Quán Chiếu Tứ Đại 1- Đại Kinh Ví Dụ Dấu Chân Voi 1
Kinh Nikāya Giảng Giải
Quán Chiếu Tứ Đại 1
Đại Kinh Ví Dụ Dấu Chân Voi 1
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Pháp môn quyết trạch PAGEREF _Toc161993222 \h 1
II. Quán chiếu tứ đại PAGEREF _Toc161993223 \h 2
Địa giới PAGEREF _Toc161993224 \h 4
I. Pháp môn quyết trạch
Trước khi chúng ta đi vào bài kinh Ví dụ dấu chân voi thì chúng ta nhắc lại bài kinh Một pháp môn quyết trạch. Hôm trước chúng ta tìm hiểu đến định nghĩa về khổ, chúng ta đang nói về câu "tóm lại năm thủ uẩn là khổ", đó là trí tuệ thứ nhất. Trí tuệ thứ hai mà Đức Phật trình bày là khổ sanh khởi, Thế Tôn nói là do ái sanh khởi nên khổ sanh khởi, những lời kinh của Đức Phật là khẩu quyết, là định lý, định luật, là sự chứng ngộ của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác nên chúng ta học chỉ nghe phớt qua sẽ không hiểu, không cảm thọ, cảm nhận sâu sắc được. Cho nên chỉ một câu "Ái, này các Tỳ-kheo, là khổ sanh khởi" là cả một đại tạng Nikāya mới diễn giải hết ý nghĩa của chữ đó, do yêu thích nên khổ có mặt.
"Và này các Tỳ-kheo, thế nào là khổ sai biệt? Này các Tỳ-kheo có khổ lớn, có khổ nhỏ, có khổ chậm biến, có khổ mau biến. Này các Tỳ-kheo, đây là khổ sai biệt". (Tăng Chi Bộ, Chương VI. Sáu Pháp, VI. Ðại Phẩm, (IX). Một Pháp Môn Quyết Trạch)
Biến là biển đổi, khổ chậm biến là chầm chậm mới biến đổi, khổ mau biến là biến đổi một cách đột ngột. Có người bệnh rề rà yếu dần rồi mới chết nhưng cũng có người ra đi một cách đột ngột, đó là sự khác nhau giữa chậm biến và mau biến. Khổ dị thục là sự chín muồi và đưa đến quả báo của khổ, dị là biến dị, biến đổi, thục là chín muồi, cái khổ đó sẽ biến đổi và đưa đến chín muồi, cho ra kết quả của nghiệp báo.
"Và này các Tỳ-kheo, thế nào là khổ dị thục? Này các Tỳ-kheo, ở đây có hạng người bị khổ chinh phục, tâm bị trói buộc, ưu sầu, bi thảm, than van, đập ngực, khóc lóc, đi đến bất tỉnh; do bị khổ chinh phục, tâm bị trói buộc, nên đi tìm phía bên ngoài xem có ai biết được một câu, hai câu thần chú để đoạn diệt khổ này". (Tăng Chi Bộ, Chương VI. Sáu Pháp, VI. Ðại Phẩm, (IX). Một Pháp Môn Quyết Trạch)
Họ hướng ra bên ngoài đi tìm cách này cách kia, tìm những câu chú này chú nọ để diệt khổ.
"Này các Tỳ-kheo, Ta tuyên bố rằng khổ đem lại kết quả mê loạn, đem lại kết quả tìm kiếm. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là khổ dị thục". (Tăng Chi Bộ, Chương VI. Sáu Pháp, VI. Ðại Phẩm, (IX). Một Pháp Môn Quyết Trạch)
Khi khổ thì tâm bị mê mờ và rối loạn cho nên gọi là mê loạn, lúc đó mình chỉ đi tìm kiếm một cái gì đó để khỏa lấp, lãng quên cái khổ hiện tại.
"Và này các Tỳ-kheo, thế nào là khổ đoạn diệt?
Ái đoạn diệt, này các Tỳ-kheo, là khổ đoạn diệt. Ðây là Thánh đạo tám ngành đưa đến khổ đoạn diệt. Ðó là chánh kiến... chánh định. Này các Tỳ-kheo, khi nào Thánh đệ tử rõ biết khổ như vậy, rõ biết khổ sanh khởi như vậy, rõ biết khổ sai biệt như vậy, rõ biết khổ dị thục như vậy, rõ biết khổ đoạn diệt như vậy, rõ biết con đường đưa đến khổ đoạn diệt như vậy, khi ấy, vị ấy được rõ biết Phạm hạnh thể nhập này như là khổ đoạn diệt". (Tăng Chi Bộ, Chương VI. Sáu Pháp, VI. Ðại Phẩm, (IX). Một Pháp Môn Quyết Trạch)
Thánh đạo tám ngành nghĩa là thấy đúng, nghĩ đúng, nói đúng, sống sống, làm đúng, siêng đúng, quán đúng và định đúng theo tinh thần của bậc Thánh. Khi nào người tu thành tựu được trí tuệ biết về khổ là năm thủ uẩn và sự nắm chặt vào năm thủ uẩn là khổ, khi nào một người tu hành biết được khổ có mặt là do sự yêu thích (ái) đối với năm uẩn, khi nào vị Thánh đệ tử biết rõ được sự sai biệt của khổ, khi nào vị tu hành biết được cái khổ chín muồi, biến đổi đưa đến kết quả trong tâm sầu não, bi thảm, than vãn, đập ngực, khóc lóc, bất tỉnh, khi nào họ biết được kết quả của khổ là si mê, rối loạn, khi nào vị tu hành biết được sự chấm dứt của khổ là do yêu thích chấm dứt, khi nào vị Thánh đệ tử thấy rõ Bát Thánh Đạo là con đường chân chánh chấm dứt khổ đau một cách xác quyết, không còn nghi ngờ, do dự thì khi đó "vị ấy được rõ biết Phạm hạnh thể nhập này như là khổ đoạn diệt". Phạm hạnh thể nhập là sự thể nhập vào đời sống trong sạch, đức hạnh, thanh tịnh này là sự chấm dứt của khổ, như vậy chỉ khi nào cái khổ được diệt tận hoàn toàn thì khi đó mới được gọi là thể nhập được đức hạnh cao thượng, thánh thiện, thanh tịnh của bậc Thánh.
II. Quán chiếu tứ đại
Từ câu "tóm lại năm thủ uẩn là khổ" chúng ta khai triển qua bài Ví dụ dấu chân voi, tóm lại sự nắm chặt vào trong năm tổ hợp của hình sắc, cảm giác, suy nghĩ, hình bóng và nhận thức trong tâm thì đó là khổ đau.
"Như vầy tôi nghe.
Một thời, Thế Tôn trú ở Savatthi (Xá-vệ), tại Jetavana (Kỳ-đà Lâm), vườn ông Anathapindika (Cấp Cô Ðộc). Ở đây, Tôn giả Sariputta (Xá-lợi-phất) gọi các Tỳ-kheo:
-- Này các Hiền giả Tỳ-kheo!
-- Thưa vâng, Hiền giả.
Các Tỳ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Sariputta. Tôn giả Sariputta nói như sau:
-- Chư Hiền giả, ví như tất cả dấu chân của mọi loại động vật đều thâu nhiếp trong dấu chân voi, vì dấu chân này được xem là lớn nhất trong tất cả dấu chân về phương diện to lớn. Cũng vậy, chư Hiền giả, tất cả các Thiện pháp đều tập trung trong Bốn Thánh đế. Thế nào là trong Bốn Thánh đế? Trong Khổ Thánh đế, trong Khổ tập Thánh đế, trong Khổ diệt Thánh đế, trong Khổ diệt đạo Thánh đế". (Trung Bộ Kinh, 28. Ðại kinh Dụ dấu chân voi)
Tất cả các pháp lành đều tập trung trong bốn Thánh Đế, tất cả thiện pháp đều quy tụ trong trí tuệ của bậc Thánh về đau khổ trong bốn phương diện, tất cả các công đức, sự thành tựu của người tu hành đều tập trung trong thấy biết về bốn sự thật của bậc Thánh này.
Sự thật thứ nhất mà bậc thánh chứng ngộ là hình hài này là khổ đau, những cảm giác là khổ đau, những nghĩ tưởng là khổ đau, những nhận thức, rõ biết là khổ đau. Sự thật thứ hai là nguyên nhân của đau khổ là vì yêu thích, vì nắm giữ, vì tham ái, chấp thủ trong năm tổ hợp sắc; thọ; tưởng; hành; thức. Sự thật thứ ba là chấm dứt khổ, tiêu diệt khổ, đoạn tận khổ. Sự thật an vui, cứu cánh tối thượng của Niết-bàn chính là con đường tám đúng đưa đến chấm dứt hết khổ. Trong toàn bộ tạng kinh Nikāya này Đức Thế Tôn chỉ trình bày cho chúng ta thấy về khổ và nguyên nhân của khổ.
"Chư Tỳ-kheo, xưa cũng như nay, Ta chỉ nói lên sự khổ và sự diệt khổ". (Trung Bộ Kinh, 22. Kinh Ví dụ con rắn)
Ở đây ngài Xá-lợi-phất khai triển cho chúng ta thấy những chi tiết, sau khi nói về sự chấp thủ vào năm uẩn là khổ thì ngài nói thêm:
"Chư Hiền, thế nào là sắc thủ uẩn? Bốn đại và sắc khởi lên từ bốn đại. Chư Hiền, thế nào là bốn đại? Chính là địa giới, thủy giới, hỏa giới, phong giới". (Trung Bộ Kinh, 28. Ðại kinh Dụ dấu chân voi)
Tại sao gọi là bốn đại? Vì bốn thứ này bao trùm, phổ biến, cùng khắp mọi nơi nên gọi là bốn thứ lớn (tứ đại). Bốn thứ lớn này là phạm trù của đất, đất, gió, lửa, giới là phạm trù, là lãnh vực, giới vực, phạm vi. Sau đây ngài giải thích từng giới.
Địa giới
(Ðịa giới)
"Chư Hiền, thế nào là địa giới? Có nội địa giới, có ngoại địa giới. Chư Hiền, thế nào là nội địa giới? Cái gì thuộc nội thân, thuộc cá nhân, thô phù, kiên cứng, bị chấp thủ, như tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, tủy, thận, tim, gan, hoành cách mô, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, bao tử, phân, và bất cứ vật gì khác thuộc nội thân, thuộc cá nhân, thô phù, kiên cứng, bị chấp thủ. Chư Hiền, như vậy gọi là nội địa giới. Những gì thuộc nội địa giới và những gì thuộc ngoại địa giới đều thuộc về địa giới. Cần phải như thật quán sát địa giới với chánh trí tuệ như sau: 'Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi'. Sau khi như thật quán sát địa giới với chánh trí tuệ như vậy, vị ấy sanh yểm ly đối với địa giới, tâm từ bỏ địa giới". (Trung Bộ Kinh, 28. Ðại kinh Dụ dấu chân voi)
Những gì là đất bên trong (nội địa giới) và đất bên ngoài (ngoại địa giới) đều thuộc về địa đại. Cần phải như thật quán sát địa giới với trí tuệ chân chánh như sau 'Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi', ba câu này trong kinh Nikāya được lặp tới lặp lui hàng vạn lần, ba câu này cần phải nhớ, học thuộc lòng và thực tập quán chiếu. Sau khi như thật quán sát địa giới với trí tuệ chân chánh thì vị ấy chán lìa, từ bỏ địa giới.
"Chư Hiền, một thời xảy ra khi ngoại thủy giới dao động, trong thời ấy ngoại địa giới bị biến mất. Chư Hiền, tánh vô thường của ngoại địa giới xưa ấy có thể nêu rõ, tánh hủy hoại có thể nêu rõ, tánh đoạn diệt có thể nêu rõ, tánh biến dịch có thể nêu rõ. Như vậy còn nói gì đến thân thể yểu thọ do khát ái chấp thủ này? Ở đây không có gì để có thể nói là tôi, là của tôi, hay tôi là". (Trung Bộ Kinh, 28. Ðại kinh Dụ dấu chân voi)
Với trí tuệ của bậc Thánh A-la-hán ngài đã từng chứng kiến, từng thấy kiếp hoại có nước dâng lên cuốn trôi tất cả đất, bây giờ gọi là sóng thần. Cả một quả đất, cả một địa cầu nhưng khi sóng thần dâng lên sẽ làm sụp đổ toàn bộ đại địa, cuốn trôi mọi thứ, như vậy tánh vô thường, tánh hủy hoại, tánh đoạn diệt có thể nêu rõ thì huống hồ gì tấm thân yểu thọ sống có mấy chục năm này làm sao thường còn, thường trú được.
Ở đây ngài Xá-lợi-phất dạy chúng ta pháp hành quán chiếu để phá trừ sự nắm chặt vào tổ hợp sắc chất, hình hài này từ bên trong và bên ngoài, đây là phần quán về địa đại. Trong sắc uẩn có tứ đại và đây là phần thứ nhất là quán về địa đại, ngài nói địa đại gồm đất ở trong và bên ngoài, những gì cứng chắc bên trong con người như tóc, lông, móng, răng, tủy, thận, tim, gan, hoành cách mô, ruột,… bất cứ vật gì thuộc về cá nhân mà thô cứng và bị chấp thủ là nội địa giới.
Chữ "bị chấp thủ" không phải dễ hiểu, thế nào là bị chấp thủ? Mình đưa bàn tay mình ra và nói đây là "bàn tay của tôi, bàn tay tôi trắng trẻo", "bàn tay tôi bị chai sạn", "bàn tay tôi nhìn cũng được", như vậy là bị chấp thủ, đó là bàn tay "của tôi", bàn tay "tôi". Khi nhìn xuống bàn chân và cho rằng "đây là chân của tôi", "chân tôi dài dẹp", "chân ốm", đó là bị chấp thủ. Khi nghĩ về con mắt thì nghĩ rằng "đây là con mắt của tôi", "lỗ tai của tôi", "răng của tôi", "đây là thân thể của tôi" rồi vỗ ngực xưng tên, đó là ý nghĩa của bị chấp thủ, nghĩa là cái bị nắm chặt, còn chấp thủ là cảm giác, nghĩ tưởng nắm giữ, ý nghĩ nắm giữ.
Chúng ta cần phân biệt rõ cái bị chấp thủ và chấp thủ, một cái là chủ thể và một cái là đối tượng, một cái cho rằng cái này là nó, những cảm giác, nghĩ tưởng bên trong cho nó là tôi, là mình, là đẹp, bền chắc, yêu thích, sạch sẽ, đáng yêu, thì ý nghĩ, cảm giác, nhận thức, hình bóng đó là sự nắm giữ và thân xác này là cái bị nắm giữ.
"Nhân duyên ở Sàvatthi...
-- Này các Tỳ-kheo, Ta sẽ thuyết giảng cho các Ông về các pháp bị chấp thủ và sự chấp thủ. Hãy lắng nghe.
Và này các Tỳ-kheo, thế nào là các pháp bị chấp thủ? Thế nào là sự chấp thủ? Sắc, này các Tỳ-kheo, là pháp bị chấp thủ. Dục và tham đối với sắc là sự chấp thủ đối với sắc.
... Thọ... Tưởng... Các hành...
Thức, này các Tỳ-kheo, là pháp bị chấp thủ. Dục và tham đối với thức là sự chấp thủ đối với thức.
Này các Tỳ-kheo, các pháp này, được gọi là các pháp bị chấp thủ. Ðây là sự chấp thủ". (Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Uẩn (f), II. Phẩm Thuyết Pháp, IX. Chấp Thủ)
Khi mình nói câu "gương mặt tôi trông cũng được" thì trong tâm có hình bóng của mình xuất hiện, suy nghĩ đó là hành uẩn, có cảm thọ yêu thích, mình rõ biết những cái đó đang vận hành thì đó là sự chấp thủ, sự nắm giữ trong tâm ý. Thân xác, hình hài là cái bị chấp thủ, cái bị nắm giữ, bây giờ mình đi tu cạo đầu nhưng tóc vẫn mọc ra nên phải cạo liên tục, nếu lúc đó có người đi ngang đạp vào tóc mình cạo xuống thì lúc đó tâm mình như thế nào? Sẽ có cảm giác khó chịu, bực bội vì đây là "tóc của tôi, tôi là ông thầy mà các vị đi đạp lên tóc tôi như vậy", như vậy tóc là cái bị chấp thủ vì suy nghĩ tóc là đó mình, là của mình cho nên ai đụng vào là bực bội, tức giận, bức xúc.
Cọng lông, móng tay, móng chân cho đến cái răng đều bị chấp thủ, ba mươi hai vật này đều bị thọ; tưởng; hành; thức chấp thủ và chính sự không thấy, không biết, không thiền tập, không tư sát bản chất không sạch sẽ, dơ bẩn rồi mình yêu thích, nâng niu từng làn da, từng thớ thịt, từng miếng xương, gan, phổi, ruột… Yêu thích vì không thấy không biết bản chất của nội địa giới và ngoại địa giới, khi đã tham ái, yêu thích thì muốn nắm giữ, hình thành sự chấp thủ và cái bị chấp thủ, do nắm giữ trong ba mươi hai thể trược này nên không đi ra khỏi được, dù cho đi vào thân mèo, chó, gián, chuột thì vẫn cho thân đó là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi vì thân đó là thân bị nắm giữ, hễ nắm giữ cái nào thì đau khổ với cái đó, vì vậy sự chấp thủ vào năm uẩn là phiền não và khổ đau, sự nắm chặt nội địa giới là khổ sầu, bất an, sợ hãi.
Nhưng đừng nói gì tấm thân mà đến ngôn ngữ cũng chấp thủ, bị chê mặc đồ xấu là buồn ngay, hờn mác ngay, đó chỉ là lời nói bên ngoài thôi nhưng cũng chấp thủ vào cho nên sự chấp thủ này rất khủng khiếp, nó ăn sâu vào thân tâm trong trăm ngàn vạn kiếp, sự tu tập mà lơ tơ mơ, tu phớt bên ngoài là không thể chạm tới gốc rễ của vô minh, tham ái và chấp thủ, vì thế trong mỗi suy nghĩ cần loại bỏ cái này không phải của tôi, khi nhìn vào gương thấy gương mặt, thấy mắt, tai, mũi, lưỡi và tấm thân này đều phải tác ý "cái này không phải của tôi, cái môi này không phải là tôi, đôi tay, bàn chân này không phải tự ngã của tôi. Đó là đất, nước, gió, lửa, đó là những thứ không sạch sẽ kết hợp thành, đó là thứ vô thường, thân xác này là thứ hủy hoại, nó sẽ tan hoại, thân xác này là thứ đoạn diệt nó sẽ chấm dứt, thân xác này là thứ biến đổi".
Mỗi khi suy nghĩ khởi lên cho rằng những thứ này là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi phải được trí tuệ quán chiếu tính chất không còn mãi, không kéo dài của lỗ tai, của gương mặt, của vóc dáng này, quán tính chất tan hoại của thể xác này, quán tính chất chấm dứt, biến dịch, biến đổi và hoại diệt, như vậy mới có thể mở ra từ từ, gỡ ra trong từng tư tưởng, cảm giác, từng thầm ý, hình bóng, phá vô minh, chấp thủ và tham ái trong đó bằng như lý tác ý, bằng chánh tư duy, bằng sự huấn luyện, dạy dỗ cảm giác, suy nghĩ, nhận thức của mình.
Nó là một cái tâm vô minh, tham ái và chấp thủ mà cứ để yên rồi cầu mong sẽ có ngày được ngộ đạo là không thể xảy ra, mà phải huấn luyện, dạy dỗ đưa tâm thức này vào con đường ánh sáng của Thánh đạo, của chánh kiến, của sự an tịnh, lắng dịu, còn ngược lại là mê lộ của khổ đau, trầm luân.
Bây giờ chúng ta nói đến ngoại địa giới, cái áo cũng cho là "áo của tôi đang mặc", mắt kính mình đeo cũng cho rằng "mắt kính của tôi", "đôi dép này của tôi", "túi xách của tôi"… Tất cả những suy nghĩ này đều phải phá trừ, "đây chỉ là tứ đại, đây chỉ là đất, nước, gió, lửa, đây chỉ là những thứ vô thường, hủy hoại, biến dịch, đây chỉ là những thứ đáng phải từ bỏ, đáng phải chán lìa". Chúng ta phải quán tính vô thường, quán tính hủy hoại, quán tính đoạn diệt, tính biến dịch, quán cái này không phải của tôi, không phải là tôi, không phải tự ngã của tôi, quán chán lìa, quán từ bỏ, như vậy chúng ta thực tập chín pháp quán này.
Vô thường nghĩa là không còn hoài, không kéo dài mãi, đôi dép, chiếc xe, căn nhà, phòng ốc, ngôi chùa cho đến con mắt, lỗ tai, gương mặt, hình hài đó không còn hoài, thường nghĩ đến tính chất đó thì gọi là quán tánh vô thường, thường chiêm nghiệm, thường suy tư, tư duy còn gọi là tư huệ, còn gọi là như lý tác ý. Hủy hoại nghĩa là tan rã, bất cứ lúc nào cũng có thể tan rã, khi thái tử Tất-đạt-đa nhìn người vợ Da-du-đà- la lần cuối thì ngài suy tư đôi mắt đẹp này chẳng bao lâu nữa sẽ mờ dần, làn tóc mây này sẽ bạc phơ, đôi môi đỏ thắm này rồi sẽ khô héo, thân hình tươi trẻ này rồi sẽ già nua, bệnh tật, chết chóc, để con lại cho vợ rồi ngài đi tìm Thánh đạo, tìm con đường thoát khỏi những tính chất vô thường, tan rã, biến dịch, bại hoại, đau khổ này.
Trước đây Minh Thành nghe kinh Nikāya 15 năm nhưng không biết đây là những pháp quán, là những sự tác ý, mỗi khi mình suy nghĩ về tất cả những chi phần, bộ phận của thân thể này hay đồ đạc xung quanh thì đều phải tác ý "cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi. Đây là những thứ cần phải chán nản và xa lìa, từ bỏ vì nó là thứ tan nát, hoại diệt, đổ vỡ". Đức Thế Tôn dạy quán sắc như món đồ gốm, dù được nung rồi hay chưa nung thì tính chất bể đã có sẵn trong đó.
"Tất cả chúng sanh đều phải chết, đều kết thúc trong sự chết, đều không vượt qua sự chết. Ví như, thưa Đại Vương, tất cả đồ gốm do người thợ gốm làm ra, chưa nung chín hay đã nung chín, tất cả đồ gốm ấy đều phải bể, đều kết thúc trong sự bể, đều không vượt qua sự bể. Cũng vậy, thưa Ðại Vương, tất cả chúng sanh đều phải chết, đều kết thúc trong sự chết, đều không vượt qua sự chết" (Tương Ưng Bộ, Tập I – Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, III Phẩm Thứ Ba, II. Tổ Mẫu)
Muốn thấy được điều này phải có công phu tu tập nhuần nhuyễn, nghĩ tới nghĩ lui, nghĩ trước nghĩ sau tính chất tan vỡ, từ bỏ, bể nát của nó, cái đó để phá sự chấm dứt, mở ra sự nắm giữ. Bàn tay Minh Thành cứ cầm chặt cái chuông nhỏ từ sáng đến chiều tối, hết ngày này qua ngày nọ thì làm sao có thể làm những việc khác, đây là bàn tay dị tật vì bàn tay bình thường là muốn cầm gì thì cầm, tâm chấp thủ, tâm nắm chặt trong ngũ uẩn là cái tâm bị dị tật, đó là chứng bệnh trầm kha của tâm.
Cái tâm này bất cứ lúc nào chạm vào là sừng sộ, sân si, chạm tới là bản ngã lên rồi cho rằng tóc, lông, móng, răng, da thịt, gân xương, phèo phổi, tùy phế thận, hoành cách mô đều là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi rồi nắm chặt vào đó trong vô lượng vô biên kiếp, đó là sự dị tật của tâm, tâm của bậc Thánh nhìn tâm của mình là cái tâm bệnh, tâm bị ung thư, tâm bị dị tật cho nên mới an ổn, cười vui mà chỉ cần nói một câu là đổi sắc mặt, bừng lên thì đó là do sự chấp thủ vào hình hài này, sắc uẩn này nên gọi là sắc thủ uẩn.
Phải nhớ rằng thân này là cát bụi, những món đồ xung quanh này là cát bụi, con mắt này là cát bụi, gương mặt này là cát bụi, đôi môi này là cát bụi, phải thiền tập thân này là cát bụi để phá đi sự nắm giữ trong ba mươi hai thể trược này và tập nhìn những món đồ cũng là cát bụi. Mới qua một đêm thôi mà hình hài này tan rã thành cát bụi, mới hôm qua còn thấy nói cười, sân si, bản ngã vậy mà hôm nay cả nhà năm người đều chết hết vì dịch bệnh, phải tập đưa những hình ảnh, những suy nghĩ, nhận thức đó vào trong tâm của mình để tăng trưởng, phát triển, nuôi lớn và làm cho nó an trú trong tâm để phá đi sự không thấy không biết, chấp thủ, say mê vào trong thứ vô thường, hủy hoại, đoạn diệt, biến dịch, cái thứ đáng chán lìa, từ bỏ này.
Phải thực tập những pháp quán ở trên, phải suy tư, tác động tâm ý, nhắc nhở mình thường xuyên và liên tục, cần phải như thật quán sát tất cả những gì thuộc về đất bằng trí tuệ chân chánh như sau "cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi", cần phải niệm câu này thường xuyên như niệm nam mô A-di-đà Phật, niệm thường xuyên và liên tục "cái này là thứ đáng chán ngán và từ bỏ" vì tính chất vô thường của nó, từ xưa đã có thể nêu rõ khi đại tam tai sanh khởi, chỉ riêng một trận sóng thần trỗi dậy là cướp đi biết bao sinh mạng con người, cuốn trôi biết bao căn nhà, làng mạc, tài sản, đất đai, tất cả đều tan nát, hủy hoại, huống chi là đại thủy tai khởi lên trong trái đất thì tất cả đều bị nhận chìm, sụp đổ cho nên tánh hủy hoại có thể nêu rõ, tánh đoạn diệt có thể nêu rõ, tánh biến dịch có thể nêu rõ.
Cả trái đất, cả địa cầu, cả hành tinh này còn tan nát, hoại diệt thì đối với thân thể mong manh, tạm bợ, nhỏ bé này làm sao trường tồn vĩnh cửu được? Ở đây không có gì để có thể nói là tôi, là của tôi, hay tôi là. Tiếng đàn, tiếng trống kèn dưới núi vọng lên chính là tiếng đám ma của một Phật tử mới ngoài 40, cả gia đình đều bàng hoàng vì trước đó vẫn khỏe mạnh, cười nói bình thường nhưng tích tắc đã nằm bất động, trở thành tử thi, thành thây ma, đó là tánh vô thường của đất này có thể được nêu rã, tánh tan rã của thân bằng đất này có thể được nêu rõ, tánh chấm dứt có thể được nêu rõ, tánh biến dịch, tánh đáng chán nản và từ bỏ của nó có thể được trình bày.
Ở đây là tôn giả Xá-lợi-phất giảng giải cho các bậc Tỳ-kheo thời Đức Phật còn tại thế về Tứ Thánh Đế, khi nãy ngài dạy cách quán tự thân, tự tu một mình trong thất, trong núi, ở nhà, độc cư thiền định, ẩn dật, ẩn tu, còn giờ quán chiếu khi có người khác đụng chạm, khi đối diện xúc cảnh.
"Chư Hiền, nếu có những người khác mắng nhiếc, chỉ trích, chọc tức, nhiễu não Tỳ-kheo, vị ấy biết rõ như sau: 'Khổ thọ khởi lên nơi tôi, thọ này thuộc tai xúc chạm, thọ này do nhân duyên, không phải không do nhân duyên, do nhân duyên gì? Do nhân duyên xúc'. Vị ấy thấy xúc là vô thường, thấy thọ là vô thường, thấy tưởng là vô thường, thấy hành là vô thường, thấy thức là vô thường. Tâm của vị này hoan hỉ, thích thú, tịnh chỉ, quyết định, tùy thuộc giới đối tượng" (Trung Bộ Kinh, 28. Ðại kinh Dụ dấu chân voi)
Khi mình bị mắng chửi, xúc phạm, khinh khi sẽ liên hệ đến lỗ tai. Đầu tiên cảm giác bực bội này khởi lên trong tâm thì cảm thọ này thuộc về sự tiếp xúc của lỗ tai, nhĩ xúc và thọ do nhĩ xúc sanh, cảm thọ này do lỗ tai tiếp xúc nên mới sanh khởi ra, như vậy cảm giác khó chịu này do có nhân duyên là nghe được tiếng nói đó rồi mới khởi lên bực bội, nếu không nghe là không khó chịu, đây là duyên sanh, là thứ lắp ráp, trước khi nghe tiếng chửi đó vẫn bình an, lắng dịu, an tịnh, nhẹ nhàng, nhưng nghe rồi lại nặng nề, bức xúc. Do duyên có lỗ tai, có âm thanh bị chỉ trích, có sự rõ biết, ba pháp này hội tụ, giao thoa sanh ra cảm thọ bức xúc, khó chịu thì đó là pháp duyên sanh.
Vị ấy thấy sự tiếp xúc đó là vô thường, sự tiếp xúc nàu không có hoài, là đổi thay, biến hoại, trước kia không có rồi sau này sẽ hết, mình cứ nắm giữ cảm thọ bực bội, sân si này chỉ để khổ đau, thiêu đốt mình thiêu đốt người, không được lợi ích gì cả. Vị ấy thấy cảm thọ bực bội, sân hận đó là vô thường, là đồ giả, là đồ lắp ráp, kết hợp, là thứ duyên sanh, nó chỉ là những làn sương mờ ảo. Vị ấy thấy những hình bóng này là vô thường, không có thật, do tiếp xúc nên lưu giữ vào sắc tưởng này, sắc pháp ngay trước mặt còn là cát bụi thì hình bóng mờ ảo trong tâm này có là gì đâu, nó chỉ là ảo tưởng, ảo ảnh, tại sao phải nắm giữ những hình bóng hư ảo này?
Nó là thứ hoại diệt, tan rã, nó là thứ đáng chán nản và từ bỏ, mình bị những hình bóng này ám ảnh làm mình khổ sở, sân hận, bị những hình ảnh này ám ảnh sẽ đi đến nghiệp quả, "ta đã chán ngán ngươi quá rồi, ngươi hãy biến mất hoàn toàn khỏi tâm ta đi, tất cả những cảm thọ, nghĩ tưởng này hãy tan biến hoàn toàn vĩnh viễn và mãi mã, đừng bao giờ sanh khởi trong tương lai nữa". Vị ấy thấy những nghĩ tưởng này là vô thường, "các ngươi hãy im lặng đi, các ngươi đừng thì thầm, thỏ thẻ, thủ thỉ, thở than trong tâm ta nữa. Im lặng tịch tịnh đi", ra lệnh cho nó và đuổi nó đi, mình không nhận nó là mình, ra lệnh cho nó "hãy tịnh chỉ các hành" nghĩa là sự vận hành của các cảm thọ, hình bóng, suy nghĩ phải yên lặng, dừng lại, đó là mình đang huấn luyện, giáo dục, dạy dỗ tâm cũng là mình đang như lý tác ý, tác động tâm ý theo đúng chân lý của Đức Phật.
Tu tâm là giáo dục, huấn luyện, dạy dỗ, cải tạo lại tâm. Sự nhận thức, rõ biết hình bóng của người kia, rõ biết những nghĩ tưởng, cảm xúc có là gì đâu, nếu rõ biết mà sanh ra tham, sân, si, rõ biết mà sanh ra bản ngã, hơn thua thì cái biết này chỉ gây thêm đau khổ, sầu bi, bất hạnh. Do tu tập, tác ý, quán chiếu như vậy nên tâm vị ấy hoan hỉ, thích thú vì ngày xưa không nhận diện ngũ uẩn nên không thấy tâm đúng sự thật, không thấy cảm giác sanh ra, hoạt động, an trú và chấm dứt thế nào, không biết những nghĩ tưởng, nhận thức sanh ra thế nào, nó vận hành, an trú, chấm dứt ra sao, còn giờ mình đã thấy rõ ràng, biết được mặt mũi, tánh tình, sự mưu mô, gian trá, xảo ngụy của tâm và tìm cách xử lý những thứ này, khi đã xử lý được thì thích thú, vui vẻ, hân hoan, nếu tu đúng theo quy trình sẽ có hết những điều này.
Tịnh chỉ là dừng lại, trong tâm quả quyết cái này không phải của tôi, không phải là tôi, không phải tự ngã của mình, quả quyết tính vô thường, biến hoại, hủy hoại, quả quyết nó là thứ chán nản, đáng từ bỏ, quả quyết những cảm thọ tham, sân, si này là đáng từ bỏ cho nên tâm vị này mềm mại, nhu nhuyến, dễ sử dụng
"Chư Hiền, nếu những người khác xử sự với Tỳ-kheo không có hoàn hảo, không có tốt đẹp, không có khả ái, hoặc dùng tay xúc chạm, hoặc dùng đá xúc chạm, hoặc dùng gậy xúc chạm, hoặc dùng gươm xúc chạm, vị ấy tuệ tri như sau: 'Sự thể của thân này là như vậy, nên tay có thể xúc chạm, đá có thể xúc chạm, gậy có thể xúc chạm, gươm có thể xúc chạm. Thế Tôn đã dạy như sau trong ví dụ cái cưa: 'Chư Tỳ-kheo, nếu có kẻ trộm cướp hạ tiện lấy cái cưa hai lưỡi cắt từng phần tay và chân. Nếu ai ở đây sanh ý phẫn nộ, người ấy không làm đúng lời Ta dạy'. Ta sẽ tinh cần, tinh tấn, không giải đãi. Niệm được an trú không có loạn niệm, thân thể được khinh an, không dao động, tâm được định tĩnh nhất tâm. Nay mặc cho tay xúc chạm thân này, mặc cho đá xúc chạm thân này, mặc cho gậy xúc chạm thân này, mặc cho gươm xúc chạm thân này, lời dạy chư Phật cần phải được thực hành". (Trung Bộ Kinh, 28. Ðại kinh Dụ dấu chân voi)
Khi nãy là lời nói còn giờ là hành động, sức từ nhẫn được nâng lên của một vị Đa văn Thánh đệ tử do công phu quán chiếu về Tứ Thánh Đế. Nếu có người dùng tay đánh, dùng gậy đập, dùng kiếm đâm thì vị ấy biết bằng trí tuệ như sau sự thể của thân này là như vậy, câu này tóm thâu biết bao pháp nghĩa trong đó. Sự thể của thân này là như vậy, nó là lẽ đương nhiên, nó được làm ra từ đất, nước, gió, lửa nên nó phải chịu sự xúc chạm, nếu nó là hư không sẽ không bị xúc chạm nhưng vì nó là tứ đại nên nó phải bị xúc chạm, không thể tránh khỏi được. Sự thễ của nó là như vậy, bản chất của nó là như vây, tánh chất của nó là vậy, không thể vượt khỏi tánh chất ấy.
"Thân này tánh chất là như vậy, bản tánh là như vậy, không vượt khỏi tánh chất ấy" (Trung Bộ Kinh, 10. Kinh Niệm xứ)
Thân này là thứ kết thành duyên sanh, nó là thứ phải bị đụng chạm, xúc chạm, va chạm. Thân này bản tánh là vậy thì nó phải như vậy, mình không muốn nó như vậy là không thể xảy ra.
"Chư Tỳ-kheo, như những kẻ đạo tặc hạ liệt, dùng cưa hai lưỡi mà cưa tay, cưa chân; dầu vậy, nếu một ai ở đây khởi ý nhiễm loạn, người ấy do vậy không phải là người thực hành giáo pháp của Ta. Ở đây, chư Tỳ-kheo các Ông phải học tập như sau: 'Chúng ta sẽ giữ tâm của chúng ta không biến nhiễm; chúng ta sẽ không thốt ra những lời ác ngữ; chúng ta sẽ sống với lòng lân mẫn, với tâm từ bi, với nội tâm không sân hận. Chúng ta sẽ sống bao phủ người này với tâm câu hữu với từ. Và với người này là đối tượng, ta sống biến mãn cùng khắp thế giới với tâm câu hữu với từ, quảng đại, vô biên, không hận, không sân'. Chư Tỳ-kheo, các Ông cần phải học tập như vậy". (Trung Bộ Kinh, 21. Kinh Ví dụ cái cưa)
Niệm được an trú trong Tứ Niệm Xứ, thân được nhẹ nhàng, tâm được định tĩnh, an trú trong buông xả, chán lìa, từ bỏ, không coi địa đại này là tôi, là của tôi cho nên có bị đánh, bị đập, bị cắt ra từng phần vẫn không để tâm ý sanh khởi sự phẫn nộ. Mặc cho người ta có đánh đập, có ném đá, bị đâm chém thì lời dạy của chư Phật cần phải được thực hành, quý pháp còn hơn cả sinh mạng, dù cho thân này bị tan nát thì lời dạy của chư Phật vẫn phải được thực hành.
"Chư Hiền, Tỳ-kheo ấy, niệm Phật như vậy, niệm Pháp như vậy, niệm Tăng như vậy, nhưng xả tương ưng với thiện không được an trú. Do vậy, vị ấy bị dao động, bị dao động mạnh: 'Thật bất hạnh cho ta, thật không may cho ta, thật rủi ro cho ta, thật không tốt đẹp cho ta. Dầu ta có niệm Phật như vậy, niệm Pháp như vậy, niệm Tăng như vậy, nhưng xả tương ưng với thiện không được an trú'". (Trung Bộ Kinh, 28. Ðại kinh Dụ dấu chân voi)
Tuy rằng an trú tâm trong niệm Phật, niệm pháp, niệm Tăng nhưng vị này không an trú được trong tâm xả, không buông bỏ được nên dao động, đau đớn, có khi cũng có bực bội. Bây giờ vị này phải tác ý "Thật bất hạnh cho ta, thật không may cho ta, thật rủi ro cho ta, thật không tốt đẹp cho ta. Dầu ta có niệm Phật như vậy, niệm Pháp như vậy, niệm Tăng như vậy, nhưng xả tương ưng với thiện không được an trú", dù đã tu tập, an trú, quán chiếu như vậy nhưng tâm vẫn chưa hoàn toàn buông xả được.
"Chư Hiền, ví như một người dâu, khi thấy ông nhạc, bị dao động, bị dao động mạnh. Cũng vậy, chư Hiền, nếu Tỳ-kheo ấy niệm Phật như vậy, niệm Pháp như vậy, niệm Tăng như vậy, nhưng xả tương ưng với thiện không được an trú. Do vậy, vị ấy bị dao động, bị dao động mạnh: 'Thật bất hạnh cho ta, thật không may cho ta, thật rủi ro cho ta, thật không tốt đẹp cho ta. Dầu ta có niệm Phật như vậy, niệm Pháp như vậy, niệm Tăng như vậy, nhưng xả tương ưng với thiện không được an trú'. Chư Hiền, nếu Tỳ-kheo ấy, niệm Phật như vậy, niệm Pháp như vậy, niệm Tăng như vậy, và xả tương ưng với thiện được an trú, thì Tỳ-kheo ấy được hoan hỉ. Chư Hiền, đến mức độ này, Tỳ-kheo đã làm thật nhiều". (Trung Bộ Kinh, 28. Ðại kinh Dụ dấu chân voi)
Nếu vẫn chưa được buông xả hoàn toàn thì tiếp tục thực hành cho đến khi nào buông xả được thì lúc đó sẽ an vui, vui mừng. Đến mức độ này thì Tỳ-kheo đã làm thật nhiều, cái làm của người tu là như vậy đó, bị đánh, bị ném đá, bị đâm bằng gươm đao, thậm chí bị cắt ra từng phần nhưng nếu khởi lên phẫn nộ là không làm được theo lời dạy của Như Lai, nếu tâm còn dao động chưa hoàn toàn buông xả thì tiếp tục tác ý "'Thật bất hạnh cho ta, thật không may cho ta, thật rủi ro cho ta, thật không tốt đẹp cho ta, trong khi ta tu hành lâu như vậy mà vẫn không thành tựu", tiếp tục tác ý, tiếp tục tu tập cho đến khi thành tựu, hoàn toàn buông xả, không còn sân hận nữa thì vị này hân hoan, vui vẻ, hoan hỉ, đến mức đó thì Tỳ-kheo này đã làm được rất nhiều. Đây là bài giảng của đại Thánh Tăng là bậc tướng quân chánh pháp tôn giả Xá-lợi-phất.
./.
Quán Chiếu Tứ Đại 1
Đại Kinh Ví Dụ Dấu Chân Voi 1
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Pháp môn quyết trạch PAGEREF _Toc161993222 \h 1
II. Quán chiếu tứ đại PAGEREF _Toc161993223 \h 2
Địa giới PAGEREF _Toc161993224 \h 4
I. Pháp môn quyết trạch
Trước khi chúng ta đi vào bài kinh Ví dụ dấu chân voi thì chúng ta nhắc lại bài kinh Một pháp môn quyết trạch. Hôm trước chúng ta tìm hiểu đến định nghĩa về khổ, chúng ta đang nói về câu "tóm lại năm thủ uẩn là khổ", đó là trí tuệ thứ nhất. Trí tuệ thứ hai mà Đức Phật trình bày là khổ sanh khởi, Thế Tôn nói là do ái sanh khởi nên khổ sanh khởi, những lời kinh của Đức Phật là khẩu quyết, là định lý, định luật, là sự chứng ngộ của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác nên chúng ta học chỉ nghe phớt qua sẽ không hiểu, không cảm thọ, cảm nhận sâu sắc được. Cho nên chỉ một câu "Ái, này các Tỳ-kheo, là khổ sanh khởi" là cả một đại tạng Nikāya mới diễn giải hết ý nghĩa của chữ đó, do yêu thích nên khổ có mặt.
"Và này các Tỳ-kheo, thế nào là khổ sai biệt? Này các Tỳ-kheo có khổ lớn, có khổ nhỏ, có khổ chậm biến, có khổ mau biến. Này các Tỳ-kheo, đây là khổ sai biệt". (Tăng Chi Bộ, Chương VI. Sáu Pháp, VI. Ðại Phẩm, (IX). Một Pháp Môn Quyết Trạch)
Biến là biển đổi, khổ chậm biến là chầm chậm mới biến đổi, khổ mau biến là biến đổi một cách đột ngột. Có người bệnh rề rà yếu dần rồi mới chết nhưng cũng có người ra đi một cách đột ngột, đó là sự khác nhau giữa chậm biến và mau biến. Khổ dị thục là sự chín muồi và đưa đến quả báo của khổ, dị là biến dị, biến đổi, thục là chín muồi, cái khổ đó sẽ biến đổi và đưa đến chín muồi, cho ra kết quả của nghiệp báo.
"Và này các Tỳ-kheo, thế nào là khổ dị thục? Này các Tỳ-kheo, ở đây có hạng người bị khổ chinh phục, tâm bị trói buộc, ưu sầu, bi thảm, than van, đập ngực, khóc lóc, đi đến bất tỉnh; do bị khổ chinh phục, tâm bị trói buộc, nên đi tìm phía bên ngoài xem có ai biết được một câu, hai câu thần chú để đoạn diệt khổ này". (Tăng Chi Bộ, Chương VI. Sáu Pháp, VI. Ðại Phẩm, (IX). Một Pháp Môn Quyết Trạch)
Họ hướng ra bên ngoài đi tìm cách này cách kia, tìm những câu chú này chú nọ để diệt khổ.
"Này các Tỳ-kheo, Ta tuyên bố rằng khổ đem lại kết quả mê loạn, đem lại kết quả tìm kiếm. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là khổ dị thục". (Tăng Chi Bộ, Chương VI. Sáu Pháp, VI. Ðại Phẩm, (IX). Một Pháp Môn Quyết Trạch)
Khi khổ thì tâm bị mê mờ và rối loạn cho nên gọi là mê loạn, lúc đó mình chỉ đi tìm kiếm một cái gì đó để khỏa lấp, lãng quên cái khổ hiện tại.
"Và này các Tỳ-kheo, thế nào là khổ đoạn diệt?
Ái đoạn diệt, này các Tỳ-kheo, là khổ đoạn diệt. Ðây là Thánh đạo tám ngành đưa đến khổ đoạn diệt. Ðó là chánh kiến... chánh định. Này các Tỳ-kheo, khi nào Thánh đệ tử rõ biết khổ như vậy, rõ biết khổ sanh khởi như vậy, rõ biết khổ sai biệt như vậy, rõ biết khổ dị thục như vậy, rõ biết khổ đoạn diệt như vậy, rõ biết con đường đưa đến khổ đoạn diệt như vậy, khi ấy, vị ấy được rõ biết Phạm hạnh thể nhập này như là khổ đoạn diệt". (Tăng Chi Bộ, Chương VI. Sáu Pháp, VI. Ðại Phẩm, (IX). Một Pháp Môn Quyết Trạch)
Thánh đạo tám ngành nghĩa là thấy đúng, nghĩ đúng, nói đúng, sống sống, làm đúng, siêng đúng, quán đúng và định đúng theo tinh thần của bậc Thánh. Khi nào người tu thành tựu được trí tuệ biết về khổ là năm thủ uẩn và sự nắm chặt vào năm thủ uẩn là khổ, khi nào một người tu hành biết được khổ có mặt là do sự yêu thích (ái) đối với năm uẩn, khi nào vị Thánh đệ tử biết rõ được sự sai biệt của khổ, khi nào vị tu hành biết được cái khổ chín muồi, biến đổi đưa đến kết quả trong tâm sầu não, bi thảm, than vãn, đập ngực, khóc lóc, bất tỉnh, khi nào họ biết được kết quả của khổ là si mê, rối loạn, khi nào vị tu hành biết được sự chấm dứt của khổ là do yêu thích chấm dứt, khi nào vị Thánh đệ tử thấy rõ Bát Thánh Đạo là con đường chân chánh chấm dứt khổ đau một cách xác quyết, không còn nghi ngờ, do dự thì khi đó "vị ấy được rõ biết Phạm hạnh thể nhập này như là khổ đoạn diệt". Phạm hạnh thể nhập là sự thể nhập vào đời sống trong sạch, đức hạnh, thanh tịnh này là sự chấm dứt của khổ, như vậy chỉ khi nào cái khổ được diệt tận hoàn toàn thì khi đó mới được gọi là thể nhập được đức hạnh cao thượng, thánh thiện, thanh tịnh của bậc Thánh.
II. Quán chiếu tứ đại
Từ câu "tóm lại năm thủ uẩn là khổ" chúng ta khai triển qua bài Ví dụ dấu chân voi, tóm lại sự nắm chặt vào trong năm tổ hợp của hình sắc, cảm giác, suy nghĩ, hình bóng và nhận thức trong tâm thì đó là khổ đau.
"Như vầy tôi nghe.
Một thời, Thế Tôn trú ở Savatthi (Xá-vệ), tại Jetavana (Kỳ-đà Lâm), vườn ông Anathapindika (Cấp Cô Ðộc). Ở đây, Tôn giả Sariputta (Xá-lợi-phất) gọi các Tỳ-kheo:
-- Này các Hiền giả Tỳ-kheo!
-- Thưa vâng, Hiền giả.
Các Tỳ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Sariputta. Tôn giả Sariputta nói như sau:
-- Chư Hiền giả, ví như tất cả dấu chân của mọi loại động vật đều thâu nhiếp trong dấu chân voi, vì dấu chân này được xem là lớn nhất trong tất cả dấu chân về phương diện to lớn. Cũng vậy, chư Hiền giả, tất cả các Thiện pháp đều tập trung trong Bốn Thánh đế. Thế nào là trong Bốn Thánh đế? Trong Khổ Thánh đế, trong Khổ tập Thánh đế, trong Khổ diệt Thánh đế, trong Khổ diệt đạo Thánh đế". (Trung Bộ Kinh, 28. Ðại kinh Dụ dấu chân voi)
Tất cả các pháp lành đều tập trung trong bốn Thánh Đế, tất cả thiện pháp đều quy tụ trong trí tuệ của bậc Thánh về đau khổ trong bốn phương diện, tất cả các công đức, sự thành tựu của người tu hành đều tập trung trong thấy biết về bốn sự thật của bậc Thánh này.
Sự thật thứ nhất mà bậc thánh chứng ngộ là hình hài này là khổ đau, những cảm giác là khổ đau, những nghĩ tưởng là khổ đau, những nhận thức, rõ biết là khổ đau. Sự thật thứ hai là nguyên nhân của đau khổ là vì yêu thích, vì nắm giữ, vì tham ái, chấp thủ trong năm tổ hợp sắc; thọ; tưởng; hành; thức. Sự thật thứ ba là chấm dứt khổ, tiêu diệt khổ, đoạn tận khổ. Sự thật an vui, cứu cánh tối thượng của Niết-bàn chính là con đường tám đúng đưa đến chấm dứt hết khổ. Trong toàn bộ tạng kinh Nikāya này Đức Thế Tôn chỉ trình bày cho chúng ta thấy về khổ và nguyên nhân của khổ.
"Chư Tỳ-kheo, xưa cũng như nay, Ta chỉ nói lên sự khổ và sự diệt khổ". (Trung Bộ Kinh, 22. Kinh Ví dụ con rắn)
Ở đây ngài Xá-lợi-phất khai triển cho chúng ta thấy những chi tiết, sau khi nói về sự chấp thủ vào năm uẩn là khổ thì ngài nói thêm:
"Chư Hiền, thế nào là sắc thủ uẩn? Bốn đại và sắc khởi lên từ bốn đại. Chư Hiền, thế nào là bốn đại? Chính là địa giới, thủy giới, hỏa giới, phong giới". (Trung Bộ Kinh, 28. Ðại kinh Dụ dấu chân voi)
Tại sao gọi là bốn đại? Vì bốn thứ này bao trùm, phổ biến, cùng khắp mọi nơi nên gọi là bốn thứ lớn (tứ đại). Bốn thứ lớn này là phạm trù của đất, đất, gió, lửa, giới là phạm trù, là lãnh vực, giới vực, phạm vi. Sau đây ngài giải thích từng giới.
Địa giới
(Ðịa giới)
"Chư Hiền, thế nào là địa giới? Có nội địa giới, có ngoại địa giới. Chư Hiền, thế nào là nội địa giới? Cái gì thuộc nội thân, thuộc cá nhân, thô phù, kiên cứng, bị chấp thủ, như tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, tủy, thận, tim, gan, hoành cách mô, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, bao tử, phân, và bất cứ vật gì khác thuộc nội thân, thuộc cá nhân, thô phù, kiên cứng, bị chấp thủ. Chư Hiền, như vậy gọi là nội địa giới. Những gì thuộc nội địa giới và những gì thuộc ngoại địa giới đều thuộc về địa giới. Cần phải như thật quán sát địa giới với chánh trí tuệ như sau: 'Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi'. Sau khi như thật quán sát địa giới với chánh trí tuệ như vậy, vị ấy sanh yểm ly đối với địa giới, tâm từ bỏ địa giới". (Trung Bộ Kinh, 28. Ðại kinh Dụ dấu chân voi)
Những gì là đất bên trong (nội địa giới) và đất bên ngoài (ngoại địa giới) đều thuộc về địa đại. Cần phải như thật quán sát địa giới với trí tuệ chân chánh như sau 'Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi', ba câu này trong kinh Nikāya được lặp tới lặp lui hàng vạn lần, ba câu này cần phải nhớ, học thuộc lòng và thực tập quán chiếu. Sau khi như thật quán sát địa giới với trí tuệ chân chánh thì vị ấy chán lìa, từ bỏ địa giới.
"Chư Hiền, một thời xảy ra khi ngoại thủy giới dao động, trong thời ấy ngoại địa giới bị biến mất. Chư Hiền, tánh vô thường của ngoại địa giới xưa ấy có thể nêu rõ, tánh hủy hoại có thể nêu rõ, tánh đoạn diệt có thể nêu rõ, tánh biến dịch có thể nêu rõ. Như vậy còn nói gì đến thân thể yểu thọ do khát ái chấp thủ này? Ở đây không có gì để có thể nói là tôi, là của tôi, hay tôi là". (Trung Bộ Kinh, 28. Ðại kinh Dụ dấu chân voi)
Với trí tuệ của bậc Thánh A-la-hán ngài đã từng chứng kiến, từng thấy kiếp hoại có nước dâng lên cuốn trôi tất cả đất, bây giờ gọi là sóng thần. Cả một quả đất, cả một địa cầu nhưng khi sóng thần dâng lên sẽ làm sụp đổ toàn bộ đại địa, cuốn trôi mọi thứ, như vậy tánh vô thường, tánh hủy hoại, tánh đoạn diệt có thể nêu rõ thì huống hồ gì tấm thân yểu thọ sống có mấy chục năm này làm sao thường còn, thường trú được.
Ở đây ngài Xá-lợi-phất dạy chúng ta pháp hành quán chiếu để phá trừ sự nắm chặt vào tổ hợp sắc chất, hình hài này từ bên trong và bên ngoài, đây là phần quán về địa đại. Trong sắc uẩn có tứ đại và đây là phần thứ nhất là quán về địa đại, ngài nói địa đại gồm đất ở trong và bên ngoài, những gì cứng chắc bên trong con người như tóc, lông, móng, răng, tủy, thận, tim, gan, hoành cách mô, ruột,… bất cứ vật gì thuộc về cá nhân mà thô cứng và bị chấp thủ là nội địa giới.
Chữ "bị chấp thủ" không phải dễ hiểu, thế nào là bị chấp thủ? Mình đưa bàn tay mình ra và nói đây là "bàn tay của tôi, bàn tay tôi trắng trẻo", "bàn tay tôi bị chai sạn", "bàn tay tôi nhìn cũng được", như vậy là bị chấp thủ, đó là bàn tay "của tôi", bàn tay "tôi". Khi nhìn xuống bàn chân và cho rằng "đây là chân của tôi", "chân tôi dài dẹp", "chân ốm", đó là bị chấp thủ. Khi nghĩ về con mắt thì nghĩ rằng "đây là con mắt của tôi", "lỗ tai của tôi", "răng của tôi", "đây là thân thể của tôi" rồi vỗ ngực xưng tên, đó là ý nghĩa của bị chấp thủ, nghĩa là cái bị nắm chặt, còn chấp thủ là cảm giác, nghĩ tưởng nắm giữ, ý nghĩ nắm giữ.
Chúng ta cần phân biệt rõ cái bị chấp thủ và chấp thủ, một cái là chủ thể và một cái là đối tượng, một cái cho rằng cái này là nó, những cảm giác, nghĩ tưởng bên trong cho nó là tôi, là mình, là đẹp, bền chắc, yêu thích, sạch sẽ, đáng yêu, thì ý nghĩ, cảm giác, nhận thức, hình bóng đó là sự nắm giữ và thân xác này là cái bị nắm giữ.
"Nhân duyên ở Sàvatthi...
-- Này các Tỳ-kheo, Ta sẽ thuyết giảng cho các Ông về các pháp bị chấp thủ và sự chấp thủ. Hãy lắng nghe.
Và này các Tỳ-kheo, thế nào là các pháp bị chấp thủ? Thế nào là sự chấp thủ? Sắc, này các Tỳ-kheo, là pháp bị chấp thủ. Dục và tham đối với sắc là sự chấp thủ đối với sắc.
... Thọ... Tưởng... Các hành...
Thức, này các Tỳ-kheo, là pháp bị chấp thủ. Dục và tham đối với thức là sự chấp thủ đối với thức.
Này các Tỳ-kheo, các pháp này, được gọi là các pháp bị chấp thủ. Ðây là sự chấp thủ". (Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Uẩn (f), II. Phẩm Thuyết Pháp, IX. Chấp Thủ)
Khi mình nói câu "gương mặt tôi trông cũng được" thì trong tâm có hình bóng của mình xuất hiện, suy nghĩ đó là hành uẩn, có cảm thọ yêu thích, mình rõ biết những cái đó đang vận hành thì đó là sự chấp thủ, sự nắm giữ trong tâm ý. Thân xác, hình hài là cái bị chấp thủ, cái bị nắm giữ, bây giờ mình đi tu cạo đầu nhưng tóc vẫn mọc ra nên phải cạo liên tục, nếu lúc đó có người đi ngang đạp vào tóc mình cạo xuống thì lúc đó tâm mình như thế nào? Sẽ có cảm giác khó chịu, bực bội vì đây là "tóc của tôi, tôi là ông thầy mà các vị đi đạp lên tóc tôi như vậy", như vậy tóc là cái bị chấp thủ vì suy nghĩ tóc là đó mình, là của mình cho nên ai đụng vào là bực bội, tức giận, bức xúc.
Cọng lông, móng tay, móng chân cho đến cái răng đều bị chấp thủ, ba mươi hai vật này đều bị thọ; tưởng; hành; thức chấp thủ và chính sự không thấy, không biết, không thiền tập, không tư sát bản chất không sạch sẽ, dơ bẩn rồi mình yêu thích, nâng niu từng làn da, từng thớ thịt, từng miếng xương, gan, phổi, ruột… Yêu thích vì không thấy không biết bản chất của nội địa giới và ngoại địa giới, khi đã tham ái, yêu thích thì muốn nắm giữ, hình thành sự chấp thủ và cái bị chấp thủ, do nắm giữ trong ba mươi hai thể trược này nên không đi ra khỏi được, dù cho đi vào thân mèo, chó, gián, chuột thì vẫn cho thân đó là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi vì thân đó là thân bị nắm giữ, hễ nắm giữ cái nào thì đau khổ với cái đó, vì vậy sự chấp thủ vào năm uẩn là phiền não và khổ đau, sự nắm chặt nội địa giới là khổ sầu, bất an, sợ hãi.
Nhưng đừng nói gì tấm thân mà đến ngôn ngữ cũng chấp thủ, bị chê mặc đồ xấu là buồn ngay, hờn mác ngay, đó chỉ là lời nói bên ngoài thôi nhưng cũng chấp thủ vào cho nên sự chấp thủ này rất khủng khiếp, nó ăn sâu vào thân tâm trong trăm ngàn vạn kiếp, sự tu tập mà lơ tơ mơ, tu phớt bên ngoài là không thể chạm tới gốc rễ của vô minh, tham ái và chấp thủ, vì thế trong mỗi suy nghĩ cần loại bỏ cái này không phải của tôi, khi nhìn vào gương thấy gương mặt, thấy mắt, tai, mũi, lưỡi và tấm thân này đều phải tác ý "cái này không phải của tôi, cái môi này không phải là tôi, đôi tay, bàn chân này không phải tự ngã của tôi. Đó là đất, nước, gió, lửa, đó là những thứ không sạch sẽ kết hợp thành, đó là thứ vô thường, thân xác này là thứ hủy hoại, nó sẽ tan hoại, thân xác này là thứ đoạn diệt nó sẽ chấm dứt, thân xác này là thứ biến đổi".
Mỗi khi suy nghĩ khởi lên cho rằng những thứ này là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi phải được trí tuệ quán chiếu tính chất không còn mãi, không kéo dài của lỗ tai, của gương mặt, của vóc dáng này, quán tính chất tan hoại của thể xác này, quán tính chất chấm dứt, biến dịch, biến đổi và hoại diệt, như vậy mới có thể mở ra từ từ, gỡ ra trong từng tư tưởng, cảm giác, từng thầm ý, hình bóng, phá vô minh, chấp thủ và tham ái trong đó bằng như lý tác ý, bằng chánh tư duy, bằng sự huấn luyện, dạy dỗ cảm giác, suy nghĩ, nhận thức của mình.
Nó là một cái tâm vô minh, tham ái và chấp thủ mà cứ để yên rồi cầu mong sẽ có ngày được ngộ đạo là không thể xảy ra, mà phải huấn luyện, dạy dỗ đưa tâm thức này vào con đường ánh sáng của Thánh đạo, của chánh kiến, của sự an tịnh, lắng dịu, còn ngược lại là mê lộ của khổ đau, trầm luân.
Bây giờ chúng ta nói đến ngoại địa giới, cái áo cũng cho là "áo của tôi đang mặc", mắt kính mình đeo cũng cho rằng "mắt kính của tôi", "đôi dép này của tôi", "túi xách của tôi"… Tất cả những suy nghĩ này đều phải phá trừ, "đây chỉ là tứ đại, đây chỉ là đất, nước, gió, lửa, đây chỉ là những thứ vô thường, hủy hoại, biến dịch, đây chỉ là những thứ đáng phải từ bỏ, đáng phải chán lìa". Chúng ta phải quán tính vô thường, quán tính hủy hoại, quán tính đoạn diệt, tính biến dịch, quán cái này không phải của tôi, không phải là tôi, không phải tự ngã của tôi, quán chán lìa, quán từ bỏ, như vậy chúng ta thực tập chín pháp quán này.
Vô thường nghĩa là không còn hoài, không kéo dài mãi, đôi dép, chiếc xe, căn nhà, phòng ốc, ngôi chùa cho đến con mắt, lỗ tai, gương mặt, hình hài đó không còn hoài, thường nghĩ đến tính chất đó thì gọi là quán tánh vô thường, thường chiêm nghiệm, thường suy tư, tư duy còn gọi là tư huệ, còn gọi là như lý tác ý. Hủy hoại nghĩa là tan rã, bất cứ lúc nào cũng có thể tan rã, khi thái tử Tất-đạt-đa nhìn người vợ Da-du-đà- la lần cuối thì ngài suy tư đôi mắt đẹp này chẳng bao lâu nữa sẽ mờ dần, làn tóc mây này sẽ bạc phơ, đôi môi đỏ thắm này rồi sẽ khô héo, thân hình tươi trẻ này rồi sẽ già nua, bệnh tật, chết chóc, để con lại cho vợ rồi ngài đi tìm Thánh đạo, tìm con đường thoát khỏi những tính chất vô thường, tan rã, biến dịch, bại hoại, đau khổ này.
Trước đây Minh Thành nghe kinh Nikāya 15 năm nhưng không biết đây là những pháp quán, là những sự tác ý, mỗi khi mình suy nghĩ về tất cả những chi phần, bộ phận của thân thể này hay đồ đạc xung quanh thì đều phải tác ý "cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi. Đây là những thứ cần phải chán nản và xa lìa, từ bỏ vì nó là thứ tan nát, hoại diệt, đổ vỡ". Đức Thế Tôn dạy quán sắc như món đồ gốm, dù được nung rồi hay chưa nung thì tính chất bể đã có sẵn trong đó.
"Tất cả chúng sanh đều phải chết, đều kết thúc trong sự chết, đều không vượt qua sự chết. Ví như, thưa Đại Vương, tất cả đồ gốm do người thợ gốm làm ra, chưa nung chín hay đã nung chín, tất cả đồ gốm ấy đều phải bể, đều kết thúc trong sự bể, đều không vượt qua sự bể. Cũng vậy, thưa Ðại Vương, tất cả chúng sanh đều phải chết, đều kết thúc trong sự chết, đều không vượt qua sự chết" (Tương Ưng Bộ, Tập I – Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, III Phẩm Thứ Ba, II. Tổ Mẫu)
Muốn thấy được điều này phải có công phu tu tập nhuần nhuyễn, nghĩ tới nghĩ lui, nghĩ trước nghĩ sau tính chất tan vỡ, từ bỏ, bể nát của nó, cái đó để phá sự chấm dứt, mở ra sự nắm giữ. Bàn tay Minh Thành cứ cầm chặt cái chuông nhỏ từ sáng đến chiều tối, hết ngày này qua ngày nọ thì làm sao có thể làm những việc khác, đây là bàn tay dị tật vì bàn tay bình thường là muốn cầm gì thì cầm, tâm chấp thủ, tâm nắm chặt trong ngũ uẩn là cái tâm bị dị tật, đó là chứng bệnh trầm kha của tâm.
Cái tâm này bất cứ lúc nào chạm vào là sừng sộ, sân si, chạm tới là bản ngã lên rồi cho rằng tóc, lông, móng, răng, da thịt, gân xương, phèo phổi, tùy phế thận, hoành cách mô đều là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi rồi nắm chặt vào đó trong vô lượng vô biên kiếp, đó là sự dị tật của tâm, tâm của bậc Thánh nhìn tâm của mình là cái tâm bệnh, tâm bị ung thư, tâm bị dị tật cho nên mới an ổn, cười vui mà chỉ cần nói một câu là đổi sắc mặt, bừng lên thì đó là do sự chấp thủ vào hình hài này, sắc uẩn này nên gọi là sắc thủ uẩn.
Phải nhớ rằng thân này là cát bụi, những món đồ xung quanh này là cát bụi, con mắt này là cát bụi, gương mặt này là cát bụi, đôi môi này là cát bụi, phải thiền tập thân này là cát bụi để phá đi sự nắm giữ trong ba mươi hai thể trược này và tập nhìn những món đồ cũng là cát bụi. Mới qua một đêm thôi mà hình hài này tan rã thành cát bụi, mới hôm qua còn thấy nói cười, sân si, bản ngã vậy mà hôm nay cả nhà năm người đều chết hết vì dịch bệnh, phải tập đưa những hình ảnh, những suy nghĩ, nhận thức đó vào trong tâm của mình để tăng trưởng, phát triển, nuôi lớn và làm cho nó an trú trong tâm để phá đi sự không thấy không biết, chấp thủ, say mê vào trong thứ vô thường, hủy hoại, đoạn diệt, biến dịch, cái thứ đáng chán lìa, từ bỏ này.
Phải thực tập những pháp quán ở trên, phải suy tư, tác động tâm ý, nhắc nhở mình thường xuyên và liên tục, cần phải như thật quán sát tất cả những gì thuộc về đất bằng trí tuệ chân chánh như sau "cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi", cần phải niệm câu này thường xuyên như niệm nam mô A-di-đà Phật, niệm thường xuyên và liên tục "cái này là thứ đáng chán ngán và từ bỏ" vì tính chất vô thường của nó, từ xưa đã có thể nêu rõ khi đại tam tai sanh khởi, chỉ riêng một trận sóng thần trỗi dậy là cướp đi biết bao sinh mạng con người, cuốn trôi biết bao căn nhà, làng mạc, tài sản, đất đai, tất cả đều tan nát, hủy hoại, huống chi là đại thủy tai khởi lên trong trái đất thì tất cả đều bị nhận chìm, sụp đổ cho nên tánh hủy hoại có thể nêu rõ, tánh đoạn diệt có thể nêu rõ, tánh biến dịch có thể nêu rõ.
Cả trái đất, cả địa cầu, cả hành tinh này còn tan nát, hoại diệt thì đối với thân thể mong manh, tạm bợ, nhỏ bé này làm sao trường tồn vĩnh cửu được? Ở đây không có gì để có thể nói là tôi, là của tôi, hay tôi là. Tiếng đàn, tiếng trống kèn dưới núi vọng lên chính là tiếng đám ma của một Phật tử mới ngoài 40, cả gia đình đều bàng hoàng vì trước đó vẫn khỏe mạnh, cười nói bình thường nhưng tích tắc đã nằm bất động, trở thành tử thi, thành thây ma, đó là tánh vô thường của đất này có thể được nêu rã, tánh tan rã của thân bằng đất này có thể được nêu rõ, tánh chấm dứt có thể được nêu rõ, tánh biến dịch, tánh đáng chán nản và từ bỏ của nó có thể được trình bày.
Ở đây là tôn giả Xá-lợi-phất giảng giải cho các bậc Tỳ-kheo thời Đức Phật còn tại thế về Tứ Thánh Đế, khi nãy ngài dạy cách quán tự thân, tự tu một mình trong thất, trong núi, ở nhà, độc cư thiền định, ẩn dật, ẩn tu, còn giờ quán chiếu khi có người khác đụng chạm, khi đối diện xúc cảnh.
"Chư Hiền, nếu có những người khác mắng nhiếc, chỉ trích, chọc tức, nhiễu não Tỳ-kheo, vị ấy biết rõ như sau: 'Khổ thọ khởi lên nơi tôi, thọ này thuộc tai xúc chạm, thọ này do nhân duyên, không phải không do nhân duyên, do nhân duyên gì? Do nhân duyên xúc'. Vị ấy thấy xúc là vô thường, thấy thọ là vô thường, thấy tưởng là vô thường, thấy hành là vô thường, thấy thức là vô thường. Tâm của vị này hoan hỉ, thích thú, tịnh chỉ, quyết định, tùy thuộc giới đối tượng" (Trung Bộ Kinh, 28. Ðại kinh Dụ dấu chân voi)
Khi mình bị mắng chửi, xúc phạm, khinh khi sẽ liên hệ đến lỗ tai. Đầu tiên cảm giác bực bội này khởi lên trong tâm thì cảm thọ này thuộc về sự tiếp xúc của lỗ tai, nhĩ xúc và thọ do nhĩ xúc sanh, cảm thọ này do lỗ tai tiếp xúc nên mới sanh khởi ra, như vậy cảm giác khó chịu này do có nhân duyên là nghe được tiếng nói đó rồi mới khởi lên bực bội, nếu không nghe là không khó chịu, đây là duyên sanh, là thứ lắp ráp, trước khi nghe tiếng chửi đó vẫn bình an, lắng dịu, an tịnh, nhẹ nhàng, nhưng nghe rồi lại nặng nề, bức xúc. Do duyên có lỗ tai, có âm thanh bị chỉ trích, có sự rõ biết, ba pháp này hội tụ, giao thoa sanh ra cảm thọ bức xúc, khó chịu thì đó là pháp duyên sanh.
Vị ấy thấy sự tiếp xúc đó là vô thường, sự tiếp xúc nàu không có hoài, là đổi thay, biến hoại, trước kia không có rồi sau này sẽ hết, mình cứ nắm giữ cảm thọ bực bội, sân si này chỉ để khổ đau, thiêu đốt mình thiêu đốt người, không được lợi ích gì cả. Vị ấy thấy cảm thọ bực bội, sân hận đó là vô thường, là đồ giả, là đồ lắp ráp, kết hợp, là thứ duyên sanh, nó chỉ là những làn sương mờ ảo. Vị ấy thấy những hình bóng này là vô thường, không có thật, do tiếp xúc nên lưu giữ vào sắc tưởng này, sắc pháp ngay trước mặt còn là cát bụi thì hình bóng mờ ảo trong tâm này có là gì đâu, nó chỉ là ảo tưởng, ảo ảnh, tại sao phải nắm giữ những hình bóng hư ảo này?
Nó là thứ hoại diệt, tan rã, nó là thứ đáng chán nản và từ bỏ, mình bị những hình bóng này ám ảnh làm mình khổ sở, sân hận, bị những hình ảnh này ám ảnh sẽ đi đến nghiệp quả, "ta đã chán ngán ngươi quá rồi, ngươi hãy biến mất hoàn toàn khỏi tâm ta đi, tất cả những cảm thọ, nghĩ tưởng này hãy tan biến hoàn toàn vĩnh viễn và mãi mã, đừng bao giờ sanh khởi trong tương lai nữa". Vị ấy thấy những nghĩ tưởng này là vô thường, "các ngươi hãy im lặng đi, các ngươi đừng thì thầm, thỏ thẻ, thủ thỉ, thở than trong tâm ta nữa. Im lặng tịch tịnh đi", ra lệnh cho nó và đuổi nó đi, mình không nhận nó là mình, ra lệnh cho nó "hãy tịnh chỉ các hành" nghĩa là sự vận hành của các cảm thọ, hình bóng, suy nghĩ phải yên lặng, dừng lại, đó là mình đang huấn luyện, giáo dục, dạy dỗ tâm cũng là mình đang như lý tác ý, tác động tâm ý theo đúng chân lý của Đức Phật.
Tu tâm là giáo dục, huấn luyện, dạy dỗ, cải tạo lại tâm. Sự nhận thức, rõ biết hình bóng của người kia, rõ biết những nghĩ tưởng, cảm xúc có là gì đâu, nếu rõ biết mà sanh ra tham, sân, si, rõ biết mà sanh ra bản ngã, hơn thua thì cái biết này chỉ gây thêm đau khổ, sầu bi, bất hạnh. Do tu tập, tác ý, quán chiếu như vậy nên tâm vị ấy hoan hỉ, thích thú vì ngày xưa không nhận diện ngũ uẩn nên không thấy tâm đúng sự thật, không thấy cảm giác sanh ra, hoạt động, an trú và chấm dứt thế nào, không biết những nghĩ tưởng, nhận thức sanh ra thế nào, nó vận hành, an trú, chấm dứt ra sao, còn giờ mình đã thấy rõ ràng, biết được mặt mũi, tánh tình, sự mưu mô, gian trá, xảo ngụy của tâm và tìm cách xử lý những thứ này, khi đã xử lý được thì thích thú, vui vẻ, hân hoan, nếu tu đúng theo quy trình sẽ có hết những điều này.
Tịnh chỉ là dừng lại, trong tâm quả quyết cái này không phải của tôi, không phải là tôi, không phải tự ngã của mình, quả quyết tính vô thường, biến hoại, hủy hoại, quả quyết nó là thứ chán nản, đáng từ bỏ, quả quyết những cảm thọ tham, sân, si này là đáng từ bỏ cho nên tâm vị này mềm mại, nhu nhuyến, dễ sử dụng
"Chư Hiền, nếu những người khác xử sự với Tỳ-kheo không có hoàn hảo, không có tốt đẹp, không có khả ái, hoặc dùng tay xúc chạm, hoặc dùng đá xúc chạm, hoặc dùng gậy xúc chạm, hoặc dùng gươm xúc chạm, vị ấy tuệ tri như sau: 'Sự thể của thân này là như vậy, nên tay có thể xúc chạm, đá có thể xúc chạm, gậy có thể xúc chạm, gươm có thể xúc chạm. Thế Tôn đã dạy như sau trong ví dụ cái cưa: 'Chư Tỳ-kheo, nếu có kẻ trộm cướp hạ tiện lấy cái cưa hai lưỡi cắt từng phần tay và chân. Nếu ai ở đây sanh ý phẫn nộ, người ấy không làm đúng lời Ta dạy'. Ta sẽ tinh cần, tinh tấn, không giải đãi. Niệm được an trú không có loạn niệm, thân thể được khinh an, không dao động, tâm được định tĩnh nhất tâm. Nay mặc cho tay xúc chạm thân này, mặc cho đá xúc chạm thân này, mặc cho gậy xúc chạm thân này, mặc cho gươm xúc chạm thân này, lời dạy chư Phật cần phải được thực hành". (Trung Bộ Kinh, 28. Ðại kinh Dụ dấu chân voi)
Khi nãy là lời nói còn giờ là hành động, sức từ nhẫn được nâng lên của một vị Đa văn Thánh đệ tử do công phu quán chiếu về Tứ Thánh Đế. Nếu có người dùng tay đánh, dùng gậy đập, dùng kiếm đâm thì vị ấy biết bằng trí tuệ như sau sự thể của thân này là như vậy, câu này tóm thâu biết bao pháp nghĩa trong đó. Sự thể của thân này là như vậy, nó là lẽ đương nhiên, nó được làm ra từ đất, nước, gió, lửa nên nó phải chịu sự xúc chạm, nếu nó là hư không sẽ không bị xúc chạm nhưng vì nó là tứ đại nên nó phải bị xúc chạm, không thể tránh khỏi được. Sự thễ của nó là như vậy, bản chất của nó là như vây, tánh chất của nó là vậy, không thể vượt khỏi tánh chất ấy.
"Thân này tánh chất là như vậy, bản tánh là như vậy, không vượt khỏi tánh chất ấy" (Trung Bộ Kinh, 10. Kinh Niệm xứ)
Thân này là thứ kết thành duyên sanh, nó là thứ phải bị đụng chạm, xúc chạm, va chạm. Thân này bản tánh là vậy thì nó phải như vậy, mình không muốn nó như vậy là không thể xảy ra.
"Chư Tỳ-kheo, như những kẻ đạo tặc hạ liệt, dùng cưa hai lưỡi mà cưa tay, cưa chân; dầu vậy, nếu một ai ở đây khởi ý nhiễm loạn, người ấy do vậy không phải là người thực hành giáo pháp của Ta. Ở đây, chư Tỳ-kheo các Ông phải học tập như sau: 'Chúng ta sẽ giữ tâm của chúng ta không biến nhiễm; chúng ta sẽ không thốt ra những lời ác ngữ; chúng ta sẽ sống với lòng lân mẫn, với tâm từ bi, với nội tâm không sân hận. Chúng ta sẽ sống bao phủ người này với tâm câu hữu với từ. Và với người này là đối tượng, ta sống biến mãn cùng khắp thế giới với tâm câu hữu với từ, quảng đại, vô biên, không hận, không sân'. Chư Tỳ-kheo, các Ông cần phải học tập như vậy". (Trung Bộ Kinh, 21. Kinh Ví dụ cái cưa)
Niệm được an trú trong Tứ Niệm Xứ, thân được nhẹ nhàng, tâm được định tĩnh, an trú trong buông xả, chán lìa, từ bỏ, không coi địa đại này là tôi, là của tôi cho nên có bị đánh, bị đập, bị cắt ra từng phần vẫn không để tâm ý sanh khởi sự phẫn nộ. Mặc cho người ta có đánh đập, có ném đá, bị đâm chém thì lời dạy của chư Phật cần phải được thực hành, quý pháp còn hơn cả sinh mạng, dù cho thân này bị tan nát thì lời dạy của chư Phật vẫn phải được thực hành.
"Chư Hiền, Tỳ-kheo ấy, niệm Phật như vậy, niệm Pháp như vậy, niệm Tăng như vậy, nhưng xả tương ưng với thiện không được an trú. Do vậy, vị ấy bị dao động, bị dao động mạnh: 'Thật bất hạnh cho ta, thật không may cho ta, thật rủi ro cho ta, thật không tốt đẹp cho ta. Dầu ta có niệm Phật như vậy, niệm Pháp như vậy, niệm Tăng như vậy, nhưng xả tương ưng với thiện không được an trú'". (Trung Bộ Kinh, 28. Ðại kinh Dụ dấu chân voi)
Tuy rằng an trú tâm trong niệm Phật, niệm pháp, niệm Tăng nhưng vị này không an trú được trong tâm xả, không buông bỏ được nên dao động, đau đớn, có khi cũng có bực bội. Bây giờ vị này phải tác ý "Thật bất hạnh cho ta, thật không may cho ta, thật rủi ro cho ta, thật không tốt đẹp cho ta. Dầu ta có niệm Phật như vậy, niệm Pháp như vậy, niệm Tăng như vậy, nhưng xả tương ưng với thiện không được an trú", dù đã tu tập, an trú, quán chiếu như vậy nhưng tâm vẫn chưa hoàn toàn buông xả được.
"Chư Hiền, ví như một người dâu, khi thấy ông nhạc, bị dao động, bị dao động mạnh. Cũng vậy, chư Hiền, nếu Tỳ-kheo ấy niệm Phật như vậy, niệm Pháp như vậy, niệm Tăng như vậy, nhưng xả tương ưng với thiện không được an trú. Do vậy, vị ấy bị dao động, bị dao động mạnh: 'Thật bất hạnh cho ta, thật không may cho ta, thật rủi ro cho ta, thật không tốt đẹp cho ta. Dầu ta có niệm Phật như vậy, niệm Pháp như vậy, niệm Tăng như vậy, nhưng xả tương ưng với thiện không được an trú'. Chư Hiền, nếu Tỳ-kheo ấy, niệm Phật như vậy, niệm Pháp như vậy, niệm Tăng như vậy, và xả tương ưng với thiện được an trú, thì Tỳ-kheo ấy được hoan hỉ. Chư Hiền, đến mức độ này, Tỳ-kheo đã làm thật nhiều". (Trung Bộ Kinh, 28. Ðại kinh Dụ dấu chân voi)
Nếu vẫn chưa được buông xả hoàn toàn thì tiếp tục thực hành cho đến khi nào buông xả được thì lúc đó sẽ an vui, vui mừng. Đến mức độ này thì Tỳ-kheo đã làm thật nhiều, cái làm của người tu là như vậy đó, bị đánh, bị ném đá, bị đâm bằng gươm đao, thậm chí bị cắt ra từng phần nhưng nếu khởi lên phẫn nộ là không làm được theo lời dạy của Như Lai, nếu tâm còn dao động chưa hoàn toàn buông xả thì tiếp tục tác ý "'Thật bất hạnh cho ta, thật không may cho ta, thật rủi ro cho ta, thật không tốt đẹp cho ta, trong khi ta tu hành lâu như vậy mà vẫn không thành tựu", tiếp tục tác ý, tiếp tục tu tập cho đến khi thành tựu, hoàn toàn buông xả, không còn sân hận nữa thì vị này hân hoan, vui vẻ, hoan hỉ, đến mức đó thì Tỳ-kheo này đã làm được rất nhiều. Đây là bài giảng của đại Thánh Tăng là bậc tướng quân chánh pháp tôn giả Xá-lợi-phất.
./.