Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Biết Tu - Không Sợ Hãi

2026-03-03 00:54:19
Kinh Nikāya Giảng Giải

BIẾT TU – KHÔNG SỢ HÃI

Thích Minh Thành



MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Tái sanh theo nghiệp PAGEREF _Toc81921065 \h 1

II. Bốn pháp xuôi về Niết Bàn PAGEREF _Toc81921066 \h 8

I. Tái sanh theo nghiệp

Trong một ngày hôm nay, Minh Thành nghe những tin quý thầy gửi về, vị hòa thượng lớn tuổi ra đi - vị thượng tọa mỗi khi làm lễ bố tát, tụng giới chùa Bửu Liên, đứng gần kế bên Minh Thành, sáng nay hay tin thầy đã viên tịch vì dịch bệnh. Thầy hay tin thêm một Phật tử lâu lâu cũng đến chùa, vì dịch bệnh mà ra đi. Khi quý thầy nói chuyện điện thoại, Minh Thành nghe tiếng xe cứu thương, rất ám ảnh. Mình chỉ nghe qua điện thoại thôi mà mình đã thấy có cảm thọ khổ, huống hồ chi các Phật tử, những vị đang ở trong vùng tâm dịch, rất bất an, lo lắng, sợ hãi.

Cho nên, tối hôm nay chúng ta tiếp tục chia sẻ chủ đề: Biết tu- Không sợ hãi, qua những lời Thánh pháp của Đức Phật nhằm xoa dịu, lắng dịu, an tịnh được tâm của các vị đang ở trong vùng tâm dịch. Quý thầy ở dưới Sài Gòn không ăn cơm chung với nhau, mỗi người tự xuống ăn, khi tụng kinh chỉ có một vị, chia thời khóa chứ không được tu học như mình, ngồi đông đủ như vầy. Cho nên chúng ta càng thêm tinh tấn, cố gắng. Quý thầy dưới đó mạnh người nào người nấy xuống múc cơm ăn, bưng lên phòng chỗ riêng của mình, tụng kinh chia ra mỗi một thầy.

Ở đây, chúng ta tạm có được sự bình an nên cần dành nhiều thời gian tu học, chia sẻ Phật Pháp đến cho các vị đang rất bất an, lo lắng và sợ hãi. Ở Bình Dương một bác sĩ phải lo cho một ngàn bệnh nhân. Người chết bây giờ đã lên đến hơn một chục ngàn, người nhiễm bệnh trên ba trăm ngàn. Tuy chúng ta ở nơi an lành, cũng phải hướng tâm tu học, tinh tấn, trân trọng những gì mình đang có trong giây phút hiện tại để gửi những cảm thọ thanh tịnh, nhiệt tâm, Chánh Niệm, từ bi này đến tất cả chư tăng ni, quý Phật tử đến tất cả mọi nơi, mọi miền, nhất là những vị đang ở trong vùng tâm dịch, nhớ tới người nghèo, người bệnh, người khổ, nhớ tới những người thường gặp tai nạn, tai ương, chết chóc, khổ đau.

Người tu chúng ta, biết tu thì tâm mình bình an, lắng dịu, an tịnh. Như Minh Thành đã chia sẻ lần trước, quý vị hãy xem những tiếng xe cứu thương đó như những tiếng chuông, tiếng đại hồng chung nhắc nhở mình đừng quên tu, đừng quên chiêm nghiệm và an trú trong pháp. Những tiếng xe cứu thương rất ấn tượng, hãy lấy những tiếng, những âm thanh đó làm sự nhắc nhở, sự cảnh tỉnh, sự đánh thức tâm mê muội, tâm lãng quên, tâm buông lung phóng dật, tâm si mê hôn ám của mình.

Dùng tiếng xe cứu thương, tiếng còi đó trong đêm khuya, trong canh vắng, trong bất cứ lúc nào làm tiếng đại hồng chung đánh thức tâm mê muội, si ám, vô minh, chấp thủ đối với đời sống này. Hãy biến sự sợ hãi đó thành sức mạnh, biến lo lắng đó thành tinh tấn, biến sự bất an đó thành cơ hội thể nhập Khổ Thánh Trí – trí huệ chân thật và đau khổ mà bậc Thánh đã giác ngộ.

Hơn bao giờ hết, trong thời gian này, trong những cảnh tượng này, trong những cảm thọ này rất phù hợp cho chúng ta đem hết tâm tư của mình tu hành, thực tập, hành đạo. Mắt mình nhìn thấy nhan nhản những khổ đau, sự bệnh hoạn, sự chết chóc, sự bất an chung quanh những người thân của mình. Hãy lấy đó làm động lực, làm đòn bẩy, làm cái roi quất con ngựa để cho nó tiến về phía trước. Hãy quán chiếu rằng những tiếng còi hú của xe cứu thương đó là âm thanh của Chánh Pháp, là lời vang vọng của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, là pháp thoại của đấng từ tôn, nhắc nhở mình không được lãng quên, không được buông lơi sự tu tập, không để tâm mình đi lang thang, an trú vào trong Pháp.

Các Phật tử có nhắn gửi Minh Thành, xin được nghe về bài kinh “Bệnh” trong Tương Ưng Bộ. Trong thời gian dịch bệnh này, Minh Thành vào đọc bài kinh, thấy rằng có bốn năm chục bài về chủ đề bệnh. Thành ra sẵn nhân duyên đây, Minh Thành sẽ tuyển những bài kinh phù hợp, nhất là những bài để cho các vị được lắng dịu tâm lo lắng, sợ hãi. Quý vị nghe trước rồi từ từ đi vào những bài kinh sâu sắc hơn.

Tương Ưng Bộ Kinh tập năm, kinh Mahanama, bên Hán tạng gọi là Mahànàma, nói về vị này là thân quyến của Đức Thế Tôn, của thái tử Tất Đạt Đa. Vị này hay đến lui hỏi Đức Phật nhiều bài kinh. Khi đó, Đức Thế Tôn ở chỗ dân chúng của các vị Thích Ca ở thành Ca-tỳ-la-vệ. Bấy giờ, họ Thích Mahànàma, tức cùng chung dòng họ của Đức Phật, thân quyến, bà con cùng huyết thống, đi đến chỗ Đức Phật.

Một thời Thế Tôn trú giữa dân chúng Sakka, tại Kapilavatthu, khu vườn Nigrodha.

“Rồi họ Thích Mahànàma đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, họ Thích Mahànàma bạch Thế Tôn:

- Kapilavatthu này, bạch Thế Tôn, là phồn vinh, phú cường, dân cư đông đúc, quần chúng khắp nơi chen chúc, chật hẹp. Bạch Thế Tôn, sau khi con hầu hạ Thế Tôn hay các Tỷ-kheo đáng kính, vào buổi chiều, con đi vào Kapilavatthu, con gặp con voi cuồng chạy; con gặp con ngựa cuồng chạy; con gặp người cuồng chạy; con gặp cỗ xe lớn cuồng chạy; con gặp cỗ xe nhỏ cuồng chạy. Trong khi ấy, bạch Thế Tôn, tâm con nghĩ đến Phật bị hoang mang, tâm con nghĩ đến Pháp bị hoang mang, tâm con nghĩ đến chúng Tăng bị hoang mang. Rồi bạch Thế Tôn, con suy nghĩ như sau: "Nếu lúc ấy con mệnh chung, thời sanh thú của con là gì, sanh xứ đời sau chỗ nào?"

Ở đây mình ít thấy chứ còn bên Ấn Độ, Srilanka, Myanma rất nhiều voi, trên đường đi có thể bất thình lình mình sẽ gặp nó ở trong rừng đi ra. Cho nên, ông Mahànàma này hỏi Đức Phật rằng bây giờ con tới đảnh lễ, hầu hạ Đức Thế Tôn và các bậc Tỳ-kheo đáng kính, nhưng buổi chiều khi trở về, lỡ như gặp một con voi điên, hoặc một con ngựa chứng chạy cuồng loạn. Hay gặp một người điên khùng họ làm hại, gặp một cỗ xe lớn, hoặc nhỏ tông vào, con bị tai nạn giao thông, thú dữ dẫm đạp, bị người điên sát hại. Lúc đó, tâm con nghĩ đến Phật, đến Pháp, đến chúng tăng bị hoang man. Lỡ như bất thình lình con gặp những trường hợp đó xảy ra như vậy, tâm con, sự niệm, nhớ, nghĩ về Phật, về Pháp, về chúng tăng bị hoang man, phân tán, tán loạn.

Như vậy, bạch Thế Tôn, con suy nghĩ như sau: nếu như lúc ấy con chết, con mạng chung, chấm dứt sự sống, như vậy chỗ con sẽ sanh là chỗ nào, đời sau của con sẽ đi về đâu, trong đây để chữ: “thời sanh thú của con là gì, sanh xứ đời sau chỗ nào?". Sanh thú là chỗ thú hướng của sự thọ sanh, là cõi nào, và chỗ con sanh ra đời sau là chỗ nào?

Ở đây đặt một trường hợp cho chúng ta thấy rất phù hợp trong giai đoạn này. Bây giờ lỡ mình bị tai nạn giao thông, bị trượt chân, đập đầu, lỡ mình bị nhiễm dịch bệnh, chết thì lúc đó ra sao? “Bạch Đức Thế Tôn, tâm con bị dao động, sợ hãi, hoảng loạn”. Khi niệm về Phật, Pháp, Tăng, lúc đó tâm không chuyên nhất, không được tập trung, không có sự định tĩnh. “Bạch Thế Tôn, sau khi chết con đi về đâu?”.

Câu hỏi này của ngài Mahànàma giúp cho chúng ta rất nhiều, đã ba ngàn năm nhưng vẫn còn lợi lạc, nhờ ngài hỏi.

“Chớ có sợ, này Mahànàma! Chớ có sợ, này Mahànàma! Không ác sẽ là cái chết của Ông! Không ác là cái chết của ông! “

Tức cái chết của ông là cái chết không có số, là tốt lành. Sự ra đi, sự chết chóc như vậy không phải là số, tức vẫn được an ổn. Giờ Minh Thành cũng nói lại với các Phật tử: “Này các vị, đừng lo lắng, sợ hãi, đừng dao động”. Tại sao vậy?

Mới ngày hôm qua, chúng ta đã được học rằng có hiếu với cha mẹ là tín, giới, thí, tuệ. Ở đây Đức Phật dạy những pháp hết sức quan trọng, các Phật tử phải nhớ thật kỹ. Đây chính là lá bùa hộ mệnh, là phép màu, là tài sản của bậc Thánh, cộng vô hai cái tàm quý nữa là Thất thánh tài – bảy tài sản của bậc Thánh. Vì sao mình không sợ? Mình có số vốn này đem theo, có tư lương, có hành trang để mình lên đường cho kiếp sau. Mình có tài sản của bậc Thánh, như vậy:

“Này Mahànàma, với ai đã lâu ngày tâm tu tập trọn vẹn về tín, tâm tu tập trọn vẹn về giới, tâm tu tập trọn vẹn về sở văn, tâm tu tập trọn vẹn về thí xả, tâm tu tập trọn vẹn về trí tuệ; với người ấy, dầu thân có sắc này, do bốn đại hợp thành, do cha mẹ sanh, do cơm cháo nuôi dưỡng, có bị vô thường phá hoại, phấn toái, đoạn tuyệt, hoại diệt; dầu cho thân này ở đây bị quạ ăn, chim kên ăn, chim ưng ăn, chó ăn, hay giả-can ăn, hay các loại chúng sanh sai khác ăn; nhưng nếu tâm của vị ấy được lâu ngày tu tập trọn vẹn về tín, tu tập trọn vẹn về giới, tu tập trọn vẹn về sở văn, tu tập trọn vẹn về thí xả, tu tập trọn vẹn về trí tuệ, thời tâm của vị ấy thượng thặng, đi đến thù thắng”.

Thượng thặng – lên cỗ xe, đi đến chỗ tốt đẹp, gọi là đi đến chỗ thù thắng. Với một người đã lâu ngày tu tập niềm tin đối với Tam Bảo, tin vào sự giác ngộ của Đức Phật, tin vào những lời dạy của Ngài trong giáo pháp, tin vào chúng tăng. Với một người đã lâu ngày cố gắng thực hành những giới mà mình đã thọ, cố gắng nghe pháp, những lời dạy của Đức Phật, khắc ghi vào tâm. Và cố gắng tu tập sự bố thí, cúng dường, chia sẻ, thí xả với bàn tay rộng mở, vui thích, ưa thích sự bố thí, hoan hỷ trong sự bố thí. Với người đã lâu ngày nghe pháp, quán chiếu về sự sanh diệt của ngũ uẩn, sự vô thường, sự tan hoại…

“Cũng vậy, này Mahànàma, với ai đã lâu ngày, tâm được tu tập trọn vẹn về tín, tâm được tu tập trọn vẹn về giới, tâm được tu tập trọn vẹn về sở văn, tâm được tu tập trọn vẹn về thí xả, tâm được tu tập trọn vẹn về trí tuệ; với người ấy, thân có sắc này, do bốn đại hợp thành, do cha mẹ sanh, do cơm cháo nuôi dưỡng, có bị vô thường phá hoại, phấn toái, đoạn tuyệt, đoạn diệt; dầu cho thân này ở đây bị quạ ăn, chim kên ăn, chim ưng ăn, chó ăn, giả-can ăn hay các sanh loại sai khác ăn; nhưng nếu tâm của vị ấy được lâu ngày tu tập trọn vẹn về tín, tu tập trọn vẹn về giới, tu tập trọn vẹn về sở văn, tu tập trọn vẹn về thí xả, tu tập trọn vẹn về trí tuệ; thời tâm của vị ấy thượng thặng, đi đến thù thắng”.

“Ví như, này Mahànàma, một người nhận chìm một ghè sữa bơ, hay một ghè dầu vào trong một hồ nước sâu và đập bể ghè ấy. Ở đây, các mảnh ghè hay mảnh vụn chìm xuống nước; nhưng sữa, bơ hay dầu thời nổi lên, trồi lên trên”.

Nặng: chìm, nhẹ nổi lên, ghè đựng dầu, đựng bơ. Khi mình đập vỡ cái ghè đó ra, những mảnh vỡ làm bằng đất sét, bằng sành sứ, những cái đó nặng nên chìm xuống. Còn dầu, bơ nhẹ nên nổi lên, trồi lên trên mặt nước, cho nên người ta mới nói rằng:

“Lênh đênh giữa biển luân hồi

Khéo tu thì nổi, vụng tu thì chìm”

Cái nào nặng: chìm xuống, nhẹ thì nổi lên trên, vậy chúng ta nặng hay nhẹ? Tu tập năm pháp này tức là nhẹ nên Đức Phật nhắc lại:

“Cũng vậy, này Mahànàma, với ai đã lâu ngày, tâm được tu tập trọn vẹn về tín, tâm được tu tập trọn vẹn về giới, tâm được tu tập trọn vẹn về sở văn, tâm được tu tập trọn vẹn về thí xả, tâm được tu tập trọn vẹn về trí tuệ; với người ấy, thân có sắc này, do bốn đại hợp thành, do cha mẹ sanh, do cơm cháo nuôi dưỡng, có bị vô thường phá hoại, phấn toái, đoạn tuyệt, đoạn diệt; dầu cho thân này ở đây bị quạ ăn, chim kên ăn, chim ưng ăn, chó ăn, giả-can ăn hay các sanh loại sai khác ăn; nhưng nếu tâm của vị ấy được lâu ngày tu tập trọn vẹn về tín, tu tập trọn vẹn về giới, tu tập trọn vẹn về sở văn, tu tập trọn vẹn về thí xả, tu tập trọn vẹn về trí tuệ; thời tâm của vị ấy thượng thặng, đi đến thù thắng”.

Tại sao vậy? Vì đã từ rất lâu rồi, vị ấy tu tập lòng tin đối với Tam Bảo, Thánh Pháp, tu tập tăng thượng những giới hạnh. Vị ấy nghe pháp, tích lũy pháp, tư duy pháp, quán chiếu, thí xả, bố thí, cúng dường, chia sẻ, san sớt. Vị ấy tu tập trí tuệ và thấy được sự vô thường, tan hoại, sanh diệt của ngũ uẩn, của tứ đại, của thân xác này, đời sống này. Cho nên, thân này một khi tắt thở rồi, thì thôi, chẳng là gì nữa hết, vô tri vô giác, một khúc cây, một khúc gỗ mục, một đống máu mủ sình trương lên. Dầu cho có là gì, có bị thiêu bị đốt, bị chôn không ai hay biết, sình thối lên thì cũng không là gì hết. Tại sao vậy?

“Thời tâm của vị ấy thượng thặng, đi đến thù thắng”. Chữ thặng là cỗ xe, còn gọi là thừa, chữ thượng là lên trên cỗ xe đó, đi đến chỗ thù thắng, tốt đẹp, cao thượng, cao đẹp, cao quý, an lành, hạnh phúc, an lạc. Đừng sợ, an tâm lo tu học, chỉ sợ mình buông lung phóng dật, sợ mình không nhiệt tâm, tinh cần, sợ mình cái chết, cái khổ ràng ràng trước mắt mà mình không thấy, mù lòa. Sợ tâm mình vô cảm đối với sự thật, Chánh Pháp, với khổ Thánh đế, khổ Thánh trí. Sợ cái mình tạo, thân ác hành, khẩu ác hành, ý ác hành, ba cái hành động ác đó nặng nên nó sẽ chìm, nó phải nhẹ mới nổi lên, trồi lên.

“Này Mahànàma, đã lâu ngày tâm ông được tu tập trọn vẹn về tín, được tu tập trọn vẹn về giới, được tu tập trọn vẹn về sở văn, được tu tập trọn vẹn về thí xả, được tu tập trọn vẹn về trí tuệ. Chớ có sợ, này Mahànàma, chớ có sợ, này Mahànàma, không ác sẽ là cái chết của Ông! Không ác là cái chết của Ông!”

Và chúng ta nhớ rằng, Đức Thế Tôn nói rằng ông đã lâu ngày tu tập trọn vẹn về tín, về giới, về văn – tức nghe pháp, về bố thí, về trí tuệ. Còn mình có tu tập trọn vẹn chưa? Nếu chưa, phải nỗ lực để cho nó trọn vẹn. Mình thấy đối với những pháp đó, tâm mình còn yếu đuối, còn hững hờ, dao động, chưa tịnh tín bất động, khi tin khi không, khi mờ khi tỏ, mình phải lo, mà lo tu chứ không phải lo bệnh, lo chết, sợ chết, sợ cái không tu, sợ không chịu tinh tấn nghe pháp, ngồi thiền, tu học.

Không sợ già, bệnh, chết, mà chỉ sợ già, bệnh, chết tới nơi mà không chịu tu, không chịu học hành, nhiệt tình, nỗ lực, tinh cần tinh tấn, không chịu tiến về phía trước, không biết Như Lý Tác Ý, tác động tâm ý của mình để mạnh mẽ hướng về phía trước, tiến lên, điều đó mới đáng sợ. Đây là những pháp hết sức quan trọng mà các Phật tử, chư tăng ni phải nắm thật vững những pháp này. Những bài kinh này rất nhiều, hàng ngàn bài kinh nói về những pháp này, Đức Phật nói tới nói lui rất nhiều. Nếu nó không quan trọng thì Ngài không nói nhiều như vậy, nhưng mình chỉ nghe phớt qua một lần đã nói mình học bài kinh đó rồi, mà mình làm chưa rồi, nên phải nghe tiếp, nghiền ngẫm tiếp, thực hành tiếp.

Bài kinh thứ hai, Tương Ưng Bộ Kinh tập năm, cũng tên là Mahànàma, ngài cũng hỏi một câu giống như vậy: tai nạn tới. Bây giờ mình đặt trường hợp, bất thình lình bị nhiễm bệnh dịch, bị tai nạn giao thông, bị trúng gió độc, gặp những chuyện nguy hiểm thì lúc đó như thế nào?

“Chớ có sợ hãi, này Mahànàma! Chớ có sợ hãi, này Mahànàma! Không ác sẽ là cái chết của Ông! Không ác là cái chết của Ông! Do thành tựu bốn pháp, này Mahànàma, vị Thánh đệ tử thiên về Niếtbàn, hướng về Niết-bàn, xuôi về Niết-bàn. Thế nào là bốn?

Ở đây, này Mahànàma, vị Thánh đệ tử thành tựu lòng tịnh tín bất động đối với Phật: "Ðây là bậc Ứng Cúng... Phật, Thế Tôn..".... đối với Pháp... đối với Tăng... thành tựu các giới được các bậc Thánh ái kính... đưa đến Thiền định.”.

Những bài này là chủ đề: Biết tu – Không sợ hãi, nguyên văn trong kinh là “Chớ có sợ hãi”. Cho nên, trong thời điểm này, các Phật tử nào sợ hãi, lo lắng, bất an nhiều, nên đọc bài “Trí Đức” của Như Lai. Quý vị muốn thời gian dài lễ trước Như Lai, mỗi một câu, mỗi một hàng, lạy một lạy; hoặc bốn câu lạy một lạy chứ không phải đợi hết khổ mới lạy. Chúng ta hôm trước học bài kinh nói thế nào? Ngay cả vua trời – Đế Thích, nhiều khi lâm trận đánh, lúc nào sợ thì nhìn lên ngọn cờ của Phạm Thiên sẽ hết sợ. Nhưng Đức Thế Tôn nói có khi hết, có khi không, tại sao vậy?

Vì vua Trời Đế Thích thiên chủ còn tham, sân, si, còn hốt hoảng, sợ hãi nên Đức Phật nói: “Này các Tỳ-kheo, khi sợ hãi hãy nhớ về Như Lai”, vì Như Lai là bậc không còn tham, đã ly tham hoàn toàn. Như Lai là bậc không còn giận, không còn sân, hận, là bậc ly sân toàn vẹn, triệt để, cứu cánh tuyệt đối. Hãy nhớ về chúng tăng, những đức hạnh cao thượng của Bốn Đôi Tám Chúng hiền Thánh.

Chúng ta thấy không, nhớ về Đức Phật là bậc không còn tham, sân, si, mà bậc như vậy là tuyệt đối hoàn vô sở quý, không còn sợ bất cứ thứ gì. Mình niệm tới vị đó, tâm mình sẽ được bình an, không sợ. Thành ra quý vị nhớ niệm Phật trong thời điểm này là niệm về trí tuệ, đức hạnh của Như Lai, nhớ đọc bài “Trí đức Như Lai”, thường ai sợ nhớ đem bài đó ra đọc từng câu, rồi thiền quán. Tức mở bài đó lên đọc từng câu, chiêm nghiệm lại, nói về những đức hạnh mình từng đọc được trong kinh, đó gọi là thiền quán về trí đức của Như Lai.

II. Bốn pháp xuôi về Niết Bàn

Mình ngồi nhớ về công, về đức, về trí huệ của Phật, nhớ tâm từ bi của Phật, cứ ngồi đó nhớ, quán nghĩ sẽ dẹp được tâm sợ hãi, lo lắng, bất an sanh ra trí tuệ, biết ơn, cảm ơn, sanh ra tâm hướng thượng. Rất tuyệt vời, công đức niệm Phật rất lớn, chứ không phải chỉ niệm Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, đó mới là niệm tên chứ không phải đức hạn và trí tuệ của Phật. Mình phải nhớ kỹ, nhiều khi chỉ niệm tên như vậy, không sanh khởi được những thọ, tưởng, hành, về công đức, trí huệ của Phật. Cho nên:

“Do thành tựu bốn pháp, này Mahànàma, vị Thánh đệ tử thiên về Niết bàn, hướng về Niết-bàn, xuôi về Niết-bàn”

“Ở đây, này Mahànàma, vị Thánh đệ tử thành tựu lòng tịnh tín bất động đối với Phật: "Ðây là bậc Ứng Cúng... Phật, Thế Tôn..".... đối với Pháp... đối với Tăng... thành tựu các giới được các bậc Thánh ái kính... đưa đến Thiền định”.

Thứ nhất là lòng tin không dao động đối với Đức Phật, thứ hai là lòng tin không dao động đối với Pháp, thứ ba là lòng tin không dao động đối với chúng tăng, thứ tư là thành tựu các giới được các bậc Thánh ái kính, không bị phá hoại, không bị đâm cắt, không bị nhiễm ô, uế nhiễm, đem lại giải thoát, được người trí tán thán, không bị chấp thủ, đưa đến thiền định.

Nhiều khi mình học, tưởng đâu tôi đã tu tới cỡ này rồi còn kêu tôi tin Phật gì nữa. Đối với người mới vô tu học mới kêu tu cái đó, còn tôi tu cỡ này còn kêu tôi tin Phật, không lẽ tôi không tin? Không phải, tin Phật này là nhập lưu Thánh quả thứ nhất, kinh Phật của Nikāya nói không phải bình thường như mình đi chùa với mấy Phật tử.

Có một bài kinh chúng ta sẽ học, Đức Phật nói chỉ cần một người nào đó tin Như Lai tuyệt đối thì người đó nhập lưu, khủng khiếp như vậy đó cho nên tín căng mới thành tín lực, tức từ một nền tảng căn bản của lòng tin đó tạo thành sức mạnh, mà sức mạnh này đưa tới một quả phía sau là tiến lên, luôn luôn lúc nào cũng nhớ nghĩ về Pháp, tập trung tâm ý vào thực hành pháp đó, tâm rực sáng ở trong tuệ giác của các bậc Thánh chứng ngộ là Thánh thể nhập – thể nhập của bậc Thánh, ngũ căn ngũ lực.

Cho nên, chữ tin – tin Phật ở đây rất sâu sắc, không phải đơn giản giống như mình hiểu, tôi tu tới cỡ này, tôi xuất gia rồi, không lẽ tôi không tin Phật, chưa chắc, tin có phải Chánh tín không? Có Chánh kiến về Đức Phật không? Có nhìn Đức Phật đúng như là Đức Phật không? Hay mình nhìn Đức Phật giống như một vị thần để cầu xin, đó là chỗ quan trọng. Cho nên, ai tu bốn Pháp này, tin Pháp, tin tăng thì thành tựu các giới, nghiêng về Niết-bàn, xuôi về Niết-bàn, nghiêng về sự dập tắt tham, sân, si, xuôi về sự dập tắt tham, sân, si và sẽ đi đến biển giác ngộ của Như Lai, đại dương của sự giác ngộ.

“Ví như, này Mahànàma, một cây thiên về phía Ðông, hướng về phía Ðông, xuôi về phía Ðông, nếu bị chặt đứt từ gốc rễ, nó sẽ ngả về phía nào?”

Đức Thế Tôn tuyệt vời lắm, Ngài nói điều gì, đưa ra ví dụ thì ví dụ đó rực sáng trong bài kinh, làm cho người nghe bừng sáng, tỏ rõ, không còn ngờ vực, do dự, nghi vấn gì nữa.

“ Bạch Thế Tôn, về phía nào nó thiên, về phía nào nó hướng, về phía nào nó xuôi.

Cũng vậy, này Mahànàma, do thành tựu bốn pháp này, vị Thánh đệ tử thiên về Niết-bàn, hướng về Niết-bàn, xuôi về Niết-bàn”

Quý Phật tử, cây của quý vị nghiêng về hướng nào? Nghiêng về hướng tham, sân si hay nghiêng về hướng ly tham, ly sân, ly si. Mình coi trong tâm, thấy rõ tâm mình nghiêng về hướng nào, xuôi về hướng nào, ngã về hướng nào thì khi chết ngã về hướng đó, không cần hỏi ai, không cần đi coi bói, không cần hỏi thầy nào, cô nào con chết con đi về đâu, coi trong tâm mình, coi cảm giác, suy nghĩ của mình, những hình bóng trong tâm, những hành động, cử chỉ của mình, những ham muốn trong tâm mình hằng ngày nghiêng về hướng nào?

Nếu nghiêng về hướng ly tham nhiều hơn hướng tham hay nghiêng về hướng tham nhiều hơn? Nghiêng về hướng sân nhiều hơn hay về hướng lìa sân? Nghiêng về hướng si nhiều hơn hay về hướng lìa si mê với trí tuệ? Mình thấy được khi thân này sụm xuống, sụp xuống, đổ xuống, nằm xuống thì sẽ ngã về hướng đó. Chỉ cần nhìn lại tâm mình: “Lắng nghe thọ, tưởng, hành thật kỹ”, lắng nghe những cảm giác, hình bóng trong tâm, trong suy nghĩ đó. Nghe rồi phải dẫn nó lìa tham, sân, si. Lìa tham, sân, si tức là đệ tử của bậc Thánh, “thiên về Niết-bàn, hướng về Niết-bàn, xuôi về Niết-bàn”.

Chữ Niết-bàn ở đây nghĩa là dập tắt tham, sân, si, dập tắt ba ngọn lửa. Niết-bàn là sự mát mẻ, thanh lương, sự tịch tịnh, mát mẻ không còn tham, sân, si nữa, dập tắt tham, sân, si, tịch tịnh, lắng dịu tham, sân, si. Cho nên, mục đích của đạo Phật, toàn thể là dập tắt ba thứ này. Ba thứ này là nguyên nhân của khổ, đưa đến khổ đau.

Như vậy, Đức Phật đưa ra hai hình ảnh tuyệt vời không? Hình ảnh thứ nhất là cái ghè, hay là cái chậu, cái bình đựng bơ, dầu. Đập bình đó ra, bỏ nó xuống sông, xuống nước, những mảnh vỡ của cái bình sẽ chìm xuống, vì nó nặng. Dầu và bơ nhẹ nên nổi lên, trồi lên phía trên.

“Lênh đênh giữa biển luân hồi

Khéo tu thì nổi, vụng tu thì chìm”

Có một gia đình nọ, Minh Thành nghe người ta gửi tin nhắn là rất giàu, ở villa, biệt thư riêng, cách biệt, không đi ra ngoài, tường cao, cổng kín, then cài. Mỗi người ở một phòng, không ai ở chung với ai, nhưng đặt biệt có hai con chó kiểng, chó nước ngoài rất mắc tiền. Người ta cũng thả ra cho nó đi chơi ở ngoài, rồi về vuốt ve hôn hít nó. Hai vợ chồng đều nhiễm bệnh chết, để hai đứa con lại cho ông bà nội nuôi. Dù không đi ra ngoài, cổng kín tường cao mà vẫn bị nhiễm bệnh chết.

Bây giờ, những bác sĩ tuyến đầu, hay hằng ngày những người từ ngoài Hà Nội vô, mới bước xuống sân bay là vô điều trị F0 ngay, hoặc tới nhà trị cho F0 ngay. Vậy tại sao người ta không bị? Trong khi người kia ở nhà, đóng hết cửa? Vì nặng thì nó chìm, nhẹ thì nó nổi, đó là nghiệp chứ không phải trốn là được. Mình tránh thì tránh, kỹ thì kỹ nhưng khi nghiệp đến, nghiệp quả, nhân quả rất kinh hoàng, nghiệp đến không chạy đi đâu được.

“Không trên trời, giữa biển

Không lánh vào động núi

Không chỗ nào trên đời

Trốn được quả ác nghiệp

Không trên trời, giữa biển

Không lánh vào động núi

Không chỗ nào trên đời,

Trốn khỏi tay thần chết”.

Bài kinh Chớ làm điều xấu ác – Phẩm xấu ác – Kinh Pháp cú

Cho nên nghiệp quả hết sức đáng sợ, tránh thì tránh, kỹ thì kỹ nhưng khi nghiệp quả đến thì ở trên trời, dưới biển, vô hang động trong núi cũng phải tới, ác nghiệp, nghiệp quả của nhân loại. Quý vị tin nhân quả, tin Phật, tin Pháp thì không lo sợ, còn lo sợ nghĩa là mình chưa tin chắc vô nhân quả, nghiệp báo. Khi mình tin chắc, xác quyết với nhân quả rồi, vì nhân quả cực kỳ công bằng và chính xác. Mình tin được pháp, tin được nhân quả nghiệp báo rồi, tâm mình sẽ an tịnh để tu học.

Sâu sắc hơn ví dụ này nữa là những ví dụ về chìm nổi, những bài kinh Đức Phật tuyên bố về Nghiệp: “Này, các Tỳ-kheo, Ta tuyên bố rằng, thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác, dứt khoát nhất định không bao giờ có kết quả vui”. Chắc chắn như vậy, tuyệt đối như vậy, tức là nặng bị chìm xuống. Thân thì sát sanh, trộm cắp, tà dâm. Miệng nói dối, nói lời hung ác, nói lời thêu dệt, đâm bị thóc, thọc bị gạo, nói những lời phù phiếm, vô nghĩa. Ý tham lam, nóng giận, si mê, bản ngã. Những cái đó nặng, trì xuống, chìm xuống.

Còn người thân không làm ác, ý không nghĩ ác, miệng không nói ác, từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục tà dâm, từ bỏ nói dối, nói lời hung ác, nói lưỡi đôi chiều, nói lời thêu dệt, phù phiếm, hướng đến sự từ bỏ tham, sân, si, bản ngã, hướng đến điều đó thì người này nhẹ, nổi lên. Nổi ở đâu? Nhân thiên lộ thượng, tức sẽ làm người nhưng đứng ở trên đỉnh của người, sanh trên thế giới của chư thiên cũng đứng trên đỉnh chư thiên. Sanh ra làm người thì đẹp đẽ, sức khỏe, giàu có, trí tuệ, tri thức, học vấn, tâm từ ái, thân tướng đoan nghiêm, đầy đủ hết tất cả tiện nghi, được gặp Chánh Pháp.

Chúng ta có muốn như vậy không? Hay muốn sanh ra đi cà thọt, mù, đui, điếc, câm, ngọng, ở vùng xa xôi hẻo lánh, biên địa, hạ tiện, ở trong lung ba chục. Cho nên làm người đứng trên đỉnh cao của con người, sáu căn lành lặn, tướng mạo dễ nhìn, dễ coi, khả ái, tâm hồn quang minh, trí tuệ, tánh tình từ ái, bao dung, gặp được Thánh Pháp…Đó gọi là nổi!

Còn sanh ra trong địa ngục, sanh ra làm con chó ghẻ, con chuột cống, rắn độc, chó giữ nhà, sanh ra trong địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Có làm người thì ốm đau, bệnh tật, tật nguyền, dị dạng, dị hình, dị tật từ thân thể vật chất tâm lý, sinh lý không giống mọi người, phải ôm một nỗi đau khổ day dứt. Đơn giản như mình đang đi, tự nhiên đạp trúng một miểng chai, cắt đứt sợi gân, như chú kế Minh Đăng ở phía trước, về dưới Sài Gòn để đi làm đá hoa cương. Chú còn nhỏ, mới hai mươi mốt tuổi, mà vận chuyển bằng máy, chú bị lọt xuống, đứt năm sợi gân, bây giờ đi cà thọt. Còn trẻ, mới hai mươi mốt tuổi, đứt năm sợi gân.

Bây giờ mình thấy ai cũng đi bình thường, có mình mình đi cà thọt, có tủi thân không, có dám xuất hiện chỗ đông người không? Mới một chút vậy đã thấy khổ, huống chi là bao nhiêu những cái khác nữa. Một cái thân gọi là “Lục căn bất cụ”, sáu căn không tròn vẹn, khuyết tật, bệnh hoạn về mặt thể chất, tâm hồn, dị dạng, dị hình, rất nhiều thứ khổ đau. Đó là chìm!

Tuy sanh làm người nhưng sống trong những cảm thọ đau đớn, day dứt, giày vò, khổ sở từ khi còn nhỏ cho tới khi nhắm mắt. Có những nổi khổ một mình họ ôm trong lòng, không thể nói cùng ai. Đó là những cảm thọ thống khổ của nhân quả trong quá khứ. Thành ra không thể diễn tả được, nghiệp khủng khiếp lắm, tất cả hiện diện trong đời sống chúng ta đều là nghiệp cho nên khi học cái này chúng ta phải cố gắng sợ nghiệp và làm sao cho nó nhẹ, đừng để cho nó nặng, nhẹ mới nổi, nặng nó sẽ chìm. Mà không phải chìm vừa vừa, nó chìm sâu xuống tận đáy vực, đáy biển, địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh rồi khi nào mới lên nổi?

Tại sao Đức Phật không nói không nói pháp cho những người không đủ sáu căn? Ví dụ người mù hay người điếc, điếc làm sao người ta nghe, còn người mù khi mình phân tích về sắc uẩn, sắc pháp, họ không biết phân biệt, làm sao họ biết sắc tưởng hay sắc uẩn. Họ không đầy đủ căn như vậy thì khi họ nhận thức về pháp sẽ không đầy đủ và tu không thành tựu. Cho nên, Đức Phật không nói Pháp cho những người khiếm khuyết các căn.

Thành ra, chúng ta phải thấy được là, tuy cùng làm người, nhưng để toàn vẹn sáu căn, lành lặn, một tâm thức bình thường là cả một vấn đề. Chúng ta thấy không, ngay cả những người xung quanh, người ở chung, có những người đầu óc không bình thường. Họ không muốn vậy nhưng phải chịu cảm thọ như vậy, họ không nghe pháp được, không quán chiếu được.

Có những người mất ngủ nhiều năm, có người bất cứ thứ gì cũng sợ, nghe tiếng động là tim đập thình thịch, rất nhiều những trường hợp mình không hiểu hết được đó là gì? Đó là ác nghiệp của quá khứ, nghiệp đen, bây giờ sanh ra phải cảm thọ những cảm giác như vậy, nó giày vò, giày xéo, ray rứt, đau khổ.

Có những nổi khổ nói ra được, nhưng có những nổi khổ không nói được, phải âm thầm chịu đựng suốt cuộc đời, rất nhiều những nỗi khổ khủng khiếp. Chúng ta thấy không, những người chuyển giới họ phải chịu nỗi đau khổ thập tử nhất sinh rất khủng khiếp, lên tới đó rồi là sống chết không biết được, rất nhiều những khổ đau. Cho nên mới nói quả vị thục của nghiệp là bất khả tư nghì, không thể nào tưởng tượng được. Đức Phật nói mình suy nghĩ, tưởng tượng những điều này là đầu mình sẽ điên loạn, cho đến chết cũng không thể nghĩ ra được tại sao tôi như vậy? Tại sao người đó như vậy?

Tất cả đều do quả vị thục của nghiệp trong quá khứ của họ, những lời nói, những suy nghĩ, những hành động, những cái họ làm ra cho người ta phải chịu đựng những cảm thọ khốc liệt, đau khổ đó, bây giờ họ sanh ra phải chịu đựng gấp trăm lần, ngàn lần, vạn lần những cái họ đã từng làm trong quá khứ.

Cho nên người biết tu, có Chánh kiến, họ thấy được nhân quả nghiệp báo họ cẩn thận từng chút từng chút. Bà (tên), bà cẩn thận, toàn thả mấy con bò ngay trước tượng Phật, là nguy hiểm cho bà lắm, thầy nhắc nhiều lần rồi, điều đó hết sức nguy hiểm, phải đau khổ dài lâu. Thành ra, mình biết nghiệp rồi thì mình rất cẩn thận, nghiệp quả rất đáng sợ, rất kinh hoàng.

Hôm bữa mình lạy sám hối ác nghiệp sau khi thiền quán thân trống rỗng, nghiệp quả rất kinh hoàng, nhân quả thật đáng sợ, khủng khiếp. Khi mình làm, mình thấy không có gì hết, vì tâm vô minh, tâm không thấy, không biết, không hiểu, mình thấy cái này có gì đâu nhưng thực sự là nó khủng khiếp. Phải cẩn thận những tham muốn, tâm nóng giận, tham lam, si mê, ngu muội của mình; tâm bản ngã, cống cao, ta đây, vênh váo, kiêu ngạo của mình. Hôm qua mình mới học bài kinh về ông Bà-la-môn kiêu ngạo, tới gặp Đức Phật.

Ví dụ thứ hai, Đức Phật nói về cái cây nghiêng, những ví dụ này mình phải thuộc suốt đời không được quên.

“Ví như, này Mahànàma, một cây thiên về phía Ðông, hướng về phía Ðông, xuôi về phía Ðông, nếu bị chặt đứt từ gốc rễ, nó sẽ ngả về phía nào?

- Bạch Thế Tôn, về phía nào nó thiên, về phía nào nó hướng, về phía nào nó xuôi”.

Tâm của mình có lòng tin nghiêng về Phật, pháp, tăng; tâm mình nghiêng về sự lo giữ giới, làm sao giới của mình ngày càng nhiều lên, tăng trưởng, tròn vẹn, viên mãn, vẹn toàn. Còn cái nào chưa được, mình lo, mình mong muốn thì mình giữ được. Tâm mình lo làm sao để nghe được nhiều pháp, đọc được nhiều kinh, thuộc được nhiều bài trong kinh tạng Nikāya của Đức Phật, tâm mình cứ nghiêng về điều đó nhiều.

Rồi tâm mình nghiêng về bố thí, san sẻ, sớt chia, cho người, có thứ gì cũng nghĩ đến người ta, có món đồ ăn gì, có món gì ngon là muốn chia, muốn đem tặng, muốn đem cúng, cho mọi người hết. Nghĩ tới người nghèo, người khổ, người đang bệnh đau, hãy nghĩ đến những người đó. Tâm mình thường thường chiêm nghiệm về trí tuệ, sự sanh diệt của ác uẩn, Thánh thể nhập, sự thể nhập của bậc Thánh.

Thường thường làm gì mình phải nghiền ngẫm, chẳng hạn khi nghe tin ông thầy đứng kế bên mình tụng kinh, hôm nay ông chết rồi. Thật sự nguyên ngày hôm nay, thọ mình tới giờ cũng chưa tan, mình trú vô bên trong đó. Thật là bất ngờ, thật xót xa, thật đột ngột, không ai có thể tưởng tượng được. Thầy đó mới có năm mươi lăm tuổi, tướng tá to lớn, mạnh mẽ mà bệnh trong vòng một tuần lễ đã ra đi.

Như vậy, mình mới nghiền ngẫm vô thân bệnh này, đời sống mong manh tạm bợ này, những giọt sương này khi mặt trời lên, thoáng chốc sẽ tan biến. Hãy nghiền ngẫm, quán chiếu, an trú vào trong đó, duy trì cảm thọ đó, phát triển cảm thọ đó lên. Khi nghe rồi không cho nó qua liền mà liên hệ tới cái gì đó, mình xem tin tức cũng vậy, mình phải an trú vô cảm thọ, hình ảnh đó, những suy nghĩ đó, mình an trú trong đó. Mình đi sâu vào trong sự quán chiếu để nó làm cho mình phát sinh nhàm chán, yểm ly, ly tham, từ bỏ, chấm dứt, hướng đến sự từ bỏ, chấm dứt, an tịnh, thắng trí, chứng ngộ Niết-bàn.

Mình làm cho cảm giác đó lan tỏa ra, đậm đà lên, làm cho nó sâu sắc. Mình an trú vô trong đó, bắt đầu tư duy, tác ý, quán chiếu nhiều để cho thiện pháp rực sáng, chói sáng, bừng sáng trong tâm mình trí tuệ về khổ Thánh đế, sự khổ đau của đời sống này, sự vô thường, sự mong manh, tan hoại, hủy hoại, sự hoại diệt, giống như trong kinh Đức Thế Tôn nói: “dầu thân có sắc này, do bốn đại hợp thành, do cha mẹ sanh, do cơm cháo nuôi dưỡng, có bị vô thường phá hoại, phấn toái, đoạn tuyệt, hoại diệt”.

Khi nghe tin đó, mình đọc câu kinh này lên, mình tác ý, quán chiếu, trú trong đó càng nhiều càng tốt, cho suy nghĩ đó tiếp tục, cho những cảm thọ đó duy trì, cho những hình bóng sanh khởi lên. Mình trú trong đó, quán về bất tịnh, quán về vô thường, quán về chết chóc, niệm tử. Để làm gì? Để nhàm chán, xả ly, mới hướng đến sự không ham muốn nữa, để nó từ bỏ. Như vậy gọi là mình tu tập trí tuệ, quán chiếu về sự sanh diệt của năm uẩn.

Giống như cái cây nghiêng về hướng đó hoài, một ngày tám tiếng, mười tiếng đồng hồ hay nửa ngày trời toàn là nhớ mấy thứ đó. Mà tham, sân, si này mình bỏ nó qua một bên, chút xíu là dập tắt liền, giống như nó nhỏ vô mấy giọt nước vào cái nồi sắt nung đỏ lửa, nó cháy xèo xèo rồi tan liền. Nó không ở tồn tại lâu dài trong tâm mình.

Cái khổ vô thường, những trí tuệ mà Đức Phật dạy được an trú trong đó thường xuyên và liên tục, tâm mình cứ nghiêng về đó, ngã về đó, xuôi về đó, hướng về đó hoài như vậy thì khi nó đổ xuống, thân này sụm xuống, sụp xuống, ngã xuống, nó nằm xuống. Tâm của mình lúc đó thượng thặng, đi đến chỗ thù thắng, tâm mình leo lên chiếc xe để đi đến chỗ cao đẹp, chỗ an lạc, hạnh phúc, cõi giới tốt lành để tiếp tục tu tập, nhiếp phục và diệt tận tham, sân, si để cho nó đến xuôi về Niết-bàn, hướng về Niết-bàn, nghiêng về Niết-bàn, nhập vào trong Niết-bàn.

“Chớ có sợ, này Mahànàma!” Chỉ sợ mình không tu, không chịu nhiếp phục tham, sân, si; chỉ sợ mình không nhàm chán, không lìa tham muốn chứ đừng sợ bệnh, sợ già, sợ chết, sợ dịch. Sợ dịch mà mình không chịu tu, không chịu thực hành, thực tập, tâm mình bình an, an tịnh, lắng dịu trong những lời dạy của Đức Phật. An trú trong đó sẽ được bình an, an tâm, không sợ hãi. Biết tu là không sợ hãi. Xin mời các Phật tử có chia sẻ gì không ạ?