Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Nghi Thức Tu Học NIKAYA - CĂN BẢN TRÍ phần I - 2

2026-03-03 00:54:17
Nghi Thức Tu Học Nikāya

CĂN BẢN TRÍ - Phần I – 2

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I.Niệm Lòng tin bất động PAGEREF _Toc105308358 \h 1

II.Niệm Sợi Dây Tái Sanh PAGEREF _Toc105308359 \h 4

III.Niệm Ngũ uẩn duyên sanh PAGEREF _Toc105308360 \h 6

Niệm Lòng tin bất động

Này Ānanda, với ai, Thầy có lòng từ mẫn, và với những ai, Thầy nghĩ là nên nghe theo, các bạn bè, thân hữu, bà con hay cùng một huyết thống, Với những người ấy, Thầy cần phải khích lệ, cần phải hướng dẫn, cần phải an trú trong ba điểm. Thế nào là ba?

Hãy khích lệ, hướng dẫn và an trú vào tịnh tín bất động đối với Đức Phật:“Đây là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn”.

Hãy khích lệ, hướng dẫn và an trú vào tịnh tín bất động đối với Pháp: “Pháp được Thế Tôn khéo thuyết, thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu”.

Hãy khích lệ, hướng dẫn và an trú vào tịnh tín bất động đối với chúng Tăng: “Diệu hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn, Trực hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn, Ứng lý hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn, Chơn chánh hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Tức là bốn đôi tám chúng. Chúng đệ tử của Thế Tôn là đáng cung kính, đáng cúng dường, đáng tôn trọng, đáng được chắp tay, là phước điền vô thượng ở đời”.

Này Ānanda, dầu cho bốn đại chủng có đổi khác, địa đại, thủy đại, hỏa đại, phong đại, nhưng vị thánh đệ tử thành tựu tịnh tín bất động đối với Phật không có đổi khác. Ở đây, đổi khác là như thế này: Vị Thánh đệ tử ấy, thành tựu tịnh tín bất động đối với đức Phật, sẽ sanh vào địa ngục, loại bàng sanh hay cõi ngạ quỷ. Sự kiện này không xảy ra.

Này Ānanda, dầu cho bốn đại chủng có đổi khác, địa đại, thủy đại, hỏa đại, phong đại, nhưng vị Thánh đệ tử thành tựu tịnh tín bất động đối với Pháp không có đổi khác. Ở đây, đổi khác là như thế này: Vị Thánh đệ tử ấy, thành tựu tịnh tín bất động đối với Pháp, sẽ sanh vào địa ngục, loại bàng sanh hay cõi ngạ quỷ. Sự kiện này không xảy ra.

Này Ānanda, dầu cho bốn đại chủng có đổi khác, địa đại, thủy đại, hỏa đại, phong đại, nhưng vị Thánh đệ tử thành tựu tịnh tín bất động đối với chúng Tăng không có đổi khác. Ở đây, đổi khác là như thế này: Vị Thánh đệ tử ấy, thành tựu tịnh tín bất động đối với chúng Tăng, sẽ sanh vào địa ngục, loại bàng sanh hay cõi ngạ quỷ. Sự kiện này không xảy ra.

Này Ānanda, với ai Thầy có lòng từ mẫn, và với những ai Thầy nghĩ là nên nghe theo, các bạn bè, thân hữu, bà con hay cùng một huyết thống, với những người ấy, này Ānanda, Thầy cần phải khích lệ, cần phải hướng dẫn, cần phải an trú trong ba điểm này.

(Kinh Cần phải khích lệ, Tăng I, 402)

Chúng ta thương ai đó, cho họ ăn nhiều, ăn ngon; cho họ đồ mặc đẹp; cho họ ở chỗ sang trọng, đẹp đẽ; cho họ nhiều tiền, nhiều đất, nhiều xe thì chỉ là thương tầm thường của thế gian, của phàm phu, của thế tục chứ chưa phải là tình thương của bậc Thánh, đại bi của bậc Hiền trí, trí giả, chân nhân, chánh kiến, bậc chân nhân. Nào giờ thương nhau là chúng ta đối xử đa số bằng những vật chất thông thường như vậy, thì đây là sự thương nhỏ hẹp thôi.

Này Ānanda, với ai, Thầy có lòng từ mẫn, và với những ai, Thầy nghĩ là nên nghe theo, các bạn bè, thân hữu, bà con hay cùng một huyết thống, Với những người ấy, Thầy cần phải khích lệ, cần phải hướng dẫn, cần phải an trú trong ba điểm.

Đức Thế Tôn dạy Ngài Ananda rằng với những ai Thầy thương xót, Thầy nghĩ là họ có thể nghe những lời mình nói, họ sẽ nghe theo, Thầy hãy khích lệ, chỉ dẫn, dẫn dắt, hướng dẫn, giúp đỡ họ an trú vào ba điểm: lòng tin bất động vào Đức Phật, Thánh pháp và chúng Tăng. Đây là lòng từ mẫn của bậc Đa văn Thánh đệ tử. Không có điều gì trên thế gian này đem lại sự an ổn, bình an, chỗ nương tựa vững chắc, tối thắng, thù thắng được như chánh pháp. Cho nên người có lòng từ mẫn, bi mẫn thật sự là người khuyến khích, khích lệ, hướng dẫn, làm cho những người mình thương an trú vào lòng tin bất động với Phật, Pháp, Tăng theo đúng tinh thần trong kinh Nikāya. Đây là bài kinh rất sâu sắc, đại lợi tha, đại báo hiếu, đại báo ân, là Bồ Tát hạnh. Khích lệ, hướng dẫn, an trú cha mẹ, anh chị, bà con, cô bác, bạn bè có được lòng tin vững chắc, kiên định, sâu sắc trong sạch với Chánh pháp nguyên chất. Đó là lòng từ mẫn, đại bi. Ngoài pháp ra, trên đời không có gì là ý nghĩa. Tất cả chúng ta rồi sẽ chỉ là những đống tro tàn, những giận hờn, yêu ghét, buồn đau, thương mến tan biến hết. Nếu an trú vào ba điểm này mới có chỗ nương tựa. Nên chúng ta thật sự thương một người nào đó hãy khích lệ, hướng dẫn, khuyến khích, nhắc nhở thường xuyên. Đây cũng là lý do ở Linh Quy Pháp Ấn ngày nào chúng ta cũng học pháp, nghe pháp; Minh Thành giảng pháp thì quay video, biên tập thành sách.

Lời nói của Đức Phật ngọt ngào, tha thiết, dịu hiền, tràn đầy cảm xúc, đại từ, đại bi của bậc Chánh Đẳng Giác. Khi đọc những dòng chữ này, chúng ta hãy sanh khởi cảm xúc của sự biết ơn những người đã đem toàn bộ tâm huyết để hướng dẫn mình.

Đức Phật đã dạy Thầy Ananda, với những ai Thầy có lòng từ mẫn, xót thương, với những ai Thầy nghĩ rằng họ sẽ nghe theo, bạn bè, thân hữu hay bà con cùng một dòng máu, Thầy cần khích lệ, hướng dẫn, khích lệ, nhắc nhở, động viên, quở trách, chỉ trích để an trú vào ba điểm.

Chúng ta dù không cùng dòng máu nhưng cùng là Thích tử, cùng một huyết thống của giác ngộ. “Quyến thuộc bồ đề”, khi hiểu bốn chữ này chúng ta thấy được mình có liên hệ sâu sắc chứ không phải người dưng. Các Thầy, Cô, Chú bỏ cha, bỏ mẹ đi theo Minh Thành thì trách nhiệm Minh Thành còn lớn hơn cha mẹ các Thầy, Cô. Phải có lòng từ mẫn, khuyến khích, khích lệ, hướng dẫn, dạy dỗ, chỉ bảo, rầy la, quở trách, răn đe để các vị thành tựu chánh kiến, thành tựu niềm tin vững chắc với Đức Phật, với bốn đôi tám chúng hiền Thánh. Khi hiểu được điều này, các vị mới thoát ra khỏi gia đình thế tục và chuyển tộc sang dòng họ của giác ngộ, của Thánh nhân. Những đàn anh đi trước, sư huynh, sư tỷ là những bậc tiền bối, đã trưởng thành trong pháp và luật, mình là đàn em đi sau, nối gót trên con đường Thánh pháp; hãy thương yêu, quý kính nhau.

Hãy khích lệ, hướng dẫn và an trú vào tịnh tín bất động đối với Đức Phật:“Đây là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn”.

Đức Phật là Thế Tôn: bậc thế gian tôn kính; A-la-hán: bậc diệt sạch tham, sân, si, bản ngã, sạch tất cả tâm cấu uế; Chánh Đẳng Giác: bậc thấy biết tường tận, cùng tột, viên mãn mọi góc độ, khía cạnh của thân tâm, ngũ uẩn, cũng là thấy rõ được ngũ uẩn là khổ đau, nguyên nhân của khổ, sự chấm dứt khổ và con đường đưa đến sự diệt tận khổ đau một cách viên mãn, đầy đủ, trọn vẹn, đồng đều tất cả mọi phương diện, khía cạnh của sự khổ và sự diệt khổ; Minh Hạnh Túc: bậc thành tựu đức hạnh cao thượng, tròn đầy và có trí tuệ Tam Minh; Thiện Thệ: bậc khéo vượt qua bốn đầm lầy dục, hữu, kiến, vô minh; Thế Gian Giải: thông giải tất cả pháp thế gian, tức là ngũ uẩn; Vô Thượng Sĩ: bậc không ai sánh bằng, không ai trên, vượt toàn thế gian; Điều Ngự Trượng Phu: bậc dẫn dắt, điều phục các bậc trí ở đời; Thiên Nhân Sư: vị Thầy của trời và người; Phật: bậc tỉnh thức ở đời; Thế Tôn: bậc tôn kính nhất trên thế gian này.

“Này Ānanda, dầu cho bốn đại chủng có đổi khác, địa đại, thủy đại, hỏa đại, phong đại, nhưng vị thánh đệ tử thành tựu tịnh tín bất động đối với Phật không có đổi khác. Ở đây, đổi khác là như thế này: Vị Thánh đệ tử ấy, thành tựu tịnh tín bất động đối với đức Phật, sẽ sanh vào địa ngục, loại bàng sanh hay cõi ngạ quỷ. Sự kiện này không xảy ra.”

Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, gặp tai nạn hay kề cận cái chết, đau khổ đến thế nào, tứ đại tan rã vị này cũng không bao giờ thay đổi niềm tin vào Tam Bảo. Một vị đã có lòng tin tuyệt đối như vậy thì xác quyết không bao giờ rơi vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh.

Niệm Sợi Dây Tái Sanh

Nhân duyên ở Sàvatthi... Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ràdha bạch Thế Tôn:

“Ðoạn diệt sợi dây tái sanh. Ðoạn diệt sợi dây tái sanh”, bạch Thế Tôn, được nói đến như vậy.

Bạch Thế Tôn, thế nào là sợi dây tái sanh? Thế nào là sự đoạn diệt sợi dây tái sanh?

Này Ràdha, phàm dục gì, tham gì, hỷ gì, khát ái gì, phàm những chấp thủ phương tiện, tâm kiên trú, thiên chấp tùy miên gì đối với Sắc, như vậy gọi là sợi dây tái sanh. Sự đoạn diệt chúng là sự đoạn diệt sợi dây tái sanh.

Này Ràdha, phàm dục gì, tham gì, hỷ gì, khát ái gì, phàm những chấp thủ phương tiện, tâm kiên trú, thiên chấp tùy miên gì đối với Thọ... đối với Tưởng... đối với các Hành... đối với Thức, đó gọi là sợi dây tái sanh. Sự đoạn diệt chúng là sự đoạn diệt sợi dây tái sanh.

(Kinh Sợi dây tái sanh, Tương III, 333)

Những bài kinh này là lõi của Thánh trí, đòi hỏi chúng ta công phu thiền quán sâu sắc để hiểu được. Phàm ở đây tức là tất cả. Những gì bám vào, nương vào gọi là chấp thủ phương tiện, những phương tiện để thọ, tưởng, hành, thức chấp thủ vào.

Bất cứ lòng dục, lòng tham, lòng hoan hỷ, khao khát, bám chắc vào, để rồi đi theo miên man đối với năm uẩn. Đây là những khía cạnh của lậu hoặc. Dục ở đây là cảm giác ham muốn, thúc giục, những suy nghĩ, hình bóng trong tâm. Ví dụ như chúng ta bị dính mắc vào hình bóng của ai đó để rồi đau khổ; hình bóng này chính là phương tiện để tâm chấp thủ vào; đây là bị sắc tưởng ám ảnh. Sắc ở đây bao gồm sắc ái, sắc tưởng, sắc tư, sắc hành, sắc dục. Sắc là con người chúng ta thấy trước mặt, còn hình bóng người đó trong tâm là sắc tưởng, khi chúng ta nghĩ về những hành động, lời nói, cử chỉ của người đó là sắc tưởng quá khứ, khi chúng ta nghĩ sẽ làm gì đó là sắc tưởng tương lai. Ái là cảm giác yêu thích, thương mến, lưu luyến. Dục là tham muốn, chiếm hữu. Chấp thủ là muốn chiếm hữu và nắm giữ, nắm chặt vào, không cho ai đụng đến, cho cái đó là của tôi. Trong Tương Ưng Bộ Kinh, Đức Phật dùng từ là bị sắc ảm ảnh, bị thọ ám ảnh, bị tưởng ám ảnh, bị hành ám ảnh, bị thức ám ảnh. Khi tâm chúng ta bị ám ảnh bởi hình bóng của ai đó, thì lúc ngồi một mình hình bóng hiện ra, đây là sắc tưởng, từ đây thọ, hành sanh khởi, thức rõ biết xung quanh hình bóng, cảm giác đó mà thôi, không thoát ra được. Đây chính là “chấp thủ phương tiện, tâm kiên trú, thiên chấp tùy miên đối với Sắc”, sắc pháp, sắc tưởng, sắc tư, sắc hành, sắc dục, “như vậy gọi là sợi dây tái sanh”. Cảm giác thúc dục, ham muốn, vui thích khi được gặp, được gần, được tiếp xúc, đụng chạm. “Tâm kiên trú” là sự trú ẩn vững chắc, không thoát ra khỏi nên có sự trói buộc với nhau ở đời này và cả những đời sau. Kinh Nikāya phơi bày ra hết những gì sâu kín, che khuất của thế giới này, Thánh trí ngũ uẩn giải mã tất cả những nguyên nhân sanh tử, luân hồi, dòng tái sanh. Qua đây, nhìn lại tâm mình là thấy rõ được những sợi dây tái sanh.

Phương tiện là những đối tượng để thọ bám vào như ngôi nhà, đứa con, sổ hồng,… Những cảm thọ của dục, tham, thích, khao khát nắm giữ chặt trong tâm đối với những phương tiện gọi là chấp thủ phương tiện đối với thọ. “Thiên chấp tuỳ miên” tức là sự ám ảnh, đi theo mình bất cứ đâu. Đức Thế Tôn đã ví tham như món nợ, chúng ta như người mắc nợ, đi đến đâu là bị nợ theo đến đó. Những dục, tham, hỷ, khát ái, chấp thủ phương tiện, thiên chấp tuỳ miên đối với sắc, cảm giác, hình bóng, suy nghĩ, rõ biết là sợi dây tái sanh, cắt đứt chúng là cắt đứt sợi dây tái sanh. Vị nào muốn giải thoát thì cắt đứt sợi dây tái sanh.

Như căn nhà, chiếc xe, đất đai, ruộng vườn, cháu nội, cháu ngoại, những cảm giác nuôi dưỡng bên trong, những dục, những ái, những hỷ là những thứ chúng ta cần cắt đứt thì mới có thể giải thoát, đoạn diệt sợi dây tái sanh. Nếu còn những suy nghĩ, ý hành chưa muốn cắt đứt thì cần tẩy sạch những suy nghĩ đó, đây là đoạn diệt sợi dây tái sanh đối với hành uẩn.

Chỉ có trí tuệ của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác mới nhìn ra được, trình bày cho chúng ta hiểu; tu tập là nương vào, thiền định, thiền quán để dần dần thấu hiểu và thể nhập Thánh trí tuệ. Không có Đức Phật chỉ dạy thì làm sao chúng ta có thể biết về ngũ uẩn, dục, tham, ái, vô minh, bản ngã, chấp thủ phương tiện, thiên chấp tuỳ miên; và khi không biết làm sao nhiếp phục, làm sao biết dùng vũ khí, phương tiện gì để hạ gục giặc trong nội tâm. Phương tiện ở đây tức là ba mươi bảy phẩm trợ đạo. Không ai có thể cắt sợi dây tái sanh giùm chúng ta được. Phải nỗ lực tu tập. Muốn đến tận cùng tức là dục như ý túc; tinh tấn, nỗ lực là tấn như ý túc; để tâm vào là tâm như ý túc; tiếp theo là tìm đủ mọi cách là thẩm như ý túc, tư duy như ý túc.

Niệm Ngũ uẩn duyên sanh

Thân là duyên sanh,

Thọ, tưởng, hành, thức cũng là duyên sanh.

Thân là vô thường,

Thọ, tưởng, hành, thức cũng là vô thường.

Thân là phiền não,

Thọ, tưởng, hành, thức cũng là phiền não.

Thân không là mình,

Thọ, tưởng, hành, thức cũng không là mình.

Thân này từ bỏ,

Thọ, tưởng, hành, thức cũng xin từ bỏ.

Thân xả, tâm xả - Dễ chịu, dễ chịu.

Buông xả, buông xả - Dễ chịu, dễ chịu.

Đây là những Thánh pháp ấn của kinh Nikāya.

Thân là duyên sanh

Duyên ở đây tức là do cái này có mặt nên cái kia có mặt, do cái này không có mặt nên cái kia không có mặt. Ngay giây phút ngồi đây là chúng ta phải có thở, có sự hô hấp tuần hoàn thì con người mới tiếp tục sinh tồn, không có thở thì sự hô hấp, tuần hoàn này chấm dứt. Khi bưng bát cơm đi khất thực, hãy niệm duyên sanh. Thân này được nuôi dưỡng bằng thức ăn, do cha mẹ sanh, cơm cháo nuôi dưỡng, tứ đại tác thành, vô thường, huỷ hoại, tan hoại, hoại diệt. Bưng bát cơm và quán “thức ăn còn, thân này còn; thức ăn chấm dứt, thân này hoại diệt”. Cầm ly nước trên tay chúng ta cũng quán “Có nước nên có sự sống, không có nước thì chết”. Niệm thân duyên sanh tức là chúng ta đang niệm tứ đại.

Những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ, rõ biết cũng là duyên sanh. Do duyên xúc nên sanh ra thọ, tưởng, hành. Tất cả là duyên sanh. Chúng ta quán chiếu để thấy rõ được tính chất vô thường, tác ý, suy tư để buông bỏ những sự chấp thủ đối với năm uẩn.

Thân là phiền não

Có da, có thịt, có gân, có tim, gan, phèo, phổi, thận, tuỷ, não, tóc, lông, răng, móng, tức là có mặt, mũi, tay, chân hình thành nên thân, vì có thân này nên mới bị những sự xúc chạm của côn trùng, bị chúng làm cho ngứa ngáy, khó chịu. Nên thân này là phiền não, phiền phức, phiền muộn, phiền toái, lo lắng, lo sợ, lo toan. Mỗi ngày đi chợ, lựa món này món kia, nấu nướng cực khổ, ăn rồi khen, chê, hợp hay không, tốt cho sức khoẻ không, món ngon thì ăn cho bụng chứa đầy, no thì mệt; món không ngon thì ăn không được, đói bụng, phiền não. Bởi vậy không ưa thích trong món ăn, không ưa thích thân này. Có thân là phải tắm rửa, đánh răng, đi tiểu tiện, đại tiện. Chúng ta phải quán chiếu thật nhiều để xả ly cái tôi, cái ta, dục, ái, yêu thích, chấp thủ thân này. Quán chiếu thường xuyên, hoài hoài thì sự vô minh bị vỡ ra, sợi dây tái sanh được cắt đứt. Chấm dứt từ nay cuộc tái sanh

“Trời ơi đất hỡi thấu cho chăng

Xác thân máu mủ giòi bọ ăn

Sao yêu sao thích sao ham mãi

Chết rồi khao khát lại tìm thân.

Trời ơi đất hỡi thấu cho chăng

Xác thân nhà máy sản xuất phân

Công ty xuất nhập nguồn nước tiểu

Có gì lên mặt với kiêu căng.

Trời ơi đất hỡi thấu cho chăng

Xác thân hôi thối bẩn thỉu này

Khao khát dục tham vô lượng kiếp

Quay cuồng điên đảo chết chưa nguôi”.

“Sao ngu vậy, sao đam mê, sao khổ vậy nè. Tấm thân vô thường, bại hoại, bất tịnh, phiền não, khổ đau mà cứ chấp thủ hoài, hơn thua hoài, yêu thích hoài, tham đắm hoài. Ngu vừa phải thôi tâm ơi”. Mắng chửi nó, đánh đuổi, đánh tan đi sự ngu si, vô minh, chấp thủ, điên đảo, si mê, hôn ám, khát ái này. Quá nhiều thứ phiền phức, ra ngoài con mắt này nó nhìn ngó. Minh Thành nhiều khi không muốn bước ra khỏi cửa, không muốn thấy, không muốn nghe, không muốn tiếp xúc.

Dù là tu trong chùa, mà nói pháp với nhau một hồi là thành cãi lộn, gây nhau, phiền não. Sắc, thọ, tưởng, hành, thức khác nhau là khẩu tranh, luận tranh, chiến tranh. Chúng ta nhìn cái gì cũng sẽ thấy tính chất phiền não trong đó.

Thọ, tưởng, hành, thức cũng là phiền não

Ăn món gì ngon thì tham, dở thì sân, không ngon không dở thì si. Các pháp luôn có mặt, mà chúng ta vô minh nên không thấy, không biết. Nếu duy trì sự thấy biết liên tục, lâu dài như vậy thì là lúc trí tuệ phát sinh.

“Người ngu nghĩ mình ngu

Nhờ vậy thành có trí

Người ngu tưởng có trí

Thật xứng gọi chí ngu”

(Kinh Pháp cú, phẩm Ngu)

Ngu mà nghĩ là mình có trí, nên vĩnh viễn là kẻ chí ngu, sự ngu cùng tột. Còn một khi biết mình ngu, nhờ vậy thành có trí. Minh Thành ở trong thất sáu ngày, dù tác ý mắng chửi tâm này rất nhiều, nhưng an lạc vô cùng. Hạch tội, vạch tội tâm này nên nó tàm quý, xấu hổ, nhục nhã, nhàm chán, ê chề, não nề nên một cách dễ dàng nó xuất ly, không ham thích gì nữa, chỉ còn sự ham thích tâm không ham thích này. Khi chúng ta thấy mình ngu hoài, thì sẽ trở thành được bậc có trí.

Cảm giác sân sanh khởi, tác ý mắng nó “Sao mày ngu quá vậy, sân làm gì vậy?”. Có khởi bản ngã, ta đây, tác ý “Ngu quá vậy. Ta gì trong này. Cái gì là ta, là của ta. Mày ngu vừa phải thôi chứ”. Tác ý vậy rồi tâm lắng dịu là chúng ta được an. Có tưởng hướng ngoại, tác ý “Ngu quá vậy. Tối ngày chạy hoài. Không ở yên để tu mà muốn làm cô hồn vất vơ vất vưởng hay sao xách đãi chạy hoài vậy”. Đây là nhìn ra được cái ngu của mình, cũng tức là đang trở thành người trí. Duy trì thường xuyên, nhìn ra lậu hoặc như vậy thì sẽ mau chóng chúng ta đi tới đoạn tận các lậu hoặc. Chứ nếu tu tập mà chỉ thấy toàn an lạc là chúng ta mù. Phải thấy ra được sự ngu si, khổ đau, phiền não, thứ đáng nhàm, đáng chán, duyên sanh, vô thường, bại hoại, tan nát, phiền phức, mệt mỏi, chán chường này. Chẳng có gì ngoài tham, sân, si sanh khởi hoài. Từ đó chúng ta nhàm chán, thấy phiền não, phiền phức, phiền toái, phiền nhiễu. Thấy như vậy là Thánh trí bắt đầu sanh khởi trong tâm chúng ta. Càng thấy lậu hoặc là càng có trí tuệ. Ví như một người luôn nhìn thấy nhà mình dơ, thì vị này luôn ý thức dọn dẹp, quét dọn, lau chùi, thành ra nhà sẽ trở nên sạch sẽ.

Thân không là mình

Thọ, tưởng, hành, thức cũng không là mình

Thân này từ bỏ

Thọ, tưởng, hành, thức cũng xin từ bỏ.

Chúng ta cần tu tập dần dần, chứ không phải nói bỏ là bỏ được liền. Thẩm thấu từ từ rồi mới đi đến chỗ thể nhập Thánh pháp, khi đó thọ, tưởng, hành, thức được thấm nhuần; trí tuệ chúng ta xác quyết theo Thánh trí mà Đức Phật đã truyền trao: “Thân này là phiền phức, phiền não, không phải là mình, đáng từ bỏ, đáng nhàm chán”. Đây là vị đã nhập lưu, nhập vào dòng Thánh, bậc Dự lưu, minh sanh, chánh kiến thành tựu; bậc tối thượng giữa chư Thiên và loài người. Thành tựu chánh kiến thôi đã là tiếng gầm con sư tử. Cũng như con sư tử dù mới đẻ ra nó vẫn được gọi là sư tử, được xem là sư tử, được xem trọng vì nó là sư tử; dù cho cáo già, chó rừng già thì vẫn không thể hơn sư tử được. Dù cho có nối gót sư tử một trăm năm thì tiếng kêu vẫn là tiếng kêu của chó rừng chứ không thể thành tiếng kêu của sư tử được. Đức Thế Tôn khi thuyết về ngũ uẩn là tà ma, ngoại đạo, bao nhiêu ngàn thế giới chấn động mạnh; thể hiện tiếng gầm của sư tử chúa, Thánh chúa.

“Thân này là phiền não”

Ví dụ như bị sư huynh rầy la, quay về nhìn nhận lại thân tâm mình, phát giác ra liền “tâm vô minh này, lại làm sai rồi; thọ, tưởng, hành, thức, vô minh, tham ái, chấp thủ, ngu si thật phiền não, đáng nhàm chán này”. Cho nên trong sự tu tập Nikāya là chúng ta luôn quay lại nhìn lỗi mình, không hướng ngoại. Còn nếu khi bị rầy la mà chúng ta nổi bản ngã, sân lên thì không thể học, tiếp thu pháp được. Muốn tu tiến bộ, đi đến thể nhập vào dòng Thánh pháp này thì đừng bao giờ nhìn thấy có mình, có ta, có tôi mà chỉ là một đống tham, sân, si, vô minh, bản ngã; một đống xương, da, máu, mủ, ruột, gan, phèo, phổi, nước tiểu, phân mà thôi. Khi tâm khởi lên phiền não, giận hờn, hơn thua, tham lam, hưởng thụ, buông lung phóng dật thì chúng ta quay về quán “Không ai ở đây cả”, khi không có ai thì làm sao cơn giận, hay những pháp bất thiện có chỗ để bám vào, để tồn tại. Khi thấy có tôi, là không thấy pháp, là vô minh.

Chỉ với một câu nói thôi mà về là chúng ta giận, hoặc thương nhớ. Gặp gỡ chút thôi mà về là ngủ không được vì nhớ. “Thọ, tưởng, hành, thức cũng là phiền não”.

Mỗi ngày một chút, mỗi sự kiện giúp chúng ta tăng trưởng trí tuệ một chút, chất chứa dần dần giống như từng hạt cơm thành ra chén cơm, từng giọt nước thành ra ly nước. Cũng vậy, trí tuệ chúng ta sanh khởi do từng sự tác ý để thọ, tưởng, hành được huấn luyện thuần thục, điêu luyện, kiên trú, vững chắc vào Thánh pháp. Thấy rõ được thân này là phiền phức, khổ đau, vô thường và sự thấy biết này không bao giờ mất đi, đây là trí tuệ đã được chứng nhập, thể nhập tri kiến của bậc Thánh.

Dù cho một người xinh đẹp, giàu có, chức quyền nhất ở trước mặt thì với trí tuệ chúng ta vẫn thấy: thân này là phiền não, duyên sanh, vô thường, vô ngã. Chính vì vậy, muốn thể nhập, chứng nhập, chứng đắc thì phải siêng năng rèn luyện, tác ý, tư duy, huân tu, tưới tẩm, tăng trưởng, ôn luyện, nghiền ngẫm, chiêm nghiệm, quán chiếu. Sáng, trưa, chiều, tối, ngay cả đang ngủ giật mình thức dậy cũng nghĩ đến “thân này là phiền não, duyên sanh, vô thường, vô ngã, đáng từ bỏ, không gì là mình”. Tâm từ cũng vậy, nghĩ đến, suy tư thường xuyên. Sự sân hận sẽ bị tâm từ giải phá, hoá giải. Tâm từ trải rộng, thường trực, rộng lớn. Sự thật về khổ luôn được nhìn thấy, cảm thọ khổ được chất chứa thường xuyên, nhìn đâu cũng thấy khổ, từ thân này, đến thân người khác; sáu căn, sáu trần, sáu xúc, sáu thọ, sáu ái, sáu tư, sáu tầm, sáu tứ đều là khổ, một đại khổ uẩn, thì đây là chứng nhập vào được khổ Thánh đế, từ đây nhìn ra, xác quyết nguyên nhân của khổ là dục tham, ái, sân, si, vô minh, bản ngã; từ sự tin chắc này vị này chắc chắn đi trên con đường diệt tận khổ đau.

“Chỉ có một đường tiến thẳng nhanh

Không cho phân vân do dự sanh

Nếu ngươi không tu, ngươi cứ biến

Mình ta trong thất lòng tịnh thanh”

Những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ, rõ biết này hãy tan biến hoàn toàn khỏi tâm ta. Phải an trú trên vô thường tưởng, khổ đau tưởng, phiền não tưởng. Phiền não là một đề tài để chúng ta quán chiếu rất hay. Đọc một tin nhắn, nghe cuộc điện thoại thôi là phiền não sanh. Gặp là nhớ thương. Suy nghĩ là dính mắc. Biết là sân, si lên. Ngũ uẩn này là phiền não, buồn phiền. Ngồi cũng phiền, đi cũng phiền, động cũng phiền, ở không thì buồn. Đi làm thì thích được nghỉ, dịch được nghỉ ở nhà thì sanh ra bức xúc. Lên núi thì muốn xuống phố, xuống phố thì muốn lên núi. Ở quê thì thích xây nhà bê tông, ở thành phố thì thích làm nhà lá. Người da đen thì thích làm cho trắng, da trắng thì tắm nắng cho đen. Người mập thì thích gầy, người gầy thì thích mập. Chúng ta thấy đủ thứ phiền não từ nơi thân này; thọ, tưởng, hành, thức này; bị dẫn dắt vòng vòng bởi vô minh và khát ái.

Chúng ta nghĩ người nổi tiếng là sướng lắm. Nhưng với người đi đâu cũng phải che mặt kín mít, sợ bị chụp hình lén, đời tư thì bị bới móc thì có sung sướng không ạ? Cũng toàn là phiền não, khổ đau. Tu tập với trí tuệ để thấy, biết và từ đó nhàm chán, từ bỏ, thoát ra.

Thọ, tưởng, hành, thức sanh, diệt liên tục; phiền phức vô cùng, “hãy tan biến hoàn toàn khỏi tâm ta đi. An tịnh, lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào đi. Đừng chạy đuổi hoài nữa, trải tâm từ nha”. “Lắng nghe thọ, tưởng, hành thật kỹ - Nghe rồi dẫn chúng đến hiền tâm” (trích Nghi thức tu học Nikāya). Nghe những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ trong tâm đang nói gì; nghe rồi dẫn chúng đến tâm hiền, tâm từ, tâm bi, tâm xả; dẫn chúng đến Thánh pháp ấn: duyên sanh, vô thường, phiền não, khổ đau, vô ngã, từ bỏ, thoát ra. Dẫn tâm đi về hướng cứu cánh là tâm an tịnh, lắng dịu, tịnh chỉ các hành. Còn nếu không đi về hướng sự thật của bậc Thánh thì không có cách nào có thể dừng lại hoàn toàn, viên mãn được. Có những vị chứng được tứ thiền, bát định mà vẫn phải luân hồi là bởi chưa đi đến chỗ cứu cánh. Dù thấy yên tịnh như vậy nhưng khi có duyên đến, định mất là bởi vị này còn tự ngã, thân kiến, chấp thủ trong ngũ uẩn. Còn Thánh pháp này là phá vỡ, bứng lên gốc rễ của ngũ uẩn, đem đốt, rải tro xuống biển, hoàn toàn trở thành hư không, không thể sanh khởi lại trong tương lai. Đây là Thánh trí tuệ tuyệt đối, tối thắng, vi diệu, cao tột của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, vị không có ai ngang hàng, không có người cao hơn; vị duy nhất giữa tam thiên đại thiên thế giới tuyên thuyết về sự thật của khổ và sự diệt khổ - Tứ Thánh Đế.

Với Thánh trí tuệ này là quá xứng đáng để chúng ta đảnh lễ, đội lên đầu, lạy xuống, tràn nước mắt ra, cung kính, tôn trọng, chân thành, tha thiết, học hỏi và truyền bá, khích lệ, hướng dẫn cho cha mẹ, anh chị em, cô bác, hàng xóm.

Thân không là mình

Thọ, tưởng, hành, thức cũng không là mình

Thân này từ bỏ

Thọ, tưởng, hành, thức cũng xin từ bỏ

Thân xả, tâm xả - Dễ chịu, dễ chịu

Buông xả, buông xả - Dễ chịu, dễ chịu

Thân buông xuống, tâm buông xuống, buông bỏ, buông xả thật là dễ chịu vô cùng, thật là dễ chịu làm sao!

./.