Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Tóm Tắt Ngũ Uẩn Giảng Giải 3

2026-03-03 00:54:18
Tinh Hoa Nikāya

Tóm Tắt Ngũ Uẩn Giảng Giải (3)

Thích Minh Thành

Ngày 03 tháng 10 năm 2022

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Trình Pháp PAGEREF _Toc118468695 \h 1

II. Chia sẻ pháp hành PAGEREF _Toc118468696 \h 3

III. Sắc uẩn PAGEREF _Toc118468697 \h 4

IV. Nhận diện ngũ uẩn PAGEREF _Toc118468698 \h 10

V. Chánh Tư Duy PAGEREF _Toc118468699 \h 16

I. Trình Pháp

Hiện tại bây giờ hoặc là trong suốt một tuần lễ qua, sắc, thọ, tưởng, hành, thức của mình vận hành như thế nào? Đặc biệt là cảm thọ, suy nghĩ, những cái tưởng mình có nhìn nhận không ạ? Có ai xung phong lên làm bài tập không ạ? Cái này rất quan trọng. Nếu cái này mình không có nắm vững, thì là sau này mình vô trong những bài kinh là mình sẽ không hiểu được. Bây giờ trước khi làm bài tập chúng ta trả bài đi, cả lớp cùng đọc về định nghĩa của ngũ uẩn.

“Thân người là sắc

Cảm nhận là thọ

Hình bóng là tưởng

Suy nghĩ là hành

Rõ biết là thức”

(Tự cho mình một tràng pháo tay)

Rồi bây giờ có mấy cảm thọ? Thứ nhất là lạc thọ, thứ hai là khổ thọ, thứ ba là bất lạc bất khổ thọ. Bây giờ nói tiếng Việt là cảm giác dễ chịu, khó chịu và không dễ chịu không khó chịu. Trong cảm giác dễ chịu có cái gì? Trong cảm giác dễ chịu có tham, trong cảm giác khó chịu có sân, trong cảm giác không dễ chịu không khó chịu có si (đọc 3 lần). Tự cho mình một tràng pháo tay luôn, mình đã thuộc bài hết rồi, cái đó là lý thuyết, bây giờ tới thực tập, thực hành. Đặc biệt môn chúng ta là môn pháp hành Nikāya, là chúng ta phải thực hành. Thì có ai xung phong nhận diện ngũ uẩn trong suốt một tuần lễ vừa qua, trong lúc mà từ khi mình ở chùa mình qua tới bên lớp học, hoặc là ngay tại chỗ ngồi, nãy giờ ngũ uẩn đang như thế nào? Hoặc là mình nhận diện ngũ uẩn trong lúc mình đang giận, đang khó chịu, trong lúc mình đang dễ chịu, đang tham muốn cái gì đó.

“Sao không ai xung phong hết ta?” Cái này rất là thiết thực, rất là cái cần thiết. “Chúng ta có muốn là thiếu nợ không ạ?” Có mấy người gật đầu, còn mấy người kia im ru. Chắc có lẽ là mới học cho nên mình còn ngại phải không? Cái này rất quan trọng, rất là rõ ràng, rất là thực tế, chỉ là những cảm giác, nghĩ tưởng của mình thôi có cái gì mà khó đâu. Trong bài học lần trước chúng ta có muốn hỏi gì không? Còn cái gì mà chưa rõ không? Những câu hỏi lần trước là Minh Thành cho chúng ta về nhà chiêm nghiệm đó, chúng ta có chiêm nghiệm ra chưa? Tham thì mình dùng cái gì trị? Sân dùng cái gì trị? Rồi si thì dùng cái gì trị? Có nghe bài “Thánh trí tham, sân, si” chưa? Có ai trả lời câu hỏi đó? Chúng ta tu là để trị tham, sân, si, diệt tham, sân, si, thành ra chúng ta phải biết, còn không biết là thất bại lớn. “Có sư cô giơ tay, xin mời sư cô” 

Phật tử 1:

“- Dạ Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Lời đầu tiên cho con gửi lời tri ân, đảnh lễ với thầy đức thọ sư. Dạ Nam Mô A Di Đà Phật. Kính thưa giáo sư và toàn thể đại chúng, con xin trả lời câu hỏi hôm trước. Dạ để mà đối trị tham dục, thì mình dùng pháp quán bất tịnh tướng và như lý tác ý. Để dùng để đối trị với sân, là dùng phương pháp từ tâm giải thoát. Và để đối trị với si, thì mình áp dụng với phương pháp tinh tấn, tứ chánh cần và như lý tác ý ạ. Dạ A Di Đà Phật, con xin hết.

- Thầy: (Cô đọc lại lần nữa lớn lên để cho đại chúng nghe) Tất cả những phương pháp đó cộng với trí tuệ nữa. Xin cho một tràng pháo tay lớn. Cô có nghe Thánh trí về tham, sân, si không ạ?

- Dạ con tính không có nói, nhưng mà nhân duyên giáo thọ hỏi nên con xin được phép được trình bày, đó là lý do mà con gửi lời tri ân sâu sắc đến với giáo thọ. Con được nghe những bài giảng của giáo thọ từ mùa hạ năm 2018 con đã bắt đầu áp dụng nó từ thời điểm đó cho đến bây giờ. Cho nên buổi học đầu tiên của tuần trước, khi mà lần đầu tiên con đến với lớp học và ngay buổi đó con gặp giáo thọ tại lớp này, thì con rất là xúc động. Con cảm thấy tất cả nhân duyên như là đến một cách bất ngờ, dạ A Di Đà Phật”.

II. Chia sẻ pháp hành

Phần tham dục chúng ta sẽ dùng quán bất tịnh để đối trị; còn sân hận là chúng ta dùng quán từ tâm giải thoát; si mê là chúng ta dùng cái quán ánh sáng, tinh cần, tinh tấn, trí tuệ để trị. Thì đây là những cái trí tuệ khái quát của buổi học ngày đầu tiên thôi, sau này chúng ta sẽ đi sâu vào các phương pháp. Cái si là chúng ta dùng quán ánh sáng, tinh cần, tinh tấn và trí tuệ để trị? Thì những cái đó như thế nào thì lần lần chúng ta đi sâu vào chúng ta mới được học, và mới thực tập được. Chúng ta nghe thì nó đơn giản như vậy, nhưng đi sâu thì nó không đơn giản. Quán bất tịnh như thế nào? Rất là nhiều phương pháp, chúng ta sẽ được thực tập ngay tại chỗ trong lớp, và có những lúc về chúng ta sẽ được lên Linh Quy Pháp Ấn để thực tập. Chứ không phải nói chung chung, quán bất tịnh là nói đơn sơ là quán cái thân này không sạch sẽ.

Quán bất tịnh sau này chúng ta sẽ học về Tứ Niệm Xứ, trong cái bất tịnh đó thì đầu tiên quán về “Tứ đại”, kế đó quán về “32 thể trượt”, sau đó là quán “Chín giai đoạn phân hủy của một tử thi”, nó có một cái trình tự. Những bài này Minh Thành đã có thực hành thiền quán để trên trang linhquyphapan.vn, chúng ta về chúng ta tìm hiểu thêm. Mỗi một chủ đề như vậy, đều có bài giảng và có một bài thực hành Thiền Quán. Thiền Quán về bản chất tứ đại, thiền quán về 32 thể trượt và thiền quán về chín giai đoạn của một tử thi, quá trình phân hủy của một xác chết, nó trãi qua tiến trình gồm những bước nào. Các nhân duyên sanh diệt của thân thể này gồm có cái gì? Tại sao nó được sinh ra và khi nó chấm dứt thì nó sẽ chấm dứt như thế nào? Thì sau này được học từ lý thuyết cho đến thực hành.

Quán tâm từ cũng vậy, chúng ta sẽ được học lý thuyết và thực hành. Chúng ta sẽ được ngồi tại lớp này, để trải từ lượng tâm khắp mười phương. Chúng ta sẽ được khơi gợi những cái cảm thọ, cảm xúc, cảm giác của tâm thương rộng lớn. Còn quán về trí tuệ như thế nào? Chúng ta sẽ học về những pháp duyên sanh ở trong cái quyển “Tóm tắt ngũ uẩn”, duyên sanh pháp, chúng ta đang có trên tay. Hôm nay chúng ta sẽ bắt đầu đi vào cuốn “Tóm Tắt Ngũ Uẩn”.

III. Sắc uẩn

Chúng ta đi vào trang thứ 5, dẫn nhập: “Thế giới này là thế giới của ngũ uẩn, cuộc sống này là cuộc sống của ngũ uẩn. Do không thấy, biết rõ về ngũ uẩn, nên tâm bị ngũ uẩn chi phối và dẫn dắt. Tạo ra những thế giới với những đời sống vô thường, bấp bênh và đầy rẫy bất an. Thân tâm này được gọi là thân tâm của ngũ uẩn.

Phần thân thì thuộc về sắc uẩn, phần tâm mà chúng sanh thường hay tự xưng: “Là tâm mình đó”, chính là thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn và thức uẩn. Thân năm uẩn này có mặt là do tâm vô minh, tâm hôn mê, tâm không nhìn thấy rõ ngũ uẩn đang có mặt, đang vận hành và đang chi phối như thế nào trong tâm. Do không nhìn thấy trọn vẹn về ngũ uẩn, nên tâm thèm khát về ngũ uẩn. Khi ngũ uẩn này bị hoại diệt, thì đi tìm những thân ngũ uẩn mới. Sự sống của các thân ngũ uẩn này là sự sống của tham, sân, si. Và khi tham, sân, si có mặt thì những thân ngũ uẩn vô thường này sẽ có mặt. Khi tham, sân, si được đoạn diệt, thì những thân ngũ uẩn này cũng sẽ được chấm dứt. Vì sao nói rằng cuộc sống này, đời sống này, sự sống này là sự sống của ngũ uẩn, của tham, sân, si?”

Trước nhất chúng ta tìm hiểu đôi nét về ngũ uẩn, thì cái phần này chúng ta đã tìm hiểu hôm trước rồi. Định nghĩa chữ uẩn trong tạng kinh Nikāya, trong kinh “Trăng Rằm”, Tương Ưng Bộ tập 3: “Phàm sắc gì, này Tỷ-kheo, thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc nội hay ngoại, hoặc thô hay tế, hoặc liệt hay thắng, hoặc xa hay gần; đây gọi là sắc uẩn. Phàm thọ gì... Phàm tưởng gì... Phàm các hành gì... Phàm thức gì thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc nội hay ngoại, hoặc thô hay tế, hoặc liệt hay thắng, hoặc xa hay gần; đây gọi là thức uẩn. Dưới hình thức như vậy, này Tỷ-kheo, có định nghĩa về uẩn của các uẩn”.

(Tương Ưng Bộ kinh III – kinh Trăng Rằm)

Đầu tiên giải thích: “sắc với thân tứ đại này, và cảnh vật bên ngoài tứ đại tạo thành”. Những câu này thật sự là không phải đơn giản để mà mình hiểu, nếu chúng ta không giải thích ra thì chúng ta đọc như vậy là không hiểu nổi đâu, rất là sâu sắc. Thì khi ngũ uẩn này là toàn bộ cái lõi của tạng kinh Nikāya, cũng là cái cấu tạo nên nhân sinh, vũ trụ, thân tâm và thế giới, là nó nằm trong ngũ uẩn hết. Và bây giờ chúng ta giải thích từ ngữ theo kinh “Trăng Rằm”: “Phàm sắc gì thuộc về quá khứ, vị lai, hiện tại, nội ngoại, thô tế, thắng liệt, xa gần, thì nó được gọi là sắc uẩn”. Thì chúng ta đọc lại cái định nghĩa: “Sắc và thân tứ đại này và cảnh vật bên ngoài của tứ đại tạo thành”. Chúng ta lật vào trang 25, sách “Tóm Tắt Ngũ Uẩn” (chúng ta thấy chưa?)

“- Thân người, cảnh vật, đồ vật tứ đại là Sắc.

- Cảm giác dễ chịu, cảm giác khó chịu, cảm giác không dễ chịu, không khó chịu là Thọ.

- Bóng dáng thô tế trong tâm là Tưởng

- Suy nghĩ nói thầm trong tâm là Hành

- Rõ biết trong ngoài sáu trần là Thức.”

Chúng ta học thuộc lòng những cái định nghĩa số 2 này, chúng ta làm dấu, đọc thuộc hay là tô màu cái chỗ đó, phải học thuộc lòng.

Hồi nãy chúng ta trả bài là định nghĩa số 1, là đơn giản nhất. Bây giờ qua định nghĩa này là định nghĩa số 2, bắt đầu mở rộng ra một chút. Hồi nãy chúng ta định nghĩa: “Thân người là sắc”, thì mở rộng ra thêm: “Cảnh vật, đồ vật tứ đại là sắc”. Hồi nãy chúng ta định nghĩa: “Cảm giác là thọ”, thì bây giờ: “Cảm giác dễ chịu, cảm giác khó chịu, cảm giác không dễ chịu không khó chịu là thọ”, định nghĩa bắt đầu mở rộng ra. Hồi nãy chúng ta định nghĩa: “Hình bóng là tưởng”, thì bây giờ định nghĩa: “Bóng dáng thô tế trong tâm là tưởng”. Hồi nãy chúng ta định nghĩa: “Suy nghĩ là hành”, bây giờ: “Suy nghĩ nói thầm trong tâm là hành”. “Rõ biết là thức”, còn ở đây: “Rõ biết trong ngoài sáu trần là thức”. Đó chúng ta thấy khác chưa?

Tuy nó thêm mấy chữ, nhưng mà cái phạm trù của nó bắt đầu mở rộng ra. Cho nên chúng ta lần sau sẽ trả bài cái định nghĩa số 2 này, chúng ta cứ nâng cấp lên hoài như vậy đó. Và từ đây cho chúng ta tới khi nào học xong, thì cũng là học Thánh trí về ngũ uẩn à, từ thô đến tế, cạn đến sâu thôi. Trở lại trang số 6, định nghĩa chữ “uẩn”, ở đây là nhóm họp, tập hợp, tích tụ, kích tập. Cho nên sắc uẩn tức là nhóm thuộc về sắc, nhưng mà cái chữ “sắc” trong kinh “Trăng Rằm” nó rộng lắm, “sắc về thuộc quá khứ, hiện tại, vị lai, nội ngoại, thô tế, thắng liệt, xa gần”. Bây giờ chúng ta nhớ lại thử coi, như là hồi lúc trước mình có đi Cà Mau, Đà Lạt hay là Hà Nội, thì mình nhìn thấy núi Yên Tử, thì núi Yên Tử đó là gì? “Là sắc”, nói cụ thể nó là tứ đại mới đủ, chứ địa đại không là không đủ, tại trong đó có đầy đủ đất, nước, gió, lửa.

Rồi bây giờ cái phòng chúng ta ngồi đây nè, thì cái phòng này là cái gì? Là sắc uẩn, sắc pháp. Mà cái sắc này là do tứ đại tạo thành, cho nên cái định nghĩa mà đầy đủ hơn sau này chúng ta học: “Sắc là tứ đại và sắc do tứ đại tạo thành”, về sau này chúng ta học “Bảy trí về sắc” thì sẽ là như vậy. Bây giờ chúng ta thấy nguyên một cái biển, cả một đại dương như vậy, thì đó là uẩn gì? Thì nó vẫn là sắc uẩn đó, chứ cái gì mà còn ngờ ngợ nữa. Rồi bây giờ cái thân mình đang ngồi đây là gì ạ? “Sắc uẩn” chưa nói cái khác, mình đang học sắc uẩn mà. Vậy thì thân người, cảnh vật, đồ vật, tứ đại này đó là sắc uẩn. Và sự tập hợp, nhóm họp của các hình sắc, sắc tướng, sắc pháp, sắc thân, những cái này đều là do tứ đại tạo thành hết. Cho nên khi mà mình nhận diện được tứ đại này, là chúng ta đã có một trí tuệ đặc biệt rồi.

Bây giờ mình nhìn tất cả những cái vật ở đây, mình không có nhìn ở cái hình tướng, mà mình nhìn sâu vô đó là đất, nước, gió, lửa. Cái chuông này, cái ly nước này, cái bình hoa hay cái thân mình cũng làm bằng đất, nước, gió, lửa. Tất cả những cái này đều là sắc uẩn thôi, dù cho cái sắc đó là quá khứ, hiện tại, vị lai, ở xa, ở gần, là thô hay là tế, là đẹp hay là xấu, tất cả cái đó đều thuộc về cái nhóm của sắc không hơn không kém. Thí dụ bây giờ một cái chòi tranh với một cái tòa lâu đài, thì hai cái đó cũng là sắc uẩn, sắc pháp. Nếu mình nhìn bằng con mắt như vậy, thì cái tâm mình sẽ bớt phân biệt theo cái hình thức, hào nhoáng, sự lòe loẹt ở bên ngoài của sắc tướng.

Còn nếu mà mình nhìn cái nhà tranh là cái nhà tranh, cái lâu đài là cái lâu đài, mà mình không biết nó là đều là sắc uẩn, sắc pháp, sắc tướng, thì mình sẽ bị say đắm ở trong cái tòa lâu đài, và mình sẽ chán ghét ở trong cái nhà tranh. Tại vì mình không biết nó là đều là sắc hết, đó là sự khác biệt của bậc đa văn Thánh đệ tử và vô văn phàm phu. “Chúng ta có học chữ nho, có viết chữ Hán tự không ạ? Lúc trước mình có học chữ Hán không?” “Dạ có”. “Ai còn nhớ lên viết chữ đa văn Thánh đệ tử đi”. “Mới nói có mà kêu lên viết ngồi im ru hết trơn vậy?” “Đa văn Thánh đệ tử”, chữ Thánh ở đây là chỉ cho Đức Phật, ở trong Nikāya hay dùng chữ này để chỉ cho Đức Phật, chữ “đệ tử” là chỉ cho Thánh chúng. Đệ tử của Đức Phật là những bậc nghe nhiều về lời dạy Nikāya.

Chữ “đa văn” này là nghe nhiều, mà nghe nhiều không phải là nghe nhiều cái chuyện bình thường ngoài đời, mà là nghe nhiều ở trong kinh tạng Nikāya, thì gọi là “đa văn Thánh đệ tử”. Còn ở đây chữ “vô văn” là không có nghe, kẻ phàm phu là không có được làm bậc Thánh, không thấy được bậc Thánh, không nghe pháp của bậc Thánh, không tu tập pháp bậc Thánh, không thuần thục pháp bậc Thánh. Cho nên gọi là kẻ phàm phu, không có được nghe Nikāya, không có được nghe Chánh pháp, không có được nghe chân lý của bậc Thánh chứng Ngộ. Chúng ta biết từ này, để sau này đọc kinh Nikāya mình biết. Ta tóm lại, chữ “đa văn Thánh đệ tử”, là chỉ cho các bậc Thánh chúng và đệ tử của Đức Phật, mà được nghe nhiều những lời dạy trong kinh tạng Nikāya. Còn những kẻ phàm phu không được nghe những lời dạy, những sự thật đó, gọi là vô văn phàm phu.

Tại sao chúng ta nói cái này? Như hồi nãy chúng ta thấy, nếu mà một người không có học về ngũ uẩn, không có thực tập về ngũ uẩn, không có nhận diện được ngũ uẩn, không có quán chiếu về ngũ uẩn, thì người đó nhìn cái nào ra cái nấy à. “Ơi cái ghế này đẹp quá! Ôi cái bông sen này đẹp quá ha, cái màu này phối màu giống bông thật ghê. Ôi cái chuông này tiếng hay quá ha”. Tức là khi họ nhìn thì thấy cái nào ra cái nấy, là nhìn trong vô minh.  Nhìn trong vô minh tức là không thấy, không biết về bản chất của sắc uẩn. Là bị sự lòe loẹt của bề ngoài, sẽ bị cái “xanh xanh đỏ đỏ cho các em nhỏ nó mừng” đó, mà ông già cũng mê, chứ không phải là em nhỏ nó mừng không đâu.

Thì những kẻ vô văn phàm phu không biết được Thánh trí về ngũ uẩn, không nhận diện được sắc uẩn, không thấy không biết được bản chất của sắc là tứ đại, thì người đó bị sự lòe loẹt của thế giới này nó che mờ mắt, che mờ tâm. Và người này đầy giẫy những ham muốn, những dục vọng, những đòi hỏi, những thèm khác ở trong cái đống sắc uẩn, sắc pháp này. Say đắm ở trong sắc, say mê ở trong sắc, chìm ngập ở trong sắc, lún sâu trong đầm lầy của sắc. Là bị sắc sai khiến, trói cột, giam hãm, và suốt một cuộc đời chạy không ra khỏi cái chữ sắc này. Vô lượng, vô số, vô biên, vô tỉ kiếp cũng không đi ra khỏi một chữ sắc, chúng ta thấy khủng khiếp không? Mà chữ sắc này nó là bao trùm trời đất, thiên địa, vạn vật, vũ trụ. Chúng ta thấy nguyên trái đất của chúng ta làm bằng gì ạ? Là sắc uẩn, là tứ đại thôi.

Chúng ta ngồi một cục ở đây là làm bằng sắc quẩn, tứ đại. Rồi nhiều người ngồi đây làm bằng sắc uẩn, tứ đại. Và nguyên một ngọn núi như vậy, đỉnh everest là cũng làm bằng sắc uẩn, tứ đại. Rồi cả một địa cầu, hành tinh này cũng làm bằng sắc uẩn, tứ đại. Rồi một triệu hành tinh, tam thiên, đại thiên thế giới cũng làm bằng sắc uẩn, tứ đại. Chúng ta thấy khủng khiếp chưa? Một chữ “sắc” của Đức Phật bao trùm tam thiên, đại thiên thế giới, đó là sự chứng ngộ của Đức Phật. Thành ra mình học ngũ uẩn, mình tụng kinh, mình đọc cái chữ thôi chứ chưa có nhận diện được sắc uẩn là cái gì. Tưởng tượng vậy thôi, chứ khi chết xuống rồi: “Sắc là sắc, mình là mình”. Chúng ta học vô cái này rồi, chúng ta mới thấy sự chứng ngộ của Đức Phật là bất khả tư nghị, không thể tưởng tượng được, siêu việt Thánh pháp, độc nhất vô nhị trong vô lượng, vô số, vô biên, của trời đất, vũ trụ, vạn vật này, không có một người thứ hai.

Một chữ của Đức Phật thôi mà đây là sự chứng ngộ của bậc Chánh đẳng, Chánh giác. Đức Phật nói: “Này các Tỳ-kheo, ta không có tự tuyên bố rằng ta đạt được sự giác ngộ cứu cánh cùng cực, cho đến khi nào ta chưa thấu suốt trọn vẹn về sắc uẩn, ngũ uẩn. Ta chỉ tuyên bố ta thành tựu vô thượng Chánh đẳng, Chánh giác, khi nào ta thấu suốt trọn vẹn về sắc, thọ, tưởng, hành, thức, ngũ uẩn”. Cho nên sự tuyên bố về sắc uẩn, sắc pháp, ngũ uẩn của Đức Phật là sự chứng ngộ siêu việt, vĩ đại từ xưa cho đến nay chưa có một người thứ hai. Bởi vậy chúng ta đang học về Thánh trí huệ này, là học về sự chứng ngộ của bậc vô thượng Chánh đẳng, Chánh giác. Như vậy hàng ngày chúng ta nhìn, chúng ta nhìn bằng thấy biết của vô minh, phàm phu hay nhìn bằng thấy biết của bậc đa văn Thánh đệ tử? “Từ khi chúng ta xuất gia tới bây giờ nhìn bằng cái nào?” 

Chúng ta nhìn cái nào ra cái đó, bún riêu ra bún riêu, bánh canh là bánh canh, hủ tiếu là hủ tiếu, tàu hũ là tàu hũ, nấm rơm làm nấm rơm. Cho nên chúng ta không có nhìn tất cả những cái này đều là sắc uẩn, sắc pháp, là tứ đại, duyên sanh, vô thường. Khi chúng ta có một cái nhìn nhận diện được sắc uẩn, sắc pháp, sắc tướng, sắc chất, thì lúc đó chúng ta mới san bằng được những cái tâm hơn thua, cao thấp, đẹp xấu, lớn nhỏ. Như hồi nãy ví dụ cho chúng ta thấy đó, một cái chòi tranh với một cái biệt thự là sắc uẩn, sắc pháp thôi. Mà đối với đa văn Thánh đệ tử mới có được cái trí huệ đó. Là do các Ngài nghe, rồi các Ngài chiêm nghiệm, thiền quán, nhớ hoài như vậy và các Ngài nhìn thấy như vậy, thì cuối cùng trí huệ của các Ngài gọi là thể nhập Thánh tri kiến, tri kiến của bậc Thánh, là thấy biết của bậc Thánh.

Các Ngài nhìn cả thế giới, cả hành tinh, cả vũ trụ, tất cả mọi người này, thì các Ngài nhìn thấy tứ đại, sắc uẩn, không hơn không kém. Đất, nước, gió, lửa, vô thường, duyên sanh, tai họa, hủy hoại, hoại diệt, là các thứ lo lắng, sợ hãi, sầu, bi, khổ, ưu não, không hơn không kém. Chúng ta phải tập nhìn thấy, “một ngày chúng ta nhìn được mấy lần, mấy tiếng đồng hồ về cái thấy biết như vậy?” Chúng ta không thấy được như vậy là chúng ta sống trong vô minh, chúng ta thấy được như vậy là chúng ta sống trong trí tuệ của bậc Thánh. Cho nên: “Dù là sắc quá khứ, hiện tại, vị lai, nội ngoại, thắng liệt, thô tế, xa gần, tất cả cái đó. Này các Tỳ-kheo, cần phải hiểu đó là sắc uẩn” 

IV. Nhận diện ngũ uẩn

Thì bây giờ: “Phàm thọ gì? Là cái cảm thọ dễ chịu, khó chịu, hay không dễ chịu không khó chịu. Hay là cái cảm thọ này đó là lúc trước, bây giờ, sau này, là xa là gần, là thô hay là tế, nó là thắng hay là liệt (tức là hơn hay là kém), cảm thọ này từ ở bên trong con người mình phát ra, hay là từ bên ngoài nó đến. Tất cả những cảm giác, cảm xúc, cảm thọ đó đều thuộc về những cái nhóm thứ hai, là nhóm của cảm giác, cảm thọ”. Tất cả những hình bóng trong tâm, “hình bóng về quá khứ hồi xưa 7 tuổi, mười mấy tuổi, 20 tuổi, 5 năm, 7 năm hay 10 năm trước hình bóng mình ra làm sao?” Thì cái đó cũng thuộc về tưởng uẩn. Rồi mình tưởng sau này mình trở thành sư bà, mình trở thành sư ông, đại lão hòa thượng, thì tất cả những cái đó thuộc về tưởng uẩn hết. Dù là quá khứ, hiện tại, vị lai, tất cả những hình bóng trong tâm đều thuộc về tưởng.

Hình bóng của cô này, của cậu kia cũng thuộc về tưởng. Hình bóng mai mốt mình là một vị trụ trì của cái chùa thiệt bự, hay hình bóng mà mai mốt mình cất một cái chòi tranh, mình ở trên núi, tất cả những hình bóng đó đều thuộc về tưởng. Phải nhìn cho ra được tất cả cái đó đều thuộc về tưởng, tất cả hình bóng trong tâm. Mình ngồi đây mà mình nghĩ: “Một hồi ra chơi mình uống nước mía”, thì hình bóng đó cũng thuộc về tưởng. Phải biết đó là tưởng, không có bị nó chi phối, nó áp đảo, nó xâm chiếm, nó dẫn dắt, “bây giờ đang học là cứ học, còn chừng nào ra thì tính. Cái tưởng này mày đừng có dụ dẫn tao đi ra mua nước mía uống”. Không có đi theo cái tưởng, phải biết đó là tưởng. Mỗi cái pháp sanh khởi trong thân tâm mình phải nhận diện, phải biết nó, phải biết được tên tuổi, mặt mũi, tính tình, bản chất của nó để mà nhiếp phục, chế ngự, đoạn tận.

Mình làm chủ được nó làm chủ được ngũ uẩn, còn nếu không, mình nhìn cái tâm của mình như một mớ bồng bông, một cái mớ hỗn độn, một cánh rừng hoang vu trong tâm mình. Tại vì mình không biết cái gì là cái gì hết, rồi mình tu thì tu, tu ở trong lờ mờ, tu ở trong mơ mơ, tu ở trong lơ ngơ, tu ở trong bóng đêm. Thì như vậy là tu ở trong vô minh, không có biết được thọ, tưởng, hành, thức nó đang sanh khởi. Sắc, thọ, tưởng nó đang như thế nào? Cảm thọ nó đang thuộc về cảm giác gì? Trong tâm đang có hình bóng, suy nghĩ, nhận thức gì nó có mặt? Không biết gì hết trơn. Thì như vậy gọi là “tu mù”, tu trong vô minh, tu trong bóng đêm, ảo tưởng. Chỗ này là chỗ quan trọng để chúng ta nhận diện, mà những cái suy nghĩ gì? Suy nghĩ về những lúc hồi xửa hồi xưa, suy nghĩ về sau này, suy nghĩ ngay hiện tại.

Tất cả mọi suy nghĩ dù cho hay ho cỡ nào, thì cũng là suy nghĩ của hành uẩn thôi, có gì đâu mà dính mắc ở trong đó. Rồi bây giờ mình suy nghĩ như vậy, mà tới đó ổng kêu: “Cái đó là trật hết rồi, sai bét rồi. Suy nghĩ tầm bậy, trật lắc”, “vậy thì thôi, cái này là hành uẩn chứ có gì đâu. Suy nghĩ đâu phải mình, đâu phải của mình”. Sau này chúng ta học duyên sanh, tại sao mà mình có suy nghĩ? Làm sao để chấm dứt suy nghĩ? Sau này mình sẽ học “tại sao mình có cái suy nghĩ, từ đâu nó sinh ra suy nghĩ, làm sao đó chấm dứt cái suy nghĩ đó luôn?” Có cách luôn. Chỉ có tạng kinh Nikāya mới chỉ được như vậy thôi, chứ không có một pháp môn nào có thể chỉ nổi hết. “Ở đâu mình có suy nghĩ, có cái tưởng uẩn này?” Thành ra chúng ta phải học chậm chậm, từ từ, rồi ta sẽ đi sâu vào. Tất cả những nhận thức của mình, cái thấy, nghe, ngửi, nếm, tiếp xúc hay là sự nhận biết trong tâm của mình, tất cả là những hành uẩn, thức uẩn.

(Mời một vị đọc giùm tiếp tục coi ạ, đọc thọ, tưởng, hành, thức dùm. Cái micro hiện tại đang nằm đâu? Cái người cầm đó đọc sướng lên rõ ràng cho đại chúng đọc theo đồng loạt)

Con kính bạch trên thọ sư, cùng toàn thể đại chúng. Con xin phép đọc “Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức”

“- Sắc là thân tứ đại này và cảnh, vật bên ngoài do tứ đại tạo thành.

- Thọ là những cảm giác, những cảm xúc trong thân tâm. Cảm giác dễ chịu, khoan khoái, thoải mái được gọi là lạc thọ. Cảm giác khó chịu, bức xúc, bứt rứt được gọi là khổ thọ. Cảm giác không dễ chịu, không khó chịu, thường thường, hoặc trung trung đó gọi là thọ không khổ không lạc.

- Tưởng là những hình bóng, những bóng dáng ẩn ẩn hiện hiện trong tâm, chập chờn trong tâm. Đó chính là bóng dáng của những sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp (pháp trong trường hợp này là thọ, tưởng, hành). Những bóng dáng này ẩn hiện trong tâm, chập chờn trong tâm, đó gọi là tưởng. Trong kinh Nikaya nói : “Nhận rõ nên gọi là tưởng”, khi nào thực hành thấy biết rạch ròi và phân biệt rõ ràng về ngũ uẩn thì chúng ta mới có thể hiểu được chữ “nhận rõ” này. Ví như có người nhớ tối hôm qua ăn mì gói, và chiều nay hình ảnh của tô mì gói được ăn tối qua hiện khởi trong tâm. Sự hiện khởi trong tâm hình ảnh của tô mì gói, đó được gọi là nhận rõ cái mà mình đã ăn chiều qua. Sự nhận rõ này, hay hình bóng tô mì được gọi là tưởng. Nếu chưa nhìn thấy trọn vẹn về ngũ uẩn thì chúng ta hãy tạm xem tưởng là những hình bóng ngoại trần và nội trần ẩn hiện trong tâm.

- Hành là ý hành, đó là hành trong ngũ uẩn. Ý hành này là những suy nghĩ, những tư duy, những lời nói thầm hay những thầm ý trong tâm. Cần phân biệt rõ tưởng và hành. Hành là lời nói thầm trong tâm, còn tưởng thì không có nói thầm mà tưởng chỉ là những hình bóng ẩn hiện trong tâm.

- Thức là sự rõ biết, sự hay biết, sự biết. Định nghĩa “thức” trong kinh Nikaya là “Rõ biết nên gọi là Thức””

Đọc giống tụng kinh quá, đọc là khác, tụng là khác, nhớ nha. Chứ không phải mình kêu mà ở ngoài gọi là bệnh nghề nghiệp: “Tụng quen rồi, ai kêu làm mình tụng”. Rồi nhiều khi có nhiều người ca y hệt như tụng kinh vậy, thành ra cái đó gọi là bệnh nghề nghiệp. Đọc nó ra cái đọc, tới cái chỗ chấm, chỗ phẩy mình dừng. Cho nên để ý kỹ cái đó, đó cũng là thực hành Chánh niệm và tỉnh giác luôn. Ở đây thì chúng ta sẽ học những cái đơn giản trước, chúng ta biết sắc là có tứ đại rồi, cảm thọ là chúng ta biết có ba thọ rồi, tưởng thì chúng ta biết những hình bóng ẩn hiện hiện trong tâm rồi. Bây giờ hành ở đây nói gọi là ý hành, để phân biệt chúng ta hiểu được, cái hành thì có ba cái hành: Thân hành, khẩu hành và ý hành. Chúng ta đang nói về ý hành, là suy nghĩ trong tâm.

Chữ “hành” ở đây là hành động, sự vận hành. Khi chúng ta nói khẩu hành, là lời nói, hành động của miệng. Còn ý hành là hành động của ý, thân hành là hành động của thân. Chúng ta phải phân biệt được ba cái hành này nha, tại vì chữ “hành” trong Phật giáo hay kinh tạng Nikāya ý nghĩa, phạm trù của nó là bao la, rộng lớn, chúng ta học một tháng học chưa hết nữa. Trong các trường hợp này, ở đây chúng ta nhận diện sắc, thọ, tưởng, hành, thức, thì chữ “hành” này thuộc về ý hành. Ai biết chữ nho thì viết, còn không biết thì viết tiếng Việt không sao hết. Đừng có viết chữ nho xong về nhà đọc vô không biết chữ này chữ gì, thì lúc đó khổ nữa. Như đã nói trong phần ngũ uẩn này: Sắc, thọ, tưởng, hành, thức thì chữ “hành” này là ý hành, là những suy nghĩ trong tâm ý của mình.

Rồi mình sẵn cái dịp học luôn ba hành đó là: Khẩu hành, là những lời nói từ miệng gọi là khẩu hành. Rồi hành động ở nơi thân gọi là thân hành. Cho nên trong kinh “Niệm Xứ” sau này mình học, hay là sau này mình sẽ học có những bài kinh gọi là kinh “Thân hành niệm. Chữ “niệm” ở đây là nhớ, nhớ để ý hành động của thân, bài kinh này hết sức quan trọng. Một phần ở trong “Tứ Niệm Xứ” là phần niệm thân, mình nói ngắn rút gọn lại là phần niệm thân, nói đầy đủ là “Thân hành niệm”. Chúng ta có nghe pháp “Niệm thân”, “Niệm thọ”, “Niệm tâm”, “Niệm pháp” không ạ? Có nghe chưa? Đó là Tứ niệm xứ. Nhưng mà chúng ta sẽ chưa có nghe là “Thân hành niệm” hoặc là “Niệm thân”. Thức là sự rõ biết, sự hay biết, sự biết, chữ “thức” là rõ biết. Chữ “thức” này rõ biết, nhưng mà rõ biết cái gì, cái này mới là chỗ quan trọng.

Chúng ta lật lại trang 25, rõ biết thọ, tưởng, hành (gạch một cái), là ý thức, mình ghi vô. Cái này Minh Thành học gần 30 năm ở trong trường, không có ai giải thích chữ thức mà nó rõ ràng. Cho tới khi học Nikāya rồi, lúc đó cái nghĩa nó mới rực sáng, mới nhận diện được từ thức. Còn không thôi mình nghe “tâm thức là cái gì?” Mình chỉ nói là rõ biết thôi. “Mà biết là biết cái gì?” Thì không ai biết hết, nếu không học Nikāya là không biết. Biết là biết thọ, tưởng, hành hay là ý thức. Ví dụ hồi nãy chúng ta đi đến lớp có ai bị mắc mưa không? Thì bây giờ hình ảnh mình mắc mưa là cái gì uẩn? “Tưởng uẩn”. Rồi cái cảm giác khó chịu khi bị mắc mưa là cái gì? “Thọ uẩn”. Rồi cái suy nghĩ mà hồi nãy mình đi, mình bị mắc mưa mà nó ướt mình, thì cái đó là hành uẩn.

Cái mà biết được hình bóng, cảm giác, suy nghĩ, đó thì là thức uẩn. Thì như vậy cái “thức” là rõ, thức uẩn nó là biết được thọ, tưởng, hành một cách rõ ràng. Mà ở đây nói về ý thức nha, cho nên chúng ta để ý lại, còn năm cái trước nữa thì từ từ chúng ta học sau. Ở đây ai cho cái ví dụ khác giải thích về ý thức đi ạ, mạnh dạn lên giơ tay lên hỡi giảng sư. Cho một cái ví dụ ý thức rõ biết thọ, tưởng, hành. “Bây giờ không có giơ tay thì đi kêu à”. Dễ ợt à có gì đâu, mình xài nó hàng ngày, hàng giờ mà. 

Phật tử 2:

“Dạ mô Phật, thưa thầy con xin lấy ví dụ là trong giờ chỉ tịnh, lúc mình đang nằm thiu thiu chưa ngủ, thì nghe tiếng ồn xung quanh xảy ra. Thì lúc đó là hình ảnh bản thân thức dậy đó là tưởng uẩn, cảm giác khó chịu đó là thọ uẩn, và suy nghĩ về âm thanh đó chính là hành uẩn. Và cái sự rõ biết về cái cảm giác khó chịu, rõ biết về hình bóng và rõ biết về suy nghĩ đó là thức uẩn.” 

(Cho 1 tràng pháo tay lớn luôn. Mọi người tiếp theo tiếp tục cho ví dụ)

Phật tử 3:

“Mô Phật, kính bạch giáo thọ sư và đại chúng. Con xin cho ví dụ về nhận diện rõ ý thức. Khi về nhà xhúng ta nhớ lại lời nói, lời dạy, hình bóng của thầy giáo thọ đang giảng cho chúng con, thì cái nhớ cái đó là tưởng uẩn. Khi mà chúng con nhớ lại cái hình bóng của thầy, nhớ lại những lời thầy dạy, chúng con thấy là vui, “thầy dạy rất là hay, cảm thấy rất là khoan khoái, rất là phấn khởi, sung mãn”, thì đó là thọ uẩn. Khi đó chúng con suy nghĩ sẽ cố gắng ôn bài, học tập thật là tốt khi đến lớp và thường xuyên nghe những lời giảng dạy của thầy ở trên mạng, đó là hành uẩn. Và cái thức uẩn là cái rõ biết về bóng dáng ở trong tâm, về hình bóng của thầy, những cảm giác mà chúng con cảm thấy rất là an lạc, hạnh phúc đó, cũng như là cái suy nghĩ, những lời nói thầm mà chúng con đang tự nhắc nhở mình phải cố gắng học tập và noi theo những lời dạy của thầy, đó là thức uẩn.” 

(Cho một tràng pháo tay đi, chính xác)

Chúng ta đang tập nhận diện về thức uẩn, và xin đại chúng là khi chúng ta trở về chùa, chúng ta cố gắng làm bài tập trong mọi lúc, mọi nơi, nhất là cái giờ ngồi thiền. Cái giờ ngồi thiền, cái giờ ngồi yên đó chúng ta tập nhận diện: “Hiện tại cái thân đang như thế nào? Hiện tại đang thuộc về cảm thọ gì trong ba cảm thọ? Hiện tại trong tâm đang có hình bóng gì, đang có suy nghĩ gì?” Mình phải rõ biết, bất cứ khi nào và ở đâu, đó gọi là nhận diện ngũ uẩn. Đây là chìa khóa mở hết các mật mã bí ẩn của thân tâm, vũ trụ, thế giới, tuyệt đối quan trọng. Bất cứ lúc nào mình tập nhìn lại coi: “Hiện tại bây giờ thân đang như thế nào? Có oai nghi, có chỉnh tề, có buông lung phóng dật không? Cảm thọ như thế nào? Cảm thọ có thúc giục, có vội vàng, hấp tấp, gấp gáp, bực bội, khó chịu không? Có dục, có tham, có ái, có ta đây, có thể hiện mình, có khoe khoan, kiêu căng không?”

“Trong tâm mình đang có cái tưởng gì? Tưởng đó là thiện hay là bất thiện? Tưởng về các pháp, các Thánh pháp hay là tưởng về các hữu dục? Phải biết ta đang có cái suy nghĩ gì? Suy nghĩ này là ly dục tư duy, ly tham tư duy, ly sân tư duy, bất hại tư duy hay là suy nghĩ này đang hướng về dục?” Phải biết được cái chiều hướng của tư duy, của suy nghĩ, phải nhận diện được suy nghĩ, hành uẩn. Phải nhận diện được thỏa thuận cảm giác như thế nào? Phải nhận diện được tưởng uẩn, các hình bóng trong tâm đang như thế nào? Phải tập mọi lúc, mọi nơi, bất cứ khi nào và ở đâu. Thì đó là sự tu tập hết sức là quan trọng, nhất định, của chúng ta gọi là nhận diện ngũ uẩn.

Và phương pháp này trên Linh Quy Pháp Ấn con là bất cứ lúc nào, con đi mà con gặp là con kêu nhận diện ngũ uẩn ngay tại chỗ, “bây giờ thọ đang như thế nào? Tưởng trong tâm đang có hình bóng gì, suy nghĩ gì?” Phải làm bài tập ngay tại chỗ. Rồi mỗi buổi ngồi thiền là có giờ nhận diện ngũ uẩn trong khi ngồi thiền: “Ngày hôm nay ngồi thiền ngũ uẩn như thế nào trình bày ra? Trong khi ngồi thiền sắc, thọ, tưởng, hành, thức vận hành như thế nào?” Phải biết.

V. Chánh Tư Duy

Phật tử 4: 

“- Dạ Mô Phật, con bạch thầy, con đang có câu hỏi là: Khi mình biết mình có sự tư duy đưa đến ly dục, thì mình nhận biết rõ, thì mình tiếp tục phát triển theo chiều hướng thiện hay là mình biết rõ mình dừng lại, mình không theo nó ạ?

- Thầy: Thầy nghĩ là ta nên theo hay dừng lại? Nếu biết nó là ác là bất thiện pháp, là dục?

- Dạ mình dừng lại, nhưng khi có một ý niệm đưa đến thiện, đưa đến ly dục, ly ác pháp, là mình cần tư duy phát triển cái thiện pháp đó, mình biết rõ, hay mình dừng lại ạ?

- Thầy: Phát triển, tư duy phát triển. Khi mình biết đó là thiện pháp là mình phải tư duy cho nó phát triển, cái đó gọi là Chánh tư duy.” 

Phật tử 5

“- Mô Phật, con bạch giáo thọ sư cùng đại chúng. Con xin thầy thọ giải thích giúp cho bản thân con có một cái ý vừa suy nghĩ đến, đó chính là khi nói là thức là sự rõ biết, nhưng mà ở đây thì con chỉ thấy là rõ biết về thọ, tưởng và hành. Thế nhưng con có một thắc mắc là tại sao không có sự rõ biết về sắc? Thí dụ là ngay trong lúc đấy, mình tiếp xúc với một sắc tứ đại, thì lập tức những cái thọ, tưởng, hành liên quan nó sẽ vận hành, khiến cho cái rõ biết. Vậy con xin hỏi, thức là có phải là rõ biết về sắc không? 

-Thầy: Dạ con thưa, mình chưa học tới, từ từ mình học. Nãy con đã nói mình mới học ý thức thôi. Mình còn nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức nữa, từ từ đừng có vội.”

Như vừa rồi sư hỏi câu hỏi đó rất là hay, tại vì bình thường mình nghĩ mình tu định, tu thiền, là cái tâm mình đừng có suy nghĩ. Cho nên nó nghĩ tốt thì mình kêu: “Thôi đừng có nghĩ, nghĩ như vậy nó động, ngồi thiền nè mà mình để cho nó yên”, đi thì cái đó sai. Ở trong Bát Chánh đạo có Chánh tư duy, và còn có từ khác nữa là Thánh tư duy, là sự suy nghĩ của bậc Thánh. Thì nó cũng như vậy thôi, Chánh tư duy hay là Thánh tư duy cũng là một thôi, dù từ ngữ khác. Thành ra chúng ta tu không có nghĩa là khi chúng ta tu thiền là chúng ta cứ im ru hết trơn, không có suy nghĩ. Khi mà thiền chỉ là chúng ta sẽ làm cho các suy nghĩ nó lắng dịu xuống, gọi là thiền chỉ. “Chỉ” là dừng, đình chỉ, dừng lại. Nhưng mà cái thiền quán nữa, mà đại đa số trong Nikāya là 80, 90 phần trăm là thiền quán, là mình phải phát huy các suy nghĩ thiện đó.

Thí dụ mình muốn rằng: “Tối nay rồi thì mình sẽ ngồi một tiếng đồng hồ để nhận diện ngũ uẩn, mình viết bài trình pháp gửi cho thầy giáo thọ”. Cái suy nghĩ đó của mình nói: “Cái này tốt lắm, cái này rất là tuyệt vời, cái này phải nhất định làm được”, mình cứ tác ý. Mới có chuẩn bị ngồi “thôi mệt lắm”, thì mình phải diệt cái suy nghĩ đó liền, giữ cái ý nghĩ phải ngồi và phải viết bài trình pháp. Phát huy cái suy nghĩ đó, để mình thực hành các thiện pháp, các Thánh pháp, thì cái đó gọi là Chánh tư duy, Chánh tinh tấn. Còn cái suy nghĩ mà nói: “Thôi giờ lặng hết, đừng suy nghĩ lung tung, làm không có được đâu”, là rồi xong. Đó là tà tư duy, là bất thiện pháp, là tư duy bất thiện, chúng ta nhớ nha. Thí dụ như mình thấy người nghèo khổ, mình tính giúp mà rồi bây giờ lỡ đi ngang không có cái gì hết, “để ngày mai mình đi học mình thấy người có tật, có nguyền, lê lết đó, ngày mai mình sẽ cho họ chút tiền”, mình nghĩ như vậy đó.

Thì cái đó là thiện pháp, thì bây giờ mình phải cố gắng tác ý: “Nhớ nhớ”, “nhớ nhắc nha, ngày mai phải nhớ” hoặc là mình ghi chú vô, để ngày mai nhớ mình làm, chứ không thôi mình nói: “Thôi đừng suy nghĩ lu bu, chuyện của ta thôi kệ người ta”, cái đó là làm cho mình dừng đứng lại cái thiện pháp. Suy nghĩ sau đẩy cái suy nghĩ thiện ở trước đó đi mất. Cho nên cần phải tác ý, suy nghĩ thiện pháp, mình làm lớn mạnh, tăng trưởng, phát triển nó lên, nhớ kỹ chỗ này nha. Suy nghĩ gọi là “ly dục tư duy”, “ly sân tư duy”, “bất hại tư duy”, ghi vô ba cái tư duy này là Chánh tư duy. Thế nào là “ly dục tư duy”? Là những suy nghĩ lìa những cái ham muốn đối với sắc, thanh, hương, vị, xúc. Suy nghĩ đưa đến sự xa lìa sắc, thanh, hương, vị, xúc, thì như vậy đó gọi là ly dục tư duy.

Lúc mình suy nghĩ mình xuất gia, có phải là mình ly dục tư duy không ạ? Suy nghĩ mà muốn bỏ cha mẹ, anh em, mình đi vô chùa tu đó, phải “ly dục tư duy”, “ly ái tư duy” không ạ? “Sao im ru hết trơn vậy, phải không?”, “phải”. Chúng ta phải để ý cách trả lời chúng ta cũng vậy nữa, con học kỹ lắm con thưa các thầy các cô. Trả lời với thầy không có trả lời ngang sương như vậy, phải có một chữ “dạ” hay là một chữ “thưa”. Không trả lời ngang một chữ như vậy được, đó gọi là kính ngữ. Con không bao giờ con nói chuyện với các bậc tôn đức mà ngang xương như vậy, đó là con chỉ cho các thầy, các cô từng chút một đó, chứ không phải đơn giản đâu. Trong cái giọng điệu, âm giọng, khẩu khí của mình trong đó, cho nên học ngũ uẩn này khiếp đảm lắm.

Mình nhìn ra được ở trong mình đang có cảm thọ gì đó, con đọc được luôn câu trả lời đó phát xuất từ thọ, tưởng, hành, thức nó như thế nào, ngay lúc đó luôn. Thành ra các thầy, các cô học cái này là phải để ý, học cái này là mình đọc được hết thọ, tưởng, hành, thức của người khác. Cho nên cái đó là mình phải để ý, không phải mình chỉ học pháp không, mà như từ bữa đầu con đã nói đạo đức là quan trọng, phải để ý thật là kỹ cái này. Sư phụ mình ở nhà nói chuyện, mình trả lời như vậy hả? Nếu như vậy là thất bại, mình để ý nha. Phải kính bậc đáng kính, đó là cái pháp học của người xuất gia. Ở trong đạo chúng ta có ba cái ruộng phước: Bi điền, ân điền và kính điền, “chúng ta học chưa ạ?” Bi điền là một mảnh ruộng xót thương, như hồi nãy còn ví dụ mình gặp người ăn xin, què quặc, mình muốn giúp người đó. Thì đó là mãnh ruộng xót thương cho mình gieo phước, là đi làm từ thiện đó, “chúng ta có đi làm từ thiện phải không ạ? Hết trả lời luôn rồi hả?” “Dạ có”.

Con học nhiều lắm, mà chưa chắc là được học với con lâu đâu, con báo trước, đó gọi là mảnh ruộng xót thương. Cái thứ hai là “ân điền”, tức là mảnh ruộng ân nghĩa, những người có ơn với mình gọi là ân điền. Mình giúp những người này là mình đang đem cái giống vào trong mảnh ruộng ân nghĩa, ân tình, ân đức, gọi là ân điền. Thứ ba là “kính điền”, tức là ruộng tôn kính đối với Tam bảo. Đó là ba mảnh ruộng cho mình gieo. Con thưa các thầy, các cô, hồi đó con học kỹ lắm, con đi cầu pháp toàn cầu chứ không có đơn giản. Con đi qua Hồng Kông mà hòa thượng dạy con với một chú tiểu mới xuất gia, để đôi dép phải để như thế nào? Ăn cơm phải cầm cái chén như thế nào? Khi đi núi là ai đi trước ai đi sau, khi mà gắp đồ ăn là gắp miếng nào?

Giờ con đố các thầy, các cô cái này, xong rồi mình ra chơi ha. Nếu mình để một cái dĩa trái cây mà bốn trái măng cụt trong cái mâm, khi mình lấy trái cây thì mình lấy trái nào? “Thầy nói trái nhỏ nhất hả?”, “mấy cô nói thế nào?”, “trái tó nhất hả? Thiệt không?”, “còn thầy lấy trái gần chỗ mình nhất hả?” Cho một tràng pháo tay đi, mình phải lấy chỗ trái gần nhất của mình. Để cái dĩa thì thế nào cũng có trái nằm ngay hướng của mình, thì mình lấy trái ngay hướng của mình. Thì đó là ý hòa thượng dạy thôi, mình ghi nhận mình học được thì mình học, còn mình có ý khác thì kệ mình, chứ không phải mình lựa trái bự nhất mình lấy. Nhiều khi để như vậy cái mình chồm qua mình lụm trái bự nhất, thì cái đó thất bại lắm. Còn mình đi núi, khi đi lên núi mình đi trước hay sau? Mình đi sau, thầy đi trước, tại sao? Té để mình đỡ phải không? Còn mình đi xuống núi mình đi trước, cũng vì lý do trên. Thành ra mỗi một cái đều mà mình có học pháp trên nó hay vậy đó, mình phải để ý.