Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Khổ Thánh Trí 8 - Nhờ Khổ Mới Tin Sâu

2026-03-03 00:54:20
KINH NIKĀYA GIẢNG GIẢI

KHỔ THÁNH TRÍ 8

NHỜ KHỔ MỚI TIN SÂU

– Thích Minh Thành –

Hôm nay theo truyền thống Phật giáo phát triển là ngày vía của Đức Bồ-tát Quan Thế Âm cũng là ngày nhập bảo tháp của đại trưởng lão Hòa Thượng Thích Phổ Tuệ, đó là bậc lão Tăng thanh bần đứng đầu giáo hội. Trong lễ truy điệu cung tiên tiểu sử, Hòa Thượng phó pháp chủ đệ nhất Thượng Trí Hạ Quảng nói lời xưng tán Hòa Thượng pháp chủ có ba điều được tôn kính, thứ nhất là giữ chức vị cao nhất của giáo hội, sống lâu nhất 105 tuổi, đức hạnh sáng nhất, đây là ba điều đáng được tứ chúng tôn quý, một bậc lão Tăng thanh bần, đơn sơ, mộc mạc, chất phát. Sáu tuổi ngài đã xuất gia, đến nay là ngài 105 tuổi, hiện tại trong tự viện cả nước đều lặp di ảnh của ngài để tưởng niệm, thủ tướng chính phủ và tất cả ban ngành đoàn thể từ trong đạo cho đến ngoài đời đều đến viếng, cả nước khóc thương vì đức hạnh của ngài. Bữa cơm của ngài rất đơn sơ, y phục bình dị, đơn giản, ngài ở trong ngôi chùa làng ở vùng quê gần trăm năm, ngài được các vị tôn đức mời đến trụ trì những ngôi chùa vĩ đại ngoài thị thành nhưng ngài từ chối.

Minh Thành có cơ duyên ra đảnh lễ và hỏi pháp ngài khoảng 5-7 năm về trước, ngài rất bình dị và có gửi cho Minh Thành vài quyển kinh được ngài dịch và chú giải. Hôm nay chúng ta ngồi đây cúng dường pháp bảo lên giác linh của ngài và cầu nguyện cho ngài được thành tựu cứu cánh phạm hạnh, phổ lợi nhân thiên, chúng ta hướng tâm về một bậc cao Tăng đức độ đứng đầu giáo hội, đó là đức pháp chủ giáo hội Phật giáo Việt Nam.

Điểm tiếp theo là Minh Thành thấy thầy Pháp An càng ngày càng già bệnh, bổn phận làm con không nuôi dưỡng cung phụng được, phải nhờ các thầy các cô giúp đỡ. Minh Thành chỉ báo đáp bằng giáo pháp cho nên mỗi buổi thầy Pháp An tham dự nghe pháp là Minh Thành rất mừng, không biết thầy còn sống bao lâu cho nên bản thân Minh Thành cũng cố gắng chia sẻ Thánh pháp này để thầy Pháp An trong những giây phút cuối có đầy đủ tư lương hành trang để khi ra đi được bước lên cõi lành và tiếp tục thể nhập chánh tri kiến. Hôm nay có những cuộc điện thoại cách xa nửa vòng trái đất gọi về cảm ơn của các Ni sư tu học mấy chục năm sau khi nghe hiểu về giáo pháp này, chư Tăng Ni và quý Phật tử có những lời chân thành cảm ơn và khích lệ bản thân Minh Thành cố gắng trong pháp học và pháp hành này, các vị tâm sự rằng đã tu mấy chục năm nhưng khi học và thực tập pháp này mới thấy rõ và hiểu thân tâm của mình, đó là duyên khởi rất nhiều của buổi chia sẻ hôm nay.

Hôm nay chúng ta tìm hiểu bài kinh Duyên của Tương Ưng Bộ, tập II, chúng ta phải lấy khổ làm thầy, lấy khổ làm bậc thiện tri thức, lấy khổ làm bạn lành, bạn đạo, lấy khổ làm trợ duyên, làm động lực, nhờ khổ chúng ta mới có niềm tin, mới tin sâu vào trong pháp, không có khổ chúng ta không phát khởi niềm tin, cho nên phải vô cùng cảm ơn, chủ đề hôm nay cũng có thể nói là cảm ơn đau khổ. Nhờ đau khổ chúng ta mới ngồi đây, nhờ có khổ chúng ta mới có thân tướng viên đảnh phương bào, đầu tròn áo vuông, nhờ có khổ mới khoác tấm y phước điền vô thượng, nhờ khổ mới rũ bỏ hồng trần lên núi cầu đạo, nhờ có khổ mới quay lưng lại năm dục trưởng dưỡng của thế gian. Vì thế phải cảm ơn đau khổ, học về khổ nhưng thấy vui và hạnh phúc vì mình có lối thoát khỏi khổ, mình phải cảm ơn sự phũ phàng của cuộc đời này, cảm ơn sự cay đắng của thế gian này, cảm ơn sự phản phúc, dối trá, lật lọng, cảm ơn những kẻ lừa đảo, những kẻ hủy nhục, khinh khi mình, không có những người đó mình không thể tu được.

Ngày xưa lúc Minh Thành chuẩn bị đi xuất gia thì có người nói "mày mà đi xuất gia được thì tao cùi hết mười ngón tay", ngày xưa Minh Thành bị thầy Pháp An đánh, bị hai người anh đánh, cũng bị chị đánh. Bây giờ suy nghĩ lại thì cảm ơn rất nhiều, bị đánh nhiều đến nỗi không thể ở nhà mà phải qua ở với các cô, ở chỗ nào cũng có nỗi khổ của chỗ đó, Minh Thành khổ tâm từ nhỏ đến lớn, từ vật chất cho đến tinh thần, Minh Thành sống nội tâm rất nhiều, khi còn nhỏ đã ngủ chung với nước mắt hằng đêm, bây giờ nghĩ lại thì cảm ơn vì không có những điều đó sẽ không có một ông thầy đầu trọc bần cùng, bần Tăng giống như bây giờ. Đến khi lớn lên cho đến khi đi tu cũng gặp nhiều chuyện đau xót, cay đắng, nhờ vậy mới đi lên núi mới có ra Linh Quy, mới gặp được dòng pháp Nikāya vì đã quá khổ rồi, đi vào chùa rồi vẫn thấy khổ, vẫn không giải quyết được vấn đề, học diệt khổ nhưng vẫn không diệt được cho nên lấy khổ làm thầy mới là tinh thần của người tu.

Thầy Pháp An phải cảm ơn con mắt không còn thấy gì nữa, cảm ơn thần kinh tọa đang hành hạ vì nhờ cái khổ này mới ngồi đây tu học chứ đừng buồn bã, phiền não hay oán trách. Phải cảm ơn thì thân này đang biến hoại đúng với pháp mà Đức Phật đã dạy, mình cố gắng chữa trị nhưng không được thì thôi vì bản tánh của nó là vậy, bản chất của nó là vậy, bây giờ mình chỉ cố gắng tu học để thoát khỏi nó, bộ máy đã hoạt động 78 năm thì bây giờ rệu rã là lẽ đương nhiên, không thể mong muốn nó tốt trở lại như những ngày đầu tiên được. Rất nhiều Phật tử gọi về cám ơn thầy Pháp An và mong thầy có nhiều bài chia sẻ nữa vì thầy nói chuyện bình dân, thân thiện, dễ hiểu cho nên thầy phải cố gắng có nhiều sức khỏe để chia sẻ những điều tâm đắc về kinh Nikāya. Cho nên điều đầu tiên của người tu phải lấy khổ làm thầy vì nếu không khổ là mình không tu được, người càng khổ chừng nào thì càng tu sâu sắc chừng đó, người nào tinh tấn tu hành nhiều thì người đó trải nghiệm khổ sâu sắc nên lòng tin mới bất động, người không thấy khổ sẽ không tin pháp sâu nên không đi đến chỗ tịn tính bất động được.

Mình phải tập nhìn tất cả mọi ngóc ngách của đời sống này đều có khổ trong đó mà đó là sự thật, hãy nhìn ra được mặt trái của cuộc đời này, nhìn ra bản chất của nó, đừng chỉ thấy vị ngọt mà không thấy sự nguy hiểm và tác hại của nó thì làm sao xuất ly khỏi nó. Cho nên khi nhìn thấy cái khổ một cách thấm thía, một cách sâu sắc thì lòng tin không ai lay chuyển được, có chết cũng không bị lung lay như câu "dù ai nói ngả nói nghiêng, lòng ta vẫn vững như kiềng ba chân", chỉ có thấy khổ một cách thấm thía thì lòng tin mới vững chắc, còn khi thấy khổ chưa đủ thì lòng tin rất dễ bị lung lay, đó là lý do nguyên cả tạng kinh Nikāya chỉ thuần nói về khổ và sự diệt khổ vì Đức Phật là người phơi bày ra bản chất của sự thật. Bây giờ thấy cái đó là khổ thì không thể ham muốn nó được, không muốn hơn thua, tranh giành cho nên cần lấy khổ làm thầy, khi cái khổ thấm nhuần thì lòng tin được vững chắc, không dao động, khi lòng tin vững chắc thì tâm hân hoan, hạnh phúc, học về khổ nhưng thấy thích thú, thấy bản thân lớn mạnh, sáng tỏ đối với mọi sự vận hành của đời sống này.

"Và này các Tỳ-kheo, duyên của hỷ là gì? Hân hoan là câu trả lời. Này các Tỳ-kheo, Ta nói rằng hân hoan có duyên, không phải không có duyên.

Và này các Tỳ-kheo, duyên của hân hoan là gì? Lòng tin là câu trả lời. Này các Tỳ-kheo, Ta nói rằng lòng tin có duyên, không phải không có duyên.

Và này các Tỳ-kheo, duyên của lòng tin là gì? Khổ là câu trả lời. Này các Tỳ-kheo, Ta nói rằng khổ có duyên, không phải không có duyên". (Tương Ưng bộ, Tập II – Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (a), III. Phẩm Mười Lực, III. Duyên)

Từ việc nhìn thấy ba cái khổ mà bây giờ người ta hay dùng từ thảm họa kép, thiên tai kép hoặc tổ hợp thảm họa kép, đó là cái khổ thứ nhất, cái khổ thứ hai là sự đổi dời, ngày xưa mắt sáng nhưng giờ lại không thấy, ngày xưa chân đi khỏe nhưng giờ đi không được, ngày xưa muốn làm gì cũng được nhưng giờ làm không được, cái khổ thứ ba là sự biến hoại, ngoài ra còn tám cái khổ hay được nói đến, mình thấy thân thể này, đời sống này diễn ra đúng như vậy và mình nghe, mình cảm nhận ngay nơi thân mình nên mình xác quyết, tịn tính bất động, không còn dao động đối với Đức Phật, đối với sự chứng ngộ của Đức Phật, đối với những lời dạy của Đức Phật thì lúc đó tâm sẽ được vui vẻ, phấn khởi, hân hoan, mỗi khi nghe về khổ thì biết sự thật là vậy, thực chứng như vậy, chân lý là vậy thì vui. Cho nên có nhiều Phật tử nói rằng nghe pháp quên ăn, quên uống, cái hân hoan sanh ra hỷ lạc, cái vui này lúc đầu hơi thô vì có khi mình vui là muốn nhảy nhót, la hét, cười nói.

Khi nghe pháp, thiền quán hoặc hiểu ra một điều gì đó, hay là nhiếp phục được cảm thọ dục tham, sân hận, bản ngã thì mình thích thú, sung sướng rồi sau đó chỉ mừng thôi chứ không nhảy nhót lên nữa, không còn dao động nhiều nữa, các cảm thọ từ từ vi tế, khi qua Bồ-đề đạo tràng Minh Thành đã òa khóc tức tưởi vì rúng động, tuôn trào cảm thọ, giống như đã chất chứa, dồn nén, bị điên đảo, ngu si trong tâm mấy chục năm, vô lượng vô biên kiếp mình đã ở trong bóng đêm, trong sự che đập, mê muội đến đúng lúc bừng sáng, thấy được ánh mặt trời nên tuôn trào cảm xúc. Người nào tinh cần tinh tấn tu học sẽ có được cảm thọ như vậy, cái khóc đó không phải khổ mà cái khóc đó là hân hoan, như trút được gánh nặng đã dồn nén, bị áp bức trong nhiều năm, ở ngoài nhìn vào không biết cứ nghĩ đạo tràng Nikāya sao thấy khóc lóc nặng nề quá nhưng lại không biết cái đó là hân hoan, đây là chỗ lạ, cái hân hoan có hai trường hợp, thứ nhất là tức tưởi, dâng trào cảm xúc mà biết bao đời bao kiếp bị che lấp, thứ hai là một sự phấn khởi, thích thú, sung sướng, đây là hỷ và ưu nhưng sau đó nghe pháp, tu lâu bắt đầu lắng dịu thì chỉ mừng thôi, không còn dao động nhiều nữa. Nếu đi đúng theo trình tự của pháp thì từ vui mừng sẽ chuyển thành nhẹ nhàng mà các thầy các cô trình pháp là giống như đi trên mây, hoặc là khi ngồi thiền thấy nhẹ như bông gòn, đó là một trạng thái của khinh an tức là nhẹ nhàng, khinh là nhẹ, an là yên. Khi đã khinh an, nhẹ nhàng sẽ có lạc, tức là vui, mình nghĩ khổ mới chứng đắc nhưng Đức Phật lại nói hỷ lạc mới chứng đắc.

"Vô thỉ, này các Tỳ-kheo, là sự luân chuyển, khởi điểm không thể nêu rõ, đối với (những đau khổ) do bị thương đâm, do bị kiếm chém, do bị búa chặt. Dầu vậy đi chăng nữa, này các Tỳ-kheo, Ta cũng không tuyên bố rằng nhờ khổ và ưu mà bốn Thánh đế được chứng ngộ. Nhưng này các Tỳ-kheo, Ta tuyên bố rằng nhờ lạc và hỷ mà bốn Thánh đế được chứng ngộ". (Tương Ưng Bộ, Tập V – Thiên Ðại Phẩm, Chương XII – Tương Ưng Sự Thật (a), IV. Phẩm Rừng Simsapà, V. Một Trăm Cây Thương) 

Lúc đầu là khổ nhưng về sau càng đi vào thể nhập sự thật thì đi đến hân hoan, mừng, nhẹ nhàng, bắt đầu tâm vui nhẹ trong thọ của tâm, đây là sự an lạc. An là yên, lạc là vui, cái thọ này im lặng nhưng lại có sự vui nhè nhẹ chứ không phải cái vui được ăn ngon, đi chơi, mặc đẹp, đây là cái vui liên hệ đến vật chất, còn ở đây mình đang nói đến cái vui không liên hệ đến vật chất, vì thấy Đức Thế Tôn nói đúng như vậy, Đức Thế Tôn nói sanh là khổ, già nua, bệnh tật là khổ, ngài nói sự biến hoại của các hành là khổ, sự nắm chặt vào trong các cảm giác sân hận, ham muốn là tai họa, rõ ràng mình thấy đúng như vậy, mình nhiếp phục, diệt tận, làm cho nó an tịnh lắng dịu thì nó xuất hiện những trạng thái hân hoan, mừng, nhẹ nhàng và yên vui, khi đã đi đến lạc thì bắt đầu bước vào định, đây là lộ trình tâm. Cho nên thiền định là do yên vui mới chứng đắc chứ không phải khổ mới chứng đắc, khổ là bước đầu để phá tà kiến, cái nhìn sai lầm, lệch lạc, sau đó phải an lạc, yên vui mới chứng đắc thiền định được, còn người nào có sai lầm, hối tiếc, trạo cử là không thể vào định được vì ngồi thiền là nhìn thấy tội lỗi, thấy sai phạm nên buồn, lo, bất an, bức rứt nên không an yên được, không an yên, không nhẹ nhàng thì nặng nề nên không thể vào định được cho nên muốn vào định thật sự rất khó khăn.

Muốn thành tựu chánh định của đạo Phật thì giới hạnh phải viên mãn, nhất là những giới căn bản phải giữ được, người ta tu hành lâu năm vẫn không vào định được là do bị trạo cử và trạo cử không phải là dao động, bận rộn, lăng xăng ở ngoài, đó chỉ là cái thô ngoài thân mà vi tế hơn là một sự ray rứt, hối tiếc, ăn năn bên trong vì thấy mình có những sai phạm trong giới pháp, cái này làm tâm không được khinh an mà bị bất an, hay còn gọi là trạo hối. Trạo là dao động, hối là hối hận, tâm bị dao động vì hối hận do có lỗi, cho nên giới rất quan trọng, nếu không giữ giới thì không đi vào định được, nếu có thì cũng chỉ là từng phần chứ không được viên mãn, còn khi tâm được yên vui nhè nhẹ sẽ đi vào an định. Như vậy đầu tiên là hân hoan, hỷ, khinh an, lạc là bốn trạng thái của hỷ lạc, vui mừng chứ không phải tu là khổ, sao cái khổ đó đạt được lòng tin xác quyết bất động không lay chuyển, khi lòng tin thành tựu thì vui, phấn khởi, thích thú, thậm chí có thể hét lên, la lên, sung sướng.

Có câu chuyện ghi lại một ông quan đi xuất gia, lúc ngồi thiền ban đêm thì đột nhiên ông la lên "ôi hạnh phúc quá, ôi hạnh phúc quá", các thầy đi mách lại cho Thế Tôn chắc vị này ngày xưa làm quan được hưởng dục lạc đầy đủ nên giờ nhớ lại thấy sung sướng mới la lên. Thế Tôn mời lại hỏi thì ông thưa rằng ngày xưa làm quan tổng trấn có biết bao quân lính hầu hạ, bảo vệ nhưng vẫn thấy bất an, lo lắng, ngược lại bây giờ đầu trần chân đất, khoác tấm y, ngồi một mình dưới gốc cây nhưng lòng lại khinh an, hỷ lạc cho nên vị này thấy vi diệu, tuyệt vời vượt ngoài tất cả mọi vật chất trên đời nên ngài la lên "ôi hạnh phúc quá, ôi hạnh phúc quá". Đó chính là sự hỷ lạc sau khi thấy khổ cho nên thấy khổ chỉ là bước đầu, còn khi đã vượt qua được thì bắt đầu có hân hoan, vui mừng, nhẹ nhàng, yên vui sẽ thường xuyên xuất hiện trong cảm thọ, được an trú trong cảm thọ, bốn cái thọ này là sự hỷ lạc trong chánh pháp, nếu không có hỷ lạc thì không thể tu được, thấy được khổ mới hướng đến sự thoát ra cho nên phải thấy hết tất cả khía cạnh của khổ thì lòng tin này mới được vững chắc, thành cột trụ, đây là động lực đẩy mình vào dòng pháp, vì thế cái khổ này là thầy, là bạn lành, là bậc thiện tri thức, là động lực, sau khi thấy khổ rồi đánh đuổi nguyên nhân làm khổ thì mình sẽ lớn mạnh lòng tin đối với sự chứng ngộ của Đức Phật, đối với những lời dạy trong tạng kinh Nikāya và đối với sự thấy biết về tự thân chính mình.

Niềm tin ở đây đặc biệt ở chỗ đến để mà thấy, ngày xưa mình thấy trong kinh, trong sách, nghe người ta nói, còn giờ khi nhận diện ngũ uẩn là thấy nơi tự thân, thấy sắc vận hành, thấy những hình bóng trong tâm vận hành, thấy những suy nghĩ vận hành, thấy nhận thức, tham ái, si mê, vô minh, bản ngã vận hành, cái thấy này nhìn vào là thấy ngay lập tức thì cái thấy đó mới đi đến lòng tin không lay chuyển, như vậy mới gọi là tịn tính bất động, chính mình thấy thật sự chứ không phải nghe hay nhờ người khác nói lại cho nên gọi là người trí tự mình giác hiểu, tự mình thấy biết, tự mình hiểu biết, tự mình thành tựu trí tuệ đó nên cái tịn tính này không gì thay đổi được, có như vậy mới Nhập Lưu, mới bước được vào dòng trí tuệ bậc Thánh.

Trong một thời pháp mà chịu tập trung tâm ý lắng tai nghe pháp và tác ý thì bốn trạng thái của hỷ lạc sẽ sanh khởi cho nên nhờ khổ mới tin sâu từ đó mới đi sâu vào những cảm thọ hiền thiện, hạnh phúc, nhẹ nhàng, tự tại, yên vui. Nếu người đó còn sai phạm, chưa hoàn chỉnh nhưng nhờ cái thấy đúng của pháp (chánh kiến) và từ từ tác ý thâm nhập thì họ cũng sẽ viên thành những thiện pháp, đó là chỗ đặc biệt, cho nên điều quan trọng là phải thành tựu chánh kiến thì những sai phạm, lỗi lầm, sơ suất sẽ nhờ sự tác ý theo năm tháng làm giảm thiểu rồi đi đến chấm dứt và thể nhập pháp, nhưng quan trọng là mình có chịu nắm chặt trí huệ này không, nếu chưa hành tựu chánh kiến mà mình buông bỏ thì mình bị loại khỏi dòng Thánh đạo của Tám Đúng vì vậy cần theo đuổi liên tục để bước tới trước. Khi thường an trú trong pháp thì trong sự thật của pháp sẽ làm họ hân hoan, phấn khởi, vui mừng, nhẹ nhàng và tâm họ rất an lạc, họ thường xuyên có những cảm thọ này chứ không phải đợi đến khi ngồi thiền mới có, quay lưng với ngũ dục và hướng đến chánh kiến.

Khi tu theo dòng pháp Nikāya dưới sự hướng dẫn của bậc thiện tri thức là không cần định quá sâu, chỉ cần vào được Sơ Thiền là đủ, ly sanh hỷ lạc là đủ, tâm hướng đến lìa dục sẽ có những cảm giác này sanh khởi, do xã hội bây giờ rất khó để đi sâu vào định nên chỉ cần vào được Sơ Thiền là tốt lắm rồi cho nên điều quan trọng là phải thành tựu chánh kiến. Mình phải hiểu định này nghĩa là kiên định, xác định, tập trung tâm ý chuyên chú vào pháp, khi quán về bộ xương mà hình ảnh bộ xương được giữ liên tục trong tâm không mất đi thì cái đó gọi là định cốt tưởng cho nên chữ định ở đây nghĩa là tập trung tâm ý vào một đối tượng.

Cả tuần mình học về khổ, khi ngồi trong thiền đường quán chiếu theo lời kinh thì thấy khổ, đến khi trở ra cũng sống với trí tuệ đó thì cái định về Khổ Thánh Trí được thực hiện, hoặc là trong giờ trải tâm từ thì mình thực hành trải tâm từ nhưng ngoài giờ đó ra mình vẫn an trú trong tâm từ thì đó gọi là định tâm từ, nghĩa là đề mục tu tập không bị mất đi, cái pháp đó được an trú trong tâm không bị rơi rớt. Cho nên định, huệ, chỉ, quán thường đi chung với nhau, tâm từ có tác ý, cái khổ cũng có tác ý chứ không phải không có tác ý, hoặc là tập trung tâm ý vào đề mục, an trú vào đề mục, làm sanh khởi cảm thọ theo chiều hướng đó liên tục thì gọi là định, nhìn vào gương thấy không còn sợi tóc nào cũng giống như mình đã hoàn toàn rủ bỏ mấy chục ngàn cái phiền não nên mình hạnh phúc, được đắp tấm y ruộng phước hạnh phúc biết bao nhiêu, mở quyển kinh ra thấy trong đó toàn là sự thật mà vô lượng vô biên kiếp mình chưa từng biết vậy là tác ý hạnh phúc, mình cứ ở trong hỷ vô lượng tâm, an trú liên tục không bị mất đi thì gọi là định tâm hỷ.

Suốt cả tuần Minh Thành để mọi người học về Khổ Thánh Trí là muốn tất cả an trú vào trí tuệ đó, cảm thọ đó, sự tác ý, quán chiếu liên tục để cảm thọ về khổ trở thành ấn tượng và an trú, có chỗ đứng không bị mất đi, đó là mình muốn Thánh trị huệ về khổ phải được thiết lập, phải có chỗ trong tim, trong não, trong cảm thọ để không bị mất đi, khi học hết chuyên đề về khổ nhưng trí tuệ về khổ không bị mất, chỉ cần tác ý là sanh khởi lên nhìn thấy khổ, đó là định về Khổ Thánh Trí. Mình tu tập tâm xả, tập trung tâm ý vào đề mục buông bỏ nhưng khi thấy hoặc nghe cái gì chướng tai gai mắt là muốn nói, muốn la nhưng nhớ đến đề mục tu tập liền thực hành thiền quán xả bỏ, buông bỏ, chánh niệm tỉnh giác trú xả. Nếu không có chánh niệm tỉnh giác thì không thể an trú vào xả được vì tiếp duyên xúc cảnh là sanh khởi cảm thọ lập tức, nếu có chánh niệm tỉnh giác sẽ biết được cái đó chỉ là thanh trần, hương trần thôi, nếu nghe lời nói gì đó là sôi sục lên là mình biết trong tâm còn nồng nàn lắm, vẫn chưa được an tịnh lắng dịu nhiều, mình phải cảm ơn những điều này, người ta có đánh đập, mắng chửi, chê bai, khinh khi, hủy nhục nhưng mình vẫn cảm ơn và cảm ơn, tác ý về cảm ơn liên tục và trú vào cái định cảm ơn, nhớ ơn, suốt ngày chỉ nhớ đến cảm ơn.

Cảm ơn thiền đường, cảm ơn tấm y, cảm ơn con đường mình đi hằng ngày, cảm ơn những hạt gạo của người nông dân, gặp ai cũng cảm ơn người đó, cảm ơn và nhớ ơn là pháp của bậc chân nhân, mình gặp bất kì món đồ nào hay người nào, dù là người ghét mình thì mình vẫn cảm ơn tất cả, ơn chúng sanh, ơn tam bảo, ơn thầy tổ, ơn huynh đệ, ơn từng hòn sỏi, từng tấm ván, từng viên gạch, ơn từng đám mây, từng luồn gió mát, cảm ơn luôn cả hơi thở này, tu như vậy thì không bao giờ ngủ gục khi ngồi thiền. Ngủ gục là do không biết khởi động pháp, không biết khéo léo vận dụng nên mới ngủ gục trên thiền đường, phải thường an trú tâm rộng mở cùng khắp và rộng lớn, tâm vô lượng vô biên không hận không sân vì không thực tập như vậy sẽ trú vào tấm thân này rồi bản ngã, có cái tôi trong đó, nếu giỏi thì trú vào vô lượng tâm định hoặc là vô tướng tâm định.

Ngài Ma-ha Ca-diếp rất thích trú vào vô tướng tâm định cho nên nhân thiên rất thích cúng dường cho ngài vì khi dùng cơm ngài thường hay trú vào tâm này, người nào cúng dường cho người hay trú vào vô tướng tâm định thì phước báo là vô lượng vô biên, vô cùng vô tận, còn mình ăn chỉ biết món này ngon, món kia dở, cái nào bổ, cái nào béo. Trú vào định vô tướng là tâm trống rỗng như hư không, yên định, bất động, thênh thang, rộng khắp, vô tướng là không có một sắc tưởng nào chen vào, trong tâm không có bất cứ một hình bóng nào, chỉ có cái tưởng trống rỗng rộng lớn và cái tưởng này an trú vững chắc không có một sắc tưởng nào khác chen vào được. Vô tướng tâm định là một cái thọ an tịnh lắng dịu, một cái tưởng trống rỗng vô lượng vô biên, hành an tịnh, thức rõ biết, không có bất kì hình bóng nào trong đó.

Khi trú vào những cái định được Đức Phật dạy thì tri kiến như thật xuất hiện, tính chất của vô thường, khổ, vô ngã, bất tịnh hiển hiện, cái thấy biết đúng sự thật trong tâm yên định, tâm an trú pháp, tâm thiền quán, tâm tập trung tâm ý vào sự thật thì bản tánh của các pháp được hiển lộ rõ ràng, minh bạch, sáng tỏ, tri kiến như thật hiển lộ trong một cái tâm vắng lặng, trong một cái tâm tập trung tâm ý vào pháp của sự thật mà Đức Phật chứng ngộ, vì những điều mà Đức Phật nêu ra toàn là chân lý, là sự thật của ngũ uẩn, lúc đó cái thấy biết đúng sự thật được hiển hiện. Sự thật đó là tổ hợp của đau khổ, sự thật của nó là đổi dời, dịch chuyển, sự thật của nó là tan nát, hủy hoại, hoại diệt, một khi sự thật được phơi này thì nhàm chán, xa lìa xuất hiện, khi đó yểm ly cũng sẽ xuất hiện, tu đúng pháp thì tự động tâm sẽ đi theo quy trình như vậy, nếu có được sự an lạc mà ngưng lại không tu tiếp sẽ không thành tựu chánh tri kiến, đó là lý do nhiều người thích tu thiền ở mức yên là được, không muốn quán gì nữa, cũng không muốn tác ý cho động gì cả, nhưng một khi thoát ra khỏi năm uẩn sẽ thành tựu trí về đoạn diệt, chỗ này mới được gọi là Niết-bàn, chính là Diệt Đế, sự đoạn diệt này là chấm dứt dục, ái, tham, sân, si, vô minh, bản ngã, sự đoạn diệt này là chấm dứt hoàn toàn nguyên nhân tác thành đời sống bất an, lo lắng, buồn đau, khổ sầu, tới đây là cái trí đoạn diệt đó hoàn toàn viên mãn tất cả các góc độ, khía cạnh, phương diện.

Trí đoạn diệt này đoạn tận tất cả các lậu hoặc và tham, sân, si, vô minh, bản ngã và nó tự biết nó đã đoạn tận xong rồi, đó chính là Diệt Đế, tức là trí tuệ của bậc Thánh về sự chấm dứt khổ, không còn một chút nào xót lại mà là diệt hoàn toàn, đó là lộ trình tu tập tâm hay còn gọi là Thánh đạo nhưng vấn đề là do mình chưa thành tựu cái khổ từ lúc ban đầu nên sự tịn tính chưa bất động, vì thế cần học khổ, biết về khổ, tu tập về khổ thật nhiều để nền móng được vững chắc nhưng chúng ta nhảy vào là muốn bước vào định lập tức không thì muốn thiền lập tức nhưng ngồi vào là nhắm mắt rồi đầu gục lên gục xuống ngủ luôn, nếu không khéo có thể bị tẩu hỏa nhập ma cho nên nền tảng về Khổ Thánh Trí phải thành tựu thì mới vào tịn tính bất động được, niềm tin còn lay chuyển vì Khổ Thánh Trí chưa được viên mãn.

"Như vậy, này các Tỳ-kheo, vô minh duyên hành; hành duyên thức; thức duyên danh sắc; danh sắc duyên sáu xứ; sáu xứ duyên xúc; xúc duyên thọ; thọ duyên ái; ái duyên thủ; thủ duyên hữu; hữu duyên sanh; sanh duyên khổ; khổ duyên tín; tín duyên hân hoan; hân hoan duyên hỷ; hỷ duyên khinh an; khinh an duyên lạc; lạc duyên định; định duyên tri kiến như chân; tri kiến như chân duyên yếm ly; yếm ly duyên ly tham; ly tham duyên giải thoát; giải thoát duyên trí về đoạn diệt" (Tương Ưng bộ, Tập II – Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (a), III. Phẩm Mười Lực, III. Duyên)

Đức Phật nói rằng cái sanh duyên với khổ, từ cái khổ mới duyên với lòng tin, tức là sanh ra mà không thấy khổ là vô văn phàm phu, còn khi sanh ra được gặp Thánh pháp về Khổ Thánh Đế rồi phát khởi lòng tin là bậc Đa văn Thánh đệ tử. Sanh duyên khổ nghĩa là sanh ra rồi được gặp nhân duyên bậc Chánh Đẳng Giác hoặc là bậc A-la-hán hoặc là bậc thành tựu nói cho nghe về Khổ Thánh Đế, còn trường hợp đặc biệt là Bích-chi Phật, nghĩa là vị Phật Độc Giác tự mình chứng ngộ, tự nhìn vào tâm quán rồi thành tựu lý duyên khởi. Bậc minh nhãn là con mắt sáng thấy được khổ, muốn thấy được khổ thì phải thấy ngũ uẩn cho nên phải nhận diện được ngũ uẩn mới thấy khổ, còn không nhận diện được là không bao giờ thấy khổ, còn lúc trước mình học đủ thứ nhưng thật sự không thấy ngũ uẩn nên cái thấy vô thường, khổ, vô ngã chỉ ở ngoài da chứ không đi vào trong xương, trong tủy được, đến bây giờ nhìn vào thọ; tưởng; hành là thấy chán ngán với nó, bên ngoài nhìn vào thấy ngồi thiền có vẻ thanh thoát, nhẹ nhàng nhưng bên trong lại khổ vô cùng, phải thấy tất cả đều vận hành trong khổ thì mới tịn tính được.

Sanh ra mà gặp được bậc Chánh Đẳng Giác cũng như con rùa mù trăm năm mới nổi lên gặp được bọng cây, sanh ra mà gặp được bậc A-la-hán cũng như con rùa mù gặp được bọng cây nổi đưa nó vào đất liền, gặp được bậc chân nhân, chánh kiến cũng là nhân duyên vô lượng vô biên kiếp mới có, đó mới gọi là sanh duyên khổ. Từ cái nghe được khổ, nhìn lại ngũ uẩn thấy được tính chất vận hành của nó, sau đó là xác quyết niềm tin không dao động, không thay đổi nữa, như vậy gọi là khổ duyên tin. Sau khi tin rồi chiêm nghiệm, tư duy, tác ý, thiền quán, sống với niềm tin đó rồi mình vui sướng, phấn khởi thì đó là tín duyên hân hoan, hân hoan khi thấy được ngũ uẩn, hân hoan khi thấy được những cảm thọ, của những suy nghĩ, nghĩ tưởng, nhận thức, thấy được sự vận hành của dục ái, tham sân, bản ngã, hơn thua, thấy được sự xảo quyệt của tâm.

Thân trống rỗng không ai trong đó

Chỉ có tâm xảo trá trong thân

Giả dối, khoe khoang, phô bản ngã

Ngụy biện quanh co giấu lỗi lầm.

Khi thấy được bản chất của tâm thì mình vui mừng như người mù được sáng mắt, khi hiểu được pháp, cảm nhận được pháp mà pháp lại ở ngay trong thân tâm ngũ uẩn thì mình vui mừng và tiếp tục tu tập, tiếp tục thiền tập, nhận diện ngũ uẩn, tiếp tục tác ý sẽ đi từ từ đến trạng thái nhẹ nhàng của tâm, sân được giảm thiểu, bản ngã nhẹ lại, tất cả những gì nổi loạn lúc xưa bắt đầu nhẹ nhàng, khinh an. Khi nhẹ rồi tâm được vui, khi nãy là mừng thì thô hơn vui, vui nghĩa là lạc, khi vui nhẹ sẽ đi vào định, tâm được yên sẽ tập trung tâm ý vào những lời dạy của Đức Phật một cách sâu sắc chứ không phải định là không suy nghĩ gì cả vì nếu không suy nghĩ thì làm sao có tri kiến như thật. Mình phải có một sự tác ý, tư duy và có sự quán chiếu và tâm yên định của chỉ, những cái này kết hợp khéo léo, thiện xảo vừa đủ để định, vửa đủ tuệ để nhìn thấy vì nếu quá dao động trong cái quán thì không được nhưng nếu quá im lặng không nhìn sâu cũng không được, hai cái này cần cân bằng, định, huệ, chỉ, quán cần cân bằng phù hợp thì tri kiến như thật xuất hiện, có gì là thấy đúng như vậy chứ không thấy sai giống như mặt nước vừa trong vừa yên lặng nên dưới đáy hồ có gì đều được nhìn thấy, tất cả những lậu hoặc vi tế, nhỏ nhiệm, sâu kín trong những ngõ ngách của tâm được được phơi bày trong cái định này.

Bây giờ mình tu chỉ thấy được những cái thô bên ngoài thôi, nhiều khi được chỉ dạy còn không đồng ý, "con đâu có đâu", còn khi đã vào định sẽ thấy tất cả những gì sâu kín nhất, nhìn thấy năm tổ hợp của sắc chất, cảm giác, suy nghĩ, hình bóng và nhận thức, từ việc nhìn thấy năm uẩn của chính mình rồi nhìn ra thấy tất cả năm uẩn của chúng sanh, thế giới nên ngao ngán, chán lìa, bây giờ chỉ mới biết chút đỉnh mà còn thấy chán như vậy thì nói gì đến việc có thần thông thấy mọi thứ thì còn chán ngán đến cỡ nào nữa. Thấy bản tính dối trá, lọc lừa, thấy tính chất tan hoại, tính chất trống rỗng, trống không trong thân tâm này, khi thấy được như vậy thì trí thấu suốt về đoạn diệt thành tựu, tức là chấm dứt hoàn toàn, không muốn tái tạo ra những thân hình, đời sống đau khổ đầy tham, sân, si này nữa, đó gọi là đoạn sanh tử, thoát sanh tử. Liễu sanh thoát tử, chấm dứt vòng quay của tử sanh, đó là Diệt Đế, vô minh bị phá, tham ái không còn, chấm dứt sự tái tạo ra tham, sân, si, sầu bi, ưu não, chấm dứt tái tạo ra đời sống si dại, ngu mê, khổ sầu, đó là thành tựu trí về đoạn diệt.

"Ví như, này các Tỳ-kheo, trên đỉnh núi trời mưa nặng hột và nước chảy theo triền thấp, tràn đầy hang núi, khe núi, thung lũng. Khi các hang núi, khe núi, thung lũng được tràn đầy, thời ao nhỏ được tràn đầy; ao nhỏ được tràn đầy thời ao lớn được tràn đầy; ao lớn tràn đầy thời sông nhỏ được tràn đầy; sông nhỏ được tràn đầy thời sông lớn được tràn đầy; sông lớn được tràn đầy thời biển lớn, đại dương được tràn đầy" (Tương Ưng bộ, Tập II – Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (a), III. Phẩm Mười Lực, III. Duyên)

Do đời sống này gặp được trí tuệ về khổ, phát khởi lòng tin bất động, có được sự hân hoan, mừng nhẹ nhàng, có được sự an lạc và nội tâm an tịnh. Từ nội tâm an định đó thành tựu cái thấy biết đúng sự thật, sanh ra sự chán lìa, không còn tham, hướng đến giải thoát và thành tựu trí về đoạn diệt. Như vậy trí về đoạn diệt là một sự đại viên mãn chứ không phải đoạn diệt là hết, ví như nước tràn hết tất cả bốn biển thì sự tu hành của mình phải đi đến đó, chấm dứt hoàn toàn dục, ái, tham, sân, si, vô minh và bản ngã, chấm dứt hoàn toàn những yếu tố dẫn đến đời sống của tổ hợp khổ đau. Đó là Diệt-Khổ Thánh Đế. Vì thế cần cảm ơn cái khổ rất nhiều, cảm ơn những người làm cho mình thấy cuộc đời này là khổ nên mình mới có được đầu tròn áo vuông, có tấm y ruộng phước, xả bỏ hồng trần lên non cầu đạo, ngồi nơi đỉnh Linh Quy với mây trắng trăng sao, ngồi ở Cổng Trời nghe chim hót ngắm mây bay, nhìn trúc xây và thấy rõ chân tướng của cuộc đời này.

Vui vẻ ơi!

Vui vẻ ơi!

Hoan hỉ ơi!

Hoan hỉ ơi!

Ta khơi dậy trong ta

Tình thương và niềm vui,

Ta khơi dậy trong ta

Niềm vui và tình thương.

Tình thương sống trong ta,

Niềm vui sống trong ta.

Tình thương có trong ta,

Niềm vui có trong ta.

Ta mở rộng tình thương

Đến các loài hữu tình,

Ta mở rộng niềm vui

Đến các loài chúng sanh.

Tâm vui này tỏa rộng

Cùng khắp thế giới này,

Tâm vui này tỏa tộng,

Khắp đất trời bao la.

(Cửa Vào Bất Tử - Chơn Tín Toàn)

./.