Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Xả Thân Cầu Đạo

2026-03-03 00:54:19
XẢ THÂN CẦU ĐẠO

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I.Xả phú cầu bần PAGEREF _Toc112279397 \h 1

II.Xả thân cầu đạo PAGEREF _Toc112279398 \h 2

III.Xả ngã để chứng đắc vô ngã PAGEREF _Toc112279399 \h 10

Xả phú cầu bần

Học Phật pháp phải có tinh thần xả ly, buông bỏ.

Cái buông bỏ thứ nhất gọi là xả phú cầu bần.

Cái buông bỏ thứ hai là xả thân cầu đạo.

Cái buông bỏ thứ ba là xả ngã để chứng vô ngã.

Nhìn quý Phật tử về núi rừng, phương tiện đơn sơ, nằm đất, bệnh hoạn, Minh Thành biết quý vị có tâm, rất tha thiết trong sự cầu học chánh pháp, tha thiết trong sự thực hành, tha thiết trên con đường đạo lộ, giải thoát. Chúng ta phải luôn nhớ ba cái xả này để tu.

Ở nhà mọi người ấm áp, nệm ấm chăn êm, phương tiện, điều kiện sống rất tốt lành. Nhưng giờ quý lên núi rừng lạnh lẽo, ăn chay nằm đất, thức khuya dậy sớm, tu học một ngày sơ sơ là tám tiếng, còn đúng mức là mười hai tiếng đối với các thầy, các chú tập sự xuất gia. Cho nên, trong sự tu học này, trước hết chúng ta phải có được cái xả thứ nhất này, tức là xả phú cầu bần. Không được nhớ mình là người giàu, nhớ như vậy là sắc tưởng, rồi suy nghĩ rằng: “Sắc của tôi trong quá khứ là như vậy, còn bây giờ sắc của tôi là như vậy đây. Rồi mai mốt tôi về tôi bệnh thì sắc tôi như vậy”, suy nghĩ này là không phù hợp. Người tu trước hết phải xả sắc tưởng, phải chiến thắng được những lệ thuộc vật chất đời thường, nếu những cái này mà không chiến thắng được, không vượt qua được, không xả ly được, không buông bỏ được thì khó tiến đạo.

Minh Thành có lời khen đối với hai chị em song Ánh, gần tám mươi tuổi bị bệnh chân yếu, không phải đi hai chân mà đi tới năm sáu chân, thức khuya dậy sớm theo thời khóa đầy đủ, đó là tấm gương để học hỏi, đây là pháp sống chứ không phải mở kinh sách ra nghe. Cho nên, hãy nhìn những người xung quanh mình, những sự việc xung quanh mình để học hỏi. Mỗi lần giảng pháp là Minh Thành nghe một cô Phật tử ho khục khục, Minh Thànhà thấy thương, bệnh nhưng không từ bỏ, vẫn quyết tâm theo tới cùng. Chính vì vậy, chúng ta phải bỏ được sự quý trọng về tấm thân để cầu pháp, đây là tấm gương cho mình noi theo. Quý sư cô phải bỏ lớp, bỏ trường lên núi tu không phải chuyện đơn giản, không phải như quý Phật tử nghĩ đơn giản là các cô chỉ lên đây tu học mấy ngày. Khi được tham dự khóa tu thì nghĩ điều này là bình thường, nghĩ vậy là sai, đừng nghĩ đây là bình thường, mà chúng ta phải trân quý hiện hữu. Mọi người trong đạo tràng phải vượt qua rất nhiều những trở ngại, khó khăn, thử thách để tổ chức khóa tu và mình mới có mặt. Thế nên, khi đã có mặt rồi thì phải trân quý hết mức có thể, không phải có mặt rồi là xong, không phải lên ngồi một cách thụ động.

Như vậy, quan ngại thứ nhất của người tu là xả ly những vật chất, xả những tiện nghi, những thói quen, xả sự êm ái trong sinh hoạt đời thường. Bỏ được những thứ này là chúng ta chiến thắng quan ải thứ nhất.

Xả thân cầu đạo

Quan ải “xả thân cầu đạo” sâu sắc hơn quan ải trước nữa, từ tiểu học bây giờ chúng ta bước qua trung học. Đức Thế Tôn đã dạy: “Này các Tỳ-kheo với các pháp mà Ta khéo thuyết hiển thị, hiển lộ, các buộc ràng được cắt dứt chắc chắn dù chỉ còn lại da, xương và gân trên thân, dù thịt máu có trở thành khô kiệt. Mong rằng tinh tấn lực sẽ được kiên trì để chức đắc những gì chưa chứng đắc, chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ, chứng đạt những gì chưa chứng đạt, nhờ trượng phu lực, nhờ trượng phu tinh tấn, nhờ trượng phu cần dõng mạnh mẽ, và như vậy khổ uẩn được đoạn diệt”(Chương 12: Tương Ưng Nhân Duyên, III. phẩm Mười lực).

Như vậy, bước đầu tiên là chúng ta xả những cái nhẹ và dễ, bước tiếp theo là xả những cái mạnh, tại vì “pháp được Như Lai khéo thuyết hiển thị, hiển lộ, các buộc ràng được cắt đứt”. Hiểu đơn giản từ “khéo thuyết” trong “pháp được Thế Tôn khéo thuyết” nghĩa là chỉ có bậc vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác mới thuyết được, không có người thứ hai thuyết được pháp đó, như vậy gọi là khéo thuyết. Không phải ăn khôn nói khéo như ngoài đời gọi là khéo thuyết, chữ “khéo” trong kinh tạng thâm sâu hơn những gì ta nghĩ. Những trí tuệ siêu việt được Ngài hiển thị, hiển lộ, nhờ tu hành theo lời dạy của Ngài thì những sự trói buộc được tháo gỡ, cắt đứt không sớm thì muộn, không còn kết quả nào khác dù cho chỉ còn lại da, gân và xương trên thân này, dù thịt, máu có khô kiệt cũng đi đến thành quả đó, người tu phải tin chắc mạnh mẽ như thế. Đức Thế Tôn tu chỉ còn da và xương, trong khi chúng ta giờ đây ăn ngày ba cử có khi chưa đủ, tu chỉ nói trên cái miệng “con quyết liệt giải thoát” là xong, xả thân cầu đạo như vậy thì “không chết mà còn khỏe hơn”.

Quý thầy khi nhập thất có khi ăn mỗi ngày chỉ một bữa nhưng thân thể nhẹ nhàng, tâm tư yên tĩnh, dung sắc hồng hào. Ăn như vậy không làm mình yếu ốm, tất cả là do là thọ, tưởng, hành vẽ ra đủ thứ, như đau bao tử, suy nhược cơ thể… nếu chúng ta nghe theo những thọ, tưởng, hành đó là không được. Nếu mình nghe theo những ý hành đó là xuống bếp lấy một tô lớn ăn, đến khi thiền thì gật gù, ăn như vậy làm sao ngồi nổi. Trong giai đoạn tu phải ý thức được những giây phút thiêng liêng, cố gắng bớt ăn, bớt mặc, bớt ngủ. Đợt tu trước có một huynh ba ngày không tắm, hỏi lý do thì biết rằng huynh không đem đồ nhưng im ru không nói. Ngày xưa các thầy Tỳ-kheo có khi đến nửa tháng mới tắm một lần, vì ở Ấn Độ thiếu nước chứ không như mình.

Thành ra trong khi tu thì đừng nghĩ tới ăn, ngủ, mặc nhiều, đừng nghĩ ngày nào cũng là ngày bình thường, mà mỗi ngày đều phải chiến đấu, phải xung trận. Đừng nghĩ tu cũng giống như ở nhà, nếu ở nhà cũng như đi tu thì đi tu làm chi! Cho nên cố gắng bớt ăn, bớt mặc, bớt ngủ, biết đâu trong mấy ngày chuyên tâm tu học mình đạt được Nhập lưu hoặc hướng Dự lưu, như vậy thì tỷ kiếp trong vòng luân hồi sẽ có chiều hướng đi ra, được như vậy rất đáng quý.

Ngược lại, cứ đặt tâm vào ăn uống thì dù ăn mấy chục năm cũng đói hoài. Cho nên, đối với cái ăn, cái mặc, cái ngủ, cái khó chịu, cái mệt mỏi, cái đau chân, tê chân thì cứ mặc kệ, không quan tâm chúng, mà hãy nhiếp tâm vào pháp. Tê nhức chỗ nào cũng kệ chỗ đó, nếu tê nhức một chút mà cứ ở trong thọ đó hoài, không nghe pháp, cứ nghe thọ, tưởng, hành của cái tê, cái mỏi thì sao tu được, tuy nói mình tu Thánh trí về ngũ uẩn nhưng thực ra vẫn chưa. Chúng ta cố gắng không thọ cái tê mỏi, mà đem tâm hướng về thọ pháp, bình thường nghe pháp được một tiếng nhưng hôm nay nghe được hai tiếng, mình thấy hoan hỷ trong pháp, có tê có mỏi cũng không thọ, chỉ đặt tâm vào pháp. Đây chính là bắt đầu xả thân cầu đạo.

Ngược lại, nghe pháp xong chỉ nghĩ đến mình bị tê quá, mỏi quá, vậy chẳng khác gì chủ đề giảng hôm ấy là “chủ đề nhức mỏi” chứ không phải chủ đề Dự lưu thánh quả. Người ta chia sẻ về sự giải thoát trí, về thánh trí nhưng mình tê quá, không nghe được, tức là tâm không có trú vào pháp, bị cái thọ ảnh hưởng chi phối, áp đảo, chế ngự nhưng mình không nhiếp phục được. Bây giờ ngồi nghe pháp như vậy mà chịu không nổi thì mai đây chết làm sao chịu nổi, bệnh làm sao chịu nổi, tai nạn tới làm sao chịu nổi, khổ ách tới làm sao chịu nổi, thân thể này rã rời, tan nát làm sao chịu nổi.

Cho nên những giờ nghe pháp, ngồi thiền mà bị tê chân, nhức mỏi thì phải cố gắng tập từ từ. Sau này khi tiếp xúc những cái khó chịu, bực tức thì mình nhiếp phục được. Đến khi bị bệnh, bên trong tứ đại có bị phân hoại, phân ly thì mình cũng làm chủ được bản thân. Tất cả những gì ngay hiện tại đều là cơ hội cho chúng ta thực tập, không có gì là không thực tập được, cái nào cũng thực tập được. Ai có thể nói mình không bệnh, không chết? Biết là sẽ bệnh rồi chết thì tại sao không chuẩn bị, tại sao không rèn luyện, tại sao không thực tập. Lúc nào Minh Thành cũng nhắc tới cái chết tại vì đây là chuyện quan trọng nhất trong cuộc đời mỗi chúng ta. Cần sanh ra sự sợ hãi, coi nó khủng bố hơn cả IS (nhà nước hồi giáo tự xưng), vậy, mình phải lấy gì để đối đầu với nó?

Thông minh không địch lại sanh tử, càn huệ không chống nổi vô thường. Dù cho có mưu mô xảo quyệt đến đâu thì sanh tử đến cũng không chống nổi, càn huệ chỉ là hiểu biết suông trên lý thuyết, vô thường tới không đủ sức chống đỡ. Chỉ có niệm, định, huệ là trí huệ giải thoát cho mình. Khi tu phải có tinh thần như Đức Phật “dù thịt máu trở thành khô kiệt, chỉ còn lại da, gân và xương trên thân thì mong rằng cái tinh tấn lực này sẽ kiên trì để chứng đắc những gì chưa chứng đắc”. Tinh tấn không cũng chưa đủ mà còn phải thêm lực, nghĩa là sức mạnh của tinh tấn, chứ không phải sơ sơ. Tinh tấn tạo nên sức mạnh như ngũ căn tạo nên ngũ lực, chữ “lực” nghĩa là ở một mức độ lớn hơn.

Ngoài giờ nghe pháp, ngồi thiền, chúng ta không nên nói chuyện phù phiếm, trừ khi ra trình pháp, như vậy mới thấy rõ được năm uẩn, còn tu xong ào ào trở ra thì những tập khí vẫn y nguyên như cũ, năm uẩn vận hành bình thường. Ngày xưa, Đức Thế Tôn, các bậc A-la-hán, các vị thánh Tăng thiền định ở mức độ yên tịnh thâm sâu mới thấy được các ngõ ngách, thấy được những động chuyển vi tế trong tâm. Cũng như trên máy bay có rất nhiều con ốc, con vít, rất nhiều nút điều khiển nhỏ xíu, chỉ cần bấm nhầm một nút thì xong hết, hoặc băng keo dán không đúng cũng ảnh hưởng tới mấy trăm sinh mạng, rất nguy hiểm. Xã hội phát triển càng lên cao, càng thâm sâu chừng nào thì các phương tiện, công cụ sinh hoạt càng nhỏ nhiệm chừng đó. Cũng vậy, trí huệ càng tinh mật thì càng phát giác ra những sự tinh tế, tinh vi chừng đó. Bây giờ người ta còn chế ra được điện thoại mỏng manh, gập ra gập vào thoải mái, cầm lên thôi là toàn cầu trong tay, chiếc điện thoại nhỏ xíu nhưng thế giới trong lòng bàn tay. Bằng trí tuệ vận hành trong tham, sân, si, phiền não còn có thể làm ra được những thứ như vậy, huống hồ gì tuệ giác vô thượng của bậc thánh giả thì làm sao có thể tưởng tượng nổi. Vì thế, người tu đòi hỏi phải có niệm, định, huệ tinh mật, thâm sâu, thiền định liên tục không gián đoạn, hoặc ít nhất phải chuyên chú trong khóa tu, trong giờ hành trì tại nhà. Đây là Minh Thành nói ít nhất, vì nếu thời khóa còn chưa làm được thì nói gì sâu xa hơn nữa làm gì.

Cho nên giai đoạn thứ hai là xả thân cầu đạo. Ai nói gì, nhìn sao, hành động sao cũng kệ, miễn sao mình học được đạo. Mỗi khi đến chùa, dù cái bếp, chánh điện, nhà khách thế nào, thầy đối xử với mình ra sao cũng không quan trọng, điều quan trọng nhất cần nhớ là mình đang xả thân cầu đạo. Trong kinh Nikāya, Đức Phật thường nhắc đi nhắc lại với các thầy Tỳ-kheo “các ông nói những câu chuyện đó có liên hệ tới mục đích không”, điều này rất quan trọng. Nhiều vị lên chùa xem cây này cây gì, mua ở đâu, bao nhiêu thì Minh Thành chỉ cười chứ không trả lời, vì nó không liên hệ tới mục đích của việc tu, trừ trường hợp phải xã giao, còn lại, chỉ những ai đến cầu pháp thì Minh Thành mói trả lời. Những câu hỏi không liên hệ tới mục đích thì đừng để tâm vào đó nhiều, nếu không, mình sẽ lệch mục tiêu, vào chùa học pháp không thành công, không có liên hệ tới mục đích, lúc đi về chỉ toàn nói chuyện người ta, chưa kể nói xấu người khác thì con thất bại hơn nữa. Cứ tưởng vào chùa lạy Phật, dự khóa tu là về nhà được an lạc, tu tập được từ, bi, hỷ, xả, ai ngờ lại đem một đống khổ uẩn về theo, nếu vậy thì ở nhà tốt hơn, vì đi tu như vậy rất uổng phí.

Vì thế, khi tu xong, phải đem theo thiện pháp, trí huệ về nhà. Luôn ghi nhớ năm chữ “liên hệ tới mục đích” để tu học, hành trì, lúc nào cũng phải như vậy, điều này rất là hay. Mỗi khi nói ra, phải xem lại điều này có liên hệ tới mục đích không; khi suy nghĩ phải xem lại suy nghĩ này có liên hệ tới mục đích không; khi làm bất cứ điều gì cũng phải xem có liên hệ tới mục đích không, tại sao những việc có liên hệ tới mục đích thì không chịu làm, phải xem những việc mình làm có phải xả thân cầu đạo không.

Có một vị Tỳ-kheo thời Đức Phật, trước khi xuất gia là một thương buôn. Một lần, Ngài thấy con bò chở nặng quá bị khụy xuống nên Ngài đánh nó để nó đi tiếp, khi đó, Ngài thấy nó tỏ thái độ rất oán hận, Ngài cảm nhận mối thù này tiền kiếp mai đây Ngài sẽ sanh ra giống nó, nó cũng xử lại Ngài như vậy. Lúc đó, vị Tỳ-kheo này bỏ đi xuất gia và chứng A-la-hán. Sau khi chứng quả, Ngài có một bài kệ rất đặc biệt, bài kệ này nằm trong Trưởng Lão Tăng Kệ:

Như con bò giống tốt,
Ðược huấn luyện tốt đẹp,
Bị cột vào gánh nặng,
Mang gánh nặng kéo đi,
Bị áp đè quá nặng,
Không lật đổ gánh nặng.

Cũng vậy, ai nhiều tuệ,
Như nước ở trong biển,
Không khinh miệt người khác,
Thánh pháp là như vậy,
Ðối với các hữu tình.

Sống trong vòng thời gian,
Bị thời gian hàng phục,
Hữu, phi hữu chi phối,
Loài Người chịu đau khổ,
Con cháu họ sầu ưu,
Chính ngay trong đời này.

Hân hoan, khi được lạc,
Gặp khổ lại chán chường,
Kẻ ngu bị não hại,
Chi phối cả hai đường,
Không thấy được như thật.

Những ai giữa khổ lạc,
Người dệt không chi phối,
Ðứng vững như cột cửa,
Không hân hoan chán chường

Ðối với được hay mất,
Với danh với không danh,
Ðối với chê hay khen,
Với khổ hay với lạc.

Chúng tôi dính chỗ nào,
Như giọt nước trên sen,
Bậc anh hùng mọi chỗ,
Ðược lạc, không bị bại.

Người đúng pháp không được,
Người được, không đúng pháp,
Ðúng pháp nhưng không được,
Hơn được không đúng pháp.

Người có danh, ít trí
Người có trí, không danh,
Không danh nhưng có trí,
Hơn ít trí, có danh.

Ðược khen bởi kẻ ngu,
Bị chê bởi kẻ trí,
Ðược kẻ trí chê bai,
Hơn được người ngu khen.

Lạc do dục đem lại,
Khổ do viễn ly sanh,
Khổ do viễn ly sanh
Hơn lạc do dục sanh.

Làm phi pháp để sống,
Làm đúng pháp, có chết,
Làm đúng pháp, có chết,
Hơn sống, làm phi pháp.

Ai đoạn dục phẫn nộ,
Tâm tịnh hữu, phi hữu
Sống ở đời, không ái,
Không thương yêu ghét bỏ.

Sau khi tu Giác chi,
Các căn và các lực,
Ðạt tịch tịnh tối thắng,
Chứng Niết-bàn vô lậu.

(Kinh Tiểu Bộ, Trưởng Lão Tăng Kệ, Chương XIV-Phẩm Mười Bốn Kệ)

Bài này có những câu rất hay, người bình thường lúc nào cũng “hân hoan khi được lạ, gặp khổ lại chán chường, kẻ ngu bị não hại, chi phối cả hai đường, không thấy được như thật”. Con người thường gặp vui là hân hoan, gặp khổ là chán chường. Chúng sanh bị chi phối cả hai đường tại vì không thấy được như thật bản chất của đời sống này. Những cái vui, cái khổ người đời hiểu khác với cái khổ chúng ta đang học. Khổ thánh đế mình học không phải như cái khổ của người bình thường. Cho nên biết được như thật tức là biết Khổ thánh đế, mà Khổ thánh đế là không thấy vui khổ theo thông thường, vì cuộc đời này vốn dĩ làm gì có vui. Nhiều người ngồi ăn chơi, nhậu nhẹt nhưng lát sau chôn vùi mạng sống của mình ngay tại bàn nhậu thì cái đó có vui không? Rồi biết bao người bị tai nạn giao thông khi đang đi chơi, như vậy thì đời sống này có gì là vui thật không, hay tất cả chỉ là cái vui giả tạm trong cuộc đời đau khổ.

“Người đúng pháp không được – Người được, không đúng pháp”. Miễn chúng ta sống và làm đúng theo pháp, dù cho mình không được nhiều danh lợi, tài sản thì vẫn tốt hơn làm không đúng pháp mà có được. Ví dụ, nhờ giữ giới không sát sanh, mình không làm ăn buôn bán các loài vật nên không giàu có, như vậy là làm đúng pháp mà không được. Còn người khác không giữ giới sát sanh, làm ăn, sát sanh, buôn bán để kiếm tiền, người này tuy giàu có nhưng họ làm không đúng pháp. Đó là ý nghĩa của câu “không được mà đúng pháp, còn hơn được mà không đúng pháp”. Hoặc mình giữ giới không nói dối nên nói thật làm mất lòng người khác, không được lòng họ, đó là làm đúng pháp nhưng không được. Ngược lại, nói dối để lấy lòng người ta thì lại phạm giới nhưng lại được lòng họ. Cả hai cái này thì cái nào hay hơn? Thà không được mà đúng pháp sẽ là điều tốt hơn.

“Người có danh, ít trí – Người có trí, không danh”. Người tu phải dám buông bỏ những thường tình của thế gian, không sống vì danh lợi, tiếng tăm, vẻ bề ngoài mà phải đúng pháp, đúng đạo đức. Đây là những nghĩa lý rất căn bản và rất quan trọng nhưng có khi mình xem thường, phạm vào cả năm giới. Có danh thì ít trí nghĩa là người mải mê chạy theo danh tiếng không màng đúng sai. Còn người đi sâu vào trí huệ thì không quan trọng danh tiếng, đó chỉ là giả danh. Điều này tuy thấy đơn giản nhưng rất khó “Được khen bởi kẻ ngu – Bị chê bởi người trí – Ðược kẻ trí chê bai – Hơn được người ngu khen”, nghĩa là không quan trọng tiếng khen, tiếng chê mà tiếng khen, tiếng chê đó xuất pháp từ người nào mới là quan trọng. Nếu bậc trí huệ chê thì phải thấy rất đáng quý, đó là các vị ấy đang chỉ chỗ chôn vàng cho mình, như kinh Pháp Cú:

Nếu thấy bậc hiền trí,

Chỉ lỗi và khiển trách,

Như chỉ chỗ chôn vàng

Hãy thân cận người trí!

Thân cận người như vậy,

Chỉ tốt hơn, không xấu.

(Kinh Pháp cú – phẩm Hiền trí)

Nếu người chê mình là bậc trí, bậc hiền thánh thì cứ mong cầu các vị ấy chê trách để chỉ ra lỗi sai của mình. Nếu học đạo mà bị rầy la, bị nhắc nhở một chút là mình đi luôn thì tu biết đến bao giờ thành tựu. Thành ra, chỗ quan trọng không phải là lời khen tiếng chê, mà quan trọng là lời khen chê đó xuất phát từ người nào. Nếu người ngu mà khen mình thì cũng không có giá trị gì.

“Lạc do dục đem lại – Khổ do viễn ly sanh – Khổ do viễn ly sanh – Hơn lạc do dục sanh”. Nghĩa là giữa cái vui do dục lạc đem lại, với cái khổ do tu hành thì cái khổ do tu hành quý giá hơn cái vui của dục lạc. Bởi lẽ, cái vui của dục lạc đem lại cái khổ, còn cái khổ do tu hành lại mang đến niềm vui. Khi tu học, chúng ta sẽ phải cố gắng chịu khổ do viễn ly sanh, lúc đầu tuy khổ nhưng từ từ sẽ gặp lạc, sau đó không thấy khổ nữa, mà lại ưa thích đời sống viễn ly, đời sống yên tịnh, đời sống từ bỏ những náo nhiệt, những nhiệt não của thế sự, thế vật, thế lợi.

“Làm phi pháp để sống – Làm đúng pháp có chết – Làm đúng pháp có chết – Hơn sống làm phi pháp”. Tu mà chết cũng hơn cái sống mà bị mê lầm. Chúng ta đã sống trong mê biết bao nhiêu đời bao nhiêu kiếp, tại sao bây giờ không vì pháp mà phấn đấu, nỗ lực, dù cho chết cũng được, nhưng tu đâu có chết được. Nhiều người nói lên chùa ăn còn nhiều hơn ở nhà, ngủ còn ngon hơn nữa, vì tâm được yên tịnh. Đâu có ai chết vì cố gắng tu hành. Nói như vậy để chúng ta nhìn lại bước thứ hai là xả thân cầu đạo.

Xả ngã để chứng đắc vô ngã

Bước thứ ba là khó nhất, là thâm sâu nhất. Chúng ta đã nói về những cái ở ngoài, những cái ở chặng giữa, giờ tới cái thâm sâu nhất và khó nhất. Chúng ta có thể bỏ gia đình, chồng vợ, con cái, cha mẹ, sự nghiệp, bỏ tất cả… nhưng lại không gặp được Chánh pháp, không biết phương pháp chính xác thật sự của Đức Phật vì không bỏ được cái tôi để học pháp, hoặc là cũng chịu bỏ cái tôi xuống nhưng không triệt để, vì không đúng phương pháp. Vậy làm sao để bỏ triệt để bản ngã này?

Ba mươi hai thể trược là phương pháp để bỏ; cốt tưởng là phương pháp để bỏ; chín giai đoạn một tử thi là phương pháp bỏ; nhìn thấy được năm uẩn là tan nát, là biến hoại, là trống rỗng là bỏ cái tôi, cái ta, cái ngã. Phải quán sắc như đống bọt; quán thọ như bong bóng nước; quán tưởng như ráng mặt trời, như sóng nắng giữa trưa hè đi trên quốc lộ; quán hành như cây chuối; quán thức như trò ảo thuật (trích bài kinh Bọt nước, Tương Ưng III). Đây là năm ví dụ quan trọng về phép quán trong ngũ uẩn, cần phải thuộc năm ví dụ này. Quán sắc như bọt nước, chạm vào là nát ra. cũng như Đức Phật đã nói: “Tất cả đồ gốm do người thợ gốm làm ra, chưa nung chín hay đã nung chín, tất cả đồ gốm ấy đều phải bể, đều kết thúc trong sự bể, đều không vượt qua sự bể” (trích bài kinh Tổ mẫu, Tương Ưng I). Món đồ gốm làm từ đất, dù cho đã nung hay là chưa nung thì tính bể đã ở trong đó, sớm hay muộn thì chắc chắn nó vẫn sẽ bể. Chúng ta cứ nhởn nhơ đi tìm cái này cái kia, ăn chơi, hưởng thụ, vui sướng mà không thấy tính chất tan hoại của thân thể này thì chẳng khác gì đang sống trong si mê. Thay vào đó, mình phải sống trong sự sợ hãi, khủng bố, vì một ngày kia sắc thân này sẽ tan vỡ, tan hoại nên tận dụng từng giây phút để thấy được tính chất bể, tính chất giống như bọt bong bóng nước, tính chất sanh diệt của sắc uẩn.

Tu pháp này là “đến để mà thấy”, trước đây chúng ta tu chỉ trên suy nghĩ chứ không thật sự thấy. Sự tu đúng pháp là phải thấy được các thọ dâng lên ra sao, lắng xuống thế nào, biến dịch ra sao, tan hoại thế nào sao, sau đó các thọ lại dâng lên, hoạt động mãi không biết mệt mỏi. Vì vậy, trước tiên là quán sắc như bọt nước, dễ tan hoại; quán thọ như bong bóng nước; quán tưởng như sóng nắng, như rán mặt trời chập chờn; quán hành như cây chuối lột ra từng bẹ cuối cùng không có gì bên trong; quán thức là một trò ảo thuật, biến đổi liên tục đủ thứ kiểu. Như vậy, lúc nào cũng phải thường trực nhận diện lại năm uẩn. Thân người là sắc; cảm giác là thọ; những hình bóng là tưởng; những lời nói thầm, suy nghĩ là hành; sự rõ biết là thức – năm uẩn này bao trùm hết nhân sinh vũ trụ, thân tâm. Khi thật sự nhìn thấy được năm yếu tố đó thì chúng ta mới tách được chấp ngã, chấp thủ và xả bỏ dần dần bản ngã. Đến cuối cùng là xả cái ngã để chứng cái vô ngã.

Lời kết mà Minh Thành muốn chia sẻ đến quý vị là mình tu thì phải liều mạng, không liều mạng là tu không thành công. Tu mà cái gì cũng sợ thì không đi đến thành công. Từ ngày tu học Minh Thành toàn liều, năm xưa xuất gia cũng liều, lúc đó đang học 11 xin xuất gia thì sư phụ kêu học hết 12 rồi xuất gia, lúc đó Minh Thành nói “không, thầy cho con xuất gia sớm sớm, nếu không, sau này con đổi ý thì sao”. Sau đó, Minh Thành lên thành phố tu học cũng liều, ra Thiền viện Trúc Lâm cũng liều, lên trên núi này cũng liều, rồi gặp được pháp này cũng liều, bỏ hết tất cả tu liều mạng. Nhiều khi Minh Thành cũng liều mạng vào thất không có sắp xếp, muốn vào thất thì vào, vì cái chết luôn đến bất ngờ thì sắp xếp sao kịp. Có ai sắp xếp trước ba tháng rồi mới chết không? Vậy sao bây giờ đi đâu cũng phải sắp xếp trước, đi tu cũng phải sắp xếp rồi mới đi được. Cho nên đi được là cứ đi thôi, tu là liều, công chuyện ngoài đời làm biết đến chừng nào cho xong, vì vậy, đi là đi, tu là tu, giống như mai mốt chết là chết, cứ nghĩ vậy là mình làm được hết. Cần phải có tinh thần quyết tử, tinh thần liều mạng để tu. Dám liều ăn, liều chơi, liều đua xe, liều xì ke ma túy, liều đủ thứ thì tại sao mình không dám liều tu! Liều tu sẽ đi đến chỗ bất tử, còn sợ thì cứ sanh sanh tử tử. Cuối cùng, quý vị hãy nhớ lấy ba điều:

Thứ nhất là xả phú cầu bần.

Thứ hai là xả thân cầu đạo.

Thứ ba xả ngã để chứng nhập vô ngã.

./.