt rứt hoặc ngồi thiền mà cứ cựa quậy vì nhức mỏi, tê chân, ngứa ngáy khắp người, không chuyên chú vào Pháp, không tập trung tâm ý lắng tai nghe Pháp thì những cái đó là chướng ngại trong tu học. Khi mình cầm chung trà yên định thì nước rót vào đầy chung, còn khi chung trà bị lắc lư thì làm sao hứng được hết nước trà? Cũng vậy, một người thân tâm bị trạo cử như chung trà bị lắc lư nên không thể thọ nhận Pháp một cách đầy đủ, mình phải thấy được thân tâm mình trong nhiều khía cạnh. Mình tu thiền quán không phát sanh được cảm thọ là do trong nội tâm rối ren như cuộn chỉ, ngổn ngang trăm mối nên có thiền quán cũng không thể làm được trọn vẹn, cái thọ không khai mở. Khi Hòa Thượng lên đây đã có lời khen ánh sáng Mặt Trời buổi sáng chiếu vào những tấm kính đẹp tuyệt vời, do nó là kính nên mới phản xạ ánh sáng còn nếu là vách tường hoặc gỗ thì làm sao tán xạ ánh sáng được. Cũng vậy, năm triền cái là bức tường bịt kín, không trong sáng. Tầm nhận thức của tâm phải nói đến năm triền cái, nếu phá được năm triền cái thì tầm nhận thức của ý mới rộng lớn, từ đó mới tu được những tâm vô lượng, nếu còn ngũ cái thì không thể tu tập tâm vô lượng, thậm chí tâm rộng lớn đã khó tu chứ đừng nói gì đến vô lượng. Giận ai, ghét ai hoặc thương ai thì tâm cứ lòng vòng trong đó thì làm sao tu tập được tâm rộng lớn hết núi Linh Quy này chứ đừng nói đến vô lượng vô biên? Vì thế tầm nhận thức không phải dễ hiểu, tuy rằng mặt; mũi; tay chân giống nhau nhưng sự nhận thức bên trong khác nhau hoàn toàn. Cùng nhau ngồi nghe cùng một bài Pháp nhưng sự thọ nhận Pháp vào tâm là khác nhau, do người đó có ngũ cái nhiều hay ít hoặc vừa. Xem đá banh, coi phim sáng đêm thì được chứ không nghe nói đến ngồi thiền hoặc đi kinh hành, học Pháp sáng đêm.

Nếu có các tay, này các Tỳ-kheo, thời có thấy lượm lên và đặt xuống. Nếu có chân, thời có thấy đi tới và đi lui. Nếu có tay chân, thời có thấy co lại và duỗi ra. Nếu có bụng, thời có thấy đói và khát.

Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, nếu có mắt và do duyên nhãn xúc, thời khởi lên nội lạc, nội khổ... Nếu có ý, do duyên ý xúc thời khởi lên nội lạc, nội khổ.

Nếu không có các tay, này các Tỳ-kheo, thời không có thấy lượm lên và đặt xuống. Nếu không có chân, thời không có thấy đi tới và đi lui. Nếu không có tay chân, thời không có thấy co lại và duỗi ra. Nếu không có bụng, thời không có thấy đói và khát.

Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, nếu không có mắt, không có duyên nhãn xúc, thời không khởi lên nội lạc, nội khổ... Nếu không có lưỡi, không có duyên thiệt xúc, thời không khởi lên nội lạc, nội khổ... Nếu không có ý, không có duyên ý xúc, thời không khởi lên nội lạc, nội khổ. (Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (f), Phần Bốn - Năm Mươi Kinh Thứ Tư, III. Phẩm Biển, IX. Ví Dụ Tay Và Chân)

Nếu không có mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý, không có sự tiếp xúc của sáu căn, sáu trần, sáu thức, sáu xúc thì không có sáu thọ khổ vui. Vì có tay chân nên mới có co tay duỗi tay, co chân duỗi chân, vì có bụng nên mới có đói khát. Nếu không có tay thì không có lượm lên đặt xuống, không có chân thì không có đi tới đi lui, không có bụng thì không có đói khát. Cũng vậy, do có thân căn cho nên mới có dục tham ái, sân si, bản ngã, cái gốc của nó là ưa thích có thân, say đắm trong thân, yêu mến, dính mắc, chấp thủ trong hình hài này, dù là hình hài của con kiến, muỗi, rận rệp… Tất cả đều là ái thân, ưa thích thân, khao khát thân cho nên Nhập Lưu Thánh quả thứ nhất là phá thân kiến. Chúng ta chỉ mới nói đến hình dạng của súc sanh, ngoài ra thân này còn rất nhiều hình dạng khác nhau, còn những cái thân của các cõi trời cao cấp, thấp hơn thì thân này giống như giấc mộng, khi mình chiêm bao đi nơi này nơi nọ, ăn uống, nói chuyện thì mình có cảm giác, có thọ; tưởng; hành; thức. Thân các chư Thiên của cõi dục giới là do biến hóa giống như thân trong giấc mộng của mình, lên cao hơn là cõi sắc, cao hơn là cõi vô sắc không có hình sắc vì các vị đó không ưa hình sắc nữa. Các chư Thiên không ưa thích thân xác bất tịnh, hôi dơ này nữa cho nên người ta không trở lại thân nữa nhưng họ thích sắc vi tế, nhỏ nhiệm như ánh sáng nên người ta vào thân đó, gọi là cõi sắc. Cao cấp hơn nữa là nhàm chán sắc nên đi đến cảnh giới vô sắc, không có hình sắc mà chỉ có cảm thọ, thức hoặc hành nên gọi là cõi trời vô sắc. Còn mình do còn dục, ái, ưa thích, thèm thuồng cái thân này thì mới tiếp tục đi vào các thân xác khác ở đời sau, nếu là nghiệp lành thì đi vào thân đẹp đẽ, cao sang còn nghiệp ác thì đi vào thân xấu xí, đầy lông lá, mọc sừng… Sự tu tối thượng được Đức Phật dạy là thoát ra tất cả kiến chấp về thân, vì nếu mình chụp vào thân nào mà cho nó là mình thì sẽ đau khổ với nó vô cùng vô tận, ví dụ mình nói nhà này là nhà của mình mà nửa đêm cháy nhà, trước mắt là đống tro tàn thì khổ, sầu, bi, ưu, não. Đã từ lâu con tu tập cái Pháp không có gì là ta, là của ta cho nên nếu có cháy thì vẫn bình an, đó là sanh diệt Pháp, đó là lẽ đương nhiên vì bản chất các Pháp là như vậy.

Thân này bản tánh là như thế, bản chất là như thế không thể vượt qua bản chất ấy (Trung Bộ Kinh, 10. Kinh Niệm Xứ).

Ngoài Đức Thế Tôn ra thì ai là người có thể chỉ cho mình Thánh trí huệ như vầy? Đối với nhà như vậy thì tấm thân này cũng vậy, khi thời đã đến, lúc mạng chung thì bắt đầu quằn quại, đau đớn khủng khiếp, tứ đại sắp sửa phân ly giống như con cua bị bỏ vào nổi nước sôi, nó kinh hoàng giãy giụa trong đó. Trong kinh Nikāya ví dụ người sắp chết đau đớn như người lực sĩ lấy sợi dây siết chặt vào da thịt, từ da thịt siết chặt vào xương tủy.

Ví như, này các Tỳ-kheo, một lực sĩ lấy dây ngựa cứng chắc, vấn xung quanh cổ chân và siết chặt lại. Dây ấy cắt đứt da ngoài, cắt đứt da trong. Sau khi cắt đứt da trong, chúng cắt đứt thịt. Sau khi cắt đứt thịt, chúng cắt đứt dây gân. Sau khi cắt đứt dây gân, chúng cắt đứt xương. Sau khi cắt đứt xương, chúng chạm tới tủy và đứng lại. (Tương Ưng Bộ, Tập II – Thiên Nhân Duyên, Chương VI. Tương Ưng Lợi Đắc Cung Kính, III. Phẩm Thứ Ba, IX. Dây)

Còn bậc Đa văn Thánh đệ tử từ lâu đã tu tập mắt này không phải là tôi, không phải của tôi, sắc này là khổ đau, vô thường, tan nát, sắc này xin từ bỏ. Thọ; tưởng; hành; thức này là khổ đau, vô thường, tan nát và cũng xin buông xả, từ bỏ để lắng dịu. Nếu không có công phu cực kì thâm hậu thì lúc chết làm sao chịu nổi? Khi tứ đại rã ra mà mình phải chứng kiến điều ấy thì thật đau đớn, nội tạng vỡ ra, mạch máu túa ra, ác nghiệp sẽ biểu hiện ra ngay lúc đó thì làm sao nhiếp phục được cảm thọ? Ngay từ bây giờ nếu không thực tập quán nhàm chán, xả bỏ, xuất ly thì đến lúc mạng chung làm sao thực tập được, làm sao có thể điềm nhiên an trú trước cảm thọ cùng tận của sinh mạng?

Ví như, này các Tỳ-kheo, do duyên dầu và do duyên tim bấc, một ngọn đèn dầu được cháy đỏ. Khi dầu và tim bấc khô cạn, cháy hết, không được tiếp nhiên liệu thêm, ngọn đèn ấy bị tắt. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, khi Tỳ-kheo cảm thọ một cảm thọ cùng tận đến sức chịu đựng của thân, vị ấy tuệ tri: "Ta đang cảm thọ một cảm thọ cùng tận đến sức chịu đựng của thân". Khi vị ấy đang cảm thọ một cảm thọ cùng tận đến sức chịu đựng của sinh mạng, vị ấy tuệ tri: "Ta đang cảm thọ một cảm thọ cùng tận đến sức chịu đựng của sinh mạng". Vị ấy tuệ tri rằng: "Sau khi thân hoại mạng chung, ở đây, mọi cảm thọ không có gì đáng hoan hỉ, sẽ đi đến lắng dịu". (Tương Ưng Bộ, Tập IV. Thiên Sáu Xứ, Chương II. Tương Ưng Thọ, Phần Một – Phẩm Có Kệ, VII. Tật Bệnh)

Nếu bình thường thực tập nhiếp phục, an trú trong cảm thọ nhàm chán, gớm ghiếc thứ hôi dơ, bất tịnh này, rời xa, từ bỏ nó thì đến lúc sắp ra đi mình trú trong tâm nhàm chán cùng cực, xuất ly vĩnh viễn không còn trở lại thân xác này nữa.

Ví như, này các Tỳ-kheo, có bốn con rắn độc, với sức nóng tột độ, với nọc độc mãnh liệt. Rồi có người đến, muốn sống, không muốn chết, muốn lạc, ghét khổ. Người ta nói với người ấy: "Này Bạn, có bốn con rắn độc này, với sức nóng tột độ, với nọc độc mãnh liệt. Thỉnh thoảng hãy thức chúng dậy, thỉnh thoảng hãy tắm cho chúng, thỉnh thoảng hãy cho chúng ăn, thỉnh thoảng hãy cho chúng vào huyệt (để ngủ). Này Bạn, nếu một trong bốn con rắn độc này, với sức nóng tột độ, với nọc độc mãnh liệt, tức giận, thời này Bạn, Bạn sẽ đi đến chết, hay đau khổ gần như chết. Vậy này Bạn, hãy làm những gì Bạn nghĩ cần phải làm". (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (g), IV. Phẩm Rắn Độc, I. Rắn Độc) 

Chúng ta là những người đang chăm sóc cho bốn con rắn độc: Rắn đất; rắn lửa; rắn gió; rắn nước (tứ đại). Mỗi ngày phải cho nó ăn, phải gọi nó thức dậy, tắm giặt cho nó, đưa nó vào gường ngủ, mặc đồ cho nó. Suốt ngày cứ lo chăm sóc, nâng niu nó, hôm nào nó tức giận lên thì nó mổ mình chết, trúng gió độc (rắn gió) cũng có thể mất mạng, ung thư (rắn đất) cũng có thể chết… Mình phải liên tục điều hòa bốn con rắn này, hễ con nào trồi lên là mình bệnh, bệnh tim thở khó nhọc là ảnh hưởng đến gió (rắn gió) cũng có thể chết, ngày nào mình không thể điều hòa được nó thì ngày đó mình ra đi, vậy mà vẫn hãnh diện, ta đây, vênh váo, hơn thua, tranh giành, thị phi nhân ngã, cống cao ngã mạn rồi tạo ra bao nhiêu thứ ác nghiệp.

Rồi này các Tỳ-kheo, người ấy quá sợ hãi bốn con rắn độc, với sức nóng tột độ, với nọc độc mãnh liệt, chạy trốn chỗ này, chỗ kia. Người ta nói với người ấy: "Này Bạn, có năm kẻ sát nhân thù địch này, đang đi theo sau lưng Bạn. Chúng nói: 'Khi nào chúng ta thấy nó, chúng ta sẽ giết nó'. Này Bạn, hãy làm những gì Bạn nghĩ là phải làm" (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (g), IV. Phẩm Rắn Độc, I. Rắn Độc) 

Năm kẻ thù địch đó là ngũ uẩn.

Rồi này các Tỳ-kheo, người ấy quá sợ hãi bốn con rắn độc ấy, với sức nóng tột độ, với nọc độc mãnh liệt, quá sợ hãi năm tên sát nhân thù địch ấy, chạy đi trốn chỗ này, chỗ kia. Người ta nói với người ấy: "Này Bạn, có một tên thứ sáu cướp nhà, giết người, với ngọn kiếm dơ lên, đang đi theo sau lưng Bạn. Nó nói: 'Khi nào ta thấy nó, ta sẽ chém đầu nó'. Này Bạn, hãy làm những gì Bạn nghĩ là phải làm". (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (g), IV. Phẩm Rắn Độc, I. Rắn Độc) 

Tên thứ sáu này chính là dục tham.

Rồi, này các Tỳ-kheo, người ấy quá sợ hãi bốn con rắn độc, với sức nóng tột độ, với nọc độc mãnh liệt, quá sợ hãi năm tên sát nhân thù địch, quá sợ hãi tên thứ sáu cướp nhà, giết người với ngọn kiếm dơ lên, chạy đi trốn chỗ này, chỗ kia. Rồi người ấy thấy một ngôi làng trống không. Nhà nào người ấy đi vào, người ấy vào chỗ trống không, vào chỗ rỗng không, vào chỗ tuyệt không. Người ấy sờ đến đồ dùng nào, người ấy sờ chỗ trống không, người ấy sờ chỗ rỗng không, người ấy sờ chỗ tuyệt không. Người ta nói với người ấy: "Này Bạn, bọn cướp phá hoại làng, sẽ đánh cướp ngôi làng trống không này. Này Bạn, hãy làm những gì Bạn nghĩ là phải làm". (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (g), IV. Phẩm Rắn Độc, I. Rắn Độc) 

Ngôi làng trống không đó là sáu nội xứ. Sáu nội xứ là mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý. Sáu ngoại xứ là sắc; thanh; hương; vị; xúc; pháp.

Ngôi làng trống không, này các Tỳ-kheo, là đồng nghĩa với sáu nội xứ. Này các Tỳ-kheo, nếu một người hiền, kinh nghiệm, có trí, tìm hiểu nó với con mắt; vị ấy thấy nó là trống không, là rỗng không, là tuyệt không... Nếu tìm hiểu nó với ý; vị ấy thấy nó là trống không, là rỗng không, là tuyệt không. (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (g), IV. Phẩm Rắn Độc, I. Rắn Độc) 

Sáu căn không, sáu trần cũng không. Người nổi tiếng vang danh khắp mọi nơi nhưng chớp mắt chỉ còn là những di ảnh. Con người đó bây giờ ở đâu? Chỉ là sự trống không, rỗng không. Ông nội, bà nội mình ở đâu? Cha mẹ giờ ở đâu? Mẹ con – bà Diệu Hiền bây giờ ở đâu? Chỉ còn là đống tro tàn, sau này thầy Pháp An ở đâu? Chạm vào đâu là trống không tới đó, phải quán sự nguy hiểm của thân này, của đời sống này, nó sẽ tan nát, hủy hoại bất cứ lúc nào.

Cái trống không như vậy mà người ta khổ đau!

Cái rỗng không như vậy mà người ta tham dục, sân hận, bản ngã!

Cái trống trơn như vậy mà người ta đâm chém, mưu tính, tàn sát lẫn nhau!

Họ hung dữ, giết hại, lừa hại, mưu sĩ với một cái trống không như vậy.

Bọn cướp phá làng, này các Tỳ-kheo, là đồng nghĩa với sáu ngoại xứ. Này các Tỳ-kheo, mắt bị tàn hại trong các sắc khả ái và không khả ái. Này các Tỳ-kheo, tai bị tàn hại trong các tiếng khả ái và không khả ái. Này các Tỳ-kheo, mũi bị tàn hại trong các hương khả ái và không khả ái. Này các Tỳ-kheo, lưỡi bị tàn hại trong các vị khả ái và không khả ái. Này các Tỳ-kheo, thân bị tàn hại trong các xúc khả ái và không khả ái. Này các Tỳ-kheo, ý bị tàn hại trong các pháp khả ái và không khả ái.

Bờ bên này nguy hiểm và hãi hùng, này các Tỳ-kheo, là đồng nghĩa với thân kiến này.

Bờ bên kia an ổn và không kinh hãi, này các Tỳ-kheo, là đồng nghĩa với Niết-bàn. (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (g), IV. Phẩm Rắn Độc, I. Rắn Độc) 

Mình bị rượt chạy đến đầm lầy và đầm lầy đó đồng nghĩa với bốn bộc lưu: dục bộc lưu, hữu bộc lưu, kiến bộc lưu và vô minh bộc lưu. Đầm lầy đó là dục, là sự ưa thích hiện hữu, là sự kiến chấp và vô minh. Đức Phật dùng nhiều hình ảnh ví dụ cho dục tham, ngũ uẩn, sáu căn, sáu trần, bây giờ lại đến bốn bọc lưu, rồi bị sáu trần làm cho mình tàn hại. Đầy sự nguy hiểm và sợ hãi nên người này lấy cành lá, cây cỏ làm thành chiếc bè, nhờ chiếc bè và sự nỗ lực, tinh tấn dùng tay chân vượt qua bờ bên kia an toàn.

Cái bè, này các Tỳ-kheo, là đồng nghĩa với Thánh đạo Tám ngành.

Tinh tấn dùng tay và dùng chân, này các Tỳ-kheo, là đồng nghĩa với tinh tấn, tinh cần.

Vị Bà-la-môn vượt qua bờ bên kia và đứng trên đất liền, này các Tỳ-kheo, là đồng nghĩa với bậc A-la-hán. (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (g), IV. Phẩm Rắn Độc, I. Rắn Độc) 

Bước lên chiếc bè của Bát Thánh Đạo bằng sự tinh cần, tinh tấn mới có thể vượt qua được đầm lầy vô cùng hiểm nguy và tai họa.

Bốn con rắn ác độc là tứ đại.

Năm tên giặc là ngũ uẩn.

Tên thứ sáu gặp đâu giết đó là dục tham.

Một làng trống không là sáu nội xứ.

Nhóm giặc phá làng là sáu ngoại xứ.

Đầm lầy là bốn bộc lưu: Dục bộc lưu, hữu bộc lưu, kiến bộc lưu và vô minh bộc lưu.

Muốn vượt qua đầm lầy thì phải dùng chiếc bè Bát Chánh Đạo, như vậy mới gọi là một vị đã vượt qua bờ bên kia và đứng trên đất liền. Chúng ta vừa vượt biển, vượt đầm lầy để đến bờ bên kia.

Bằng tình thương, bằng từ tâm, bằng tấm lòng luôn nghĩ đến sự an lạc, an ổn cho chính mình. Cũng vậy, con chân thành cầu nguyện sự an lạc, an ổn này cũng đến với chư vị nơi đây, chư vị nghe hiểu được âm thanh này cùng hữu tình trong trời đất rộng lớn này, trong đó có người thân của con. Mong tất cả đều được tâm thương này thấm nhuần dễ chịu, an lạc và bình yên, tìm được hạnh phúc và an vui cho mình, lòng yêu thương tự thân mình và yêu thương muôn loài. Mong tất cả có được trí tuệ, thấy được sự vô thường của đời sống này, tâm chán ngán từ bỏ những xác thân năm uẩn vô thường này để thể nhập vào tâm an tịnh, trong sạch, trầm lặng, giải thoát khỏi biển sanh tử và chấm dứt hết mọi khổ đau. Lòng tha thiết chân thành cầu nguyện an lạc, bình yên, trí tuệ và giải thoát đến với cùng khắp tất cả./.