Làm Sao Trở Thành Người Xuất Gia Đúng Nghĩa -1
Làm Sao Trở Thành Người Xuất Gia Đúng Nghĩa?
(Văn bản.)
Hôm nay được sự chỉ dạy của Hòa Thượng Tôn Sư, Minh Thành xin chia sẻ cùng tất cả các huynh đệ về những Pháp tác thành Sa môn. Mình có thể nói đơn giản là định nghĩa về người tu. Đây là bài kinh rất quan trọng ở trong Trung Bộ Kinh, bài kinh số 39 trang 593 là Đại Kinh Xóm Ngựa. Bài kinh này sẽ nói cho chúng ta những cái Pháp để làm nên một tu sĩ, những điều kiện nào để tác thành một vị Sa môn, những yếu tố nào để cho chúng ta trở thành một người xuất gia chân chánh. Chúng ta phải nắm thật vững những cái yếu tố này để mình tự thực tập và mình có duyên mình chia sẻ lại với những huynh đệ sau này. Trước khi vào bài kinh thì Minh Thành muốn Pháp đàm chia sẻ với các huynh đệ. Theo các huynh đệ nghĩ thì người xuất gia của mình cần những yếu tố nào để trở thành người xuất gia chân chính? Mình muốn trở thành một người xuất gia hoàn hảo thì mình phải cần bao nhiêu điều kiện? Đây là vấn đề rất quan trọng, nếu mình không nắm vững cái này thì sự xuất gia của mình sẽ không thành tựu viên mãn.
Trong sự tu tập của bản thân Minh Thành qua mấy mươi năm thì Minh Thành thấy rằng các huynh đệ chúng ta hãy để tâm vào năm bộ kinh Nikaya rất là quan trọng. Hôm nay mấy huynh đệ nghe bài kinh này mấy huynh đệ sẽ vô cùng xúc động trước lời của Đức Phật.
“Một thời Thế Tôn ở giữa dân chúng Anga. Lúc bấy giờ, Thế Tôn gọi các Tỳ-kheo:
- “Sa-môn! Sa-môn!” Này các Tỳ-kheo, dân chúng biết các ông là vậy. Và nếu các ông được hỏi: “Các ông là ai?” Các ông phải tự nhận: “Chúng tôi là Sa-môn.” Các ông đã được danh xưng như vậy, đã tự nhận là như vậy, thì này các Tỳ-kheo, các ông phải tự tu tập như sau: “Chúng ta sẽ thọ trì và thực hành những pháp tác thành Sa-môn. Như vậy, danh xưng này của chúng ta mới chơn chánh và sự tự nhận này của chúng ta mới như thật. Và những đồ cúng dường mà chúng ta thọ hưởng như y phục, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh mới có được kết quả lớn, lợi ích lớn cho chúng ta. Và chúng ta xuất gia không thành vô dụng, có kết quả, có thành tích.
Này các Tỳ-kheo, thế nào là các pháp tác thành Sa-môn?”
Phát biểu cảm nghĩ
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!
Kính bạch trên Thượng tọa Giảng sư. Sau khi được Thượng tọa Giảng sư gợi ý cho chúng con qua đoạn kinh Đại Kinh Xóm Ngựa, qua câu hỏi trước của Thượng tọa Giảng sư thì con hiểu ra được một chút. Con xin được trả lời qua sự gợi ý của Thượng tọa. Khi mà một người xuất gia tu học thì theo lời Đức Phật dạy đó là làm sao cho chúng ta xứng với danh xưng là Sa môn để khi những người cúng dường cho mình từ thức ăn, sàng tọa đến mọi thứ để họ được lợi ích. Vì nếu như chúng ta không hướng đến hạnh Sa môn thì những cái vật dụng của người ta cúng dường sẽ không được lợi ích nhiều. Cho nên Đức Thế Tôn muốn khẳng định lại và cho chúng ta có sự chắc chắn, kiên định trong sự tu tập đó là phải hướng về cái hạnh Sa môn quả. Mà muốn hướng về hạnh Sa môn quả thì phải thành tựu thứ nhất là người xuất gia phải thành tựu được tàm và quý là điều quan trọng. Điều thứ hai một khi đã hướng về thành tựu hạnh Sa môn quả thì phải hướng về nội tâm, thân, khẩu, ý phải thanh tịnh và luôn hộ trì các căn, ăn uống có tiết độ và tinh tấn, nỗ lực tu tập Thiền định, đoạn trừ các tham dục. Đấy là mục tiêu, mục đích hướng về hạnh Sa môn quả. Chúng con là những người mới tu tập thì chúng con cũng sẽ cố gắng từng bước để hoàn chỉnh. Còn về cái hướng hạnh Sa môn quả mà Đức Thế Tôn muốn hàng đệ tử mình noi theo và hướng đến thì từ từ và qua quá trình tu tập sẽ trải nghiệm và sẽ cố hướng tới. Qua gợi ý của Thượng tọa thì con cũng chỉ hiểu được chừng ấy. Kính mong Thượng tọa chia sẻ thêm cho chúng con, giúp chúng con hiểu thêm.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!
Thầy giảng
Những Pháp tác thành Sa môn Đức Phật dạy trong bài kinh này rất là kỹ. Trước khi nói điều này thì Minh Thành chia sẻ một chút Pháp hành để huynh đệ thấy, để mình mở cánh cửa mình đi vào những cái Pháp tác thành Sa môn. Một câu hỏi được đặt ra mời các huynh đệ trả lời.
Câu hỏi:
Mục đích của sự tu tập là gì? Những cái mình ngồi thiền, mình tụng kinh, mình niệm Phật, mình trì chú,… mục đích của những cái đó là gì?
Trả lời câu hỏi
1. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!
Kính bạch Thượng tọa. Như lời Thượng tọa hỏi mục đích của tu tập là gì thì theo con trong đạo Phật lấy từ bi làm chính. Người học Phật có từ bi thì mới trải tâm từ cho mọi người. Mà từ bi ở đây thể hiện đó là lòng thương người, tự độ và độ tha. Trì chú, niệm Phật, ngồi thiền là trưởng dưỡng tâm từ bi của chúng ta. Làm sao mà tâm từ bi của Đức Phật dung hòa vào tâm từ bi của chúng ta để từ đó chúng ta lợi lạc tha nhân giúp mọi người đều thoát li khỏi sanh tử luân hồi trong hiện tại và mãi mãi về sau.
Nam Mô A Di Đà Phật.
2. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!
Kính bạch Thượng tọa. Con nghĩ rằng cái việc mình tu tập như tụng kinh, ngồi thiền, niệm Phật để mình có thể phát sanh được trí tuệ. Từ cái trí tuệ này mình mới đạt được cái cứu cánh của người tu là được sự an lạc và giải thoát.
Nam Mô A Di Đà Phật.
3. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!
Kính bạch trên Thượng tọa Giảng sư. Mục đích tu tập của người học Phật là giúp cho nội tâm được thanh tịnh và đoạn trừ được tham sân si. Muốn đoạn trừ được tham sân si thì phải để trí tuệ phát sanh. Nhưng mục đích ban đầu là để thanh lọc nội tâm, để làm nội tâm được thanh tịnh. Đây là cái hiểu của con.
Thầy giảng
Mục đích của sự tu tập là đoạn tận tham, đoạn tận sân và đoạn tận si. Trong năm bộ kinh Nikaya đều nói như vậy. Mấy huynh đệ nhớ là mình phải y cứ như trong kinh chứ không phải cách suy nghĩ của mình. Đó là giải quyết xong câu hỏi thứ nhất. Còn bây giờ đến câu hỏi thứ hai.
Tham sân si nó cư trú ở đâu?
Bây giờ mình nói mình đi giết giặc, diệt giặc mà mình không biết giặc ở đâu thì làm sao mình giết giặc. Những câu hỏi hôm nay, những vấn đề Minh Thành chia sẻ hôm nay là những cái vấn đề trọng yếu trong sự tu tập. Mấy huynh đệ nắm vững thì mấy huynh đệ sẽ có cánh cửa để đi vào Pháp hành để thực tập.
Trả lời câu hỏi
1. Kính bạch Thượng tọa. Theo con nghĩ tham sân si nó cư trú ở nơi tam nghiệp của mình đó là thân, khẩu, ý. Vì khi bình thường tâm mình lắng đọng thì mình sẽ không thấy được còn khi tâm mình nó vọng thì mình sẽ thấy được tham sân si. Những cái hành động, những cái suy nghĩ, những cái cử chỉ của bản thân mình, mình sẽ nhận biết và mình thấy rõ được. Dạ con xin hết.
2. Dạ Mô Phật con kính bạch trên Thượng tọa. Con nghĩ rằng tham sân si nó cư trú trong bản ngã.
3. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!
Theo con nghĩ tham sân si nó ở mọi lúc mọi nơi nếu như chúng ta thiếu chánh niệm tỉnh giác. Tham sân si là do nơi chúng ta chấp thủ năm uẩn và thân tứ đại của mình, do mình chấp thủ bọn nó cho nên có sự khởi, sự hiện hữu của tham sân si.
4. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!
Kính bạch Thượng tọa Giảng sư. Con nghĩ tham sân si nó không có nơi cư trú nhưng nó có sự hiện hữu tại sáu Căn đó là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý.
Thầy giảng
Chỗ này là chỗ rất quan trọng. Nếu các huynh đệ không nhìn ra chỗ căn cứ địa của phiền não thì mình không thể nhiếp phục được phiền não, càng không thể đoạn tận được phiền não. Minh Thành hỏi các huynh đệ. Khi mà mình nổi giận lên thì lúc đó nó như thế nào? Các huynh đệ có nhìn cái cảm giác của mình không? Đầu tiên là nó nóng từ chỗ giữa lồng ngực, nó bắt đầu hực cái hơi lên có khi nó đỏ luôn cái gò má, đỏ cái lỗ tai, hai mắt bắt đầu đỏ lên, rồi cái miệng bắt đầu giật giật. Nó sẽ phát ra cái lời nói và cái hành động. Cho nên Đức Phật dạy mình người xuất gia phải luôn luôn nhìn lại thân thể, cảm giác, tâm của mình, nhìn lại sự vận hành ở bên trong của các Pháp. Đó là tứ niệm xứ. Cái trọng tâm trong sự thực tập là cảm giác toàn thân, mình phải luôn luôn nhìn lại cảm giác của mình. Bởi vì tham sân si nó cư trú ở bên trong cảm giác. Cái cảm giác là chỗ mình thấy rõ nhất nếu mà mình thường nhìn lại. Khi mình gặp đối tượng nào đó mà mình khởi lên cái tâm tham muốn thì cảm giác mình lúc đó nó biến đổi. Cái si nó cũng ngay chỗ cảm giác. Bắt đầu thì thân tâm trì trệ, vai nó thụng xuống, đầu nó nghiêng nghiêng, con mắt sụp xuống. Cảm giác của si mê, nó trì xuống, nó kéo xuống.
Cho nên sự tu tập của chúng ta là phải luôn luôn nhìn lại cảm giác. Đây là sự tu tập rất quan trọng trong tất cả sự tu tập. Nếu mình không nhìn lại cảm giác thì mình sẽ không phát hiện ra sân khởi lên như thế nào, nó an trú như thế nào và nó chấm dứt như thế nào. Tham nó khởi lên ra làm sao, nó vận hành như thế nào và nó chấm dứt như thế nào. Si nó sanh khởi như thế nào, nó an trú như thế nào và nó đoạn diệt như thế nào. Mình không thấy được mình cứ nghĩ rằng tham sân si là tại cái người kia, tại câu nói kia, tại chuyện nọ mà mình không biết rằng tham sân si nó phát khởi từ trong cảm giác. Mình thường nhìn lại cảm giác thì khi nó thay đổi, nó biến động thì mình biết được liền mà mình có cái cách để nhiếp phục.
Có ba loại cảm giác: cảm giác khó chịu gọi là khổ thọ, cảm giác dễ chịu là lạc thọ, cảm giác không khó chịu không dễ chịu gọi là xả thọ hay còn gọi là bất khổ bất lạc thọ.
Ví dụ: Mình được mời đi ăn trai tăng, ăn nhà hàng. Lúc đó có 15 món ăn, mình gắp từng món mình thưởng thức thì cảm giác dễ chịu, khoan khoái, thích thú, ngon. Trong cảm giác dễ chịu, khoan khoái, thích thú, ngon đó thì tham dục, tham ái, tham ăn có mặt trong đó.
Nếu mình không có chánh niệm tỉnh giác, mình không nhìn ra thì mình tưởng đâu tham là cái gì lớn lao. Nhưng không phải, nó rất là vi tế, nó có mặt mọi lúc mọi nơi trong sinh hoạt của mình. Mình thấy được cái tham ái, tham dục nó cư trú trong cảm giác là mình thành tựu cái trí huệ rất sâu sắc. Sau khi mình thấy nó mình sẽ có phương pháp ngăn chặn nó, nhiếp phục nó và đoạn diệt nó. Lúc mình ăn ngon mình nói chuyện vui vẻ mình không biết rằng tham nó đang có mặt trong nội tâm của mình. Tham đang sanh khởi, đang tồn tại, đang vận hành trong nội tâm.
Mình nghe câu nói của huynh đệ nói mỉa mai mình, lúc đó mình có cảm giác khó chịu đồng nghĩa với khổ thọ. Thì trong cảm giác nó có sân cư trú trong đó. Lúc đó mình không nhận diện được trong cảm giác mình hiện tại nó có sự sân hận. Nếu như nó nhỏ thì mình để cho nó qua, còn nếu như nó vừa vừa mình bực mình nói lại vài câu, nếu như nó lớn thì nó sanh chuyện. Và những cái nhỏ đó mình không thấy, không biết mình để cho nó qua mặt mình. Những cái nhỏ này nó tích tụ lâu ngày đến lúc nó bị vỡ thì đại họa.
Có một cô đi làm cho bà chủ mà cứ mỗi ngày cổ ăn trộm 10 đô, 20 đô. Bà chủ đó năm năm mới phát hiện ra. Cô này đưa lại cho bà chủ mấy chục ngàn đô mà người ta còn chưa bỏ qua. Vì khi phát hiện ra thì nó đã qua mặt bao nhiêu năm rồi.
Thì trong nội tâm mình cũng vậy. Mình để cho tham sân si nó qua mặt mình, mình không thấy, không biết, không nhiếp phục được. Như thế là khi nó tích tụ đến lúc nó bung lớn ra thậm chí là lúc đó đã muộn rồi. Sự tu tập này là sự tu tập mình nhìn ra từng cái nhỏ nhiệm trong nội tâm của mình, mình nhìn trong cảm giác thì mình sẽ thấy. Nó vừa manh nha là mình đã thấy rồi. Cảm giác mình nó thay đổi thì mình thấy được liền, mình tránh duyên hoặc mình nhiếp phục, mình có phương pháp chuyển hóa. Cho nên tham dục trị bằng quán bất tịnh, 32 thể trược và chín giai đoạn của một tử thi. Ngoài phương pháp này ra không có phương pháp nào khác để mà nhiếp phục tận cùng, triệt để. Đây là pháp của bậc Chánh đẳng giác. Không có ai vượt qua được bậc Chánh đẳng giác.
Bây giờ những người xuất gia của mình có mấy người mà quán bất tịnh, mấy người thuộc 32 thể trược. Tóc, lông, móng, da, răng, thịt, gân, xương, tủy, thận, tim, gan, phổi, bao tử, buồng phổi, ruột già, ruột non, máu, mủ, mồ hôi, nước mắt, mỡ, nước tiểu, nước miếng,… Mình phải thuộc 32 thể trược và mình phải quán chiếu được chín giai đoạn của một xác chết. Khi nằm xuống chết thì nó phình lên như thế nào, nó nứt nẻ ra, nước vàng chảy ra, máu chảy ra, mủ chảy ra, dòi nó tuôn ra hai lỗ mắt. Dòi nó ăn hết trong bộ đồ lòng, nó tràn ra từ đầu đến chân. Còn một chút thịt dính trong đó rồi từ từ nó ăn hết còn bộ xương. Đây là xương sườn, đây là xương chân, đây là xương mông, đây là xương sọ rải rác mỗi chỗ. Năm tháng bào mòn nát ra trở thành cát bụi. Mỗi ngày phải quán chiếu như vậy thì diệt tận tham dục. Lúc nào mình bị dục tham chi phối thì mình ngồi trở lại. Mỗi ngày mình phải quán, chứ đừng đợi đến lúc bị chi phối mình mới quán. Mình thấy nó quá tịnh, mình muốn đi theo, lúc đó mới mở quán bất tịnh ra thì đã muộn rồi. Nước nó tới cổ rồi, không kịp nữa.
Nhiều người nói sao con ngồi quán mà chỉ thấy tịnh. Đó là vì bình thường mình không quán, lúc đó mình đã vô mê hồn trận, bát quái trận. Đợi đến lúc sân mới quán từ bi. Cho nên từ tâm giải thoát là phương pháp trị tận gốc sân hận. Còn si là dùng phương pháp tinh tấn dõng mãnh, tinh cần giới, dõng mãnh giới, làm cho tâm mình khởi phát lên sự mạnh mẽ, nỗ lực, tinh tấn. Quán chiếu cái khổ trong địa ngục ngạ quỷ súc sanh, quán chiếu cái khổ của những người bệnh nằm liệt giường, những người ăn xin tật nguyền. Quán những cái đó thì cái sự buồn ngủ, lười biếng của mình nó sẽ tan. Dùng như lý tác ý, tức là tự nói với mình, tự chửi mình, tự mắng cái tâm lười biếng, tham ái, tham dục của mình. Phương pháp như lý tác ý này xuyên suốt thánh phàm, từ bắt đầu tu tập cho đến khi thành tựu Thánh đạo rồi tới Thánh quả thì cái như lý tác ý này nó quyết định rất là quan trọng. Mình dùng những lời nói thật mạnh để mình khiển trách tự tâm của mình.
Ví dụ: Thời Đức Phật có một thầy Tỳ-kheo đi ra bãi tha ma, cái nghĩa trang để quán bất tịnh. Thầy nhìn thấy xác chết của một cô gái mới vừa chết chưa được bao lâu, lúc đó khởi lên tâm dục. Thầy này mới thấy được mình khởi lên dục tâm thì thầy này tàm quý, xấu hổ, nhục nhã cực độ. Rồi thầy này khởi lên cái trí quán thật mạnh đốt hết tất cả dục tham phiền não, chứng A-la-hán ngay tại chỗ.
Một thầy Tỳ-kheo khác đang ngồi thiền thì nóng quá muốn xả thiền. Thầy này dùng như lý tác ý khởi lên sự suy tư, cái nóng này đâu bằng cái nóng ở địa ngục, cái nóng ở chảo dầu, ôm cột đồng cháy đỏ. Cái nóng này đâu có là gì. Mình không tinh tấn nỗ lực, cái nóng này mình không chịu nổi thì làm sao mình chịu đựng được cái nóng ở địa ngục. Lúc đó thầy này phát khởi cái tuệ quán mạnh mẽ, quán chiếu. Dùng lửa trí huệ đốt cháy hết tất cả những cái phiền não. Thầy chứng A-la-hán ngay tại chỗ.
Mình nghĩ theo chiều kia thì nó đi theo cái chiều phàm, đi theo chiều giải đãi, đi theo chiều lười biếng. Còn quay lại cái chiều này là cái chiều tinh tấn, tinh cần, tinh tấn dõng mãnh, chứng A-la-hán ngay tại chỗ.
Có một thầy Tỳ-kheo nữa, mùa đông ngồi thiền thì trời lạnh có ý định ngã xuống nằm ngủ. Thầy này dùng như lý tác ý, suy xét đúng chánh pháp, quay ngược trở lại suy nghĩ cái lạnh này mà mình chịu không nổi thì làm sao mình chịu nổi cái lạnh của hàn băng địa ngục. Vận dụng tuệ quán, phát khởi được trí huệ quán chiếu tận cùng, cuối cùng thành tựu Thánh quả tối cao.
Minh Thành đưa ra ba trường hợp cho các huynh đệ thấy cái như lý tác ý rất quan trọng. Hằng ngày mình phải tu tập. Đó là chuyện ngày xưa, còn chuyện ngày nay có một Thầy là Tiến sĩ tốt nghiệp ở Ấn Độ về dạy ở trường thì tâm sự với Minh Thành. Lúc đó là giữa trưa bốn mươi mấy độ, trời nóng quá Thầy ngồi ở bàn học thì Thầy không chịu nổi, Thầy muốn đứng lên đi vòng vòng, thậm chí Thầy muốn đi về Việt Nam. Khi mà Thầy khởi cái ý này lên thì Thầy nhìn ra ở ngoài, thấy giữa trưa nóng như vậy mà những đứa trẻ ở trần chơi đá bóng, mồ hôi nhễ nhại. Thầy mới nghĩ tại sao những đứa trẻ đó vì vui chơi thôi mà nó dám chịu đựng cái nóng, cái nực, mồ hôi đổ ướt như vậy mà mình vì sự tu hành giác ngộ giải thoát, bỏ nhà, bỏ cha, bỏ mẹ, bỏ đất nước quê hương đi cầu học, bao nhiêu Phật tử lo cho mình, cha mẹ mong đợi mình mà nóng một chút mình chịu không được. Thầy ngồi xuống học và cuối cùng tốt nghiệp Tiến sĩ Phật học.
Minh Thành đưa ra một ít ví dụ để các huynh đệ thấy. Bây giờ phân công cho ba huynh đệ lau giảng đường này. Đến lúc mình ra mình lau có một mình còn hai người kia không thấy. Lúc đó mình phải tác ý rằng tại sao gọi là công quả, có công thì có quả. Đây là những cơ hội cho mình rèn luyện. Lúc đó mình nhìn coi mình có cảm thọ gì, cảm giác mình làm sao. Nếu có sân thì mình nhiếp phục. Kế đó mình phải tập kiên trì, nhẫn nại, chịu khó. Mình nhìn xem Hòa Thượng Tôn Sư gánh vác bao nhiêu chuyện trong nước, ngoài nước, toàn quốc. Còn mình có cái giảng đường nhỏ như vậy không lẽ mình làm không được. Mình tác ý tập nhẫn nại, nhẫn được những điều khó nhẫn, làm được những điều khó làm. Mình phải nhiếp phục được cái tâm sân hận này, nhiếp phục được cái cảm thọ này. Mình sẽ làm chủ nội tâm mình, không để cho cái tâm sân này nó chiếm ngự, nó đánh phá mình. Và đây là cơ hội cho mình công quả, dung bồi phước đức. Chính những cái phước đức nhỏ này thì sau này mình mới có thể làm Thầy, hướng dẫn mọi người tu tập. Cái nhỏ như vậy mà mình không nhẫn được. Có thể các huynh đệ đó bị bệnh, mình gánh cho huynh đệ mình. Trong khi đó mình vẫn làm mà mình nhiếp phục được cái tâm của mình thì lúc đó cái trí của mình sáng tỏ ở trong cái từ nhẫn.
Thực tập đi thì mấy huynh đệ sẽ thấy kỳ diệu lắm. Đúng ra cái chỗ đó nó sân hận mà nó không sân. Chỗ này gọi là hỏa diệm hóa hồng liên. Trong lửa đỏ mà hóa ra sen hồng. Chỗ đó nó phải nổi sân mà mình làm chủ được, mình nhiếp phục được, mình khởi cái tâm từ để mình quán chiếu. Bà già ngoài kia tám mươi tuổi, ông già kia 93 tuổi còn đi bán vé số, còn đi lượm bọc mà mình người xuất gia mình vì mọi người, vì chúng sanh mà lau cái này không được hay sao. Đó là như lý tác ý. Trong mọi hoàn cảnh, thậm chí là mọi nghịch cảnh, những cái bất ngờ ập đến với mình mà mình có sự tu tập này rồi giống như có cái áo giáp bằng đồng. Mình phải có sự nhiếp phục trong tâm mình.
Đối với cái tham cũng vậy, mọi trường hợp khác cũng vậy. Cái này nó đòi hỏi mình phải kiên trì, nhẫn nại thực tập. Cái quan trọng để mình đi vào pháp hành là từ chỗ mình nhìn lại cảm giác. Nếu mà không nhìn lại cảm giác thì mình không phát hiện ra tham sân si. Mình không phát hiện ra tham sân si thì mình không thể nhiếp phục được nó. Cho nên nó là cánh cửa để đi vào tất cả các Pháp hành của Phật giáo. Gọi là quán thọ, tức là phải luôn luôn nhìn lại cảm giác. Cảm giác nó sẽ gắn liền với thân tâm của mình, mình phải nhìn thấy rõ.
Các pháp tác thành Sa môn
- “Này các Tỳ-kheo, thế nào là các pháp tác thành Sa-môn? “Chúng ta sẽ thành tựu tàm quý”, này các Tỳ-kheo, các ông phải tu tập, các ông có thể khởi lên ý kiến: “Chúng ta đã thành tựu tàm quý đến mức độ này, như vậy là vừa đủ; đến mức độ này, như vậy đã làm xong. Chúng ta đã đạt được mục đích Sa-môn hạnh. Chúng ta không có gì phải làm hơn nữa.” Và cho đến mức độ ấy, các ông có thể tự thỏa mãn. Này các Tỳ-kheo, Ta khuyến cáo các ông. Ta tuyên bố cho các ông: Khi các ông hướng đến mục đích Sa-môn hạnh, chớ có từ bỏ mục đích này, khi đang còn công việc đáng phải làm hơn nữa.”
Cái pháp đầu tiên mà Đức Phật dạy mình để tác thành Sa môn, những điều kiện để thành người tu sĩ hoàn hảo, những yếu tố để trở thành người tu chân chánh là chúng ta sẽ thành tựu tàm qúy. Thành tựu tàm quý là mình phải có cái tâm hổ thẹn. Mỗi khi mình bước lên lễ Phật, mình nhìn lên Đức Đại Giác Thế Tôn mình thấy xấu hổ. Ngài cũng là con người, Ngài là Thái tử quyền uy thiên hạ, Ngài bỏ hết tất cả. Bây giờ mình vào chùa chỉ cần một ly nước, một món ăn, một bao thư mà nếu không khéo mình sẽ phiền não. Đó là sự xấu hổ, sự nhục nhã, sự tàm quý.
Ví dụ: Có cô Phật tử bước vào, cổ thấy quý Thầy đứng ở đó có 8 người. Cổ có 7 bao thư, cổ cúng tới mình thì hết. Lúc đó mình coi cảm giác mình như thế nào? Rồi đem ra cho mỗi người lon nước yến, có 80 người. Nhưng tới mình thì hết, đưa mình chai nước suối uống.
Tất cả trong những chỗ đó mình phải coi cái cảm giác của mình. Không phải ngồi tụng kinh niệm Phật mới là tu, cái đó là cái tu căn bản trên chánh điện, trên thiền đường. Còn cái tu sâu sắc là ngay chỗ cần phải tu đó là phiền não. Phải xem ngay chỗ đó mình có vận dụng được hay không. Còn lên chánh điện ngồi thì ai cũng ngồi được. Cái lúc bị sân khởi lên, tham khởi lên, bị những cảnh trái ý nghịch lòng, chướng tai gai mắt lúc đó mình phải có cái phương pháp nhiếp phục, chuyển hóa.
Quay trở lại cái ví dụ mình sẽ khởi lên cái tâm buồn. Lúc mình lạy Phật mình nhìn lên Phật mình thấy xấu hổ, nhục nhã, tàm quý. Thái tử bỏ hết địa vị như vậy còn mình có lon nước yến mà cái tâm mình phiền não thì có xứng đáng Sa môn hạnh không, có xứng đáng Thánh hạnh không, có xứng đáng với xuất li hạnh, viễn li hạnh hay không. Hoặc là trong lúc ngồi thiền mình nhắm mắt lại có cái bóng hồng hiện lên, rồi mình mới hỏi làm sao giết được người trong mộng. Những cái chỗ đó mình phải lên cái tâm tàm quý, hổ thẹn, mình không có tiếp nối nữa. Đức Thế Tôn, những bậc A-la-hán, những bậc Hiền Thánh Tăng từ bỏ các dục, đoạn tận các dục, đời sống hoàn toàn thanh tịnh trong sạch, tại sao mình xuất gia như vậy mà mình còn suy nghĩ những cái này, mình còn làm những điều không phù hợp giới hạnh thanh tịnh, mình xấu hổ, mình nhục nhã, mình tàm quý.
Đây là cái pháp nuôi lớn. Mình có được cái này mình sẽ giữ giới được. Nếu mình không thực tập pháp tàm quý, xấu hổ, hổ thẹn, nhục nhã này là mình dễ phạm giới. Vì mình sai mà mình vẫn không thấy sự xấu hổ, nhục nhà, tàm quý sâu sắc trong nội tâm. Mình có gì sai thì mình phải lạy Phật sám hối, thậm chí mình dập đầu xuống cho đỏ trán. Ngày xưa có những vị cao tăng tự đánh mình. Phải dùng cái phương pháp mạnh như vậy.
Cho nên cái phương pháp tàm quý này rất quan trọng. Chẳng hạn như mình ăn cơm mà mình có biết hộ trì căn, biết tàm quý thì mình không có nói chuyện. Bây giờ nó trở thành thói quen chuyện người nào nấy nói, không phải nói chuyện tu tập mà nói những chuyện không có liên hệ đến mục đích. Có những đề tài của câu chuyện, những đề tài ít dục, những đề tài tri túc, những đề tài viễn li, những đề tài tăng thượng giới học, tăng thượng định học, tăng thượng tuệ học, những đề tài giải thoát, giải thoát tri kiến học. Những đề tài đó là những đề tài cần được thảo luận, cần được đàm luận, cần được bàn luận ở chỗ cần bàn luận. Còn cái giờ đó là giờ không nói chuyện thì mình phải nhiếp tâm.
“Này các Tỳ-kheo, có hai việc cần phải làm: Một là, đàm luận về chánh pháp; hai là, giữ im lặng như bậc thánh.”
Đó là lời dạy của Đức Thế Tôn. Nếu mà mình thường có sự hổ thẹn này thì mình có gì sai trong nội tâm mình sẽ xấu hổ. Những cái tham dục, sân hận mà mình nghĩ trong nội tâm mình nếu như người ngoài, những bậc đồng phạm hạnh, những bậc trí, những bậc cùng tu của mình hay là Phật tử thấy được những cái ý nghĩ đó thì lúc đó mình còn mặt mũi nào nhìn người ta. Cho nên phát khởi, nuôi lớn cái tâm tàm quý hổ thẹn này thì tuyệt diệu vô cùng. Bây giờ mình bị quên nhiều lắm. Ngay cả ở trong chùa lâu năm đi nữa mà không thực tập cái này thì mình nhìn thấy nhiều khi không giống Thầy. Đó là những tấm gương mình soi lại mình, mình nhìn để mình thấy đó là những tấm gương không thực tập pháp hổ thẹn tàm quý. Mình không thể như vậy, mình phải là người thực tập cái tàm quý sắc bén, cái sự hổ thẹn sâu sắc để mình thành tựu được Sa môn hạnh, đức hạnh của người tu, đạo hạnh của người tu hành. Từ cái Sa môn hạnh này nó mới đưa tới Sa môn quả. Cho nên bữa nào mình có sai quấy thì mình ngồi trở lại hoặc vô chánh điện mình lạy, phải làm cho phát khởi cảm giác hổ thẹn. Mình phải làm cho nó phát sanh ra cảm giác hổ thẹn chứ không phải nói trên miệng mà phải thật sự phát sanh cảm giác rất là hổ thẹn, rất là tàm quý, rất là nhục nhã đối với trước Phật, đối với trước pháp, đối với trước Tăng, đối với cha mẹ. Mình làm cho mình phát khởi cái hổ thẹn đó thì mình tu sẽ thành công. Cái gì cũng vậy, phải cho nó phát sanh cảm giác.
- “Này các Tỳ-kheo, thế nào là công việc đáng làm hơn nữa? “Thân hành, khẩu hành, ý hành chúng ta phải được thanh tịnh, minh chánh, cởi mở, không có tỳ vết, che giấu. Nhưng chúng ta không vì thân hành thanh tịnh ấy, khen mình, chê người.””
Chính cái chỗ mình tàm quý, hổ thẹn, xấu hổ thường trực trong nội tâm của mình cho nên nó sẽ dẫn đến phương pháp kế tiếp là ý nghĩ, lời nói, hành động của chúng ta sẽ trong sạch. Tại vì mình có hổ thẹn. Thực tập cho nó trong sạch, thực tập cho nó thanh tịnh, thực tập cho nó minh chánh. Minh là sáng suốt, chánh là chân chánh, ngay thẳng, không có che dấu. Có gì sai mình bày tỏ trước đại chúng mình sám hối, bày tỏ trước Hòa Thượng Tôn Sư, bày tỏ trước Sư Phụ mình, ở trước những vị mình tin tưởng, những vị có đạo hạnh. Mình bày tỏ con bạch Hòa Thượng, con phạm lỗi này con thấy xấu hổ quá, con thấy tàm quý, nhục nhã cho người tu. Con xin Hòa Thượng chứng minh, Sư Phụ chứng minh hay quý Thầy chứng minh cho con. Con hứa từ nay về sau con sẽ chấn chỉnh lại. Thì cái đó nó sẽ giúp cho thân, miệng, ý mình được trong sạch.
Mình luôn thực tập những điều này, mình được rồi thì mình không có khen mình, chê người. Luôn luôn lúc nào Đức Phật cũng dặn cái câu này. Dầu cho mình làm được như vậy, tới trọn vẹn nhưng mình không khen mình, chê người. Khi mình thấy mình hay còn người ta dở thì đó là bản ngã. Mình tu tập, mình quán chiếu để mình phá cái bản ngã. Mình chỉ lo cái phần mình, không nhìn phần người khác. Nếu người ta tốt thì sẽ là tấm gương để mình học. Nếu người ta không tốt thì mình quay lại mình hổ thẹn cho chính mình.
- “Này các Tỳ-kheo, thế nào là công việc đáng phải làm hơn nữa? “Sanh mạng chúng ta phải được thanh tịnh.””
Đời sống của người xuất gia mình, cái chánh mạng quan trọng lắm. Những người đi đến cúng dường của mình phải cúng dường đúng Pháp. Không phải vì tình người, vì lấy lòng làm cho họ vui để mình được cúng dường. Đó không phải là cúng dường đúng Pháp. Huống hồ chi những việc kinh doanh này nọ là không đúng với tinh thần của Đức Phật dạy trong giới luật. Trong giới luật không có kinh doanh.
Từ lúc có hai ông thầy giả lên hát thì những người Thầy bắt đầu hát theo. Lời ca đồng nghĩa với than khóc ở trong Pháp và Luật của Như Lai. Sự nhảy múa đồng nghĩa với điên loạn trong giáo pháp. Mình làm không khéo thì chính mình hủy hoại chánh pháp. Và hình ảnh người xuất gia sẽ mất đi giá trị tôn kính của Tam Bảo. Tam Bảo của mình đúng theo tinh thần là bốn đôi, tám bậc Hiền Thánh Tăng. Là những vị hướng Dự lưu, Dự lưu, nhị Quả, tam Quả, tứ Quả,… là những vị trực hạnh, chân chánh hạnh, diệu hạnh. Những bậc này đáng chắp tay, đáng cung kính, đáng tôn trọng, đáng cúng dường, đáng đảnh lễ, ruộng phước vô thượng ở đời. Một vị Tăng đúng theo tinh thần của Đức Phật là cao quý lắm, là bậc Thầy. Mình đâu thể hát cho người ta mua vui. Những lời hát đó đương nhiên là phạm giới, làm sao mà thân, miệng, ý thanh tịnh được.
Cho nên cái này mình phải cẩn thận, không khéo một người làm sai mấy người kia không biết làm theo, từ cái sai này dẫn tới cái sai khác. Cuối cùng giới luật sụp đổ, giới pháp của đạo Phật bị mai một. Thành ra mình phải giữ gìn thân, miệng, ý rất cẩn thận. Mình nói ra lời gì mình xem cái lời đó có phù hợp chánh pháp hay không. Lời nói này phát xuất từ cái tâm từ mẫn, hay là mình nói ra vì tâm tham ái, hay là mình nói ra vì tâm sân hận, hay là mình nói ra trong trạng thái không sáng tỏ tức là trong trạng thái si. Thì những cái đó mình phải tỉnh giác và chánh niệm trong khi nói, trong khi làm và trong khi suy nghĩ. Mình gạn lọc nội tâm của mình từ từ thì ba nghiệp mới thanh tịnh. Mấy huynh đệ thấy chữ ba nghiệp thanh tịnh nó đơn giản nhưng cả cuộc đời mình làm chưa xong. Phải có sự gạn lọc, sự nhìn lại, sự hổ thẹn, sự tàm quý, sự chuyển hóa, tịnh hóa làm cho nó sạch từ từ. Chứ không phải sáng chiều hai thời thì xong, không phải tinh thần tu như vậy. Đúng theo tinh thần Đức Phật cái tu nó sâu sắc, nó tinh cần tinh tấn, liên tục không gián đoạn.
Cho nên cái pháp sanh mạng thanh tịnh này quan trọng lắm. Một người xuất gia mình mà đi kinh doanh thì sai rất nặng. Mình tính lời tính lỗ thì làm sao mình ngồi thiền. Bao nhiêu những chương trình liên tục thì mình không có thời gian mình tịnh chỉ nội tâm, không có thời gian nội quán, soi rọi nhìn lại. Mình soi người ta để thấy phiền não, mình soi mình thì mình thấy hổ thẹn và mình lo điều chỉnh nội tâm của mình. Cho nên đời sống người xuất gia mình là đời sống cao thượng. Ngày xưa thời Đức Phật các Thầy ôm bình bát cho đến bây giờ các nước Miến Điện hay Thái Lan hàng trăm vị đi khất thực. Mình bây giờ không khất thực, mình được sự cúng dường. Có những bài kinh Đức Phật nói rất xúc động “Này các Thầy Tỳ-kheo, các ông có biết rằng con người thông thường kêu rằng “Mi là đồ ăn xin. Mi là khất sĩ.” thì nó nặng như thế nào hay không?” Mình là người xuất gia, mình từ cái chỗ cao mình hạ xuống chỗ thấp nhất của xã hội, là một người ăn xin. Khi mình ngồi trên quả đường mình luôn luôn nhớ mình là người ăn xin, mình xem lại cái giới hạnh, đức hạnh, thiền định, trí tuệ, cái sự tu tập của mình đến mức độ nào để mình ngồi nhận sự quỳ lạy của mọi người lớn tuổi hơn mình. Mình nhận cái đó mà mình có sự quán chiếu thì mới có thể tiêu hóa được, còn không thì tín thí nan tiêu, tán tâm tạp thoại. Những cái này nhắc nhở mình rất hay, để mình nội quán. Nếu mình có nội quán thì cái sự thọ dụng này nó sẽ đem lại lợi ích. Cái sự tiếp nhận những phẩm vật này nó đem lại kết quả, thành tích của sự tu tập chứ không phải sự thọ dụng trống rỗng, vô nghĩa vô ích cho người tín thí cúng dường. Cho nên chỗ này là chánh mạng mình cần suy nghĩ sâu sắc trong đời sống hằng ngày của mình.
- “Này các Tỳ-kheo, thế nào là công việc đáng phải làm hơn nữa? “Chúng ta phải hộ trì các căn””
Không thể quên sự hộ trì. Tại sao mình đi ra đường mình phải đội mũ bảo hiểm? Tại sao mình lên xe hơi mình phải thắt dây an toàn? Tại sao mình phải mang giày, mang dép? Tại sao đi ra nắng phải mang mắt kính mát? Tại sao ở xứ lạnh mình phải khoác áo ấm? Tại sao mình không ở ngoài trời mà mình xây nhà mình ở? Tất cả những cái đó là bảo hiểm, bảo vệ, bảo dưỡng cái thân này. Mà cái thân này mình biết bảo hiểm, bảo vệ, bảo dưỡng mà cái tâm này mình quên bảo hiểm, bảo vệ, bảo dưỡng. Chính vì mình không hộ trì tâm, không phòng hộ các căn cho nên các căn của mình nó rong ruổi, gọi là tâm hoang vu. Tâm hoang vu trong Kinh Pháp Cú Đức Phật nói không hình, không tướng mà đi rất xa, trên trời dưới biển, mọi nơi, mình không kéo lại được. Ngồi đó trang nghiêm thẳng lưng nhưng lại nhớ chuyện khác.
Cho nên cái tâm mà được tu tập thì tâm đó mới nhu nhuyến, mềm mại, dễ sử dụng, định tĩnh, vững chắc, chói sáng. Còn cái tâm mà không tu tập là cái tâm hoang vu, cái tâm rong ruổi. Muốn được cái tâm tu tập thì phải hộ trì các căn. Trì là giữ, hộ là mình phải phòng hộ, ngăn chặn, bảo vệ, giữ gìn nó.
“Khi mắt thấy sắc, không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì khiến con mắt không được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các ác, bất thiện pháp khởi lên, chúng ta sẽ tự chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì con mắt, thực hành sự hộ trì con mắt.”
Ví dụ: Các huynh đệ nhìn lên lẵng hoa này, nhìn tổng quát như vậy gọi là tướng chung, mình nhìn chi tiết từng cái cánh, từng cái nhụy bên trong, mình xem từng đóa lớn đóa nhỏ, màu sắc của nó, những cái nhỏ nhiệm đó gọi là tướng riêng.
“Không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng.” là mình biết rằng đây chính là sắc uẩn, đây là đất, nước, gió, lửa, là tứ đại hình thành. Thấy rõ được sắc là do tứ đại và sắc là do tứ đại hợp thành chứ không phải là gì khác. Tất cả từ cái nhà tranh cho đến tòa nhà cao nhất thành phố bảy, tám mươi tầng thì nó đều là sắc uẩn, không hơn không kém. Nếu mình nhìn thấy bản chất tạo thành các hình tướng đó đều là sắc uẩn, đều là tứ đại thì cái tâm phân biệt của mình đối với các sắc nó giảm bớt. Nếu mình nhìn chỉ thấy cái này đẹp, cái này xấu thì cái nhìn đó là cái nhìn của vô văn phàm phu, không khác gì người không tu. Mình là người xuất gia mà mình nhìn cái nào cũng ra cái đó thì mình với người không tu giống như nhau, không có gì khác.
Cho nên thế nào là sự đặc thù, thế nào là sự khác biệt của Đa văn Thánh đệ tử và vô văn phàm phu? Vô văn phàm phu là kẻ không được học, không được nghe chánh pháp, không biết rằng tất cả sắc uẩn này là do tứ đại kết hợp. Còn Thánh đệ tử là được học, được nghe nhiều chánh pháp và biết rằng tất cả sắc uẩn đều thuộc tứ đại vô thường, sẽ bị đổi thay, bị biến hoại, nhất định sẽ hoại diệt. Nhìn thấy được bản chất của tứ đại như vậy mình sẽ không chạy theo, không phân biệt tướng chung, tướng riêng. Đó là cái nhìn của Đa văn Thánh đệ tử. Đó là sự khác biệt, sự đặc thù của người tu và người không tu. Các huynh đệ nhớ rằng mình chưa nhập Thánh nhưng mà mình không còn là phàm nữa tại vì mình đang đi trên con đường của bậc Thánh đệ tử. Thì cái nhìn của mình không thể giống như của người bình thường được. Mình đi ra đường người ta nhìn mình không bình thường, đâu ai mặc đồ màu này, đâu ai dám cạo đầu, đâu ai tuổi nhỏ mà được những người lớn tuổi xá, lạy. Đây là bất bình thường, là phi thường. Mình phải có cái nhìn, cái suy nghĩ khác thường. Đó là sự tu tập của người xuất gia.
Bây giờ mình nhìn một con người, tiếp xúc với người đó mình nhìn thấy đẹp, là nhìn chung. Bắt đầu mình nhìn từ cái lỗ mũi, con mắt, cái miệng, cười ra cái hàm răng. Cái nhìn đó là cái nhìn đưa đến dục và tham, đưa đến ái và luyến. Cái nhìn đó là cái nhìn không có hộ trì căn. Cái nhìn đó là cái nhìn không có sự tu tập, nhiếp phục. Như vậy là mình thiếu sự tu tập hộ trì căn rất trầm trọng. Mình cứ hỏi sao tu hoài không thấy kết quả. Mình phải tu tập đúng chánh đạo thì mới có Thánh quả. Thánh đạo mình không chịu tu thì làm sao có Thánh quả. Đây là con đường Thánh đạo, con đường mà Đức Thế Tôn đã đi, mình đi theo con đường đó là mình có kết quả như Đức Thế Tôn. Mình không đi con đường đó, mình chỉ niệm một câu Phật cho khỏe. Đâu có chuyện tu mà đơn giản như vậy.
“Khi tai nghe tiếng… mũi ngửi hương… lưỡi nếm vị… thân cảm xúc… ý nhận thức các pháp, không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì khiến ý căn không được chế ngự, khiến tham ái, ưu, bi, các ác, bất thiện pháp khởi lên, chúng ta sẽ tự chế ngự nguyên nhân ấy.”
Khi nãy mình nói mình nhớ người đó đẹp từ cái dáng vẻ, vóc hình cho đến cái chi tiết thì cái đó mình phải chế ngự. Mình dùng quán 32 thể trược, quán một đống bầy nhầy, lòi ruột, văng não ra khi bị xe tải cán. Cái thân đó là như vậy, dòi ăn còn bộ xương, lòi ra da bọc thịt, thịt bọc gân, gân bọc xương, xương bọc tủy. Đây là tấm thân này. Thân này làm bằng xương, quét tô bằng thịt máu. Già và bệnh, ở trong đó ngã mạn và lừa đảo chất chứa. Mình phải quán cho sâu. Khung nó là cái xương, giống như cái nhà có các cây cột, quét tô bên ngoài là thịt là máu, phủ bằng lớp da. Rạch một đường, mỡ tràn ra, thịt tràn ra, phèo, phổi, tim lòi ra ngoài, bao nhiêu ruột non, ruột già kéo dài ra. Quán chiếu như vậy để triệt, diệt tận, từ bỏ, nhiếp phục cái dục tham. Đó là con đường của bậc Chánh đẳng giác. Phải quán chiếu như vậy để trị tận gốc. Không tu thì thôi mà tu là phải chứng quả.
Cái sự tu tập của mình rất là hay. Mình chưa chịu để tâm nhiều vào để mình hành trì, để mình cố gắng nỗ lực. Nếu mà mình chịu thực hành thì nó có kết quả rất rõ. “Pháp của ta là khéo thuyết, thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người có trí chứng hiểu”.
- “Này các Tỳ-kheo, thế nào là các công việc đáng phải làm hơn nữa? “Chúng ta phải biết tiết độ trong ăn uống, với chánh tư duy, chúng ta thọ thực, không phải để vui đùa, không phải để đam mê, không phải để trang sức, không phải để tự làm đẹp mình, mà chỉ để thân này được sống lâu và được bảo dưỡng, để thân này khỏi bị thương hại, để hỗ trợ phạm hạnh, nghĩ rằng: như vậy chúng ta diệt trừ các cảm thọ cũ và không cho khởi lên cảm thọ mới, và chúng ta sẽ không có lỗi lầm, sống được an ổn.””
Cái này mình phải học thuộc lòng trong khi mình thọ thực. Chúng ta nhớ lại hình ảnh Đức Thế Tôn lúc còn tại thế rất là đẹp. Một ngày ăn một bữa, ngủ dưới gốc cây. Bây giờ mình không thể làm được những điều đó thì mình đọc lại hay mình xem phim, mình nhìn những hình ảnh đó thì mình thấy hổ thẹn. Có những người không ăn chiều rất tốt, có những người bị bệnh không ăn không được. Mình ăn thì mình phải có tâm hổ thẹn. Ngoài những giờ chính thì những giờ phụ mình tuyệt đối không ăn. Có nhiều người chiều không ăn mà trưa ăn một bát to. Mình thấy những trường hợp đó mình phải khéo, mình biết ý nghĩa của nó. Mình phải chánh tư duy, mình như lý tác ý. Cái này quan trọng vô cùng. Mình đừng nghĩ mình tu thiền là mình ngồi im không suy nghĩ, cái đó là không phải. Đạo Phật là chánh kiến, là chánh tư duy. Nếu mà mình không thấy đúng thì mình suy nghĩ không đúng. Cái suy nghĩ mình đúng nó mới hướng mình về cái chánh định.
Cho nên chánh tư duy là mình thọ thực không phải để vui đùa, không phải đam mê, không phải trang sức làm đẹp, không phải ăn để cho vui, cho ngon, cho thỏa thích miệng lưỡi. Ăn món này đẹp da, uống nước này tốt, món này bổ thận,… Những cái đó là vô văn phàm phu. Ngay cái suy nghĩ đó, cái lời nói đó nó không phát xuất từ chánh tư duy, nó không có hộ trì căn. Không phải để vui đùa, không phải đam mê, không phải trang sức làm đẹp mà để cái thân này được sống lâu. Bảo dưỡng để thân này khỏi bị thương hại, để hỗ trợ phạm hạnh. Phạm hạnh là cái hạnh thanh tịnh. Ăn cái này để mình thành tựu cứu cánh phạm hạnh. Có hai mức để chúng ta hiểu phạm hạnh: là giới hạnh thanh tịnh và phạm hạnh là thành tựu bát chánh đạo, thành tựu Thánh quả. Mình ăn là để làm cái này chứ không phải ăn để vui, để ham thích.
Cảm thọ cũ là cơn đói bụng. Nếu mình không ăn thì mình đói bụng. Mình diệt trừ cái cảm thọ cũ là mình ăn để hết đói. Không cho các cảm thọ mới khởi lên là không để cho sự tham ái dính mắc trong món ăn. Chỗ này là chỗ rất sâu sắc, trong khi mình thọ trai mình quán chiếu. Lúc đồ ăn ngon thì tham ái dính mắc trong đó. Mình phải quán chiếu món này, món kia qua khỏi cổ nó vào trong thì nó thành món gì. Mười món mà vào chung một chỗ, nó tổng hợp lại thành cái gì. Khi ăn thì nói cười bao nhiêu người vui vẻ, còn lúc nó bài tiết, nó đào thải thì ở trong sự lặng lẽ và cô đơn. Lúc nó bài tiết ra thì mình bịt mũi lại. Mình quán chiếu như vậy thì tâm tham về cái món ăn này được giảm bớt, được trừ diệt. Mình tu tập về trí huệ thì cái gì mình cũng phải quán chiếu chứ không được cho qua. Tại vì sao? Khi mình dính mắc món ăn thì sẽ đưa đến khổ. Cho nên cái Pháp của Đức Phật là ly tham, là Pháp tối thượng trong tất cả các pháp. Quy y Phật tức là ly dục tôn, cái Pháp ly dục là pháp tôn quý nhất của Tam thiên Đại thiên thế giới. Ly dục bằng cái trí huệ chánh tri kiến để thấy rõ nó, để mình lìa. Còn cái ly dục của phàm phu, của người không có thành tựu chánh tri kiến là do kiềm chế, gượng ép, miễn cưỡng. Còn cái ly dục của Phật giáo là bằng cái chánh tri kiến nhìn thấy rõ bản chất của nó là vô thường, khổ, vô ngã rồi mới ly dục. Ngay cái chỗ ăn cơm mình tu tập rất hay, không có lỗi lầm, sống yên ổn.
- “Này các Tỳ-kheo, thế nào là các công việc đáng phải làm hơn nữa? “Chúng ta phải chú tâm cảnh giác. Ban ngày đi kinh hành hay trong lúc ngồi, chúng ta phải tẩy sạch tâm tư khỏi các pháp chướng ngại. Ban đêm canh một đi kinh hành hay trong lúc ngồi, chúng ta phải tẩy sạch tâm tư khỏi các pháp chướng ngại. Ban đêm canh giữa, chúng ta phải nằm dáng nằm con sư tử, nghiêng bên hông tay phải, một chân đặt trên chân kia, chánh niệm tỉnh giác, tâm nghĩ đến lúc thức dậy lại. Ban đêm canh đầu thức dậy, đi kinh hành hay trong lúc ngồi, chúng ta phải tẩy sạch tâm tư khỏi các pháp chướng ngại.”
Trong lúc đi, đứng, ngồi, nằm, bất cứ lúc nào mình nhìn tâm tư có tham sanh khởi phải tẩy. Có sân sanh khởi dùng từ tâm chuyển hóa. Có si sanh khởi dùng sự tinh tấn, tinh cần, dõng mãnh giới diệt nó. Bất cứ lúc nào mình nhìn thấy bất thiện pháp sanh khởi thì mình phải tẩy nó.
Ở trong đây Đức Phật ví dụ Năm Pháp triền cái rất hay. Triền cái là trói cột và che đậy, đó là Pháp chướng ngại. Nếu mà mình không trị năm cái này, không vượt qua năm cái này, không chinh phục năm cái này thì mình không nếm được hương vị của đời sống xuất gia, không nếm được hương vị của viễn ly, của tâm thiền thanh tịnh. Năm triền cái là dục tham, sân, hôn trầm, trạo hối và hoài nghi. Năm cái này Đức Phật ví dụ giống như món nợ, giống như bệnh hoạn, giống như ngục tù, giống như cảnh nô lệ, giống như con đường qua sa mạc. Nếu trong tâm mình còn tham thì giống như mình đang bị mắc nợ, mình chưa trả nợ xong, tâm mình sẽ không an. Sự tức giận, sân hận còn trong tâm mình, mình chưa nhiếp phục được thì nó giống như người bệnh hoạn, cái mầm bệnh, vi khuẩn bệnh còn ở trong thân của mình nếu mình chưa nhiếp phục được nó. Sự hôn trầm thụy miên mà mình chưa diệt được thì giống như ngục tù. Hôn trầm là lờ đờ, chỗ nào ngồi cũng muốn ngủ, bất cứ chỗ nào con mắt nhìn cũng muốn sụp xuống, đó là đang bị ngục tù. Sự trạo hối là lao xao, lóc chóc, lăng xăng, không có yên thì đó là cảnh nô lệ. Người này đang bị cảnh nô lệ với sự lăng xăng, trạo cử. Không nhiếp phục được thì táy máy tay chân, muốn làm cái này cái kia. Đó là trạng thái của trạo cử, là cảnh nô lệ. Nghi giống như con đường qua sa mạc, nó mênh mông, không biết đường nào đi. Tu học bao nhiêu năm bây giờ nghi không biết đi Pháp nào.
Năm cái ví dụ này tuyệt vời lắm. Mình phải trị được năm triền cái này thì mình tẩy được các chướng ngại pháp trong nội tâm của mình.
- “Này các Tỳ-kheo, thế nào là các công việc đáng phải làm hơn nữa? “Chúng ta phải chánh niệm tỉnh giác, khi đi tới, khi đi lui đều tỉnh giác; khi nhìn thẳng, khi nhìn quanh đều tỉnh giác; khi co tay, khi duỗi tay đều tỉnh giác; khi mang y kép, bình bát, thượng y đều tỉnh giác; khi ăn uống, nhai, nuốt đều tỉnh giác; khi đi đại tiện, tiểu tiện đều tỉnh giác; khi đi đứng, nằm, thức, nói, yên lặng đều tỉnh giác.”
Chỗ này mà các huynh đệ làm được thì cái dung nghi đĩnh đạc, oai nghi chánh hạnh của một người xuất gia nó biểu lộ ra cái đức tướng của xuất trần thượng sĩ. Thực tập được cái này rồi sẽ thấy mỗi một bước chân của mình đi, mỗi sự cúi, ngước, co, duỗi của mình đều ở trong oai nghi, chánh hạnh, ở trong cái chánh niệm tỉnh thức của bậc trí huệ.
Cho nên đây là những pháp tác thành Sa môn hạnh. Không phải đọc một, hai lần mà mình phải đọc một trăm lần, một ngàn lần. Đọc và nhớ những điều quan trọng trong đây rồi mình thực tập cho đến khi nào được là các huynh đệ thành tựu.
Minh Thành chia sẻ với các huynh đệ những phần căn bản. Hôm nay được sự chỉ dạy của Hòa Thượng Tôn Sư, Minh Thành gặp các huynh đệ trong buổi chia sẻ cuối cùng của mùa An cư kiết hạ 2018 với một tinh thần kiến hòa đồng giải, mình nghĩ rằng mình là huynh đệ, anh em, gọi là Linh Sơn cốt nhục, quyến thuộc Bồ đề. Trong sự tu học mình cùng nhau chia sẻ để cố gắng cùng chung với nhau trong phước đường tự lợi, lợi tha để thành tựu đời sống phạm hạnh cũng như là hoàn thành được hạnh Sa môn, tác thành những cái Pháp của một người tu. Kính chúc các huynh đệ sau khóa An cư kiết hạ này thành tựu được tăng thượng giới học, tăng thượng định học, tăng thượng tuệ học và ngưỡng nguyện mười phương Tam Bảo gia hộ cho Hòa Thượng Tôn Sư trí huệ quang minh như nhật nguyệt, từ bi vô lượng độ chúng sanh.
(Văn bản.)
Hôm nay được sự chỉ dạy của Hòa Thượng Tôn Sư, Minh Thành xin chia sẻ cùng tất cả các huynh đệ về những Pháp tác thành Sa môn. Mình có thể nói đơn giản là định nghĩa về người tu. Đây là bài kinh rất quan trọng ở trong Trung Bộ Kinh, bài kinh số 39 trang 593 là Đại Kinh Xóm Ngựa. Bài kinh này sẽ nói cho chúng ta những cái Pháp để làm nên một tu sĩ, những điều kiện nào để tác thành một vị Sa môn, những yếu tố nào để cho chúng ta trở thành một người xuất gia chân chánh. Chúng ta phải nắm thật vững những cái yếu tố này để mình tự thực tập và mình có duyên mình chia sẻ lại với những huynh đệ sau này. Trước khi vào bài kinh thì Minh Thành muốn Pháp đàm chia sẻ với các huynh đệ. Theo các huynh đệ nghĩ thì người xuất gia của mình cần những yếu tố nào để trở thành người xuất gia chân chính? Mình muốn trở thành một người xuất gia hoàn hảo thì mình phải cần bao nhiêu điều kiện? Đây là vấn đề rất quan trọng, nếu mình không nắm vững cái này thì sự xuất gia của mình sẽ không thành tựu viên mãn.
Trong sự tu tập của bản thân Minh Thành qua mấy mươi năm thì Minh Thành thấy rằng các huynh đệ chúng ta hãy để tâm vào năm bộ kinh Nikaya rất là quan trọng. Hôm nay mấy huynh đệ nghe bài kinh này mấy huynh đệ sẽ vô cùng xúc động trước lời của Đức Phật.
“Một thời Thế Tôn ở giữa dân chúng Anga. Lúc bấy giờ, Thế Tôn gọi các Tỳ-kheo:
- “Sa-môn! Sa-môn!” Này các Tỳ-kheo, dân chúng biết các ông là vậy. Và nếu các ông được hỏi: “Các ông là ai?” Các ông phải tự nhận: “Chúng tôi là Sa-môn.” Các ông đã được danh xưng như vậy, đã tự nhận là như vậy, thì này các Tỳ-kheo, các ông phải tự tu tập như sau: “Chúng ta sẽ thọ trì và thực hành những pháp tác thành Sa-môn. Như vậy, danh xưng này của chúng ta mới chơn chánh và sự tự nhận này của chúng ta mới như thật. Và những đồ cúng dường mà chúng ta thọ hưởng như y phục, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh mới có được kết quả lớn, lợi ích lớn cho chúng ta. Và chúng ta xuất gia không thành vô dụng, có kết quả, có thành tích.
Này các Tỳ-kheo, thế nào là các pháp tác thành Sa-môn?”
Phát biểu cảm nghĩ
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!
Kính bạch trên Thượng tọa Giảng sư. Sau khi được Thượng tọa Giảng sư gợi ý cho chúng con qua đoạn kinh Đại Kinh Xóm Ngựa, qua câu hỏi trước của Thượng tọa Giảng sư thì con hiểu ra được một chút. Con xin được trả lời qua sự gợi ý của Thượng tọa. Khi mà một người xuất gia tu học thì theo lời Đức Phật dạy đó là làm sao cho chúng ta xứng với danh xưng là Sa môn để khi những người cúng dường cho mình từ thức ăn, sàng tọa đến mọi thứ để họ được lợi ích. Vì nếu như chúng ta không hướng đến hạnh Sa môn thì những cái vật dụng của người ta cúng dường sẽ không được lợi ích nhiều. Cho nên Đức Thế Tôn muốn khẳng định lại và cho chúng ta có sự chắc chắn, kiên định trong sự tu tập đó là phải hướng về cái hạnh Sa môn quả. Mà muốn hướng về hạnh Sa môn quả thì phải thành tựu thứ nhất là người xuất gia phải thành tựu được tàm và quý là điều quan trọng. Điều thứ hai một khi đã hướng về thành tựu hạnh Sa môn quả thì phải hướng về nội tâm, thân, khẩu, ý phải thanh tịnh và luôn hộ trì các căn, ăn uống có tiết độ và tinh tấn, nỗ lực tu tập Thiền định, đoạn trừ các tham dục. Đấy là mục tiêu, mục đích hướng về hạnh Sa môn quả. Chúng con là những người mới tu tập thì chúng con cũng sẽ cố gắng từng bước để hoàn chỉnh. Còn về cái hướng hạnh Sa môn quả mà Đức Thế Tôn muốn hàng đệ tử mình noi theo và hướng đến thì từ từ và qua quá trình tu tập sẽ trải nghiệm và sẽ cố hướng tới. Qua gợi ý của Thượng tọa thì con cũng chỉ hiểu được chừng ấy. Kính mong Thượng tọa chia sẻ thêm cho chúng con, giúp chúng con hiểu thêm.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!
Thầy giảng
Những Pháp tác thành Sa môn Đức Phật dạy trong bài kinh này rất là kỹ. Trước khi nói điều này thì Minh Thành chia sẻ một chút Pháp hành để huynh đệ thấy, để mình mở cánh cửa mình đi vào những cái Pháp tác thành Sa môn. Một câu hỏi được đặt ra mời các huynh đệ trả lời.
Câu hỏi:
Mục đích của sự tu tập là gì? Những cái mình ngồi thiền, mình tụng kinh, mình niệm Phật, mình trì chú,… mục đích của những cái đó là gì?
Trả lời câu hỏi
1. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!
Kính bạch Thượng tọa. Như lời Thượng tọa hỏi mục đích của tu tập là gì thì theo con trong đạo Phật lấy từ bi làm chính. Người học Phật có từ bi thì mới trải tâm từ cho mọi người. Mà từ bi ở đây thể hiện đó là lòng thương người, tự độ và độ tha. Trì chú, niệm Phật, ngồi thiền là trưởng dưỡng tâm từ bi của chúng ta. Làm sao mà tâm từ bi của Đức Phật dung hòa vào tâm từ bi của chúng ta để từ đó chúng ta lợi lạc tha nhân giúp mọi người đều thoát li khỏi sanh tử luân hồi trong hiện tại và mãi mãi về sau.
Nam Mô A Di Đà Phật.
2. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!
Kính bạch Thượng tọa. Con nghĩ rằng cái việc mình tu tập như tụng kinh, ngồi thiền, niệm Phật để mình có thể phát sanh được trí tuệ. Từ cái trí tuệ này mình mới đạt được cái cứu cánh của người tu là được sự an lạc và giải thoát.
Nam Mô A Di Đà Phật.
3. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!
Kính bạch trên Thượng tọa Giảng sư. Mục đích tu tập của người học Phật là giúp cho nội tâm được thanh tịnh và đoạn trừ được tham sân si. Muốn đoạn trừ được tham sân si thì phải để trí tuệ phát sanh. Nhưng mục đích ban đầu là để thanh lọc nội tâm, để làm nội tâm được thanh tịnh. Đây là cái hiểu của con.
Thầy giảng
Mục đích của sự tu tập là đoạn tận tham, đoạn tận sân và đoạn tận si. Trong năm bộ kinh Nikaya đều nói như vậy. Mấy huynh đệ nhớ là mình phải y cứ như trong kinh chứ không phải cách suy nghĩ của mình. Đó là giải quyết xong câu hỏi thứ nhất. Còn bây giờ đến câu hỏi thứ hai.
Tham sân si nó cư trú ở đâu?
Bây giờ mình nói mình đi giết giặc, diệt giặc mà mình không biết giặc ở đâu thì làm sao mình giết giặc. Những câu hỏi hôm nay, những vấn đề Minh Thành chia sẻ hôm nay là những cái vấn đề trọng yếu trong sự tu tập. Mấy huynh đệ nắm vững thì mấy huynh đệ sẽ có cánh cửa để đi vào Pháp hành để thực tập.
Trả lời câu hỏi
1. Kính bạch Thượng tọa. Theo con nghĩ tham sân si nó cư trú ở nơi tam nghiệp của mình đó là thân, khẩu, ý. Vì khi bình thường tâm mình lắng đọng thì mình sẽ không thấy được còn khi tâm mình nó vọng thì mình sẽ thấy được tham sân si. Những cái hành động, những cái suy nghĩ, những cái cử chỉ của bản thân mình, mình sẽ nhận biết và mình thấy rõ được. Dạ con xin hết.
2. Dạ Mô Phật con kính bạch trên Thượng tọa. Con nghĩ rằng tham sân si nó cư trú trong bản ngã.
3. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!
Theo con nghĩ tham sân si nó ở mọi lúc mọi nơi nếu như chúng ta thiếu chánh niệm tỉnh giác. Tham sân si là do nơi chúng ta chấp thủ năm uẩn và thân tứ đại của mình, do mình chấp thủ bọn nó cho nên có sự khởi, sự hiện hữu của tham sân si.
4. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!
Kính bạch Thượng tọa Giảng sư. Con nghĩ tham sân si nó không có nơi cư trú nhưng nó có sự hiện hữu tại sáu Căn đó là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý.
Thầy giảng
Chỗ này là chỗ rất quan trọng. Nếu các huynh đệ không nhìn ra chỗ căn cứ địa của phiền não thì mình không thể nhiếp phục được phiền não, càng không thể đoạn tận được phiền não. Minh Thành hỏi các huynh đệ. Khi mà mình nổi giận lên thì lúc đó nó như thế nào? Các huynh đệ có nhìn cái cảm giác của mình không? Đầu tiên là nó nóng từ chỗ giữa lồng ngực, nó bắt đầu hực cái hơi lên có khi nó đỏ luôn cái gò má, đỏ cái lỗ tai, hai mắt bắt đầu đỏ lên, rồi cái miệng bắt đầu giật giật. Nó sẽ phát ra cái lời nói và cái hành động. Cho nên Đức Phật dạy mình người xuất gia phải luôn luôn nhìn lại thân thể, cảm giác, tâm của mình, nhìn lại sự vận hành ở bên trong của các Pháp. Đó là tứ niệm xứ. Cái trọng tâm trong sự thực tập là cảm giác toàn thân, mình phải luôn luôn nhìn lại cảm giác của mình. Bởi vì tham sân si nó cư trú ở bên trong cảm giác. Cái cảm giác là chỗ mình thấy rõ nhất nếu mà mình thường nhìn lại. Khi mình gặp đối tượng nào đó mà mình khởi lên cái tâm tham muốn thì cảm giác mình lúc đó nó biến đổi. Cái si nó cũng ngay chỗ cảm giác. Bắt đầu thì thân tâm trì trệ, vai nó thụng xuống, đầu nó nghiêng nghiêng, con mắt sụp xuống. Cảm giác của si mê, nó trì xuống, nó kéo xuống.
Cho nên sự tu tập của chúng ta là phải luôn luôn nhìn lại cảm giác. Đây là sự tu tập rất quan trọng trong tất cả sự tu tập. Nếu mình không nhìn lại cảm giác thì mình sẽ không phát hiện ra sân khởi lên như thế nào, nó an trú như thế nào và nó chấm dứt như thế nào. Tham nó khởi lên ra làm sao, nó vận hành như thế nào và nó chấm dứt như thế nào. Si nó sanh khởi như thế nào, nó an trú như thế nào và nó đoạn diệt như thế nào. Mình không thấy được mình cứ nghĩ rằng tham sân si là tại cái người kia, tại câu nói kia, tại chuyện nọ mà mình không biết rằng tham sân si nó phát khởi từ trong cảm giác. Mình thường nhìn lại cảm giác thì khi nó thay đổi, nó biến động thì mình biết được liền mà mình có cái cách để nhiếp phục.
Có ba loại cảm giác: cảm giác khó chịu gọi là khổ thọ, cảm giác dễ chịu là lạc thọ, cảm giác không khó chịu không dễ chịu gọi là xả thọ hay còn gọi là bất khổ bất lạc thọ.
Ví dụ: Mình được mời đi ăn trai tăng, ăn nhà hàng. Lúc đó có 15 món ăn, mình gắp từng món mình thưởng thức thì cảm giác dễ chịu, khoan khoái, thích thú, ngon. Trong cảm giác dễ chịu, khoan khoái, thích thú, ngon đó thì tham dục, tham ái, tham ăn có mặt trong đó.
Nếu mình không có chánh niệm tỉnh giác, mình không nhìn ra thì mình tưởng đâu tham là cái gì lớn lao. Nhưng không phải, nó rất là vi tế, nó có mặt mọi lúc mọi nơi trong sinh hoạt của mình. Mình thấy được cái tham ái, tham dục nó cư trú trong cảm giác là mình thành tựu cái trí huệ rất sâu sắc. Sau khi mình thấy nó mình sẽ có phương pháp ngăn chặn nó, nhiếp phục nó và đoạn diệt nó. Lúc mình ăn ngon mình nói chuyện vui vẻ mình không biết rằng tham nó đang có mặt trong nội tâm của mình. Tham đang sanh khởi, đang tồn tại, đang vận hành trong nội tâm.
Mình nghe câu nói của huynh đệ nói mỉa mai mình, lúc đó mình có cảm giác khó chịu đồng nghĩa với khổ thọ. Thì trong cảm giác nó có sân cư trú trong đó. Lúc đó mình không nhận diện được trong cảm giác mình hiện tại nó có sự sân hận. Nếu như nó nhỏ thì mình để cho nó qua, còn nếu như nó vừa vừa mình bực mình nói lại vài câu, nếu như nó lớn thì nó sanh chuyện. Và những cái nhỏ đó mình không thấy, không biết mình để cho nó qua mặt mình. Những cái nhỏ này nó tích tụ lâu ngày đến lúc nó bị vỡ thì đại họa.
Có một cô đi làm cho bà chủ mà cứ mỗi ngày cổ ăn trộm 10 đô, 20 đô. Bà chủ đó năm năm mới phát hiện ra. Cô này đưa lại cho bà chủ mấy chục ngàn đô mà người ta còn chưa bỏ qua. Vì khi phát hiện ra thì nó đã qua mặt bao nhiêu năm rồi.
Thì trong nội tâm mình cũng vậy. Mình để cho tham sân si nó qua mặt mình, mình không thấy, không biết, không nhiếp phục được. Như thế là khi nó tích tụ đến lúc nó bung lớn ra thậm chí là lúc đó đã muộn rồi. Sự tu tập này là sự tu tập mình nhìn ra từng cái nhỏ nhiệm trong nội tâm của mình, mình nhìn trong cảm giác thì mình sẽ thấy. Nó vừa manh nha là mình đã thấy rồi. Cảm giác mình nó thay đổi thì mình thấy được liền, mình tránh duyên hoặc mình nhiếp phục, mình có phương pháp chuyển hóa. Cho nên tham dục trị bằng quán bất tịnh, 32 thể trược và chín giai đoạn của một tử thi. Ngoài phương pháp này ra không có phương pháp nào khác để mà nhiếp phục tận cùng, triệt để. Đây là pháp của bậc Chánh đẳng giác. Không có ai vượt qua được bậc Chánh đẳng giác.
Bây giờ những người xuất gia của mình có mấy người mà quán bất tịnh, mấy người thuộc 32 thể trược. Tóc, lông, móng, da, răng, thịt, gân, xương, tủy, thận, tim, gan, phổi, bao tử, buồng phổi, ruột già, ruột non, máu, mủ, mồ hôi, nước mắt, mỡ, nước tiểu, nước miếng,… Mình phải thuộc 32 thể trược và mình phải quán chiếu được chín giai đoạn của một xác chết. Khi nằm xuống chết thì nó phình lên như thế nào, nó nứt nẻ ra, nước vàng chảy ra, máu chảy ra, mủ chảy ra, dòi nó tuôn ra hai lỗ mắt. Dòi nó ăn hết trong bộ đồ lòng, nó tràn ra từ đầu đến chân. Còn một chút thịt dính trong đó rồi từ từ nó ăn hết còn bộ xương. Đây là xương sườn, đây là xương chân, đây là xương mông, đây là xương sọ rải rác mỗi chỗ. Năm tháng bào mòn nát ra trở thành cát bụi. Mỗi ngày phải quán chiếu như vậy thì diệt tận tham dục. Lúc nào mình bị dục tham chi phối thì mình ngồi trở lại. Mỗi ngày mình phải quán, chứ đừng đợi đến lúc bị chi phối mình mới quán. Mình thấy nó quá tịnh, mình muốn đi theo, lúc đó mới mở quán bất tịnh ra thì đã muộn rồi. Nước nó tới cổ rồi, không kịp nữa.
Nhiều người nói sao con ngồi quán mà chỉ thấy tịnh. Đó là vì bình thường mình không quán, lúc đó mình đã vô mê hồn trận, bát quái trận. Đợi đến lúc sân mới quán từ bi. Cho nên từ tâm giải thoát là phương pháp trị tận gốc sân hận. Còn si là dùng phương pháp tinh tấn dõng mãnh, tinh cần giới, dõng mãnh giới, làm cho tâm mình khởi phát lên sự mạnh mẽ, nỗ lực, tinh tấn. Quán chiếu cái khổ trong địa ngục ngạ quỷ súc sanh, quán chiếu cái khổ của những người bệnh nằm liệt giường, những người ăn xin tật nguyền. Quán những cái đó thì cái sự buồn ngủ, lười biếng của mình nó sẽ tan. Dùng như lý tác ý, tức là tự nói với mình, tự chửi mình, tự mắng cái tâm lười biếng, tham ái, tham dục của mình. Phương pháp như lý tác ý này xuyên suốt thánh phàm, từ bắt đầu tu tập cho đến khi thành tựu Thánh đạo rồi tới Thánh quả thì cái như lý tác ý này nó quyết định rất là quan trọng. Mình dùng những lời nói thật mạnh để mình khiển trách tự tâm của mình.
Ví dụ: Thời Đức Phật có một thầy Tỳ-kheo đi ra bãi tha ma, cái nghĩa trang để quán bất tịnh. Thầy nhìn thấy xác chết của một cô gái mới vừa chết chưa được bao lâu, lúc đó khởi lên tâm dục. Thầy này mới thấy được mình khởi lên dục tâm thì thầy này tàm quý, xấu hổ, nhục nhã cực độ. Rồi thầy này khởi lên cái trí quán thật mạnh đốt hết tất cả dục tham phiền não, chứng A-la-hán ngay tại chỗ.
Một thầy Tỳ-kheo khác đang ngồi thiền thì nóng quá muốn xả thiền. Thầy này dùng như lý tác ý khởi lên sự suy tư, cái nóng này đâu bằng cái nóng ở địa ngục, cái nóng ở chảo dầu, ôm cột đồng cháy đỏ. Cái nóng này đâu có là gì. Mình không tinh tấn nỗ lực, cái nóng này mình không chịu nổi thì làm sao mình chịu đựng được cái nóng ở địa ngục. Lúc đó thầy này phát khởi cái tuệ quán mạnh mẽ, quán chiếu. Dùng lửa trí huệ đốt cháy hết tất cả những cái phiền não. Thầy chứng A-la-hán ngay tại chỗ.
Mình nghĩ theo chiều kia thì nó đi theo cái chiều phàm, đi theo chiều giải đãi, đi theo chiều lười biếng. Còn quay lại cái chiều này là cái chiều tinh tấn, tinh cần, tinh tấn dõng mãnh, chứng A-la-hán ngay tại chỗ.
Có một thầy Tỳ-kheo nữa, mùa đông ngồi thiền thì trời lạnh có ý định ngã xuống nằm ngủ. Thầy này dùng như lý tác ý, suy xét đúng chánh pháp, quay ngược trở lại suy nghĩ cái lạnh này mà mình chịu không nổi thì làm sao mình chịu nổi cái lạnh của hàn băng địa ngục. Vận dụng tuệ quán, phát khởi được trí huệ quán chiếu tận cùng, cuối cùng thành tựu Thánh quả tối cao.
Minh Thành đưa ra ba trường hợp cho các huynh đệ thấy cái như lý tác ý rất quan trọng. Hằng ngày mình phải tu tập. Đó là chuyện ngày xưa, còn chuyện ngày nay có một Thầy là Tiến sĩ tốt nghiệp ở Ấn Độ về dạy ở trường thì tâm sự với Minh Thành. Lúc đó là giữa trưa bốn mươi mấy độ, trời nóng quá Thầy ngồi ở bàn học thì Thầy không chịu nổi, Thầy muốn đứng lên đi vòng vòng, thậm chí Thầy muốn đi về Việt Nam. Khi mà Thầy khởi cái ý này lên thì Thầy nhìn ra ở ngoài, thấy giữa trưa nóng như vậy mà những đứa trẻ ở trần chơi đá bóng, mồ hôi nhễ nhại. Thầy mới nghĩ tại sao những đứa trẻ đó vì vui chơi thôi mà nó dám chịu đựng cái nóng, cái nực, mồ hôi đổ ướt như vậy mà mình vì sự tu hành giác ngộ giải thoát, bỏ nhà, bỏ cha, bỏ mẹ, bỏ đất nước quê hương đi cầu học, bao nhiêu Phật tử lo cho mình, cha mẹ mong đợi mình mà nóng một chút mình chịu không được. Thầy ngồi xuống học và cuối cùng tốt nghiệp Tiến sĩ Phật học.
Minh Thành đưa ra một ít ví dụ để các huynh đệ thấy. Bây giờ phân công cho ba huynh đệ lau giảng đường này. Đến lúc mình ra mình lau có một mình còn hai người kia không thấy. Lúc đó mình phải tác ý rằng tại sao gọi là công quả, có công thì có quả. Đây là những cơ hội cho mình rèn luyện. Lúc đó mình nhìn coi mình có cảm thọ gì, cảm giác mình làm sao. Nếu có sân thì mình nhiếp phục. Kế đó mình phải tập kiên trì, nhẫn nại, chịu khó. Mình nhìn xem Hòa Thượng Tôn Sư gánh vác bao nhiêu chuyện trong nước, ngoài nước, toàn quốc. Còn mình có cái giảng đường nhỏ như vậy không lẽ mình làm không được. Mình tác ý tập nhẫn nại, nhẫn được những điều khó nhẫn, làm được những điều khó làm. Mình phải nhiếp phục được cái tâm sân hận này, nhiếp phục được cái cảm thọ này. Mình sẽ làm chủ nội tâm mình, không để cho cái tâm sân này nó chiếm ngự, nó đánh phá mình. Và đây là cơ hội cho mình công quả, dung bồi phước đức. Chính những cái phước đức nhỏ này thì sau này mình mới có thể làm Thầy, hướng dẫn mọi người tu tập. Cái nhỏ như vậy mà mình không nhẫn được. Có thể các huynh đệ đó bị bệnh, mình gánh cho huynh đệ mình. Trong khi đó mình vẫn làm mà mình nhiếp phục được cái tâm của mình thì lúc đó cái trí của mình sáng tỏ ở trong cái từ nhẫn.
Thực tập đi thì mấy huynh đệ sẽ thấy kỳ diệu lắm. Đúng ra cái chỗ đó nó sân hận mà nó không sân. Chỗ này gọi là hỏa diệm hóa hồng liên. Trong lửa đỏ mà hóa ra sen hồng. Chỗ đó nó phải nổi sân mà mình làm chủ được, mình nhiếp phục được, mình khởi cái tâm từ để mình quán chiếu. Bà già ngoài kia tám mươi tuổi, ông già kia 93 tuổi còn đi bán vé số, còn đi lượm bọc mà mình người xuất gia mình vì mọi người, vì chúng sanh mà lau cái này không được hay sao. Đó là như lý tác ý. Trong mọi hoàn cảnh, thậm chí là mọi nghịch cảnh, những cái bất ngờ ập đến với mình mà mình có sự tu tập này rồi giống như có cái áo giáp bằng đồng. Mình phải có sự nhiếp phục trong tâm mình.
Đối với cái tham cũng vậy, mọi trường hợp khác cũng vậy. Cái này nó đòi hỏi mình phải kiên trì, nhẫn nại thực tập. Cái quan trọng để mình đi vào pháp hành là từ chỗ mình nhìn lại cảm giác. Nếu mà không nhìn lại cảm giác thì mình không phát hiện ra tham sân si. Mình không phát hiện ra tham sân si thì mình không thể nhiếp phục được nó. Cho nên nó là cánh cửa để đi vào tất cả các Pháp hành của Phật giáo. Gọi là quán thọ, tức là phải luôn luôn nhìn lại cảm giác. Cảm giác nó sẽ gắn liền với thân tâm của mình, mình phải nhìn thấy rõ.
Các pháp tác thành Sa môn
- “Này các Tỳ-kheo, thế nào là các pháp tác thành Sa-môn? “Chúng ta sẽ thành tựu tàm quý”, này các Tỳ-kheo, các ông phải tu tập, các ông có thể khởi lên ý kiến: “Chúng ta đã thành tựu tàm quý đến mức độ này, như vậy là vừa đủ; đến mức độ này, như vậy đã làm xong. Chúng ta đã đạt được mục đích Sa-môn hạnh. Chúng ta không có gì phải làm hơn nữa.” Và cho đến mức độ ấy, các ông có thể tự thỏa mãn. Này các Tỳ-kheo, Ta khuyến cáo các ông. Ta tuyên bố cho các ông: Khi các ông hướng đến mục đích Sa-môn hạnh, chớ có từ bỏ mục đích này, khi đang còn công việc đáng phải làm hơn nữa.”
Cái pháp đầu tiên mà Đức Phật dạy mình để tác thành Sa môn, những điều kiện để thành người tu sĩ hoàn hảo, những yếu tố để trở thành người tu chân chánh là chúng ta sẽ thành tựu tàm qúy. Thành tựu tàm quý là mình phải có cái tâm hổ thẹn. Mỗi khi mình bước lên lễ Phật, mình nhìn lên Đức Đại Giác Thế Tôn mình thấy xấu hổ. Ngài cũng là con người, Ngài là Thái tử quyền uy thiên hạ, Ngài bỏ hết tất cả. Bây giờ mình vào chùa chỉ cần một ly nước, một món ăn, một bao thư mà nếu không khéo mình sẽ phiền não. Đó là sự xấu hổ, sự nhục nhã, sự tàm quý.
Ví dụ: Có cô Phật tử bước vào, cổ thấy quý Thầy đứng ở đó có 8 người. Cổ có 7 bao thư, cổ cúng tới mình thì hết. Lúc đó mình coi cảm giác mình như thế nào? Rồi đem ra cho mỗi người lon nước yến, có 80 người. Nhưng tới mình thì hết, đưa mình chai nước suối uống.
Tất cả trong những chỗ đó mình phải coi cái cảm giác của mình. Không phải ngồi tụng kinh niệm Phật mới là tu, cái đó là cái tu căn bản trên chánh điện, trên thiền đường. Còn cái tu sâu sắc là ngay chỗ cần phải tu đó là phiền não. Phải xem ngay chỗ đó mình có vận dụng được hay không. Còn lên chánh điện ngồi thì ai cũng ngồi được. Cái lúc bị sân khởi lên, tham khởi lên, bị những cảnh trái ý nghịch lòng, chướng tai gai mắt lúc đó mình phải có cái phương pháp nhiếp phục, chuyển hóa.
Quay trở lại cái ví dụ mình sẽ khởi lên cái tâm buồn. Lúc mình lạy Phật mình nhìn lên Phật mình thấy xấu hổ, nhục nhã, tàm quý. Thái tử bỏ hết địa vị như vậy còn mình có lon nước yến mà cái tâm mình phiền não thì có xứng đáng Sa môn hạnh không, có xứng đáng Thánh hạnh không, có xứng đáng với xuất li hạnh, viễn li hạnh hay không. Hoặc là trong lúc ngồi thiền mình nhắm mắt lại có cái bóng hồng hiện lên, rồi mình mới hỏi làm sao giết được người trong mộng. Những cái chỗ đó mình phải lên cái tâm tàm quý, hổ thẹn, mình không có tiếp nối nữa. Đức Thế Tôn, những bậc A-la-hán, những bậc Hiền Thánh Tăng từ bỏ các dục, đoạn tận các dục, đời sống hoàn toàn thanh tịnh trong sạch, tại sao mình xuất gia như vậy mà mình còn suy nghĩ những cái này, mình còn làm những điều không phù hợp giới hạnh thanh tịnh, mình xấu hổ, mình nhục nhã, mình tàm quý.
Đây là cái pháp nuôi lớn. Mình có được cái này mình sẽ giữ giới được. Nếu mình không thực tập pháp tàm quý, xấu hổ, hổ thẹn, nhục nhã này là mình dễ phạm giới. Vì mình sai mà mình vẫn không thấy sự xấu hổ, nhục nhà, tàm quý sâu sắc trong nội tâm. Mình có gì sai thì mình phải lạy Phật sám hối, thậm chí mình dập đầu xuống cho đỏ trán. Ngày xưa có những vị cao tăng tự đánh mình. Phải dùng cái phương pháp mạnh như vậy.
Cho nên cái phương pháp tàm quý này rất quan trọng. Chẳng hạn như mình ăn cơm mà mình có biết hộ trì căn, biết tàm quý thì mình không có nói chuyện. Bây giờ nó trở thành thói quen chuyện người nào nấy nói, không phải nói chuyện tu tập mà nói những chuyện không có liên hệ đến mục đích. Có những đề tài của câu chuyện, những đề tài ít dục, những đề tài tri túc, những đề tài viễn li, những đề tài tăng thượng giới học, tăng thượng định học, tăng thượng tuệ học, những đề tài giải thoát, giải thoát tri kiến học. Những đề tài đó là những đề tài cần được thảo luận, cần được đàm luận, cần được bàn luận ở chỗ cần bàn luận. Còn cái giờ đó là giờ không nói chuyện thì mình phải nhiếp tâm.
“Này các Tỳ-kheo, có hai việc cần phải làm: Một là, đàm luận về chánh pháp; hai là, giữ im lặng như bậc thánh.”
Đó là lời dạy của Đức Thế Tôn. Nếu mà mình thường có sự hổ thẹn này thì mình có gì sai trong nội tâm mình sẽ xấu hổ. Những cái tham dục, sân hận mà mình nghĩ trong nội tâm mình nếu như người ngoài, những bậc đồng phạm hạnh, những bậc trí, những bậc cùng tu của mình hay là Phật tử thấy được những cái ý nghĩ đó thì lúc đó mình còn mặt mũi nào nhìn người ta. Cho nên phát khởi, nuôi lớn cái tâm tàm quý hổ thẹn này thì tuyệt diệu vô cùng. Bây giờ mình bị quên nhiều lắm. Ngay cả ở trong chùa lâu năm đi nữa mà không thực tập cái này thì mình nhìn thấy nhiều khi không giống Thầy. Đó là những tấm gương mình soi lại mình, mình nhìn để mình thấy đó là những tấm gương không thực tập pháp hổ thẹn tàm quý. Mình không thể như vậy, mình phải là người thực tập cái tàm quý sắc bén, cái sự hổ thẹn sâu sắc để mình thành tựu được Sa môn hạnh, đức hạnh của người tu, đạo hạnh của người tu hành. Từ cái Sa môn hạnh này nó mới đưa tới Sa môn quả. Cho nên bữa nào mình có sai quấy thì mình ngồi trở lại hoặc vô chánh điện mình lạy, phải làm cho phát khởi cảm giác hổ thẹn. Mình phải làm cho nó phát sanh ra cảm giác hổ thẹn chứ không phải nói trên miệng mà phải thật sự phát sanh cảm giác rất là hổ thẹn, rất là tàm quý, rất là nhục nhã đối với trước Phật, đối với trước pháp, đối với trước Tăng, đối với cha mẹ. Mình làm cho mình phát khởi cái hổ thẹn đó thì mình tu sẽ thành công. Cái gì cũng vậy, phải cho nó phát sanh cảm giác.
- “Này các Tỳ-kheo, thế nào là công việc đáng làm hơn nữa? “Thân hành, khẩu hành, ý hành chúng ta phải được thanh tịnh, minh chánh, cởi mở, không có tỳ vết, che giấu. Nhưng chúng ta không vì thân hành thanh tịnh ấy, khen mình, chê người.””
Chính cái chỗ mình tàm quý, hổ thẹn, xấu hổ thường trực trong nội tâm của mình cho nên nó sẽ dẫn đến phương pháp kế tiếp là ý nghĩ, lời nói, hành động của chúng ta sẽ trong sạch. Tại vì mình có hổ thẹn. Thực tập cho nó trong sạch, thực tập cho nó thanh tịnh, thực tập cho nó minh chánh. Minh là sáng suốt, chánh là chân chánh, ngay thẳng, không có che dấu. Có gì sai mình bày tỏ trước đại chúng mình sám hối, bày tỏ trước Hòa Thượng Tôn Sư, bày tỏ trước Sư Phụ mình, ở trước những vị mình tin tưởng, những vị có đạo hạnh. Mình bày tỏ con bạch Hòa Thượng, con phạm lỗi này con thấy xấu hổ quá, con thấy tàm quý, nhục nhã cho người tu. Con xin Hòa Thượng chứng minh, Sư Phụ chứng minh hay quý Thầy chứng minh cho con. Con hứa từ nay về sau con sẽ chấn chỉnh lại. Thì cái đó nó sẽ giúp cho thân, miệng, ý mình được trong sạch.
Mình luôn thực tập những điều này, mình được rồi thì mình không có khen mình, chê người. Luôn luôn lúc nào Đức Phật cũng dặn cái câu này. Dầu cho mình làm được như vậy, tới trọn vẹn nhưng mình không khen mình, chê người. Khi mình thấy mình hay còn người ta dở thì đó là bản ngã. Mình tu tập, mình quán chiếu để mình phá cái bản ngã. Mình chỉ lo cái phần mình, không nhìn phần người khác. Nếu người ta tốt thì sẽ là tấm gương để mình học. Nếu người ta không tốt thì mình quay lại mình hổ thẹn cho chính mình.
- “Này các Tỳ-kheo, thế nào là công việc đáng phải làm hơn nữa? “Sanh mạng chúng ta phải được thanh tịnh.””
Đời sống của người xuất gia mình, cái chánh mạng quan trọng lắm. Những người đi đến cúng dường của mình phải cúng dường đúng Pháp. Không phải vì tình người, vì lấy lòng làm cho họ vui để mình được cúng dường. Đó không phải là cúng dường đúng Pháp. Huống hồ chi những việc kinh doanh này nọ là không đúng với tinh thần của Đức Phật dạy trong giới luật. Trong giới luật không có kinh doanh.
Từ lúc có hai ông thầy giả lên hát thì những người Thầy bắt đầu hát theo. Lời ca đồng nghĩa với than khóc ở trong Pháp và Luật của Như Lai. Sự nhảy múa đồng nghĩa với điên loạn trong giáo pháp. Mình làm không khéo thì chính mình hủy hoại chánh pháp. Và hình ảnh người xuất gia sẽ mất đi giá trị tôn kính của Tam Bảo. Tam Bảo của mình đúng theo tinh thần là bốn đôi, tám bậc Hiền Thánh Tăng. Là những vị hướng Dự lưu, Dự lưu, nhị Quả, tam Quả, tứ Quả,… là những vị trực hạnh, chân chánh hạnh, diệu hạnh. Những bậc này đáng chắp tay, đáng cung kính, đáng tôn trọng, đáng cúng dường, đáng đảnh lễ, ruộng phước vô thượng ở đời. Một vị Tăng đúng theo tinh thần của Đức Phật là cao quý lắm, là bậc Thầy. Mình đâu thể hát cho người ta mua vui. Những lời hát đó đương nhiên là phạm giới, làm sao mà thân, miệng, ý thanh tịnh được.
Cho nên cái này mình phải cẩn thận, không khéo một người làm sai mấy người kia không biết làm theo, từ cái sai này dẫn tới cái sai khác. Cuối cùng giới luật sụp đổ, giới pháp của đạo Phật bị mai một. Thành ra mình phải giữ gìn thân, miệng, ý rất cẩn thận. Mình nói ra lời gì mình xem cái lời đó có phù hợp chánh pháp hay không. Lời nói này phát xuất từ cái tâm từ mẫn, hay là mình nói ra vì tâm tham ái, hay là mình nói ra vì tâm sân hận, hay là mình nói ra trong trạng thái không sáng tỏ tức là trong trạng thái si. Thì những cái đó mình phải tỉnh giác và chánh niệm trong khi nói, trong khi làm và trong khi suy nghĩ. Mình gạn lọc nội tâm của mình từ từ thì ba nghiệp mới thanh tịnh. Mấy huynh đệ thấy chữ ba nghiệp thanh tịnh nó đơn giản nhưng cả cuộc đời mình làm chưa xong. Phải có sự gạn lọc, sự nhìn lại, sự hổ thẹn, sự tàm quý, sự chuyển hóa, tịnh hóa làm cho nó sạch từ từ. Chứ không phải sáng chiều hai thời thì xong, không phải tinh thần tu như vậy. Đúng theo tinh thần Đức Phật cái tu nó sâu sắc, nó tinh cần tinh tấn, liên tục không gián đoạn.
Cho nên cái pháp sanh mạng thanh tịnh này quan trọng lắm. Một người xuất gia mình mà đi kinh doanh thì sai rất nặng. Mình tính lời tính lỗ thì làm sao mình ngồi thiền. Bao nhiêu những chương trình liên tục thì mình không có thời gian mình tịnh chỉ nội tâm, không có thời gian nội quán, soi rọi nhìn lại. Mình soi người ta để thấy phiền não, mình soi mình thì mình thấy hổ thẹn và mình lo điều chỉnh nội tâm của mình. Cho nên đời sống người xuất gia mình là đời sống cao thượng. Ngày xưa thời Đức Phật các Thầy ôm bình bát cho đến bây giờ các nước Miến Điện hay Thái Lan hàng trăm vị đi khất thực. Mình bây giờ không khất thực, mình được sự cúng dường. Có những bài kinh Đức Phật nói rất xúc động “Này các Thầy Tỳ-kheo, các ông có biết rằng con người thông thường kêu rằng “Mi là đồ ăn xin. Mi là khất sĩ.” thì nó nặng như thế nào hay không?” Mình là người xuất gia, mình từ cái chỗ cao mình hạ xuống chỗ thấp nhất của xã hội, là một người ăn xin. Khi mình ngồi trên quả đường mình luôn luôn nhớ mình là người ăn xin, mình xem lại cái giới hạnh, đức hạnh, thiền định, trí tuệ, cái sự tu tập của mình đến mức độ nào để mình ngồi nhận sự quỳ lạy của mọi người lớn tuổi hơn mình. Mình nhận cái đó mà mình có sự quán chiếu thì mới có thể tiêu hóa được, còn không thì tín thí nan tiêu, tán tâm tạp thoại. Những cái này nhắc nhở mình rất hay, để mình nội quán. Nếu mình có nội quán thì cái sự thọ dụng này nó sẽ đem lại lợi ích. Cái sự tiếp nhận những phẩm vật này nó đem lại kết quả, thành tích của sự tu tập chứ không phải sự thọ dụng trống rỗng, vô nghĩa vô ích cho người tín thí cúng dường. Cho nên chỗ này là chánh mạng mình cần suy nghĩ sâu sắc trong đời sống hằng ngày của mình.
- “Này các Tỳ-kheo, thế nào là công việc đáng phải làm hơn nữa? “Chúng ta phải hộ trì các căn””
Không thể quên sự hộ trì. Tại sao mình đi ra đường mình phải đội mũ bảo hiểm? Tại sao mình lên xe hơi mình phải thắt dây an toàn? Tại sao mình phải mang giày, mang dép? Tại sao đi ra nắng phải mang mắt kính mát? Tại sao ở xứ lạnh mình phải khoác áo ấm? Tại sao mình không ở ngoài trời mà mình xây nhà mình ở? Tất cả những cái đó là bảo hiểm, bảo vệ, bảo dưỡng cái thân này. Mà cái thân này mình biết bảo hiểm, bảo vệ, bảo dưỡng mà cái tâm này mình quên bảo hiểm, bảo vệ, bảo dưỡng. Chính vì mình không hộ trì tâm, không phòng hộ các căn cho nên các căn của mình nó rong ruổi, gọi là tâm hoang vu. Tâm hoang vu trong Kinh Pháp Cú Đức Phật nói không hình, không tướng mà đi rất xa, trên trời dưới biển, mọi nơi, mình không kéo lại được. Ngồi đó trang nghiêm thẳng lưng nhưng lại nhớ chuyện khác.
Cho nên cái tâm mà được tu tập thì tâm đó mới nhu nhuyến, mềm mại, dễ sử dụng, định tĩnh, vững chắc, chói sáng. Còn cái tâm mà không tu tập là cái tâm hoang vu, cái tâm rong ruổi. Muốn được cái tâm tu tập thì phải hộ trì các căn. Trì là giữ, hộ là mình phải phòng hộ, ngăn chặn, bảo vệ, giữ gìn nó.
“Khi mắt thấy sắc, không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì khiến con mắt không được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các ác, bất thiện pháp khởi lên, chúng ta sẽ tự chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì con mắt, thực hành sự hộ trì con mắt.”
Ví dụ: Các huynh đệ nhìn lên lẵng hoa này, nhìn tổng quát như vậy gọi là tướng chung, mình nhìn chi tiết từng cái cánh, từng cái nhụy bên trong, mình xem từng đóa lớn đóa nhỏ, màu sắc của nó, những cái nhỏ nhiệm đó gọi là tướng riêng.
“Không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng.” là mình biết rằng đây chính là sắc uẩn, đây là đất, nước, gió, lửa, là tứ đại hình thành. Thấy rõ được sắc là do tứ đại và sắc là do tứ đại hợp thành chứ không phải là gì khác. Tất cả từ cái nhà tranh cho đến tòa nhà cao nhất thành phố bảy, tám mươi tầng thì nó đều là sắc uẩn, không hơn không kém. Nếu mình nhìn thấy bản chất tạo thành các hình tướng đó đều là sắc uẩn, đều là tứ đại thì cái tâm phân biệt của mình đối với các sắc nó giảm bớt. Nếu mình nhìn chỉ thấy cái này đẹp, cái này xấu thì cái nhìn đó là cái nhìn của vô văn phàm phu, không khác gì người không tu. Mình là người xuất gia mà mình nhìn cái nào cũng ra cái đó thì mình với người không tu giống như nhau, không có gì khác.
Cho nên thế nào là sự đặc thù, thế nào là sự khác biệt của Đa văn Thánh đệ tử và vô văn phàm phu? Vô văn phàm phu là kẻ không được học, không được nghe chánh pháp, không biết rằng tất cả sắc uẩn này là do tứ đại kết hợp. Còn Thánh đệ tử là được học, được nghe nhiều chánh pháp và biết rằng tất cả sắc uẩn đều thuộc tứ đại vô thường, sẽ bị đổi thay, bị biến hoại, nhất định sẽ hoại diệt. Nhìn thấy được bản chất của tứ đại như vậy mình sẽ không chạy theo, không phân biệt tướng chung, tướng riêng. Đó là cái nhìn của Đa văn Thánh đệ tử. Đó là sự khác biệt, sự đặc thù của người tu và người không tu. Các huynh đệ nhớ rằng mình chưa nhập Thánh nhưng mà mình không còn là phàm nữa tại vì mình đang đi trên con đường của bậc Thánh đệ tử. Thì cái nhìn của mình không thể giống như của người bình thường được. Mình đi ra đường người ta nhìn mình không bình thường, đâu ai mặc đồ màu này, đâu ai dám cạo đầu, đâu ai tuổi nhỏ mà được những người lớn tuổi xá, lạy. Đây là bất bình thường, là phi thường. Mình phải có cái nhìn, cái suy nghĩ khác thường. Đó là sự tu tập của người xuất gia.
Bây giờ mình nhìn một con người, tiếp xúc với người đó mình nhìn thấy đẹp, là nhìn chung. Bắt đầu mình nhìn từ cái lỗ mũi, con mắt, cái miệng, cười ra cái hàm răng. Cái nhìn đó là cái nhìn đưa đến dục và tham, đưa đến ái và luyến. Cái nhìn đó là cái nhìn không có hộ trì căn. Cái nhìn đó là cái nhìn không có sự tu tập, nhiếp phục. Như vậy là mình thiếu sự tu tập hộ trì căn rất trầm trọng. Mình cứ hỏi sao tu hoài không thấy kết quả. Mình phải tu tập đúng chánh đạo thì mới có Thánh quả. Thánh đạo mình không chịu tu thì làm sao có Thánh quả. Đây là con đường Thánh đạo, con đường mà Đức Thế Tôn đã đi, mình đi theo con đường đó là mình có kết quả như Đức Thế Tôn. Mình không đi con đường đó, mình chỉ niệm một câu Phật cho khỏe. Đâu có chuyện tu mà đơn giản như vậy.
“Khi tai nghe tiếng… mũi ngửi hương… lưỡi nếm vị… thân cảm xúc… ý nhận thức các pháp, không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì khiến ý căn không được chế ngự, khiến tham ái, ưu, bi, các ác, bất thiện pháp khởi lên, chúng ta sẽ tự chế ngự nguyên nhân ấy.”
Khi nãy mình nói mình nhớ người đó đẹp từ cái dáng vẻ, vóc hình cho đến cái chi tiết thì cái đó mình phải chế ngự. Mình dùng quán 32 thể trược, quán một đống bầy nhầy, lòi ruột, văng não ra khi bị xe tải cán. Cái thân đó là như vậy, dòi ăn còn bộ xương, lòi ra da bọc thịt, thịt bọc gân, gân bọc xương, xương bọc tủy. Đây là tấm thân này. Thân này làm bằng xương, quét tô bằng thịt máu. Già và bệnh, ở trong đó ngã mạn và lừa đảo chất chứa. Mình phải quán cho sâu. Khung nó là cái xương, giống như cái nhà có các cây cột, quét tô bên ngoài là thịt là máu, phủ bằng lớp da. Rạch một đường, mỡ tràn ra, thịt tràn ra, phèo, phổi, tim lòi ra ngoài, bao nhiêu ruột non, ruột già kéo dài ra. Quán chiếu như vậy để triệt, diệt tận, từ bỏ, nhiếp phục cái dục tham. Đó là con đường của bậc Chánh đẳng giác. Phải quán chiếu như vậy để trị tận gốc. Không tu thì thôi mà tu là phải chứng quả.
Cái sự tu tập của mình rất là hay. Mình chưa chịu để tâm nhiều vào để mình hành trì, để mình cố gắng nỗ lực. Nếu mà mình chịu thực hành thì nó có kết quả rất rõ. “Pháp của ta là khéo thuyết, thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người có trí chứng hiểu”.
- “Này các Tỳ-kheo, thế nào là các công việc đáng phải làm hơn nữa? “Chúng ta phải biết tiết độ trong ăn uống, với chánh tư duy, chúng ta thọ thực, không phải để vui đùa, không phải để đam mê, không phải để trang sức, không phải để tự làm đẹp mình, mà chỉ để thân này được sống lâu và được bảo dưỡng, để thân này khỏi bị thương hại, để hỗ trợ phạm hạnh, nghĩ rằng: như vậy chúng ta diệt trừ các cảm thọ cũ và không cho khởi lên cảm thọ mới, và chúng ta sẽ không có lỗi lầm, sống được an ổn.””
Cái này mình phải học thuộc lòng trong khi mình thọ thực. Chúng ta nhớ lại hình ảnh Đức Thế Tôn lúc còn tại thế rất là đẹp. Một ngày ăn một bữa, ngủ dưới gốc cây. Bây giờ mình không thể làm được những điều đó thì mình đọc lại hay mình xem phim, mình nhìn những hình ảnh đó thì mình thấy hổ thẹn. Có những người không ăn chiều rất tốt, có những người bị bệnh không ăn không được. Mình ăn thì mình phải có tâm hổ thẹn. Ngoài những giờ chính thì những giờ phụ mình tuyệt đối không ăn. Có nhiều người chiều không ăn mà trưa ăn một bát to. Mình thấy những trường hợp đó mình phải khéo, mình biết ý nghĩa của nó. Mình phải chánh tư duy, mình như lý tác ý. Cái này quan trọng vô cùng. Mình đừng nghĩ mình tu thiền là mình ngồi im không suy nghĩ, cái đó là không phải. Đạo Phật là chánh kiến, là chánh tư duy. Nếu mà mình không thấy đúng thì mình suy nghĩ không đúng. Cái suy nghĩ mình đúng nó mới hướng mình về cái chánh định.
Cho nên chánh tư duy là mình thọ thực không phải để vui đùa, không phải đam mê, không phải trang sức làm đẹp, không phải ăn để cho vui, cho ngon, cho thỏa thích miệng lưỡi. Ăn món này đẹp da, uống nước này tốt, món này bổ thận,… Những cái đó là vô văn phàm phu. Ngay cái suy nghĩ đó, cái lời nói đó nó không phát xuất từ chánh tư duy, nó không có hộ trì căn. Không phải để vui đùa, không phải đam mê, không phải trang sức làm đẹp mà để cái thân này được sống lâu. Bảo dưỡng để thân này khỏi bị thương hại, để hỗ trợ phạm hạnh. Phạm hạnh là cái hạnh thanh tịnh. Ăn cái này để mình thành tựu cứu cánh phạm hạnh. Có hai mức để chúng ta hiểu phạm hạnh: là giới hạnh thanh tịnh và phạm hạnh là thành tựu bát chánh đạo, thành tựu Thánh quả. Mình ăn là để làm cái này chứ không phải ăn để vui, để ham thích.
Cảm thọ cũ là cơn đói bụng. Nếu mình không ăn thì mình đói bụng. Mình diệt trừ cái cảm thọ cũ là mình ăn để hết đói. Không cho các cảm thọ mới khởi lên là không để cho sự tham ái dính mắc trong món ăn. Chỗ này là chỗ rất sâu sắc, trong khi mình thọ trai mình quán chiếu. Lúc đồ ăn ngon thì tham ái dính mắc trong đó. Mình phải quán chiếu món này, món kia qua khỏi cổ nó vào trong thì nó thành món gì. Mười món mà vào chung một chỗ, nó tổng hợp lại thành cái gì. Khi ăn thì nói cười bao nhiêu người vui vẻ, còn lúc nó bài tiết, nó đào thải thì ở trong sự lặng lẽ và cô đơn. Lúc nó bài tiết ra thì mình bịt mũi lại. Mình quán chiếu như vậy thì tâm tham về cái món ăn này được giảm bớt, được trừ diệt. Mình tu tập về trí huệ thì cái gì mình cũng phải quán chiếu chứ không được cho qua. Tại vì sao? Khi mình dính mắc món ăn thì sẽ đưa đến khổ. Cho nên cái Pháp của Đức Phật là ly tham, là Pháp tối thượng trong tất cả các pháp. Quy y Phật tức là ly dục tôn, cái Pháp ly dục là pháp tôn quý nhất của Tam thiên Đại thiên thế giới. Ly dục bằng cái trí huệ chánh tri kiến để thấy rõ nó, để mình lìa. Còn cái ly dục của phàm phu, của người không có thành tựu chánh tri kiến là do kiềm chế, gượng ép, miễn cưỡng. Còn cái ly dục của Phật giáo là bằng cái chánh tri kiến nhìn thấy rõ bản chất của nó là vô thường, khổ, vô ngã rồi mới ly dục. Ngay cái chỗ ăn cơm mình tu tập rất hay, không có lỗi lầm, sống yên ổn.
- “Này các Tỳ-kheo, thế nào là các công việc đáng phải làm hơn nữa? “Chúng ta phải chú tâm cảnh giác. Ban ngày đi kinh hành hay trong lúc ngồi, chúng ta phải tẩy sạch tâm tư khỏi các pháp chướng ngại. Ban đêm canh một đi kinh hành hay trong lúc ngồi, chúng ta phải tẩy sạch tâm tư khỏi các pháp chướng ngại. Ban đêm canh giữa, chúng ta phải nằm dáng nằm con sư tử, nghiêng bên hông tay phải, một chân đặt trên chân kia, chánh niệm tỉnh giác, tâm nghĩ đến lúc thức dậy lại. Ban đêm canh đầu thức dậy, đi kinh hành hay trong lúc ngồi, chúng ta phải tẩy sạch tâm tư khỏi các pháp chướng ngại.”
Trong lúc đi, đứng, ngồi, nằm, bất cứ lúc nào mình nhìn tâm tư có tham sanh khởi phải tẩy. Có sân sanh khởi dùng từ tâm chuyển hóa. Có si sanh khởi dùng sự tinh tấn, tinh cần, dõng mãnh giới diệt nó. Bất cứ lúc nào mình nhìn thấy bất thiện pháp sanh khởi thì mình phải tẩy nó.
Ở trong đây Đức Phật ví dụ Năm Pháp triền cái rất hay. Triền cái là trói cột và che đậy, đó là Pháp chướng ngại. Nếu mà mình không trị năm cái này, không vượt qua năm cái này, không chinh phục năm cái này thì mình không nếm được hương vị của đời sống xuất gia, không nếm được hương vị của viễn ly, của tâm thiền thanh tịnh. Năm triền cái là dục tham, sân, hôn trầm, trạo hối và hoài nghi. Năm cái này Đức Phật ví dụ giống như món nợ, giống như bệnh hoạn, giống như ngục tù, giống như cảnh nô lệ, giống như con đường qua sa mạc. Nếu trong tâm mình còn tham thì giống như mình đang bị mắc nợ, mình chưa trả nợ xong, tâm mình sẽ không an. Sự tức giận, sân hận còn trong tâm mình, mình chưa nhiếp phục được thì nó giống như người bệnh hoạn, cái mầm bệnh, vi khuẩn bệnh còn ở trong thân của mình nếu mình chưa nhiếp phục được nó. Sự hôn trầm thụy miên mà mình chưa diệt được thì giống như ngục tù. Hôn trầm là lờ đờ, chỗ nào ngồi cũng muốn ngủ, bất cứ chỗ nào con mắt nhìn cũng muốn sụp xuống, đó là đang bị ngục tù. Sự trạo hối là lao xao, lóc chóc, lăng xăng, không có yên thì đó là cảnh nô lệ. Người này đang bị cảnh nô lệ với sự lăng xăng, trạo cử. Không nhiếp phục được thì táy máy tay chân, muốn làm cái này cái kia. Đó là trạng thái của trạo cử, là cảnh nô lệ. Nghi giống như con đường qua sa mạc, nó mênh mông, không biết đường nào đi. Tu học bao nhiêu năm bây giờ nghi không biết đi Pháp nào.
Năm cái ví dụ này tuyệt vời lắm. Mình phải trị được năm triền cái này thì mình tẩy được các chướng ngại pháp trong nội tâm của mình.
- “Này các Tỳ-kheo, thế nào là các công việc đáng phải làm hơn nữa? “Chúng ta phải chánh niệm tỉnh giác, khi đi tới, khi đi lui đều tỉnh giác; khi nhìn thẳng, khi nhìn quanh đều tỉnh giác; khi co tay, khi duỗi tay đều tỉnh giác; khi mang y kép, bình bát, thượng y đều tỉnh giác; khi ăn uống, nhai, nuốt đều tỉnh giác; khi đi đại tiện, tiểu tiện đều tỉnh giác; khi đi đứng, nằm, thức, nói, yên lặng đều tỉnh giác.”
Chỗ này mà các huynh đệ làm được thì cái dung nghi đĩnh đạc, oai nghi chánh hạnh của một người xuất gia nó biểu lộ ra cái đức tướng của xuất trần thượng sĩ. Thực tập được cái này rồi sẽ thấy mỗi một bước chân của mình đi, mỗi sự cúi, ngước, co, duỗi của mình đều ở trong oai nghi, chánh hạnh, ở trong cái chánh niệm tỉnh thức của bậc trí huệ.
Cho nên đây là những pháp tác thành Sa môn hạnh. Không phải đọc một, hai lần mà mình phải đọc một trăm lần, một ngàn lần. Đọc và nhớ những điều quan trọng trong đây rồi mình thực tập cho đến khi nào được là các huynh đệ thành tựu.
Minh Thành chia sẻ với các huynh đệ những phần căn bản. Hôm nay được sự chỉ dạy của Hòa Thượng Tôn Sư, Minh Thành gặp các huynh đệ trong buổi chia sẻ cuối cùng của mùa An cư kiết hạ 2018 với một tinh thần kiến hòa đồng giải, mình nghĩ rằng mình là huynh đệ, anh em, gọi là Linh Sơn cốt nhục, quyến thuộc Bồ đề. Trong sự tu học mình cùng nhau chia sẻ để cố gắng cùng chung với nhau trong phước đường tự lợi, lợi tha để thành tựu đời sống phạm hạnh cũng như là hoàn thành được hạnh Sa môn, tác thành những cái Pháp của một người tu. Kính chúc các huynh đệ sau khóa An cư kiết hạ này thành tựu được tăng thượng giới học, tăng thượng định học, tăng thượng tuệ học và ngưỡng nguyện mười phương Tam Bảo gia hộ cho Hòa Thượng Tôn Sư trí huệ quang minh như nhật nguyệt, từ bi vô lượng độ chúng sanh.