Kinh Nikāya Giảng Giải - Sáu Pháp Trên Tất Cả (2)
Kinh Nikāya Giảng Giải
Sáu Pháp Trên Tất Cả 2
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Lợi ích tối thượng PAGEREF _Toc111811895 \h 1
II. Giảng giải PAGEREF _Toc111811896 \h 3
III. Phật tử trình pháp hay PAGEREF _Toc111811897 \h 5
IV. Sự nguy hại của dục lạc PAGEREF _Toc111811898 \h 8
V. Tông chỉ ly tham PAGEREF _Toc111811899 \h 12
VI. Sáu tùy niệm PAGEREF _Toc111811900 \h 17
I. Lợi ích tối thượng
Bài kinh đó tên là “Trên Tất Cả” trích Tăng Chi Bộ Kinh – phẩm Trên Tất Cả. Chữ “vô thượng” trong tiếng việt nghĩa là trên tất cả. Hôm qua chúng ta nghe một bản dịch khác, chúng ta diễn giải ra tiếng việt là cái thấy trên tất cả, sự nghe trên tất cả, sự lợi ích trên tất cả, sự học tập trên tất cả, phục vụ trên tất cả và nhớ nghĩ trên tất cả. Thế nào là thấy trên tất cả cái thấy? Sự gặp gỡ trên tất cả mọi sự gặp gỡ trên đời này?
“Đây này các Tỷ-kheo, có người đi xem voi báu, đi xem ngựa báu, đi xem châu báu, hay đi xem các vật lớn nhỏ, hay đi xem Sa-môn, hay Bà-la-Môn có tà kiến, tà hành. Này các Tỷ-kheo, đây có phải là thấy không? Ta nói rằng: Đây là không thấy. Sự thấy ấy, này các Tỷ-kheo, là hạ liệt, hèn hạ, thấp kém, phàm phu, không xứng Thánh hạnh, không liên hệ mục đích, không đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.
Này các Tỷ-kheo, ai đi yết kiến Thế Tôn hay đệ tử Thế Tôn, với lòng tin an trú, với lòng ái mộ an trú, nhứt hướng thuần tín, thời này các Tỷ-kheo, đây là thấy vô thượng, đưa đến thanh tịnh cho các loài chúng sanh, vượt qua sầu bi, chấm dứt khổ ưu, đạt được chánh lý, chứng ngộ Niết bàn, tức là đi yết kiến Như Lai hay đệ tử Như Lai với lòng tin an trú, với lòng ái mộ an trú, nhứt hướng thuần tín. Này các Tỷ-kheo, đây được gọi là thấy vô thượng, đây là thấy vô thượng”
“Yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng triết, giác ngộ, Niết-bàn”. Những từ này là định lý của giải thoát, những vị Phật tử trong đạo tràng Nikaya phải thuộc lòng. Những cái thấy đó không đưa đến sự chán lìa, từ bỏ lòng tham mà những thấy đó sanh khởi cho mình sự ưa thích, tham muốn nó nói ngược lại với sự tu học của mình nên Đức Phật gọi cái thấy đó là cái thấy phàm phu, thấp hèn, hạ liệt, thấy mà không phải là thấy. Vì cái thấy đó không đưa đến sự chán lìa, cái thấy đó không đưa đến sự rời tham, sự chấm dứt. Cái thấy đó không làm cho tâm mình sự an tịnh, an ổn, yên lặng mà làm cho tâm mình dao động. Cái thấy đó không giúp cho mình thành tựu được trí tuệ thù thắng gọi là thắng trí. Cái thấy đó không giúp cho mình dập tắt được ba ngọn lửa trong lòng vậy là không đưa đến Niết-bàn.
Thế Tôn đã nhập diệt rồi, còn lại đệ tử của Thế Tôn. Những người nào gọi là đệ tử của Thế Tôn thì người đó phải giúp cho người khác chán lìa ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng triết, giác ngộ Niết bàn, thì người đó mới gọi là đệ tử của Thế Tôn.
Như vậy thì đệ tử của Thế Tôn không phải dễ gặp, không phải chỉ trên hình thức của một người tu. Dẫu cho hình thức là một người tu, mà mình đến gặp người đó mà người đó không giúp cho mình ly tham, người đó không giúp cho mình nhàm chán, từ bỏ, chấm dứt tham, sân, si. Người đó không dạy cho mình được sự an tịnh, trí tuệ thù thắng. Người đó không chỉ cho mình cách dập tắt những ngọn lửa ở trong lòng, thì người đó không phải là đệ tử của Thế Tôn. Đệ tử của Thế Tôn rất là khó gặp, là báu vật của chư thiên và loài người. Thành ra sự gặp gỡ này là sự gặp gỡ trên tất cả, sự nghe này là cái nghe vượt trên tất cả. Sự thấy, sự nghe này là tối thượng.
“Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người đi nghe tiếng trống, đi nghe tiếng sáo, đi nghe tiếng ca, hay đi nghe tiếng cao thấp khác nhau, hay là đi nghe pháp các Sa-môn hay Bà-la-Môn có tà kiến, tà hành. Này các Tỷ-kheo, đây có phải là nghe không? Ta nói rằng: Đây là không nghe. Sự nghe ấy, này các Tỷ-kheo, là hạ liệt, là hèn hạ, là phàm phu, không xứng Thánh hạnh, không liên hệ đến mục đích, không đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.
Này các Tỷ-kheo, ai đi đến để nghe pháp của Như Lai hay đệ tử Như Lai, với lòng tin an trú, với lòng ái mộ an trú, nhứt hướng thuần tín, thời này các Tỷ-kheo, đây là sự nghe vô thượng, đưa đến thanh tịnh cho các loài chúng sanh, vượt qua sầu bi, chấm dứt khổ ưu, đạt được chánh lý, chứng ngộ Niết-bàn, tức là đi nghe pháp của Như Lai hay đệ tử Như Lai với lòng tin an trú, với lòng ái mộ an trú, nhứt hướng thuần tín. Này các Tỷ-kheo, đây được gọi là nghe vô thượng.”
“Chúng ta thấy hổm rày, trong thời gian trước nay chúng ta nghe có những công năng này chưa? Có chưa?”
“Tuệ Giác thấy có đúng không? Tại sao lại bỏ con bỏ chồng?”
“Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người được con, được vợ, được tài sản, được các vật cao thấp khác nhau, được lòng tin vào các Sa-môn hay Bà-la-môn có tà kiến, tà hạnh. Này các Tỷ-kheo, đây có lợi đắc hay không? Ta nói rằng: “Ðây là không lợi đắc”. Lợi đắc ấy, này các Tỷ-kheo, là hạ liệt, là hèn hạ, là phàm phu, không xứng Thánh hạnh, không liên hệ đến mục đích, không đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Này các Tỷ-kheo, ai được lòng tin vào Như Lai hay của đệ tử Như Lai, với lòng tin an trú, với lòng ái mộ an trú, nhứt hướng thuần tín, thời này các Tỷ-kheo, đây là đắc lợi vô thượng, đưa đến thanh tịnh cho các loài chúng sanh, vượt qua sầu bi, chấm dứt khổ ưu, đạt được chánh lý, chứng ngộ Niết-bàn, tức là được lòng tin vào Như Lai hay của đệ tử Như Lai, với lòng tin an trú, với lòng ái mộ an trú, nhứt hướng thuần tín. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là đắc lợi vô thượng.”
II. Giảng giải
Ngày đầu tiên mình lập gia đình mình thấy đó là hạnh phúc lắm, mình thấy đó là lợi ích lắm, mình thấy đó là mình được. Nhưng một thời gian sau mình thấy đó là tổn hại, mất mát, khổ đau, sầu bi, ưu não. Mình thấy đó là những sự hệ lụy trói cột. Có những gia đình được trúng số độc đắc, sau đó là nhà tan cửa nát, con cái nghiện ngập, sa đọa vì có tiền nhiều quá. Có những người thành công lớn trên kinh doanh thì chính những đứa con của họ trở thành sa đọa hoặc chính tự thân của người đó vì những cái tham mà phải vào tù. Chúng ta phải chiêm nghiệm chứ nếu không mình đọc phớt qua mình không có hiểu. Đức Phật nói những cái được đó không phải là được, không phải là lợi ích gì cả, những cái được đó đem lại sự sầu bi, ưu não, khổ ưu, bất an. Những cái mình tưởng là lợi đắt, lợi ích là được thêm đó đem đến sự lo lắng, bất an, sợ hãi làm cho tâm của mình không an tịnh. Tâm mình lúc nào cũng lo lo, lắng lắng. Thí dụ một người lúc nào cũng có thật là nhiều tiền, nhiều vàng có dám lên đây ở tu 7 ngày như quý vị không ạ? Thấy chưa? Nhờ mình ít cho nên mình mới có mặt ở đây, đó là lợi ích đó, chứ đừng tưởng đâu giàu như vậy là hạnh phúc. Họ bị sự giàu có đó trói cột, đi đâu đi một chút thôi phải về với căn nhà, vì trong căn nhà đó là tài sản lớn. Họ bị chính tài sản đó trói cột, họ làm ra tài sản đó rồi chính tài sản đó trói cột người đó. Họ làm ra tiền của đó rồi lại chính tiền của đó làm cho họ lo lắng, sợ hãi, hồi hộp, thấp thỏm.
“Cho nên, này các Tỷ-kheo, các ông bị sầu, bi, ưu, não các ông lại đi tìm cái sầu, bi, ưu, não”
Khổ cực vô cùng mới tìm được cô bồ thiệt là đẹp, đẹp nhất như hoa hậu “khi có được cô rồi thì sao?” (Lắc đầu) ngủ không được, ăn cũng không ngon. Khi cưới được về thì thấy quá hạnh phúc rồi, nhưng mà cũng bất an, ghen tối ngày, canh chừng vì vợ đẹp quá hay là chồng đẹp quá. Như vậy thì các ông đang lo lắng, đang sợ hãi, đang bất an, lại đi tìm cái lo lắng, sợ hãi, bất an. Mình phải chiêm nghiệm cho sâu sắc mình mới hiểu các lời của Đức Phật nói, nó thâm sâu, dùng trí tuệ mới có thể hiểu được, người trí mới có thể tự mình giác hiểu được, đọc phớt qua là không hiểu được. Các anh, các cô, các cậu, các chú đang ở trong sự bất an, lo lắng, sợ hãi lại đi tìm cái bất an, lo lắng, sợ hãi. Xây ngôi chùa lên bự quá, đẹp quá để tượng Phật bằng vàng, bằng ngọc ở trỏng, rồi không dám đi đâu sợ mất, ở giữ chùa không dám đi. Như vậy đâu phải là pháp nhàm chán, ly tham, đâu đưa đến sự an tịnh, chấm dứt đoạn diệt, thắng trí, giác ngộ Niết-bàn. Thành ra chúng ta phải lấy định lý giải thoát làm chuẩn mực của sự tu, làm cái tiêu chí, mục tiêu, đích đến, tông chỉ, khẩu hiệu, đề mục.
Những pháp nào đưa đến sự nhàm chán, ly tham; những pháp nào đưa đến tâm an tĩnh lắng dịu; chấm dứt tham, sân, si, những kiết sử, trói buộc; dập tắt được ba ngọn lửa tham, sân, si thì pháp đó mới là Chánh Pháp của Đức Phật (nhớ cho kỹ, nhớ mãi không quên những định lý này). Cho nên, nếu chúng ta chỉ đọc phớt qua thì chúng ta thấy “ủa sao Đức Phật lạ vậy? Được vợ, được con, được tài sản, được trúng số độc đắc mà Đức Phật nói những cái này không có lợi ích, không có được gì hết. Mấy ông chỉ được sự sầu, bi, khổ, ưu não, bất an, lo lắng và sợ hãi chứ không được gì hết”.
Các ông, các cô chớ có cho trúng số là lợi ích. Các cô chớ có cho có cháu nội, cháu ngoại là được vui sướng “ngồi ở dưới cười kìa, che che ngồi ở dưới cười kìa, nói đúng ý không? Nguyên thủy có được hạnh phúc với cái này không? Có được rời xa mấy cái này không?” Chớ có cho có chồng, có vợ, có con, có cháu, có thêm những tài sản đó là lợi ích, là có được.
Cho nên chúng ta học phải chiêm nghiệm, bài này học hết khóa tu cũng chưa hết nếu chúng ta chiêm nghiệm thâm sâu. Chứ chúng ta đừng có ham đọc nhiều nhiều, mà đọc phớt qua rồi nghe từ lỗ tai này qua tới lỗ tai kia mất tiêu, đọc phải chiêm nghiệm, thiền quán, suy ngẫm. Phải đem vào trong tâm của mình và dùng con mắt trí tuệ Thánh nhãn của Đức Phật mà nhìn cuộc đời này, nhìn sự nguy hiểm và tác hại của các dục. Phải nhìn bằng cái ánh nhìn của ly tham thì mới thấy ra được pháp của Phật, thì đó mới gọi là thấy pháp. Nhìn ra được sự thật, thì cái nhìn đó mới gọi là cái nhìn trên tất cả cái nhìn. Thấy trên tất cả cái thấy chính là thấy được sự thật khổ đau của ngũ uẩn. Đối với con mắt của bậc Thánh thì tất cả cái đó là khổ.
Hôm qua một vị trong đạo tràng của mình làm bên ngành dược trình pháp, đi đám cưới vị này trình pháp rất hay, rất tốt. Mà Minh Thành gửi lại hai chữ lành thay, lành thay. Như vậy mới là đệ tử của Như Lai, phải suy nghĩ như vậy.
“Quý vị có muốn nghe không ạ?”
III. Phật tử trình pháp hay
Bài trình pháp như sau: “Con kính lễ trên thầy ạ! Con kính thưa trên thầy ạ! Con xin phép thầy cho con gửi nhật ký tu học! Con tiếp tục quan sát cuộc sống và suy tư những điều quan sát ạ! Trong tuần qua con có nhân duyên tham gia hội nghị chuyên môn trong ngành y, đặc biệt là tiệc cưới người con trai của cô làm cùng bệnh viện. Khi bước chân vào gian phòng có sức chứa lớn, trang hoàng lộng lẫy ánh sáng, âm thanh, xung quanh là khách mời đang ngồi quanh bàn tiệc, người phục vụ…Cô dâu, chú rễ đang làm lễ hoàn tất để bắt đầu cuộc sống gia đình.
Mọi người vỗ tay chúc mừng hạnh phúc của đôi bạn trẻ và chúc sớm sanh quý tử, thì con nhận ra cảm thọ trong con dửng dung rồi ưu tư. Tưởng các hình ảnh mà con từng chứng kiến về cảnh khổ sở của các cặp đôi ngũ uẩn, ý hành, cặp đôi ngặm thìa vàng từ khi lọt lòng mẹ đâu biết bắt đầu bị dục nhai nghiến, bị ái trói cổ. Bây giờ đang hân hoan hạnh phúc nhưng sau vài năm nữa không biết sẽ như thế nào.
Khi những người phục vụ bưng thức ăn ra, những món ăn được chế biến cầu kỳ, trình bày bắt mắt từ thịt của bò, gà, tôm, mực, cua. Cón suy tư về 4 loại thức ăn nuôi thân ngũ uẩn (đoạn thực, xúc thực, tư niệm thực, thức thực). Đoạn thực với bàn tiệc đầy đủ sắc, thanh, hương, vị, xúc rất hấp dẫn với thân ngũ uẩn. Cho ái tập khởi nên thức ăn tập khởi, do thức ăn tập khởi nên săc tập khởi. Và những cảm giác do thức ăn, nước uống này đem lại và vị ngọt. Nhưng cảm giác này hết duyên, nó qua cổ rồi thì nó sẽ biến thành bất tịnh. Uống nhiều thì cũng chả ra nhiều, ăn nhiều thì nó cũng chả ra nhiều, và cái dạ dày trong thân tư đại này là mồ chôn của các con vật. Những con tôm, trứng, cua, gà kia đáng ra đang bơi lội, đang chạy, nhưng giờ đã bỏ mạng để phục vụ bữa tiệc. Nhưng giờ ăn rồi cũng chỉ đi ra với thứ càng bất tịnh.
Suy tư đến đây con hoảng sợ vì sự tham lam, độc ác của bản thân khi có mặt ngồi ở bàn tiệc, và con tự nhủ sẽ hạn chế tối thiểu gây đau khổ cho các loài vật. Khi phục vụ bữa ăn nuôi cái thân ung nhọt, bất tịnh này. Xúc thực hiện tại ngồi trong tiệc cưới này con đang duyên xúc, nhãn xúc, nhĩ xúc, tỷ xúc, thân xúc, ý xúc. Con đang xúc với các ác bất thiện pháp, vì các pháp ở đây làm tăng trưởng lòng dục, ái, khát khao, dính mắc, trói buộc.
Nhưng nhờ phước duyên được học Chánh pháp nên con biết nhận ra đây là các ác bất thiện pháp, để tác ý phòng hộ ạ! Nhưng những ngũ uẩn xung quanh con, họ không được học Chánh pháp, họ không nhận biết đây là các pháp nuôi lớn ngũ uẩn, trói cột ngũ uẩn trong đau khổ, nên họ tăng nhu cầu về xúc. Trước khi đến đây, họ đã chuẩn bị cho mình những bộ quần áo, váy thời thượng đủ màu sắc, thời thượng, nước hoa, phấn son, tráng sức. Họ vui vui vẻ vì được gặp gỡ, trò chuyện, hàn quyên, đây cũng là điều kiện cho các ác nghiệp về tà dâm sanh khởi. Suy tư con cũng nghĩ về các bệnh nhân con đã gặp, thăm khám cho họ và phát hiện họ mắc bệnh xã hội như giang mai, lậu, HIV, sùi màu gà.v.v. Cũng vì nhu cầu về xúc nên dù dịch bệnh vẫn đi du lịch, ăn uống, trong phòng này có đầy đủ sắc đẹp, âm thanh, hương thơm, vị ngon. Xúc là những vị ngọt khiến ngũ uẩn say sưa, đam mê, điên đảo, trói cột. Con suy tư và nhớ đến đoạn trong bài “Giải Thoát Trí” ạ!
“Càng hưởng dục, dục càng tăng
Càng làm nô lệ cho bao dục trần”
Tư niệm thực ngoài đời từ nhiều các duyên xúc khác nhau. Thọ, tưởng, hành liên tục sanh khởi. Tầm tứ theo dục, ái, tham, sân, si, bản ngã, các ngũ uẩn chìm đắm, thích thú trong suy tư, nhất là trong xã hội hiện nay, mọi người thiên về xu hướng hưởng thụ các dục trần. Nổi lực kiếm thật nhiều tiền để mua các niềm vui, mọi suy tư của họ vòng quanh các sắc, thanh, hương, vị, xúc. Nhưng đứa trẻ sinh ra trong gia đình đó, họ cũng được dạy dỗ từ bé là làm việc để kiềm tiền, học giỏi để tìm việc làm, để kiếm tiền. Suy tư của trẻ từ bé đã được hình thành, huân tập như thế trong gia đình và ra xã hội trẻ cũng thấy như thế. Khi không được như ý thì càng sanh khởi các thọ, tưởng, hành bất thiện và khi đi đến thân hành các pháp bất thiện nên gây ra các tệ nạn xã hội như buôn bán hàng lậu, hàng giả, các cô gái bán dâm ở các quán hát. Ở các khu du lịch các vụ lừa đảo, chiếm đoạt tài sản.
Con nhờ phước duyên được học Chánh pháp nên được thầy cô chỉ dạy cách nhận diện ngũ uẩn nên nhận ra các suy tư bất thiện, thay đổi các suy tư hướng về ly dục, ly sân, ly các pháp bất thiện ạ! Thức thực chúng con sống ngoài đời nhận các thức là thật, chấp thủ vào cái rõ biết, chạy theo cái rõ biết trong khi nó chỉ là duyên sanh, là hội tụ của căn, trần. Hết duyên cái rõ biết nhưng tư tưởng về sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp tiếp tục vận hành và chúng con luôn nhận luôn nó là mình.
Con suy tư trong hội nghị chuyên môn, ai cũng đang nổ lực, phấn đấu học thêm, học cao hơn, nâng cao trình độ thì cũng có, nhưng nâng cao bản ngã thì nhiều hơn. Cái biết để hơn thua với nhau, tìm vị trí cao hơn, nuôi dưỡng lớn lòng dục,ái, tham, sân, si, bản ngã. Con ngồi trong đó và nhận ra sự may mắn của bản thân khi bắt đầu tập nhận thức để tác ý, hạn chế nuôi dưỡng bản ngã, ganh tỵ, hơn thua nhau trong đó.
Con kính trên thầy ạ! Con tập suy tư về các pháp vận hành và thức ăn nuôi dưỡng ngũ uẩn, con chưa biết đúng sai. Con mong sự chỉ dẫn của chư thầy.
Con kính lễ ân đức trên thầy nhiều ạ!
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật”
IV. Sự nguy hại của dục lạc
“Mãi mê theo đuổi dục trần
Vui trong tham ái, chạy theo bên ngoài
Vui trong hưởng thụ đam mê
Vui trong thỏa mãn, hỉ hê dục trần
Vui trong thỏa thích buông lung
Vui trong dục lạc quên mình, quên tâm
Càng ngày càng mắc tự do
Càng làm nô lệ cho nhiều loại vui
Càng ngày càng mắc tự do
Càng làm nô lệ cho nhiều thú vui
Tưởng rằng ta hưởng thụ đời
Đâu ngờ dục lạc đang ràng buộc ta
Nằm ngồi đi đứng chẳng yên
Nhớ, ghiền, thèm, muốn làm điên đảo lòng”
“Nằm, ngồi, đi, đứng chẳng yên” lúc nào cũng lăn xăn, dao động, thúc giục, tìm kiếm, chạy đuổi, bôn ba.
“Càng hưởng dục, dục càng tăng
Càng làm nô lệ cho bao dục trần”
Ăn bao nhiêu là đủ? Đi du lịch bao nhiêu là đủ? Mặc bao nhiêu là đủ? Tình dục bao nhiêu là đủ?
“Càng hưởng dục, dục càng hăng
Càng không thỏa mãn, càng thêm quay cuồng”
Điên cuồng, quay cuồng, điên đảo trong dục, trong những thèm muốn, khát khao, trong những chạy đuổi, truy tập, rượt đuổi, chụp bắt. Uống bia rượu, những chất kích thích, xì ke, ma túy, những chất nghiện ngập, chơi game mà chết trên bàn luôn, đi du lịch chết trên chuyến đi luôn. Tuổi già tóc bạc mà quên mình già, làm nô lệ cho dục không biết mình đã già. Mình đang bệnh cũng không nhận thức được mình đang bệnh mà vẫn làm nô lệ cho dục, đi tìm vui.
Những người trẻ bỏ cha bỏ mẹ ở dưới quê nghèo, chạy theo ăn chơi, bạn bè hưởng thụ. Bất hiếu với mẹ cha, vô tình, vô nghĩa, lập bè, lập nhóm, ăn chơi sa đọa, vong ân, bội nghĩa, bất hiếu, bất nhân tất cả cũng vì cái dục này. Thân tàn, ma dại, bệnh hoạn, ốm đau, tai nạn, chết chóc cũng vì cái dục này. Tối ngày ghim đầu vô cái điện thoại không biết một cái gì khác, sống trong thế giới ảo điên cuồng đó. “Tiền bao nhiêu là đủ?” Muốn thêm, muốn thêm, muốn thêm.
“Càng tìm đến dục nhiều hơn
Càng không tự chủ, càng nhiều buông lung
Càng ngày càng đánh mất mình
Dục càng chồng chất, ái càng dâng cao.”
Quay cuồng ở trong những ham muốn, quay cuồng ở trong những cảm giác thúc giục, điên đảo ở trong những cảm xúc thèm khát, khao khát. Hết đời này cho đến kiếp khác, từ nhỏ cho đến lớn, từ lớn cho đến già, từ già cho đến chết, từ chết tiếp tục những dục đó dẫn dắt lôi đầu đi vào trong những cảnh giới của địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Cho nên chỉ có giáo pháp, Thánh Pháp, ly tham, diệt dục mới có thể cứu khổ chúng sanh.
Chúng ta phải chiêm nghiệm thật nhiều sự nguy hiểm, tác hại, khốn nạn, hèn hạ, tồi bại, ác độc, giết người của dục. Cảnh sắc đẹp này là cũng giết người, nó làm cho con người ta chạy hoài, chạy hoài. Quên cha, quên mẹ, quên thầy, quên bổn phận, trách nhiệm, leo lên chiếc xe là đi phượt chết cũng được, cảnh đẹp là giết người. Những âm thanh giết người, những âm thanh súi giục, rù quến, dẫn dụ chúng ta chạy theo những mùi, những vị hấp dẫn đó. Khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái liên hệ những dục hấp dẫn đó để giết người. Suốt cuộc đời là vùi đầu trong ăn uống đi tìm bữa ăn suốt ngày đi tìm món ăn, suốt cả cuộc đời không đi ra khỏi cái bếp. Cái hương, cái vị đó là để giết người. Cái xúc, đụng chạm đó nó giết người “nó giết bao nhiêu người rồi?” nó giết chúng sanh, giết hữu tình, giết nhân loại, giết thế giới. Chúng ta phải quán chiếu thật là sâu sắc cái sự ác, độc thâm, tàn phá của dục. Nó viết cả thế giới, này tất cả chúng sanh.
Bây giờ con hỏi các thầy các cô các bậc Hiền trí: Tại sao quận nhất có một mét vuông mà mấy trăm triệu, cả tỷ? Tại sao đất đai rộng lớn mênh mông này không ở mà nhào vô dành chỗ đó?
“Đất trời rộng lớn thênh thang lắm, dại gì chui vào chỗ tối tăm giành giật”
Xâu xé ở trong dục, vì chỗ đó có sắc, thanh, hương, vị, xúc nhiều nhất. Cho nên “khả ái thay núi rừng, chỗ người phàm không ưa, bậc ly tham ưa thích, vì không tìm dục lạc” phải vui với núi rừng phải hạnh phúc với núi rừng “chú Nhật hạnh phúc lắm phải không?” phải hạnh phúc với núi rừng, hạnh phúc với viễn ly sứ “mấy thầy, mấy chú có hạnh phúc với viễn ly sứ không?” Phải tìm thấy được hạnh phúc trong sự ly dục, niềm vui này là cao thượng hơn, thù thắng hơn, vi diệu hơn những niềm vui thấp hèn, dơ bẩn, hạ liệt, phàm phu của cái dục thế gian, của sắc, thinh, hương, vị, xúc của cuộc đời.
Bây giờ con đi mà con nhìn những chỗ nào mà tòa cao lớn là thấy sợ lắm, thấy muốn tránh xa lẹ, thấy trong đó là giành giật, lo lắng, sự bất an. Chỗ nào nhìn thấy núi rừng bao la, thênh thang thấy lòng mình dễ chịu, nhẹ nhàng. Tìm cái không có gì hết, những cái mà thiên hạ giành giật thì cái đó mình mình phải tránh xa, những đồ bỏ của thiên hạ thì những cái đó mình lại sử dụng “được không con thưa các bậc hiền trí?”. Người ta lấy thì mình bỏ đi, người ta bỏ đi thì mình sử dụng. Mai mốt làng tu con cho mặc áo rách, mặc áo mà vá những tấm vải vụn đó, chuẩn bị sẵn rồi “chịu không?”
“Yến lên phòng thầy Pháp An nói: Cho em lấy bộ đồ bá nạp của sư phụ xuống đây để cho xem trước, mai mốt những khóa tu vô cho mặc vải vụn hết chịu không?”. Vải vụn là cái thứ của người ta bỏ. Ngày xưa Đức Thế Tôn còn tại thế toàn sử dụng những đồ mà người ta bỏ. Cơm là cơm thừa của người ta, nếu mà người ta không cho thì người ta cũng bỏ. Chúng ta phải nhớ kỹ cái này hết sức là quan trọng, người tu đúng nghĩa là sử dụng đồ bỏ của người ta. Cái y là lụm những tấm vải mà người ta bỏ ngoài nghĩa địa hoặc những tấm vải vụn khâu lại. Cơm của các thầy dùng là cơm dư, cơm thừa người ta đem tới, thay vì người ta bỏ người ta cho. Trừ những người Phật tử thì người ta cung kính, nấu sẵn chờ cúng.
Hồi xưa Đức Phật mới thành lập Tăng đoàn ai có biết Đức Phật là ai đâu, Tăng đoàn là cái gì đâu, biết cúng dường có phước đâu, người ta nghĩ mấy ông này đi xin, thì bây giờ có người ta cho, mà thật sự là đi xin (khất sĩ). Như vậy, ăn là ăn cái đồ bỏ, mặc là mặc cái đồ bỏ, ở cũng là ở cái chỗ người ta bỏ, dưới gốc cây, bên bìa rừng, trong căn nhà trống, những căn nhà hoang, những cái chòi mà người ta làm rẫy người ta bỏ, thì đó là đời sống ly tham của Đức Thế Tôn và các bậc Hiền Thánh. Ly tham, ly dục, rời xa những thứ mà nó có những mầm mống của giành giật, tranh đấu, ham muốn.
V. Tông chỉ ly tham
Con thưa các thầy, các cô, các bậc hiền trí, Linh Quy Pháp Ấn được dựng lập lên là dựng lập theo tông chỉ ly tham, chúng ta nhìn tất cả đồ trong này không có cái gì có giá trị hết, không có cửa mà cũng không có đóng, không có rào, không có một cái gì có giá trị trong đây hết, trong tất cả căn nhà. Vậy nên các thầy, các cô, đại chúng ở đây được tu an ổn, vậy mà lâu cũng bị trộm chút. Tại vì có mấy cái máy để bàn đọc kinh. Chúng ta mới thấy được Đức Thế Tôn là bậc Chánh đẳng, Chánh giác. Sự chứng ngộ của Ngài, sự thiết lập Tăng đoàn của Ngài, sự chế ra giới luật của Ngài, tất cả tất cả mọi phương diện của ngài là xả dục, ly tham. Tại vì cái dục, cái tham là cái chỗ tranh dành, là chỗ khởi lên tham muốn, bây giờ mình đi vô trong đó mà mình muốn hết khổ thì cái chuyện đó không thể xảy ra được.
Ăn đồ thừa, mặc đồ bỏ, ở là cái chỗ xa vắng, không ai thèm ngó tới, người ta nhìn quận 1, quận 3, quận 7, Sài Gòn hay thị trấn chứ ai thèm nhìn chỗ xa xôi, rừng rú. Nững chỗ không ai thèm nhìn tới là những chỗ của các bậc Hiền Thánh “chịu không?” bảy ngày này là bảy ngày các vị sống ly tham, bảy ngày này là bảy ngày quý vị phải trải nghiệm được đời sống ít muốn, biết đủ “thiểu dục tri thúc” bảy ngày này là bảy ngày quý vị trải nghiệm được cái đời sống hỷ lạc của ly dục “quý vị hoan hỷ không? Hoan hỷ hạnh phúc không?”
Cho nên từ cái chỗ ăn, chỗ ở, cái mặc mình phải quán chiếu như vầy “Bảy ngày này con nguyện làm kẻ ăn xin, con ôm bình bát đi khất thực; bảy ngày này con nguyện xài những cái đồ bỏ; bảy ngày này con nguyện quay về đời sống của Đức Thế Tôn và các bậc Thánh Chúng; bảy ngày này con nguyện sống đời sống viễn ly, xả ly và xuất ly; bảy ngày này con nguyện trải nghiệm những hỷ lạc mà các bậc hiền thiện, hiền trí, Hiền Thánh thuở xưa đã sinh hoạt” phải tác ý thường xuyên, mình ngẫm hạnh phúc từ sáng tới trưam tới chiều tới tối.
Lúc nào trong này có tham, sân, si, bản ngã thì mình diệt, tác ý “ôm cái bình bát nó đẹp làm sao, nhớ chụp hình lại về coi”, về nhà rồi “nhớ nè, mày ăn xin nè, mày về đây mày sân si với chồng con hả?” hình đó là nên chụp, còn hình mà mặc đồ đẹp này kia uốn éo thì không cần thiết, mặc cái áo choàng ôm cái bình bát đi khất thực chụp cái hình đó đem về, để ngay cái chỗ nào mà thường thấy đó “nè nhớ không, mày làm khất sĩ mày ăn xin nghe không, ở đó sân si hoài à!” tác ý như vậy đó.
Trước mặt Minh Thành hiện là những chiếc y, bộ đồ bằng vải vụn này là cả tấm lòng của Phật tử khi nghe Minh Thành có tâm nguyện sau này mình có thời gian mình thọ trì thôi, thí dụ một tuần hay là một tháng mình tu vậy đó. Thì Phật tử ở dưới quê Minh Thành phát tâm với cả một tấm lòng chân thành lụm từng tấm vải vụn khâu lại, làm công quả, không có nhận tiền, khâu lại hết ngày này tới ngày khác, có ai muốn mặc thử không? Thầy nào phát tâm lên mở cho mọi người coi “Chú Tân chú đang chờ đợi để chú mặc, chú vui lắm”.
Đây là áo Phật, đây là tối thượng của thời trang, không có bất cứ thời trang nào ở trên thế giới mà so sánh được, tại vì đây áo của Phật, Đức Phật và các bậc Thánh ngày xưa mặc cái áo như này. Mai mốt đi tu chịu mặc cái này không? Cho một khóa tu ăn mày. Mặc cái y lên mình nhớ ngày Ma-ha-ca-diếp, mình nhớ Đức Thế Tôn, các bậc Hiền Thánh. Thành ra tại sao đời sống của các Ngài được thanh tịnh, được an lạc, được bình yên.
Tại vì cái mà mọi người đi tìm các Ngài không có tìm, cái mà mọi người kiếm các Ngài không có kiếm, cái mà mọi người tham các Ngài không có ham, cái mà mọi người muốn thì các Ngài từ bỏ, rời xa.
Cho nên giáo pháp mà chúng ta đang học là ly tham đối với sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Ly với sáu ái “Chúng ta học 6 pháp rồi đúng không?” Sắc ái, thanh ái, hương ái, vị ái, xúc ái, thậm chí là pháp ái là những sự yêu thích sâu sắc ở trong những suy nghĩ, cảm giác, hình bóng trong tâm cũng phải lìa luôn. Giáo pháp mà chúng ta đang học là giáo pháp ly tham đối với sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Giáo pháp này là giáo pháp vô tranh.
“Này các Tỷ-kheo, Ta không tranh luận với đời, chỉ có đời tranh luận với Ta. Này các Tỷ kheo, người nói pháp không tranh luận với bất cứ một ai ở đời.
Này các Tỷ-kheo, cái gì người có trí ở đời chấp nhận là không, Ta cũng nói là không; cái gì người có trí ở đời chấp nhận là có, Ta cũng nói có.
Và này các Tỷ kheo, người có trí ở đời không chấp nhận sắc, thọ, tưởng, hành và thức là thường còn, không chịu sự biến hoại, thời Ta cũng nói là không.
Này các Tỷ-kheo, đây là cái gì người có trí ở đời chấp nhận là không, Ta cũng nói là không.
Này các Tỷ-kheo, người có trí ở đời chấp nhận sắc, thọ, tưởng, hành và thức là vô thường, chịu sự biến hoại, thời Ta cũng nói là có vậy.
Này các Tỷ-kheo, đây là cái gì người có trí ở đời chấp nhận là có, Ta cũng nói là có.”
(Trích Kinh Tương Ưng Bộ III, chương 1, phẩm Hoa, phần Bông Hoa)
Đức phật dạy cho đệ tử của Ngài từ xuất gia cho đến tại gia, từ tu sĩ cho đến cư sĩ, ngoài cái sự Ngài hướng dẫn cái đạo lộ nhân thiên cho Phật tử tại gia, thì Ngài cũng hướng dẫn cho các Phật tử nào có tâm hướng thượng cầu giải thoát, Ngài dẫn giải cái pháp rời tham muốn đối với ngũ uẩn. Chính vì vậy mà thời Đức Phật có những bậc cư sĩ đạt Thánh quả thứ ba, thứ hai, thứ nhất rất nhiều. Cũng như trong thời hiện đại chúng ta đã nhìn thấy, việc cư sĩ có thể thành tựu được Thánh trí truyền trao Thánh pháp thì chúng ta có thể tưởng tượng được là khi Đức Thế Tôn còn tại thế với các bậc Thánh Chúng hiền thiện thì bao nhiêu những vị chứng đắc đạo quả.
Tại vì từ khi các Ngài xuất phát điểm là đã đúng rồi, cái điểm xuất phát đó là xuất phát của sự rời xa đối với sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Còn cái xuất phát điểm của mình thì sao? Là muốn cho tăng trưởng, phát triển sắc, thọ, tưởng, hành. Cho nên mình càng tu thì mình lại càng sai với mục đích của giải thoát, tu hoài không thấy giải thoát, tu hoài không thấy bớt tham, sân, si, tu hoài thấy bản ngã càng tăng lên them, càng muốn phát triển, bành trướng cơ sở hay là những quyến thuộc cho đông lên, rồi lấy những cái hình thức đó làm thành công. Còn Đức Phật dạy là lấy sự lìa tham đối với người ngũ uẩn làm thành tựu, làm sự chứng đắc cao tột nhất.
Hãy nhớ hình ảnh mình ôm bình bát, hãy an trú vào cái tưởng đó, con thế Ni Sư dẫn quý sư cô và các Phật tử đi khất thực rất là đẹp, đẹp vô cùng. Từ xa xa con ngắm nhìn, tái hiện lại hình ảnh của bậc Thánh Ni Kiều Đàm Di mẫu thuở xưa. Trong lòng con hình ảnh của Thánh Ni Tôn Giả Kiều Đàm Di mẫu tái hiện lại. Thế Tôn Di mẫu ngày xưa, thái tử sinh ra mới 7 ngày thì hoàng hậu Maya đã lìa trời. Di mẫu (mẹ nuôi) đã chăm sóc thái tử cho đến ngày khôn lớn, đem cả tấm lòng của một người mẹ nuôi nấng, vỗ về, chăm lo. Ngài là một hoàng hậu có thể gỡ vương niệm trên đầu xuống, cởi hoàng bào (chiếc áo của hoàng hậu, hoàng phi) ra, bỏ hết tất cả những trang sức, cạo đầu (cắt mái tóc đẹp nhất của người phụ nữ), đầu trần, chân đất khoác một tấm vải, từ bỏ cái đời sống của hoàng thất, từ bỏ cái đời sống của cung vàng điện ngọc, vương vị của mẫu nghi thiên hạ, thì chúng ta biết được tâm lực của các Ngài xưa đi tu như thế nào. Cái trí tuệ nhận thức của các Ngài và cái sức mạnh nội tại bên trong, sự từ bỏ, sự xả ly của các Ngài là đến mức độ nào. và đi cùng với 500 thể nữ trong cung, đều là cạo đầu, đắp y, đi chân không. Trải qua đường rất dài bao nhiêu trăm cây số tới chân của Ngài chảy máu hết. Hoàng hậu đi đến chỗ của Đức Thế Tôn để xin được xuất gia, quỳ, khóc, mong Thế Tôn nhận cho chúng con được xuất gia, được làm đệ tử chính thức của Thế Tôn. Năm lần, bảy lượt, Đức Phật từ chối. Bằng cả tấm lòng nể nang bày tỏ, xin hãy từ bi thương xót cho Di mẫu. Cho đến lần thứ ba xin Thế Tôn mới trao “Bát Kinh Pháp”, tám cái pháp cung kính. Nếu mà Di mẫu hoàng hậu đồng ý tất cả Ni giới phải thực hành tám cái phép cung kính này suốt đời, thì mới cho xuất gia. Rồi cuối cùng, Di mẫu rất hoan hỉ chấp nhận và Đức phật báo trước Ni chúng xuất gia thì cái Chánh pháp phải mất 500 năm, rút ngắn trở lại sự tồn tại của Chánh pháp bị mất 500 năm.
Chúng ta nghĩ La-hầu-La là dòng tộc gì mà có thể trở thành một chú tiểu nghèo đói như vậy, có bữa khất thực không có gì ăn. Chúng ta nghĩ đời sống của các bậc Hiền Thánh ngày xưa ngay cả Đức Thế Tôn có bữa chỉ uống nước thôi, đến chỗ lạ người ta đâu có biết Ngài là ai đâu, không có ai cho gì hết, mà chỗ đó mất mùa nữa, thì suốt ngày Thế Tôn nhịn đói nhịn đói, nhịn khát. Chúng ta khoác tấm y này lên không phải đùa giỡn, không phải vui cười, mà chúng ta hồi tưởng lại sự cao thượng của Thế Tôn và Thánh Chúng. Một đời sống thanh tịnh, trong sạch, thượng nhân pháp, cái mà cả thế giới này đắm chìm, say mê, điên đảo, điên cuồng, quay cuồng trong dục, thì các Ngài vứt bỏ, từ bỏ, xả bỏ, thoát ra. Chúng ta phải nhìn sâu sắc bản chất của sự tham muốn này làm mầm mống, nguyên nhân, hệ quả, hệ lụy của sự giành giật, tranh đấu, giết chóc (còn nữa còn nhiều nữa thưa các bậc Hiền trí).
Bao nhiêu nước trên thế giới bây giờ là bất ổn, bất an, chiến loạn. Từ dịch bệnh, thiên tai, những thảm họa kép, những sự chiến tranh nổ ra, bất ổn, bất an, toàn cầu lạm phát, kinh tế toàn cầu suy thoái và có khả năng sẽ sụp đổ. Hàng tỷ người trên thế giới bây giờ rơi vào nạn đói, ở Sri-Lanka trong 5 người là 4 người đã không có ăn, đói khát. Các nhà khoa học cảnh báo lớn, sắp tới là nạn đói khủng khiếp sẽ xảy ra trên toàn cầu. Bây giờ Châu Âu chết hàng trăm người, hàng ngàn người, sốc nhiệt, bốn mươi mấy độ C, những dòng sông khô hết, khô tới đáy giống như trong kinh “Bảy Mặt Trời” Đức Phật nói, không còn giọt nước nào hết, những dòng sông lớn ở Châu Âu.
Cho nên thật sự là may mắn cho chúng ta phải cố gắng gặp được cái Thánh Pháp ly tham quý báu này. Chúng ta phải trân trọng, trân quý, trân kính, phải tha thiết, chân thành, chỉ có cái này mới cứu được mình thôi. Chúng ta đã buông lung, phóng dật từ vô lượng, vô biên kiếp rồi, về đây hãy thực tập thân hành niệm, thực tập thu nhiếp 6 căn, nhiếp phục và chế ngự. Thực tập hạnh hiền lành, tâm hiền trí. Thực tập đời sống khất sĩ (ăn xin), an trú với cái tâm của ngài Xá Lợi Phất là tâm của một cái người thấp hèn nhất trong xã hội, hoàn toàn không tranh với đời, với bất cứ một ai. Thí dụ mình muốn ngồi cái ghế đó mà có người khác ngồi rồi, mình sẵn sàng xá xuống một cách hết sức là thành kính, lùi lại phía sau. Thí dụ tới giờ ăn cơm người ta đã gắp hết cái đó rồi, mình sẵn sàng nhường một cách ngọt ngào, nhẹ nhàng, ăn xin mà, đâu có quyền để so đo.
VI. Sáu tùy niệm
Đó là chúng ta trải nghiệm đời sống của bạn hiền trí. Sắp sửa chúng ta được học “Sáu Tùy Niệm” một chữ “nhớ” thôi là đã bao hàm rất nhiều sự tu tập. Nãy giờ chúng ta đang tùy niệm đó, nhớ về, nhớ nghĩ, nhớ Phật, nhớ pháp, nhớ Tăng. Tu bằng cách nhớ nghĩ.
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người tùy niệm được con, tùy niệm được vợ, tùy niệm được tài sản, tùy niệm được cao thấp sai biệt hay phục vụ Sa-môn hay Bà-la-môn có tà kiến, tà hạnh. Này các Tỷ-kheo, đây là có tùy niệm hay không? Ta nói rằng: “Ðây là không tùy niệm”. Tùy niệm ấy, này các Tỷ-kheo, là hạ liệt, là hèn hạ, là phàm phu, không xứng Thánh hạnh, không liên hệ đến mục đích, không đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Này các Tỷ-kheo, ai tùy niệm Như Lai hay đệ tử Như Lai, với lòng tin an trú, với lòng ái mộ an trú, nhứt hướng thuần tín, này các Tỷ-kheo, tùy niệm ấy là vô thượng, đưa đến thanh tịnh cho các loài chúng sanh, vượt qua sầu bi, chấm dứt khổ ưu, đạt được chánh lý, chứng ngộ Niết-bàn, tức là tùy niệm Như Lai hay đệ tử Như Lai, với lòng tin được an trú, với lòng ái mộ được an trú, nhứt hướng thuần tín. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là tùy niệm vô thượng.
Nãy giờ là chúng ta đang nhớ nghĩ vô thượng, Thánh hạnh của Đức Thế Tôn, Thánh hạnh của Di mẫu Kiều Đàm Di mẫu, Thánh Chúng, Thánh hạnh của Hầu La tôn giả, Thánh hạnh của các bậc Hiền Thánh sống đời sống viễn ly, ly tham. Sống từ bỏ các dục, các sự ham muốn ở đời này. Nãy giờ là chúng ta đang tùy niệm vô thượng. Trích trong Kinh Mahànàma, Tăng Chi Bộ tập 3, Phẩm Tùy Niệm
“Ở đây, này Mahànàma, Ông hãy tùy niệm Như Lai: “Đây là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn”. Này Mahànàma, trong khi Thánh đệ tử tùy niệm Như Lai, trong khi ấy, tâm không bị tham ám ảnh, tâm không bị sân ám ảnh, tâm không bị si ám ảnh, trong khi ấy, tâm được chánh trực nhờ duyên Như Lai.”
Đây là pháp Niệm Phật của Kinh Nikaya, nãy giờ là chúng ta Niệm Phật, niệm pháp, niệm Tăng rồi, đó mới đúng là pháp Niệm Phật mà thời Đức Phật dạy. Chứ không phải chỉ niệm “Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật” trên môi, cái đó là niệm danh hiệu thôi. Còn ở đây Đức Phật dạy mình tùy niệm, Niệm Phật đó, đức hạnh, trí tuệ, thiền định các công đức của Ngài để mình tu theo Ngài, khi mình nhớ, mình nghĩ như vậy thì tâm mình không bị tham, sân, si chi phối, lúc đó chỉ có một lòng ái kính, kính ngưỡng. Tâm mình được chánh trực, ngay thẳng nhờ mình nương tựa vào mặt trời vĩ đại của Thánh tuệ đó, thì đó là pháp Niệm Phật. Đức Phật nói Niệm Phật này là lợi ích lớn, là quả báo lớn, là đưa đến an tịnh, Thánh trí, chứng ngộ Niết-bàn. Chứ không phải bình thường mình Niệm Phật là đưa đến Niết-bàn. Niệm này đưa đến ly tham, sự an tịnh, giác ngộ, dập tắt tham, sân, si. Tại vì Đức Phật là bậc hoàn toàn diệt tận tham, sân, si. Cho nên mình nhớ về bậc dập tắt tham, sân, si, thì lúc đó tâm mình rời xa tham, sân, si, đó là ý nghĩa của sự Niệm Phật trong kinh Nikaya. Chúng ta thấy khác xa với cái mình Niệm Phật từ trước tới nay không?
“Vị Thánh đệ tử, này Mahànàma với tâm chánh trực, có được nghĩa tín thọ, có được pháp tín thọ, có được hân hoan liên hệ đến pháp. Khi có hân hoan, hỷ sanh; Khi có hỷ, thân được khinh an; khi thân khinh an, cảm giác được lạc thọ; khi có lạc thọ, tâm được định tỉnh. Này Mahànàma, như vậy gọi là bậc Thánh đệ tử sống đạt được bình đẳng với chúng sanh không bình đẳng, sống đạt được vô sản với chúng sanh có sân, nhập được pháp lưu, tu tập Phật tùy niệm.”
Đó là tiến trình vận hành của tâm khi Niệm Phật theo đúng chánh pháp Nikaya. Đây là tiến trình tâm vận hành khi thực hành Niệm Phật theo tinh thần của Kinh Nikaya. Đầu tiên là tâm ngay thẳng; kế đó tin pháp, hiểu được cái nghĩa lý; sau đó tâm hân hoan, vui vẻ rồi than sẽ nhẹ nhàng “khinh an” thì mình có một cái cảm giác dễ chịu. Thân thì nhẹ nhàng, tâm thì dễ chịu đưa đến sự định tĩnh. Với quần chúng lăn xăn, dao động, vị này sống bình thản, nhẹ nhàng, an tịnh. Với những người suy nghĩ phiền não mà muốn hại người khác, còn cái người Niệm Phật này sống bình thản, không có những cái phiền muộn bực bội, không có suy nghĩ muốn hại người khác. Vị ấy vào được vòng pháp, vị ấy tu tập Niệm Phật.
Niệm Phật của Nikaya là vậy đó, vào được dòng chảy của Chánh pháp, vị ấy tu tập sẽ nhớ nghĩ về Đức Phật. Nãy con nhìn thấy có một số vị chảy nước mắt giờ này cũng vẫn còn, đó là sự xúc động khi mình niệm ân đức của Như Lai và Thánh Chúng đó là Niệm Phật và nhập lưu. Con thưa các bậc hiền trí, chứ không phải Niệm Phật theo kiểu mê tín, Niệm Phật mà được vào dòng chảy Chánh Pháp, vào biển cả của trí tuệ ly tham, giải thoát, Niệm Phật là như vậy đó (đây là con kết hợp nhiều bài kinh cho chúng ta)
Nhớ Phật thật nhiều nha quý vị, đừng có nhớ ma. Nhớ giận người này, ghét người kia, tham cái này cái nọ, hơn thua là nhớ ma. Nhớ một bậc tối tôn, tối thượng giữa chư thiên và loài người, vì lợi ích cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh. Vì lợi ích, hạnh phúc cho chư thiên và loài người. Vì thương tưởng cho đời, nhớ một bậc đó. Cứ rảnh thời gian, cứ vô đây đi thiền hành, cứ ngồi ngắm lên Đức Phật niệm ân đức của Phật. Hoặc là đi kinh hành bên vườn tre, khóm trúc hoặc là ngồi trên tảng đá niệm ân đức Đức Thế Tôn, Như Lai, Ứng Cung, Chánh Biến Tri, Minh Hành Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Đọc bài “Trí Đức Như Lai” chính là Niệm Phật.
Chúng ta từ sáng tới giờ là chúng ta nhập Pháp lưu “mát không? Thấm không? Ngọt không? Thơm không? Bổ không? Tuyệt vời không?” Sáng nào chúng ta cũng tắm gội trong vòng Thánh thủy mỗi buổi sáng ở đây là được tắm bằng nước Thánh. Khi chúng ta mở mắt dậy và chúng ta đứng ở trước thiền đường, rồi chúng ta đọc lên những cái lời tối thượng của bậc Thiên Nhân Sư, rồi chúng ta phải quán tưởng rằng “đó là dòng Thánh thủy, đang rót từ đỉnh đầu cho tới gót chân của mình” đó gọi là quán đảnh đó. Khi chúng ta đọc Nikaya chúng ta phải quán tưởng như vậy, từng lời, từng chữ, từng câu, cảm nhận thâm sâu, thấm đẫm, thấm đượm và chấn động, rung chuyển hết từng tế bào, từng lỗ chân lông của mình. Làm cho nó thấm nhuần, tan chảy, đi vào từng làn da, thớ thịt, huyết quản của mình. Thánh trí trí huệ tối thượng này, đưa vào chỗ thâm sâu nhất của dòng cảm thọ, làm cho mình chuyển hóa tất cả những cái cảm giác, nghĩ tưởng, nhận thức theo vô minh, tham ái, chấp thủ của phàm phu. Đọc kinh như vậy là tùy niệm pháp, là nhập pháp lưu, là vị Thánh đệ tử niệm về Thánh pháp.
Phải đọc như vậy, phải thấm đẫm, phải ngọt ngào, phải tan chảy, hòa tan trong Thánh trí tuệ của Đức Phật như vậy. Phải cho cả thân tâm của mình ùm xuống vào trong đại dương của Thánh trí trong mỗi buổi sáng chúng ta như vậy, thấm đẫm ngọt ngào 3,4 tiếng đồng hồ như vậy. Mỗi ngày chúng ta tăng trưởng thiện pháp, nuôi lớn Thánh trí, gội rửa thân tâm. Mỗi ngày chúng ta được lớn mạnh trong pháp và luật này. Mỗi ngày hình ảnh của Như Lai được tô đậm trong tâm tưởng chúng ta. Mỗi ngày giáo pháp ly tham được rực sáng trong nội tâm. Mỗi ngày những đức hạnh hiền trí, hiền thiện của bốn đôi, tám chúng được tô bồi, được phát triển trong thân tâm chúng ta “quý vị thấy hạnh phúc không?”
Hãy để cho thân tâm mình nó rung chuyển, rung động. Hãy để cho những cái chấp thủ này nó bị sụp đổ hết, những cái chấp thủ ngu si, vô minh, bản ngã, tham dục, tham ái, tham chấp nó bị rung chuyển, rung chấn, ngã đổ, ngã nghiên hết, để tiếp nhận dòng Thánh pháp, Thánh Trí, Thánh thủy, Thánh Quan, Thánh tuệ chiếu rọi vào tường ngõ ngách của cái nội tâm vô minh, cấu nhiễm, uế trượt này. Hãy để cho dòng Thánh thủy nó tẩy sạch hết những tất cả cái cấu bẩn, ngu si, mê muội, chấp thủ, bản ngã, buông lung, mê muội, phóng dật. Thả lỏng các căn này, được Thánh Trí Huệ này soi chiếu và thấm đẫm. Chúng ta tiếp tục an trú trong háp Niệm Phật, Niệm Pháp, Niệm Tăng này.
Trong 6 cái tùy niệm này, chúng ta tiếp tục an trú, học cái bài nào thì sau đó chúng ta sẽ thực hành bài đó trong suốt ngày đó.
“Tâm biết ơn này tỏa rộng, cùng khắp thế giới này. Tâm biết ơn này tỏa rộng, khắp trời đất bao la.”
Sáu Pháp Trên Tất Cả 2
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Lợi ích tối thượng PAGEREF _Toc111811895 \h 1
II. Giảng giải PAGEREF _Toc111811896 \h 3
III. Phật tử trình pháp hay PAGEREF _Toc111811897 \h 5
IV. Sự nguy hại của dục lạc PAGEREF _Toc111811898 \h 8
V. Tông chỉ ly tham PAGEREF _Toc111811899 \h 12
VI. Sáu tùy niệm PAGEREF _Toc111811900 \h 17
I. Lợi ích tối thượng
Bài kinh đó tên là “Trên Tất Cả” trích Tăng Chi Bộ Kinh – phẩm Trên Tất Cả. Chữ “vô thượng” trong tiếng việt nghĩa là trên tất cả. Hôm qua chúng ta nghe một bản dịch khác, chúng ta diễn giải ra tiếng việt là cái thấy trên tất cả, sự nghe trên tất cả, sự lợi ích trên tất cả, sự học tập trên tất cả, phục vụ trên tất cả và nhớ nghĩ trên tất cả. Thế nào là thấy trên tất cả cái thấy? Sự gặp gỡ trên tất cả mọi sự gặp gỡ trên đời này?
“Đây này các Tỷ-kheo, có người đi xem voi báu, đi xem ngựa báu, đi xem châu báu, hay đi xem các vật lớn nhỏ, hay đi xem Sa-môn, hay Bà-la-Môn có tà kiến, tà hành. Này các Tỷ-kheo, đây có phải là thấy không? Ta nói rằng: Đây là không thấy. Sự thấy ấy, này các Tỷ-kheo, là hạ liệt, hèn hạ, thấp kém, phàm phu, không xứng Thánh hạnh, không liên hệ mục đích, không đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.
Này các Tỷ-kheo, ai đi yết kiến Thế Tôn hay đệ tử Thế Tôn, với lòng tin an trú, với lòng ái mộ an trú, nhứt hướng thuần tín, thời này các Tỷ-kheo, đây là thấy vô thượng, đưa đến thanh tịnh cho các loài chúng sanh, vượt qua sầu bi, chấm dứt khổ ưu, đạt được chánh lý, chứng ngộ Niết bàn, tức là đi yết kiến Như Lai hay đệ tử Như Lai với lòng tin an trú, với lòng ái mộ an trú, nhứt hướng thuần tín. Này các Tỷ-kheo, đây được gọi là thấy vô thượng, đây là thấy vô thượng”
“Yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng triết, giác ngộ, Niết-bàn”. Những từ này là định lý của giải thoát, những vị Phật tử trong đạo tràng Nikaya phải thuộc lòng. Những cái thấy đó không đưa đến sự chán lìa, từ bỏ lòng tham mà những thấy đó sanh khởi cho mình sự ưa thích, tham muốn nó nói ngược lại với sự tu học của mình nên Đức Phật gọi cái thấy đó là cái thấy phàm phu, thấp hèn, hạ liệt, thấy mà không phải là thấy. Vì cái thấy đó không đưa đến sự chán lìa, cái thấy đó không đưa đến sự rời tham, sự chấm dứt. Cái thấy đó không làm cho tâm mình sự an tịnh, an ổn, yên lặng mà làm cho tâm mình dao động. Cái thấy đó không giúp cho mình thành tựu được trí tuệ thù thắng gọi là thắng trí. Cái thấy đó không giúp cho mình dập tắt được ba ngọn lửa trong lòng vậy là không đưa đến Niết-bàn.
Thế Tôn đã nhập diệt rồi, còn lại đệ tử của Thế Tôn. Những người nào gọi là đệ tử của Thế Tôn thì người đó phải giúp cho người khác chán lìa ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng triết, giác ngộ Niết bàn, thì người đó mới gọi là đệ tử của Thế Tôn.
Như vậy thì đệ tử của Thế Tôn không phải dễ gặp, không phải chỉ trên hình thức của một người tu. Dẫu cho hình thức là một người tu, mà mình đến gặp người đó mà người đó không giúp cho mình ly tham, người đó không giúp cho mình nhàm chán, từ bỏ, chấm dứt tham, sân, si. Người đó không dạy cho mình được sự an tịnh, trí tuệ thù thắng. Người đó không chỉ cho mình cách dập tắt những ngọn lửa ở trong lòng, thì người đó không phải là đệ tử của Thế Tôn. Đệ tử của Thế Tôn rất là khó gặp, là báu vật của chư thiên và loài người. Thành ra sự gặp gỡ này là sự gặp gỡ trên tất cả, sự nghe này là cái nghe vượt trên tất cả. Sự thấy, sự nghe này là tối thượng.
“Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người đi nghe tiếng trống, đi nghe tiếng sáo, đi nghe tiếng ca, hay đi nghe tiếng cao thấp khác nhau, hay là đi nghe pháp các Sa-môn hay Bà-la-Môn có tà kiến, tà hành. Này các Tỷ-kheo, đây có phải là nghe không? Ta nói rằng: Đây là không nghe. Sự nghe ấy, này các Tỷ-kheo, là hạ liệt, là hèn hạ, là phàm phu, không xứng Thánh hạnh, không liên hệ đến mục đích, không đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.
Này các Tỷ-kheo, ai đi đến để nghe pháp của Như Lai hay đệ tử Như Lai, với lòng tin an trú, với lòng ái mộ an trú, nhứt hướng thuần tín, thời này các Tỷ-kheo, đây là sự nghe vô thượng, đưa đến thanh tịnh cho các loài chúng sanh, vượt qua sầu bi, chấm dứt khổ ưu, đạt được chánh lý, chứng ngộ Niết-bàn, tức là đi nghe pháp của Như Lai hay đệ tử Như Lai với lòng tin an trú, với lòng ái mộ an trú, nhứt hướng thuần tín. Này các Tỷ-kheo, đây được gọi là nghe vô thượng.”
“Chúng ta thấy hổm rày, trong thời gian trước nay chúng ta nghe có những công năng này chưa? Có chưa?”
“Tuệ Giác thấy có đúng không? Tại sao lại bỏ con bỏ chồng?”
“Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người được con, được vợ, được tài sản, được các vật cao thấp khác nhau, được lòng tin vào các Sa-môn hay Bà-la-môn có tà kiến, tà hạnh. Này các Tỷ-kheo, đây có lợi đắc hay không? Ta nói rằng: “Ðây là không lợi đắc”. Lợi đắc ấy, này các Tỷ-kheo, là hạ liệt, là hèn hạ, là phàm phu, không xứng Thánh hạnh, không liên hệ đến mục đích, không đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Này các Tỷ-kheo, ai được lòng tin vào Như Lai hay của đệ tử Như Lai, với lòng tin an trú, với lòng ái mộ an trú, nhứt hướng thuần tín, thời này các Tỷ-kheo, đây là đắc lợi vô thượng, đưa đến thanh tịnh cho các loài chúng sanh, vượt qua sầu bi, chấm dứt khổ ưu, đạt được chánh lý, chứng ngộ Niết-bàn, tức là được lòng tin vào Như Lai hay của đệ tử Như Lai, với lòng tin an trú, với lòng ái mộ an trú, nhứt hướng thuần tín. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là đắc lợi vô thượng.”
II. Giảng giải
Ngày đầu tiên mình lập gia đình mình thấy đó là hạnh phúc lắm, mình thấy đó là lợi ích lắm, mình thấy đó là mình được. Nhưng một thời gian sau mình thấy đó là tổn hại, mất mát, khổ đau, sầu bi, ưu não. Mình thấy đó là những sự hệ lụy trói cột. Có những gia đình được trúng số độc đắc, sau đó là nhà tan cửa nát, con cái nghiện ngập, sa đọa vì có tiền nhiều quá. Có những người thành công lớn trên kinh doanh thì chính những đứa con của họ trở thành sa đọa hoặc chính tự thân của người đó vì những cái tham mà phải vào tù. Chúng ta phải chiêm nghiệm chứ nếu không mình đọc phớt qua mình không có hiểu. Đức Phật nói những cái được đó không phải là được, không phải là lợi ích gì cả, những cái được đó đem lại sự sầu bi, ưu não, khổ ưu, bất an. Những cái mình tưởng là lợi đắt, lợi ích là được thêm đó đem đến sự lo lắng, bất an, sợ hãi làm cho tâm của mình không an tịnh. Tâm mình lúc nào cũng lo lo, lắng lắng. Thí dụ một người lúc nào cũng có thật là nhiều tiền, nhiều vàng có dám lên đây ở tu 7 ngày như quý vị không ạ? Thấy chưa? Nhờ mình ít cho nên mình mới có mặt ở đây, đó là lợi ích đó, chứ đừng tưởng đâu giàu như vậy là hạnh phúc. Họ bị sự giàu có đó trói cột, đi đâu đi một chút thôi phải về với căn nhà, vì trong căn nhà đó là tài sản lớn. Họ bị chính tài sản đó trói cột, họ làm ra tài sản đó rồi chính tài sản đó trói cột người đó. Họ làm ra tiền của đó rồi lại chính tiền của đó làm cho họ lo lắng, sợ hãi, hồi hộp, thấp thỏm.
“Cho nên, này các Tỷ-kheo, các ông bị sầu, bi, ưu, não các ông lại đi tìm cái sầu, bi, ưu, não”
Khổ cực vô cùng mới tìm được cô bồ thiệt là đẹp, đẹp nhất như hoa hậu “khi có được cô rồi thì sao?” (Lắc đầu) ngủ không được, ăn cũng không ngon. Khi cưới được về thì thấy quá hạnh phúc rồi, nhưng mà cũng bất an, ghen tối ngày, canh chừng vì vợ đẹp quá hay là chồng đẹp quá. Như vậy thì các ông đang lo lắng, đang sợ hãi, đang bất an, lại đi tìm cái lo lắng, sợ hãi, bất an. Mình phải chiêm nghiệm cho sâu sắc mình mới hiểu các lời của Đức Phật nói, nó thâm sâu, dùng trí tuệ mới có thể hiểu được, người trí mới có thể tự mình giác hiểu được, đọc phớt qua là không hiểu được. Các anh, các cô, các cậu, các chú đang ở trong sự bất an, lo lắng, sợ hãi lại đi tìm cái bất an, lo lắng, sợ hãi. Xây ngôi chùa lên bự quá, đẹp quá để tượng Phật bằng vàng, bằng ngọc ở trỏng, rồi không dám đi đâu sợ mất, ở giữ chùa không dám đi. Như vậy đâu phải là pháp nhàm chán, ly tham, đâu đưa đến sự an tịnh, chấm dứt đoạn diệt, thắng trí, giác ngộ Niết-bàn. Thành ra chúng ta phải lấy định lý giải thoát làm chuẩn mực của sự tu, làm cái tiêu chí, mục tiêu, đích đến, tông chỉ, khẩu hiệu, đề mục.
Những pháp nào đưa đến sự nhàm chán, ly tham; những pháp nào đưa đến tâm an tĩnh lắng dịu; chấm dứt tham, sân, si, những kiết sử, trói buộc; dập tắt được ba ngọn lửa tham, sân, si thì pháp đó mới là Chánh Pháp của Đức Phật (nhớ cho kỹ, nhớ mãi không quên những định lý này). Cho nên, nếu chúng ta chỉ đọc phớt qua thì chúng ta thấy “ủa sao Đức Phật lạ vậy? Được vợ, được con, được tài sản, được trúng số độc đắc mà Đức Phật nói những cái này không có lợi ích, không có được gì hết. Mấy ông chỉ được sự sầu, bi, khổ, ưu não, bất an, lo lắng và sợ hãi chứ không được gì hết”.
Các ông, các cô chớ có cho trúng số là lợi ích. Các cô chớ có cho có cháu nội, cháu ngoại là được vui sướng “ngồi ở dưới cười kìa, che che ngồi ở dưới cười kìa, nói đúng ý không? Nguyên thủy có được hạnh phúc với cái này không? Có được rời xa mấy cái này không?” Chớ có cho có chồng, có vợ, có con, có cháu, có thêm những tài sản đó là lợi ích, là có được.
Cho nên chúng ta học phải chiêm nghiệm, bài này học hết khóa tu cũng chưa hết nếu chúng ta chiêm nghiệm thâm sâu. Chứ chúng ta đừng có ham đọc nhiều nhiều, mà đọc phớt qua rồi nghe từ lỗ tai này qua tới lỗ tai kia mất tiêu, đọc phải chiêm nghiệm, thiền quán, suy ngẫm. Phải đem vào trong tâm của mình và dùng con mắt trí tuệ Thánh nhãn của Đức Phật mà nhìn cuộc đời này, nhìn sự nguy hiểm và tác hại của các dục. Phải nhìn bằng cái ánh nhìn của ly tham thì mới thấy ra được pháp của Phật, thì đó mới gọi là thấy pháp. Nhìn ra được sự thật, thì cái nhìn đó mới gọi là cái nhìn trên tất cả cái nhìn. Thấy trên tất cả cái thấy chính là thấy được sự thật khổ đau của ngũ uẩn. Đối với con mắt của bậc Thánh thì tất cả cái đó là khổ.
Hôm qua một vị trong đạo tràng của mình làm bên ngành dược trình pháp, đi đám cưới vị này trình pháp rất hay, rất tốt. Mà Minh Thành gửi lại hai chữ lành thay, lành thay. Như vậy mới là đệ tử của Như Lai, phải suy nghĩ như vậy.
“Quý vị có muốn nghe không ạ?”
III. Phật tử trình pháp hay
Bài trình pháp như sau: “Con kính lễ trên thầy ạ! Con kính thưa trên thầy ạ! Con xin phép thầy cho con gửi nhật ký tu học! Con tiếp tục quan sát cuộc sống và suy tư những điều quan sát ạ! Trong tuần qua con có nhân duyên tham gia hội nghị chuyên môn trong ngành y, đặc biệt là tiệc cưới người con trai của cô làm cùng bệnh viện. Khi bước chân vào gian phòng có sức chứa lớn, trang hoàng lộng lẫy ánh sáng, âm thanh, xung quanh là khách mời đang ngồi quanh bàn tiệc, người phục vụ…Cô dâu, chú rễ đang làm lễ hoàn tất để bắt đầu cuộc sống gia đình.
Mọi người vỗ tay chúc mừng hạnh phúc của đôi bạn trẻ và chúc sớm sanh quý tử, thì con nhận ra cảm thọ trong con dửng dung rồi ưu tư. Tưởng các hình ảnh mà con từng chứng kiến về cảnh khổ sở của các cặp đôi ngũ uẩn, ý hành, cặp đôi ngặm thìa vàng từ khi lọt lòng mẹ đâu biết bắt đầu bị dục nhai nghiến, bị ái trói cổ. Bây giờ đang hân hoan hạnh phúc nhưng sau vài năm nữa không biết sẽ như thế nào.
Khi những người phục vụ bưng thức ăn ra, những món ăn được chế biến cầu kỳ, trình bày bắt mắt từ thịt của bò, gà, tôm, mực, cua. Cón suy tư về 4 loại thức ăn nuôi thân ngũ uẩn (đoạn thực, xúc thực, tư niệm thực, thức thực). Đoạn thực với bàn tiệc đầy đủ sắc, thanh, hương, vị, xúc rất hấp dẫn với thân ngũ uẩn. Cho ái tập khởi nên thức ăn tập khởi, do thức ăn tập khởi nên săc tập khởi. Và những cảm giác do thức ăn, nước uống này đem lại và vị ngọt. Nhưng cảm giác này hết duyên, nó qua cổ rồi thì nó sẽ biến thành bất tịnh. Uống nhiều thì cũng chả ra nhiều, ăn nhiều thì nó cũng chả ra nhiều, và cái dạ dày trong thân tư đại này là mồ chôn của các con vật. Những con tôm, trứng, cua, gà kia đáng ra đang bơi lội, đang chạy, nhưng giờ đã bỏ mạng để phục vụ bữa tiệc. Nhưng giờ ăn rồi cũng chỉ đi ra với thứ càng bất tịnh.
Suy tư đến đây con hoảng sợ vì sự tham lam, độc ác của bản thân khi có mặt ngồi ở bàn tiệc, và con tự nhủ sẽ hạn chế tối thiểu gây đau khổ cho các loài vật. Khi phục vụ bữa ăn nuôi cái thân ung nhọt, bất tịnh này. Xúc thực hiện tại ngồi trong tiệc cưới này con đang duyên xúc, nhãn xúc, nhĩ xúc, tỷ xúc, thân xúc, ý xúc. Con đang xúc với các ác bất thiện pháp, vì các pháp ở đây làm tăng trưởng lòng dục, ái, khát khao, dính mắc, trói buộc.
Nhưng nhờ phước duyên được học Chánh pháp nên con biết nhận ra đây là các ác bất thiện pháp, để tác ý phòng hộ ạ! Nhưng những ngũ uẩn xung quanh con, họ không được học Chánh pháp, họ không nhận biết đây là các pháp nuôi lớn ngũ uẩn, trói cột ngũ uẩn trong đau khổ, nên họ tăng nhu cầu về xúc. Trước khi đến đây, họ đã chuẩn bị cho mình những bộ quần áo, váy thời thượng đủ màu sắc, thời thượng, nước hoa, phấn son, tráng sức. Họ vui vui vẻ vì được gặp gỡ, trò chuyện, hàn quyên, đây cũng là điều kiện cho các ác nghiệp về tà dâm sanh khởi. Suy tư con cũng nghĩ về các bệnh nhân con đã gặp, thăm khám cho họ và phát hiện họ mắc bệnh xã hội như giang mai, lậu, HIV, sùi màu gà.v.v. Cũng vì nhu cầu về xúc nên dù dịch bệnh vẫn đi du lịch, ăn uống, trong phòng này có đầy đủ sắc đẹp, âm thanh, hương thơm, vị ngon. Xúc là những vị ngọt khiến ngũ uẩn say sưa, đam mê, điên đảo, trói cột. Con suy tư và nhớ đến đoạn trong bài “Giải Thoát Trí” ạ!
“Càng hưởng dục, dục càng tăng
Càng làm nô lệ cho bao dục trần”
Tư niệm thực ngoài đời từ nhiều các duyên xúc khác nhau. Thọ, tưởng, hành liên tục sanh khởi. Tầm tứ theo dục, ái, tham, sân, si, bản ngã, các ngũ uẩn chìm đắm, thích thú trong suy tư, nhất là trong xã hội hiện nay, mọi người thiên về xu hướng hưởng thụ các dục trần. Nổi lực kiếm thật nhiều tiền để mua các niềm vui, mọi suy tư của họ vòng quanh các sắc, thanh, hương, vị, xúc. Nhưng đứa trẻ sinh ra trong gia đình đó, họ cũng được dạy dỗ từ bé là làm việc để kiềm tiền, học giỏi để tìm việc làm, để kiếm tiền. Suy tư của trẻ từ bé đã được hình thành, huân tập như thế trong gia đình và ra xã hội trẻ cũng thấy như thế. Khi không được như ý thì càng sanh khởi các thọ, tưởng, hành bất thiện và khi đi đến thân hành các pháp bất thiện nên gây ra các tệ nạn xã hội như buôn bán hàng lậu, hàng giả, các cô gái bán dâm ở các quán hát. Ở các khu du lịch các vụ lừa đảo, chiếm đoạt tài sản.
Con nhờ phước duyên được học Chánh pháp nên được thầy cô chỉ dạy cách nhận diện ngũ uẩn nên nhận ra các suy tư bất thiện, thay đổi các suy tư hướng về ly dục, ly sân, ly các pháp bất thiện ạ! Thức thực chúng con sống ngoài đời nhận các thức là thật, chấp thủ vào cái rõ biết, chạy theo cái rõ biết trong khi nó chỉ là duyên sanh, là hội tụ của căn, trần. Hết duyên cái rõ biết nhưng tư tưởng về sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp tiếp tục vận hành và chúng con luôn nhận luôn nó là mình.
Con suy tư trong hội nghị chuyên môn, ai cũng đang nổ lực, phấn đấu học thêm, học cao hơn, nâng cao trình độ thì cũng có, nhưng nâng cao bản ngã thì nhiều hơn. Cái biết để hơn thua với nhau, tìm vị trí cao hơn, nuôi dưỡng lớn lòng dục,ái, tham, sân, si, bản ngã. Con ngồi trong đó và nhận ra sự may mắn của bản thân khi bắt đầu tập nhận thức để tác ý, hạn chế nuôi dưỡng bản ngã, ganh tỵ, hơn thua nhau trong đó.
Con kính trên thầy ạ! Con tập suy tư về các pháp vận hành và thức ăn nuôi dưỡng ngũ uẩn, con chưa biết đúng sai. Con mong sự chỉ dẫn của chư thầy.
Con kính lễ ân đức trên thầy nhiều ạ!
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật”
IV. Sự nguy hại của dục lạc
“Mãi mê theo đuổi dục trần
Vui trong tham ái, chạy theo bên ngoài
Vui trong hưởng thụ đam mê
Vui trong thỏa mãn, hỉ hê dục trần
Vui trong thỏa thích buông lung
Vui trong dục lạc quên mình, quên tâm
Càng ngày càng mắc tự do
Càng làm nô lệ cho nhiều loại vui
Càng ngày càng mắc tự do
Càng làm nô lệ cho nhiều thú vui
Tưởng rằng ta hưởng thụ đời
Đâu ngờ dục lạc đang ràng buộc ta
Nằm ngồi đi đứng chẳng yên
Nhớ, ghiền, thèm, muốn làm điên đảo lòng”
“Nằm, ngồi, đi, đứng chẳng yên” lúc nào cũng lăn xăn, dao động, thúc giục, tìm kiếm, chạy đuổi, bôn ba.
“Càng hưởng dục, dục càng tăng
Càng làm nô lệ cho bao dục trần”
Ăn bao nhiêu là đủ? Đi du lịch bao nhiêu là đủ? Mặc bao nhiêu là đủ? Tình dục bao nhiêu là đủ?
“Càng hưởng dục, dục càng hăng
Càng không thỏa mãn, càng thêm quay cuồng”
Điên cuồng, quay cuồng, điên đảo trong dục, trong những thèm muốn, khát khao, trong những chạy đuổi, truy tập, rượt đuổi, chụp bắt. Uống bia rượu, những chất kích thích, xì ke, ma túy, những chất nghiện ngập, chơi game mà chết trên bàn luôn, đi du lịch chết trên chuyến đi luôn. Tuổi già tóc bạc mà quên mình già, làm nô lệ cho dục không biết mình đã già. Mình đang bệnh cũng không nhận thức được mình đang bệnh mà vẫn làm nô lệ cho dục, đi tìm vui.
Những người trẻ bỏ cha bỏ mẹ ở dưới quê nghèo, chạy theo ăn chơi, bạn bè hưởng thụ. Bất hiếu với mẹ cha, vô tình, vô nghĩa, lập bè, lập nhóm, ăn chơi sa đọa, vong ân, bội nghĩa, bất hiếu, bất nhân tất cả cũng vì cái dục này. Thân tàn, ma dại, bệnh hoạn, ốm đau, tai nạn, chết chóc cũng vì cái dục này. Tối ngày ghim đầu vô cái điện thoại không biết một cái gì khác, sống trong thế giới ảo điên cuồng đó. “Tiền bao nhiêu là đủ?” Muốn thêm, muốn thêm, muốn thêm.
“Càng tìm đến dục nhiều hơn
Càng không tự chủ, càng nhiều buông lung
Càng ngày càng đánh mất mình
Dục càng chồng chất, ái càng dâng cao.”
Quay cuồng ở trong những ham muốn, quay cuồng ở trong những cảm giác thúc giục, điên đảo ở trong những cảm xúc thèm khát, khao khát. Hết đời này cho đến kiếp khác, từ nhỏ cho đến lớn, từ lớn cho đến già, từ già cho đến chết, từ chết tiếp tục những dục đó dẫn dắt lôi đầu đi vào trong những cảnh giới của địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Cho nên chỉ có giáo pháp, Thánh Pháp, ly tham, diệt dục mới có thể cứu khổ chúng sanh.
Chúng ta phải chiêm nghiệm thật nhiều sự nguy hiểm, tác hại, khốn nạn, hèn hạ, tồi bại, ác độc, giết người của dục. Cảnh sắc đẹp này là cũng giết người, nó làm cho con người ta chạy hoài, chạy hoài. Quên cha, quên mẹ, quên thầy, quên bổn phận, trách nhiệm, leo lên chiếc xe là đi phượt chết cũng được, cảnh đẹp là giết người. Những âm thanh giết người, những âm thanh súi giục, rù quến, dẫn dụ chúng ta chạy theo những mùi, những vị hấp dẫn đó. Khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái liên hệ những dục hấp dẫn đó để giết người. Suốt cuộc đời là vùi đầu trong ăn uống đi tìm bữa ăn suốt ngày đi tìm món ăn, suốt cả cuộc đời không đi ra khỏi cái bếp. Cái hương, cái vị đó là để giết người. Cái xúc, đụng chạm đó nó giết người “nó giết bao nhiêu người rồi?” nó giết chúng sanh, giết hữu tình, giết nhân loại, giết thế giới. Chúng ta phải quán chiếu thật là sâu sắc cái sự ác, độc thâm, tàn phá của dục. Nó viết cả thế giới, này tất cả chúng sanh.
Bây giờ con hỏi các thầy các cô các bậc Hiền trí: Tại sao quận nhất có một mét vuông mà mấy trăm triệu, cả tỷ? Tại sao đất đai rộng lớn mênh mông này không ở mà nhào vô dành chỗ đó?
“Đất trời rộng lớn thênh thang lắm, dại gì chui vào chỗ tối tăm giành giật”
Xâu xé ở trong dục, vì chỗ đó có sắc, thanh, hương, vị, xúc nhiều nhất. Cho nên “khả ái thay núi rừng, chỗ người phàm không ưa, bậc ly tham ưa thích, vì không tìm dục lạc” phải vui với núi rừng phải hạnh phúc với núi rừng “chú Nhật hạnh phúc lắm phải không?” phải hạnh phúc với núi rừng, hạnh phúc với viễn ly sứ “mấy thầy, mấy chú có hạnh phúc với viễn ly sứ không?” Phải tìm thấy được hạnh phúc trong sự ly dục, niềm vui này là cao thượng hơn, thù thắng hơn, vi diệu hơn những niềm vui thấp hèn, dơ bẩn, hạ liệt, phàm phu của cái dục thế gian, của sắc, thinh, hương, vị, xúc của cuộc đời.
Bây giờ con đi mà con nhìn những chỗ nào mà tòa cao lớn là thấy sợ lắm, thấy muốn tránh xa lẹ, thấy trong đó là giành giật, lo lắng, sự bất an. Chỗ nào nhìn thấy núi rừng bao la, thênh thang thấy lòng mình dễ chịu, nhẹ nhàng. Tìm cái không có gì hết, những cái mà thiên hạ giành giật thì cái đó mình mình phải tránh xa, những đồ bỏ của thiên hạ thì những cái đó mình lại sử dụng “được không con thưa các bậc hiền trí?”. Người ta lấy thì mình bỏ đi, người ta bỏ đi thì mình sử dụng. Mai mốt làng tu con cho mặc áo rách, mặc áo mà vá những tấm vải vụn đó, chuẩn bị sẵn rồi “chịu không?”
“Yến lên phòng thầy Pháp An nói: Cho em lấy bộ đồ bá nạp của sư phụ xuống đây để cho xem trước, mai mốt những khóa tu vô cho mặc vải vụn hết chịu không?”. Vải vụn là cái thứ của người ta bỏ. Ngày xưa Đức Thế Tôn còn tại thế toàn sử dụng những đồ mà người ta bỏ. Cơm là cơm thừa của người ta, nếu mà người ta không cho thì người ta cũng bỏ. Chúng ta phải nhớ kỹ cái này hết sức là quan trọng, người tu đúng nghĩa là sử dụng đồ bỏ của người ta. Cái y là lụm những tấm vải mà người ta bỏ ngoài nghĩa địa hoặc những tấm vải vụn khâu lại. Cơm của các thầy dùng là cơm dư, cơm thừa người ta đem tới, thay vì người ta bỏ người ta cho. Trừ những người Phật tử thì người ta cung kính, nấu sẵn chờ cúng.
Hồi xưa Đức Phật mới thành lập Tăng đoàn ai có biết Đức Phật là ai đâu, Tăng đoàn là cái gì đâu, biết cúng dường có phước đâu, người ta nghĩ mấy ông này đi xin, thì bây giờ có người ta cho, mà thật sự là đi xin (khất sĩ). Như vậy, ăn là ăn cái đồ bỏ, mặc là mặc cái đồ bỏ, ở cũng là ở cái chỗ người ta bỏ, dưới gốc cây, bên bìa rừng, trong căn nhà trống, những căn nhà hoang, những cái chòi mà người ta làm rẫy người ta bỏ, thì đó là đời sống ly tham của Đức Thế Tôn và các bậc Hiền Thánh. Ly tham, ly dục, rời xa những thứ mà nó có những mầm mống của giành giật, tranh đấu, ham muốn.
V. Tông chỉ ly tham
Con thưa các thầy, các cô, các bậc hiền trí, Linh Quy Pháp Ấn được dựng lập lên là dựng lập theo tông chỉ ly tham, chúng ta nhìn tất cả đồ trong này không có cái gì có giá trị hết, không có cửa mà cũng không có đóng, không có rào, không có một cái gì có giá trị trong đây hết, trong tất cả căn nhà. Vậy nên các thầy, các cô, đại chúng ở đây được tu an ổn, vậy mà lâu cũng bị trộm chút. Tại vì có mấy cái máy để bàn đọc kinh. Chúng ta mới thấy được Đức Thế Tôn là bậc Chánh đẳng, Chánh giác. Sự chứng ngộ của Ngài, sự thiết lập Tăng đoàn của Ngài, sự chế ra giới luật của Ngài, tất cả tất cả mọi phương diện của ngài là xả dục, ly tham. Tại vì cái dục, cái tham là cái chỗ tranh dành, là chỗ khởi lên tham muốn, bây giờ mình đi vô trong đó mà mình muốn hết khổ thì cái chuyện đó không thể xảy ra được.
Ăn đồ thừa, mặc đồ bỏ, ở là cái chỗ xa vắng, không ai thèm ngó tới, người ta nhìn quận 1, quận 3, quận 7, Sài Gòn hay thị trấn chứ ai thèm nhìn chỗ xa xôi, rừng rú. Nững chỗ không ai thèm nhìn tới là những chỗ của các bậc Hiền Thánh “chịu không?” bảy ngày này là bảy ngày các vị sống ly tham, bảy ngày này là bảy ngày quý vị phải trải nghiệm được đời sống ít muốn, biết đủ “thiểu dục tri thúc” bảy ngày này là bảy ngày quý vị trải nghiệm được cái đời sống hỷ lạc của ly dục “quý vị hoan hỷ không? Hoan hỷ hạnh phúc không?”
Cho nên từ cái chỗ ăn, chỗ ở, cái mặc mình phải quán chiếu như vầy “Bảy ngày này con nguyện làm kẻ ăn xin, con ôm bình bát đi khất thực; bảy ngày này con nguyện xài những cái đồ bỏ; bảy ngày này con nguyện quay về đời sống của Đức Thế Tôn và các bậc Thánh Chúng; bảy ngày này con nguyện sống đời sống viễn ly, xả ly và xuất ly; bảy ngày này con nguyện trải nghiệm những hỷ lạc mà các bậc hiền thiện, hiền trí, Hiền Thánh thuở xưa đã sinh hoạt” phải tác ý thường xuyên, mình ngẫm hạnh phúc từ sáng tới trưam tới chiều tới tối.
Lúc nào trong này có tham, sân, si, bản ngã thì mình diệt, tác ý “ôm cái bình bát nó đẹp làm sao, nhớ chụp hình lại về coi”, về nhà rồi “nhớ nè, mày ăn xin nè, mày về đây mày sân si với chồng con hả?” hình đó là nên chụp, còn hình mà mặc đồ đẹp này kia uốn éo thì không cần thiết, mặc cái áo choàng ôm cái bình bát đi khất thực chụp cái hình đó đem về, để ngay cái chỗ nào mà thường thấy đó “nè nhớ không, mày làm khất sĩ mày ăn xin nghe không, ở đó sân si hoài à!” tác ý như vậy đó.
Trước mặt Minh Thành hiện là những chiếc y, bộ đồ bằng vải vụn này là cả tấm lòng của Phật tử khi nghe Minh Thành có tâm nguyện sau này mình có thời gian mình thọ trì thôi, thí dụ một tuần hay là một tháng mình tu vậy đó. Thì Phật tử ở dưới quê Minh Thành phát tâm với cả một tấm lòng chân thành lụm từng tấm vải vụn khâu lại, làm công quả, không có nhận tiền, khâu lại hết ngày này tới ngày khác, có ai muốn mặc thử không? Thầy nào phát tâm lên mở cho mọi người coi “Chú Tân chú đang chờ đợi để chú mặc, chú vui lắm”.
Đây là áo Phật, đây là tối thượng của thời trang, không có bất cứ thời trang nào ở trên thế giới mà so sánh được, tại vì đây áo của Phật, Đức Phật và các bậc Thánh ngày xưa mặc cái áo như này. Mai mốt đi tu chịu mặc cái này không? Cho một khóa tu ăn mày. Mặc cái y lên mình nhớ ngày Ma-ha-ca-diếp, mình nhớ Đức Thế Tôn, các bậc Hiền Thánh. Thành ra tại sao đời sống của các Ngài được thanh tịnh, được an lạc, được bình yên.
Tại vì cái mà mọi người đi tìm các Ngài không có tìm, cái mà mọi người kiếm các Ngài không có kiếm, cái mà mọi người tham các Ngài không có ham, cái mà mọi người muốn thì các Ngài từ bỏ, rời xa.
Cho nên giáo pháp mà chúng ta đang học là ly tham đối với sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Ly với sáu ái “Chúng ta học 6 pháp rồi đúng không?” Sắc ái, thanh ái, hương ái, vị ái, xúc ái, thậm chí là pháp ái là những sự yêu thích sâu sắc ở trong những suy nghĩ, cảm giác, hình bóng trong tâm cũng phải lìa luôn. Giáo pháp mà chúng ta đang học là giáo pháp ly tham đối với sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Giáo pháp này là giáo pháp vô tranh.
“Này các Tỷ-kheo, Ta không tranh luận với đời, chỉ có đời tranh luận với Ta. Này các Tỷ kheo, người nói pháp không tranh luận với bất cứ một ai ở đời.
Này các Tỷ-kheo, cái gì người có trí ở đời chấp nhận là không, Ta cũng nói là không; cái gì người có trí ở đời chấp nhận là có, Ta cũng nói có.
Và này các Tỷ kheo, người có trí ở đời không chấp nhận sắc, thọ, tưởng, hành và thức là thường còn, không chịu sự biến hoại, thời Ta cũng nói là không.
Này các Tỷ-kheo, đây là cái gì người có trí ở đời chấp nhận là không, Ta cũng nói là không.
Này các Tỷ-kheo, người có trí ở đời chấp nhận sắc, thọ, tưởng, hành và thức là vô thường, chịu sự biến hoại, thời Ta cũng nói là có vậy.
Này các Tỷ-kheo, đây là cái gì người có trí ở đời chấp nhận là có, Ta cũng nói là có.”
(Trích Kinh Tương Ưng Bộ III, chương 1, phẩm Hoa, phần Bông Hoa)
Đức phật dạy cho đệ tử của Ngài từ xuất gia cho đến tại gia, từ tu sĩ cho đến cư sĩ, ngoài cái sự Ngài hướng dẫn cái đạo lộ nhân thiên cho Phật tử tại gia, thì Ngài cũng hướng dẫn cho các Phật tử nào có tâm hướng thượng cầu giải thoát, Ngài dẫn giải cái pháp rời tham muốn đối với ngũ uẩn. Chính vì vậy mà thời Đức Phật có những bậc cư sĩ đạt Thánh quả thứ ba, thứ hai, thứ nhất rất nhiều. Cũng như trong thời hiện đại chúng ta đã nhìn thấy, việc cư sĩ có thể thành tựu được Thánh trí truyền trao Thánh pháp thì chúng ta có thể tưởng tượng được là khi Đức Thế Tôn còn tại thế với các bậc Thánh Chúng hiền thiện thì bao nhiêu những vị chứng đắc đạo quả.
Tại vì từ khi các Ngài xuất phát điểm là đã đúng rồi, cái điểm xuất phát đó là xuất phát của sự rời xa đối với sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Còn cái xuất phát điểm của mình thì sao? Là muốn cho tăng trưởng, phát triển sắc, thọ, tưởng, hành. Cho nên mình càng tu thì mình lại càng sai với mục đích của giải thoát, tu hoài không thấy giải thoát, tu hoài không thấy bớt tham, sân, si, tu hoài thấy bản ngã càng tăng lên them, càng muốn phát triển, bành trướng cơ sở hay là những quyến thuộc cho đông lên, rồi lấy những cái hình thức đó làm thành công. Còn Đức Phật dạy là lấy sự lìa tham đối với người ngũ uẩn làm thành tựu, làm sự chứng đắc cao tột nhất.
Hãy nhớ hình ảnh mình ôm bình bát, hãy an trú vào cái tưởng đó, con thế Ni Sư dẫn quý sư cô và các Phật tử đi khất thực rất là đẹp, đẹp vô cùng. Từ xa xa con ngắm nhìn, tái hiện lại hình ảnh của bậc Thánh Ni Kiều Đàm Di mẫu thuở xưa. Trong lòng con hình ảnh của Thánh Ni Tôn Giả Kiều Đàm Di mẫu tái hiện lại. Thế Tôn Di mẫu ngày xưa, thái tử sinh ra mới 7 ngày thì hoàng hậu Maya đã lìa trời. Di mẫu (mẹ nuôi) đã chăm sóc thái tử cho đến ngày khôn lớn, đem cả tấm lòng của một người mẹ nuôi nấng, vỗ về, chăm lo. Ngài là một hoàng hậu có thể gỡ vương niệm trên đầu xuống, cởi hoàng bào (chiếc áo của hoàng hậu, hoàng phi) ra, bỏ hết tất cả những trang sức, cạo đầu (cắt mái tóc đẹp nhất của người phụ nữ), đầu trần, chân đất khoác một tấm vải, từ bỏ cái đời sống của hoàng thất, từ bỏ cái đời sống của cung vàng điện ngọc, vương vị của mẫu nghi thiên hạ, thì chúng ta biết được tâm lực của các Ngài xưa đi tu như thế nào. Cái trí tuệ nhận thức của các Ngài và cái sức mạnh nội tại bên trong, sự từ bỏ, sự xả ly của các Ngài là đến mức độ nào. và đi cùng với 500 thể nữ trong cung, đều là cạo đầu, đắp y, đi chân không. Trải qua đường rất dài bao nhiêu trăm cây số tới chân của Ngài chảy máu hết. Hoàng hậu đi đến chỗ của Đức Thế Tôn để xin được xuất gia, quỳ, khóc, mong Thế Tôn nhận cho chúng con được xuất gia, được làm đệ tử chính thức của Thế Tôn. Năm lần, bảy lượt, Đức Phật từ chối. Bằng cả tấm lòng nể nang bày tỏ, xin hãy từ bi thương xót cho Di mẫu. Cho đến lần thứ ba xin Thế Tôn mới trao “Bát Kinh Pháp”, tám cái pháp cung kính. Nếu mà Di mẫu hoàng hậu đồng ý tất cả Ni giới phải thực hành tám cái phép cung kính này suốt đời, thì mới cho xuất gia. Rồi cuối cùng, Di mẫu rất hoan hỉ chấp nhận và Đức phật báo trước Ni chúng xuất gia thì cái Chánh pháp phải mất 500 năm, rút ngắn trở lại sự tồn tại của Chánh pháp bị mất 500 năm.
Chúng ta nghĩ La-hầu-La là dòng tộc gì mà có thể trở thành một chú tiểu nghèo đói như vậy, có bữa khất thực không có gì ăn. Chúng ta nghĩ đời sống của các bậc Hiền Thánh ngày xưa ngay cả Đức Thế Tôn có bữa chỉ uống nước thôi, đến chỗ lạ người ta đâu có biết Ngài là ai đâu, không có ai cho gì hết, mà chỗ đó mất mùa nữa, thì suốt ngày Thế Tôn nhịn đói nhịn đói, nhịn khát. Chúng ta khoác tấm y này lên không phải đùa giỡn, không phải vui cười, mà chúng ta hồi tưởng lại sự cao thượng của Thế Tôn và Thánh Chúng. Một đời sống thanh tịnh, trong sạch, thượng nhân pháp, cái mà cả thế giới này đắm chìm, say mê, điên đảo, điên cuồng, quay cuồng trong dục, thì các Ngài vứt bỏ, từ bỏ, xả bỏ, thoát ra. Chúng ta phải nhìn sâu sắc bản chất của sự tham muốn này làm mầm mống, nguyên nhân, hệ quả, hệ lụy của sự giành giật, tranh đấu, giết chóc (còn nữa còn nhiều nữa thưa các bậc Hiền trí).
Bao nhiêu nước trên thế giới bây giờ là bất ổn, bất an, chiến loạn. Từ dịch bệnh, thiên tai, những thảm họa kép, những sự chiến tranh nổ ra, bất ổn, bất an, toàn cầu lạm phát, kinh tế toàn cầu suy thoái và có khả năng sẽ sụp đổ. Hàng tỷ người trên thế giới bây giờ rơi vào nạn đói, ở Sri-Lanka trong 5 người là 4 người đã không có ăn, đói khát. Các nhà khoa học cảnh báo lớn, sắp tới là nạn đói khủng khiếp sẽ xảy ra trên toàn cầu. Bây giờ Châu Âu chết hàng trăm người, hàng ngàn người, sốc nhiệt, bốn mươi mấy độ C, những dòng sông khô hết, khô tới đáy giống như trong kinh “Bảy Mặt Trời” Đức Phật nói, không còn giọt nước nào hết, những dòng sông lớn ở Châu Âu.
Cho nên thật sự là may mắn cho chúng ta phải cố gắng gặp được cái Thánh Pháp ly tham quý báu này. Chúng ta phải trân trọng, trân quý, trân kính, phải tha thiết, chân thành, chỉ có cái này mới cứu được mình thôi. Chúng ta đã buông lung, phóng dật từ vô lượng, vô biên kiếp rồi, về đây hãy thực tập thân hành niệm, thực tập thu nhiếp 6 căn, nhiếp phục và chế ngự. Thực tập hạnh hiền lành, tâm hiền trí. Thực tập đời sống khất sĩ (ăn xin), an trú với cái tâm của ngài Xá Lợi Phất là tâm của một cái người thấp hèn nhất trong xã hội, hoàn toàn không tranh với đời, với bất cứ một ai. Thí dụ mình muốn ngồi cái ghế đó mà có người khác ngồi rồi, mình sẵn sàng xá xuống một cách hết sức là thành kính, lùi lại phía sau. Thí dụ tới giờ ăn cơm người ta đã gắp hết cái đó rồi, mình sẵn sàng nhường một cách ngọt ngào, nhẹ nhàng, ăn xin mà, đâu có quyền để so đo.
VI. Sáu tùy niệm
Đó là chúng ta trải nghiệm đời sống của bạn hiền trí. Sắp sửa chúng ta được học “Sáu Tùy Niệm” một chữ “nhớ” thôi là đã bao hàm rất nhiều sự tu tập. Nãy giờ chúng ta đang tùy niệm đó, nhớ về, nhớ nghĩ, nhớ Phật, nhớ pháp, nhớ Tăng. Tu bằng cách nhớ nghĩ.
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người tùy niệm được con, tùy niệm được vợ, tùy niệm được tài sản, tùy niệm được cao thấp sai biệt hay phục vụ Sa-môn hay Bà-la-môn có tà kiến, tà hạnh. Này các Tỷ-kheo, đây là có tùy niệm hay không? Ta nói rằng: “Ðây là không tùy niệm”. Tùy niệm ấy, này các Tỷ-kheo, là hạ liệt, là hèn hạ, là phàm phu, không xứng Thánh hạnh, không liên hệ đến mục đích, không đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Này các Tỷ-kheo, ai tùy niệm Như Lai hay đệ tử Như Lai, với lòng tin an trú, với lòng ái mộ an trú, nhứt hướng thuần tín, này các Tỷ-kheo, tùy niệm ấy là vô thượng, đưa đến thanh tịnh cho các loài chúng sanh, vượt qua sầu bi, chấm dứt khổ ưu, đạt được chánh lý, chứng ngộ Niết-bàn, tức là tùy niệm Như Lai hay đệ tử Như Lai, với lòng tin được an trú, với lòng ái mộ được an trú, nhứt hướng thuần tín. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là tùy niệm vô thượng.
Nãy giờ là chúng ta đang nhớ nghĩ vô thượng, Thánh hạnh của Đức Thế Tôn, Thánh hạnh của Di mẫu Kiều Đàm Di mẫu, Thánh Chúng, Thánh hạnh của Hầu La tôn giả, Thánh hạnh của các bậc Hiền Thánh sống đời sống viễn ly, ly tham. Sống từ bỏ các dục, các sự ham muốn ở đời này. Nãy giờ là chúng ta đang tùy niệm vô thượng. Trích trong Kinh Mahànàma, Tăng Chi Bộ tập 3, Phẩm Tùy Niệm
“Ở đây, này Mahànàma, Ông hãy tùy niệm Như Lai: “Đây là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn”. Này Mahànàma, trong khi Thánh đệ tử tùy niệm Như Lai, trong khi ấy, tâm không bị tham ám ảnh, tâm không bị sân ám ảnh, tâm không bị si ám ảnh, trong khi ấy, tâm được chánh trực nhờ duyên Như Lai.”
Đây là pháp Niệm Phật của Kinh Nikaya, nãy giờ là chúng ta Niệm Phật, niệm pháp, niệm Tăng rồi, đó mới đúng là pháp Niệm Phật mà thời Đức Phật dạy. Chứ không phải chỉ niệm “Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật” trên môi, cái đó là niệm danh hiệu thôi. Còn ở đây Đức Phật dạy mình tùy niệm, Niệm Phật đó, đức hạnh, trí tuệ, thiền định các công đức của Ngài để mình tu theo Ngài, khi mình nhớ, mình nghĩ như vậy thì tâm mình không bị tham, sân, si chi phối, lúc đó chỉ có một lòng ái kính, kính ngưỡng. Tâm mình được chánh trực, ngay thẳng nhờ mình nương tựa vào mặt trời vĩ đại của Thánh tuệ đó, thì đó là pháp Niệm Phật. Đức Phật nói Niệm Phật này là lợi ích lớn, là quả báo lớn, là đưa đến an tịnh, Thánh trí, chứng ngộ Niết-bàn. Chứ không phải bình thường mình Niệm Phật là đưa đến Niết-bàn. Niệm này đưa đến ly tham, sự an tịnh, giác ngộ, dập tắt tham, sân, si. Tại vì Đức Phật là bậc hoàn toàn diệt tận tham, sân, si. Cho nên mình nhớ về bậc dập tắt tham, sân, si, thì lúc đó tâm mình rời xa tham, sân, si, đó là ý nghĩa của sự Niệm Phật trong kinh Nikaya. Chúng ta thấy khác xa với cái mình Niệm Phật từ trước tới nay không?
“Vị Thánh đệ tử, này Mahànàma với tâm chánh trực, có được nghĩa tín thọ, có được pháp tín thọ, có được hân hoan liên hệ đến pháp. Khi có hân hoan, hỷ sanh; Khi có hỷ, thân được khinh an; khi thân khinh an, cảm giác được lạc thọ; khi có lạc thọ, tâm được định tỉnh. Này Mahànàma, như vậy gọi là bậc Thánh đệ tử sống đạt được bình đẳng với chúng sanh không bình đẳng, sống đạt được vô sản với chúng sanh có sân, nhập được pháp lưu, tu tập Phật tùy niệm.”
Đó là tiến trình vận hành của tâm khi Niệm Phật theo đúng chánh pháp Nikaya. Đây là tiến trình tâm vận hành khi thực hành Niệm Phật theo tinh thần của Kinh Nikaya. Đầu tiên là tâm ngay thẳng; kế đó tin pháp, hiểu được cái nghĩa lý; sau đó tâm hân hoan, vui vẻ rồi than sẽ nhẹ nhàng “khinh an” thì mình có một cái cảm giác dễ chịu. Thân thì nhẹ nhàng, tâm thì dễ chịu đưa đến sự định tĩnh. Với quần chúng lăn xăn, dao động, vị này sống bình thản, nhẹ nhàng, an tịnh. Với những người suy nghĩ phiền não mà muốn hại người khác, còn cái người Niệm Phật này sống bình thản, không có những cái phiền muộn bực bội, không có suy nghĩ muốn hại người khác. Vị ấy vào được vòng pháp, vị ấy tu tập Niệm Phật.
Niệm Phật của Nikaya là vậy đó, vào được dòng chảy của Chánh pháp, vị ấy tu tập sẽ nhớ nghĩ về Đức Phật. Nãy con nhìn thấy có một số vị chảy nước mắt giờ này cũng vẫn còn, đó là sự xúc động khi mình niệm ân đức của Như Lai và Thánh Chúng đó là Niệm Phật và nhập lưu. Con thưa các bậc hiền trí, chứ không phải Niệm Phật theo kiểu mê tín, Niệm Phật mà được vào dòng chảy Chánh Pháp, vào biển cả của trí tuệ ly tham, giải thoát, Niệm Phật là như vậy đó (đây là con kết hợp nhiều bài kinh cho chúng ta)
Nhớ Phật thật nhiều nha quý vị, đừng có nhớ ma. Nhớ giận người này, ghét người kia, tham cái này cái nọ, hơn thua là nhớ ma. Nhớ một bậc tối tôn, tối thượng giữa chư thiên và loài người, vì lợi ích cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh. Vì lợi ích, hạnh phúc cho chư thiên và loài người. Vì thương tưởng cho đời, nhớ một bậc đó. Cứ rảnh thời gian, cứ vô đây đi thiền hành, cứ ngồi ngắm lên Đức Phật niệm ân đức của Phật. Hoặc là đi kinh hành bên vườn tre, khóm trúc hoặc là ngồi trên tảng đá niệm ân đức Đức Thế Tôn, Như Lai, Ứng Cung, Chánh Biến Tri, Minh Hành Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Đọc bài “Trí Đức Như Lai” chính là Niệm Phật.
Chúng ta từ sáng tới giờ là chúng ta nhập Pháp lưu “mát không? Thấm không? Ngọt không? Thơm không? Bổ không? Tuyệt vời không?” Sáng nào chúng ta cũng tắm gội trong vòng Thánh thủy mỗi buổi sáng ở đây là được tắm bằng nước Thánh. Khi chúng ta mở mắt dậy và chúng ta đứng ở trước thiền đường, rồi chúng ta đọc lên những cái lời tối thượng của bậc Thiên Nhân Sư, rồi chúng ta phải quán tưởng rằng “đó là dòng Thánh thủy, đang rót từ đỉnh đầu cho tới gót chân của mình” đó gọi là quán đảnh đó. Khi chúng ta đọc Nikaya chúng ta phải quán tưởng như vậy, từng lời, từng chữ, từng câu, cảm nhận thâm sâu, thấm đẫm, thấm đượm và chấn động, rung chuyển hết từng tế bào, từng lỗ chân lông của mình. Làm cho nó thấm nhuần, tan chảy, đi vào từng làn da, thớ thịt, huyết quản của mình. Thánh trí trí huệ tối thượng này, đưa vào chỗ thâm sâu nhất của dòng cảm thọ, làm cho mình chuyển hóa tất cả những cái cảm giác, nghĩ tưởng, nhận thức theo vô minh, tham ái, chấp thủ của phàm phu. Đọc kinh như vậy là tùy niệm pháp, là nhập pháp lưu, là vị Thánh đệ tử niệm về Thánh pháp.
Phải đọc như vậy, phải thấm đẫm, phải ngọt ngào, phải tan chảy, hòa tan trong Thánh trí tuệ của Đức Phật như vậy. Phải cho cả thân tâm của mình ùm xuống vào trong đại dương của Thánh trí trong mỗi buổi sáng chúng ta như vậy, thấm đẫm ngọt ngào 3,4 tiếng đồng hồ như vậy. Mỗi ngày chúng ta tăng trưởng thiện pháp, nuôi lớn Thánh trí, gội rửa thân tâm. Mỗi ngày chúng ta được lớn mạnh trong pháp và luật này. Mỗi ngày hình ảnh của Như Lai được tô đậm trong tâm tưởng chúng ta. Mỗi ngày giáo pháp ly tham được rực sáng trong nội tâm. Mỗi ngày những đức hạnh hiền trí, hiền thiện của bốn đôi, tám chúng được tô bồi, được phát triển trong thân tâm chúng ta “quý vị thấy hạnh phúc không?”
Hãy để cho thân tâm mình nó rung chuyển, rung động. Hãy để cho những cái chấp thủ này nó bị sụp đổ hết, những cái chấp thủ ngu si, vô minh, bản ngã, tham dục, tham ái, tham chấp nó bị rung chuyển, rung chấn, ngã đổ, ngã nghiên hết, để tiếp nhận dòng Thánh pháp, Thánh Trí, Thánh thủy, Thánh Quan, Thánh tuệ chiếu rọi vào tường ngõ ngách của cái nội tâm vô minh, cấu nhiễm, uế trượt này. Hãy để cho dòng Thánh thủy nó tẩy sạch hết những tất cả cái cấu bẩn, ngu si, mê muội, chấp thủ, bản ngã, buông lung, mê muội, phóng dật. Thả lỏng các căn này, được Thánh Trí Huệ này soi chiếu và thấm đẫm. Chúng ta tiếp tục an trú trong háp Niệm Phật, Niệm Pháp, Niệm Tăng này.
Trong 6 cái tùy niệm này, chúng ta tiếp tục an trú, học cái bài nào thì sau đó chúng ta sẽ thực hành bài đó trong suốt ngày đó.
“Tâm biết ơn này tỏa rộng, cùng khắp thế giới này. Tâm biết ơn này tỏa rộng, khắp trời đất bao la.”