Pháp Đàm - Nước Mắt Hạnh Phúc- Hộ Trì Ý Căn & Nhận Diện Thâm Sâu- Uẩn Nào Quan Trọng Nhất
Pháp Đàm Nikāya
Nước Mắt Hạnh Phúc
Hộ Trì Ý Căn & Nhận Diện Thâm Sâu
Uẩn Nào Quan Trọng Nhất
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Tâm từ - chào đón Phật tử PAGEREF _Toc182930408 \h 1
II. Chia sẻ - trình pháp PAGEREF _Toc182930409 \h 1
III. Hộ trì Ý căn PAGEREF _Toc182930410 \h 6
IV. Cảm giác toàn thân PAGEREF _Toc182930411 \h 10
V. Ngũ uẩn PAGEREF _Toc182930412 \h 14
I. Tâm từ - chào đón Phật tử
Sư Phụ: Cảm nhận hơi thở, cảm nhận cơ thể, cảm giác toàn thân, cảm nhận không gian nơi này, cảm nhận vùng đất này, trời đất này. Cảm nhận tâm thương rộng lớn, rõ biết tâm thương rộng lớn, thương mình thật nhiều, thương những cảm giác vô minh của mình, những cảm giác tham dục, sân hận, thương những cảm giác ngu si, bản ngã, ta đây. Thương mình thật nhiều, thương những người thân thương cũng đau khổ giống như mình, cũng dục, ái, tham, sân, si vô minh, bản ngã giống như mình.
Tâm thương này rộng lớn, trải rộng cùng khắp muôn nơi, trong tâm thương rộng lớn này nguyện tự thân mình nhiếp phục tham, sân, si, diệt tận bản ngã, vô minh, nguyện tất cả hữu tình chúng sanh cũng nhiếp phục tham, sân, si, tẩy sạch vô minh, bản ngã, nguyện tất cả đều được bình an, an lạc, hạnh phúc. Trong tâm thương rộng lớn này nguyện cho tất cả hữu tình chúng sanh đều được bình an, an lạc. Trong tâm thương rộng lớn này nguyện cho tự thân mình và tất cả hữu tình chúng sanh đều được bình an, an lạc và hạnh phúc.
Đảnh lễ Đức Thế Tôn bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác.
Đảnh lễ giáo pháp ly tham tối thượng giải thoát.
Đảnh lễ bốn đôi tám chúng hiền Thánh Tăng là ruộng phước vô thượng ở trên đời.
Kính thưa các bậc hiền trí Tăng Ni và quý Phật tử, hôm nay có nhân duyên các vị Phật tử từ Cà Mau rất xa xôi, đi về trên 1000 cây số với cả một tấm lòng chân thành trở về núi rừng này tu học cũng như thiết lễ cúng dường trai Tăng, cho nên con có buổi pháp đàm để quý Phật tử chia sẻ tâm tư, trình bày sự tu học của mình cũng như trình pháp để quý vị giải bày những nghi vấn hay những lợi lạc trong thời gian thực hành vừa qua. Mời tất cả quý Phật tử mở lòng, trải tâm mình ra để chia sẻ.
II. Chia sẻ - trình pháp
Phật tử 1: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Con kính trên sư phụ cùng Tăng Ni và quý Phật tử hiền thiện nơi đây. Thật là đầy đủ duyên lành chúng con trở về ngôi nhà của Linh Quy Pháp Ấn, một niềm cảm xúc dâng trào khi chúng con được trở về mái nhà chung, một niềm hạnh phúc vỡ òa, chúng con thật sự hạnh phúc, chúng con hạnh phúc vô bờ bến mà gần một năm qua chúng con mới được trở về, mới được cảm nhận suối nguồn hạnh phúc này.
Khi chúng con vừa đặt chân đến ngôi chùa Linh Quy Pháp Ấn có một cảm xúc dạt dào, chúng con được ngồi trên tảng đá với bóng tre mát, một không gian tĩnh lặng, chúng con hòa vào không gian yên bình mà chúng con đã khát ngưỡng gần một năm qua. Chúng con khao khát và mong muốn được trở về mái nhà chung và hôm nay đã trở thành hiện thực, chúng con vỡ òa trong hạnh phúc, không có ngôn ngữ nào có thể nói hết được.
Chúng con ngồi trên tảng đá, trên bờ trên dưới cơn gió mát lạnh, sự thanh tịnh nơi đây làm lòng chúng con ấm lại. Chúng con như những đứa con lạc loài được trở về nên hạnh phúc, chúng con chỉ ngồi trong tĩnh lặng và cảm nhận vùng đất, một niềm cảm ơn sâu sắc, không gian như hòa điệu và tĩnh lặng. Chúng con nhìn thấy chiếc lá rơi và thầm cảm ơn chiếc lá khi hiện hữu trên cõi đời này đã làm hết sứ mạng của nó, trao tặng bầu dưỡng khí cho muôn loài và chiếc lá rơi cũng nhắc cho chúng con sự vô thường.
Chúng con cảm ơn vì học được rất nhiều từ thiên nhiên, sự hiện hữu của chiếc lá làm chúng con biết ơn sâu sắc và nhờ cảnh chiếc lá rụng nhắc chúng con sự vô thường không bao giờ báo trước. Ngày hôm nay chúng con được trở về với Linh Quy, trở về với suối nguồn của hạnh phúc để được hòa vào không khí đại chúng để tu học, lắng nghe lời dạy của sư phụ cùng quý thầy. Chúng con nguyện cố gắng tinh tấn tu học trong những ngày chúng con được diễm phúc ở Linh Quy Pháp Ấn, mái nhà chung mà chúng con được trở về lần thứ hai, chúng con thật sự xúc động. Chúng con xin kính gửi lòng biết ơn này đến với sư phụ, đến với toàn thể quý thầy, quý cô cùng đạo tràng Nikāya. Đó là dòng cảm xúc khi con được trở về Linh Quy. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Phật tử 2: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Con kính bạch sư phụ, con kính bạch quý thầy cô cùng toàn thể đại chúng. Hôm nay con trở về Linh Quy Pháp Ấn ôn lại những lời pháp mà thầy giảng dạy cho con, lúc nào con cũng quán sự vô thường, sự chết, sự khổ, lúc nào nghe pháp con cũng quán như vậy. Khi vô thường đến gia đình con thì con cảm nhận được sự vô thường bất chợt, đột ngột đó, lúc nào con với ba cũng nói về Phật pháp, đều nói sự chết, sự vô thường đột ngột đến với ba, ba thường chuẩn bị tâm lý, lúc nào ba cũng nhận diện ngũ uẩn, biết giữ gìn năm giới, con rất hạnh phúc. Khi biết được dòng pháp Nikāya này thì con nói với ba "cảm giác này là khổ nè ba", "xác thân này cũng là khổ nè ba ơi", ba con đi làm tối ngày, con nói "xác thân này là vô thường, là khổ", "cảm giác này là vô thường, là khổ", buổi tối ba về có những suy nghĩ thì con cũng nói là "khổ nè ba ơi, ba hãy nhàm chán nó đi, nó là vô thường, là biến đổi, cái này không phải của ta, ba hãy từ bỏ nó đi".
Lần nào cũng nói như vậy nhưng khi vô thường đến bất chợt, con lúc nào cũng nghe thầy giảng hãy nhìn vào thọ nhưng khi nó đến đột ngột, cái chết của ba xuất hiện thì con nhìn lại cảm thọ của mình thì con cảm thấy rất bình thường, không có gì là bất chợt hết vì ngày nào con cũng quán vô thường, quán cái chết. Tất cả ai cũng khóc lóc nhưng con rất bình tĩnh nhìn lại cái thọ của mình, con còn nói với ba "chết là thân tứ đại rã rời nên đau lắm nha ba, ba hãy chuẩn bị tâm lý nha".
Ba con biết nó là tứ đại, sắc là khổ, cảm giác là khổ, là vô thường, không có gì là của ta, con thấy Phật pháp rất nhiệm màu đối với con, lòng tin của con đối với chánh pháp ngày càng sâu, sự nhàm chán đối với con ngày càng nhiều lên, con muốn từ bỏ ngũ uẩn này. Ba con lúc nào cũng gần gũi nhau để nói từ bỏ ngũ uẩn, trong cảm giác của con lúc đó có sự nhàm chán, rời xa, ngay đó không có tham, không có bản ngã, tất cả đều lắng dịu. Con xin tri ân đến thầy đã dạy con, nếu không có thầy con sẽ không biết được tham, sân, si, bản ngã của mình, nếu không có thầy con không biết đó là sắc, đó là thọ, đó là tưởng, đó là hành, đó là thức, nếu không có thầy con không biết sự từ bỏ ngũ uẩn là như thế nào.
Con rất tri ân đến thầy, không có thầy con không biết tại sao con đọa địa ngục, không có thầy con không biết tại sao con làm ngạ quỷ, súc sanh, không có thầy con không biết nhận diện ngũ uẩn này, trong thân tâm con rất tri ân đến thầy mặc dù con ở thật xa nhưng lúc nào cũng hướng đến thầy. Con giống như một đứa bé, con cần có một đôi cánh che chở cho chúng con, xin thầy hãy dạy chúng con, quở mắng chúng con vì chúng con rất thèm khát được thầy la rầy. Con xin tri ân thầy, xin thầy dạy dỗ cho chúng con.
Sư cô 1: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Kính bạch trên sư phụ , kính bạch trên sư thầy, quý sư cô cùng thể đại chúng. Con pháp danh Huệ Lý, con ở tại Quảng Trị, con được sự cho phép của sư phụ hôm nay con được lên Linh Quy Pháp Ấn để cùng đại chúng tu học. Khi đặt chân đến đây con rất xúc động vì con đi tu mấy chục năm nay rồi mà con không tìm ra được chính mình cho đến khi con được nghe pháp của sư phụ giảng về thừa tự pháp, không thừa tự vật chất. Sau đó con tìm tiếp những bài pháp của thầy trong bộ kinh Nikāya mà thầy dạy tại Trung cấp Phật học, hằng ngày con đều mở lên nghe và con đã biết đến thầy, từ từ con biết đến Linh Quy Pháp Ấn.
Hôm nay nhân duyên thuận lợi con đã về đến đây, con xin tri ân trên thầy đã cho phép con về đây, con tri ân trên sư phụ đã cho phép con về đây, con tri ân trên quý thầy đã dẫn dắt con và con xin tri ân trên quý sư cô cùng đại chúng. Con đi tu được 23 năm rồi nhưng càng tu con thấy mình càng dữ thêm, càng xấu xa thêm vì bản ngã quá lớn. Khi con được nghe pháp của thầy và con cũng học để nhìn rõ ngũ uẩn để sửa mình, hôm nay con đến đây ngưỡng mong trên sư phụ, trên quý thầy, trên quý sư cô cùng toàn thể đại chúng thương xót cho con, dẫn dắt con để con được tắm mình trong dòng Thánh pháp này để tương lai con đem theo được một cái gì đó khi xuống núi.
Sư Phụ: Cô cảm nhận được gì từ khi học pháp này ạ?
Sư cô 1: Dạ, bạch sư phụ khi con theo các bài pháp của sư phụ thì con nhìn rõ được ngũ uẩn, nhiều khi con đau thì con nghe sư phụ dạy thân này là vô thường, sắc này là vô thường, thọ này vô thường, tưởng này vô thường, hành này vô thường, thức này vô thường, mình phải đưa tâm mình ra khỏi thân này nên mỗi khi con đau con nghe lời sư phụ dạy thì con cũng nói tất cả đều là vô thường, không theo cái thân này thì con thấy cơn đau của con dịu xuống, con cũng gặt hái được rất nhiều trong lời dạy của sư phụ. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Sư Phụ:
Thân trống rỗng không ai trong đó
Chỉ có tim gan, máu, thịt xương
Phủ ngoài mỗi lớp da trơn láng
Che hết vô vàn thứ nhớp nhơ.
Phật tử 3: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Con kính bạch sư phụ, con kính bạch quý thầy, quý sư cô cùng các bạn đồng tu. Hôm nay con được đầy đủ duyên lành về Linh Quy Pháp Ấn lần thứ hai, là chỗ con có tình thương, nhờ sư phụ mà con hiểu được trong sự tu hành của con hai mươi mấy năm con cũng tầm sư học đạo, con cũng theo Phật pháp tu hành để tìm con đường giải thoát nhưng trong hai mươi năm đó con không biết ngũ uẩn, tham, sân, si cứ nằm trong lòng con, lúc nào cũng sân si nên con mới nghĩ tại sao tu mà cứ sân hoài, con còn chấp, con buồn, khổ đau.
Nhờ con đủ nhân duyên có thầy Thiện Huệ chỉ dẫn con vào con đường tu học của kinh Nikāya này mà con nhận ra được ngũ uẩn, bấy lâu nay nó làm con đau khổ vì con sống trong cố chấp, vô minh mà con không hiểu biết gì. Nhưng hôm nay con học được kinh này con xúc động vô cùng, con cũng có xấu hổ trong đó và cũng có hạnh phúc khi học kinh thầy giảng dạy cho con để con tìm ra lối thoát khổ đau, sanh tử cho nên con rất xúc động.
Nhờ pháp tu thầy dẫn dắt mà con bớt đi sự đau khổ, sự phiền não và con được sống trong ngôi nhà tình thương của Phật pháp, của thầy và con cũng biết thương yêu mọi người, còn những người làm cho con đau khổ thì con vẫn thương. Con cố gắng tu theo pháp môn này, con tìm hiểu sâu vào Phật pháp để sửa đổi tâm tính, bớt đi tham, sân, si, phiền não, khổ đau. Con về dưới mái chùa Linh Quy Pháp Ấn con thấy xúc động vô cùng, thấy an lạc, hạnh phúc, được sống trong yên tịnh, lắng dịu, yên vui và hạnh phúc, bên cạnh đó còn có sư phụ, có quý thầy, quý cô và bạn đồng tu dìu dắt, nhắc nhở con trên bước đường tu học. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Phật tử 4: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Con kính bạch trên sư phụ, con kính bạch trên chư Tăng, chư Ni và toàn thể đại chúng. Trong quá trình tu tập con đối duyên xúc cảnh thì con hộ trì các căn mắt; tai; mũi; lưỡi; thân thì nó có hình tướng, con có thể nhiếp phục nhưng đến khi hộ trì ý thì con gặp rất nhiều khó khăn vì nó vô hình vô tướng. Trong quá trình tu tập thì con xa thầy, xa đạo tràng nên khi có thắc mắc cũng không biết trình hỏi như thế nào, hôm nay đủ duyên lành con trở về Linh Quy được gặp sư phụ, con xin sư phụ chỉ dạy thêm cho con. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
III. Hộ trì Ý căn
Sư Phụ: Con mắt, lỗ tai, lỗ mũi, cái miệng, tấm thân thì có hình tướng, dù sao mình cũng dễ quản lý, dễ kiểm soát, dễ dò xét, dễ thu nhiếp, dễ phòng hộ, bảo vệ nhưng nói dễ là đối với người tu giỏi chứ thật ra cũng không phải là dễ. Nhiều khi nói đã rồi mới hay, lúc nói lại quá lời cho nên trong sự tu tập Đức Phật dạy có ba pháp đi đến Niết-bàn, đó là hộ trì căn, tiết độ trong ăn uống và chánh niệm tỉnh giác, ba pháp đó sẽ đưa mình đi gần đến Niết-bàn. Trong hộ trì căn tức là giữ gìn mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý thì cái ý là không có hình tướng và nó rất nhanh. Làm sao để có thể hộ trì ý, làm sao để thu nhiếp tâm ý?
Thói quen của người thông thường không biết tu hoặc không siêng năng tu tập là hướng ngoại, mắt lúc nào cũng tìm sắc để nhìn, lỗ tai lúc nào cũng tìm nghe âm thanh, lỗ mũi dùng để ngửi, cái lưỡi để nếm vị, cái thân muốn xúc chạm, đó là chạy theo năm đối tượng ngoại trần. Cái ý bên trong là lúc nào cũng nghĩ ngợi lung tung theo năm thứ đó, cái tâm ý đó là tâm ý hướng ngoại, còn phương pháp nhận diện ngũ uẩn mà chúng ta đang thực hành chính là nội quán cho nên người tu khá, tu giỏi, tu sâu, tu tiến là người thường xuyên nhận diện ngũ uẩn. Nếu nhìn ra ngoài thì không thể nhận diện được ngũ uẩn, mình cứ nhìn núi đẹp, mây bay, chím hót líu lo thì tuy là cảnh thanh chứ không phải là trược nhưng cứ nhìn ra ngoài thì đó vẫn là tâm hướng ngoại, bị cảnh sắc làm cho mình ái luyến.
Bây giờ sự tu của mình là quay lại nhìn thọ; tưởng; hành, xem lúc đó có cảm giác gì, trong tâm có hình bóng gì, lúc đó có suy nghĩ gì, mình cứ tập cho quen nội quán, nội chiếu, nội tỉnh, tập nhìn thọ; tưởng; hành trong mọi lúc mọi nơi. Ngoài việc giữ gìn mắt; tai; mũi; lưỡi; thân rồi thì còn phải tập giữ thọ; tưởng; hành bất thiện, mình phải chặn đứng nó lại, đạp thắng nó lại, rà thắng lại. Đức Phật nói tâm ý này còn nhanh hơn thần thông chư thiên, nhanh hơn tốc độ ánh sáng, rất mau lẹ cho nên một người chịu khó thường xuyên nhìn vào thọ; tưởng; hành thì người này mới có thể nhiếp phục, phòng hộ, bảo vệ, chế ngự được tâm ý.
Điều đầu tiên là phải để ý vào trong nội tâm, đó là cái quan trọng nhất cho nên tại sao thiền quán mà lại xúc cảm chấn động thân tâm thì người đó phải để ý thân tâm rất nhiều, còn nếu nhìn ra ngoài để ý ngôn từ, xem biểu cảm của người này người kia thì người này sẽ không có cảm xúc trong cảm thọ. Người thường có được những cảm thọ chấn động, kinh chấn, lông tóc dựng đứng, nước mắt đầy mặt thì người đó phải để ý vào bên trong, cho nên sự tu này hơn nhau ở chỗ để ý vào bên trong, đó là một trong những bí quyết của sự tu, còn không để ý vào trong thì tu không tiến, có tiến cũng rất ít và chậm chứ không tiến sâu tiến mau.
Người thường để ý vào bên trong không chỉ là giờ ngồi thiền để ý cảm giác, nghĩ tưởng mà trong khi thấy, khi nghe, khi ngửi, khi nếm, khi xúc cũng đều để ý xem cảm thọ đó thuộc về dục, tham, ái hay cảm thọ đó thuộc về sân hận hay thuộc về ganh tỵ, ta đây, hơn thua. Sau khi để ý thì mình mới thấy, thấy dơ chỗ nào rồi mình chùi chỗ đó, điều này con đã giảng trong bài "soi gương rửa mặt", nghĩa là người tu là người lúc nào cũng phải soi gương nhưng đây không phải là tấm gương bên ngoài mà là cái gương tâm, tức là hồi quang phản chiếu. Hồi quang tức là thay vì đem ánh sáng phóng ra bên ngoài thì đưa ngược ánh sáng đó vào trong, phản chiếu là soi rọi trở lại, cũng như khi vào bệnh viện nội soi sẽ đưa dụng cụ vào trong để soi rọi chỗ có bệnh, phát hiện ra bệnh thế nào, bệnh ở đâu.
Cho nên đầu tiên phải để ý vào bên trong, tức là soi gương, kế đó nhìn kĩ vào trong mới thấy cái bóng trong gương, tuy là soi gương nhưng nếu không nhìn kĩ vẫn không thấy hết những cái dơ bẩn trên mặt mũi mình vì thế có người soi gương nhưng chỉ nhìn phớt qua nên chỉ thấy vết dơ lớn còn vết dơ nhỏ không thấy, những vết bụi bặm trong khóe, trong hốc nhìn không thấy được. Đi ngoài đường bụi bặm thì mình lau cái mặt thôi mà mình không biết rằng bụi bặm còn dính trong các hốc kẽ, trong lỗ mũi nữa.
Vì thế người kĩ không những lấy khăn lau mặt mà còn đưa vào trong mũi chùi mới thấy dấu đen, sự nhận diện ngũ uẩn rất tinh tế, không phải chỉ biết sắc; thọ; tưởng; hành; thức là xong mà còn nhìn ra được tham, sân, si, bản ngã, chẳng những nhìn ra được tham, sân, si, bản ngã mà còn thấy nó theo chiều hướng nào, khía cạnh nào, góc độ nào, còn nhìn ra được nó là thô hay tế, nhìn ra được nguyên nhân sanh diệt, tại sao sanh khởi ra cảm giác này. Cho nên sự nhận diện ngũ uẩn cần phải để tâm, dốc lòng, cần có sự sâu sắc, tế nhị trong trí tuệ đó.
Sau khi có sự để tâm, để ý, phòng hộ, chế ngự thì mình sẽ có những phương pháp xử lý thích hợp, hiệu quả để lau chùi rác bẩn, không những lau chùi sạch bên ngoài mà còn chùi sạch trong hốc kẹt sâu kín. Không những dơ mặt, dơ mũi mà còn dơ trong vành tai, lỗ tai cho nên phải đưa khăn lên chùi trong những chỗ đó, thậm chí phải dùng bông ngoái tai thấm ít nước để ngoái cho sạch tai, thậm chí dính trong miệng phải đi súc miệng hoặc dính trong lỗ chân lông. Đó là chỉ đi ra ngoài dính một chút bụi đã vậy thì huống hồ gì cái tâm vô minh này, cái tâm tham dục, khát ái này, cái tâm chấp ngã, hơn thua, ganh tỵ, tật đố, tranh giành đã huân tập trong vô lượng vô biên kiếp rồi cho nên rất cần để tâm trong nhận diện ngũ uẩn.
Đến giờ phút này nhận diện ngũ uẩn mà mình nhận diện sơ sài thì chứng tỏ mình không để tâm trong tu học thâm sâu, quý thầy, quý cô và các vị tập sự xuất gia phải để ý cái này thật kĩ. Tu 3 năm, 5 năm trong dòng pháp này mà nhận diện ngũ uẩn bình thường như người mới học thì đó là sự dậm chân tại chỗ, không có tiến bộ sâu sắc vì thế cần phải quay lại nhìn cảm giác để xem đang có gì, tâm mình đang có hình bóng gì, đang có suy nghĩ gì, suy nghĩ này thiện hay bất thiện, suy nghĩ này tham hay ly tham, suy nghĩ này sân hay ly sân, suy nghĩ này vô minh hay tương ưng với Thánh trí.
Sau khi đã phân loại được suy nghĩ trắng hay đen, thiện hay ác, phàm tình hay Thánh trí thì mình mới xử lý. Nếu là đen thì phải lau chùi, tẩy rửa, nếu là trắng thì làm cho lớn mạnh, nếu đang có tâm từ dào dạt thì mình biết mình đang có một cảm thọ của tâm từ, tâm thương rộng lớn và làm cho tâm thương này rộng lớn lên thêm, vững chắc lên thêm, kiên cố lên thêm thành cỗ xe, thành căn cứ địa cho đến khi tâm từ của mình vững chắc như núi. Trong kinh Đức Phật nói với các Tỳ-kheo nếu một người dùng cây cưa cưa các ông ra mà các ông khởi tâm sân là các ông chưa thực hành đúng giáo pháp của ta, không làm đúng theo lời dạy của chư Phật.
"Chư Tỳ-kheo, như những kẻ đạo tặc hạ liệt, dùng cưa hai lưỡi mà cưa tay, cưa chân; dầu vậy, nếu một ai ở đây khởi ý nhiễm loạn, người ấy do vậy không phải là người thực hành giáo pháp của Ta. Ở đây, chư Tỳ-kheo các Ông phải học tập như sau: 'Chúng ta sẽ giữ tâm của chúng ta không biến nhiễm; chúng ta sẽ không thốt ra những lời ác ngữ; chúng ta sẽ sống với lòng lân mẫn, với tâm từ bi, với nội tâm không sân hận. Chúng ta sẽ sống bao phủ người này với tâm câu hữu với từ. Và với người này là đối tượng, ta sống biến mãn cùng khắp thế giới với tâm câu hữu với từ, quảng đại, vô biên, không hận, không sân'. Chư Tỳ-kheo, các Ông cần phải học tập như vậy." (Trung Bộ Kinh, 21. Kinh Ví dụ cái cưa)
Một người tu tâm đến mức như vậy thì tâm từ của họ sẽ như thế nào? Còn mình mới tu được chút đỉnh đã tự cao "tôi tu tâm từ được rồi đó", thành ra đó là chỗ thất bại của mình. Chỗ thâm sâu trong pháp hành là luôn luôn nhìn thọ; tưởng; hành, khi nãy sư cô quỳ lạy mà nếu không biết quán chiếu thì ngồi đó nhận cái lạy và cho rằng "tôi là người được lạy, còn người kia lạy tôi", đây là chỗ thất bại cho nên con mới đọc bài quán thân trống rỗng, không ai trong đó để từ bỏ ý tưởng mình là người được lạy, nếu có ý tưởng đó thì được lạy nhiều bản ngã sẽ càng ngày càng cao giống như cô trình pháp tu một thời gian lại thấy cái ta mình lớn lên, cái ngã mạn càng nhiều hơn là do mình không nhìn vô để thấy lúc đó đang có cảm thọ gì, nếu có bản ngã thì diệt là đúng rồi nhưng nếu nhìn vào thấy im cũng phải diệt chứ không phải thấy im là hết bản ngã. Im ru là do mình không thấy hết, nhiều khi lạc thọ vi tế mình không thấy được cho nên phương phác tác ý là vô cùng quan trọng trong sự tu.
Do mình không thấy thọ; tưởng; hành, do mình không thấy ngũ uẩn cho nên mình cứ để tâm mình trơ trơ, nghĩ rằng mình không có sân, không có tham, sân, si gì cả, đây là Niết-bàn rồi, như vậy thì hết sức nguy hiểm vì mầm móng còn ngủ ngầm y nguyên trong đó, con rắn hổ mang nằm im đó nhưng không phải là không có nó, đạp trúng là nọc độc phun ra mình sẽ mất mạng. Trong tâm chúng ta có ba con rắn độc còn hơn hổ mang chúa nữa chính là tam độc tham, sân, si, đầu tiên mình phải nhiếp phục những cái thô bạo của nó, từ từ nhiếp phục, tẩy sạch những cái tế, sau đó là diệt tận không còn nữa nhưng muốn vậy phải để tâm vào thọ; tưởng; hành rất nhiều.
Phải xem cái thọ lúc đó như thế nào, mình có an trú cảm giác toàn thân trong bước đi không, nếu không để ý thì có tu mấy chục năm cũng đi lăng xăng, cũng buông lung phóng dật. Trong khi làm việc phải xem mình làm với cái thọ gì, với cái tưởng, cái hành gì, trong khi nói chuyện thì có nói với tâm khiêm cung, tâm khiêm nhường từ ái không hay ra vẻ ta đây, đàn anh đàn chị. Chính chỗ đó là chỗ tu tập, là chỗ huấn luyện tâm, rèn luyện tâm, chính chỗ đó là chỗ nhiếp phục, chế ngự từ từ những cái thô.
Khi ngồi thiền thì đẹp, ngồi nghe pháp thì trang nghiêm, tụng kinh cũng chí thành nhưng khi trở ra làm việc thì không làm chung với ai được. Tại sao vậy? Vì lúc đó mình không nhìn thọ; tưởng; hành của mình, mình không nhìn ý hành, không nhìn cảm thọ của mình cho nên phát ra khẩu hành, thân hành hoàn toàn không tương ứng với pháp vì thế cần để ý thật kĩ cảm thọ của mình, để ý cảm thọ tham, sân, si, để ý cảm thọ bản ngã, để ý cảm thọ buông lung phóng dật đó.
IV. Cảm giác toàn thân
Sư cô 1 (Huệ Lý): Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Con kính bạch trên sư phụ cho con hỏi 1 câu, khi con ngồi thiền thì tưởng và hành của con hoạt động rất mạnh, con xin trên sư phụ chỉ dạy cho con làm sao để nhiếp phục. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Sư Phụ: Phương pháp thực tập cảm giác toàn thân là tuyệt đối quan trọng không những trong lúc ngồi thiền mà cả khi mình ra ngoài sinh hoạt, nếu không nắm vững pháp học thì khi vào pháp hành sẽ thực hành không được hoặc thực hành hời hợt, qua loa cho nên phương pháp toàn thân phải chỉ dạy tường tận, thậm chí phải chỉ dạy liên tục suốt 7 ngày hoặc nhiều hơn càng tốt. Vì khi không an trú trong cảm giác toàn thân thì tâm mình đi rong chơi, không biết làm gì cả mà nhảy lung tung trong những hình bóng, suy nghĩ, cảm giác.
Còn khi mình an trú cảm giác toàn thân là quay về nội tâm, khi có mình có việc để làm không còn rong chơi nữa, một người thất nghiệp là ở không, làm này làm kia, đi đây đi đó, còn người có công việc thì không có thời gian nói chuyện người này người nọ. Cũng vậy, khi mình an trú cảm giác toàn thân là mình có công việc để tâm làm, an trú cảm giác toàn thân là mình quay trở về giây phút hiện tại, gọi là quay về thực tại. Thực tại nghĩa là sự thật ngay trong giây phút hiện tại là mình đang có cái thân, thân đó đang có những cảm thọ gì trên thân mình phải cảm nhận được, phải biết được.
Như vậy khi mình quay về giây phút hiện tại đó thì tâm mình sẽ làm công việc đó, không có thời gian để lang thang và định tâm trên thân là một cái định của các bậc Thánh, trong Nikāya thì các Tỳ-kheo thời Đức Phật ai cũng thực tập cảm giác toàn thân, đó là pháp hành xuyên suốt của chư vị Tỳ-kheo thời Đức Phật còn tại thế cho nên chúng ta phải nghe thật kĩ và thực tập nhuần nhuyễn mới được.
Khi thực tập được cảm giác toàn thân sẽ mang lại rất nhiều lợi ích, tự động buông lung phóng dật sẽ được thu nhiếp, mình không cần cố gắng kiềm chế mà tự động sẽ niệm oai nghi, niệm hành động, tự động sẽ có phong thái ung dung, thư thái, thong thả, chánh niệm khi an trú cảm giác toàn thân. Chỉ cần nhìn một người đi, đứng, ngồi, nằm thì mình sẽ biết được người đó có tu tập an trú cảm giác toàn thân hay không. Thành ra, khi tu tập cảm giác toàn thân không chỉ là cảm giác toàn thân mà còn lợi lạc về oai nghi, về Thân Hành Niệm, về định, làm cho tâm lắng dịu. Điều tiếp theo sư cô cần nhớ là phải niệm "an tịnh, lắng dịu", niệm tâm mình thường xuyên như vậy giống như mấy đứa con nít quậy quá thì mình kêu nó ngoan, ngồi yên đi. Dạy tâm mình, dạy tưởng, hành của mình an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, phải kiên trì, siêng năng dạy tâm giống như mình kiên trì dạy con thì con sẽ ngoan. Từ vô lượng vô biên kiếp mình không biết nó là ngũ uẩn thì làm sao mình dạy được cho nên nó vô giáo dục từ vô lượng vô biên kiếp rồi, Đức Phật gọi là tâm hoang vu, tâm rừng rú, tâm hoang dã vì thế cần dọn dẹp nó từ từ, mình phải tu học nhiều thì mình mới thấy được tâm hoang vu này, mình mới làm cỏ, chặt cây gai, dây leo độc trong đó.
Mẹ nhớ niệm thầm trong tự tâm.
Niệm “Bỏ hết đi, cảnh vô thường!”
Niệm “Tâm lặng yên, tâm dễ chịu!”
Niệm “Ngũ uẩn này, không phải ta”
Nó quậy thì mình kêu nó yên, tùy theo bệnh mà có thuốc trị tương ứng, bây giờ đi sâu thêm mức độ nữa là phân loại rác. Mình thường có những hình bóng, suy nghĩ nhưng mình phải phân loại xem những hình bóng, suy nghĩ này thuộc về loại nào, nếu là dục, tham, ái thì quán bất tịnh, quán ung nhọt, quán ba mươi hai thể trược, quán chín giai đoạn của một tử thi. Nếu quậy về sự bực bội, phẫn nộ, sân hận thì phải niệm tâm từ, tâm hiền, tâm thương, mình tu học rất rõ ràng chứ không có chung chung.
Nếu thuộc về hơn thua, tranh giành, tranh đấu thì phải dạy tâm hòa kính, tâm biết ơn đối với những người hay kiếm chuyện với mình, dạy tâm mình từ nhẫn. Phải tác ý chứ không để yên được cũng không bỏ mặc được, không phó mặc hay mặc kệ nó được, cái nhà mình để mặc kệ thì làm sao sạch, muốn sạch thì phải dọn dẹp. Có nhiều cách dọn dẹp, có cái mình lau, có cái phải chùi, có cái phải dùng thuốc tẩy, đó chính là ba mươi bảy phẩm trợ đạo.
Mình phải xem rác này cần hốt hay quét, cần chùi hay cần tẩy rửa, mình sử dụng thích ứng từng loại trong thọ; tưởng; hành của mình cho nên pháp này rất thiết thực, cụ thể, rành rõ chứ không phải cứ lên đọc rồi cầu xin Phật độ cho mình có được tâm thanh tịnh. Mình phải xem nó thuộc về dục, tham, ai hay sân giận, tức tối hay đây là tâm ganh đua, hơn thua, tranh đấu hoặc là tâm vô minh, tâm lờ đờ không muốn tiến tu, "vầy là bình yên, tu nhiều mệt lắm", có khi nói ra lời nhưng có khi không nói ra mà cứ im im mà im lặng là đồng nghĩa với chấp nhận trạng thái vô minh, trạng thái ngu si, trạng thái bất khổ bất lạc, những trạng thái này cần phải xử lý nó liền.
Phải tập hạnh khiêm cung, khiêm hòa, khiêm tốn, khiêm nhã, phải lạy sám hối diệt ngã, phải quán nùi giẻ rách, quán làm người ăn xin, quán làm người hạ liệt thấp hèn, quán mình trở thành cát bụi, trở thành nùi giẻ để người ta dậm chân, người ta đạp lên, nếu có tâm ganh đua, hơn thua, ganh tỵ thì phải quán như vậy thì mới gọi là uống đúng thuốc. Lỡ như đang ngồi thiền mà buồn ngủ rồi mình cũng im ru tịnh chỉ các hành thì làm sao nhiếp phục được nó, vậy là uống lộn thuốc nên ngồi ngủ luôn.
Khi sụp mí mắt xuống đi vào trạng thái lờ mờ thì mình phải mở mắt lớn lên, cảm thọ mạnh ở trước mặt, cảm thọ mạnh ở con mắt, cảm thọ mạnh không gian ở phía trước rộng lớn, mình quán ánh sáng, mình tác ý "nhà ngươi ngủ 60 năm rồi chưa đã hay sao? Ngủ vô lượng vô biên kiếp rồi chưa đã hay sao? Bây giờ muốn ngủ giấc ngủ ngàn năm hay sao? Ngủ trong bóng tối, ngủ trong si mê, ngủ trong vô minh", phải la rầy, quở mắng, trách mắng để làm cho cảm thọ si ám đó tan biến, con mắt tinh minh lên, sáng tỏ lên, con mắt như vậy mới chiến đấu lại con ma ngủ cho nên mỗi bệnh sẽ có phương thuốc tương ứng, phù hợp để trị cho hết.
Không phải học được một chút đã cho là biết rồi vào tu một mình thì đó là tu trong vô minh, tu trong bản ngã, tu trong phàm tình, khi chưa học đầy đủ pháp học thì mình thực hành sẽ không viên mãn. Đó là si mê, vô minh của cấp độ thô thiển nhất, còn si mê, vô minh ở cấp độ tế là khi thấy cảnh đẹp mình có lạc thọ, chuyện này rất bình thường nhưng cái tu sâu sắc không được phép như vậy vì như vậy là thấy có một cái "tôi" thưởng thức cảnh đẹp, vậy là ái sanh, sự yêu thích sanh khởi, mình hoan hỉ trong các hành, mình vui, mình thích, đây là mức độ sâu sắc cho các vị xuất gia và các vị cư sĩ cũng nên thực tập. Đó cũng là vô minh, tham ái, phải nhìn thấy những thứ này là thứ sanh diệt, tan nát, hủy hoại, bại hoại, không có gì đáng ưa, đáng thích, đáng dính mắc trong này, tác ý như vậy để từ bỏ, thoát ra cảm thọ đó.
Tâm mình cực kì nhạy, đang ngồi như vầy nhưng bỗng nhiên có tiếng ho mạnh hoặc tiếng điện thoại reng lên là thấy khó chịu liền, còn người nào nói thấy bình thường là tại vì người đó không để ý thọ; tưởng; hành cho nên không thấy lúc đó khó chịu. Vì thế nếu không quay trở lại để phòng hộ, để soi chiếu để có những phương pháp xử lý thì cứ đi theo chiều hướng đó mãi thôi, càng ngày càng lớn mạnh trong dục, ái, tham, sân, si, vô minh, bản ngã của nó.
V. Ngũ uẩn
Chú Linh nhận diện ngũ uẩn trong giờ phút này. Chú này mới lên núi lần đầu tiên, cũng mới tiếp xúc với pháp lần đầu tiên.
Chú Linh: Trước tiên con cảm ơn thầy rất là nhiều đã cho con ở đây và được học theo Phật pháp Nikāya. Con xin thực hành nhận diện ngũ uẩn và sau đó con có hai câu hỏi cho thầy.
Đầu tiên sắc là con đang đứng ở đây nói chuyện chia sẻ với mọi người, thứ hai là thọ thì cảm giác bây giờ của con rất là dễ chịu, hạnh phúc và vui vẻ. Thứ ba là tưởng thì hiện tại hình bóng có bốn người, thứ nhất là thầy, mẹ con, bố con và cuối cùng là cô bạn gái cũ của con. Còn hành là suy nghĩ thì con nghĩ học thêm được Phật pháp Nikaya để biết được rằng đây là nguồn gốc của tham, sân, si và dựa vào những yếu tố của ngũ uẩn này thì xuống núi mình có thể nhìn sâu trong tâm mình hơn để mình giải quyết những vấn đề mình gặp phải, đặc biệt là mình phải chia sẻ sự yêu thương của mình.
Sư Phụ: Đã thuộc định nghĩa ngũ uẩn chưa?
Chú Linh: Dạ, con thuộc được 2/3 rồi ạ. Sắc là thân người, thọ là cảm giác, tưởng là hình bóng trong tâm, hành là những suy nghĩ của mình, thức là những gì mình rõ biết được.
Sư Phụ: Nhận diện thức hiện tại ra sao?
Chú Linh: Dạ, hiện tại thầy đang ngồi trên đó và con đang chia sẻ cảm xúc của mình cho thầy và mọi người đang ngồi đây.
Sư Phụ: Thức là biết được cảm giác, hình bóng, suy nghĩ trong tâm. Nhưng vậy cũng là tốt rồi, vừa học tức thì mà nhận diện được vậy là tốt rồi, ngoài ra cần học thêm những định nghĩa khác về ngũ uẩn.
Chú Linh: Con xin hỏi thầy ạ. Trong Phật pháp Nikāya có ngũ uẩn như thế thì xin thầy chia sẻ là cái uẩn nào là quan trọng nhất. Câu thứ hai là trong cái thọ thì có ba thọ: cảm giác dễ chịu, cảm giác khó chịu và cảm giác không dễ chịu không khó chịu, bây giờ làm thế nào để diệt được cảm giác không dễ chịu cũng không khó chịu. Con cảm ơn thầy và mọi người rất nhiều.
Sư Phụ: Huynh muốn diệt cảm giác không dễ chịu không khó chịu để làm gì? Mục đích là gì?
Chú Linh: Là để trao đi yêu thương.
Sư Phụ: Trong năm uẩn thì uẩn nào quan trọng nhất? Uẩn nào cũng quan trọng vì thiếu đi một uẩn thì mình sẽ không có thân tâm hoàn chỉnh, một con người hoàn chỉnh thì thứ nhất phải có thân tướng, thứ hai phải có cảm giác, thứ ba phải có suy nghĩ, nhận thức thì mới là thân tâm hoàn chỉnh cho nên năm uẩn này thì uẩn nào cũng quan trọng nhưng Đức Phật nói tất cả pháp hội tụ nơi cảm thọ thì chỗ cảm thọ là chỗ tập trung tất cả pháp, quy tụ về đó.
Nhưng lâu lâu mình nghe có người nói "những gì mà tôi đã gặp, tôi đã thấy rồi cũng đi qua, những gì tôi đã biết, đã nhận thức rồi lần lần cũng trở thành dĩ vãng nhưng có những cái tôi cảm nhận thì suốt đời tôi không quên", ngoài đời hay có câu giống ý như vậy, tức là những gì mình thấy rồi cũng qua, mình biết rồi cũng trở thành kỉ niệm nhưng cảm giác lại suốt đời không quên chẳng hạn như cảm giác về người bạn cũ của huynh chẳng hạn, vậy thì chứng tỏ tất cả pháp đều hội tụ trong cảm thọ cho nên khi mình nhớ là nhớ cái đó nhiều nhất, cảm xúc là cảm xúc cái đó nhiều nhất. Từ cảm thọ, cảm xúc, cảm giác mới có theo những hình bóng, những suy nghĩ chạy xung quanh cảm xúc đó và cảm xúc đó là chỗ hội tụ của tất cả các pháp sắc; thọ; tưởng; hành; thức. Cho nên đối với người tu cảm thọ là cái rất quan trọng, tham, sân, si trú ẩn trong cảm giác, cảm thọ, từ, bi, hỷ, xả cũng ở trong cảm thọ.
Làm thế nào để phá được cảm giác đơ đơ, thường thường, đều đều, bình bình, không phải khổ cũng không phải vui? Mình muốn có được cảm thọ thương yêu rộng lớn chứ không phải là tình thương nhỏ hẹp, chiếm hữu riêng tư. Tình thương nhỏ hẹp, chiếm hữu riêng tư đó bản chất của nó là khổ, không thể nào đi tìm hạnh phúc trong tình thương, tình yêu đó được, tìm sai chỗ cho nên mới chạy lên núi này để tìm.
Bản chất của yêu thương, tình ái, chiếm hữu, sở hữu thì bản chất của nó là khổ, trong đống lửa làm sao tìm được cái mát cho nên tất cả chúng sanh đau khổ là vì họ tìm hạnh phúc trong cái đau khổ, đây là bài ca khổ đau liên khúc của hành tinh này, tức là đi tìm hạnh phúc trong cái đau khổ giống như tìm sự mát mẻ trong đống lửa, trong hố than hừng thì làm sao được.
Cho nên tình ái và từ bi khác nhau, huynh mong muốn có được cảm thọ yêu thương rộng lớn tức là có được cảm thọ của tâm từ và muốn được như thế thì phải tu tập cảm thọ, còn tu tập như thế nào thì chúng ta có rất nhiều phương pháp hướng dẫn, đầu tiên phải nhận diện ngũ uẩn, sau đó mới tu tâm hiền, tiếp theo là tu tâm từ, rồi từ tâm từ đó mới đi đến rộng lớn, từ rộng lớn mới đi đến tâm từ vô lượng, chúng ta phải có thời gian tu học thực tập.
Khi đã tu được tâm từ rộng lớn vô lượng thì mình không còn nhìn ông A, bà B, cô C nữa mà mình chỉ nhìn thấy những ngũ uẩn, những đống tham, sân, si, bản ngã đang khổ đau giống như mình cũng đang khổ đau, mình sẽ thấy mình là nạn nhân của tham, sân, si, những người đó, những đối tượng đó, những chúng sanh đó, những hữu tình đó, những ngũ uẩn đó cũng là nạn nhân đau khổ giống như mình và tình thương này là một tình thương đại đồng bình đẳng, thương mình sao thì sẽ thương người kia giống y như vậy vì họ cũng là ngũ uẩn, cũng tham, sân, si, họ cũng vô minh, bản ngã, mình đồng cảm được với họ, mình cảm thông được, mình hiểu thấu được nỗi khổ đau của chúng sanh cũng như thấu hiểu nỗi khổ đau của chính mình thì tình thương bây giờ mới gọi là tình thương rộng lớn của từ tâm. Vì thế trong bài "Từ vô lượng tâm" có câu:
Mỗi người một nỗi khổ,
Mỗi loài một niềm đau,
Xin cùng nhau thấu hiểu
Những đau khổ trong nhau.
Tâm thương này rộng lớn
Cùng khắp thế giới này
Tâm thương này tỏa rộng
Khắp trời đất bao la.
./.
Nước Mắt Hạnh Phúc
Hộ Trì Ý Căn & Nhận Diện Thâm Sâu
Uẩn Nào Quan Trọng Nhất
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Tâm từ - chào đón Phật tử PAGEREF _Toc182930408 \h 1
II. Chia sẻ - trình pháp PAGEREF _Toc182930409 \h 1
III. Hộ trì Ý căn PAGEREF _Toc182930410 \h 6
IV. Cảm giác toàn thân PAGEREF _Toc182930411 \h 10
V. Ngũ uẩn PAGEREF _Toc182930412 \h 14
I. Tâm từ - chào đón Phật tử
Sư Phụ: Cảm nhận hơi thở, cảm nhận cơ thể, cảm giác toàn thân, cảm nhận không gian nơi này, cảm nhận vùng đất này, trời đất này. Cảm nhận tâm thương rộng lớn, rõ biết tâm thương rộng lớn, thương mình thật nhiều, thương những cảm giác vô minh của mình, những cảm giác tham dục, sân hận, thương những cảm giác ngu si, bản ngã, ta đây. Thương mình thật nhiều, thương những người thân thương cũng đau khổ giống như mình, cũng dục, ái, tham, sân, si vô minh, bản ngã giống như mình.
Tâm thương này rộng lớn, trải rộng cùng khắp muôn nơi, trong tâm thương rộng lớn này nguyện tự thân mình nhiếp phục tham, sân, si, diệt tận bản ngã, vô minh, nguyện tất cả hữu tình chúng sanh cũng nhiếp phục tham, sân, si, tẩy sạch vô minh, bản ngã, nguyện tất cả đều được bình an, an lạc, hạnh phúc. Trong tâm thương rộng lớn này nguyện cho tất cả hữu tình chúng sanh đều được bình an, an lạc. Trong tâm thương rộng lớn này nguyện cho tự thân mình và tất cả hữu tình chúng sanh đều được bình an, an lạc và hạnh phúc.
Đảnh lễ Đức Thế Tôn bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác.
Đảnh lễ giáo pháp ly tham tối thượng giải thoát.
Đảnh lễ bốn đôi tám chúng hiền Thánh Tăng là ruộng phước vô thượng ở trên đời.
Kính thưa các bậc hiền trí Tăng Ni và quý Phật tử, hôm nay có nhân duyên các vị Phật tử từ Cà Mau rất xa xôi, đi về trên 1000 cây số với cả một tấm lòng chân thành trở về núi rừng này tu học cũng như thiết lễ cúng dường trai Tăng, cho nên con có buổi pháp đàm để quý Phật tử chia sẻ tâm tư, trình bày sự tu học của mình cũng như trình pháp để quý vị giải bày những nghi vấn hay những lợi lạc trong thời gian thực hành vừa qua. Mời tất cả quý Phật tử mở lòng, trải tâm mình ra để chia sẻ.
II. Chia sẻ - trình pháp
Phật tử 1: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Con kính trên sư phụ cùng Tăng Ni và quý Phật tử hiền thiện nơi đây. Thật là đầy đủ duyên lành chúng con trở về ngôi nhà của Linh Quy Pháp Ấn, một niềm cảm xúc dâng trào khi chúng con được trở về mái nhà chung, một niềm hạnh phúc vỡ òa, chúng con thật sự hạnh phúc, chúng con hạnh phúc vô bờ bến mà gần một năm qua chúng con mới được trở về, mới được cảm nhận suối nguồn hạnh phúc này.
Khi chúng con vừa đặt chân đến ngôi chùa Linh Quy Pháp Ấn có một cảm xúc dạt dào, chúng con được ngồi trên tảng đá với bóng tre mát, một không gian tĩnh lặng, chúng con hòa vào không gian yên bình mà chúng con đã khát ngưỡng gần một năm qua. Chúng con khao khát và mong muốn được trở về mái nhà chung và hôm nay đã trở thành hiện thực, chúng con vỡ òa trong hạnh phúc, không có ngôn ngữ nào có thể nói hết được.
Chúng con ngồi trên tảng đá, trên bờ trên dưới cơn gió mát lạnh, sự thanh tịnh nơi đây làm lòng chúng con ấm lại. Chúng con như những đứa con lạc loài được trở về nên hạnh phúc, chúng con chỉ ngồi trong tĩnh lặng và cảm nhận vùng đất, một niềm cảm ơn sâu sắc, không gian như hòa điệu và tĩnh lặng. Chúng con nhìn thấy chiếc lá rơi và thầm cảm ơn chiếc lá khi hiện hữu trên cõi đời này đã làm hết sứ mạng của nó, trao tặng bầu dưỡng khí cho muôn loài và chiếc lá rơi cũng nhắc cho chúng con sự vô thường.
Chúng con cảm ơn vì học được rất nhiều từ thiên nhiên, sự hiện hữu của chiếc lá làm chúng con biết ơn sâu sắc và nhờ cảnh chiếc lá rụng nhắc chúng con sự vô thường không bao giờ báo trước. Ngày hôm nay chúng con được trở về với Linh Quy, trở về với suối nguồn của hạnh phúc để được hòa vào không khí đại chúng để tu học, lắng nghe lời dạy của sư phụ cùng quý thầy. Chúng con nguyện cố gắng tinh tấn tu học trong những ngày chúng con được diễm phúc ở Linh Quy Pháp Ấn, mái nhà chung mà chúng con được trở về lần thứ hai, chúng con thật sự xúc động. Chúng con xin kính gửi lòng biết ơn này đến với sư phụ, đến với toàn thể quý thầy, quý cô cùng đạo tràng Nikāya. Đó là dòng cảm xúc khi con được trở về Linh Quy. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Phật tử 2: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Con kính bạch sư phụ, con kính bạch quý thầy cô cùng toàn thể đại chúng. Hôm nay con trở về Linh Quy Pháp Ấn ôn lại những lời pháp mà thầy giảng dạy cho con, lúc nào con cũng quán sự vô thường, sự chết, sự khổ, lúc nào nghe pháp con cũng quán như vậy. Khi vô thường đến gia đình con thì con cảm nhận được sự vô thường bất chợt, đột ngột đó, lúc nào con với ba cũng nói về Phật pháp, đều nói sự chết, sự vô thường đột ngột đến với ba, ba thường chuẩn bị tâm lý, lúc nào ba cũng nhận diện ngũ uẩn, biết giữ gìn năm giới, con rất hạnh phúc. Khi biết được dòng pháp Nikāya này thì con nói với ba "cảm giác này là khổ nè ba", "xác thân này cũng là khổ nè ba ơi", ba con đi làm tối ngày, con nói "xác thân này là vô thường, là khổ", "cảm giác này là vô thường, là khổ", buổi tối ba về có những suy nghĩ thì con cũng nói là "khổ nè ba ơi, ba hãy nhàm chán nó đi, nó là vô thường, là biến đổi, cái này không phải của ta, ba hãy từ bỏ nó đi".
Lần nào cũng nói như vậy nhưng khi vô thường đến bất chợt, con lúc nào cũng nghe thầy giảng hãy nhìn vào thọ nhưng khi nó đến đột ngột, cái chết của ba xuất hiện thì con nhìn lại cảm thọ của mình thì con cảm thấy rất bình thường, không có gì là bất chợt hết vì ngày nào con cũng quán vô thường, quán cái chết. Tất cả ai cũng khóc lóc nhưng con rất bình tĩnh nhìn lại cái thọ của mình, con còn nói với ba "chết là thân tứ đại rã rời nên đau lắm nha ba, ba hãy chuẩn bị tâm lý nha".
Ba con biết nó là tứ đại, sắc là khổ, cảm giác là khổ, là vô thường, không có gì là của ta, con thấy Phật pháp rất nhiệm màu đối với con, lòng tin của con đối với chánh pháp ngày càng sâu, sự nhàm chán đối với con ngày càng nhiều lên, con muốn từ bỏ ngũ uẩn này. Ba con lúc nào cũng gần gũi nhau để nói từ bỏ ngũ uẩn, trong cảm giác của con lúc đó có sự nhàm chán, rời xa, ngay đó không có tham, không có bản ngã, tất cả đều lắng dịu. Con xin tri ân đến thầy đã dạy con, nếu không có thầy con sẽ không biết được tham, sân, si, bản ngã của mình, nếu không có thầy con không biết đó là sắc, đó là thọ, đó là tưởng, đó là hành, đó là thức, nếu không có thầy con không biết sự từ bỏ ngũ uẩn là như thế nào.
Con rất tri ân đến thầy, không có thầy con không biết tại sao con đọa địa ngục, không có thầy con không biết tại sao con làm ngạ quỷ, súc sanh, không có thầy con không biết nhận diện ngũ uẩn này, trong thân tâm con rất tri ân đến thầy mặc dù con ở thật xa nhưng lúc nào cũng hướng đến thầy. Con giống như một đứa bé, con cần có một đôi cánh che chở cho chúng con, xin thầy hãy dạy chúng con, quở mắng chúng con vì chúng con rất thèm khát được thầy la rầy. Con xin tri ân thầy, xin thầy dạy dỗ cho chúng con.
Sư cô 1: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Kính bạch trên sư phụ , kính bạch trên sư thầy, quý sư cô cùng thể đại chúng. Con pháp danh Huệ Lý, con ở tại Quảng Trị, con được sự cho phép của sư phụ hôm nay con được lên Linh Quy Pháp Ấn để cùng đại chúng tu học. Khi đặt chân đến đây con rất xúc động vì con đi tu mấy chục năm nay rồi mà con không tìm ra được chính mình cho đến khi con được nghe pháp của sư phụ giảng về thừa tự pháp, không thừa tự vật chất. Sau đó con tìm tiếp những bài pháp của thầy trong bộ kinh Nikāya mà thầy dạy tại Trung cấp Phật học, hằng ngày con đều mở lên nghe và con đã biết đến thầy, từ từ con biết đến Linh Quy Pháp Ấn.
Hôm nay nhân duyên thuận lợi con đã về đến đây, con xin tri ân trên thầy đã cho phép con về đây, con tri ân trên sư phụ đã cho phép con về đây, con tri ân trên quý thầy đã dẫn dắt con và con xin tri ân trên quý sư cô cùng đại chúng. Con đi tu được 23 năm rồi nhưng càng tu con thấy mình càng dữ thêm, càng xấu xa thêm vì bản ngã quá lớn. Khi con được nghe pháp của thầy và con cũng học để nhìn rõ ngũ uẩn để sửa mình, hôm nay con đến đây ngưỡng mong trên sư phụ, trên quý thầy, trên quý sư cô cùng toàn thể đại chúng thương xót cho con, dẫn dắt con để con được tắm mình trong dòng Thánh pháp này để tương lai con đem theo được một cái gì đó khi xuống núi.
Sư Phụ: Cô cảm nhận được gì từ khi học pháp này ạ?
Sư cô 1: Dạ, bạch sư phụ khi con theo các bài pháp của sư phụ thì con nhìn rõ được ngũ uẩn, nhiều khi con đau thì con nghe sư phụ dạy thân này là vô thường, sắc này là vô thường, thọ này vô thường, tưởng này vô thường, hành này vô thường, thức này vô thường, mình phải đưa tâm mình ra khỏi thân này nên mỗi khi con đau con nghe lời sư phụ dạy thì con cũng nói tất cả đều là vô thường, không theo cái thân này thì con thấy cơn đau của con dịu xuống, con cũng gặt hái được rất nhiều trong lời dạy của sư phụ. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Sư Phụ:
Thân trống rỗng không ai trong đó
Chỉ có tim gan, máu, thịt xương
Phủ ngoài mỗi lớp da trơn láng
Che hết vô vàn thứ nhớp nhơ.
Phật tử 3: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Con kính bạch sư phụ, con kính bạch quý thầy, quý sư cô cùng các bạn đồng tu. Hôm nay con được đầy đủ duyên lành về Linh Quy Pháp Ấn lần thứ hai, là chỗ con có tình thương, nhờ sư phụ mà con hiểu được trong sự tu hành của con hai mươi mấy năm con cũng tầm sư học đạo, con cũng theo Phật pháp tu hành để tìm con đường giải thoát nhưng trong hai mươi năm đó con không biết ngũ uẩn, tham, sân, si cứ nằm trong lòng con, lúc nào cũng sân si nên con mới nghĩ tại sao tu mà cứ sân hoài, con còn chấp, con buồn, khổ đau.
Nhờ con đủ nhân duyên có thầy Thiện Huệ chỉ dẫn con vào con đường tu học của kinh Nikāya này mà con nhận ra được ngũ uẩn, bấy lâu nay nó làm con đau khổ vì con sống trong cố chấp, vô minh mà con không hiểu biết gì. Nhưng hôm nay con học được kinh này con xúc động vô cùng, con cũng có xấu hổ trong đó và cũng có hạnh phúc khi học kinh thầy giảng dạy cho con để con tìm ra lối thoát khổ đau, sanh tử cho nên con rất xúc động.
Nhờ pháp tu thầy dẫn dắt mà con bớt đi sự đau khổ, sự phiền não và con được sống trong ngôi nhà tình thương của Phật pháp, của thầy và con cũng biết thương yêu mọi người, còn những người làm cho con đau khổ thì con vẫn thương. Con cố gắng tu theo pháp môn này, con tìm hiểu sâu vào Phật pháp để sửa đổi tâm tính, bớt đi tham, sân, si, phiền não, khổ đau. Con về dưới mái chùa Linh Quy Pháp Ấn con thấy xúc động vô cùng, thấy an lạc, hạnh phúc, được sống trong yên tịnh, lắng dịu, yên vui và hạnh phúc, bên cạnh đó còn có sư phụ, có quý thầy, quý cô và bạn đồng tu dìu dắt, nhắc nhở con trên bước đường tu học. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Phật tử 4: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Con kính bạch trên sư phụ, con kính bạch trên chư Tăng, chư Ni và toàn thể đại chúng. Trong quá trình tu tập con đối duyên xúc cảnh thì con hộ trì các căn mắt; tai; mũi; lưỡi; thân thì nó có hình tướng, con có thể nhiếp phục nhưng đến khi hộ trì ý thì con gặp rất nhiều khó khăn vì nó vô hình vô tướng. Trong quá trình tu tập thì con xa thầy, xa đạo tràng nên khi có thắc mắc cũng không biết trình hỏi như thế nào, hôm nay đủ duyên lành con trở về Linh Quy được gặp sư phụ, con xin sư phụ chỉ dạy thêm cho con. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
III. Hộ trì Ý căn
Sư Phụ: Con mắt, lỗ tai, lỗ mũi, cái miệng, tấm thân thì có hình tướng, dù sao mình cũng dễ quản lý, dễ kiểm soát, dễ dò xét, dễ thu nhiếp, dễ phòng hộ, bảo vệ nhưng nói dễ là đối với người tu giỏi chứ thật ra cũng không phải là dễ. Nhiều khi nói đã rồi mới hay, lúc nói lại quá lời cho nên trong sự tu tập Đức Phật dạy có ba pháp đi đến Niết-bàn, đó là hộ trì căn, tiết độ trong ăn uống và chánh niệm tỉnh giác, ba pháp đó sẽ đưa mình đi gần đến Niết-bàn. Trong hộ trì căn tức là giữ gìn mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý thì cái ý là không có hình tướng và nó rất nhanh. Làm sao để có thể hộ trì ý, làm sao để thu nhiếp tâm ý?
Thói quen của người thông thường không biết tu hoặc không siêng năng tu tập là hướng ngoại, mắt lúc nào cũng tìm sắc để nhìn, lỗ tai lúc nào cũng tìm nghe âm thanh, lỗ mũi dùng để ngửi, cái lưỡi để nếm vị, cái thân muốn xúc chạm, đó là chạy theo năm đối tượng ngoại trần. Cái ý bên trong là lúc nào cũng nghĩ ngợi lung tung theo năm thứ đó, cái tâm ý đó là tâm ý hướng ngoại, còn phương pháp nhận diện ngũ uẩn mà chúng ta đang thực hành chính là nội quán cho nên người tu khá, tu giỏi, tu sâu, tu tiến là người thường xuyên nhận diện ngũ uẩn. Nếu nhìn ra ngoài thì không thể nhận diện được ngũ uẩn, mình cứ nhìn núi đẹp, mây bay, chím hót líu lo thì tuy là cảnh thanh chứ không phải là trược nhưng cứ nhìn ra ngoài thì đó vẫn là tâm hướng ngoại, bị cảnh sắc làm cho mình ái luyến.
Bây giờ sự tu của mình là quay lại nhìn thọ; tưởng; hành, xem lúc đó có cảm giác gì, trong tâm có hình bóng gì, lúc đó có suy nghĩ gì, mình cứ tập cho quen nội quán, nội chiếu, nội tỉnh, tập nhìn thọ; tưởng; hành trong mọi lúc mọi nơi. Ngoài việc giữ gìn mắt; tai; mũi; lưỡi; thân rồi thì còn phải tập giữ thọ; tưởng; hành bất thiện, mình phải chặn đứng nó lại, đạp thắng nó lại, rà thắng lại. Đức Phật nói tâm ý này còn nhanh hơn thần thông chư thiên, nhanh hơn tốc độ ánh sáng, rất mau lẹ cho nên một người chịu khó thường xuyên nhìn vào thọ; tưởng; hành thì người này mới có thể nhiếp phục, phòng hộ, bảo vệ, chế ngự được tâm ý.
Điều đầu tiên là phải để ý vào trong nội tâm, đó là cái quan trọng nhất cho nên tại sao thiền quán mà lại xúc cảm chấn động thân tâm thì người đó phải để ý thân tâm rất nhiều, còn nếu nhìn ra ngoài để ý ngôn từ, xem biểu cảm của người này người kia thì người này sẽ không có cảm xúc trong cảm thọ. Người thường có được những cảm thọ chấn động, kinh chấn, lông tóc dựng đứng, nước mắt đầy mặt thì người đó phải để ý vào bên trong, cho nên sự tu này hơn nhau ở chỗ để ý vào bên trong, đó là một trong những bí quyết của sự tu, còn không để ý vào trong thì tu không tiến, có tiến cũng rất ít và chậm chứ không tiến sâu tiến mau.
Người thường để ý vào bên trong không chỉ là giờ ngồi thiền để ý cảm giác, nghĩ tưởng mà trong khi thấy, khi nghe, khi ngửi, khi nếm, khi xúc cũng đều để ý xem cảm thọ đó thuộc về dục, tham, ái hay cảm thọ đó thuộc về sân hận hay thuộc về ganh tỵ, ta đây, hơn thua. Sau khi để ý thì mình mới thấy, thấy dơ chỗ nào rồi mình chùi chỗ đó, điều này con đã giảng trong bài "soi gương rửa mặt", nghĩa là người tu là người lúc nào cũng phải soi gương nhưng đây không phải là tấm gương bên ngoài mà là cái gương tâm, tức là hồi quang phản chiếu. Hồi quang tức là thay vì đem ánh sáng phóng ra bên ngoài thì đưa ngược ánh sáng đó vào trong, phản chiếu là soi rọi trở lại, cũng như khi vào bệnh viện nội soi sẽ đưa dụng cụ vào trong để soi rọi chỗ có bệnh, phát hiện ra bệnh thế nào, bệnh ở đâu.
Cho nên đầu tiên phải để ý vào bên trong, tức là soi gương, kế đó nhìn kĩ vào trong mới thấy cái bóng trong gương, tuy là soi gương nhưng nếu không nhìn kĩ vẫn không thấy hết những cái dơ bẩn trên mặt mũi mình vì thế có người soi gương nhưng chỉ nhìn phớt qua nên chỉ thấy vết dơ lớn còn vết dơ nhỏ không thấy, những vết bụi bặm trong khóe, trong hốc nhìn không thấy được. Đi ngoài đường bụi bặm thì mình lau cái mặt thôi mà mình không biết rằng bụi bặm còn dính trong các hốc kẽ, trong lỗ mũi nữa.
Vì thế người kĩ không những lấy khăn lau mặt mà còn đưa vào trong mũi chùi mới thấy dấu đen, sự nhận diện ngũ uẩn rất tinh tế, không phải chỉ biết sắc; thọ; tưởng; hành; thức là xong mà còn nhìn ra được tham, sân, si, bản ngã, chẳng những nhìn ra được tham, sân, si, bản ngã mà còn thấy nó theo chiều hướng nào, khía cạnh nào, góc độ nào, còn nhìn ra được nó là thô hay tế, nhìn ra được nguyên nhân sanh diệt, tại sao sanh khởi ra cảm giác này. Cho nên sự nhận diện ngũ uẩn cần phải để tâm, dốc lòng, cần có sự sâu sắc, tế nhị trong trí tuệ đó.
Sau khi có sự để tâm, để ý, phòng hộ, chế ngự thì mình sẽ có những phương pháp xử lý thích hợp, hiệu quả để lau chùi rác bẩn, không những lau chùi sạch bên ngoài mà còn chùi sạch trong hốc kẹt sâu kín. Không những dơ mặt, dơ mũi mà còn dơ trong vành tai, lỗ tai cho nên phải đưa khăn lên chùi trong những chỗ đó, thậm chí phải dùng bông ngoái tai thấm ít nước để ngoái cho sạch tai, thậm chí dính trong miệng phải đi súc miệng hoặc dính trong lỗ chân lông. Đó là chỉ đi ra ngoài dính một chút bụi đã vậy thì huống hồ gì cái tâm vô minh này, cái tâm tham dục, khát ái này, cái tâm chấp ngã, hơn thua, ganh tỵ, tật đố, tranh giành đã huân tập trong vô lượng vô biên kiếp rồi cho nên rất cần để tâm trong nhận diện ngũ uẩn.
Đến giờ phút này nhận diện ngũ uẩn mà mình nhận diện sơ sài thì chứng tỏ mình không để tâm trong tu học thâm sâu, quý thầy, quý cô và các vị tập sự xuất gia phải để ý cái này thật kĩ. Tu 3 năm, 5 năm trong dòng pháp này mà nhận diện ngũ uẩn bình thường như người mới học thì đó là sự dậm chân tại chỗ, không có tiến bộ sâu sắc vì thế cần phải quay lại nhìn cảm giác để xem đang có gì, tâm mình đang có hình bóng gì, đang có suy nghĩ gì, suy nghĩ này thiện hay bất thiện, suy nghĩ này tham hay ly tham, suy nghĩ này sân hay ly sân, suy nghĩ này vô minh hay tương ưng với Thánh trí.
Sau khi đã phân loại được suy nghĩ trắng hay đen, thiện hay ác, phàm tình hay Thánh trí thì mình mới xử lý. Nếu là đen thì phải lau chùi, tẩy rửa, nếu là trắng thì làm cho lớn mạnh, nếu đang có tâm từ dào dạt thì mình biết mình đang có một cảm thọ của tâm từ, tâm thương rộng lớn và làm cho tâm thương này rộng lớn lên thêm, vững chắc lên thêm, kiên cố lên thêm thành cỗ xe, thành căn cứ địa cho đến khi tâm từ của mình vững chắc như núi. Trong kinh Đức Phật nói với các Tỳ-kheo nếu một người dùng cây cưa cưa các ông ra mà các ông khởi tâm sân là các ông chưa thực hành đúng giáo pháp của ta, không làm đúng theo lời dạy của chư Phật.
"Chư Tỳ-kheo, như những kẻ đạo tặc hạ liệt, dùng cưa hai lưỡi mà cưa tay, cưa chân; dầu vậy, nếu một ai ở đây khởi ý nhiễm loạn, người ấy do vậy không phải là người thực hành giáo pháp của Ta. Ở đây, chư Tỳ-kheo các Ông phải học tập như sau: 'Chúng ta sẽ giữ tâm của chúng ta không biến nhiễm; chúng ta sẽ không thốt ra những lời ác ngữ; chúng ta sẽ sống với lòng lân mẫn, với tâm từ bi, với nội tâm không sân hận. Chúng ta sẽ sống bao phủ người này với tâm câu hữu với từ. Và với người này là đối tượng, ta sống biến mãn cùng khắp thế giới với tâm câu hữu với từ, quảng đại, vô biên, không hận, không sân'. Chư Tỳ-kheo, các Ông cần phải học tập như vậy." (Trung Bộ Kinh, 21. Kinh Ví dụ cái cưa)
Một người tu tâm đến mức như vậy thì tâm từ của họ sẽ như thế nào? Còn mình mới tu được chút đỉnh đã tự cao "tôi tu tâm từ được rồi đó", thành ra đó là chỗ thất bại của mình. Chỗ thâm sâu trong pháp hành là luôn luôn nhìn thọ; tưởng; hành, khi nãy sư cô quỳ lạy mà nếu không biết quán chiếu thì ngồi đó nhận cái lạy và cho rằng "tôi là người được lạy, còn người kia lạy tôi", đây là chỗ thất bại cho nên con mới đọc bài quán thân trống rỗng, không ai trong đó để từ bỏ ý tưởng mình là người được lạy, nếu có ý tưởng đó thì được lạy nhiều bản ngã sẽ càng ngày càng cao giống như cô trình pháp tu một thời gian lại thấy cái ta mình lớn lên, cái ngã mạn càng nhiều hơn là do mình không nhìn vô để thấy lúc đó đang có cảm thọ gì, nếu có bản ngã thì diệt là đúng rồi nhưng nếu nhìn vào thấy im cũng phải diệt chứ không phải thấy im là hết bản ngã. Im ru là do mình không thấy hết, nhiều khi lạc thọ vi tế mình không thấy được cho nên phương phác tác ý là vô cùng quan trọng trong sự tu.
Do mình không thấy thọ; tưởng; hành, do mình không thấy ngũ uẩn cho nên mình cứ để tâm mình trơ trơ, nghĩ rằng mình không có sân, không có tham, sân, si gì cả, đây là Niết-bàn rồi, như vậy thì hết sức nguy hiểm vì mầm móng còn ngủ ngầm y nguyên trong đó, con rắn hổ mang nằm im đó nhưng không phải là không có nó, đạp trúng là nọc độc phun ra mình sẽ mất mạng. Trong tâm chúng ta có ba con rắn độc còn hơn hổ mang chúa nữa chính là tam độc tham, sân, si, đầu tiên mình phải nhiếp phục những cái thô bạo của nó, từ từ nhiếp phục, tẩy sạch những cái tế, sau đó là diệt tận không còn nữa nhưng muốn vậy phải để tâm vào thọ; tưởng; hành rất nhiều.
Phải xem cái thọ lúc đó như thế nào, mình có an trú cảm giác toàn thân trong bước đi không, nếu không để ý thì có tu mấy chục năm cũng đi lăng xăng, cũng buông lung phóng dật. Trong khi làm việc phải xem mình làm với cái thọ gì, với cái tưởng, cái hành gì, trong khi nói chuyện thì có nói với tâm khiêm cung, tâm khiêm nhường từ ái không hay ra vẻ ta đây, đàn anh đàn chị. Chính chỗ đó là chỗ tu tập, là chỗ huấn luyện tâm, rèn luyện tâm, chính chỗ đó là chỗ nhiếp phục, chế ngự từ từ những cái thô.
Khi ngồi thiền thì đẹp, ngồi nghe pháp thì trang nghiêm, tụng kinh cũng chí thành nhưng khi trở ra làm việc thì không làm chung với ai được. Tại sao vậy? Vì lúc đó mình không nhìn thọ; tưởng; hành của mình, mình không nhìn ý hành, không nhìn cảm thọ của mình cho nên phát ra khẩu hành, thân hành hoàn toàn không tương ứng với pháp vì thế cần để ý thật kĩ cảm thọ của mình, để ý cảm thọ tham, sân, si, để ý cảm thọ bản ngã, để ý cảm thọ buông lung phóng dật đó.
IV. Cảm giác toàn thân
Sư cô 1 (Huệ Lý): Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Con kính bạch trên sư phụ cho con hỏi 1 câu, khi con ngồi thiền thì tưởng và hành của con hoạt động rất mạnh, con xin trên sư phụ chỉ dạy cho con làm sao để nhiếp phục. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Sư Phụ: Phương pháp thực tập cảm giác toàn thân là tuyệt đối quan trọng không những trong lúc ngồi thiền mà cả khi mình ra ngoài sinh hoạt, nếu không nắm vững pháp học thì khi vào pháp hành sẽ thực hành không được hoặc thực hành hời hợt, qua loa cho nên phương pháp toàn thân phải chỉ dạy tường tận, thậm chí phải chỉ dạy liên tục suốt 7 ngày hoặc nhiều hơn càng tốt. Vì khi không an trú trong cảm giác toàn thân thì tâm mình đi rong chơi, không biết làm gì cả mà nhảy lung tung trong những hình bóng, suy nghĩ, cảm giác.
Còn khi mình an trú cảm giác toàn thân là quay về nội tâm, khi có mình có việc để làm không còn rong chơi nữa, một người thất nghiệp là ở không, làm này làm kia, đi đây đi đó, còn người có công việc thì không có thời gian nói chuyện người này người nọ. Cũng vậy, khi mình an trú cảm giác toàn thân là mình có công việc để tâm làm, an trú cảm giác toàn thân là mình quay trở về giây phút hiện tại, gọi là quay về thực tại. Thực tại nghĩa là sự thật ngay trong giây phút hiện tại là mình đang có cái thân, thân đó đang có những cảm thọ gì trên thân mình phải cảm nhận được, phải biết được.
Như vậy khi mình quay về giây phút hiện tại đó thì tâm mình sẽ làm công việc đó, không có thời gian để lang thang và định tâm trên thân là một cái định của các bậc Thánh, trong Nikāya thì các Tỳ-kheo thời Đức Phật ai cũng thực tập cảm giác toàn thân, đó là pháp hành xuyên suốt của chư vị Tỳ-kheo thời Đức Phật còn tại thế cho nên chúng ta phải nghe thật kĩ và thực tập nhuần nhuyễn mới được.
Khi thực tập được cảm giác toàn thân sẽ mang lại rất nhiều lợi ích, tự động buông lung phóng dật sẽ được thu nhiếp, mình không cần cố gắng kiềm chế mà tự động sẽ niệm oai nghi, niệm hành động, tự động sẽ có phong thái ung dung, thư thái, thong thả, chánh niệm khi an trú cảm giác toàn thân. Chỉ cần nhìn một người đi, đứng, ngồi, nằm thì mình sẽ biết được người đó có tu tập an trú cảm giác toàn thân hay không. Thành ra, khi tu tập cảm giác toàn thân không chỉ là cảm giác toàn thân mà còn lợi lạc về oai nghi, về Thân Hành Niệm, về định, làm cho tâm lắng dịu. Điều tiếp theo sư cô cần nhớ là phải niệm "an tịnh, lắng dịu", niệm tâm mình thường xuyên như vậy giống như mấy đứa con nít quậy quá thì mình kêu nó ngoan, ngồi yên đi. Dạy tâm mình, dạy tưởng, hành của mình an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, phải kiên trì, siêng năng dạy tâm giống như mình kiên trì dạy con thì con sẽ ngoan. Từ vô lượng vô biên kiếp mình không biết nó là ngũ uẩn thì làm sao mình dạy được cho nên nó vô giáo dục từ vô lượng vô biên kiếp rồi, Đức Phật gọi là tâm hoang vu, tâm rừng rú, tâm hoang dã vì thế cần dọn dẹp nó từ từ, mình phải tu học nhiều thì mình mới thấy được tâm hoang vu này, mình mới làm cỏ, chặt cây gai, dây leo độc trong đó.
Mẹ nhớ niệm thầm trong tự tâm.
Niệm “Bỏ hết đi, cảnh vô thường!”
Niệm “Tâm lặng yên, tâm dễ chịu!”
Niệm “Ngũ uẩn này, không phải ta”
Nó quậy thì mình kêu nó yên, tùy theo bệnh mà có thuốc trị tương ứng, bây giờ đi sâu thêm mức độ nữa là phân loại rác. Mình thường có những hình bóng, suy nghĩ nhưng mình phải phân loại xem những hình bóng, suy nghĩ này thuộc về loại nào, nếu là dục, tham, ái thì quán bất tịnh, quán ung nhọt, quán ba mươi hai thể trược, quán chín giai đoạn của một tử thi. Nếu quậy về sự bực bội, phẫn nộ, sân hận thì phải niệm tâm từ, tâm hiền, tâm thương, mình tu học rất rõ ràng chứ không có chung chung.
Nếu thuộc về hơn thua, tranh giành, tranh đấu thì phải dạy tâm hòa kính, tâm biết ơn đối với những người hay kiếm chuyện với mình, dạy tâm mình từ nhẫn. Phải tác ý chứ không để yên được cũng không bỏ mặc được, không phó mặc hay mặc kệ nó được, cái nhà mình để mặc kệ thì làm sao sạch, muốn sạch thì phải dọn dẹp. Có nhiều cách dọn dẹp, có cái mình lau, có cái phải chùi, có cái phải dùng thuốc tẩy, đó chính là ba mươi bảy phẩm trợ đạo.
Mình phải xem rác này cần hốt hay quét, cần chùi hay cần tẩy rửa, mình sử dụng thích ứng từng loại trong thọ; tưởng; hành của mình cho nên pháp này rất thiết thực, cụ thể, rành rõ chứ không phải cứ lên đọc rồi cầu xin Phật độ cho mình có được tâm thanh tịnh. Mình phải xem nó thuộc về dục, tham, ai hay sân giận, tức tối hay đây là tâm ganh đua, hơn thua, tranh đấu hoặc là tâm vô minh, tâm lờ đờ không muốn tiến tu, "vầy là bình yên, tu nhiều mệt lắm", có khi nói ra lời nhưng có khi không nói ra mà cứ im im mà im lặng là đồng nghĩa với chấp nhận trạng thái vô minh, trạng thái ngu si, trạng thái bất khổ bất lạc, những trạng thái này cần phải xử lý nó liền.
Phải tập hạnh khiêm cung, khiêm hòa, khiêm tốn, khiêm nhã, phải lạy sám hối diệt ngã, phải quán nùi giẻ rách, quán làm người ăn xin, quán làm người hạ liệt thấp hèn, quán mình trở thành cát bụi, trở thành nùi giẻ để người ta dậm chân, người ta đạp lên, nếu có tâm ganh đua, hơn thua, ganh tỵ thì phải quán như vậy thì mới gọi là uống đúng thuốc. Lỡ như đang ngồi thiền mà buồn ngủ rồi mình cũng im ru tịnh chỉ các hành thì làm sao nhiếp phục được nó, vậy là uống lộn thuốc nên ngồi ngủ luôn.
Khi sụp mí mắt xuống đi vào trạng thái lờ mờ thì mình phải mở mắt lớn lên, cảm thọ mạnh ở trước mặt, cảm thọ mạnh ở con mắt, cảm thọ mạnh không gian ở phía trước rộng lớn, mình quán ánh sáng, mình tác ý "nhà ngươi ngủ 60 năm rồi chưa đã hay sao? Ngủ vô lượng vô biên kiếp rồi chưa đã hay sao? Bây giờ muốn ngủ giấc ngủ ngàn năm hay sao? Ngủ trong bóng tối, ngủ trong si mê, ngủ trong vô minh", phải la rầy, quở mắng, trách mắng để làm cho cảm thọ si ám đó tan biến, con mắt tinh minh lên, sáng tỏ lên, con mắt như vậy mới chiến đấu lại con ma ngủ cho nên mỗi bệnh sẽ có phương thuốc tương ứng, phù hợp để trị cho hết.
Không phải học được một chút đã cho là biết rồi vào tu một mình thì đó là tu trong vô minh, tu trong bản ngã, tu trong phàm tình, khi chưa học đầy đủ pháp học thì mình thực hành sẽ không viên mãn. Đó là si mê, vô minh của cấp độ thô thiển nhất, còn si mê, vô minh ở cấp độ tế là khi thấy cảnh đẹp mình có lạc thọ, chuyện này rất bình thường nhưng cái tu sâu sắc không được phép như vậy vì như vậy là thấy có một cái "tôi" thưởng thức cảnh đẹp, vậy là ái sanh, sự yêu thích sanh khởi, mình hoan hỉ trong các hành, mình vui, mình thích, đây là mức độ sâu sắc cho các vị xuất gia và các vị cư sĩ cũng nên thực tập. Đó cũng là vô minh, tham ái, phải nhìn thấy những thứ này là thứ sanh diệt, tan nát, hủy hoại, bại hoại, không có gì đáng ưa, đáng thích, đáng dính mắc trong này, tác ý như vậy để từ bỏ, thoát ra cảm thọ đó.
Tâm mình cực kì nhạy, đang ngồi như vầy nhưng bỗng nhiên có tiếng ho mạnh hoặc tiếng điện thoại reng lên là thấy khó chịu liền, còn người nào nói thấy bình thường là tại vì người đó không để ý thọ; tưởng; hành cho nên không thấy lúc đó khó chịu. Vì thế nếu không quay trở lại để phòng hộ, để soi chiếu để có những phương pháp xử lý thì cứ đi theo chiều hướng đó mãi thôi, càng ngày càng lớn mạnh trong dục, ái, tham, sân, si, vô minh, bản ngã của nó.
V. Ngũ uẩn
Chú Linh nhận diện ngũ uẩn trong giờ phút này. Chú này mới lên núi lần đầu tiên, cũng mới tiếp xúc với pháp lần đầu tiên.
Chú Linh: Trước tiên con cảm ơn thầy rất là nhiều đã cho con ở đây và được học theo Phật pháp Nikāya. Con xin thực hành nhận diện ngũ uẩn và sau đó con có hai câu hỏi cho thầy.
Đầu tiên sắc là con đang đứng ở đây nói chuyện chia sẻ với mọi người, thứ hai là thọ thì cảm giác bây giờ của con rất là dễ chịu, hạnh phúc và vui vẻ. Thứ ba là tưởng thì hiện tại hình bóng có bốn người, thứ nhất là thầy, mẹ con, bố con và cuối cùng là cô bạn gái cũ của con. Còn hành là suy nghĩ thì con nghĩ học thêm được Phật pháp Nikaya để biết được rằng đây là nguồn gốc của tham, sân, si và dựa vào những yếu tố của ngũ uẩn này thì xuống núi mình có thể nhìn sâu trong tâm mình hơn để mình giải quyết những vấn đề mình gặp phải, đặc biệt là mình phải chia sẻ sự yêu thương của mình.
Sư Phụ: Đã thuộc định nghĩa ngũ uẩn chưa?
Chú Linh: Dạ, con thuộc được 2/3 rồi ạ. Sắc là thân người, thọ là cảm giác, tưởng là hình bóng trong tâm, hành là những suy nghĩ của mình, thức là những gì mình rõ biết được.
Sư Phụ: Nhận diện thức hiện tại ra sao?
Chú Linh: Dạ, hiện tại thầy đang ngồi trên đó và con đang chia sẻ cảm xúc của mình cho thầy và mọi người đang ngồi đây.
Sư Phụ: Thức là biết được cảm giác, hình bóng, suy nghĩ trong tâm. Nhưng vậy cũng là tốt rồi, vừa học tức thì mà nhận diện được vậy là tốt rồi, ngoài ra cần học thêm những định nghĩa khác về ngũ uẩn.
Chú Linh: Con xin hỏi thầy ạ. Trong Phật pháp Nikāya có ngũ uẩn như thế thì xin thầy chia sẻ là cái uẩn nào là quan trọng nhất. Câu thứ hai là trong cái thọ thì có ba thọ: cảm giác dễ chịu, cảm giác khó chịu và cảm giác không dễ chịu không khó chịu, bây giờ làm thế nào để diệt được cảm giác không dễ chịu cũng không khó chịu. Con cảm ơn thầy và mọi người rất nhiều.
Sư Phụ: Huynh muốn diệt cảm giác không dễ chịu không khó chịu để làm gì? Mục đích là gì?
Chú Linh: Là để trao đi yêu thương.
Sư Phụ: Trong năm uẩn thì uẩn nào quan trọng nhất? Uẩn nào cũng quan trọng vì thiếu đi một uẩn thì mình sẽ không có thân tâm hoàn chỉnh, một con người hoàn chỉnh thì thứ nhất phải có thân tướng, thứ hai phải có cảm giác, thứ ba phải có suy nghĩ, nhận thức thì mới là thân tâm hoàn chỉnh cho nên năm uẩn này thì uẩn nào cũng quan trọng nhưng Đức Phật nói tất cả pháp hội tụ nơi cảm thọ thì chỗ cảm thọ là chỗ tập trung tất cả pháp, quy tụ về đó.
Nhưng lâu lâu mình nghe có người nói "những gì mà tôi đã gặp, tôi đã thấy rồi cũng đi qua, những gì tôi đã biết, đã nhận thức rồi lần lần cũng trở thành dĩ vãng nhưng có những cái tôi cảm nhận thì suốt đời tôi không quên", ngoài đời hay có câu giống ý như vậy, tức là những gì mình thấy rồi cũng qua, mình biết rồi cũng trở thành kỉ niệm nhưng cảm giác lại suốt đời không quên chẳng hạn như cảm giác về người bạn cũ của huynh chẳng hạn, vậy thì chứng tỏ tất cả pháp đều hội tụ trong cảm thọ cho nên khi mình nhớ là nhớ cái đó nhiều nhất, cảm xúc là cảm xúc cái đó nhiều nhất. Từ cảm thọ, cảm xúc, cảm giác mới có theo những hình bóng, những suy nghĩ chạy xung quanh cảm xúc đó và cảm xúc đó là chỗ hội tụ của tất cả các pháp sắc; thọ; tưởng; hành; thức. Cho nên đối với người tu cảm thọ là cái rất quan trọng, tham, sân, si trú ẩn trong cảm giác, cảm thọ, từ, bi, hỷ, xả cũng ở trong cảm thọ.
Làm thế nào để phá được cảm giác đơ đơ, thường thường, đều đều, bình bình, không phải khổ cũng không phải vui? Mình muốn có được cảm thọ thương yêu rộng lớn chứ không phải là tình thương nhỏ hẹp, chiếm hữu riêng tư. Tình thương nhỏ hẹp, chiếm hữu riêng tư đó bản chất của nó là khổ, không thể nào đi tìm hạnh phúc trong tình thương, tình yêu đó được, tìm sai chỗ cho nên mới chạy lên núi này để tìm.
Bản chất của yêu thương, tình ái, chiếm hữu, sở hữu thì bản chất của nó là khổ, trong đống lửa làm sao tìm được cái mát cho nên tất cả chúng sanh đau khổ là vì họ tìm hạnh phúc trong cái đau khổ, đây là bài ca khổ đau liên khúc của hành tinh này, tức là đi tìm hạnh phúc trong cái đau khổ giống như tìm sự mát mẻ trong đống lửa, trong hố than hừng thì làm sao được.
Cho nên tình ái và từ bi khác nhau, huynh mong muốn có được cảm thọ yêu thương rộng lớn tức là có được cảm thọ của tâm từ và muốn được như thế thì phải tu tập cảm thọ, còn tu tập như thế nào thì chúng ta có rất nhiều phương pháp hướng dẫn, đầu tiên phải nhận diện ngũ uẩn, sau đó mới tu tâm hiền, tiếp theo là tu tâm từ, rồi từ tâm từ đó mới đi đến rộng lớn, từ rộng lớn mới đi đến tâm từ vô lượng, chúng ta phải có thời gian tu học thực tập.
Khi đã tu được tâm từ rộng lớn vô lượng thì mình không còn nhìn ông A, bà B, cô C nữa mà mình chỉ nhìn thấy những ngũ uẩn, những đống tham, sân, si, bản ngã đang khổ đau giống như mình cũng đang khổ đau, mình sẽ thấy mình là nạn nhân của tham, sân, si, những người đó, những đối tượng đó, những chúng sanh đó, những hữu tình đó, những ngũ uẩn đó cũng là nạn nhân đau khổ giống như mình và tình thương này là một tình thương đại đồng bình đẳng, thương mình sao thì sẽ thương người kia giống y như vậy vì họ cũng là ngũ uẩn, cũng tham, sân, si, họ cũng vô minh, bản ngã, mình đồng cảm được với họ, mình cảm thông được, mình hiểu thấu được nỗi khổ đau của chúng sanh cũng như thấu hiểu nỗi khổ đau của chính mình thì tình thương bây giờ mới gọi là tình thương rộng lớn của từ tâm. Vì thế trong bài "Từ vô lượng tâm" có câu:
Mỗi người một nỗi khổ,
Mỗi loài một niềm đau,
Xin cùng nhau thấu hiểu
Những đau khổ trong nhau.
Tâm thương này rộng lớn
Cùng khắp thế giới này
Tâm thương này tỏa rộng
Khắp trời đất bao la.
./.