Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Xuất Gia Cần Làm Gì

2026-03-03 00:54:20
Mục Lục

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Thực hành, tích tập như khi vừa xuất gia: PAGEREF _Toc51834626 \h 1

II. Tu như thế nào: PAGEREF _Toc51834627 \h 2

III. Tưởng vô thường: PAGEREF _Toc51834628 \h 4

IV. Thế giới thăng bằng và không thăng bằng: PAGEREF _Toc51834629 \h 8

V. Tưởng đoạn tận, ly tham, đoạn diệt: PAGEREF _Toc51834630 \h 9

Kinh NIKĀYA Giảng Giải - Xuất Gia Cần Làm Gì

Giảng sư: ĐĐ Thích Minh Thành

-----***-----

I. Thực hành, tích tập như khi vừa xuất gia:

        Trong Tăng Chi Bộ Kinh - Tập IV, Đức Thế Tôn nói rằng người xuất gia chúng ta phải học tập những điều sau đây, những điều rất thiết yếu, bản chất của người thực hành phạm hạnh sống đời sống viễn ly, không có gia đình. Trong đây gồm có 12 điều.

Điều thứ nhất: Tâm chúng ta sẽ được thực hành, tích tập như khi xuất gia.

Điều thứ hai: Các Pháp bất thiện được sanh không có chinh phục tâm và tồn tại.

Điều thứ ba: Tâm chúng ta sẽ được thực hành tích tập với tưởng vô thường, tưởng vô ngã, tưởng bất tịnh, tưởng nguy hại.

Đó là tới điều số 6, mình nói tắt chứ mỗi câu lặp lại. Chúng ta tới đó, ngưng, để giải thích, tâm chúng ta sẽ được thực hành, tích tập như khi xuất gia là sao? Như khi xuất gia ở đây là như lúc mới xuất gia. Dù cho chúng ta xuất gia được ba năm, năm năm, bảy năm hay mười năm nhưng tâm của mình sẽ luôn luôn được thực hành và tích tập giống như khi mình mới xuất gia. Cái này giống như là mình giữ được cái tâm ban đầu không phải dễ, thường thường người mới tập sự xuất gia, mới xuất gia thì rất siêng năng, cung kính, tôn trọng những bậc trưởng thượng.

Đức Phật thường hay dùng ví dụ cô dâu mới về nhà chồng, để nói cho một vị tỷ-kheo mới xuất gia, cô dâu này mới về nhà chồng thì cô này rất xấu hổ, e dè, thận trọng, rụt rè, cẩn thận đối với cha mẹ chồng, anh chị chồng, em chồng, thậm chí là đối với người làm công ở trong gia đình bên chồng, người này cũng cẩn thận nhưng; người cô dâu ở một thời gian quen rồi, cô dâu này nói chuyện sỗ sàng đối với cha mẹ chồng, có khi xem thường chồng thì đừng nói gì đến người phụ việc, giúp việc trong gia đình. Đây là hình ảnh mà Đức Thế Tôn thường hay đưa vào, thường hay nhắc nhở. Cho nên đó là sự thối đọa của tỷ-kheo, tức là sự lùi lại và rơi xuống. Đây là những pháp thối đọa và điều này là mình phải rất cẩn thận cho bản thân mình, chứ không dòm ai hết, chứng kiến, coi lại cái tâm của mình.

Coi cái này hay lắm, mình không để ý đó là mình sẽ biến dạng, biến chất, biến dị và biến hoại. Biến dạng, biến chất, biến dị và biến hoại cái gì? Biến hoại cái nết hạnh tốt đẹp của người xuất gia, làm biến đổi cái chất chân chất của ngày đầu mình bước vào trong chùa, ngày đầu mình thọ giới, ngày đầu mình bước vào trường. Sau khi học tập một thời gian mình không còn khả ái, dễ thương nữa mà trở thành thương không dễ, không còn dễ chịu mà trở thành khó chịu, không còn dễ nghe nữa mà trở thành khó nói. Thành ra, những cái này mình phải luôn luôn thực tập cho nên điểm đầu tiên Đức Phật dạy: Này các tỷ-kheo, các thầy cần phải học tập như sau: cái tâm chúng ta sẽ được thực hành, tích tập như khi mình mới xuất gia.

II. Tu như thế nào:

Tích tập, hai chữ này hay lắm, tích lũy và tu tập. Cho nên sự xuất gia của mình không phải nói bỏ hết không thèm làm cái gì là không phải. Tích tập những giới hạnh, giới đức, những phước thiện tích tập trí huệ thiền định, tích tập sự giải thoát chứ không phải đi tu là không làm gì nữa hết. Thành ra mình giữ được cái tâm ban đầu là cả một vấn đề, cái câu mà mình hay nghe nói là gì: Nhất niên Phật ở tại tiền, năm thứ nhất khi đi tu Phật ở trước mắt; nhị niên Phật thăng thiên, lên trời; tam niên Phật nhập diệt, mất tiêu luôn. Đó là câu người xưa nhắc nhở mình, điều đó là có, phổ biến cho nên có những câu như vậy. Làm sao mà mình tu nhiều năm mà đối với cái chí hướng, giác ngộ, giải thoát của mình không có bị biến đổi, chẳng những vậy nó còn lớn mạnh hơn, phát triển, tăng trưởng, quảng đại hơn, cái đó mới là người xuất gia có ý chí, chí khí, lập trường.

Các Pháp bất thiện được sanh mà không chinh phục tâm và tồn tại, cái này đọc đơn giản mà cả một vấn đề trong pháp hành của mình. Như vậy, các Pháp bất thiện không sanh mà nó được sanh, làm sao nó không sanh được. Tham dục, sân hận, si mê, bản ngã, hơn thua, cao thấp, ganh tị, đố kỵ, ngã mạn, cống cao, dương dương tự đắc, khen mình chê người, ta đây đầy dẫy bất thiện pháp ở trong nội tâm của mình. Khi mình thành tựu trí huệ, thiền định mới thấy được, nếu mình không có thiền định, nội soi, hai từ quan trọng “nội soi” là thường thường quay trở lại để nhìn cảm giác, những nghĩ tưởng, suy nghĩ trong nội tâm, coi suy nghĩ đó là thiện hay bất thiện, ác hay không phải ác, những suy nghĩ đó xuất phát từ ngã mạn hay là những suy nghĩ vô ngã, khiêm cung. Những suy nghĩ đó là những suy nghĩ tương ưng với giới hạnh, thiền định, đạo đức trí huệ của một người tu hay là không.

Nếu những suy nghĩ ác, bất thiện khởi lên mà không cho nó chinh phục cái tâm và tồn tại là cả một công phu. Nó khởi lên mà không cho chinh phục tâm mình. Chinh phục là làm cho mình hoàn toàn bị cái pháp bất thiện đó chế ngự, xâm chiếm hết; sau khi nó xâm chiếm chế ngự, tồn tại trong tâm mình, đó là người không có công phu, thực tập.

Ví dụ: Huynh đệ với nhau không biết có chuyện gì, nói gì lúc đó giận lên, cái giận, cái sân là căn bản của bất thiện pháp, nó sanh lên lúc đó mình để cho cơn sân đó xâm chiếm, chinh phục và sau đó, một tiếng, hai tiếng, ba tiếng, một ngày hôm sau vẫn còn giận thì cái đó mình bị pháp bất thiện chinh phục và tồn tại ở trong tâm; còn người có như lý tác ý, nó khởi lên, mình nói đây là cái tai hại, pháp bất thiện, pháp ác là những pháp không chấp nhận phải từ bỏ; đây là cái hố than hừng, bếp lửa đỏ thiêu đốt mình và người, đưa đến sầu bi khổ ưu não, đưa đến sanh già bệnh chết; triền miên sanh tử, đưa đến oan gia, cái gọi là ràng buộc hệ thụy thống khổ, không chấp nhận, từ bỏ, đoạn diệt, chấm dứt. Như vậy, mình không cho cái pháp bất thiện chinh phục tâm mình, đừng nói chi là tồn tại, tức là phải chiến đấu với nó. Như thế Đức Thế Tôn mới được ca ngợi là Bậc Chiến Thắng. ở bên Tây Tạng gọi Đức Thế Tôn là Đấng Chiến Thắng, Bậc Chiến Thắng. Đó mới gọi là Sát tặc A La Hán.

Bây giờ, cơn giận khởi lên mình để luôn như vậy, nó hoàn toàn xâm chiếm, chế ngự, chinh phục nội tâm mình và tồn tại trong đó. Như vậy mình nói tu, tu cái gì, nghĩ đơn giản cái tu là mặc áo đắp y lên, ngồi trước chánh điện, cái đó là tu của mẫu giáo, tu thật sự trong lời Đức Phật dạy là trong nội tâm khởi lên bất thiện pháp, ác pháp, lúc đó mình không cho nó chinh phục tâm mình, quật ngã, quật đổ nó; mình quật cường lên chiến thắng được tham sân si. Và nó không thể tồn tại, không tồn trữ, tồn kho, tồn đọng, tồn chỉ trong nội tâm, diệt tận nó, tuyên chiến, chiến đấu, không chấp nhận nó thì cái đó mới gọi là người tu, cho nên về đọc bài kinh Chiến sĩ, Tăng Chi Bộ Kinh. Chứ đâu phải tu mình nghĩ đơn giản là hiền hiền, khờ khờ, lù khù vác lu chạy, thấy thì hiền hiền, khờ khờ nhưng mà gặp người đẹp lúc đó ko có khờ, lúc đó lanh lắm, xin số điện thoại liền, địa chỉ nhà ở đâu hay gặp người thành đạt này kia nọ, giàu có, lúc đó coi cái tâm có hoàn toàn yên tịnh không hay là muốn kết giao với người quyền thế, danh vọng, địa vị, chết đó chứ, chết, chết liền.

III. Tưởng vô thường:

Thước đo của sự tu hành là gì, sắc tài danh lợi khi nó đến với mình. Lúc đó làm sao, tâm chúng ta sẽ được thực hành tích tập với tưởng vô thường, tưởng vô ngã, tưởng bất tịnh, tưởng nguy hại. Bốn cái tưởng này tuyệt vời lắm, đây là kho báu, bảo tàng, gia tài của một người tu, gia tài người tu không phải cái chùa, chiếc xe, không phải ở trong két sắt. Két sắt để ở trong chánh điện nó cũng vô đập phá, bưng, bẻ camera. Gia tài thật sự của người tu là trí tuệ, luôn luôn thực tập sự quán tưởng về vô thượng, cái gì vô thường? Sắc thân, cảm giác này là vô thường. Dù cho cảm giác khoan khoái, thích thú, đã, nhưng cũng biết nó là vô thường. Cho nên khi có một cảm giác dễ chịu, khoan khoái, biết nó vô thường, không tham đắm trong đó.

Trong kinh Giới Phân Biệt, Đức Phật dạy pháp tu: Thứ nhất, đức Phật dạy mình phải nhìn tất cả cảm thọ là vô thường; thứ hai, phải quán tất cả cảm thọ là thứ mà không nên đắm trước; thứ ba là phải quán tất cả cảm giác, cảm thọ đó là không phải đối tượng mình hoan hỷ. Đó là pháp hành thâm sâu. Đang khát nước vậy mà được một lon Bò Húc lạnh, bật ra một cái, đổ vô cái lưỡi tê tê vậy nè, khoan khoái, đã đã nhưng phải biết cảm giác này là vô thường, uống Bò Húc riết rồi mai mốt húc người ta, tại vì nó mạnh quá.

Bởi vì cái đó lâu ngày nó đưa đến cái bịnh, ăn uống của mình quan trọng, mấy người ăn nhiều thì những cái liên hệ đến tham sân si cũng mạnh lắm, cho nên mình hổ thẹn là làm công việc nhiều, mình ăn chiều. Đúng ra mình thiền định nhiều ở trong thất là không dùng, tại vì mình ăn như vậy nó nặng cái bụng lên ngồi thiền không được, thứ hai nhiều chất quá dư chất làm sung mãn, nhất là tuổi trẻ sung mãn lên là mệt lắm. Một phần ảnh hưởng từ chỗ thức ăn của mình, cho nên mình ăn vừa thôi, dữ lắm là 80% hoặc là hơn chút xíu, chứ đừng ăn 90 %, chín mươi mấy phần trăm, mình ăn vô rồi là mệt lắm, bao tử làm việc rất là mệt, cơ thể uể oải, trong đó dư chất là không có tốt, cho nên hai cái cực đoan, một cái dư quá dư, một cái thiếu cho nên mình quân bình.

Trở lại vấn đề, luôn luôn thực hành tích tập cái tưởng vô thường là quan trọng lắm, để không có đam mê. Ví dụ mình được chiếc xe đẹp mình thích, đương nhiên rồi con mắt mình tiếp xúc là thấy thích, thân mình leo lên ngồi nhún nhún, xúc đã rồi nè, phải không? Thọ do thân xúc sanh, cảm giác do thân mình tiếp xúc, chiếc xe mới đẹp, đôi dép đồng hồ, mắt kiếng đủ thứ hết nhưng khi mình tiếp xúc, thấy cảm giác dễ chịu, vô thường nhé. Tại sao có cảm giác, tại có thân này nên mới có cảm giác, không có thân lấy gì có cảm giác mà thân này là tứ đại, vô thường. Một cái vô thường tạo ra cái thân này, từ cái thân này mới có cảm giác thì cái cảm giác thì làm sao mà thường được. Rồi bây giờ có một cảm giác khổ bị rầy la, nhắc nhở, chỉ trích hay là người Phật tử họ nói chuyện xúc phạm mình thì lúc đó mình bực bội, khó chịu, thì cảm giác bực khởi lên, cảm giác này là vô thường.

Cảm giác này không tồn tại lâu dài, nó không phải là mình, đừng chấp nhận nó, đừng để cho nó xâm chiếm, chinh phục, đừng để nó chế ngự tâm mình, từ bỏ, diệt tận nó. Diệt tận bằng cách quán tưởng về vô ngã, bất tịnh, nguy hại. Thầy nhập chung bốn cái tưởng này lại. Mình biết cơn sân này đưa đến sự nguy hiểm và tác hại, phải quán cái tai hoạ của sân hận, sự tức giận, bực dọc này. Cái sân hận là bất thiện pháp, ác pháp, nó không đáng cho mình lưu giữ, nấn ná với nó, ly dị, từ biệt, ly thân với nó, viễn ly với nó, không chấp nhận. Tất cả sân khởi lên đều phải diệt tận hết, không cho cái sân nào tồn chỉ trong nội tâm mình hết. Đó là người tu, vị chân tu, chân nhân, là Hiền Thánh Tăng đó.

Còn cái này, nó sân khởi lên là mình tiếp tục luôn, sân khởi lên mình không biết cảm thọ, không biết cái gì đâu, thọ mình không biết, cảm giác sân mình không biết rồi cơn sân là tên giặc dữ mình cũng không biết, nhập vô luôn mình cho nó là mình luôn rồi xong. Mình đâu có quán nguy hại của cơn sân đâu, quán nguy hại của cơn dục đâu, quán nguy hại của bản ngã ta đây, dương dương tự đắc, cống cao, ngã mạn, khen mình chê người.

Cho nên trong Tạng kinh Nikāya, chỗ này hay lắm, thành tựu của trí huệ là thấy hết tất cả các nhiễm pháp, bất thiện pháp, những cái cấu bẩn nhất trong nội tâm của mình, mình thấy được hết, thấy nó mình xấu hổ, nhục nhã, hổ thẹn, sợ hãi tìm đủ mọi cách để điều chỉnh tới lúc chỉnh xong là đi vào Hiền Thánh, đó là đạo lộ tu tập của Đức Thế Tôn, đó là con đường.

Giờ mình ngồi đó tu toàn tưởng tượng những chuyện gì đâu không, trong khi tự thân của mình đầy dãy tham sân si bất thiện không thấy không biết, không biết tại sao nó sanh khởi, ngay lúc sanh khởi mình không biết nhập cuộc nó luôn, rồi nó an trú, xâm chiếm, chế ngự, hoành hành, rồi nhận giặc làm con, kéo voi về giày mả tổ, nối giáo cho giặc.

Đó là sự đau đớn của người tu, mình nghĩ rằng mở cái cuốn ra đọc, tu là ngồi lên lần, ngồi được mấy tiếng, trì được bao nhiêu bộ, bao nhiêu câu chú, bao nhiêu triệu câu; cái đó là những cái mới ở bên ngoài, tụng trì ngồi đó để thấy được cái nội soi, thấy được thọ tưởng hành thức của mình, thấy được chính mình, thấy được tấm thân bất tịnh, hôi thối, bẩn thỉu này, nhơ nhớp, tanh hôi này. Thấy được một cái thùng phân di động này để cho mình bớt cái tham luyến, tham ái, dính mắc vô đây mà bớt dính mắc vào mình thì mới bớt dính mắc vô người, đó là chân trí. Chân chánh trí huệ mà Đức Phật truyền trao lại cho mình đó, mình không chịu hạ thủ cái chỗ đó, tối ngày mình cứ chao chia mấy cái bên ngoài.

Đó là một sự đặt tâm lệch hướng, nó không thể đâm thủng vô minh, minh không có sanh khởi, quán làm sao sanh khởi được, mình không có đặt cái tâm đúng hướng. Tên giặc trước mặt mà không cầm dao đâm tên giặc, mà đi xỉa vô đồ trong nhà của mình, xỉa vô huynh đệ, thầy bạn của mình. Mình không biết nguyên nhân của khổ nằm ở đâu, không tìm ra, không thiền định, không giới hạnh, tuệ quán thì như vậy cả cuộc đời tu uổng, luống uổng đặt công phu của mình ở tấm bằng cấp, ở những hình thức, cái được là những hình thức, chức vụ. Nếu mà được chưa chắc gì được, giả sử như được là được cái sanh diệt, giả danh đó thôi, sầu bi khổ ưu não vẫn tiếp diễn, vẫn chế ngự tâm, dãy đầy tham sân si và bản ngã. Cho nên mình học cái này để thấy, mở con mắt trí huệ ra, tuệ nhãn mở ra, đạo nhãn mình mở ra, minh nhãn mở ra, kiến sanh, minh sanh, tuệ sanh, trí sanh. Đây là con đường Đức Thế Tôn đã đi, Thánh đạo, đem cái tâm mình hết vô trong đây, không được xem thường.

Cho nên mình nhìn thấy được cái tướng bất tịnh này, một đống phân, đống thịt bầy nhầy, nước tiểu, nước miếng, ghèn, máu, mủ, phân, những chất nhờn, những thứ tanh hôi đam mê, khao khát, tìm kiếm ở trong này, chạy hoài chạy đi tìm, bộ xương này chạy đi tìm bộ xương kia, bộ xương kia làm khổ cho bộ xương này, thấy học hiểu biết cái đó nhưng mà xong rồi cũng trở về cái thói thường tình phàm tục, cái thói mà si mê điên đảo, tập khí, tập nghiệp, thì mình phải quán hoài cái bộ xương, hễ thấy nó tới, đó là Bạch Cốt Tinh tới rồi đó. Nhìn thấy rồi cái tâm mình khoan khoái thích thú lên, tới rồi Bạch Cốt Tinh tới rồi đó, án xa ra xa ra, đừng có sáp vô, sáp vô là chết ra nha con. Niệm câu chú đó lên, đó là viễn ly hạnh, viễn ly đừng có nhìn, đừng có nói chuyện nhiều, xúc chạm, rờ rờ nó nguy hiểm lắm. Có mấy chỗ để bảng là cấm sờ, tại sao xúc sanh thọ, thọ sanh ái, ái sanh thủ, đó là vậy mà.

Cho nên Đức Phật chặn từ lúc đầu, huynh đệ nhớ trong giới luật tỷ-kheo, chạm tới là phạm liền, xúc sanh thọ. Chặn đủ lớp hết mà cuối cùng cũng phá rào mà đi, leo tường đi mới khổ, té u đầu sứt trán, cái lỗ mũi ăn trầu cái đầu chữa thuốc, chứ nếu nghe lời ông Phật đâu có chuyện, cái này không nghe gọi là tiếng sét của ái tình, tiếng gọi của con tim, làm rung chuyển hết. Nếu mà lúc đó tuệ giác mạnh lên chiến thắng được là coi như xong, còn cái này không nó cứ rò rỉ là lậu hoặc, lậu là rỉ chảy thấm vô từ từ, thấm vô mức độ thấm vào xương, tủy rồi xong. Không phát hiện ra được, không có Chánh Tri Kiến, không có thành tựu trí huệ để phát hiện ra được, nó mới vừa xuất hiện thì nó bắt đầu xâm chiếm.

Cho nên cái tưởng, quán tưởng về vô thường, vô ngã, bất tịnh, nguy hại này hay lắm. Ít nhất là cũng khống chế, giảm thiểu được một phần nào, còn không nó chạy hoài, thấy mấy người chạy không, chịu không nổi, quá cường thịnh rồi. Cái sân cường thịnh, tham dục, bản ngã cường thịnh, rồi nó hành hạ. Cho nên mình quán được cái này tuyệt vời lắm, rồi mình sẽ thấy, đến để mà thấy, mình không quán sẽ không thấy đâu, thấy ngay thân tâm của mình luôn, thấy trí huệ.

IV. Thế giới thăng bằng và không thăng bằng:

Cho nên sau khi biết được thế giới thăng bằng và không thăng bằng, tâm chúng ta sẽ được thực hành, tích tập với tưởng ấy. Quý huynh đệ về mở bài kinh Xuất Gia, Tăng Chi Bộ - Tập 4.

Thứ bảy là gì? sau khi biết được thế giới thăng bằng và không thăng bằng, thấy được cả thế giới này, thế giới sanh khởi và đoạn điệt, thấy được cái thế giới tập khởi và chấm dứt, thấy được cái sự sanh sự diệt, sự tập khởi, chấm dứt, thăng bằng và không thăng bằng, thấy rõ được bản chất của thế giới này, bản chất của thế giới này là gì? Là năm uẩn, này các tỷ-kheo, ta tuyên bố ngay cái tấm thân một thước tám này thế giới tập khởi, ngay cái tấm thân một thước tám này thế giới đoạn diệt.

Như vậy, thế giới là ở đâu, ngay ở cái tấm thân ngũ uẩn này, ngay cảnh sắc mình thấy đây. Tại sao thế giới sanh khởi, vì sao thế giới đoạn diệt chấm dứt. Vô minh, tham ái cho nên thân này sân khởi, không thấy rõ được năm uẩn, không biết, không thành tựu trí năm uẩn, không thấy bản chất của 5 uẩn đó là vô minh. Từ chỗ không thấy, không biết nên mới yêu thích là tham ái, tham ái rồi mới chấp thủ yêu thích 5 uẩn, yêu thích sắc, cảm giác này, yêu thích những cái nghĩ tưởng, nhận thức này và bám chặt vào trong này gọi là ngũ thủ uẩn, và chính như vậy cho nên không gỡ ra được, ái vô thủ, bởi vậy làm cái gì thì.

Đức Thế Tôn ví dụ cái sợi dây thừng trong bài kinh dây thừng, con chó bị sợi dây thừng buộc vào cây cột thì nó có đi, đứng, nằm, sủa, ăn ngủ thì cũng vòng vòng cây cột, không đi ra được. Cây cột nói đơn giản là dục tham, sân si, nói đầy đủ cây cột là năm uẩn; lòng vòng chỗ sắc, tối ngày nó tìm cái này đẹp, cái kia, cái nọ đẹp, tìm cảm giác này, cảm giác nọ, cảm giác kia. Tối ngày nghĩ tưởng trong cái dục tham trong cái vô minh, tham ái, năm uẩn, không đi ra khỏi.

Bây giờ, thành tựu trí năm uẩn phá vô minh thì quán chiếu theo đó, cái ái diệt, bất tịnh quán, nguy hại tưởng. Vô minh, tham ái chấm dứt thì ngũ uẩn nó chấm dứt, sự bám chắc vào ngũ uẩn chấm dứt mà ngũ uẩn chấm dứt là giải thoát đó, cho nên chỗ rất sâu xa về thế giới sanh khởi và đoạn diệt này, thế giới tập khởi và chấm dứt này.

V. Tưởng đoạn tận, ly tham, đoạn diệt:

Điều số mười, tâm chúng ta sẽ được thực hành tích tập với tưởng đoạn tận, tưởng ly tham, tưởng đoạn diệt, đó là tới điều số mười hai.

Tưởng đoạn tận là chấm dứt, dứt hết cái tham dục, khao khát, tìm kiếm, sân hận, si mê, chấp ngã; ly tham đối với tất cả sắc pháp, sắc uẩn. Chấm dứt sự bám chặt vào sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Cho nên ba cái pháp quán này là pháp quán đoạn tận, ly tham, đoạn diệt. Cái này rất quan trọng, không phải mình ngồi thở vào thở ra xong, mỉm cười, mời uống trà đi. Thấy nhẹ nhàng quá tới lúc mẹ chết rồi ngồi uống trà cười được không, lúc mình bị tai nạn giao thông xảy ra có ngồi uống trà nổi không, lúc mình bị dục ái xâm chiếm mãnh liệt trong nội tâm có hiện tại lạc trú được không.

Chỗ này rất là thâm sâu, không phải dừng lại ở đó đâu. Đó chỉ là phương pháp xoa dịu ban đầu cho những người tất bật lăng xăng, còn nếu mà nói theo tinh thần kinh Nikāya mình phải đào thật là thâm sâu tới gốc rễ. Bình thường mình thanh thản chánh niệm, tới lúc hữu sự lúc đó thanh thản nổi không, cơn sân nổi lên ai mà chạm tới bản ngã lúc đó có thanh thản ngồi uống trà cười nổi không, người ta chạm tới bản ngã cười nổi không! Lúc mà người ta ủy nhục hay đánh đập mình chẳng hạn,tai nạn ập tới, bất trắc xảy ra đối đầu với sống chết lúc đó có thanh thản được không, hiện tại lạc trú được không, không phải. 

Cái pháp rất thâm sâu, phải đoạn tận, ly tham, đoạn diệt. Đoạn tận là dứt sạch hết những mầm mống của dục ái, tham ở trong nội tâm. Mình nhìn lại thử coi, cái ăn ngon, giấc ngủ là mình cũng dính mắc rồi, cái giờ công phu thôi, những lời khen tiếng chê, có thể một câu nói thôi mình đổi thái độ khác liền. Hồi xưa mình khác, bây giờ sau khi nghe câu nói mình đổi thái độ khác, nhìn bằng con mắt khác, tỏ ra hành động khác, tất cả những cái đó mình phải thấy được, đó là cái gì, mình không thấy được, ác pháp, bất thiện pháp xâm chiếm. Nhiều khi người ta chỉ mình, mình còn sân lên nữa, tại sao tui cũng hay mà dở sao mà chê tui. Bây giờ đang là học trò thôi đó mà còn vậy, nếu ngang hàng dám chừng xắn tay áo lên à. Huynh đệ thấy khiếp không.

Cho nên nó thâm sâu cực kỳ, phải phá tận, quán chiếu cái vấn đề về vô ngã, không phải chuyện đơn giản, cái bản ngã kinh khiếp lắm, bản ngã là kẻ nguy hiểm giết người, vẽ hình đầu lâu với hai khúc xương để chéo đề câu “bản ngã là kẻ nguy hiểm giết người” để mỗi ngày mình quán chiếu nó, ai mà chạm tới bản ngã thử coi lúc đó nó bừng lên, bốc lên, phình lên giống như con cóc nó phình cái bụng lên. Đó là nhìn sâu vô, xoáy sâu vào nó, truy sát vô minh, chiếu kiến bản ngã, diệt tận nó luôn. 

Bữa trước mình học rồi, ngài Xá Lợi Phất được gọi là “tiếng gầm của sư tử” trước mặt Đức Chánh Đẳng Giác, con luôn luôn quán giống như cái nùi giẻ để người ta chùi chân, giậm chân, những cái đó là tiếng gầm của sư tử, mình tưởng đâu mình là thánh nhơn đi rồi nhìn lên trời không, đi trên trời không thèm đi dưới đất, đi hở trên cách đất bao nhiêu tất. Không phải, thánh nhơn là người không còn cái tôi nữa, là người luôn hạ thấp mình với tất cả mọi người dù cho bị xỉ vả, chửi mắng, khinh thường mình, bình thản, nhẹ nhàng và không thấy cái sân nào trong mình khởi lên, không thấy cao thấp, hơn thua, nhân ngã, bỉ thử, thấy vậy là ngũ uẩn thôi, đó là bậc Hiền Thánh.

Đó là chỗ mình hướng tới, chứ không phải thánh nhân là mình leo lên bàn ngồi cho người ta lạy, tới giờ ăn người ta bưng cơm ra cúng, không phải.

Những cái này mình cần phải thực tập đào sâu vô mới thấy, chứ còn không thực tập thì khó biết lắm. Tại sao mình đi quen với những gì hướng ngoại rồi mà tinh thần của Tạng kinh Nikāya là nội soi, không nội soi một cách bình thường mà liên tục, thiền định liên tục không gián đoạn, nhìn lại những cái thâm sâu ngõ ngách, những cái ăn sâu bên trong những cảm giác rất vi tế nói những lời thầm kín, thậm chí không suy nghĩ nữa mà trong cảm thọ âm thầm hiểu thấu, những lời nói âm thầm của cảm giác không phát ra ý hành, tức là suy nghĩ của mình không nói nhưng trong cái thọ bứt rứt, ái ái cho nên nó đòi phải có một cái ngã. Tu mà năm uẩn hết trơn mà không có gì hết thì phải có mình chứ, cái tiếng đó là tiếng gì! Nó đòi phải có, không có không chịu.

Cho nên mình tu tập cái này hay lắm, cái này mới đưa mình tới chỗ ly tham đối với cuộc đời này được. Nếu mà không thực tập quán bất tịnh, 32 thể trược nhìn sâu vô trong chín giai đoạn một tử thi thì mình không có cách nào mà ly tham một cách rốt ráo. Mình có ly tham đi nữa thì ly tham một cách sơ sơ ở ngoài chút đỉnh, hình thức vậy thôi đối với một phần nhỏ của sắc uẩn, cảm giác ở trong đó là mình chết trong đó. Huynh đệ nghĩ đi, mình tu muốn chấm dứt luân hồi sanh tử mà trong này mình còn ham thích tum lum sao mà chấm dứt, ráng kiềm kiềm đừng có ham, thấy sắc đẹp đừng dòm nhưng mà ở trong này còn muốn, thì cái muốn đó làm sao mà trị. Chỉ có quán bất tịnh, 32 thể trược, chín giai đoạn một tử thi đó là giòi, một đống thịt bầy nhầy, bộ xương ngày nào cũng thấy như vậy hết riết rồi nhìn thấy ớn quá, chính mình mà còn thấy ngán thì mới từ bỏ, chấm dứt được thì cái đó đi đến chỗ bất động tâm giải thoát của bậc A La Hán, tới chỗ đó mới gọi là nhân thiên cúng dường, trời cũng phải xuống lạy dưới chân, tại vì cái bậc đó là bất động ở trong tam giới.

Ở ngoài mình nói giải thoát này nọ kia, thôi đừng tham nữa thì nói cái miệng, chút ý hành suy nghĩ nhưng mà thâm sâu ở trong cảm giác của mình còn muốn, vẫn muốn. Bây giờ, mình nhìn thấy rõ ràng chứ có nói gì đâu xa, chính bản thân vẫn còn muốn thì cái đó là dục ái chưa có muốn đi ra, muốn là trên suy nghĩ thôi còn ý hành thì nó mỏng ở trên, giống như lớp nước rất mỏng ở trên mặt biển, nó nói như vậy đó nhưng mà lớp dưới nữa rồi sâu xuống dưới đáy biển bao nhiêu tầng ở dưới đó, cho nên mình đào sâu xuống, cảm thọ nó nhiều lớp lắm, chứ không phải nói là đơn giản cảm thọ học vậy mình biết đâu, nó thâm sâu lắm. Ví dụ mình ăn ngày một bữa, mình nghĩ mình giờ cũng ngon so với mọi người ngày ăn 3, 4 bữa, mình ăn ngày một bữa khi nói vậy mình thấy hãnh diện lắm, rồi mình nhìn sâu vô coi mục đích ăn cái đó hay làm dáng trang nghiêm, như vậy thì mình đào sâu xuống đó coi có phải là có chút danh lợi trong đó không, có chút danh không muốn người ta khen, người ta biết không.

Ví dụ như không ai hỏi gì trơn, lại ngồi nói chuyện tôi ngày ăn có một bữa mà người ta không có hỏi, phải người ta hỏi mình nói cũng được, tôi không có ăn chiều bảy năm rồi đó. Thì như vậy, mình nhìn sâu xuống từ đâu mà phát ra ý hành đó, mình đào sâu xuống một lớp phải biết cái đó là từ cái danh nó tham tiếng khen, như vậy ai tham cái tiếng khen, đào sâu xuống một lớp là bản ngã, cái tôi muốn thể hiện nó cho người khác biết nó là như vậy đó, thành ra cái này đòi hỏi trí huệ rất là sâu sắc, huynh đệ phải thiền quán.

Như vậy, mình đào sâu xuống từ đâu mà cái tôi này, đào sâu xuống tại vì cái tôi này không thành tựu trí năm uẩn, nó không thấy đó là năm uẩn mà nó cho nó là tôi, là của tôi. Huynh đệ thấy không, đào sâu xuống ba bốn lớp vậy đó. Huynh đệ nghĩ mình tu là đào mỏ kim cương, chứ đâu có chuyện đơn giản giống như bánh ít trần đem bóc ăn liền, bần sần gai góc giống như trái sầu riêng mà không khéo khui là máu nó chảy, khui ra hết thì bên trong nó bùi, béo, ngọt, bổ, thơm sáu tháng mới có, nó là vua của trái cây. Qua nhiều lớp gai, khui ra. 

Cái pháp Phật gọi là tối thượng pháp, tối thắng pháp, pháp ly tham, tột cùng này thâm sâu lắm; không phải chuyện đơn giản nói, nghe, suy nghĩ rồi biết hết, không có. Nếu như vậy, toàn là thánh nhân hết. Nói nghe hay lắm đụng chuyện là biết, mới rầy chút xíu là cái mặt khác rồi, rõ lắm, nửa tháng rồi mà nó còn tồn đọng trong nội tâm, chứ đừng nói chi bữa sau vô nói không nghe, nói đây không phải nói xấu ai hết, mà ngũ uẩn vận hành là như vậy, nó là như vậy, mình phải hiểu được ngũ uẩn, chứ không phải cá nhân, tất cả đều như vậy hết. Đó là bản chất của bản ngã, tham sân si, nó không chịu ai đụng nó hết mà đụng vuốt vuốt nhẹ êm ái thì khoái, giống như con mèo con vuốt vuốt thì nó chạy lại quấn quít khều khều cái đuôi, cho nó ăn. Cho phiền não ăn để nó mau lớn, để nó quậy mình. Thấy chưa, bỏ đói nó không cho nó ăn nữa, bỏ đói bản ngã, diệt tận tham sân si. Cho nên cả một công trình vĩ đại chứ không phải bình thường, nội cái pháp học để tìm ra con đường để mình hành trì là cả vấn đề không phải chuyện đơn giản.

Cho nên pháp ly tham thâm sâu lắm, hai chữ ly tham này phải lạy, chiều nào công phu mình cũng đọc “Quy y Phật lưỡng túc tôn, quy y Pháp ly dục tôn”, ly dục tôn tức là ly tham. Cái bản chất, đặc chất của pháp mà được tôn quý ở trên đời này chỉ mình con đường rời khỏi tham, tại vì tất cả khổ từ chỗ tham, tham muốn được khen chứ không muốn bị chê dù cho có lỗi, muốn được người ta gạt, đưa lên chứ không muốn bị hạ xuống. Trong khi chỉ lỗi cho mình tức là chỉ chỗ chôn vàng, Kinh Pháp Cú. Có khi cũng biết mà không chịu, cái cảm giác không chịu nó nói không, cảm giác tham ái nói không, khó chịu lắm. Vô ngồi nói chuyện vui giỡn, cười vỗ tay rần rần, thầy đó dễ thương, dễ chịu, học cái giờ đó thoải mái, vui.

Như vậy, mình đi tìm cảm giác chứ không phải mình cầu pháp, pháp là cái gì trực chỉ, khám bệnh, giải phẫu mổ, rọc ra, cắt luôn, cắt cho hết quậy. Tại vì những cái đó là ung thư, ung nhọt trong cơ thể của mình, không cắt thì nó bành trướng trong cơ thể, phát triển thành ung thư. Bởi vì cái đó không phải chỗ nó mọc mà nó mọc, không phải chỗ nó phát triển mà nó phát triển thì phải cắt chỗ đó. Để nó phát triển lên thì nó phá mình banh, làm cho mình bệnh chết, cho nên mới thành ung thư, ung nhọt trong nội tâm của mình, giải phẫu cắt bỏ đây là đoạn tận, cắt đứt không cho nó buộc vô nữa. Mình thấy cái gì liên hệ đến dục, hấp dẫn, khả hỷ, khả lạc, khả ý, khả ái là mình phải cắt ngay. Tại vì cái này kéo mình vô hố than hừng.

Cho nên có bài kinh Đức Phật nói về quán cái dục hay lắm, bài kinh Sợ hãi trong Tăng Chi Bộ Kinh, Tập 3. Mình quán về dục, sắc như thế nào.

Sợ hãi, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với các dục. Ðau khổ, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với các dục. Bệnh tật, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với các dục. Cục bướu, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với các dục. Mũi tên, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với các dục. Trói buộc, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với các dục. Bùn, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với các dục. Thai tạng, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với các dục.

Như thế nào, này các Tỷ-kheo, sợ hãi là đồng nghĩa với các dục?

Vì rằng, những ai bị dục ái nhiễm, những ai bị dục tham trói buộc, không được giải thoát khỏi sợ hãi hiện tại, không được giải thoát khỏi sợ hãi trong tương lai; do vậy, sợ hãi là đồng nghĩa với các dục.

Vì rằng, này các Tỷ-kheo, khổ ... bệnh ... cục bướu ... mũi tên ... trói buộc ... bùn ... Như thế nào thai tạng là đồng nghĩa với các dục?

Vì rằng, những ai bị dục ái nhiễm, những ai bị dục tham trói buộc, không được giải thoát khỏi sợ hãi hiện tại, không được giải thoát khỏi sợ hãi trong tương lai; do vậy, sợ hãi là đồng nghĩa với các dục.

 Khi mình bị say đắm các dục, trói buộc thì sẽ sợ hãi lắm. ví dụ thực tế, người ở ngoài đời có người bạn tình, người yêu thương mà người thường thường nó đỡ, mình yêu thương trúng cái người mẫu nổi tiếng có lo sợ không? Đó là sợ hãi đồng nghĩa với các dục. Rồi ví dụ mình có đồ gì quý, một cục tiền bự vậy thì lúc đó mình có sợ hãi không, lo sợ không. Mình để trong tủ ở nhà mà tủ chìa khoá không chắc, đi đâu mấy bữa về không có đem theo được, đi Đà Lạt, Hà Nội không đem theo được, một chồng tờ 500 như vậy. Lo sợ, sợ mất mà mình bị cái tham đắm, trói buộc trong đó rồi là khổ; thấy ở ngoài là vui, đi trong sâu một chút là khổ, bởi vì dính mắc trong đó, không có cái đó là chịu không được, chẳng hạn như game, xì ke, đua xe chẳng hạn những thú vui bây giờ mình thấy ngáo đá, tùm lum ngáo đó. Đó là khổ, bệnh, đồng nghĩa với các dục; là cục bướu hồi nãy kêu cắt không chịu cắt, tham dính.

Giống như con khỉ, trong Kinh Bẫy mồi, người ta làm bẫy để mấy cái keo con khỉ không biết cái gì, lấy tay trái khều khều dính tay trái vô luôn, lấy tay phải gỡ tay trái xong dính luôn, lấy hai chân, cuối cùng lấy miệng gỡ rồi dính vô luôn, ông thợ săn lấy cây xỏ ngang vác lên vai đi, đó là bẫy mồi là dục, tham, những cái sắc do mắt, tay mình tiếp xúc nhận thức, mình bị bẫy mồi đi đâu dính đó, dính vô sáu chỗ mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, dính vô rồi ác ma lấy cây xỏ ngang quải đem về, muốn làm nó làm.

 Ở đây cũng vậy, nếu mà mình dính vô một con Bạch Cốt Tinh nào đó thì nó xỏ, ăn muốn làm gì làm. Tại vì mình cam tâm tình nguyện để cho nó muốn làm gì làm. Giờ là anh chết vì em, dù cho tan xương thịt nát anh cũng chịu, xong rồi đó. Biết bao nhiêu tiếng sét ái tình trên cuộc đời này, đó là tham dính, bẫy mồi. Bởi vậy, có nhiều cái chiêm nghiệm mình thấy nó hay lắm mà mình không chịu học, ráng cố gắng mình thực tập. Bây giờ, nam thanh nữ tú ở nước ngoài người ta không chịu lập gia đình, những nước phát triển bây giờ họ ít chịu đám cưới lập gia đình, không muốn ràng buộc. Họ thành đạt lớn tuổi chút mới lập gia đình, còn mình ở đây mới 15, 16 tuổi con loe ngoe khóc hu hu rồi, tại sao vậy? Bởi vì nó vô là dính, lệ thuộc lắm. Lòi ra một, hai đứa là không thoải mái như hồi xưa, muốn đi du lịch ở đâu, xách giỏ lên đi, giờ không được đâu.

Bùn lầy là đồng nghĩa với các dục, vô đó là nó lún xuống, ban đầu nhìn nó đẹp, mềm mại êm ái lắm, đi lại coi thử thọt chân xuống nó lún xuống, lún một hồi tới cổ rồi lúc đầu luôn là rồi. Đức Thế Tôn nói Đề-bà Đạt-đa, nhìn thấy ông ta dính hết tất cả ác pháp, bất thiện pháp, không còn chỗ nào nắm lên được hết.

Thành ra mình quán được sáu cái nghĩa lý này về dục là hay lắm, học thuộc để quán chiếu, để có thể chiến thắng được còn nếu không là cái này mạnh lắm không phải yếu.

Câu kết cuối cùng, đối với vị ấy, việc thực hành được những điều nãy giờ nói, một trong hai quả này được chờ đợi, chánh trí ngay trong hiện tại, nếu có dư y thì chứng được bất hoàn.

Tức là vị mà thực hành được những điều nãy giờ nói, một là chứng A La Hán, chánh trí ngay trong hiện tại. Còn hai, nếu mà còn sót lại phiền não là Bất hoàn tức là bất lai, sẽ cư trú ở tịnh cư thiên, không trở lại thế giới này nữa, từ chỗ đó nhập Niết Bàn. 

Nguyện đem công đức này, hướng về khắp tất cả đệ tử và chúng sanh đều trọn thành Phật đạo.