Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Người Xuất Gia Làm Được Điều Khó Làm

2026-03-03 00:54:19
KINH NIKĀYA GIẢNG GIẢI

NGƯỜI XUẤT GIA LÀM ĐƯỢC ĐIỀU KHÓ LÀM

–Thích Minh Thành–

Sư Phụ: Kính bạch chư tôn thiền đức và chư vị hiền trí, từ lúc chuẩn bị tết cho tới bây giờ cũng đã gần một tháng rồi, mùa xuân thế gian tới nay cũng đã hết rồi nên chúng ta cố gắng trở về khuôn khổ tu học. Mình tìm được mùa xuân ở trong tâm mình thì mới có hạnh phúc, mới có sự bình an chứ mùa xuân bên ngoài nó rộn ràng một chút vậy đó nhưng giả dối không à.

"Ðứng một bên, Thiên tử Kàmada bạch Thế Tôn:

Khó làm, bạch Thế Tôn,

Thế Tôn, thật khó làm.

Tuy vậy, Kàmada,

Họ làm việc khó làm,

Chính các vị hữu học,

Kiên trì tu giới định,

Ðã chọn đời xuất gia,

Biết đủ, đem an lạc" (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương II. Tương Ưng Thiên Tử, I. Phẩm Thứ Nhất, VI. Kàmada)

Vị chư thiên này tán thán chư vị xuất gia, ngài bạch Đức Thế Tôn người xuất gia thật là làm cái việc khó làm, khó người làm được lắm, hy hữu, hiếm có khó làm nhưng mà Thế Tôn nói rằng thật là khó làm nhưng mà họ làm được việc khó làm. Người xuất gia của chúng ta làm được việc khó làm.

"Biết đủ, bạch Thế Tôn,

Biết đủ, thật khó được.

Tuy vậy, Kàmada,

Họ được điều khó được.

Những vị lòng ưa thích,

Tâm tư được điều tịnh,

Cả ngày và cả đêm,

Ý an lạc tu tập." (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương II. Tương Ưng Thiên Tử, I. Phẩm Thứ Nhất, VI. Kàmada)

Vị chư thiên này cảm thán cái ý thứ hai là khó mà biết đủ được nhưng người xuất gia lại làm được cái điều đó, lại sống được cái đời biết đủ. Vị chư thiên tán thán bốn đôi tám chúng của Đức Phật, tán thán các vị xuất gia biết đủ, chúng ta thấy tuyệt vời không? Cái điều thứ nhất là cái việc của người xuất gia là khó làm nhưng mà người xuất gia lại làm được cái khó làm đó, khó làm là khó làm chỗ nào? Chỗ kiên trì tu giới, định, tuệ, sống đời sống viễn ly, sống đời sống ly tham, ly dục, sống đời sống ép mình vào trong khuôn khổ, trong oai nghi, trong giới luật, trong đức hạnh, trong sự kiểm soát thân tâm.

Thật là khó làm nhưng mà người xuất gia làm được, thiền định thật là khó nhưng mà người xuất gia thiền định được, đã chọn đời xuất gia, biết đủ đem an lạc tại vì chính họ cam tâm tình nguyện, tự nguyện, tự giác, không ai ép buộc hết, họ yêu cái đời sống xuất gia, quý cái đời sống xuất gia, họ yêu cái đời sống viễn ly, họ thích cái đời sống viễn ly, họ quý cái đời sống xuất ly, họ cam tâm tình nguyện, hạnh phúc, hoan hỉ, sung sướng, thỏa mãn với một cái đời sống núi rừng cho nên đời sống xuất gia khó làm nhưng mà các vị làm được. Quá tuyệt vời luôn.

Cái thứ hai đó là biết đủ rất là khó, khó mà sống được đời sống biết đủ tuy vậy họ được đều khó được, những người tu sống được cái đời sống biết đủ, ít muốn biết đủ, tối giản. Họ được cái điều khó được đó, những vị lòng ưa thích, tâm tư được điều tịnh, điều phục, họ an tịnh vì tâm họ hân hoan, họ hoan hỉ, họ ưa thích, họ cam tâm tình nguyện, họ tự nguyện, họ tự giác, họ tự động, tự khích tự lệ, tự tiến tự lên, những vị lòng ưa thích, tâm tư được điều tịnh. Ưa thích cái sự điều phục thân tâm, họ ưa thích cái sự an tịnh, thiền tịnh, thiền định, vậy cả ngày lẫn đêm ý an lạc tu tập. Cái câu này thiệt là sung sướng, cả ngày cả đêm họ vui, họ thích, họ hoan, họ hỷ, họ hạnh phúc, họ sung sướng trong cái sự điều phục và an tịnh đó, tuyệt vời không? Mình tu là mình phải nếm được cái hương vị này để chư thiên mới cung kính, mới đảnh lễ, mới cúng dường, mới tôn trọng, mới ca ngợi, mới xưng tán.

"Khó tịnh, bạch Thế Tôn,

Tâm ấy, thật khó tịnh.

Tuy vậy, Kàmada,

Họ tịnh tâm khó tịnh.

Những vị lòng ưa thích,

Các căn được tịch tịnh,

Cắt đứt lưỡi tử thần,

Bậc Hiền Thánh đi tới." (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương II. Tương Ưng Thiên Tử, I. Phẩm Thứ Nhất, VI. Kàmada)

Điều thứ tư vị thiên tử này tán thán người xuất gia là cái tâm này rất là khó tịnh, khó an tịnh, khó thanh tịnh, khó thiền tịnh, tâm ấy thật là khó tịnh bạch Thế Tôn, tuy vậy họ tịnh tâm khó tịnh. Người xuất gia chúng ta làm cho an tịnh được cái tâm khó an tịnh đó, tuyệt vời không? Hy hữu không? Hiếm có không? Đẹp không? Đây là thiên tử, là thái tử ở trên cung trời, thế gian mình gọi là thái tử, ở trên cung trời gọi là thiên tử. Chiều nay con ngồi đọc Tương Ưng Bộ, tập I, Thiên Có Kệ, hồi xưa mình đọc phớt qua không thấy được nghĩ lý thâm sâu, bây giờ mình đọc tới đâu nó ngấm tới đó mà nó hạnh phúc, nó hân hoan, nó sung sướng, nó thấm đẫm, nó thấm đượm mà nó dào dạt tới nỗi không đọc tiếp được nữa, phải ngồi lại để cho nó ngấm, không đọc được nữa luôn, cảm giác nó rần rần, nó lan tỏa cùng khắp châu thân, nó sung sướng, nó hạnh phúc, nó hân hoan, nó phấn khởi, nó thấm nhuần, nó thấm gội, nó thấm đẫm, nó thấm ướt, nó thấm từ cái đảnh tóc tới gót chân mà những cái câu hết sức là ngắn gọn, đơn giản nhưng được quần tiên tán thán, các thánh đệ tử.

Người xuất gia là người làm toàn những việc khó làm, không phải là chui xuống biển, không phải bay lên trời, không phải đi xẻ núi, đi phá rừng, không phải để khai khẩn để xây cất, để làm các cái ở bên ngoài mà cái sự khó làm ở đây là cái sự tịnh được cái tâm khó tịnh, đều phục được cái tâm khó điều, kiên trì tu giới định, đã chọn đời xuất gia, biết đủ đem an lạc. Đó là cái việc khó làm của người xuất gia đó, làm sao để mình hạnh phúc, mình hân hoan, mình sung sướng trong đời sống xuất gia của mình, làm sao mình hạnh phúc, mình hoan hỉ, mình an lạc trong sự an tịnh, lắng dịu, trầm mặc, lặng lẽ, cô độc trong cái sự ngồi yên tịnh ở trên bồ đoàn, trong cái sự ở một mình đi kinh hành, thiền hành dù cho chúng động mình vẫn có thể sống một mình.

Mình có thể ngồi với khóm trúc, trên tảng đá, dưới tàn cây, trong thiền phòng, mình tìm được những cái sự điều phục, chế ngự thân tâm, mình không có vui với cái vui náo nhiệt tùng lâm, cái vui lao xao, cái vui lăng xăng, cái vui động loạn. Không phải, mình tìm được cái vui mà ở đây trời cũng phải kính lễ, phải tán thán, phải xưng tán, phải khen tặng, đó là tâm tư được điều tịnh, họ an vui tu tập ở trong cái pháp đó, trong cái pháp hành đó, họ hoan hỉ ở trong đó, họ hạnh phúc ở trong đó, họ thỏa mãn ở trong đó, họ thấy trong thân tâm họ đầy ấp không còn đi tìm đi kiếm, không còn đi trông đi chờ, đi mong đi đợi, đi ngóng, truy tầm bất cứ cái gì trên cuộc đời này nữa, chỉ còn quay lại chính mình để nhiếp phục, chế ngự, đều phục, an tịnh, lắng dịu và cả ngày cả đêm tu tập mà ý an lạc, tâm hoan hỉ.

Người có tu tâm hỷ hay không nhìn biết liền à, trong khi nghe pháp, trong khi trình pháp, trong khi ngồi thiền nhìn biết liền, mắt nở hoa, miệng nở hoa, gương mặt nở hoa, toàn thân nở hoa là người có tu cái hỷ tâm trong sự tu tập, người không có tu nhìn vô là nó tiều tụy lắm, mệt mỏi lắm, ngao ngán, nhìn chán chường lắm tại vì mình không có khéo tu tập tâm hỉ, nó thích những cái bên ngoài nên mình phải khéo tu tập cái tâm hỷ đó sẽ hạnh phúc lắm. Thường thường đa số mình không có khéo như lý tác ý là mình tu nó nhạt nhẽo lắm, nó vô vị, nó rơi vô cái trạng thái bất khổ bất lạc, thường cái tâm si, đơ đơ, trơ trơ, ngơ ngơ rồi gặp cái ngũ dục ở bên ngoài là nó rất là mạnh, nó có một sức hút, có một cái sự hấp dẫn. Mình không nếm được cái pháp lạc thì mình sẽ bị cái dục lạc đó lôi kéo tại vì sống trên cuộc đời là người ta tìm cái vui người ta mới sống, Bây giờ ở trong cái sự tu, trong sự học mà mình không thấy cái vui thì mình sẽ tìm cái vui ở ngoài sự tu học và cái vui ngoài tu học thì nó đưa mình từ từ thối thất và nó sa đọa, lần lần sự tu của mình nó sẽ dừng lại, dặm chân tại chỗ, sau đó nó thối lui, cuối cùng quá nó rơi rớt. Nhìn là thấy biết hết cho nên những cái bài kệ này là bốn cái pháp của vị thiên tử này nói là rất là quan trọng để chúng ta thực tập, khó làm, khó đủ, khó tịnh, khó đi.

Cái cử chỉ, cái hành vi, từ cái ánh mắt, cái lời nói, cái gương mặt, cái bước đi, cái hành động, ứng xử đều là tịch tịnh. Lúc nào cũng có an trú cảm giác toàn thân hết, lúc nào cũng trú trong cái cảm giác an tịnh, lắng dịu hết, lúc nào cũng có niệm thân hết, Thân Hành Niệm, họ nhớ cái thân thể này sử dụng như thế nào, họ biết. Các căn được tịch tịnh, mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý vắng lặng, đến đi vắng lặng. Cho nên nhiều khi các vị có tu sâu sắc được một đôi phần trong an tịnh, lắng dịu thì người ta đến mình không hay, người ta đi khi mình không biết, còn các vị không có tu tập an tịnh, lắng dịu, không có phòng hộ các căn thì từ xa tới là biết rồi, có những vị con thấy phải để ý cái bước của mình, nhiều khi ở trên sân Quán Chiếu Đường là con đổ bê tông mà đi thình thình, nếu cái sàn cây thì không biết sao.

Lúc đó là mình không có cảm giác toàn thân, mình không có niệm thân, một người có an trú cảm giác toàn thân, một người có an trú ở trong cái cảm thọ an tịnh, lắng dịu, một người có thực tập các căn tịch tịnh thì người đó khác, nhẹ như lông hồng, sự xuất hiện người này giống như mây bay gió thổi, họ không có ồn ào, không có cái gì tỏ ra cái gấp gáp, lăng xăng, tất bật, vội vã. Người thực tập được cái sự an tịnh, lắng dịu đó, tất cả những cái này tự động nó lắng dịu xuống, nó được nhiếp phục, được chế ngự, thậm chí những cái việc lớn, nguy cấp đến người này cũng có một cái trạng thái thông thả, bình thản. Thành ra chúng ta thấy cái chữ an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào đó là chúng ta thực hiện suốt cuộc đời, con mong các thầy, quý Ni sư là phải thường nhắc cho đại chúng, nhất là những chúng mới để ý cái này kỹ, đây là đặc sản của hiền trí, đây là chất liệu của hiền nhân, đây là linh hồn của đạo tràng Nikāya, đây là tố chất của thánh đệ tử.

Chúng ta đọc trong tạng kinh chánh tạng thường mấy các ông ngoại đạo đang nói chuyện lu bu mà thấy xa xa tôn giả Xá-lợi-phất, ngài Mục-kiền-liên, ngài Ca-diếp hay là Đức Thế Tôn mà đi gần tới là các ông ấy đều im lặng, tự động bảo nhau Sa-môn Cù-đàm và các vị thánh đệ tử đang đi đến, các vị ấy ưa yên lặng, thích yên lặng, nếu hội chúng chúng ta yên lặng các ngài sẽ đến đây. Rất nhiều tình huống như vậy, ở trong thánh đệ tử thời Đức Phật và cái hội chúng tinh ba thâm sâu hội chúng của bậc thánh thì chúng ta biết rằng cái sự an tịnh, lắng dịu này nó tuyệt vời lắm. Như bọt nước trôi sông, như lầu sò chợ bể, ai nhìn đời như thế, thần chết không bắt gặp.

"Hãy nhìn như bọt nước,

Hãy nhìn như cảnh huyễn!

Quán nhìn đời như vậy,

Thần chết không bắt gặp"

(Kinh Pháp Cú 13 – Phẩm Thế Gian, kệ 170)

Người nào quán được cái sắc như hòn bọt, quán được cái tâm này giống như ánh chớp, như ráng mặt trời, trong kinh nói sắc quán như hòn bọt, quán thọ như bong bóng nước, quán tưởng như ráng trời, quán hành như cây chuối, quán thức như ảo thuật. Người nào thường quán như vậy thì tử thần không bắt gặp được.

"Người luôn luôn chánh niệm,

Sự sanh diệt các uẩn,

Ðược hoan hỉ, hân hoan,

Chỉ bậc bất tử biết"

(Kinh Pháp Cú 25 – Phẩm Tỳ-kheo, kệ 374)

Cái người luôn luôn chánh niệm sự sanh diệt của thân tâm này, của sắc; thọ; tưởng; hành; thức này, của các cảm thọ này, cứ nhớ cái sự sanh diệt hoài, người này nhớ khổ hoài, thấy sanh diệt vô thường hoài thì người này không có buồn mà ngược lại còn hoan hỉ, hân hoan. Đây là điều đặc biệt, người thường nhớ cái khổ người đó được vui tại vì người này lìa khổ, không còn tạo ra những cái nhân khổ nữa, người này đứng ngoài cái khổ. Người thường niệm sanh diệt, thường nhớ vô thường, thường quán sự khổ, trống rỗng, trống không thì người này được hoan hỉ, hân hoan mà chỉ bậc bất tử mới biết thôi, Đức Thế Tôn và các bậc A-la-hán mới biết niềm vui của người này chứ không phải niềm vui là mình ăn to nói lớn, cười hỷ hả, giỡn hớt, dao động, lăng xăng, không phải, đó là thế lạc, phàm phu lạc, không phải là cái lạc của viễn ly, cái lạc của an tịnh, cái lạc của chánh giác. Cái lạc của giải thoát mà cái lạc là thấy được cái khổ thì người đó lạc, càng thấy được cái khổ người đó càng vui, càng hiểu được cái khổ thì người đó càng an, càng thấy được cái khổ thì người đó lại càng thảnh thơi, siêu thoát, siêu thế lạc, chánh giác lạc, Niết-bàn lạc.

Tuyệt vời vậy đó nên phải ráng cố gắng tu để thưởng thức những cái hạnh phúc này, những cái niềm vui này, ráng cố gắng tác ý, cố gắng quán chiếu thì mình nhìn cái gì cũng thành pháp, mình nghĩ cái gì cũng ra pháp, mình nói cái gì cũng phù hợp với chánh pháp hết mà phải nỗ lực mới được, phải quyết tâm, phải tu sống chết, tu liều mạng, tu bất kể bất chấp thì mình mới có được cái kết quả thâm sâu, mình mới cắt đứt lưỡi tử thần, bậc thiền thánh đi tới.

Bậc hiền thánh đi tới ở đây mình hiểu hai nghĩa đều được hết, là các ngài là những bậc hiền thánh các ngài đi tới, mà mình đi tới cái bậc hiền thánh cũng vẫn được. Cái người được như vậy đó, cái người mà họ tịnh tâm khó tịnh, những vị lòng ưa thích các căn được tịch tịnh, cắt đứt lưỡi tử thần thì họ đi tới các bậc hiền thánh và những vị đó là đã đi vào bốn đôi tám chúng hiền thánh rồi, từ cái chỗ đó họ đi tới Niết-bàn luôn.

"Khó đi, bạch Thế Tôn,

Con đường thật lồi lõm.

Tuy vậy, Kàmada,

Bậc Hiền Thánh vẫn đi.

Trên con đường khó đi,

Và có nhiều lồi lõm,

Kẻ phàm phu vấp ngã,

Trên đường mất thăng bằng.

Con đường đối bậc Thánh,

Là con đường thăng bằng,

Bậc Thánh bước thăng bằng,

Trên đường mất thăng bằng." (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương II. Tương Ưng Thiên Tử, I. Phẩm Thứ Nhất, VI. Kàmada)

Vị thiên tử này nói con đường tu này nó lồi lõm lắm, nó gian nan lắm, nó gian truân lắm, nó gập ghềnh lắm, nó chông gai lắm, nó chướng ngại lắm, nó trở ngại lắm, nó ngăn ngại lắm, đủ thứ hết. Khó đi nhưng mà bậc hiền thánh vẫn đi, mình vẫn đi, mình cam tâm tình nguyện đi, không ai bắt mình đi hết, không ai dụ mình đi hết, không ai đẩy mình đi vô cạo đầu hết. Phải xin năm lần bảy lượt cha, bà con, gia đình rồi vô gặp sư phụ phải xin năm lần bảy lượt mới được cạo đầu nhưng được thời gian rồi chán, đó là mình cô phụ với chính mình đó, mình không biết thương mình, mình không biết trân trọng, trân quý mình, mình cô phụ cái ý chí cao thượng, thanh cao, thánh thiện, siêu thế, xuất thế gian.

Mình phải thường xuyên nhớ lại những khi mình mới bắt đầu chớm lên cái tâm muốn xuất gia, mình thường mình nhớ cái hình ảnh đó, cái cảm thọ đó, cái suy nghĩ đó, rồi trải qua bao nhiêu những cái thời gian phải sắp xếp, phải chiến đấu bên trong rồi bên ngoài, phải vượt qua bao nhiêu những cái vòng vây của cha mẹ, của anh chị em, bà con, cô bác rồi mình vô chùa phải vượt qua bao nhiêu những cái khó khăn, thử thách. Phải qua biết bao nhiêu quan ải rồi mình mới cạo cái đầu, mình đắp cái y lên rồi lên, mình thọ giới Sa-di rồi thọ giới Tỳ-kheo, thấy được ngũ uẩn, nhìn ra tham, sân, si, bản ngã mà tới đây mà mình thối lui thì như vậy thì đáng thương, tội nghiệp vô cùng. Tại vì mình không có biết tác ý, mình không chịu tác ý, mình không nỗ lực tác ý thì thiện pháp dần dần nó sẽ mất, ác pháp nó sẽ sanh khởi.

Con đường dù có khó khăn, chông gai, lồi lõm, trắc trở nhưng bậc hiền thánh, người xuất gia, những bậc hiền giả, những bậc hiền trí vẫn quyết tâm tiến tới, chết cũng không bỏ. Mình phải phát nguyện hằng ngày như vậy đó, bất cứ mình ngồi ở dưới gốc cây, mình ngồi trên tảng đá, mình đứng ở ngoài hay là triền núi mình đứng phát nguyện một mình chết cũng không bỏ, chết cũng phải thể nhập, chết cũng phải chứng nhập, chết cũng phải chứng đạt, chứng đắc, chứng ngộ con đường tối thượng này. Mình phải thường thường tác ý phát nguyện, phải thường mỗi ngày nhiều lần, mình nói với tâm riết thì cũng có ngày "thôi được rồi, chắc chắn rồi, quyết định rồi, đồng ý từ đây đến ngày tắt thở tối thiểu phải Nhập Lưu, tối đa lậu tận". Nhất trí không? Chứ còn tu mà không thích ý gì hết, không triển khai thiền quán gì hết, tới giờ tu mới lên ngồi đó, hết giờ tu thì xuống là xong, tu như vậy thì tu hoài cũng không tới đâu hết.

Kẻ phàm phu vấp ngã,

Trên đường mất thăng bằng

Nghĩa là vẫn có những người đi vô tu mà người này bị vấp ngã rồi bỏ luôn, khó khăn chút là người này thối lui. Cái này nhiều lắm, nhiều phương diện, khía cạnh, góc độ, cái trường hợp, cái tình huống lắm, nhiều khi thấy vẫn còn hình thức xuất gia nhưng mà bên trong cái tâm coi như xong rồi, giống con lừa theo con bò, không có ước muốn sắc bén nữa, buông xuôi luôn, chỉ còn hình thức bên ngoài thôi. Như vậy chỉ là cái xác không hồn, là cục thịt lăn lóc, cái túi da biết đi vậy thôi, không có cái hồn của người tu, không có cái chất người tu, không có trái tim, không có khối óc, không có cái linh hồn của thánh đệ tử, không còn cái tâm cầu tiến, thăng tiến, vượt tiến, không còn cái tâm đột phá, đánh phá, phá vỡ, không còn một cái tâm lật đổ các phiền não, diệt tận các cấu uế, vượt lên trên chính mình thì như vậy đó là kẻ phàm phu vấp ngã, trên đường mất thăng bằng, đây mình nói sâu cho các vị tu luôn, còn ngoài đời khỏi cần nói. Nhưng cũng con đường ấy nhưng mà đối với bậc thánh đệ tử, đối với người xuất gia lại là con đường bằng phẳng, con đường thăng bằng.

Bậc Thánh bước thăng bằng,

Trên đường mất thăng bằng.

Một khi mình đã có chánh kiến, một khi mình nhìn thấy được ngũ uẩn, mình nhìn thấy tham, sân, si, mình nhìn thấy bản ngã thì đó chính là con đường thăng bằng rồi, có cái gì nữa đâu khó? Chỉ có mình làm mạnh hay là yếu, chậm hay là mau thôi chứ không có cái gì khó nữa hết. Khi một người có niềm tin bất động, một cái thấy biết mình xác quyết tuyệt đối một trăm phần trăm thì người này không có cái gì gọi là mất thăng bằng, lồi lõm nữa hết, dù có bị người ta chửi, người ta hủy nhục, người ta chê là cái thằng đó là nó như thế này, cái con đó là nó như thế này thì chẳng có là cái gì hết, mình nhìn thấy vẫn thăng bằng là tại vì ngũ uẩn nó là vậy mà. Thí dụ bây giờ người ta nói mình "thằng đó thằng chó đó" thì cúi đầu xuống liền "Dạ đúng rồi, trong vô lượng vô biên kiếp sanh tử vừa qua con đã từng làm heo, làm gà, làm trâu, làm bò, làm chó, làm ngựa, làm giòi, làm rắn, làm rết. Đúng quá rồi, dạ con cảm ơn ngài nhắc con tu, mô Phật con cảm ơn".

Trong bài "quán tâm" con gửi thì tham dục giống như con heo, sân hận là giống như con chó, buông lung phóng vật là giống như khỉ vượn, xảo huyệt giống như con cáo chồn, ngu si giống như con trâu bò thì tất cả những cái đó là mình đã từng sanh qua hết trơn rồi. Thành ra những cái tâm đó có trong mình hết trơn à, những cái tâm đó tương ứng những cái thân đó, hết mấy cái tâm đó là nó không còn làm mấy con đó nữa, hết chữ "con" còn chữ "người" thì gọi là chân nhân mà còn chữ con thì giả nhân chứ chưa có chân nhân, có khả năng sẽ đi làm những cái con kia cho nên bậc đạo sư kêu mình tu để thoát khỏi chữ con mà rủi như còn bảy lần trở lại, năm lần, ba lần trở lại thì còn chữ người, chữ thiên nhân là sau chữ thiên là có chữ nhân, thiên nhân là người ở cõi trời. Bây giờ muốn làm chữ con hay muốn làm chữ người? Hễ còn tham dục, sân hận, bản ngã, ghim gút, ác độc, xảo quyệt, gian trá này kia là con hết, còn cái tâm hiền thiện, hiền từ, chân thành, chân thật, cung kính, biết ơn, cái tâm đó là người.

Đối với phật thánh không còn cái gì khó hết, đối với người đã nhìn thấy được pháp thì có gì đâu, có ai đâu, tất cả là những cái đống khổ, những cái đống nghiệp, những cái đống quả báo, những cái đống tập khí, những đống phiền não, những cái đống đầy ngu si, sân hận, đầy dục tham chứ có ai đâu. Nếu mình an trú trong pháp vậy thì có ai đúng, ai sai, mình bắt bẻ ai, mình sân si với ai, hơn thua với ai nếu mình trú ở trong pháp, không có cái gì quan trọng bằng thực hành pháp, không có bất cứ một cái gì ở trên đời này quan trọng bằng sự thực hành pháp, nhớ kỹ điều đó.

Ngoài thực hành pháp ra

Tất cả đều vô nghĩa

Tất cả đều trống không,

Tất cả đều trống rỗng

Tất cả là hư không

Ngoài thực hành pháp ra

Tất cả đều vô dụng

Tất cả không dùng được

Tất cả không xài được

Tất cả không có thật

Ngoài thực hành pháp ra

Tất cả đều vô ích

Chẳng có lợi ích gì

Chỉ toàn là hư vô

Không giúp được gì cả

Ngoài thực hành pháp ra

Tất cả đều vô tình

Chẳng có tình nghĩa gì

Tất cả là hư ảo

Chỉ là giả dối thôi

Ngoài thực hành pháp ra

Tất cả đều vô lý

Không có đạo đức gì

Trong cõi đời gian trá

Giữa thế giới huyễn hư

Ngoài thực hành pháp ra

Tất cả đều vô thường

Chẳng có gì tồn tại

Biến hoại trong tích tắc

Chớp mắt thành hư không

Ngoài thực hành pháp ra

Tất cả đều vô ngã

Không có gì là ta

Không gì là của ta

Tất cả bọt bong bóng

Ngoài thực hành pháp ra

Tất cả vô tích sự

Chẳng nên trò chống gì

Chẳng được một

Thứ gì tất cả là rỗng tuếch

Ngoài thực hành pháp ra

Tất cả vô giá trị

Không đáng nửa đồng xu

Còn thua nùi giẻ rách

Tất cả chẳng có chi

Ngoài thực hành pháp ra

Tất cả đều vô tâm

Chẳng có chút chân thành

Chẳng có chút thật lòng

Tất cả là dối trá

Ngoài thực hành pháp ra

Tất cả đều vô vọng

Không trông mong được gì

Toàn vô thường, vô ngã

Chẳng một tia hy vọng

Ngoài thực hành pháp ra

Tất cả đều vô đạo

Không có đạo đức gì

Trong tham lam, sân si

Một bản ngã to cao

Không thực hành pháp làm sao mà có đạo đức? Đầy rẫy tham, sân, si, bản ngã, vô minh, dục ái thì đạo đức cái gì?

Từ nay phải nghe lời

Từ nay phải tuân lệnh

Từ nay phải hết lòng

Phò tá cho thánh trí

Không nghe lệnh chém đầu

Ngũ mã phanh thây ngươi

Tội đáng xử lăng trì

Quyết không hề nể thương

Nhất nhất là phải tuân hành, nhất nhất y như luật lệnh, khi thánh trí ra lệnh ở bên trong là tất cả thọ; tưởng; hành; thức răm rắp nghe lệnh, nhất nhất y như luật lệnh, cãi lời chém đầu, ngũ mã phanh thây, tử tội lăng trì. Ngày xưa bậc đạo sư dạy con phải dùng mãnh hổ lực, hung hãn lực, oai hùng lực, sư vương lực, voi chúa lực, dùng hết tất cả những cái tâm lực, sức lực, đạo lực, hạnh lực, nguyện lực, pháp lực, thần lực, trí lực, tất cả tận cùng sức mạnh mình trong sự tu, trong cái sự học, trong sự thực hành thì mình mới có thể đột phá được, mình có thể vượt lên được, còn không mình tu suốt đời cũng lòng vòng chỗ đó thôi à, không có thay đổi, không có đổi mới được, không có phát triển được, không có hướng thượng được, không có tăng thượng được, không có bước lên những cái bước cao thượng được.

Phải dám nghĩ dám làm, dám làm liều những cái khó làm, nãy giờ chúng ta thấy khó làm là người xuất gia, khó biết đủ là người xuất gia vẫn làm được, khó tịnh cái tâm mà vẫn làm được cho cái tâm tịnh, con đường khó đi mà vẫn đi được, đó là làm những chuyện khó làm, nhẫn những điều khó nhẫn, sống nếp sống khó sống và đi cái con đường khó đi. Tất cả đều phải vượt qua được hết với một cái thánh trí tối thượng này.

Nay ta xin thệ nguyện

Diệt hết bọn giặc này,

Bọn giặc tham, dục, ái

Đã ám hại muôn đời,

Đè đầu cưỡi cổ ta

Nay ta phải lật đổ

Quân ác độc vô hình

Âm thầm hại chúng sinh

Nay ta phải phá nát

Xào huyệt, hang ổ địch

Lũ giết hại hữu tình

Chuyên làm khổ vạn linh

Nay ta phải khởi nghĩa

Đánh phải thắng trận này

Giết phải chết bọn giặc

Diệt phải tận cùng luôn



Đánh trống pháp rền vang

Sấm sét khắp ba ngàn

Phất ngọn cờ chiến thắng

Ca vang khúc khải hoàn

Chói sáng thánh đạo lộ

Rực chiếu thánh trí minh

Khai mở thời chánh thoát

cứu độ khắp quần sinh

Chúng ta thấy cái vị thiên tử này tán thán người xuất gia khó làm mà làm được, khó biết đủ mà sống đời sống biết đủ được, tâm khó tịnh mà tịnh được cái tâm khó tịnh, các căn được tịch tịnh, con đường khó đi mà vì thánh đệ tử, những người xuất gia lại vượt qua con đường lồi lõm như vậy, kẻ phàm phu thì vấp ngã hết, quay trở lại, còn bậc thánh đệ tử, những người tu chân chánh là con người dũng mãnh tiến lên, dầu đầu rơi máu đổ, da ngựa bọc thây cũng không sợ hãi, tiến lên phía trước, tiến về phía trước, tiến thẳng về phía trước. Đó là tinh thần tinh tấn lực, dõng mãnh lực, mãnh hổ lực, oai hùng lực, voi chúa lực của người xuất gia, phải nuôi dưỡng cái sức mạnh đó và đừng bao giờ để cho cái sức mạnh đó bị sa sút, bị giảm thiểu. Khi thấy giảm thiểu là phải lo lắng, sợ hãi, làm tất cả mọi thứ để cho nó mạnh mẽ lên, con chứng kiến rất nhiều, lúc mới vô khác, ở tu thời gian khác, ở lâu rồi nhìn nó khác, rất là khác, không còn những đức hạnh hiền thiện giống như lúc mới nữa, rất là nhiều như vậy, mười là hết bảy, tám, còn hơn nữa, không giữ được cái tâm ban đầu, không giữ lửa được.

Trong bốn cái tinh tấn đó giữ gìn cái thiện pháp lúc cuối, hộ trì không có, chế đoạn tu trì, do vì không có chế ngự các căn, không có nỗ lực đoạn tận tham, sân, si, không có tu tập Tứ Niệm Xứ, thất giác chi cho nên không giữ gìn được các cái thiện pháp, mất lần lần mỗi ngày một chút rồi từ từ rơi xuống hồi nào không biết, không hay luôn. Khi hay là đã xong rồi, không cứu chữa được cho nên mình thấy thương mình thật là nhiều, đừng cô phụ ý chí cao thượng, thánh thiện, vô lượng vô biên kiếp sanh tử vừa qua mình mới gặp được một chuyến đò cuối cùng, bây giờ mình đã leo lên được đò mà để mình rớt trở xuống rất là đáng thương, đáng tiếc. Phải nắm vững tay chèo, dầu có chết thì cũng chết trên thuyền đừng có chết ở dưới biển, cái xác chết này cũng phải đưa vô tới chỗ bờ qua tới bờ bên kia.

Con thấy cái bài kệ này vị thiên tử này tán thán người xuất gia những cái đức hạnh cao thượng như vậy, con thấy cái này cái duyên nên để chúng ta nghe cái này đó để cho chúng ta hâm nóng, đốt lại cái cọn lửa trong tâm mình. Mời đại chúng chia sẻ cảm thọ của mình, thái tử cõi trời mà xưng tán người xuất gia như vậy là chúng ta thấy sao ạ?

Thầy Thiện Huệ: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con kính bạch trên sư phụ, kính bạch trên chư tôn thiền đức Tăng Ni cùng các chư vị hiền trí. Con xin tri ơn trên sư phụ tối nay đã giảng giải cũng như có những lời sách tấn cho đệ tử chúng con, đúng là như vậy, trong tâm con hiện giờ có hai điều sư phụ vừa nói, đó là sự hoan hỉ và sức mạnh hùng lực trong sự tu học. Qua bài kinh vị thiên tử nói với Thế Tôn thì con cảm nhận được hình ảnh của một người xuất gia, đời sống của một vị từ bỏ gia đình, sống không gia đình, con thấy rất là cao thượng, rất là trân quý. Nếu tu hành đúng với đường lối, đúng với những lời chỉ dạy của Đức Phật thì đây là một điều cần phải tuyên dương, cần phải tán thưởng vì đây là một đời sống rất là khó làm mà không phải ai cũng làm được.

Khi con nghe sư phụ nói mình đã vượt qua tất cả những chướng ngại vật, từ chiến đấu ở trong nội tâm của mình cũng như ở hoàn cảnh bên ngoài, từ hoàn cảnh gia đình, anh chị em, dòng họ để được xuống tóc xuất gia thì con thấy đó là một cái quá trình, một ý chí đối với một người sơ tâm phát tâm xuất gia dõng mãnh. Con thấy đó là một điều đã khó làm nhưng mà riêng bản thân con đã làm được, cũng như chư tôn đức ở đây đã làm được. Điều thứ hai là con thấy biết đủ là một điều khó làm nhưng mà thật sự đời sống của một người tu đã làm được, khi sống với một đời sống thiểu dục tri túc đối với những món ăn, rồi quần áo, rồi chỗ nghỉ ngơi, phòng óc, thuốc men, vân vân. Và cái điều con nghe sư phụ giảng con rất là tâm đắc đó là cái sự an tịnh, lắng dịu khi mình ở một mình hoặc là mình nhiếp phục được những cái cảm thọ ở trong mình đối với những chỗ ồn ào, náo động người tu mình không có thích vào đó.

Con thấy rất là hoan hỉ, rất là thích thú bởi vì con đang trên đường thực tập như vậy, con cảm nhận thấy rằng chỗ người tu mình cần đến không phải là những chỗ ồn ào, náo động mà chỗ người tu mình cần đến đó là phải là chỗ của Tứ Niệm Xứ, của Bát Chánh Đạo, của Tứ Thánh Đế. Đó là chỗ người tu mình cần phải đến và con đường thật sự là không thăng bằng, con nghe sư phụ nói con cũng thấm thía lắm bởi vì con cũng đã từng trải qua như vậy. Khi trong con có cái pháp hỷ, pháp lạc và một sự xác quyết mạnh mẽ về sự tu học cũng như lợi ích mà con thực hành, con cảm nhận được thì cho dù tất cả những cái chướng duyên, cái nghịch cảnh có nhiều lúc đến với con, con tác ý trong tâm con rất là mạnh mẽ, con sẵn sàng đứng lên bằng hai đôi chân của con, con sẵn sàng đạp bỏ tất cả để vững vàng, vững bước tiến lên phía trước, tu học vững vàng trong chánh pháp. Đó là những cảm thọ của con, con xin tri ơn sư phụ rất nhiều đã có những lời giặt giảng dạy cũng như là sách tấn cho đệ tử chúng con. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.

Sư Phụ: Bài kệ rất là ngắn gọn nhưng trong đây các vị chư thiên xuống hỏi Đức Phật, Đức Phật trả lời rất là thâm sâu.

"-- Vật gì dẫn dắt đời?

Vật gì tự não hại?

Và có một pháp nào,

Mọi vật đều tùy thuộc?

-- Chính ái là một đời,

Chính ái tự não hại,

Chính ái là một pháp,

Mọi vật đều tùy thuộc" (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương I. Tương Ưng Chư Thiên, VII. Phẩm Thắng, III. Khát Ái)

Chúng ta thấy khủng khiếp không? Cái yêu thích đó là nó dẫn dắt cuộc đời này, cái yêu thích làm hãm hại chính mình, làm cho buồn đau, sầu khổ, yêu thích đó là một pháp mà mọi vật đều tùy thuộc vào nó hết, nó điều khiển thế gian này hết. Vậy thì hằng ngày, hằng giờ khi mình nhận diện ngũ uẩn có ai trình pháp cho cái vấn đề tham ái, yêu thích của mình, mà nhìn nó ra được bao nhiêu? Chính vì đọc mấy cái bài kệ này mà con liên hệ cái bài có nhân đó. Ái này vẫn dắt cuộc đời, cái yêu thích đó, tự não hại làm cho mình buồn đau, sầu khổ, làm hãm hại chính mình. Mình có nhận diện được bộ mặt của nó không? Nó yêu thích ở bên trong, yêu thích cái món ăn, yêu thích cái món đồ đẹp, yêu thích cảnh đẹp, yêu thích con người đẹp, rồi sâu vô là yêu thích cái hình bóng trong tâm, yêu thích cái cảm giác âm thầm và yêu thích những cái suy nghĩ, nói thầm, cảm giác ngấm ngầm và cái suy nghĩ lầm thầm.

Cái yêu thích đó là nó dẫn dắt cuộc đời mình đi, làm cho mình buồn đau, sầu khổ, hãm hại chính mình là cái yêu thích đó, cho nên chính ấy là một pháp mọi vật đều tùy thuộc, tất cả vật ở trên đời này tùy thuộc vào trong cái lòng yêu thích này. Trong kinh nói những đứa trẻ chơi nhà bằng đất, nó yêu nhà bằng đất, nó thích nhà bằng đất, nó khoái nhà bằng đất, nó mê nhà bằng đất, nó hoan hỉ trong đó, nó vui sướng trong đó, nó thích thú trong đó, đến khi nó không còn yêu thích nữa thì nó đập cái nhà bàn đất này, nó phá tan, phá nát, phá sập, phá mở, phá đổ nhà bàn đất thì ngôi nhà bằng đất đó là sắc; thọ; tưởng; hành; thức, là cái căn nhà của thân tâm ngũ uẩn này.

"Ví như, này Ràdha, các đứa con trai hay các đứa con gái chơi với cái nhà bằng đất. Cho đến khi đối với những nhà bằng đất ấy, lòng tham chưa thoát ly, lòng dục chưa thoát ly, lòng ái chưa thoát ly, lòng khát chưa thoát ly, lòng nhiệt tình chưa thoát ly, lòng khát ái chưa thoát ly, thời chúng còn tham dính vào, thích chơi, chất chứa, và đắm trước những nhà bằng đất ấy.

Nhưng khi nào các đứa con trai hay các đứa con gái ấy đối với những nhà bằng đất kia, lòng tham đã thoát ly, lòng dục đã thoát ly, lòng ái đã thoát ly, lòng khát đã thoát ly, lòng nhiệt tình đã thoát ly, lòng khát ái đã thoát ly, thời với tay và với chân, chúng phá tan, phá vỡ, phá sập, không chơi với những căn nhà bằng đất ấy.

Cũng vậy, này Ràdha, Ông hãy phá tan, phá vỡ, phá sập, không chơi với sắc, chú tâm hướng đến đoạn diệt khát ái đối với sắc.

... thọ... tưởng... các hành...

... Ông hãy phá tan, phá vỡ, phá sập và không chơi với thức, chú tâm hướng đến đoạn diệt khát ái đối với thức.

Ðoạn diệt khát ái, này Ràdha, là Niết-bàn" (Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Uẩn, Chương II. Tương Ưng Ràdha, I. Phẩm Thứ Nhất, II. Chúng Sanh)

Vì cái lòng yêu, lòng thích, lòng ham, lòng muốn, lòng khoái trong này nó dẫn dắt, cuộc đời chính là ngũ uẩn, thế giới cũng là ngũ uẩn đó. Vì cái lòng yêu thích đó mà mình buồn, mình đau, mình khổ, mình sầu, có nhìn ra được cái cảm thọ ngấm ngầm đó không, cái lời nói thì thầm đó không, cái hình bóng chập chờn đó không, nó ám ảnh mình có thấy được hay không. Tự ngã ái và cái cảnh giới ái nó yêu thích chính bản thân nó, hình bóng ở trong tâm nó và nó yêu thích những con người ở bên ngoài, cái đồ vật ở bên ngoài, cái cảnh vật ở bên ngoài. Đó là cái pháp tu thâm sau mà mình phải nhận diện nó thường luôn.

Khi trình pháp con ít nghe trình pháp cái này lắm, dục hỷ tầm cầu và khát ái trong những cái bài kệ này Đức Phật nói với các vị chư thiên.

"-- Vật gì trói buộc đời?

Vật gì dẫn hành đời?

Do đoạn trừ pháp gì,

Mới được gọi Niết-bàn?

-- Chính hỷ trói buộc đời,

Tầm cầu dẫn hành đời,

Do đoạn trừ khát ái,

Mới được gọi Niết-bàn" (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương I. Tương Ưng Chư Thiên, VII. Phẩm Thắng, IV. Kiết Sử)

Hỷ ái đi chung với nhau, nó yêu thích và nó vui vẻ lắm. Mình để ý mình ở gần cái cảnh mà mình thích, hay là cái món đồ mình thích, hay là cái con người mình thích lúc đó mình vui lắm, đó là hỷ ái đó. Yêu thích thì nó sẽ hoan hỉ, nó vui mừng, cặp bài trùng đi với nhau, mắt xích với nhau, dính liền với nhau như là chị em sanh đôi. Cái gì mà mình yêu thích, khi mình làm cái gì mình yêu thích nhìn cái mặt, cái cử chỉ nó khác, nó tươi tắn, nó tươi thấm, nó vui tươi, nó phấn khởi, đó là hỷ ái. Mình ăn món ngon, mặc đồ đẹp, có cái món đồ quý hay mình được thấy cái cảnh đẹp, hay là cái con người đẹp thì lúc đó tầm cầu sanh khởi, tầm cầu nó dẫn mình đi, nó dẫn cuộc đời này đi, do đoạn trừ khát ái mới được gọi Niết-bàn.

"-- Vật gì áp đảo đời?

Vật gì bao phủ đời?

Tên gì bắn trúng đời?

Bởi gì thường huân tập?

-- Sự chết áp đảo đời,

Già nua bao phủ đời,

Tên ái bắn trúng đời,

Bởi dục, thường huân tập." (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương I. Tương Ưng Chư Thiên, VII. Phẩm Thắng, VI. Bị Áp Ðảo)

Cái mũi tên yêu thích bắn vô tim rỉ máu, người này bị nội thương, nó giày vò, nó giày xéo, nó ray rứt, nó thao thức, nó trăn trở, nó đau khổ.

"-- Vật gì treo cột đời?

Vật gì bao phủ đời?

Vật gì đóng kín đời?

Trên gì đời an trú?

-- Khát ái treo cột đời,

Già nua bao phủ đời,

Sự chết đóng kín đời,

Trên khổ, đời an trú" (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương I. Tương Ưng Chư Thiên, VII. Phẩm Thắng, VII. Bị Treo Cột)

Khát ái treo cột cuộc đời này, cái này có thời gian giải thích cho thiền quán tuyệt vời lắm, ở đây tổng quát, giới thiệu cho chúng ta những cái bản để chúng ta thấy được cái tầm quan trọng của cái sự yêu thích đó.

"-- Vật gì trói buộc đời?

Ðiều phục gì được thoát?

Vật gì được đoạn trừ,

Khiến mọi phược đoạn tận?

-- Ước muốn trói buộc đời,

Ðiều phục dục được thoát,

Ước muốn được đoạn trừ,

Mọi triền phược đoạn tận" (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương I. Tương Ưng Chư Thiên, VII. Phẩm Thắng, IX. Ước Muốn)

Ước muốn tức là dục, yêu thích tức là ái, cặp bài trùng nó đi theo nhau, dục ái tầm cầu đó. Phải nhìn, tập nhận diện ngũ uẩn nhìn những cái cảm thọ đó, trê khổ là đời an trú, cuộc đời nó ở trên cái đống khổ vậy nên sáng này con mới có cảm xúc ra cái bài yêu thích là khổ đau để mình quán, mình phá cái yêu thích đó.

Yêu thích nhà là yêu thích ngục tù,

Yêu thích chùa thì cũng vậy mà thôi,

Yêu thích xe là thích tai nạn giao thông

Yêu thích tiền là thích yêu cướp giật

Yêu thích đất là thích nắm mồ, lổ huyệt

Yêu thích danh là thích làm tôi tớ cho người

yêu thích lợi là thích đấu đá, tranh giành

Yêu bất động sản là thích nằm yên một chỗ



Thích sắc đẹp là yêu nhiều hiểm họa

Thích con mắt thì mù đi đừng thấy nữa

Thích lỗ tay thì điếc luôn để khỏi nghe

Thích mũi cao thì ngừ thở chết luôn

Thích miệng đẹp thì câm mồm không nói được

Thích hàm răng trụng hết đi thành móm

Thích thể hình ngươi bại liệt chiếu giường

Thích cảnh đẹp thì động rất chôn vùi

Thích ngắm biển thì sống thần ập tới

Thích tiếng hay nghe bơm đạn nổ rền

Thích mùi thơm vô ngửi kỹ cầu tiêu

Thích ăn ngon nếm đồ thiu sẽ biết

Thích đụng chạm rờ vào than cháy đỏ

Thích cảm thọ nhớ mẹ chết hay không

Thích tưởng mơ sao không tưởng bàn thờ

Di ảnh chính mình trong khói hương nghi ngút

Thích nghĩ ngợi hãy nghĩ mình sẽ chết

Tai nạn giao thông, tai nạn hàng không,

Tai nạn bất trắc ập tới thình lình

Đột ngột, đột biến, đột quỵ, đột tử

Thích nhìn thấy hãy trải nghiệm mù lòa

Thích nghe ngóng thì tập làm kẻ điếc

Thích ngửi nếm nhớ khi nhiễm CoV dịch bệnh

Vị giác không còn, khứu giác cũng chẳng hay

Thích đụng chạm quán mình như khúc cây

Đồ vô tri, vô giác, vô dụng này

Thích rõ biết cảm thọ, tưởng, hành

Hãy quán chúng nhân duyên giả hợp

Thấy, nghe, ngửi, nếm cùng xúc biết

Chúng chỉ là lắp ráp, pháp duyên sanh

Do có căn, trần, thức mới khởi sanh

Thiếu một duyên chúng liền thành mù điếc

Câm, ngọng nghịu vì gió kia không đủ

Liệt, bại, xụi vì phong đại chẳng vận hành

Nằm lạnh tanh thì hỏa đại chẳng còn

Dứt hơi thở như khúc cây vô dụng

Bốn tấm ván bốn người khiêng ra nghĩa địa

Rồi vùi sâu dưới đáy mộ lạnh lùng

Ôi cuộc đời rồi ai cũng đường chung

Đường thần chết tất cả đều bị giết

Vậy cớ sao ta mãi tham lam, sân hận

Gây thù hằng tạo thù địch chiến tranh

Gây thương đau, bao nước mắt chảy nhanh

Khiến nhân loại ngày đêm không yên giấc

Nào mưa bom, bão đạn, cửa nát nhà tan

Nào sóng thần, dịch bệnh, chiến sanh

Nào thiên tai, cháy rừng, phá núi

Nào lũ lụt, sụt lún, sạt lỡ núi đồi

Nào ngập mặn, hạn hán mất mùa

Trẻ thơ đói khát không có bầu sữa mẹ

Nào kinh tế toàn cầu suy thoán

Nào mất nhà, thất nghiệp, lang thang

Nào cướp giết, đâm chém đầy đường

Xì ke, ngáo đá hại trẻ thơ vô tội

Cướp ngân hàng rơi vào trong tù ngục

Biết bao nhiêu thủ đoạn dối lừa nhau

Lên online mắng chửi, huỷ nhục nhau

Rồi bị còng lôi vào trong song sắt

Biết là bao ác nghiệp ràng ràng trước mắt

Sao còn chưa sáng tỏ mắt tâm ra

Lại còn mong gây đau khổ mình người

Sao tâm mê quá dại khờ ngu muội

Không thức tỉnh nhìn ra đống khổ

Xả bỏ hết căn, trần, thức ngu si

Để quay về với tuệ tri tối thượng

Nhìn rõ ra nguyên nhân khổ, dục tham

Ái, vô minh, bản ngã hợp tác thành

Ám hại ta, chúng sanh từ vô thỉ

Giờ thấy rõ nguyên nhân tai họa

Vậy hãy mau diệt tận mối hiểm nguy

Bằng thấy, nghĩ, nói, làm, sống, siêng

Quán, định, đúng theo đường bậc Chánh Giác đã đi

Bát thánh đạo đêm ngày khéo thực hành

Sẽ nhiếp phục chế ngự dần ái dục

Phá thân kiến, vô minh, ngã chấp

Bằng tư duy tác ý đúng lý chơn

Mạnh mẽ lên trong tuệ lực kiên cường

Tăng trưởng nhanh nhờ nghĩ suy đúng

Cách cứ giờ giờ luôn tác động tâm ý

Bằng thánh trí đã được học truyền trao

Dùng tâm lực quán chiếu thật thâm sâu

Đột phá vỡ những tâm mê chấp thủ

Xuyên thủng hết những lớp dày cảm thọ

Trảm thánh đao chúng phải đứt từ từ

Rồi dần dần thể nhập trí thánh nhân

Phàm tình giảm cho đến ngày cạn kiệt

Tâm thanh tịnh suốt trong ngoài lặng lẽ

Chẳng còn vương chấp bất cứ một thứ gì

Đường độc nhất đưa chúng sanh đến tịnh thân

Vượt khỏi sầu não, khổ ưu trừ diệt

Chánh chí thành tựu chứng ngộ Niết-bàn

Bài này chủ yếu là nói về ái. Mình phải phá những cái yêu thích đó, yêu thích cái nào là phá cái đó, ái đâu diệt đó, ái đâu đoạn đó. Mình nhớ không ạ? Bà Maha Ba-xà-ba-đề di mẫu đại ái đạo Tỳ-kheo Ni đi đến lễ Thế Tôn con già cả và không còn thời gian nhiều nữa, bạch Thế Tôn dạy cho con pháp ngắn gọn để con sống một mình hành trì, Thế tôn dạy ái ở đoạn ở đó, thích cái gì là diệt cái đó, yêu cái gì là trảm cái nấy. Bà về b tu quyết liệt xong rồi bà chứng A-la-hán trở thành thánh tổ Tỳ-theo Ni, Ni chúng thời Đức Phật và cái bài này là cái bài quán ái tận, phá những cái yêu thích đó. Thích cái gì là phá nấy, đưa một cái pháp ra để mình trị bệnh, thích sắc đẹp là yêu nhiều thảm họa, thích con mắt thì mù đi đừng thấy nữa, thích lỗ tai thì điếc luôn để khỏi nghe, thích lỗ mũi đẹp thì ngừng thở thì chết luôn, thích miệng đẹp thì câm mồm luôn không nói. Thích hàm răng thì cho rụng luôn thành móm, thích thể hình thì bại liệt chiếu giường, thích cảnh đẹp thì động đất chôn mày luôn, thích ngắm biển thì sóng thần ập đến, thích tiếng hay cho mày nghe bom, lựu đạn nổ. Thích mùi thơm thì vô cầu tiêu ngửi đi, thích ăn ngon thì nếm đồ thiu cho biết, thích động chạm thì bốc vô than lửa đi, thích cảm thọ êm ấm, êm ái thì nhớ mẹ chết trên tay mày hay không, thích tưởng mơ thì sao không tưởng bàn thờ, thích nghĩ ngợi sao không nghĩ mình sẽ chết.

Nghĩa là thích cái nào phá cái nấy, thích cái nào diệt cái nấy, thích cái nào đoạn cái nấy, thích cái nào dập cái nấy là cái cách để mình đoạn ái. Chúng ta nghe kỹ hai bài là Tiểu Kinh Đoạn Tận Ái và Đại Kinh Đoạn Tận Ái, hay lắm, bài đó con đã có giải thích, giảng giải. Cái này là phá sáu căn, sáu trần, sáu thức, sáu ái, lúc đầu là mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý, kế đó là sắc; thanh; hương; vị; xúc; pháp, tiếp theo là phá luôn sáu thức, nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức. Ở đây là phá ái trong mười tám giới, đầu tiên ở ngoài là ái sắc; thanh; hương; vị; xúc, đưa mấy cái dễ dễ cho người ta thấy là ái căn nhà, chiếc xe, tiền đất này kia nọ, những cái đầu là nói những cái bình thường ai cũng hiểu được hết, tức là thích về sắc.

Sáu căn là thích mắt; tai; mũi; lưỡi, thể hình là thân đó, thích cái nào phá cái nấy, thích cái nào diệt cái nấy, thích cái nào đoạn cái nấy, thích cái nào là dùng một cái pháp quán phá vỡ cái đó. Thành ra cái bài này là cái bài quán phá ái sáu căn, sáu trần, sáu thức, thấy nói ngôn ngữ bình dân vậy đó nhưng khi mình nói ra trong pháp thì nó sâu sắc, cái đọc mà mình không có để ý là mình không có biết. Thích cảnh đẹp thì động đất chôn vùi đó là sắc trần, tắm biển cũng là sắc trần luôn, tiếng hay là thanh, thích tiếng hay thì nghe bom đạn nổ rền, thích mùi thơm thì vô ngửi kỹ cầu tiêu, thích ăn ngon thì nếm đồ thiu sẽ biết, xúc là thích động chạm rờ vào than cháy đỏ. Sắc; thanh; hương; vị; xúc là phá hết, sắc ái, thanh ái, hương ái, vị ái, xúc ái, pháp ái, sáu ái mình học đó. Còn bây giờ thích pháp trần là thích cảm thọ nhớ mẹ chết hay không, thích tưởng mơ sao không tưởng bàn thờ di ảnh chính mình trong khói hương nghi ngút, thích nghĩ ngợi hãy nghĩ mình sẽ chết.

Cái này là phá thọ; tưởng; hành bên trong, thích cái gì là trị cái nấy, cho nên mình học cái này rồi đó mình thấy khi tu, khi thực hành nó sướng lắm, nó hạnh phúc lắm vì có đủ hết vũ khí, cần súng có súng, cần đạn có đạn, cần dao có dao, cần kiếm có kiếm giống như thập bát La-hán vậy, giống như là mình thấy Phật Chuẩn Đề đeo đủ vũ khí hết, cần cái nào lấy cái đó ra xử. Thành ra tuyệt vời đó trong Bát Thánh Đạo, Tứ Niệm Xứ, bay mươi bảy phẩm trợ đạo của mình là tất cả những thần đao thánh kiếm, những pháp khí, những cái thánh dược, những cái thánh pháp bảo, cần gì dùng nấy, thích ngắm biển thì cho sóng thần dập cho mày chết luôn, thích cảnh đẹp động đất chôn mày luôn. Bài mới cảm xúc hồi sáng thành ra cũng chưa có hoàn chỉnh.

Nếu mình gom cho gọn là có chữ một thôi, chính là ái. Tại sao mình không bỏ cái ngã mình được? Tại vì mình thương lắm, thương cái hình bóng ở trong tâm, hình bóng của tự ngã đó. Tại sao người ta vừa chạm tới cái mình bực bội ra, khó chịu, sân lên? Vì mình thương cái cảm thọ đồng thời dễ chịu đó, mình thích cái đó nó là ái đó thành ra nói cho tiếng việt là sáng trưng hết trơn. Cái người mà nói ngọt này kia với mình là mình thích, cái người mà thương mình nhưng mà nói là không có ngọt, cứ chỉ lỗi hoài là giận luôn, biết là thương nhưng mà không thích, dẹp qua bên. Vậy là mình thích ái hơn là thích pháp, chúng ta nhìn sâu vào chúng ta sẽ thấy mình thích cái ái đó, cái mà dễ chịu đó chứ không phải mình thích sự thật để mình tu đặng cho mình giác ngộ giải thoát chính vậy mà tu không có kết quả, tu bao lâu cũng không có kết quả gì hết.

Tại vì cái ái này nó khủng khiếp lắm, từng cái suy nghĩ, từng cái cảm giác, từng cái hình bóng ngấm ngầm ở bên trong, nó sâu thẳm các cái lớp cảm thọ ở dưới mình không thấy. Cho nên mình tập nhận diện cái ái này cho kỹ, phải lắng nghe cái ngấm ngầm đang hoạt động, nhìn cho ra được cái ngấm ngầm đó rồi phá từ từ mỗi ngày một chút chứ không phải là một lần một xong đâu. Phải tác ý hoài, thức dậy nửa đêm hay bất cứ lúc nào, sáng mới ngủ dậy là mình dập tới tắp liên tục, hết sáng, trưa, chiều, tối, nửa đêm, bất cứ lúc nào mà nhớ là dập, nhớ là dập, nhớ là tác ý đánh cho nó bầm mình hết. Con mới nhớ lại Đức Phật nói là đánh cái thức một ngày ba trăm hèo thì cái ví dụ đó là cái tác ý.

"Và này các Tỷ-kheo, thức thực cần phải nhận xét như thế nào?

Ví như, này các Tỷ-kheo, người ta bắt một người ăn trộm, một người phạm tội, dẫn đến vua và thưa: 'Thưa Ðại vương, người này là người ăn trộm, một người phạm tội. Hãy trừng phạt người ấy nếu như Ngài muốn'. Vị vua nói như sau về người ấy: 'Các Ông hãy đi và đánh người này với một trăm hèo vào buổi sáng'. Và họ đánh người ấy với một trăm hèo vào buổi sáng.

Rồi vị vua vào buổi trưa nói: 'Này các Ông, người ấy như thế nào?' -- "Thưa Ðại vương, người ấy vẫn còn sống'. Rồi vua nói về người ấy: 'Này các Ông, các Ông hãy đi và đánh người này một trăm hèo vào buổi trưa'. Và họ đánh người ấy một trăm hèo vào buổi trưa.

Rồi vị vua vào buổi chiều nói: 'Này các Ông, người ấy như thế nào?' – 'Thưa Ðại vương, người ấy vẫn còn sống'. Rồi vua nói về người ấy: 'Này các Ông, các Ông hãy đi và đánh người này một trăm hèo vào buổi chiều'.

Này các Tỷ-kheo, các Ông nghĩ thế nào? Người ấy trong ngày bị đánh đến ba trăm hèo, do nhân duyên ấy có cảm thọ khổ ưu không?

-- Bạch Thế Tôn, chỉ bị đánh một hèo, do nhân duyên ấy có cảm thọ khổ ưu, còn nói gì bị đánh đến ba trăm hèo!

-- Như vậy, này các Tỷ-kheo, Ta nói thức thực cần phải nhận xét" (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (c), VII. Ðại Phẩm Thứ Bảy, III. Thịt Đứa Con)

Mình dùng cái thánh trí của mình phải đánh bầm dập cái mê tình, cái thường tình, cái ái, cái thủ, cái chấp ngã bên trong. Mình đánh vậy mà nó còn chưa chết nữa, mình lôi ra đánh trăm hèo nữa. Mình ví dụ giống như là thánh trí tuệ, đánh cho bầm dập cái tâm mê đó, cái tâm thức si mê đó, cái thức uẩn ngu si đó. Con mới chợt nhớ nên con cười "cái này hay quá ta, tuyệt vời quá", có thời gian rảnh là mình đánh nó, mình tác ý rầy la, quở trách, mình mắng riết thì từ từ nó chịu phép, nghe lời. Cho nên nãy con có cái câu là từ nay trở về sau là phò tá thánh trí, cái thọ; tưởng; hành thức này phải phò tá thánh trí, phụ trợ cho thánh trí, nghe lời thánh trí, nó phục tùng thánh trí. Nhớ nhận diện cái ái đó cho kỹ, cái yêu thích đó, ái tận là giải thoát, nhiếp phục và chế ngự, bào mòn đoạn giảm nó từ từ thì cuối cùng nó không còn yêu thích gì nữa, không còn yêu thích sắc; thọ; tưởng; hành; thức nữa, nhìn thấy những cái đặc tính vô thường, khổ, vô ngã, biến hoại, bệnh hoạn, mũi tên, ung nhọt, hố than hừng, kẻ giết người.

Mình quán những cái đó hoài là nó yểm ly, nhàm chán, ly tham, hướng đến từ bỏ, chấm dứt, thoát ra luôn đó. Cái đạo lộ của nó là vậy, hồi xưa Đức Thế Tôn giảng cho các vị Tỳ-kheo và các vị A-la-hán, ngài Mục-kiền-liên, ngài Ca-diếp là giảng sáng đêm thường xuyên, thức sáng đêm luôn, nghe pháp trú ở trong pháp. Có ai muốn chia sẻ cảm thọ của mình không?

Thầy Pháp Tâm: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con kính bạch trên sư phụ, kính bạch trên chư tôn thiền đức Tăng Ni cùng chư vị hiền trí. Kính thưa sư phụ tối hôm nay con được lắng nghe lời sách tấn, chỉ dạy của sư phụ con cảm nhận trong thân tâm của con có một cảm giác rất là hoan hỉ, an lạc, thấy có động lực trên sư phụ đã nhắc nhở lại cái tâm ban đầu cho chúng con thì con cũng có những cái cảm xúc rất là đặc biệt, những cái động lực ban đầu dường như quay trở lại trong khi được lắng nghe sư phụ khích lệ trong bài kinh của thiên tử tán thán vì xuất gia việc khó làm việc, khó biết đủ, khó tịnh, khó đi nhưng vị xuất gia đều làm được và làm tốt.

Con đặc biệt hoan hỉ với sự bước đi của bậc xuất gia trên con đường không thăng bằng nhưng các bậc thánh đệ tử bước đi thật là thăng bằng, con thấy hình ảnh này trong tâm con. Con thấy vị tu hành thật là đơn giản nhưng trong tâm là đầy rẫy những kho báu, những tài sản của bậc thánh, những sự an lạc, bình an tối thượng mà không có bất cứ một ai giàu có ở trên thế giới, hoặc trên cả chư thiên có thể đạt được. Con suy tư này con thấy hoan hỉ tột cùng, khi được sư phụ nhắc nhở và chỉ dạy về cái tâm ái thì con cảm nhận rằng bản thân con cũng cảm thấy sự yêu thích về thường tình cũng còn nhiều. Con cũng thấy hoan hỉ khi một phần con cũng đã trừ diệt và thấy được một phần về tâm. Dạ mô Phật.

Sư Phụ:

Sống độc cư là cuộc sống thần tiên

Sống như về khó ai bì kịp

Sống vô tư như mây trôi theo gió

Sống vô lự như nước chảy tự nhiên

Sống an nhiên như ngọn gió thoáng qua

Sống vững chắc, sâu dày như đại địa

Sống hồn nhiên như trẻ thơ tươi đẹp

Sống an yên như mặt nước lắng trong

Sống tự do như chim chóc bay xa

Sống chan hòa như hư không vô tận

Sống rộng lượng với trời cao đất rộng

Sống rộng lớn như thăm thẳm thái hư

Sống tỏa sáng như nhật nguyệt giữa trời

Sống bao la như đại dương vô tận

Ôi ẩn tu thật thong dong tự tại

Mà trước nay chẳng biết hỷ lạc này

Mãi chạy đua theo danh lợi sắc tài

Ta nhọc nhằn biết bao nhiêu mà kể

Ôi ẩn tu thật thong dong tự tại

Bình minh lên tiếng chim hót ca vang

Ông mặt trời vừa thức giấc đại ngàn

Khắp thiên hạ đón ban mai nắng sớm

Ôi ẩn tu thật thong dong tự tại

Đã biết bao đời bao kiếp vừa qua

Ta cứ vội vàng, tất bật, lăng xăng

Giờ mới được an nhàn trong tĩnh lặng

Ôi ẩn tu thật thong dong tự tại

Vô thỉ luân hồi đã bị buộc ràng

Đến hôm nay mới được thoát khỏi ra

Sống viễn ly không dính gì trần thế

Ôi ẩn tu thật thong dong tự tại

Vô số đời quá khứ khổ đủ rồi

Gặp đạo sư duyên muôn kiếp tương phùng

Nay đủ duyên sống cuộc đời thoát tục

Ôi ẩn tu thật thong dong tự tại

Nhìn trời cao thương vạn loại chúng sanh

Tâm bao la vô lượng tình thương

Mong hữu tình trở về hiền đức

Ôi ẩn tu thật thong dong tự tại

Ngắm non xanh mây trắng sương giăng

Lòng nhủ lòng nay ta đã thoát ra

Khỏi biển lửa dục, tham, sân hận

Ôi ẩn tu thật thong dong tự tại

Nhìn đại ngàn sanh biếc tận chân trời

Núi tự xanh, mây tự trắng lưng đồi

Tâm tự tại lòng an lành không thể tả

Ôi ẩn tu thật thong dong tự tại

Bình minh lên mặt trời bạn với ta

Hoàng hôn xuống có tri kỷ trăng ngà

Cây cỏ, chim muôn, đất trời là nhà lớn

Ôi ẩn tu thật thong dong tự tại

Chuối chín cây vàng ánh ngọt thanh thơm

Bơ xanh rờn trổ quả thật to tròn

Sầu riêng thơm ngạt ngào vườn đỉnh núi



An nhiên tự tại một mình ta

Trời đất núi mây người giao hòa

Nắng sớm vừa lên người ấm ấp

Chim hót líu lo cây nở hoa

An nhiên tự tại một mình ta

Bình thản lại qua bước thiền hành

Nhìn ngắm màu xanh ngàn trải rộng

tâm như trời đất khắp đại đồng

Bài đó là bài hồi sáng nay "Cuộc Sống Thần Tiên", có ai chịu nhập thất không? Ấn Đức chia sẻ cảm họ.

Sư cô Ấn Đức: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con chân thành đảnh lễ sư phụ tôn kính, con chân thành đảnh lễ các quý thầy, quý Ni sư, quý sư cô cùng các bậc hiền trí. Thật sự là con rất là mong đợi trong những ngày qua và hôm nay, chúng con được nghe sư phụ giảng pháp con rất hạnh phúc khi nói về người xuất gia, những cái việc rất là khó làm nhưng mà người xuất gia đã cố gắng và làm được. Con cũng thấy mình có một cái sự hoan hỉ ở trong đó, một cái chuyến đi mà con không có một cái sự định trước, con không thể tượng tưởng được một buổi nghe pháp của sư phụ giảng ở Hà Nội đã tạo cho con một cái sức mạnh rất là mạnh mẽ, và con đã tìm đường đến Linh Quy Pháp Ấn để cầu pháp và hơn ba năm nay tâm con vẫn an trú trong pháp tại nơi này.

Con rất là hạnh phúc khi mình có một cái quyết định rất là đúng đắn, sáng suốt từ bỏ đời sống thế tục, rất nhiều những cái tham ái nó ràng buộc, nó trói cột con làm cho con rất nhiều đau khổ. Về đây thì con được tu tập trong dòng thánh pháp tối thượng, được tập sống một đời sống viễn ly, tập sống một đời sống cao đẹp, phạm hạnh của người xuất gia, con rất là hạnh phúc và trong con có thêm rất nhiều sức mạnh trong cái việc tu tập cũng như sư phụ đã giảng dạy rất nhiều lần, đã đánh là phải thắng, đã giết là phải chết, diệt là phải tận tham, sân, si, vô minh và bản ngã và cái niềm tin này nó được đẩy mạnh trong con rất là nhiều.

Khi sư phụ nói đến việc nhập thất thì con rất hoan hỉ, con cảm nhận được là đối với con cái thời điểm này nó tương đối là hợp thời. Nếu như mà đủ duyên. có điều kiện thì sư phụ cho con được nhập thất để con cũng được thưởng thức cái sự hạnh phúc mà sư phụ đã lan tỏa trong con một cái sự khao khát rất là lớn. Con xin tri ân công đức của sư phụ, của quý thầy, quý sư cô cùng các bậc hiền trí. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật

Sư cô Ấn Hạnh: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con xin được cung kính đảnh lễ trên bậc ân sư tôn kính, con xin được cung kính đảnh lễ trên chư tôn thiền đức Tăng Ni cùng tất cả các bậc hiền trí. Suốt thời chia sẻ pháp của sư phụ thì tâm con rất là hoan hỉ, rất là hân hoan và bên trong tâm con thì từ đầu cho đến giây phút hiện tại nó như được tiếp một cái sức mạnh, một cái năng lực mà từ trên sư phụ tác ý cho tất cả chúng con. Những cái vũ khí mà sư phụ trao tặng cho chúng con thì thật sự chúng con cảm ơn sư phụ rất là nhiều, và đối với con thì trong khoảng thời gian mà con về Linh Quy cho đến tận phút giây này thì con cảm nhận được quả đúng là chúng con đang sống trong cuộc sống thần tiên. Bởi vì mỗi ngày chúng con đều được thọ nhận và được nếm những cái chất liệu, những hương vị ngọt của chánh pháp và những lời tác ý của sư phụ thật là thiết thực và hiện tại cho chúng con.

Những ngôn ngữ của thời đại mà chúng con đang sống được sư phụ khéo léo trình bày bằng những bài kệ, những cái ngôn ngữ tác ý đó đối với con thật sự khi nghe làm cho tâm của con vui một cái một cái niềm vui khó tả và con chỉ biết là cố gắng để tự độc thoại với tâm của mình bằng những cái vũ khí mà trên sư phụ trao tặng cho chúng con để dạy dỗ cái tâm này. Con chỉ biết con rất là vui và hôm nay nó có một cái cảm xúc rất là khó diễn đạt trong con, toàn thân con lúc này nó như được tiếp một cái năng lượng rất là dồi dào và quý giá đối với con, con chỉ biết cố gắng để tận dụng những lời dạy sách tấn từ trên sư phụ để dạy dỗ cái tâm này. Con thật sự là chia ơn trên sư phụ rất là nhiều. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.

Sư Phụ:

Tâm thương này tỏa rộng

Cùng khắp thế giới này

Tâm thương này tỏa rộng

Khắp trời đất bao la

./.