Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Năm Triền Cái 7 - Giá trị của 6 quan niệm

2026-03-03 00:54:19
Năm Triền Cái 7 - Giá Trị Của 6 Quán Niệm

-THÍCH MINH THÀNH-

Yến đánh

Kinh Mahànàma, Phẩm Tùy Niệm, Tăng Chi 4:

Một thời, Thế Tôn trú giữa dân chúng Sakka, tại Kapilavatthu, ở khu vườn Nigrodha. Lúc bấy giờ, nhiều Tỷ-kheo đang may y cho Thế Tôn, nghĩ rằng: “Y làm xong, sau ba tháng, Thế Tôn sẽ bộ hành ra đi”. Họ Thích Mahànàma được nghe: “Nhiều Tỷ-kheo đang may y cho Thế Tôn, nghĩ rằng: “Y làm xong, sau ba tháng, Thế Tôn sẽ bộ hành ra đi”. Rồi họ Thích Mahànàma đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn và ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, họ Thích Mahànàma bạch Thế Tôn:

– Con nghe như sau, bạch Thế Tôn: Có nhiều Tỷ-kheo đang may y cho Thế Tôn nghĩ rằng: “Y làm xong, sau ba tháng, Thế Tôn sẽ bộ hành ra đi”. Bạch Thế Tôn, giữa các người an trú với những an trú khác nhau, chúng con nên an trú với an trú nào?

Lành thay, lành thay, này Mahànàma! Như vậy thật xứng đáng cho thiện nam tử các người, sau khi đến Thế Tôn đã hỏi, đã thưa như vậy: “Bạch Thế Tôn, giữa các người an trú với những an trú khác nhau, chúng con nên an trú với an trú nào? ” – “Hãy nhập cuộc này Mahànàma với lòng tin, không phải với không lòng tin. Hãy nhập cuộc với tinh cần tinh tấn, không với biếng nhác. Hãy nhập cuộc với trú niệm, không với thất niệm. Hãy nhập cuộc với định, không với không định. Hãy nhập cuộc với trí tuệ, không với liệt tuệ”.

Sau khi an trú trong năm pháp này, này Mahànàma, hãy tu tập thêm sáu pháp nữa.

Ở đây, này Mahànàma, Ông hãy tùy niệm Như Lai: “Đây là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn”.

Lại nữa, này Mahànàma, Ông hãy tùy niệm Pháp: “Khéo thuyết là pháp Thế Tôn thuyết giảng, thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thường, do người trí tự mình giác hiểu”.

Lại nữa, này Mahànàma, Ông hãy tùy niệm Tăng: “Thiện hạnh là chúng đệ tử Thế Tôn, trực hạnh là chúng đệ tử Thế Tôn, ứng lý hạnh là chúng đệ tử Thế Tôn, tịnh hạnh là chúng đệ tử Thế Tôn, tức là bốn đôi, tám vị. Chúng đệ tử này của Thế Tôn là đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được cúng dường, đáng được chắp tay là ruộng phương vô thượng ở đời”

Lại nữa, này Mahànàma, Ông hãy tùy niệm Giới của mình: “Không có bể vụn, không có cắt xén, không có vết nhở, không có chấm đen, đưa đến giải thoát, được người trí tán thán, không bị chấp trước, đi đến Thiền định”

Lại nữa, này Mahànàma, Ông hãy tùy niệm Thí của mình: “Thật là được lợi cho ta! Thật là khéo được lợi cho ta! (Vì rằng) với quần chúng bị cấu uế xan tham chi phối, ta sống trong gia đình, với tâm không bị cấu uế của xan tham chi phối, bố thí rộng rãi, với bàn tay sạch sẽ, ưa thích từ bỏ, sẵn sàng, để được yêu cầu, ưa thích phân phát vật bố thí”

Lại nữa, này Mahànàma, Ông hãy tùy niệm Thiên: Có bốn Thiên vương thiên, có chư Thiên cõi Trời Ba-mươi-ba, có chư Thiên Yàma, có chư Thiên Tusita (Đâu-suất), có chư Thiên Hóa lạc, có chư Thiên Tha hóa Tự tại, có chư Thiên Phạm chúng, có chư Thiên cao hơn nữa.

Này Mahànàma, trong khi Thánh đệ tử tùy niệm Như Lai, tùy niệm Pháp, tùy niệm Tăng, tùy niệm Giới, tùy niệm Thí, tùy niệm Thiên trong khi ấy, tâm không bị tham ám ảnh, tâm không bị sân ám ảnh, tâm không bị si ám ảnh, trong khi ấy, tâm được chánh trực nhờ duyên Như Lai. Vị Thánh đệ tử, này Mahànàma với tâm chánh trực, có được nghĩa tín thọ, có được pháp tín thọ, có được hân hoan liên hệ đến pháp. Khi có hân hoan, hỷ sanh; Khi có hỷ, thân được khinh an; khi thân khinh an, cảm giác được lạc thọ; khi có lạc thọ, tâm được định tỉnh. Này Mahànàma, như vậy gọi là bậc Thánh đệ tử sống đạt được bình đẳng với chúng sanh không bình đẳng, sống đạt được vô sân với chúng sanh có sân, nhập được pháp lưu, tu tập Phật tùy niệm, Pháp tùy niệm, Tăng tùy niệm, Giới tùy niệm, Thí tùy niệm, Thiên tùy niệm.

Chúng ta thấy trong bài kinh này cư sĩ Mahànàma đến hỏi Đức Phật “Bạch Thế Tôn, giữa các người an trú với những an trú khác nhau, chúng con nên an trú với an trú nào?” Chữ “an trú” tức là ở trong đó. Câu hỏi đó có nghĩa là rất nhiều người ở trong tiền của, sắc đẹp, danh vọng, quyền thế, họ đi tìm và trú vô cái đó, lấy nó làm hạnh phúc, làm sở đắc, làm chỗ được của mình. Còn con là đệ tử của Như Lai, xin Như Lai dạy cho con nên an trú vào đâu, con ở đâu, con trú ngụ ở nơi đây. Đức Phật khen và dạy “Hãy nhập cuộc này Mahànàma với lòng tin, không phải với không lòng tin. Hãy nhập cuộc với tinh cần tinh tấn, không với biếng nhác. Hãy nhập cuộc với trú niệm, không với thất niệm. Hãy nhập cuộc với định, không với không định. Hãy nhập cuộc với trí tuệ, không với liệt tuệ”. Nên nhớ ở đây Đức Phật không phải nói là không có trí tuệ mà là “liệt tuệ” nghĩa là hiểu biết thấp kém, hạ liệt, thông thường. Như vậy năm căn mình sẽ biến thành năm lực. Ở đây có từ hết sức hay là “nhập cuộc”. Mình coi lòng tin của mình đối với Đức Phật ở mức độ nào mà mình phải nuôi dưỡng, phát triển, tăng trưởng, quảng đại để cho nó đạt đến chỗ bất động tín. Tịnh tín bất động – một lòng tin trong sạch, không còn bị lay động, lay chuyển đối với đức Như Lai, và mình hãy nhập cuộc với lòng tin. Chữ “tùy niệm” nghĩa là gì, được hiểu làm sao và thế nào nào là tùy niệm? Mấy chữ này không phải dễ hiểu. Tùy niệm nghĩa là lúc nào mình cũng nhớ nghĩ, đó là tùy. Thí dụ chỉ có nghiệp tùy thân, tức là chỉ có nghiệp lúc nào cũng đi theo mình. “Vạn ban tương bất khứ. Duy hữu nghiệp tùy thân”. Nghĩa là muôn thứ không đem theo được chỉ có nghiệp theo bên mình thôi. Thành ra chữ tùy niệm là lúc nào mình cũng phải nhớ nghĩ, nhớ nghĩ về pháp. Mình Thành chỉ lấy một điều trong này thôi là có khả năng hướng thượng. Mình phải tin vào pháp, mình phải có sự để tâm vào pháp. Luôn học hỏi, nỗ lực, để tâm, tinh tấn, thực tập để thấy, để biết, để hướng thượng, càng ngày càng bước cao lên, có khả năng hướng thượng, giúp cho mình đi lên. Pháp mà Đức Phật dạy ở đây được gọi là Thượng Nhân Pháp – pháp của người trên. Trong Tăng Chi Bộ Kinh:

Những bậc cao thượng, này các Tỷ-kheo, không phải với cái hạ liệt có thể đạt được cái cao thượng. Này các Tỷ-kheo, phải từ cái cao thượng mới đạt đến cái cao thượng.

Như vậy thì mình làm sao để mình nhớ cái pháp, nghĩ cái pháp, niệm cái pháp và thực tập cái pháp để càng ngày mình càng bước lên cao. Thành ra một vấn đề thực tế cho chúng ta thấy là lúc mới vô tu và Sơ cấp thì thích nghe hơn, lên Trung cấp điều hòa lại, lên Cao đẳng hay Cao cấp bắt đầu không còn tha thiết, nhiệt tình nữa. Như thế là xuống rồi đó, đó là mình bị lui sụt rồi. Đáng ra càng lên cao chừng nào thì lòng nhiệt thành, nhiệt huyết, tha thiết, chân thành, tìm cầu, chứng đắc pháp càng mạnh hơn thì mới tỉ lệ thuận, còn cái này lại tỉ lệ nghịch. Cho nên từ chỗ thấy những điều này thì mình đừng nghĩ đây chỉ là cho cư sĩ. Cái này gọi là ngũ căn, ngũ lực. Năm cái này là nền tảng tu học. Căn là căn cứ, là nền tảng, không có cái này giống như là làm nhà lầu mà không có mống.

Tất cả sự tu học của mình đều phải xuất phát từ chỗ “Tín, tấn, niệm, định, tuệ”. Mình luôn nhìn lại coi mình có thiện hạnh chưa, mình có trực hạnh, ứng lý hạnh, tịnh hạnh chưa. Đó là những điều kiện cần và đủ phải có của một người xuất gia. Thiện hạnh là hạnh hiền thiện. Trực hạnh là hạnh ngay thẳng, chánh trực. Ứng lý hạnh là hạnh xứng hợp, ứng hợp với chân lý, đạo lý mà Đức Phật đã dạy. Tịnh hạnh là hạnh thanh tịnh, trong sạch. Những cái đó mình có thì mình mới gọi là dự phần vào bốn đôi tám vị, mình mới gọi là đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được cúng dường, đáng được chắp tay, mới là ruộng phước vô thượng ở trên đời. Chứ mình không có những cái này mà người ta lạy, người ta đảnh lễ, cúng dường mình thì mình chưa xứng, như vậy là mình mắc nợ. Cho nên mình niệm như vậy có tác dụng nhắc nhở, ghi nhớ, nỗ lực cố gắng và hành trì để mình đạt được. Chứ không phải niệm là mình đọc suông thôi. Cho nên nếu niệm Phật mà niệm một câu danh hiệu Phật thôi là chưa đủ, không phải là tùy niệm như đã nói. Tùy niệm ở đây rất là sâu sắc và rất là rộng. Mình phải nhớ đến những trí đức, những đức hạnh của Như Lai. Trong quyển Nghi thức tu học Nikāya, có bài lạy về 10 trí đức của Như Lai, giải thích từng đức hiệu rồi mình lạy.

Mình phải nhập cuộc, luôn luôn ở trong một sự gọi là giới. Điều này rất quan trọng, chữ “giới” không phải là lên tới giới đàn thọ rồi về là xong, có cái y đắp lên là xong. Mà mình phải nhớ lại xem giới mình giữ được bao nhiêu, cái nào mình còn phạm, cái nào mình còn khiếm khuyết mình phải thấy hổ thẹn, xấu hổ, nhục nhã. Mình cố gắng khắc phục từ từ để đi đến chỗ hoàn thiện, đi đến chỗ viên mãn. Đó là công năng của niệm giới –“không bể vụn, không bị cắt xén, không có vết nhơ, không có chấm đen, đưa đến giải thoát, được người trí tán thán, không bị chấp trước, đi đến thiền định”. Đức Phật dùng những từ hết sức rõ ràng, cụ thể, “không bể vụn, không bị cắt xén”, giới bể hết giống như một cái chén kiểu đẹp mà rớt xuống là bể hết; hoặc là một cái bánh nguyên vẹn bị cắt ra hết; hay là một cái áo đẹp mà bị cắt ra. Mình nhìn lại giới của mình coi nó bể hay là nó bị cắt, hay là nó có bị vết gì không? Từng bước, bước bước như vậy, sau khi nói cắt xén là tới vết nhơ. Tức là nó bị một cái vết chứ nó không bị cắt, không bị bể. Mình chắc nhiều vết lắm, nhưng không thấy, không có sự sám hối, không có sự xấu hổ, sợ hãi, cái này nguy hiểm lắm. Cho nên cái niệm này nó có công năng nhắc nhở cho mình khắc ghi và mình biết có sự sợ hãi, hổ thẹn, tàm, quý để mình nâng cao giới học lên. Hôm trước chúng ta đã học bài “Nâng cao giới học, nâng cao tâm học, nâng cao tuệ học”. Do mình niệm như vậy nên mình mới nhớ, do mình nhớ như vậy nên mới nghĩ, do mình nghĩ như vậy nên mình mới suy xét, mình mới kiểm soát, kiểm tra, mình mới đối chiếu, so sánh. Từ chỗ đó mình mới có sự nỗ lực, gắng sức để hoàn thiện, để làm tốt hơn những cái giới của mình. Càng ngày càng đi đến cái vi tế và cuối cùng là không có chấm đen, một cái chấm đen thôi cũng không có. Những vị giữ giới mà thanh tịnh, miên mật, kỹ lưỡng, khít khao như vậy mới đưa đến giải thoát, mới được người trí tán thán, mới không bị chấp trước và đi đến đến thiền định.

Mình thấy điều này rất thực tế, mình nói năm giới trước đi. Năm giới mình phạm cũng khá chứ đừng tưởng đâu con giới Tỳ-kheo sao thầy nói năm giới. Thí dụ mình có nói dối ai điều gì, tối mình về mình ngồi thiền, đây là nói những người có ngồi thiền, những người không ngồi thiền thì miễn bàn. Ngồi thiền ở đây không phải tới giờ là tất cả đại chúng lên thiền đường ngồi thì mới tính ngồi, mà ngay cả mình ngồi trong phòng mình, ngay chỗ cái đơn, cái giường của mình. Khi mình ngồi thiền mình nhớ lại có nói dối ai thì lúc đó cái tâm mình có yên không hay là sẽ bất an. Hay mình đi ngang thấy có đồ gì đẹp, mình lượm bỏ vô túi. Rồi tối về ngồi thiền thì lúc đó tâm mình có bình an không hay nó sợ phát hiện ra. Cho nên công năng của giới là đưa đến tâm bình an, mà người không có để tâm, không cố gắng hành trì giữ giới thì ngồi nhưng cái tâm không định được. Trong đó là một cái tâm trạo hối, một là nó lăng xăng, nó tháo động, hai là nó hối hận, hối tiếc với những sai phạm của mình. Cho nên nếu mình chân chánh tu tập mình mới thấy được cái này, hết sức là quan trọng. Mình có làm gì sai là mình ngồi lại mình kiểm điểm, tự mình thấy tòa án trong lương tâm đang xử mình. Mình ngồi đó là mình cứ hối hận, hối tiếc vì sao mình làm như vậy, tại sao mình lại nói như vậy, tại sao mình hành xử như vậy. Thậm chí một người tu mà thường thường kiểm soát cảm giác toàn thân, thường thường nhìn lại nội tâm, những cái nghĩ tưởng, rủi như mình có nói gì hơi thô tháo thì khi ngồi lại mình cũng thấy xấu hổ nữa chứ đừng nói chi là những cái giới trọng. Cho nên sự niệm giới của mình hết sức quan trọng. Chính cái chỗ mình thấy ray rức, mình thấy sai phạm, mình thấy hối hận, mình thấy sợ hãi như vậy thì những cảm giác hối hận, ray rứt, sợ hãi đó nó được tăng trưởng, được nuôi dưỡng, được phát triển, được lớn mạnh và chính nó làm cho lần sau mình không bị tái phạm lại. Đó là công năng của niệm giới. Mình phải làm cho cảm giác đó sanh khởi và chính chỗ những giới đi đến trong sạch, thì giới không bị bể vụn, không bị cắt xén, không vết nhơ rồi đến không chỗ không có chấm đen. Đó là từ cái thô, đi đến cái vừa vừa, đi đến cái tế, rồi đi đến thật là tế, một chấm đen cũng không có. Như vậy giới đó mới đưa đến giải thoát khỏi những ác nghiệp, giải thoát khỏi những cái sợ hãi, tội lỗi, giải thoát khỏi những sự hổ thẹn, xấu hổ, tâm mình sẽ không có xấu hổ.

Cho nên trong kinh Nikāya, các vị Tỷ-kheo sắp sửa lâm chung, Đức Phật đến hoặc các bậc Thánh Tăng đến hay hỏi “Tôn giả có thấy hối hận với điều gì không, có thấy hối hận với giới của mình không?”. Cái này hết sức quan trọng, nếu mình không cố gắng giữ giới thì tới ngày mình sắp lâm chung cái đau khổ, hối hận lớn nhất của mình là giới. Lúc đó tâm của mình sẽ không thanh thản, nó sẽ sống trong hối hận, ray rứt và sợ hãi. Cho nên đó là tại sao nửa tháng là đọc giới. Một người giữ giới sẽ hân hoan vui vẻ, còn người phạm giới ngồi trong đó sẽ ray rứt, xấu hổ và nhục nhã. Mà nếu cái đó không sanh khởi lên là xong, tức là người này trơ trơ, coi như người này bị đánh dạt ra khỏi biển của Chánh pháp tuy thân là hình tướng của người xuất gia. Nói không phạm thì thật sự hết sức khó khăn, bây giờ mà đi tìm kiếm một vị giữ giới đúng y hết thì thật sự khó. Bây giờ có phạm, nhưng mà có tàm, quý, xấu hổ, sợ hãi thì còn có khả năng để phục hồi, còn có khả năng bước vào từng tầng Thánh quả. Còn đối với một người mà trơ trơ, không xấu hổ, không sợ hãi, không gì hết thì người này vĩnh viễn không còn phần trong tất cả những đạo quả, trong tất cả những khả nảng hướng thượng trong Thánh pháp. Cho nên cảm giác gọi là hổ thẹn, gọi là xấu hổ, nhục nhã là rất quan trọng. Minh Thành có giảng một bài “Từ nhục nhã đưa đến Thánh quả”. Hai pháp tàm, quý này nó đưa mình đến Dự lưu. Cho nên cái niệm giới này, nhất là đối người xuất gia là hết sức quan trọng mà ngay cả cư sĩ cũng vậy. Nếu một người cư sĩ không có giữ gìn năm giới, hay là tám giới, là mười giới một cách hết sức cố gắng thì người cư sĩ cũng không thể có khả năng thể nhập vào Chánh tri kiến. Người cư sĩ tại gia vẫn có thể chứng đắc được từ Sơ quả, Nhị quả cho đến Tam quả. Còn cơ hội của người xuất gia là quá tuyệt vời, nhưng mình làm không được là cái đó tự mình thôi. Cho nên chúng ta phải hết sức quan trọng ở chỗ nuôi dưỡng một cảm giác xấu hổ, nhục nhã, sợ hãi đối với ác bất thiện pháp. Nếu không có điều này coi như uổng công, thất bại hoàn toàn trong đời sống tu tập của mình. Mỗi khi mình sai phạm, mình sát sanh, người tu, người xuất gia mà đi ăn mặn, đây là mình nói cho Bắc tông, mình không có nói những truyền thống khác. Rồi lại có những cái mình không kiểm soát gì hết. Trong giới pháp của mình, mình không nhìn lại, không soi lại, không niệm giới thì hết sức nguy hiểm. Ở đây Minh Thành mở rộng để thấy, do không có chấm đen cho nên nó giải thoát khỏi những tâm đó và người có trí huệ sẽ tán thán. Người tu đúng tinh thần Chánh tri kiến, thì người này giữ giới không có bị chấp trước. Không phải mình giữ không ăn chiều, mình nhìn mấy người kia ăn chiều thì mình xem thường người ta, hay mình ngồi thiền còn mấy người kia không ngồi thì mình xem thường người ta, không phải như thế - cái đó là chấp trước. Thí dụ những người kia họ có làm ồn trong lúc ngồi thiền, mà lúc đó mình vẫn tác ý đánh tan tâm sân hận và mình phát khởi một tình thương đối với huynh đệ của mình, mình không có tâm sân thì như vậy mới là cái tâm của người tu. Đó mới gọi là “thiện hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn”, rất là hiền thiện, hiền lành, chứ không phải mình tu được rồi mình chê mấy người khác không tu, mình thiền được rồi mình chê mấy người khác không thiền. Mình thấy biết nhưng mình thương, không có sân, còn mình sân, mình giận là mình sai rồi.

Cho nên một vị đệ tử mà tùy niệm 6 cái tùy niệm này thì “tâm không bị tham ám ảnh, tâm không bị sân ám ảnh, tâm không bị si ám ảnh, trong khi ấy, tâm được chánh trực”. Mục đích thật sự của tất cả pháp hành trong Đạo Phật của mình là chĩa thẳng mũi dùi vô phát hiện, nhiếp phục và đoạn tận tham, sân, si, có bao nhiêu đó thôi. Nếu bao nhiêu đó mà mình làm không được thì coi như mình không có gì hết, phá sản rồi. Bây giờ tham, sân, si mình còn không biết nó ở đâu, không biết từ đâu nó sanh khởi và làm cách nào để cho nó giảm thiểu, nhiếp phục, đoạn tận thì coi như là mù lòa trong giáo pháp. Cho nên từ chỗ cái tâm không bị chấp trước rồi sẽ đi đến thiền định, còn nếu cái tâm chấp trước thì nó không đi đến thiền định được. Tại vì nó thấy mình hơn người ta, khen mình chê người, cống cao ngã mạn, dương dương tự đắc thì làm sao đi đến thiền định được. Nó không có định được.

Bây giờ mình niệm thí này hay lắm. Có nhiều người hiểu lầm là mấy Phật tử người ta bố thí, chứ mình xuất gia có gì đâu bố thí, nhưng mà mình có nhiều, thiệt không có không, móc túi ra, mở tủ ra kiểm tra, nếu mình còn thì mình phải bố thí. Tại sao người ta thí cho mình được mà mình không thí cho người khác được. Hiện tại mình tu nếu đúng theo giới luật của Đức Phật ngày xưa thì mình trật nhiều lắm, mình gom vô quá trời, chứ đúng ra hồi xưa là đâu có gom. Cho nên bây giờ mình phải tu tập thí, phải niệm thí, nhớ nghĩ về sự bố thí. Chứ không phải nói cái pháp này dành cho người cư sĩ. Mà mình ngộ lắm, cái nào có lời cho mình là mình làm, cái nào không có lợi là mình né. Cái này là khôn theo đời, chứ không phải khôn theo trí huệ. Cái nào mà thấy có lợi là mình phát huy “Ôi chao, cúng dường này là phước báu lắm. Trong tất cả các pháp, cúng dường là số một”. Điều này phải kiểm tra lại xem có đúng như kinh nào không? Không khéo mình nói như vậy là mình nói sai pháp, hết sức nguy hiểm, cái đó là Đức Phật nói trong kinh nào, phải kiểm tra kỹ lại. Ai làm lợi cho mình là mình nói “Ôi chao, cái này là phước nhất, cái này là công đức nhất, cái này là tốt nhất”, phải kiểm tra lại.

Minh Thành nhớ một bài kinh làm Minh Thành hết sức xúc động, vô cùng xúc động. Có một ông đại gia, dẫn 500 người tùy tùng của ông ấy đến cúng dường Đức Phật, mà là đại gia thì cúng đâu phải vừa, hồi xưa thời Đức Phật có những người có lòng tin mạnh mẽ như vậy. Vậy mà Đức Phật khuyên:

Này gia chủ ông chớ hài lòng, tự mãn đối với những cái ông đang làm đây. Ông chớ hài lòng với những sự bố thí là phòng ốc rồi những thức ăn, uống và những y, áo, thuốc men cho chư Tăng. Ông chớ có hài lòng, chớ có tự mãn, chớ có nghĩ rằng mình làm như vậy là mình đã thỏa mãn mà thỉnh thoảng ông hãy tu tập hỷ do viễn ly sanh. Ông hãy tu tập sự hoan hỷ khi xa lìa vợ con, tiền của, sự nghiệp. Ở yên tĩnh một mình trong phòng, hay là ở ngoài vườn, ở dưới gốc cây, bên bờ suối ông thấy ông hoan hỷ khi ở một mình. Thỉnh thoảng ông hãy tác ý làm cho ông vui vẻ, hoan hỷ trong khi ông xa rời ngũ dục. Ông hãy tác ý như vậy.

Bài kinh đó làm cho Minh Thành xúc động vô cùng. Đó là bậc đại Đạo sư. Cho nên khi người ta cúng dường trai tăng này kia, mình đừng có khen không, tán thán thì tán thán nhưng mình đưa họ lên một nấc nữa là phải nhìn thấy được vô thường, thấy được cái khổ của cuộc sống, thấy tham, sân, si là nguyên nhân gây ra đau khổ, phải cố gắng nhiếp phục nó. Nhớ kỹ điều này là đúng pháp. Quay trở lại vấn đề, tu tập bố thí mình phải suy nghĩ “Thật là được lợi cho ta, thật là khéo được lợi cho ta”. Vì với mọi người là họ bị xan tham, cấu uế chi phối. “Ta ở trong gia đình hay ở trong thân của một người xuất gia mà tâm ta không bị cấu uế, xan tham, không bị xan tham chi phối. Ta bố thí một cách rộng rãi với bàn tay sạch sẽ, ưa thích từ bỏ, sẵn sàng và để được yêu cầu, thích phân phát vật bố thí”.

Nhớ chỗ này “bố thí một cách rộng rãi với bàn tay sạch sẽ”, bàn tay sạch sẽ là cho đi chứ không ngắt lại.“Ưa thích từ bỏ, sẵn sàng và để được yêu cầu”, thật ra người xuất gia chúng ta đâu có tài chánh nhiều, toàn sống dựa vào sự bố thí của đàn na tín thí nhưng không đến nỗi trong túi mình không có một đồng bạc. Cho nên khi mình đi rủi như gặp bất cứ một người ăn xin nào, mình có thể lấy ra một ít tiền lẻ, một, hai tờ mình chia sẻ cho người ta. Hình ảnh đó rất là đẹp. Tại sao mình khuyến khích Phật tử bố thí mà bây giờ có người lại trước mặt mình xin mà mình không cho. Thành ra chỗ này huynh đệ phải để ý, đó là vừa làm đẹp cho chính tự thân mình tu hành, mà cũng vừa làm đẹp cho Tăng đoàn. Tại sao chỗ người ta không có kêu mà mình phải đi 500, 1000 km, mà bây giờ người ở trước mặt mình, ngay cổng chùa mình người ta xin tô cơm mà mình không cho? Đây là chỗ mình cần học “ưa thích từ bỏ, sẵn sàng và để được yêu cầu”, là người ta yêu cầu mình mà, mình phải sẵn sàng trong thiện pháp. Minh Thành khuyến khích các huynh đệ chỗ này, mình không làm được cái lớn nhưng cái này mình làm được. 1 gói mì, 2, 3 gói mì, 1 thùng mì, 1 bộ đồ, mấy đồng bạc lẻ, nếu có bạc chẵn cho càng tốt, không sao hết. Chứ mình nói trên trời dưới đất tới chừng thực tế mình không có, không có thực dụng, không có thực thi, không có thực hành, không thực hiện, thực pháp. Cho nên trong mỗi ngày mình phải niệm sự bố thí.

Niệm thiên ở đây là niệm những việc phước. Mình thấy các vị Trời, các vị Chư Thiên, do họ tu tập phước báu mà họ sanh cõi tốt lành, đẹp đẽ, sung sướng như vậy. Cho nên mình tiết phước, tu phước, tạo phước làm cho phước của mình tăng trưởng thì đó là mục đích của niệm thiên. Đương nhiên mình tu tập tốt là Chư Thiên, Chư Thần các vị hộ pháp là lẽ đương nhiên, không có vấn đề gì hết, đó là sự thật. Mình không có tâm mong cầu mà mình cứ làm đúng như vậy là tự động có, mà mình không làm thì mình mong cầu cũng không có. Mình không có đủ phước, mình không có đủ đức, giờ mình có cầu xin các ngài hộ mình, mình tụng hoài cũng không có hộ. Nếu mình có giới hạnh, có thiền định, có trí huệ thì không cần kêu người ta cũng lại ào ào. Đó gọi là “Bần nhân cư thị vô nhân vấn. Phú tại thâm sơn hữu viễn thân”, kẻ nghèo rớt mồng tơi, đi làm thuê, làm mướn, đi ăn xin, ở trong Sài Gòn cũng không ai lại hỏi thăm, không ai lại nhận làm bà con hết. Nhưng mà người giàu, đại gia ở trong núi sâu thì cũng có người lại nhận người thân “Tôi bà con nè, nhớ không?” Quan trọng là mính có giới, định, tuệ, có đạo hạnh, có trí huệ, có công đức thì tự động Người, Trời ủng hộ, Thiên, Thần phò trì, đó là lẽ đương nhiên.

Cho nên, mục đích của sáu tùy niệm này là trong khi mình nghĩ nhớ, mình tư duy, quán chiếu, tu tập như vậy thì “tâm không bị tham ám ảnh, tâm không bị sân ám ảnh, tâm không bị si ám ảnh, trong khi ấy, tâm được chánh trực”, tâm mà được chánh trực thì mình sẽ có được lòng tin, sự tiếp nhận nghĩa lý thâm sâu của Chánh pháp, cho nên gọi là nghĩa tín thọ. Khi mình có được lòng tin, có được sự tiếp nhận của Chánh pháp như vậy thì mình chắc chắn sẽ thực tập. Khi mình thấy được sự hiệu quả, giá trị, lợi ích vĩ đại có nó thì làm sao mình không thực tập được. Mà khi mình thực tập, đã có lòng tin, đã có sự tiếp nhận đối với những nghĩa lý, những giáo pháp như vậy thì tự nhiên hân hoan liên hệ đến pháp sẽ sanh khởi. Mỗi khi mình nghe pháp, mình hành pháp mình thấy rất là vui, rất là hoan hỷ, rất là hạnh phúc. Khi mình hân hoan như vậy thì hỷ nó sanh, đây là tiến trình đưa đến Thánh chánh định chứ không phải đơn giản. Do mình có hân hoan nên hoan hỷ sanh, mà hoan hỷ sanh thì tâm mình nhẹ nhàng, khinh an, mà tâm nhẹ nhàng thì cảm giác dễ chịu. Đây là trình tự để đi vào thiền định, không phải muốn định là định đâu. Khi tâm nhẹ nhàng, có cảm giác dễ chịu thì nó đi vào định tĩnh. Cái tâm nó theo một sự vận hành như vậy và tự động nó đưa vào định. Tại sao mình định không được? Mình giận người này, mình tham cái kia, mình ở trong ham mê, si ám thì sao đi vào định. Cho nên muốn đi vào đi thì phải không tham, không sân, không si, tâm chánh trực, ngay trạng thái lúc đó thì nó mới đưa đến sự hân hoan, vui lắm. Khi mình học pháp mà không có sự hân hoan, không có sự hoan hỷ, không có sự nhẹ nhàng, không có sự dễ chịu thì sự học của mình không có tiến bộ một cách sâu sắc. Làm sao mình phải phát sanh những cái này trong khi mình tu và trong khi mình học. Mình tác ý lên, làm cho nó sanh khởi.

“Như vậy gọi là bậc Thánh đệ tử sống đạt được bình đẳng với chúng sanh không bình đẳng, sống đạt được vô sân với chúng sanh có sân, nhập được pháp lưu”,đó là Dự lưu thánh quả “tu tập Phật tùy niệm, Pháp tùy niệm, Tăng tùy niệm, Giới tùy niệm, Thí tùy niệm, Thiên tùy niệm”.

Sao gọi là “sống đạt được bình đẳng với chúng sanh không bình đẳng”, bởi vì tâm mình bị tham, sân, si ám ảnh là nó không bình đẳng. Minh Thành lấy thí dụ thực tế, đơn giản nếu tâm mình có tham, Đức Phật nói giống như cây có nhựa, khi mà chặt vô thì nó chảy nhựa ra. Còn đối với một cây hoàn toàn khô từ bên trong ra bên ngoài thì mình chặt cỡ nào cũng không ra nhựa. Cũng vậy, nếu một người ở bên trong còn tham khi mình nhìn một người đại gia với một người nghèo lại cúng dường thì trong tâm mình khác không? Khác liền, đó là bất bình đẳng. Trong nội tâm mình còn tham sắc thì mình đứng trước một người cùi và một người hoa hậu thì đương nhiên nó khác. Cho nên hễ còn tham, còn sân, còn si là còn bất bình đẳng, mà đạt được chỗ ly tham, ly sân, ly si, không còn bị tham, sân, si ám ảnh thì lúc đó mới bình đẳng. Trong khi mình niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, niệm giới, niệm thí, niệm thiên lúc đó mình không bị tham, sân, si cho nên lúc đó gọi là lúc mình được bình đẳng.

Bây giờ tới “Sống đạt được vô sân với chúng sanh có sân hận”, chúng ta thấy gần đây những vụ án hết sức kinh khiếp và sợ hãi. Đánh, chém mấy chục người, khủng khiếp. Càng ngày lòng sân hận của con người càng phát triển kinh hãi, khiếp đảm và nó đốt cháy hết hành tinh này. Cho nên sự tu tập của chúng ta hết sức quan trọng trong nhận diện các cảm giác, cảm giác toàn thân. Có như vậy mình mới nhiếp phục được tham, sân, si và có cơ hội nhập được pháp lưu, vào dòng của Chánh pháp.

Thế lưu thì dễ nhập, pháp lưu thì khó vào. Rất là khó vào nếu mình không có một sự tinh tấn, để tâm. Ba tháng an cư thì ít nhất phải lên núi, lên rừng một tháng, mà nếu được đầy đủ thì phải ba tháng mới có cơ hội nhập được pháp lưu. Còn không khéo là mình hết sức dao động, lăng xăng, không có ngày ngừng nghỉ.

./.