Tương Ưng Nhân Duyên 1 - Chúng Ta Đang Bị Vây Hãm - Sanh Tử Trí
Kinh Nikāya Giảng Giải - Tương Ưng Nhân Duyên 1
Chúng Ta Đang Bị Vây Hãm
Sanh Tử Trí
Thích Minh Thành
Ngày 10 tháng 01 năm 2022
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Thế giới đang bị vây hãm trong khổ đau PAGEREF _Toc97309855 \h 1
II. Sanh duyên già, chết PAGEREF _Toc97309856 \h 6
I. Thế giới đang bị vây hãm trong khổ đau
Kính lễ Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác.
Kính bạch Chư Tôn giả, các bậc Hiền trí, tăng, ni và quý Phật tử.
Năm nay là ngày mùng 8 tháng Chạp Âm lịch.
Theo truyền thống Phật giáo Phát Triển là kỷ niệm ngày thành đạo của Bồ Tát Tất Đạt Đa. Ở các thiền viện một số nơi thì hôm nay là ngồi thiền sáng đêm, trắng đêm thâu đêm, ngồi thiền suốt đêm, quán niệm giây phút thiêng liêng vĩ đại của một con người siêu việt, bậc Đại Đạo Sư của trời và loài người.
Ngày hôm nay, ở các thiền viện lớn là ngày lễ xuất gia cho những giới tử, cho nên ngày hôm nay có ý nghĩa rất là quan trọng trong truyền thống Phật giáo Phát Triển. Rất nhiều tăng, ni, Phật tử nghi vấn thắc mắc không biết giây phút giác ngộ của Bồ Tát, giây phút thành tựu Chánh Đẳng, Chánh Giác đó diễn ra như thế nào? Rất nhiều công án, câu chuyện, sách vở viết lại. Nếu chúng ta không học kinh Nikāya thì chúng ta sẽ hoàn toàn không biết chính xác giây phút đó như thế nào.
Hôm nay, chúng ta sẽ được nghe giây phút thành đạo của Bồ Tát, chúng ta tận tai nghe chính sự tường thuật của Đức Thế Tôn vào khoảnh khắc đó. Thật sự, bản thân Minh Thành tu học trước nay gần ba chục năm mà không biết chính xác thật sự là Bồ Tát thành đạo như thế nào, chứng ngộ cái gì. Cho đến khi đi vào dòng pháp Nikāya thì mình mới có một cái thấy biết chân xác.
Cách đây khoảng một, hai tháng trước, vị ni sư tu học trước Minh Thành có hỏi là có phải Đức Thế Tôn chứng ngộ giáo lý Duyên Khởi không, thì vẫn còn ngờ vực, phân vân, tu gần cả một cuộc đời rồi; mà cái này là chung, không những của hàng Phật tử mà cả giới tu hành có khi là tu suốt cả cuộc đời cũng không biết thật sự có một niềm tin xác quyết, rõ ràng, thật sự là lúc đó Bồ Tát chứng ngộ cái gì. Hôm nay, chúng ta sẽ được nghe sự chứng ngộ đó.
Không những của Như Lai Thích Ca Mâu Ni Đại Cù Đàm tường thuật mà còn của bảy Đức Phật. Kể lại cho chúng ta biết sự chứng ngộ của bảy Đức A-la-hán Chánh Đẳng Giác đều giống nhau hết trong Tương Ưng Bộ kinh, Tương Ưng Nhân Duyên, phẩm Phật Đà.
Ở đây, Minh Thành sẽ kết hợp nhiều bài kinh để chúng ta thấy được là từ Đức Phật Tỳ Bà Thi (Vipassì) cho đến Đức Phật Thi Khí (Sikhì), Đức Phật Tỳ Xá Phù (Vessabhu), Đức Phật Câu Lưu Tôn (Kakusandha), Đức Phật Câu Na Hàm (Konāgamana), Đức Phật Ca Diếp (Kassapa) và cuối cùng là Đức Thế Tôn, Đại Thích Ca Mâu Ni Cù Đàm (Mahà Sakyamuni Gotama). Bảy Đức Phật cùng tường thuật sự chứng ngộ về giáo lý Duyên khởi giống y như nhau.
Vì bài kinh của Thế Tôn Tỳ Bà Thi là bài kinh đầu cho nên người ta viết đầy đủ, còn những bài sau viết đơn giản, cho nên chúng ta sẽ dựa vào bài kinh đầu để nghe, kết hợp với sự chứng ngộ của Đức Thế Tôn Thích Ca Mâu Ni, Như Lai hiện tại, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, Chánh Biến Tri, bậc Đạo Sư vĩ đại của chúng ta.
Khi đó Thế Tôn ở Sàvatthi:
- “Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, trước khi Ta giác ngộ, chưa chứng Chánh Đẳng Giác, còn là Bồ-tát, tư tưởng sau đây được khởi lên: "Thật sự thế giới này bị hãm trong khổ não, bị sanh, bị già, bị chết, bị đoạn diệt và bị tái sanh; và từ nơi đau khổ này, không biết sự xuất ly, thoát khỏi già chết; từ nơi đau khổ này, không biết khi nào được biết đến sự xuất ly già chết"”.
(Kinh Tương Ưng Bộ Thiên Nhân Duyên - Tương Ưng Nhân Duyên - Phẩm Phật Đà - Phần Maha Sakyamuni Gotama: Đại Thích Ca Mâu Ni Cù Đàm.)
Từ trong đau khổ này, chúng sanh không biết được con đường thoát ra. Từ trong sự vây hãm, bủa vây của khổ sầu, buồn đau, của đầy dãy dục vọng, sân hận, tranh đấu, hơn thua, giành giật bên trong tâm và trên thân xác là một thân bệnh hoạn già nua, chết chóc đi đến sự tan rã hoại diệt. Sau khi chấm dứt đời sống lại tiếp tục tái sanh. Trong sự đau khổ, từ nơi đau khổ đó, chúng sanh không biết con đường thoát ra, hoàn toàn không biết lối thoát, không có lối thoát, không có sự xuất ly để thoát ra khỏi già, chết, sầu bi. Từ nơi đau khổ này không biết khi nào được biết đến sự thoát ra khỏi già chết ở trong cái đống khổ to lớn đó. Không biết cho đến bao giờ, không biết cho đến khi nào, không biết đến chừng nào mới có thể nhận hiểu được, nhận thức, nhận biết được một lối thoát khỏi sống chết, khỏi sanh tử.
Trước khi ta giác ngộ, chưa chứng Chánh Đẳng Giác còn là Bồ Tát, ta suy xét chiêm nghiệm, quán chiếu thật sự thế giới này bị vây hãm trong khổ đau, thật sự thế giới này bị bủa vây trong sầu não. Thật sự thế gian này bị lẩn quẩn trong dục tham, trong tham ái trong buông lung phóng dật, vô minh. Thật sự thế giới này đang chìm đắm, chìm đắm trong bóng tối trong bóng đêm. Thật sự các loài hữu tình chúng sanh đang mù lòa, rối rắm, loanh quanh lẩn quẩn trong tâm là những dục vọng, sân si, vô minh, bản ngã, tranh giành, tranh đấu, ích kỷ, hẹp hòi, nhỏ mọn, ganh tỵ, đố kỵ, hơn thua, giành giật. Họ phải chịu những cảm thọ đau khổ, sầu bi. Bên ngoài thân đã phải chịu đựng bệnh tật, già nua, suy lão, biến hoại các căn dẫn đến chấm dứt, đoạn tận, đoạn diệt, tan rã, tan nát, tan vỡ đi đến chỗ diệt vong.
Thật sự, chúng sanh hữu tình phải chịu đựng sự thống khổ trong vòng tái sanh, oan nghiệt, sống chết, đắp đổi, xoay vần. Từ nơi đau khổ này, họ hoàn toàn chẳng biết một con đường, một lối thoát, sự xuất ly, cứ loanh quanh lẩn quẩn trong bóng đêm, dục tham, sân hận, bản ngã; lẩn quẩn loanh quanh trong buông lung phóng dật, dao động; lẩn quẩn loanh quanh trong cái tâm điên đảo, tưởng điên đảo, kiến điên đảo, trong những nội tâm động loạn, dao động, lăng xăng, bất an, lo lắng, khổ sầu. Họ bị vây hãm trong một thế trận của ác ma, bị vây hãm bởi những tên giặc của phiền não, chúng sanh hữu tình bị bao vây, bủa vây, vây hãm bởi chính những thọ - tưởng - hành của họ, những cảm giác, nghĩ, tưởng, tà kiến, vô minh, si mê; không có lối thoát, không có con đường, không có đạo lộ, không có xuất ly.
Từ nơi đau khổ đó, họ không biết sự xuất ly, không biết cách thức nào đi ra khỏi sanh già, bệnh chết. Dù cho họ có biết được đôi phần cũng không có nỗ lực, họ cũng tiếp tục tái sanh. Hay là chúng ta nói hiện tại của mình, dù đã nghe, đã biết vẫn không có nỗ lực, vẫn sống theo những tập tính, thói quen của mình chứ đừng nói chi là không biết.
Thật sự từ nơi đau khổ này, chúng sanh hữu tình không biết khi nào được biết đến sự xuất ly khỏi già, chết; hay là khi Bồ Tát chưa thành đạo, không biết đến khi nào thì họ mới được biết một lối thoát. Đó là sự chiêm nghiệm, quán chiếu của Bồ Tát.
Đây là chủ đề thiền quán, đây là một cái đề mục để quán chiếu, hai chữ “vây hãm” này thật sự là một sự thật thực tại mà chúng sanh hữu tình đang ở trong đó, hoàn toàn trong vô minh không thấy không biết, không biết mình đang bị vây hãm, bao vây, bủa vây; không biết mình đang bị bao quanh quấn chặt, buộc chặt, vây hãm. Không biết mình đang lọt ở trong bẫy của chính những cảm giác nghĩ tưởng, ngu si, tà kiến, lầm lạc, dại khờ, vô minh mới tạo ra vây hãm chính tự thân tâm của chúng ta.
Cứ như vậy, muôn đời vạn kiếp loanh quanh, lẩn quẩn không có ngày thoát, không biết chừng nào thoát ra, không có lối thoát. Thật sự đây là hiện trạng của chúng sanh hữu tình trên khắp hành tinh này. Đây là thực tại, sự thật ngay trong hiện tại của mọi loài, vạn loại chúng sanh. Đây là sự đau khổ mà không biết mình đau khổ thì đau khổ này thật sự là lớn lao và vĩ đại. Vô minh mà không biết được mình vô minh thì vô minh này thật sự là sâu dày.
Chúng ta đang bị vây hãm, phải lấy cái này làm đề mục chiêm nghiệm suốt ngày đêm và sống trong cẩn thận, lo lắng, thận trọng, dè dặt, dè chừng, phòng hộ, canh chừng tâm thức của mình. Hãy nhớ thật kĩ, chúng ta đang bị vây hãm, bao vây, bủa vây. Chúng ta đang lọt ở trong ma trận của vô minh, khát ái, dục vọng, buông lung, phóng dật, của sự thả lỏng các căn; của sự mất Chánh niệm và Tĩnh giác, chúng ta đang bị rơi trong ma trận. Ý thức sâu sắc về điều này, không được quên, không cho phép mình quên, lúc nào cũng sống trong cẩn thận. Đáng thương cho chúng ta, thật là tai nạn cho chúng ta, thật là đại họa cho chúng ta.
Nếu chúng ta không chăm niệm đạo, ngày đêm chăm bẵm ưu tư về sự khổ này. Đời sống tu hành của chúng ta chỉ có một hình thức, một vẻ ngoài, bên trong trống không vô tích sự, giống như cây bọng không có lõi, chỉ có cái đầu với chiếc áo, thậm chí nhìn không ra dáng người tu, không oai nghi tế hạnh.
Phải quán chiếu thật sự, thế giới này đang bị vây hãm trong khổ não. Thân tâm này đang bị vây hãm, phiền não. Sắc - thọ - tưởng - hành - thức này đang bị vây hãm trong tham sân si, không bao giờ quên. Thật sự chúng ta đang bị vây hãm, bao vây bởi thế trận của vô minh và khát ái. Thân tâm chúng ta và hoàn cảnh xung quanh là một bóng đêm bao phủ bao trùm, chỉ cần mất Chánh niệm Tĩnh giác, quên đi Thánh trí Năm Uẩn thì lập tức trời đêm bóng đêm, hoàn toàn không thấy không biết thân tâm của mình; chỉ cần một chút cái công việc, duyên cảnh tác động tới là mất hết, mất mình hết.
Thành thử, tự hỏi mình tu như vậy xứng đáng chưa, có ứng cúng chưa, có xứng đáng để thọ vào sự cúng dường không? Phải ngày đêm khảo tra tâm của mình, phán xét, phán xử thân tâm của mình, ngày đêm phải hạch tội nó. Chúng ta đang bị vây hãm trong khổ sầu, chúng ta thử quán chiếu, bất thình lình nhiễm dịch bệnh rồi chết đi đâu, với cái tâm thức như hiện tại chết đi đâu, có dự vào Bốn đôi Tám chúng không, Thánh Trí của mình có vững chắc chưa.
Thật sự thế giới này bị vây hãm trong khổ não, bị sanh, già, chết, đoạn diệt và bị tái sanh. Và từ nơi đau khổ này chúng sanh không biết lối thoát, không biết sự xuất ly để thoát khỏi già, chết. Từ nơi đau khổ này, chúng sanh không biết khi nào được biết đến lối thoát già, chết; không biết chừng nào, không biết khi nào, không biết đến lúc nào chúng sanh biết được lối thoát khỏi sanh tử, sống chết, đau khổ này. Không biết đến khi nào chúng sanh mới biết đến sự xuất ly.
II. Sanh duyên già, chết
“Rồi này các Tỷ-kheo, Ta lại suy nghĩ như sau: "Cái gì có mặt, già, chết có mặt? Do duyên gì, già chết sanh khởi?" Rồi này các Tỷ-kheo, sau khi như lý tư duy, nhờ trí tuệ, Ta phát sinh minh kiến như sau: "Do sanh có mặt nên già chết có mặt. Do duyên sanh nên già chết sanh khởi"”.
(Kinh Tương Ưng Bộ Thiên Nhân Duyên - Tương Ưng Nhân Duyên - Phẩm Phật Đà - Phần Maha Sakyamuni Gotama: Đại Thích Ca Mâu Ni Cù Đàm.)
Tại sao có già chết? Tại sao có những dòng nước mắt của chia ly, tử biệt? Tại sao có đám ma? Tại sao có sự tự trần? Tại sao có sự lâm chung? Tại sao có sự kết thúc đời sống trong nước mắt trong đau khổ? Tại sao có chiếc quan tài, có nấm mộ? Tại sao có lò thiêu? Tại sao có hũ cốt? Vì có tiếng “oa oa” khóc chào đời của đứa trẻ.
Những bài kinh này thâm sâu vô tận, chúng ta không phải học bình thường mà chúng ta phải học bằng Thiền Quán.
Tại sao có sự chết? Vì có sự sinh ra. Tại sao có nấm mộ? Tại sao có quan tài? Tại sao có lò thiêu, hũ cốt? Tại sao có bàn thờ? Tại sao có từ trần, lâm chung? Chúng ta phải chiêm nghiệm, thẩm thấu qua các tầng cảm thọ. Những lời này là định lý giải thoát của sự chứng ngộ.
“Và này các Tỳ-kheo, thế nào là già và chết? Cái gì thuộc chúng sanh này hay chúng sanh khác, thuộc bộ loại chúng sanh này hay bộ loại chúng sanh khác; bị già, bị yếu, suy nhược, răng rụng, tóc bạc, da nhăn, tuổi thọ tàn lụi, các căn chín muồi. Đấy gọi là già. Cái gì thuộc chúng sanh này hay chúng sanh khác, thuộc bộ loại chúng sanh này hay bộ loại chúng sanh khác; sự từ bỏ, hủy hoại, tiêu mất, tử vong, các uẩn hư hoại, thân thể vứt bỏ. Đây gọi là chết. Như vậy, này các thầy Tỳ-kheo, đây gọi là già và chết”.
(Kinh Tương Ưng Bộ Thiên Nhân Duyên - Tương Ưng Nhân Duyên - Phẩm Phật Đà - Phần Phân Biệt.)
Chúng ta thấy bậc Đạo sư vĩ đại của chúng ta đã giải thích từng chút, từng chút điều chúng ta quán chiếu, thể nhập.
Già là gì? Suy yếu, suy nhược, răng rụng, tóc bạc, da nhăn, tuổi thọ tàn lụi, tàn lụn, lụi tàn, các căn chín muồi tức là mắt không còn thấy, tai không còn nghe rõ. Mắt mờ, tai điếc da nhăn, tóc bạc, lưng còng, gối mỏi. Đó là con đường mà tất cả chúng sanh hữu tình phải đi đến, phải đi qua. Con đường của già nua, bệnh tật, suy lão, suy vong, biến hoại. Sự vô minh của chúng ta quá dày đặc, sự mê muội của chúng ta quá tối tăm, bằng Thánh Trí Tuệ Đức Phật đã giải thích để chúng ta có sự tác ý, nghiền ngẫm, chiêm nghiệm.
Thế nào là chết. “Cái gì thuộc chúng sanh này hay chúng sanh khác, thuộc bộ loại chúng sanh này hay bộ loại chúng sanh khác; sự từ bỏ, hủy hoại, tiêu mất, tử vong, các uẩn hư hoại, thân thể vứt bỏ”. Bị người ta đem vứt bỏ, chính những người yêu thương nhất của mình đem thân xác các thi thể đó vứt bỏ vào lò thiêu, vứt bỏ trong cái hố. Bị chính những người thương yêu nhất trong cuộc đời này của mình vứt bỏ. Tại vì các căn này hư hoại, tiêu mất tử vong. Đừng tưởng người già mới chết, bất cứ lúc nào, nhất là thời đại dịch bệnh này. Vài bữa là họ đem mình đi vứt bỏ, quăng bỏ mà mình không có nhớ, không bao giờ nhớ thân xác này sẽ quăng bỏ. Tất cả những cái này đều là đề tài Thiền Quán.
Chúng ta đọc tới lui, chiêm nghiệm, nghiền ngẫm, tư duy, thẩm thấu, thể nhập. Đó là cách đọc kinh. Đức Thế Tôn giải thích cho mình hai chữ “già, chết”. Tại sao có già, chết? Tại sao có tình trạng này xảy ra? Ngài nói là do có sanh, vì có sự sanh ra cho nên mới có sự biến hoại và tan rã của chết chóc, hoại diệt và tử vong.
“Và này các Tỷ-kheo, thế nào là sanh? Cái gì thuộc chúng sanh này hay chúng sanh khác, thuộc bộ loại chúng sanh này hay thuộc bộ loại chúng sanh khác bị sanh, xuất sanh, giáng sanh, đản sanh, sự xuất hiện các uẩn, sự thành tựu các xứ. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là sanh.”
(Kinh Tương Ưng Bộ Thiên Nhân Duyên - Tương Ưng Nhân Duyên - Phẩm Phật Đà - Phần Phân Biệt.)
Tức là chúng sanh khác bị sanh, được sanh ra, sự có mặt, xuất hiện của mắt, tai, mũi, lưỡi, thân hình; xuất hiện của những cảm giác, những suy tư, những nhận thức, sự xuất hiện của các uẩn, sự thành tựu của các Xứ.
Một em bé chào đời với tiếng khóc “oa oa oa”, được đi ra từ một con đường nhỏ hẹp, dơ bẩn, bị chèn ép. Có lần vô tình, Minh Thành bấm trên mạng thấy được cảnh quay cận cảnh của một bà mẹ sinh con, bây giờ nhắc lại là nó rùng rợn, nổi da gà. Máu, những chất dịch tuông xuống, dơ dáy bẩn thỉu, tanh hôi. Bà mẹ thì đau đớn quằn quại trong dòng nước mắt, những người đỡ đẻ lo lắng, bất an, người cha thì ở phía bên ngoài hồi hộp. Người mẹ phải thập tử nhất sinh, thậm chí có những lần mẹ là phải hy sinh hoặc phải mổ lấy đứa con ra và khi đứa con sinh ra kêu đau đớn, khóc lóc, quằn quại trong những cái máu, chất dịch nhơ nhớp, bẩn thỉu. Đó là tác phẩm, kết quả, thành quả của “dục”.
Sau tiếng khóc đó là bao nhiêu sự lo lắng, đầy ắp những phiền phức, bao nhiêu nước mắt tiếp tục ở phía sau, bao nhiêu những sự tranh giành, bao nhiêu những dục vọng, những ham muốn, sân si, tranh đấu, hơn thua, ganh tỵ, đố kỵ, ích kỷ, hẹp hòi, nhỏ mọn, giành giật. Thật là tội nghiệp cho chúng ta, quá tội nghiệp cho chúng ta trong đời sống này. Thật là đau khổ cho chúng ta, cay đắng cho chúng ta, hết đời này tới đời khác, chui ra những cái bào thai; chui ra những cái bào thai của con chó, ngựa, chuột cống, giòi, của những súc sanh, súc vật. Vô lượng bào thai mà chúng ta từ trong đó chui ra. Chụp vô cái thân nào rồi cũng vỗ ngực ta đây, hơn thua, kiêu căng, ngạo mạn. Dù là một con chó, thân của một con chó. Nó cũng kiêu căng, ngạo mạn, cũng giành giật những khúc xương.
Thật là xót xa cho chúng sanh bị vây hãm ở trong sanh, già, bệnh, chết này. Thật là đáng lo lắng. Thật là cái đắng. Thật là đau khổ cho chúng ta. Thật là đáng sợ hãi cho chúng ta. Sống trong si si dại dại, mê muội, vô minh si ám. Thật là xót xa, bi thương cho chúng ta.
Hãy nhìn kỹ, an trú tâm của mình vào sự quán chiếu một cách hết sức thâm sâu. Trong sự đau khổ này, đừng bao giờ quên một đời sống đầy bất an, lo lắng, khổ ải như vậy. Tại sao chúng ta sống trong lãng quên được. Tại sao chúng ta lại sống bên trong mê muội như vậy. Hãy nhìn cho kỹ sự sống đầy bất an, hiểm nạn, tai nạn này. Chúng ta chui ra từ những chỗ bất tịnh, dơ bẩn, xú uế như vậy.
Kinh Tương Ưng Bộ Thiên Sáu Xứ - Tương Ưng Sáu Xứ - Năm Mươi Kinh Thứ Nhất - Phẩm Sanh Pháp - Kinh Sanh:
“Này các Tỷ-kheo, tất cả phải bị sanh. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tất cả phải bị sanh?
Mắt, này các Tỷ-kheo, phải bị sanh. Các sắc phải bị sanh. Nhãn thức phải bị sanh. Nhãn xúc phải bị sanh. Do duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy phải bị sanh...”
Hồi xưa mình chưa tu học kinh Nikāya, thấy chữ “sanh” hết sức bình thường. Bây giờ, mình tu tập cái dòng Pháp này, chiêm nghiệm lại thấy thật sự là rùng rợn, lo lắng, sợ hãi. Tất cả phải bị sanh.
Nhìn thấy là tham, sân, nhìn thấy là sanh khởi những cảm giác tham dục, tham ái, tham lam, tham vọng, dục vọng; mê đắm, đắm đuối, ái luyến, hệ lụy, trói cột, đau khổ. Tại vì nó bị sanh, con mắt bị sanh, những đối tượng của nó bị sanh. Sự nhận thức rõ biết các sắc bị sanh, nhãn thức phải bị sanh, khi tiếp xúc bị sanh các cảm thọ, đầy dẫy những tham dục sân hận si mê, những vô minh, chấp thủ, nắm chặt, trói cột. Nó bị sanh những thứ đó chứ không phải là tự nhiên. Nó bị vây hãm ở trong lề thói, mô thức, bộ máy, ở trong mô típ, cấu trúc, trong sự vận hành của vô minh và khát ái.
Các bậc Thánh không có “bị sanh”. Đức Thế Tôn, các bậc Thánh nhìn thấy sắc như vậy các ngài không có bị sanh tham, dục, trói cột. Các ngài nghe những tiếng mắng chửi không có bị sanh những cái cảm thọ sân hận, khó chịu. Chúng sanh chúng ta là bị sanh, bị tham, sân, bản ngã, vô minh đè đầu, cởi cổ, hành hạ, sai khiến, sai xử, sai bảo. Chúng ta răm rắp, răm rắp làm đệ tử nghe lời nó. Đáng thương cho thân xác bị sanh này, đáng thương cho tâm thức bệnh hoạn bị sanh này; bị sanh, bị bắt buộc.
- “Tất cả, này các Tỷ-kheo, phải bị già...”
Tất cả hữu tình chúng sanh cho đến loài vật, chư Thiên hay là ngạ quỷ cô hồn, rồi cũng đến ngày suy lão, suy tàn, hoại diệt. Bị già nua, suy hao, suy nhược, suy yếu, suy tàn, suy bại, suy vong.
-“ Tất cả, này các Tỷ-kheo, phải bị bệnh...”
Bệnh hoạn, bệnh đau, bệnh khổ. Tất cả phải bị bệnh, tất cả các loài hữu tình chúng sanh phải bị bệnh.
-“Tất cả, này các Tỷ-kheo, phải bị chết...
- Tất cả, này các Tỷ-kheo, phải bị sầu...
- Tất cả, này các Tỷ-kheo, phải bị phiền não...
- Tất cả, này các Tỷ-kheo, phải bị đoạn tận...
- Tất cả, này các Tỷ-kheo, phải bị tiêu diệt...
- Tất cả, này các Tỷ-kheo, phải bị tập khởi...
- Tất cả, này các Tỷ-kheo, phải bị đoạn diệt...”
Này các tỷ-kheo, tất cả phải bị tập khởi, tụ tập, tập hợp để sanh khởi. Sanh khởi ra một thân máu mủ, ruột, gan, phèo, phổi, phân và nước tiểu. Sanh khởi ra những tham lam, tham dục, tham ái, tham vọng, ác tham, tà tham. Tập hợp lại sanh khởi ra sân hận, hơn thua, đấu đá, giành giật, mưu mô, mưu sĩ, mưu ác, mưu độc, mưu hại; sanh ra bản ngã, ta đây, vênh váo, kiêu căng, ngạo mạn. Phải bị tập khởi, sanh khởi.
“Tất cả, này các Tỷ-kheo, phải bị đoạn diệt...” .
Ngã mạn, ta đây, giành giật, sân si rồi cuối cùng nằm dài xuống, ngã xuống, sụp xuống, quỵ xuống, nước mắt chảy ra. Bao nhiêu sự hối tiếc, hối hận tiếc nuối, những người thân chảy nước mắt ra. Xót xa, hối hận với những ác nghiệp đã làm, đó là phải bị sanh đó. Chúng ta đang giải thích chữ “bị sanh” trong mười hai nhân duyên, chữ sanh. Ngày hôm nay chúng ta mới đi có hai chữ: Sanh, tử. Đây là Sanh Tử Triết trong mười hai Nhân Duyên.
Tại sao có chết, suy tàn, suy vong, suy lão, hoại diệt, tiêu vong? Vì có sanh ra. Cái sanh này là bị sanh, bắt buộc phải sanh ra. Đó là Sanh Tử Triết. Thấy biết về sự thật, sanh ra và chết đi. Bằng chân lý và trí tuệ tạo sự thấu thị, minh kiếm của bậc thánh.
Cho nên hồi xưa mình học nghe bốn chữ: Sanh - tử - sự - đại. Nghe vậy đó mình không có thấm được, khi đi vào trong dòng pháp Nikaya rồi đó thì thấm thía, kinh cảm, chấn cảm, chấn động thân tâm của mình, hai chữ sống và chết.
Sanh Tử Triết là nhận thức một cách sâu sắc, thấu đáo về cái đời sống đầy bất an, hoạn nạn, tai nạn, hiểm nạn, nguy nan này.
Thế Tôn, bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác khi còn là Bồ Tát, Ngài đã nhìn thấy điều đó.
- “Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, trước khi Ta giác ngộ, chưa chứng Chánh Đẳng Giác, còn là Bồ-tát, tư tưởng sau đây được khởi lên: "Thật sự thế giới này bị hãm trong khổ não, bị sanh, bị già, bị chết, bị đoạn diệt và bị tái sanh; và từ nơi đau khổ này, không biết sự xuất ly, thoát khỏi già chết; từ nơi đau khổ này, không biết khi nào được biết đến sự xuất ly già chết".
- Rồi này các Tỷ-kheo, Ta lại suy nghĩ như sau: "Cái gì có mặt, già, chết có mặt? Do duyên gì, già chết sanh khởi?" Rồi này các Tỷ-kheo, sau khi như lý tư duy, nhờ trí tuệ, Ta phát sinh minh kiến như sau: "Do sanh có mặt nên già chết có mặt. Do duyên sanh nên già chết sanh khởi"”.
(Kinh Tương Ưng Bộ Thiên Nhân Duyên -Tương Ưng Nhân Duyên - Phẩm Phật đà - Phần Maha Sakya Muni Gotama: Đại Thích Ca Mâu Ni Cù Đàm)
Đó là Thánh Trí Tuệ, Thập nhị Thánh Trí - mười hai trí tuệ của bậc thánh, về mười hai phương diện của sanh tử, mười hai khía cạnh của sống chết, mười hai phương diện của vô minh, khổ đau, gọi là thập nhị Nhân Duyên. Mỗi một nhân duyên như vậy là một Thánh Trí soi vào trong đó. Và trong mỗi một Thánh Trí là bao nhiêu những phương diện Đức Phật soi cho chúng ta thấy. Hãy chiêm nghiệm thật nhiều.
Xin thưa đại chúng, hãy sống với Pháp. Chăm chỉ niệm đạo, đừng quên chúng ta đang bị vây hãm, đau khổ, đang bị làm nô lệ cho vô minh, khát ái. Bất cứ khi nào chuyện gì xảy ra đừng có quên. Đừng bao giờ quên phải thành tựu Thánh Trí Tuệ này, khắc sâu vào tâm tủy não, vào trong cái cảm thọ, để nó an trú, an vị trong đó.
Nhân ngày Thế Tôn thành đạo, nhân ngày tưởng niệm Bồ Tát thành đạo, chúng ta chiêm nghiệm mới hai chữ: Sanh, tử.
Có điều này, Minh Thành muốn chia sẻ với đại chúng, nhất là các vị mới. Chúng ta nghe là mình học về Tương Ưng Nhân Duyên thì đừng có nghĩ rằng Mười hai Nhân Duyên khác với Ngũ Uẩn. Vì khi mình nghe Mười hai Nhân Duyên như vậy là Đức Phật không phải chứng ngộ Ngũ Uẩn. Mười hai Nhân Duyên là khía cạnh trí tuệ về Lậu Hoặc ở trong Ngũ Uẩn.
Như chúng ta thấy, cái gì sanh ra hay chết đi là gì? Sắc uẩn. Những vô minh ái thủ đó là gì? Có phải là những cái cảm giác nghĩ tưởng của mình, Thọ - Tưởng – Hành - Thức không? Cho nên chúng ta học phải khéo léo nhìn, còn không là chạy theo từ ngữ, Pháp số thì sẽ không thấy sự thật.
Tất cả những pháp: Ba mươi bảy Phẩm Trợ Đạo hay là Thập Nhị Nhân Duyên, tất cả những Pháp đều nằm trong Ngũ Uẩn, cho nên mình nắm được tổng cương lĩnh đó thì mình tu học, sẽ quán được thông được tất cả Pháp, tất cả chỉ là sự thật về thân tâm, lậu hoặc. Giải quyết vấn đề về dục ái, tham, sân, si, vô minh, bản ngã ở trong Ngũ Uẩn. Để chúng ta thấy rõ vấn đề để quý vị đừng chạy theo ngôn từ, Pháp số, không thấy được cái cốt lõi trong Pháp. Hôm nay chúng ta chia sẻ tới đây.
Bằng tình thương, bằng từ tâm đến sự an lạc, an ổn cho chính mình. Cũng vậy, con chân thành cầu nguyện sự an lạc, an ổn này cũng đến với chư vị nơi này. Chư vị nghe hiểu được âm thanh này cùng hữu tình trong trời đất rộng lớn này, mong tất cả đều được tâm thương này thấm nhuần và dễ chịu, an lạc và bình an. Tìm được hạnh phúc và an vui cho mình, lòng yêu thương tự thân mình và yêu thương muôn loài; mong tất cả có được trí tuệ, thấy được sự vô thường của đời sống này, tâm chán ngán từ bỏ những xác thân Năm Uẩn vô thường này, để thể nhập vào tâm an tịnh, trong sạch, trầm lặng giải thoát khỏi biển và chấm dứt hết mọi khổ đau, lòng tha thiết, chân thần cầu nguyện sự an lạc, bình an, trí tuệ và giải thoát đến với cùng khắp tất cả.
Chúng Ta Đang Bị Vây Hãm
Sanh Tử Trí
Thích Minh Thành
Ngày 10 tháng 01 năm 2022
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Thế giới đang bị vây hãm trong khổ đau PAGEREF _Toc97309855 \h 1
II. Sanh duyên già, chết PAGEREF _Toc97309856 \h 6
I. Thế giới đang bị vây hãm trong khổ đau
Kính lễ Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác.
Kính bạch Chư Tôn giả, các bậc Hiền trí, tăng, ni và quý Phật tử.
Năm nay là ngày mùng 8 tháng Chạp Âm lịch.
Theo truyền thống Phật giáo Phát Triển là kỷ niệm ngày thành đạo của Bồ Tát Tất Đạt Đa. Ở các thiền viện một số nơi thì hôm nay là ngồi thiền sáng đêm, trắng đêm thâu đêm, ngồi thiền suốt đêm, quán niệm giây phút thiêng liêng vĩ đại của một con người siêu việt, bậc Đại Đạo Sư của trời và loài người.
Ngày hôm nay, ở các thiền viện lớn là ngày lễ xuất gia cho những giới tử, cho nên ngày hôm nay có ý nghĩa rất là quan trọng trong truyền thống Phật giáo Phát Triển. Rất nhiều tăng, ni, Phật tử nghi vấn thắc mắc không biết giây phút giác ngộ của Bồ Tát, giây phút thành tựu Chánh Đẳng, Chánh Giác đó diễn ra như thế nào? Rất nhiều công án, câu chuyện, sách vở viết lại. Nếu chúng ta không học kinh Nikāya thì chúng ta sẽ hoàn toàn không biết chính xác giây phút đó như thế nào.
Hôm nay, chúng ta sẽ được nghe giây phút thành đạo của Bồ Tát, chúng ta tận tai nghe chính sự tường thuật của Đức Thế Tôn vào khoảnh khắc đó. Thật sự, bản thân Minh Thành tu học trước nay gần ba chục năm mà không biết chính xác thật sự là Bồ Tát thành đạo như thế nào, chứng ngộ cái gì. Cho đến khi đi vào dòng pháp Nikāya thì mình mới có một cái thấy biết chân xác.
Cách đây khoảng một, hai tháng trước, vị ni sư tu học trước Minh Thành có hỏi là có phải Đức Thế Tôn chứng ngộ giáo lý Duyên Khởi không, thì vẫn còn ngờ vực, phân vân, tu gần cả một cuộc đời rồi; mà cái này là chung, không những của hàng Phật tử mà cả giới tu hành có khi là tu suốt cả cuộc đời cũng không biết thật sự có một niềm tin xác quyết, rõ ràng, thật sự là lúc đó Bồ Tát chứng ngộ cái gì. Hôm nay, chúng ta sẽ được nghe sự chứng ngộ đó.
Không những của Như Lai Thích Ca Mâu Ni Đại Cù Đàm tường thuật mà còn của bảy Đức Phật. Kể lại cho chúng ta biết sự chứng ngộ của bảy Đức A-la-hán Chánh Đẳng Giác đều giống nhau hết trong Tương Ưng Bộ kinh, Tương Ưng Nhân Duyên, phẩm Phật Đà.
Ở đây, Minh Thành sẽ kết hợp nhiều bài kinh để chúng ta thấy được là từ Đức Phật Tỳ Bà Thi (Vipassì) cho đến Đức Phật Thi Khí (Sikhì), Đức Phật Tỳ Xá Phù (Vessabhu), Đức Phật Câu Lưu Tôn (Kakusandha), Đức Phật Câu Na Hàm (Konāgamana), Đức Phật Ca Diếp (Kassapa) và cuối cùng là Đức Thế Tôn, Đại Thích Ca Mâu Ni Cù Đàm (Mahà Sakyamuni Gotama). Bảy Đức Phật cùng tường thuật sự chứng ngộ về giáo lý Duyên khởi giống y như nhau.
Vì bài kinh của Thế Tôn Tỳ Bà Thi là bài kinh đầu cho nên người ta viết đầy đủ, còn những bài sau viết đơn giản, cho nên chúng ta sẽ dựa vào bài kinh đầu để nghe, kết hợp với sự chứng ngộ của Đức Thế Tôn Thích Ca Mâu Ni, Như Lai hiện tại, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, Chánh Biến Tri, bậc Đạo Sư vĩ đại của chúng ta.
Khi đó Thế Tôn ở Sàvatthi:
- “Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, trước khi Ta giác ngộ, chưa chứng Chánh Đẳng Giác, còn là Bồ-tát, tư tưởng sau đây được khởi lên: "Thật sự thế giới này bị hãm trong khổ não, bị sanh, bị già, bị chết, bị đoạn diệt và bị tái sanh; và từ nơi đau khổ này, không biết sự xuất ly, thoát khỏi già chết; từ nơi đau khổ này, không biết khi nào được biết đến sự xuất ly già chết"”.
(Kinh Tương Ưng Bộ Thiên Nhân Duyên - Tương Ưng Nhân Duyên - Phẩm Phật Đà - Phần Maha Sakyamuni Gotama: Đại Thích Ca Mâu Ni Cù Đàm.)
Từ trong đau khổ này, chúng sanh không biết được con đường thoát ra. Từ trong sự vây hãm, bủa vây của khổ sầu, buồn đau, của đầy dãy dục vọng, sân hận, tranh đấu, hơn thua, giành giật bên trong tâm và trên thân xác là một thân bệnh hoạn già nua, chết chóc đi đến sự tan rã hoại diệt. Sau khi chấm dứt đời sống lại tiếp tục tái sanh. Trong sự đau khổ, từ nơi đau khổ đó, chúng sanh không biết con đường thoát ra, hoàn toàn không biết lối thoát, không có lối thoát, không có sự xuất ly để thoát ra khỏi già, chết, sầu bi. Từ nơi đau khổ này không biết khi nào được biết đến sự thoát ra khỏi già chết ở trong cái đống khổ to lớn đó. Không biết cho đến bao giờ, không biết cho đến khi nào, không biết đến chừng nào mới có thể nhận hiểu được, nhận thức, nhận biết được một lối thoát khỏi sống chết, khỏi sanh tử.
Trước khi ta giác ngộ, chưa chứng Chánh Đẳng Giác còn là Bồ Tát, ta suy xét chiêm nghiệm, quán chiếu thật sự thế giới này bị vây hãm trong khổ đau, thật sự thế giới này bị bủa vây trong sầu não. Thật sự thế gian này bị lẩn quẩn trong dục tham, trong tham ái trong buông lung phóng dật, vô minh. Thật sự thế giới này đang chìm đắm, chìm đắm trong bóng tối trong bóng đêm. Thật sự các loài hữu tình chúng sanh đang mù lòa, rối rắm, loanh quanh lẩn quẩn trong tâm là những dục vọng, sân si, vô minh, bản ngã, tranh giành, tranh đấu, ích kỷ, hẹp hòi, nhỏ mọn, ganh tỵ, đố kỵ, hơn thua, giành giật. Họ phải chịu những cảm thọ đau khổ, sầu bi. Bên ngoài thân đã phải chịu đựng bệnh tật, già nua, suy lão, biến hoại các căn dẫn đến chấm dứt, đoạn tận, đoạn diệt, tan rã, tan nát, tan vỡ đi đến chỗ diệt vong.
Thật sự, chúng sanh hữu tình phải chịu đựng sự thống khổ trong vòng tái sanh, oan nghiệt, sống chết, đắp đổi, xoay vần. Từ nơi đau khổ này, họ hoàn toàn chẳng biết một con đường, một lối thoát, sự xuất ly, cứ loanh quanh lẩn quẩn trong bóng đêm, dục tham, sân hận, bản ngã; lẩn quẩn loanh quanh trong buông lung phóng dật, dao động; lẩn quẩn loanh quanh trong cái tâm điên đảo, tưởng điên đảo, kiến điên đảo, trong những nội tâm động loạn, dao động, lăng xăng, bất an, lo lắng, khổ sầu. Họ bị vây hãm trong một thế trận của ác ma, bị vây hãm bởi những tên giặc của phiền não, chúng sanh hữu tình bị bao vây, bủa vây, vây hãm bởi chính những thọ - tưởng - hành của họ, những cảm giác, nghĩ, tưởng, tà kiến, vô minh, si mê; không có lối thoát, không có con đường, không có đạo lộ, không có xuất ly.
Từ nơi đau khổ đó, họ không biết sự xuất ly, không biết cách thức nào đi ra khỏi sanh già, bệnh chết. Dù cho họ có biết được đôi phần cũng không có nỗ lực, họ cũng tiếp tục tái sanh. Hay là chúng ta nói hiện tại của mình, dù đã nghe, đã biết vẫn không có nỗ lực, vẫn sống theo những tập tính, thói quen của mình chứ đừng nói chi là không biết.
Thật sự từ nơi đau khổ này, chúng sanh hữu tình không biết khi nào được biết đến sự xuất ly khỏi già, chết; hay là khi Bồ Tát chưa thành đạo, không biết đến khi nào thì họ mới được biết một lối thoát. Đó là sự chiêm nghiệm, quán chiếu của Bồ Tát.
Đây là chủ đề thiền quán, đây là một cái đề mục để quán chiếu, hai chữ “vây hãm” này thật sự là một sự thật thực tại mà chúng sanh hữu tình đang ở trong đó, hoàn toàn trong vô minh không thấy không biết, không biết mình đang bị vây hãm, bao vây, bủa vây; không biết mình đang bị bao quanh quấn chặt, buộc chặt, vây hãm. Không biết mình đang lọt ở trong bẫy của chính những cảm giác nghĩ tưởng, ngu si, tà kiến, lầm lạc, dại khờ, vô minh mới tạo ra vây hãm chính tự thân tâm của chúng ta.
Cứ như vậy, muôn đời vạn kiếp loanh quanh, lẩn quẩn không có ngày thoát, không biết chừng nào thoát ra, không có lối thoát. Thật sự đây là hiện trạng của chúng sanh hữu tình trên khắp hành tinh này. Đây là thực tại, sự thật ngay trong hiện tại của mọi loài, vạn loại chúng sanh. Đây là sự đau khổ mà không biết mình đau khổ thì đau khổ này thật sự là lớn lao và vĩ đại. Vô minh mà không biết được mình vô minh thì vô minh này thật sự là sâu dày.
Chúng ta đang bị vây hãm, phải lấy cái này làm đề mục chiêm nghiệm suốt ngày đêm và sống trong cẩn thận, lo lắng, thận trọng, dè dặt, dè chừng, phòng hộ, canh chừng tâm thức của mình. Hãy nhớ thật kĩ, chúng ta đang bị vây hãm, bao vây, bủa vây. Chúng ta đang lọt ở trong ma trận của vô minh, khát ái, dục vọng, buông lung, phóng dật, của sự thả lỏng các căn; của sự mất Chánh niệm và Tĩnh giác, chúng ta đang bị rơi trong ma trận. Ý thức sâu sắc về điều này, không được quên, không cho phép mình quên, lúc nào cũng sống trong cẩn thận. Đáng thương cho chúng ta, thật là tai nạn cho chúng ta, thật là đại họa cho chúng ta.
Nếu chúng ta không chăm niệm đạo, ngày đêm chăm bẵm ưu tư về sự khổ này. Đời sống tu hành của chúng ta chỉ có một hình thức, một vẻ ngoài, bên trong trống không vô tích sự, giống như cây bọng không có lõi, chỉ có cái đầu với chiếc áo, thậm chí nhìn không ra dáng người tu, không oai nghi tế hạnh.
Phải quán chiếu thật sự, thế giới này đang bị vây hãm trong khổ não. Thân tâm này đang bị vây hãm, phiền não. Sắc - thọ - tưởng - hành - thức này đang bị vây hãm trong tham sân si, không bao giờ quên. Thật sự chúng ta đang bị vây hãm, bao vây bởi thế trận của vô minh và khát ái. Thân tâm chúng ta và hoàn cảnh xung quanh là một bóng đêm bao phủ bao trùm, chỉ cần mất Chánh niệm Tĩnh giác, quên đi Thánh trí Năm Uẩn thì lập tức trời đêm bóng đêm, hoàn toàn không thấy không biết thân tâm của mình; chỉ cần một chút cái công việc, duyên cảnh tác động tới là mất hết, mất mình hết.
Thành thử, tự hỏi mình tu như vậy xứng đáng chưa, có ứng cúng chưa, có xứng đáng để thọ vào sự cúng dường không? Phải ngày đêm khảo tra tâm của mình, phán xét, phán xử thân tâm của mình, ngày đêm phải hạch tội nó. Chúng ta đang bị vây hãm trong khổ sầu, chúng ta thử quán chiếu, bất thình lình nhiễm dịch bệnh rồi chết đi đâu, với cái tâm thức như hiện tại chết đi đâu, có dự vào Bốn đôi Tám chúng không, Thánh Trí của mình có vững chắc chưa.
Thật sự thế giới này bị vây hãm trong khổ não, bị sanh, già, chết, đoạn diệt và bị tái sanh. Và từ nơi đau khổ này chúng sanh không biết lối thoát, không biết sự xuất ly để thoát khỏi già, chết. Từ nơi đau khổ này, chúng sanh không biết khi nào được biết đến lối thoát già, chết; không biết chừng nào, không biết khi nào, không biết đến lúc nào chúng sanh biết được lối thoát khỏi sanh tử, sống chết, đau khổ này. Không biết đến khi nào chúng sanh mới biết đến sự xuất ly.
II. Sanh duyên già, chết
“Rồi này các Tỷ-kheo, Ta lại suy nghĩ như sau: "Cái gì có mặt, già, chết có mặt? Do duyên gì, già chết sanh khởi?" Rồi này các Tỷ-kheo, sau khi như lý tư duy, nhờ trí tuệ, Ta phát sinh minh kiến như sau: "Do sanh có mặt nên già chết có mặt. Do duyên sanh nên già chết sanh khởi"”.
(Kinh Tương Ưng Bộ Thiên Nhân Duyên - Tương Ưng Nhân Duyên - Phẩm Phật Đà - Phần Maha Sakyamuni Gotama: Đại Thích Ca Mâu Ni Cù Đàm.)
Tại sao có già chết? Tại sao có những dòng nước mắt của chia ly, tử biệt? Tại sao có đám ma? Tại sao có sự tự trần? Tại sao có sự lâm chung? Tại sao có sự kết thúc đời sống trong nước mắt trong đau khổ? Tại sao có chiếc quan tài, có nấm mộ? Tại sao có lò thiêu? Tại sao có hũ cốt? Vì có tiếng “oa oa” khóc chào đời của đứa trẻ.
Những bài kinh này thâm sâu vô tận, chúng ta không phải học bình thường mà chúng ta phải học bằng Thiền Quán.
Tại sao có sự chết? Vì có sự sinh ra. Tại sao có nấm mộ? Tại sao có quan tài? Tại sao có lò thiêu, hũ cốt? Tại sao có bàn thờ? Tại sao có từ trần, lâm chung? Chúng ta phải chiêm nghiệm, thẩm thấu qua các tầng cảm thọ. Những lời này là định lý giải thoát của sự chứng ngộ.
“Và này các Tỳ-kheo, thế nào là già và chết? Cái gì thuộc chúng sanh này hay chúng sanh khác, thuộc bộ loại chúng sanh này hay bộ loại chúng sanh khác; bị già, bị yếu, suy nhược, răng rụng, tóc bạc, da nhăn, tuổi thọ tàn lụi, các căn chín muồi. Đấy gọi là già. Cái gì thuộc chúng sanh này hay chúng sanh khác, thuộc bộ loại chúng sanh này hay bộ loại chúng sanh khác; sự từ bỏ, hủy hoại, tiêu mất, tử vong, các uẩn hư hoại, thân thể vứt bỏ. Đây gọi là chết. Như vậy, này các thầy Tỳ-kheo, đây gọi là già và chết”.
(Kinh Tương Ưng Bộ Thiên Nhân Duyên - Tương Ưng Nhân Duyên - Phẩm Phật Đà - Phần Phân Biệt.)
Chúng ta thấy bậc Đạo sư vĩ đại của chúng ta đã giải thích từng chút, từng chút điều chúng ta quán chiếu, thể nhập.
Già là gì? Suy yếu, suy nhược, răng rụng, tóc bạc, da nhăn, tuổi thọ tàn lụi, tàn lụn, lụi tàn, các căn chín muồi tức là mắt không còn thấy, tai không còn nghe rõ. Mắt mờ, tai điếc da nhăn, tóc bạc, lưng còng, gối mỏi. Đó là con đường mà tất cả chúng sanh hữu tình phải đi đến, phải đi qua. Con đường của già nua, bệnh tật, suy lão, suy vong, biến hoại. Sự vô minh của chúng ta quá dày đặc, sự mê muội của chúng ta quá tối tăm, bằng Thánh Trí Tuệ Đức Phật đã giải thích để chúng ta có sự tác ý, nghiền ngẫm, chiêm nghiệm.
Thế nào là chết. “Cái gì thuộc chúng sanh này hay chúng sanh khác, thuộc bộ loại chúng sanh này hay bộ loại chúng sanh khác; sự từ bỏ, hủy hoại, tiêu mất, tử vong, các uẩn hư hoại, thân thể vứt bỏ”. Bị người ta đem vứt bỏ, chính những người yêu thương nhất của mình đem thân xác các thi thể đó vứt bỏ vào lò thiêu, vứt bỏ trong cái hố. Bị chính những người thương yêu nhất trong cuộc đời này của mình vứt bỏ. Tại vì các căn này hư hoại, tiêu mất tử vong. Đừng tưởng người già mới chết, bất cứ lúc nào, nhất là thời đại dịch bệnh này. Vài bữa là họ đem mình đi vứt bỏ, quăng bỏ mà mình không có nhớ, không bao giờ nhớ thân xác này sẽ quăng bỏ. Tất cả những cái này đều là đề tài Thiền Quán.
Chúng ta đọc tới lui, chiêm nghiệm, nghiền ngẫm, tư duy, thẩm thấu, thể nhập. Đó là cách đọc kinh. Đức Thế Tôn giải thích cho mình hai chữ “già, chết”. Tại sao có già, chết? Tại sao có tình trạng này xảy ra? Ngài nói là do có sanh, vì có sự sanh ra cho nên mới có sự biến hoại và tan rã của chết chóc, hoại diệt và tử vong.
“Và này các Tỷ-kheo, thế nào là sanh? Cái gì thuộc chúng sanh này hay chúng sanh khác, thuộc bộ loại chúng sanh này hay thuộc bộ loại chúng sanh khác bị sanh, xuất sanh, giáng sanh, đản sanh, sự xuất hiện các uẩn, sự thành tựu các xứ. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là sanh.”
(Kinh Tương Ưng Bộ Thiên Nhân Duyên - Tương Ưng Nhân Duyên - Phẩm Phật Đà - Phần Phân Biệt.)
Tức là chúng sanh khác bị sanh, được sanh ra, sự có mặt, xuất hiện của mắt, tai, mũi, lưỡi, thân hình; xuất hiện của những cảm giác, những suy tư, những nhận thức, sự xuất hiện của các uẩn, sự thành tựu của các Xứ.
Một em bé chào đời với tiếng khóc “oa oa oa”, được đi ra từ một con đường nhỏ hẹp, dơ bẩn, bị chèn ép. Có lần vô tình, Minh Thành bấm trên mạng thấy được cảnh quay cận cảnh của một bà mẹ sinh con, bây giờ nhắc lại là nó rùng rợn, nổi da gà. Máu, những chất dịch tuông xuống, dơ dáy bẩn thỉu, tanh hôi. Bà mẹ thì đau đớn quằn quại trong dòng nước mắt, những người đỡ đẻ lo lắng, bất an, người cha thì ở phía bên ngoài hồi hộp. Người mẹ phải thập tử nhất sinh, thậm chí có những lần mẹ là phải hy sinh hoặc phải mổ lấy đứa con ra và khi đứa con sinh ra kêu đau đớn, khóc lóc, quằn quại trong những cái máu, chất dịch nhơ nhớp, bẩn thỉu. Đó là tác phẩm, kết quả, thành quả của “dục”.
Sau tiếng khóc đó là bao nhiêu sự lo lắng, đầy ắp những phiền phức, bao nhiêu nước mắt tiếp tục ở phía sau, bao nhiêu những sự tranh giành, bao nhiêu những dục vọng, những ham muốn, sân si, tranh đấu, hơn thua, ganh tỵ, đố kỵ, ích kỷ, hẹp hòi, nhỏ mọn, giành giật. Thật là tội nghiệp cho chúng ta, quá tội nghiệp cho chúng ta trong đời sống này. Thật là đau khổ cho chúng ta, cay đắng cho chúng ta, hết đời này tới đời khác, chui ra những cái bào thai; chui ra những cái bào thai của con chó, ngựa, chuột cống, giòi, của những súc sanh, súc vật. Vô lượng bào thai mà chúng ta từ trong đó chui ra. Chụp vô cái thân nào rồi cũng vỗ ngực ta đây, hơn thua, kiêu căng, ngạo mạn. Dù là một con chó, thân của một con chó. Nó cũng kiêu căng, ngạo mạn, cũng giành giật những khúc xương.
Thật là xót xa cho chúng sanh bị vây hãm ở trong sanh, già, bệnh, chết này. Thật là đáng lo lắng. Thật là cái đắng. Thật là đau khổ cho chúng ta. Thật là đáng sợ hãi cho chúng ta. Sống trong si si dại dại, mê muội, vô minh si ám. Thật là xót xa, bi thương cho chúng ta.
Hãy nhìn kỹ, an trú tâm của mình vào sự quán chiếu một cách hết sức thâm sâu. Trong sự đau khổ này, đừng bao giờ quên một đời sống đầy bất an, lo lắng, khổ ải như vậy. Tại sao chúng ta sống trong lãng quên được. Tại sao chúng ta lại sống bên trong mê muội như vậy. Hãy nhìn cho kỹ sự sống đầy bất an, hiểm nạn, tai nạn này. Chúng ta chui ra từ những chỗ bất tịnh, dơ bẩn, xú uế như vậy.
Kinh Tương Ưng Bộ Thiên Sáu Xứ - Tương Ưng Sáu Xứ - Năm Mươi Kinh Thứ Nhất - Phẩm Sanh Pháp - Kinh Sanh:
“Này các Tỷ-kheo, tất cả phải bị sanh. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tất cả phải bị sanh?
Mắt, này các Tỷ-kheo, phải bị sanh. Các sắc phải bị sanh. Nhãn thức phải bị sanh. Nhãn xúc phải bị sanh. Do duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy phải bị sanh...”
Hồi xưa mình chưa tu học kinh Nikāya, thấy chữ “sanh” hết sức bình thường. Bây giờ, mình tu tập cái dòng Pháp này, chiêm nghiệm lại thấy thật sự là rùng rợn, lo lắng, sợ hãi. Tất cả phải bị sanh.
Nhìn thấy là tham, sân, nhìn thấy là sanh khởi những cảm giác tham dục, tham ái, tham lam, tham vọng, dục vọng; mê đắm, đắm đuối, ái luyến, hệ lụy, trói cột, đau khổ. Tại vì nó bị sanh, con mắt bị sanh, những đối tượng của nó bị sanh. Sự nhận thức rõ biết các sắc bị sanh, nhãn thức phải bị sanh, khi tiếp xúc bị sanh các cảm thọ, đầy dẫy những tham dục sân hận si mê, những vô minh, chấp thủ, nắm chặt, trói cột. Nó bị sanh những thứ đó chứ không phải là tự nhiên. Nó bị vây hãm ở trong lề thói, mô thức, bộ máy, ở trong mô típ, cấu trúc, trong sự vận hành của vô minh và khát ái.
Các bậc Thánh không có “bị sanh”. Đức Thế Tôn, các bậc Thánh nhìn thấy sắc như vậy các ngài không có bị sanh tham, dục, trói cột. Các ngài nghe những tiếng mắng chửi không có bị sanh những cái cảm thọ sân hận, khó chịu. Chúng sanh chúng ta là bị sanh, bị tham, sân, bản ngã, vô minh đè đầu, cởi cổ, hành hạ, sai khiến, sai xử, sai bảo. Chúng ta răm rắp, răm rắp làm đệ tử nghe lời nó. Đáng thương cho thân xác bị sanh này, đáng thương cho tâm thức bệnh hoạn bị sanh này; bị sanh, bị bắt buộc.
- “Tất cả, này các Tỷ-kheo, phải bị già...”
Tất cả hữu tình chúng sanh cho đến loài vật, chư Thiên hay là ngạ quỷ cô hồn, rồi cũng đến ngày suy lão, suy tàn, hoại diệt. Bị già nua, suy hao, suy nhược, suy yếu, suy tàn, suy bại, suy vong.
-“ Tất cả, này các Tỷ-kheo, phải bị bệnh...”
Bệnh hoạn, bệnh đau, bệnh khổ. Tất cả phải bị bệnh, tất cả các loài hữu tình chúng sanh phải bị bệnh.
-“Tất cả, này các Tỷ-kheo, phải bị chết...
- Tất cả, này các Tỷ-kheo, phải bị sầu...
- Tất cả, này các Tỷ-kheo, phải bị phiền não...
- Tất cả, này các Tỷ-kheo, phải bị đoạn tận...
- Tất cả, này các Tỷ-kheo, phải bị tiêu diệt...
- Tất cả, này các Tỷ-kheo, phải bị tập khởi...
- Tất cả, này các Tỷ-kheo, phải bị đoạn diệt...”
Này các tỷ-kheo, tất cả phải bị tập khởi, tụ tập, tập hợp để sanh khởi. Sanh khởi ra một thân máu mủ, ruột, gan, phèo, phổi, phân và nước tiểu. Sanh khởi ra những tham lam, tham dục, tham ái, tham vọng, ác tham, tà tham. Tập hợp lại sanh khởi ra sân hận, hơn thua, đấu đá, giành giật, mưu mô, mưu sĩ, mưu ác, mưu độc, mưu hại; sanh ra bản ngã, ta đây, vênh váo, kiêu căng, ngạo mạn. Phải bị tập khởi, sanh khởi.
“Tất cả, này các Tỷ-kheo, phải bị đoạn diệt...” .
Ngã mạn, ta đây, giành giật, sân si rồi cuối cùng nằm dài xuống, ngã xuống, sụp xuống, quỵ xuống, nước mắt chảy ra. Bao nhiêu sự hối tiếc, hối hận tiếc nuối, những người thân chảy nước mắt ra. Xót xa, hối hận với những ác nghiệp đã làm, đó là phải bị sanh đó. Chúng ta đang giải thích chữ “bị sanh” trong mười hai nhân duyên, chữ sanh. Ngày hôm nay chúng ta mới đi có hai chữ: Sanh, tử. Đây là Sanh Tử Triết trong mười hai Nhân Duyên.
Tại sao có chết, suy tàn, suy vong, suy lão, hoại diệt, tiêu vong? Vì có sanh ra. Cái sanh này là bị sanh, bắt buộc phải sanh ra. Đó là Sanh Tử Triết. Thấy biết về sự thật, sanh ra và chết đi. Bằng chân lý và trí tuệ tạo sự thấu thị, minh kiếm của bậc thánh.
Cho nên hồi xưa mình học nghe bốn chữ: Sanh - tử - sự - đại. Nghe vậy đó mình không có thấm được, khi đi vào trong dòng pháp Nikaya rồi đó thì thấm thía, kinh cảm, chấn cảm, chấn động thân tâm của mình, hai chữ sống và chết.
Sanh Tử Triết là nhận thức một cách sâu sắc, thấu đáo về cái đời sống đầy bất an, hoạn nạn, tai nạn, hiểm nạn, nguy nan này.
Thế Tôn, bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác khi còn là Bồ Tát, Ngài đã nhìn thấy điều đó.
- “Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, trước khi Ta giác ngộ, chưa chứng Chánh Đẳng Giác, còn là Bồ-tát, tư tưởng sau đây được khởi lên: "Thật sự thế giới này bị hãm trong khổ não, bị sanh, bị già, bị chết, bị đoạn diệt và bị tái sanh; và từ nơi đau khổ này, không biết sự xuất ly, thoát khỏi già chết; từ nơi đau khổ này, không biết khi nào được biết đến sự xuất ly già chết".
- Rồi này các Tỷ-kheo, Ta lại suy nghĩ như sau: "Cái gì có mặt, già, chết có mặt? Do duyên gì, già chết sanh khởi?" Rồi này các Tỷ-kheo, sau khi như lý tư duy, nhờ trí tuệ, Ta phát sinh minh kiến như sau: "Do sanh có mặt nên già chết có mặt. Do duyên sanh nên già chết sanh khởi"”.
(Kinh Tương Ưng Bộ Thiên Nhân Duyên -Tương Ưng Nhân Duyên - Phẩm Phật đà - Phần Maha Sakya Muni Gotama: Đại Thích Ca Mâu Ni Cù Đàm)
Đó là Thánh Trí Tuệ, Thập nhị Thánh Trí - mười hai trí tuệ của bậc thánh, về mười hai phương diện của sanh tử, mười hai khía cạnh của sống chết, mười hai phương diện của vô minh, khổ đau, gọi là thập nhị Nhân Duyên. Mỗi một nhân duyên như vậy là một Thánh Trí soi vào trong đó. Và trong mỗi một Thánh Trí là bao nhiêu những phương diện Đức Phật soi cho chúng ta thấy. Hãy chiêm nghiệm thật nhiều.
Xin thưa đại chúng, hãy sống với Pháp. Chăm chỉ niệm đạo, đừng quên chúng ta đang bị vây hãm, đau khổ, đang bị làm nô lệ cho vô minh, khát ái. Bất cứ khi nào chuyện gì xảy ra đừng có quên. Đừng bao giờ quên phải thành tựu Thánh Trí Tuệ này, khắc sâu vào tâm tủy não, vào trong cái cảm thọ, để nó an trú, an vị trong đó.
Nhân ngày Thế Tôn thành đạo, nhân ngày tưởng niệm Bồ Tát thành đạo, chúng ta chiêm nghiệm mới hai chữ: Sanh, tử.
Có điều này, Minh Thành muốn chia sẻ với đại chúng, nhất là các vị mới. Chúng ta nghe là mình học về Tương Ưng Nhân Duyên thì đừng có nghĩ rằng Mười hai Nhân Duyên khác với Ngũ Uẩn. Vì khi mình nghe Mười hai Nhân Duyên như vậy là Đức Phật không phải chứng ngộ Ngũ Uẩn. Mười hai Nhân Duyên là khía cạnh trí tuệ về Lậu Hoặc ở trong Ngũ Uẩn.
Như chúng ta thấy, cái gì sanh ra hay chết đi là gì? Sắc uẩn. Những vô minh ái thủ đó là gì? Có phải là những cái cảm giác nghĩ tưởng của mình, Thọ - Tưởng – Hành - Thức không? Cho nên chúng ta học phải khéo léo nhìn, còn không là chạy theo từ ngữ, Pháp số thì sẽ không thấy sự thật.
Tất cả những pháp: Ba mươi bảy Phẩm Trợ Đạo hay là Thập Nhị Nhân Duyên, tất cả những Pháp đều nằm trong Ngũ Uẩn, cho nên mình nắm được tổng cương lĩnh đó thì mình tu học, sẽ quán được thông được tất cả Pháp, tất cả chỉ là sự thật về thân tâm, lậu hoặc. Giải quyết vấn đề về dục ái, tham, sân, si, vô minh, bản ngã ở trong Ngũ Uẩn. Để chúng ta thấy rõ vấn đề để quý vị đừng chạy theo ngôn từ, Pháp số, không thấy được cái cốt lõi trong Pháp. Hôm nay chúng ta chia sẻ tới đây.
Bằng tình thương, bằng từ tâm đến sự an lạc, an ổn cho chính mình. Cũng vậy, con chân thành cầu nguyện sự an lạc, an ổn này cũng đến với chư vị nơi này. Chư vị nghe hiểu được âm thanh này cùng hữu tình trong trời đất rộng lớn này, mong tất cả đều được tâm thương này thấm nhuần và dễ chịu, an lạc và bình an. Tìm được hạnh phúc và an vui cho mình, lòng yêu thương tự thân mình và yêu thương muôn loài; mong tất cả có được trí tuệ, thấy được sự vô thường của đời sống này, tâm chán ngán từ bỏ những xác thân Năm Uẩn vô thường này, để thể nhập vào tâm an tịnh, trong sạch, trầm lặng giải thoát khỏi biển và chấm dứt hết mọi khổ đau, lòng tha thiết, chân thần cầu nguyện sự an lạc, bình an, trí tuệ và giải thoát đến với cùng khắp tất cả.