Diệu Dụng Trong Sinh Hoạt
Tinh Hoa Nikāya
Diệu Dụng Trong Sinh Hoạt
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Cẩn trọng trong việc thọ dụng sự cúng dường PAGEREF _Toc177917451 \h 1
II. Cách sống biểu hiện nội tâm PAGEREF _Toc177917452 \h 9
I. Cẩn trọng trong việc thọ dụng sự cúng dường
Kính bạch các bậc Tăng Ni hiền trí cùng quý Phật tử. Một hôm Đức Thế Tôn cúi xuống lấy móng tay ngài khơi lên một chút đất dính trên đầu móng tay, ngài đưa lên hỏi các thầy Tỳ-kheo đất trên móng tay ngài nhiều hay đất dưới quả địa cầu là nhiều, các thầy Tỳ-kheo nói đất trong móng tay Thế Tôn rất ít so với đất của quả địa cầu này. Thế Tôn nói người chết đi được sanh trở lại làm người ít như đất dính trong móng tay, sau khi chết đi đọa địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh nhiều như quả đất, được sanh ra trong cõi trời, cõi người ít như đất dính trong móng tay.
"... Trú ở Sàvatthi.
Rồi Thế Tôn lấy một ít đất trên đầu móng tay và nói với các Tỳ-kheo:
Này các Tỳ-kheo, các Ông nghĩ thế nào? Cái gì nhiều hơn, chút đất này Ta lấy trên đầu móng tay, hay quả đất lớn này?
Cái này, bạch Thế Tôn, là nhiều hơn, tức là quả đất lớn này và ít hơn là chút đất mà Thế Tôn lấy trên đầu móng tay. Không thể đi đến ước tính, không thể đi đến so sánh, không thể đi đến một vi phần, khi so sánh quả đất lớn với chút đất mà Thế Tôn lấy trên đầu móng tay.
-- Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, rất ít là chúng sanh được tái sanh làm người! Còn rất nhiều là những chúng sanh phải tái sanh ra ngoài loài Người!
Do vậy, này các Tỳ-kheo, các Ông cần phải học tập như sau: 'Chúng tôi sẽ sống không phóng dật'.
Như vậy, này các Tỳ-kheo, các Ông cần phải học tập".
(Tương Ưng Bộ, Tập II – Thiên Nhân Duyên, Chương IX. Tương Ưng Thí Dụ, II. Đầu Ngón Tay)
Đọc qua bài kinh này thì thấy thường thôi nhưng khi chiêm nghiệm thì thấy thật sự lo lắng và sợ hãi. Tại sao gần đây chúng ta học nhiều bài về các bậc chân nhân, sự hiếu thảo của con với cha mẹ, tình nghĩa vợ chồng, anh em, cô cháu, huynh đệ, thầy trò? Nhìn kĩ sâu sắc về cuộc đời này sẽ thấy luân lý đạo đức sụp đổ hết, đa số mọi người không có trí tuệ để nhìn ra nền tảng, sự tuần tự của pháp, chỉ thích làm những gì cao siêu, Thánh Phật, Bồ-tát chứ đạo lý làm người lại không chịu tu học. Khi chiêm nghiệm sâu sắc sẽ thấy hỡi ơi, đau lòng và xót xa, thêm lo sợ cho tự thân mình và cho hữu tình chúng sanh, đây là điều đáng để chúng ta lo lắng.
Lúc nào cũng muốn làm Phật, làm La-hán, còn đạo làm người lại không để tâm. Những chuyện xảy ra gần đây làm Minh Thành ngao ngán chưa từng thấy, thật là ê chề, chán chê, yểm ly. Đi vào chùa tu không tu, học không học, thiền không thiền mà chỉ thích làm theo ý mình thôi, xung quanh thì từ trên rừng đến núi bị lấn đất, biết bao mưu sĩ, toan tính hại người khác. Mình nhìn thấy thật sự đúng là địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh trên trái đất, còn nhân thiên chỉ có một chút đất dính trên đầu móng tay.
Thật là xót xa và đau lòng! Đến với đạo không phải bằng tâm chân thành cầu pháp mà đến vì danh, vì lợi, ẩn dương nương Phật để hưởng nhàn, không phải vì tìm con đường thoát khổ cho nên mới xảy ra những tệ nạn trong chùa. Vào chùa để tìm quyền uy, giao cho cái gì là dính mắc cái đó, chỉ muốn làm sếp sòng cái đó, đó là mang tâm bất chánh đi học đạo. Như vậy thì làm sao thành tựu chánh quả? Thành ra Minh Thành chia sẻ trong chúng rằng Minh Thành rất sợ những nhà bếp trong chùa, điều này Minh Thành đã nhắc rất nhiều lần không phải riêng cá nhân người nào, phải cực kì cẩn thận trong nhà bếp, phước ở đó mà đại họa cũng ở đó, nhất là những Phật tử không biết giới luật thì vô cùng nguy hiểm.
Không phải muốn cho ai đồ gì là cho vì đồ đó không phải của mình nên mình không có quyền, đồ đó là của thập phương thường trụ tam bảo, người ta cúng cho tam bảo nên mọi thứ đều phải thưa trình lên, không được tự ý đem cho mà chưa hỏi ý. Những cái này trong kinh nói đều là địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, đụng vào những món đồ đó mà không thưa hỏi, tự ý đem cho là vô cùng nguy hiểm, mỗi một món đồ trong đó phải phổ đồng cúng dường, đầu tiên là những quý thầy lớn, sau đó là những vị thầy trong thất, kế đó là những quý thầy, quý cô, còn dư mới đến Phật tử, sau đó mới đến những người thợ, không phải ở trong bếp rồi thích người nào hoặc thương ai là đem cho người đó, như vậy sẽ bị đọa vì đồ đó không phải của mình. Nếu đồ đó của mình đem lên hoặc ai cho mình thì mình muốn cho ai cũng được, còn đồ cúng tam bảo là của thập phương thường trụ Tăng bảo.
Điểm thứ hai là không được phung phí, hủy phạm của thường trụ. Khi nấu nướng phải xét nét cho kĩ, nếu có dư cũng dư ít thôi, trong chuyện truyền thuyết có kể câu chuyện với tính cách giáo dục cao nên Minh Thành nhắc lại, khi ngài Ananda giặt tấm y thì sóng gió nổi lên, ngài dùng mọi cách để làm tấm y hạ xuống mà không được, vậy mà đem một hạt gạo của Đàn-na tín thí thảy lên là tấm y nằm xuống ngay, điều này nói lên một hạt gạo của Đàn-na tín thí nặng như Tu-di sơn.
Nếu tu không chân chánh, chia không đồng đều thì tâm thương ghét hay cái vô minh không biết giới luật, không biết phép tắc trong chùa sẽ bị đọa nặng, người tu không biết làm đúng bổn phận sẽ mang lông đội sừng. Điều này lâu nay Minh Thành ít nhắc đến nhưng hôm nay có duyên Minh Thành chia sẻ với mọi người, nhất là những thầy làm tri sự, quản chúng, mang trách nhiệm mà không biết giới luật, không cẩn thận chánh niệm lại cẩu thả sẽ bị đọa nặng, cứ bỏ phế mạnh ai muốn làm gì là làm thì trách nhiệm người đó phải chịu.
Vừa rồi là việc mua đồ đem về cúng dường đại chúng, quý thầy lớn không ai có hết, cái này cực kì nguy hiểm, vì vậy chúng ta cần nhớ đồ của người Phật tử cúng dường phải lợi hòa đồng quân, người ta cúng hai mươi trái cam nếu trong chúng có hai mươi vị sẽ được mỗi người một trái, không ai thiếu cả, trừ khi cúng mà người đó không dùng đem cho người khác thì đó là quyền của họ, còn cúng mà đem chia riêng không đến tay người kia thì người chia mắc tội.
Cho nên nhiều lần chia đồ Minh Thành thường hỏi lại vì chia xong là những người kia thường không nhận được đồ cúng, vậy là tội của người chia, trừ khi người đó không nhận. Vì thế không chỉ có học pháp mà còn phải học luật nữa, những cái này rất dễ mà không làm được thì những cái khó thì sao làm được? Lợi hòa đồng quân là những lợi dưỡng mà người ta cúng dường phải được chia đồng đều.
Tiếp theo là không được để đồ quá hạn sử dụng rồi đem bỏ, đó là tội của người tri khố chăm coi cái kho, đó là tội sơ suất, cẩu thả không để tâm. Để đồ ăn, nước tương, đồ đạc các loại quá hạn không dùng được nữa phải quăng bỏ thì cái quăng bỏ đó là tội của người quản lý kho đó. Mình phải kiểm tra thường xuyên, đồ nào phải dùng trước, đồ nào dùng sao, đồ nào đem cúng dường cho các chùa xung quanh hoặc đem chia sẻ cho người nghèo nếu không dùng hết.
Đó là ứng dụng chánh niệm và tỉnh giác của sự tiếc phước, tích phước, không được phung phí vì đó là đồ của Đàn-na tín thí, mồ hôi, nước mắt và máu của họ, đừng thấy cúng sẵn đồ rồi phung phí, đó là tội phải đọa địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh chứ không phải tội bình thường. Đồ vật do mình làm ra thì mình muốn cho ai cũng được, cái đó là do mồ hôi, nước mắt của mình, còn đây là đồ do mồ hôi, nước mắt và máu của bá tánh làm ra đem cúng dường, không phải đồ của mình cho nên mình hoàn toàn không có quyền. Ngay cả thầy trụ trì mà phung phí thì thầy đó cũng phải bị đọa, thầy tri sự cũng đọa, thầy tri khố cũng đọa chứ không phải làm thầy là không bị, nhân quả rất công bằng không phân biệt gì cả.
Những việc này không phải riêng trong bếp mà ngay cả trong phòng máy, ngoài vườn rau, bên Ni xá… Khi làm việc, khi đi chợ đều phải ứng dụng nguyên lý đó, không phải cứ cầm tiền chùa là dùng thoải mái, nguy hiểm vô cùng, nhân quả rất kinh hãi và khiếp sợ vô cùng. Khi thấy những người ăn trộm tiền trong thùng công đức thì quả thật không biết nói gì ngoài lắc đầu vì chắc chắn phía trước là địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, ăn cắp bên ngoài cũng có tội nhưng còn đỡ, còn ăn cắp của tam bảo thì tội gấp ngàn vạn lần.
Khi đi một vòng là lúc nào Minh Thành cũng có chuyện để nhắc nhở đại chúng, dùng cái gì là bỏ cái đó, dùng cuốc là quăng cuốc, dùng dao là quăng mất dao, vào bếp thấy tấm Bồ-đoàn quăng đó nên Minh Thành cầm lên phủi bụi đem vào để dành vì một tấm đó cả trăm ngàn, Phật tử phải để dành tiền cúng cho chùa. Những điều này Minh Thành nhắc nhở trong chùa nhưng các Phật tử nghe thì hãy ứng dụng trong gia đình mình, tấm tọa cụ Minh Thành nhặt ở dưới bếp đem lên, ghế tre mới hư có một thanh tre đã đem quăng ngoài mưa, mình đã không có phước mà còn hủy hoại cái phước cho nên tu thường bị bệnh hoạn, đau ốm, trắc trở, đầy chướng ngại, đó là do thiếu phước, chỉ có phước mới bao bọc, chở che cho mình.
Mình đã không có phước mà còn phung phí phước, hủy hoại phước mà đó là không phải phước của mình, đó là phước của bá tánh vạn dân thì tội nặng nề, người quăng đồ đã tội rồi, còn người nhìn thấy mà không tiếc phước cũng bị đồng tội cho nên Minh Thành đi nhặt từng chút một, có khi nhặt trong thùng rác.
Lúc nhỏ Minh Thành đi bán đá bọc, đi bưng từng tô hủ tiếu chay ngoài chợ, công việc trong gia đình không ai làm thì bản thân Minh Thành làm những việc đó. Ông nội Minh Thành đi nhặt từng bịch đá người ta quăng đi, còn bà nội thì nhặt từng tấm vải vụn để khâu lại từng tấm mền Bá-nạp, những đức tính đó đến giờ Minh Thành vẫn còn giữ, quét nhà thấy sợi thun cũng nhặt lại.
Những cái này khi học sẽ rất chi tiết, nhiều lúc Minh Thành thấy những người đi hái trà cắt luôn một cành trà thì trong người nhói tim, vì chỉ cần hái lá thôi để cành lại cho sống nhưng họ cắt hết cả cành luôn, cắt một thời gian là cây trà chết luôn, sống không nổi, đó là thiếu từ tâm đối với vô tình chúng sanh. Mình chỉ dùng lá để uống trà nhưng tại sao lại cắt luôn cả cành rồi giữ lá bỏ cành? Cành của cây chính là tay chân của cây, nếu thật sự cần thì mới cắt, cho nên dùng chánh niệm tỉnh giác để soi rọi từng việc sẽ rất nhỏ nhiệm.
Có lỗi mà huynh đệ góp ý một chút là bỏ xuống núi thì làm sao học đạo? Nhìn thấy thật là xót xa, vô minh quá dày, bản ngã lại lớn, sân si khủng khiếp, buông lung phóng dật, cẩu thả, qua loa, không sâu sắc, không để tâm, không chú ý những cái nhỏ nhiệm thì làm sao tu được đến chỗ lậu tận? Lậu là chỗ rò rỉ, là chỗ thấm dột nhưng rất khó biết, có khi phải dỡ mái nhà ra mới biết được chỗ nào, rồi phải tìm hiểu kĩ mới sửa được cho nên chữ "lậu" nghĩa là rỉ chảy, thấm ướt, rò rỉ, ở đây chỉ mới nói đến nhân đạo nghĩa là đạo làm người.
Khi ăn cơm, khi uống chung trà, nằm lên gường hay ngồi lên ghế phải nghĩ đến mồ hôi, nước mắt của người cúng dường, mới hư vài thanh tre thôi thì kiếm thanh tre khác vá lại vì ở đây tre rất nhiều, thế là cái ghế còn nguyên, vậy mà chỉ hư một hai thanh tre đem quăng luôn cả cái ghế. Hôm nay mình học đức tánh tiết kiệm, tiếc phước, các Phật tử cũng phải nhớ để ứng dụng cho gia đình của mình, mình để dành phước, có dư phước thì mới đem đi bố thí được.
Mình ở chùa đều là ăn nhờ ở đậu, đều là dân ăn xin, không làm ra đồng tiền thì làm sao dám xài lớn? Tất cả những đồ ở đây đều do người ta cho, mình xài lớn là mình vô minh vì chỉ có vô minh mới làm như vậy, còn có minh, có trí, có sự chánh niệm thấy biết, có sự thấu nhân quả sẽ không dám làm vậy, cho nên phải tiết kiệm từng ly từng tí, tiết kiệm trong từng Bồ-đoàn, từng cái tọa cụ, từng quyển kinh sách. Tất cả những vật trong thường trụ tam bảo đều phải dùng tiết kiệm, vận dụng tâm biết ơn để biết ơn những người cúng dường cho mình, nhớ ơn họ để không phung phí đồ họ cúng.
Phải nuôi lớn cảm thọ biết ơn và nhớ ơn để nó tràn ngập khắp mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý, trong từng ý nghĩa, từng cái nhìn, cái nghe, sự tiếp xúc của mình, chỉ có nhớ ơn mới không dùng phung phí từng tách trà, từng chung nước, từng hạt cơm. Khi tưới rau cũng tưới cố định hai thùng nước chứ không phải tưới phung phí nước, chừa nước lại cho công việc khác, khi làm gì là chỉ biết có mình chứ không nghĩ đến công việc của người khác, đó là tâm nhỏ hẹp. Muốn làm gì cũng phải nhìn toàn thể đại cuộc, mình chỉ là một phần nhỏ trong tập thể thôi, khi Thế Tôn chuẩn bị nhập Niết-bàn thì ngài Ananda thỉnh Thế Tôn lời giáo giới cho Tăng chúng thì Thế Tôn nói rằng ngài không bao giờ xem mình là người lãnh đạo Tăng chúng thì làm sao ngài có lời giáo giới, ngài chỉ xem mình là thành viên trong Tăng chúng. Câu nói này làm rúng động mọi thứ.
"Rồi Tôn giả Ananda đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:
-- Bạch Thế Tôn, con thấy Thế Tôn kham nhẫn! Bạch Thế Tôn, con thấy Thế Tôn chịu đựng! Bạch Thế Tôn, thân con cảm thấy yếu ớt như lau sậy, mắt con mờ mịt không thấy rõ phương hướng. Pháp không được tỏ rõ cho con vì Thế Tôn bị bệnh. Nhưng bạch Thế Tôn, con được chút an ủi rằng Thế Tôn sẽ không diệt độ, nếu Ngài không có lời di giáo lại cho chúng Tỳ-kheo.
-- Này Ananda, chúng Tỳ-kheo còn mong mỏi gì nữa ở nơi Ta. Này Ananda, Ta giảng pháp không có phân biệt trong ngoài. Vì, này Ananda, đối với các pháp, Như Lai không bao giờ là vị Ðạo Sư còn nắm tay. Này Ananda, những ai nghĩ rằng Ta sẽ là vị cầm đầu chúng Tỳ-kheo, hay: Chúng Tỳ-kheo chịu sự giáo huấn của Ta, thời này Ananda, người ấy sẽ có lời di giáo cho chúng Tỳ-kheo. Này Ananda, Như Lai không có nghĩ rằng: 'Ta sẽ là vị cầm đầu chúng Tỳ-kheo", hay 'Chúng Tỳ-kheo chịu sự giáo huấn của Ta', thời này Ananda, làm sao Như Lai lại có lời di giáo cho chúng Tỳ-kheo" (Tương Ưng Bộ, Tập V. Thiên Đại Phẩm, Chương III. Tương Ưng Niệm Xứ (a), I. Phẩm Ambapàli, IX. Bệnh)
Chúng ta phải khắc ghi vào tim những bài học nhỏ này, bà Ma-ha-ba-xà-ba-đề (Mahāpajāpatī Gotamī) là dì mẫu của Thế Tôn đã tự thân mình may hai tấm vải đẹp dâng lên Thế Tôn nhưng Thế Tôn bảo hãy đem y ra cúng dường cho mọi người.
"Một thời, Thế Tôn trú giữa dòng họ Sakka (Thích-Ca), ở Kapilavatthu (Ca-tỳ-la-vệ), tại tinh xá Nigrodha (Ni-câu-luật Thọ Viên).
Rồi Mahapajapati Gotami (Củ đàm Nữ Ma-ha-ba-xà-bà-đề), đem theo một cặp y mới, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Mahapajapati Gotami bạch Thế Tôn:
-- Bạch Thế Tôn, cặp y mới này do con cắt và dệt đặc biệt cho Thế Tôn. Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn vì lòng từ mẫn hãy nhận lấy cho con.
Khi được nghe nói vậy, Thế Tôn nói với Mahapajapati Gotami:
-- Này Gotami, hãy cúng dường Tăng chúng. Bà cúng dường Tăng chúng, thời Ta sẽ được cung kính, và cả Tăng chúng cũng vậy.
Lần thứ hai, Mahapajapati Gotami bạch Thế Tôn:
-- Bạch Thế Tôn, cặp y mới này do con cắt và dệt.. hãy nhận lấy cho con.
Lần thứ hai, Thế Tôn nói với Mahapajapati Gotami:
-- Này Gotami, hãy cúng dường Tăng chúng.. và cả Tăng chúng cũng vậy.
Lần thứ ba, Mahapajapati Gotami bạch Thế Tôn:
-- Bạch Thế Tôn, cặp y mới này do con cắt và dệt ... hãy nhận lấy cho con.
Lần thứ ba, Thế Tôn nói với Mahapajapati Gotami :
-- Này Gotami, hãy cúng dường Tăng chúng... và cả tăng chúng cũng vậy". (Trung Bộ Kinh, 142. Kinh Phân biệt cúng dường)
Trong kinh Thế Tôn dạy như vậy mà mình làm ngược lại, chia sẻ không đồng đều. Thế Tôn không nhận riêng mà ngài bảo chia ra cúng cho mọi người, còn người mẹ lúc nào cũng thương con, tuy rằng hình thức là bậc đạo sư và đệ tử nhưng trong lòng bà là tình mẫu tử vì ngày xưa bà nuôi ngài, còn ngài thì bảo chia đều hai tấm y ra để mỗi người được một tấm khăn hay là tấm tọa cụ, như vậy phước đức sẽ được viên mãn.
Còn tâm của mình lại nhỏ hẹp, khi làm gì đều không nhìn toàn thể trong tòng lâm, tâm nhỏ hẹp nên làm gì chỉ biết cái đó, được cái của mình nhưng mất cái kia cho nên phải làm sao để dung hòa đôi bên hoặc làm sao để ổn định trong chúng, trong đạo tràng, tầm nhìn phải bao phủ trong đại chúng chứ không phải chỉ biết trong phạm vi của mình, làm rau thì chỉ biết vườn rau, làm bếp thì chỉ biết trong bếp là không được. Khi làm bếp phải biết nấu ăn đầy đủ dinh dưỡng nhưng vệ sinh, có đầy đủ sức khỏe chứ không phải chỉ chạy theo hương vị rồi mang bệnh cho nên trong cái ăn là cả một nghệ thuật.
II. Cách sống biểu hiện nội tâm
Muốn tu học trong việc làm của mình thì phải không ngừng nghiên cứu lãnh vực chuyên môn đó về đạo thực dưỡng, muốn làm cái gì cũng phải đầu tư và để tâm vào đó. Ở Nhật người ta bán trái xoài năm ngàn đô la vì người ta trồng bằng cả một công nghệ tiên tiến, họ đầu tư hết tâm sức, tấm lòng trong đó. Ở bên Nhật nâng tầm uống trà thành trà đạo, võ thì thành võ đạo, kiếm thì trở thành kiếm đạo, nghĩa là những cái đó phát huy đến tận cùng thì trở thành đạo, nghệ thuật đó là sự chánh niệm, là nhìn sâu sắc các phương diện trong đó để phát huy đến mức cao của việc làm đó.
Cái ăn không còn chỉ để no nữa mà còn mang lại nhiều giá trị trong cái ăn đó, muốn vậy phải đầu tư tâm huyết vào việc mình làm, quay phim, viết sách, trang trí tòng lâm cũng vậy. Ăn cơm trong chánh niệm gọi là chánh quán thọ thực thì trở thành cơm đạo, uống trà có sự chánh niệm trong đó thì thành trà đạo, tất cả những cái đạo đều có sự chánh niệm và tỉnh thức trong đó, đào sâu vào để thấy được giá trị, lợi ích trong đó. Học kinh là để chiếu phá, nhiếp phục, chế ngự trong tự thân mình, mình phải biết vận dụng ra ngoài thì gọi là diệu dụng của đạo, phải vận dụng ra hết tất cả mọi phương diện trong đời sống.
Mình ở trên núi này gọi là trúc đạo, không tốn một đồng nào để mua bông hoa, mình có sẵn trúc xanh thì đem lên cúng Phật và Tăng làm trang nghiêm thanh tịnh, nhiều người về đây thích thú vì nó lạ. Như vậy mình sử dụng trúc đạo đơn giản, không tốn kém, thanh nhã, thanh thoát, phù hợp với thiên nhiên, cái đó trở thành trúc đạo, ở bên Nhật còn có hoa đạo vô cùng tinh tế, tất cả mọi thứ đều là nghệ thuật nên rất khó, cần để tâm học hỏi rất nhiều, chánh niệm soi vào cái nào thì cái đó thành đạo, thành pháp, thành nghệ thuật, còn không có chánh niệm tỉnh giác sẽ thành bề bộn, lộn xộn.
Nhìn vào bình chưng trúc là người ta biết mình tham vì nhét vào đầy cành trúc không còn chỗ nào trống cả, thành một mớ lộn xộn cho nên tu Nikāya rất đặc biệt, đạo nhãn, pháp nhãn, trí nhãn rất tuyệt vời. Bước đi của mình nhìn vào là biết mình có chánh niệm không, cách nói chuyện nghe là biết có sân, có bản ngã không, cách nói qua điện thoại là biết mình có cung kính không, cái thọ lúc đó đang như thế nào, trong khẩu khí sẽ có cái thọ. Bây giờ đang có trào lưu đem cả vườn cây vào chánh điện, nhìn vào vườn bông chiếm hết nửa chánh điện, nếu không nắm vững pháp thì khi vận dụng sẽ đi trong tham, sân, si, bản ngã, còn khi nắm vững pháp thì lúc vận dụng sẽ tương ứng với ly tham.
Mỗi lần Minh Thành lên Quán Chiếu Đường là đều đem những bình bông cúng Phật xuống đất, dù đã nhắc nhiều lần nhưng lần nào lên cũng phải đem xuống. Chưng bông mà cao che hết Phật, vượt qua mặt Phật là không có sự tôn kính cho nên nhiều khi thấy Phật ngồi trong vườn bông, không còn thấy Phật nữa mà chỉ thấy bông, đó là cái phụ lấn cái chính làm mất đi ý nghĩa tôn kính Phật bảo, tâm tham che mờ hết.
Chỉ cần nhìn lên bàn Phật là biết được ngay tâm của người đó, chưng bông cao che hết mặt Phật thì đó là không thành tựu sự cung kính pháp, không có cái gì được phép cao qua khỏi Phật, tất cả các đồ cúng phải ở phía dưới. Nhìn vào Quán Chiếu Đường chúng ta thấy Phật ngồi trên cỏ. Trong kinh ghi lại Thế Tôn đến thì người giữ vườn không cho ngài vào vì trong này đang có các bậc tôn giả khác đang tu, người ấy nói Thế Tôn đừng đến làm phiền, hoặc là khi Thế Tôn đến lò gạch thì người làm gạch là đệ tử của đệ tử Đức Phật nhưng người đó không biết Thế Tôn, điều này chứng tỏ Phật là con người rất bình dị chứ không phải như bây giờ mình tưởng tượng ngài đi đâu cũng tỏa hào quang sáng chói, ngài giống y hệt mình nhưng chẳng qua ngài có những tướng tốt đặc biệt hơn người bình thường. Đọc trong kinh ghi lại ngài có 32 tướng tốt thì mình bất ngờ nhưng vào thời đó những điều này là một nét đẹp, trong Quán Chiếu Đường của mình làm tượng Phật ngồi trên cỏ chứ không có hào quang, điện xẹt gì cả.
Mình phải vận dụng pháp vào trong sinh hoạt, nếu không là cúng Phật một hồi là chỉ thấy bông chứ không thấy Phật gì nữa. Trước nhất phải đưa chánh niệm tỉnh giác vào chỗ đó để nó thành đạo, nhìn vào chỗ cắm hoa của người Nhật rất thanh thoát, nhẹ nhàng, dễ chịu, còn ở đây có nhiều trường hợp vào chùa lạy Phật từ cổng chính ra sau chùa mà không hề biết tượng Phật đó tên gì, chất bông hoa, trái cây đầy hết giống như hội bàn đào, đó là tâm tham do không nắm vững cái pháp nên sẽ biểu hiện ra như vậy.
Cho nên trong chỗ thờ cúng sẽ biểu hiện ra sự nhận thức của người đó về pháp, trong cách sinh hoạt hằng ngày, từ cách đi, đứng, nói chuyện sẽ thể hiện nội lực công phu, mức độ chánh niệm và tỉnh giác của mình, có trường hợp bước ra khỏi thiền đường là mất hết oai nghi chánh hạnh, trở thành vô văn phàm phu, tu như vậy rất uổng, đó là trí tuệ bắp vế, rơi rớt hết kiến thức giống như bánh kẹo để ở đùi, đứng lên là rớt hết.
"Và này các Tỳ-kheo, thế nào là người với trí tuệ bắp vế? Ở đây, này các Tỳ-kheo, có hạng người đi đến khu vườn (tinh xá). Người ấy, tại chỗ ngồi ấy, đối với bài thuyết giảng ấy, có tác ý đến đoạn đầu, có tác ý đến đoạn giữa, có tác ý đến đoạn cuối. Nhưng khi người ấy từ chỗ ngồi ấy đứng dậy, đối với bài thuyết giảng ấy, người ấy không có tác ý đến đoạn đầu, không có tác ý đến đoạn giữa, không có tác ý đến đoạn cuối. Ví như này các Tỳ-kheo, trên bắp vế của một người, các loại đồ ăn được chồng lên như hạt mè, hột gạo, các loại kẹo và trái táo. Khi từ chỗ ngồi đứng dậy, vì vô ý, người ấy làm đổ vãi tất cả. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, ở đây, có hạng người đi đến khu vườn ... Người ấy, tại chỗ ngồi ấy ... có tác ý đoạn cuối. Nhưng khi người ấy tại chỗ ngồi ấy đứng dậy ... không có tác ý đoạn cuối. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là hạng người với trí tuệ bắp vế". (Tăng Chi Bộ, Chương III - Ba Pháp, III. Phẩm Người, 30 - Lộn Ngược)
Phải thực tập trong từng bước đi của mình, đó là Thân Hành Niệm, phải kiểm soát trong từng lời nói, không phải muốn nói gì là nói. Phải thực tập từ từ lâu ngày dài tháng thì mới thuần thục chứ không phải lúc thì gồng lên chịu trận, lúc thì buông thả, lúc thì hỏi không thèm nói, lúc thì nói vang dội núi đồi cho nên Đức Phật dạy mình kéo dây đàn căng quá thì đứt, còn chùng quá thì không hay, phải căng cho vừa phải thì âm thanh mới vi diệu cho nên phải vận dụng cái pháp vào trong sinh hoạt hằng ngày.
Phải nhớ nhân nghĩa đạo đức là điều trước tiên, không có cái này thì mọi thứ khác đều vô nghĩa, người đời có câu "Dục tu tiên đạo, tiên tu nhơn đạo. Nhơn đạo bất tu, tiên đạo viễn hỹ" nghĩa là muốn tu tiên đạo, trước tu nhân đạo. Nhân đạo không tu, tiên đạo xa vời. Nhân đạo nghĩa là đạo làm người mà đạo làm người là phải sống có trên có dưới, có trước có sau, có tình có nghĩa, có thủy có chung, có hiếu có thảo, có cha có mẹ, có anh có em, có thầy có bạn, có huynh có đệ,… phải làm được những cái này. Phải nhìn ra được những cái tâm bất trắc, những cái tâm phản phúc, phản loạn, nổi loạn, phải diệt tận nó, đang đi chung với thầy qua chùa khác rồi bất thình lình không muốn về nữa, chỉ muốn ở lại thôi, tâm nổi loạn này rất nguy hiểm.
Ngày xưa cho đệ tử qua thăm viếng các chùa, các đạo tràng, đi thăm về rồi xách đồ qua đó ở luôn, chỉ mới đi thăm thôi đã bỏ luôn thầy qua chỗ mới ở. Trong thời đại này mà không kiểm soát được sự nổi loạn đó, không nhiếp phục được những cảm thọ đó sẽ dễ trở thành bất nhân bất nghĩa và bất hiếu, nhiều khi đi tu mười năm, hai mươi năm rồi cuối cùng ra đi lại phỉ báng thầy mình, oán hận thầy, nói xấu thầy.
Thật là đáng thương xót!
Thật là đại bại!
Chúng ta bỏ cha bỏ mẹ, bỏ mọi thứ để tìm thầy cầu pháp nhưng lại không nhìn thấy pháp mà chỉ tìm danh, tìm lợi, tìm địa vị, tìm không được những cái đó thì tức giận, sân hận. Thời đại bây giờ tìm một người chân chánh cầu pháp không hề có, đếm trên đầu ngón tay cũng không đủ, từ ngày Minh Thành lên núi đến bây giờ người thật sự quyết tâm, chân thành để cầu chánh pháp thì đếm trên đầu ngón tay cũng không hết được bàn tay. Từ đâu bị như vậy? Vì không thành tựu chánh kiến, đặt tâm không đúng hướng nên thọ; tưởng; hành dẫn đi sai đường. Minh Thành rất quý trọng các vị Tam tạng pháp, nhất là những vị thuộc được tạng kinh, mình muốn lạy dưới chân các ngài, mình không có khả năng thuộc được hết kinh nhưng có tâm nguyện muốn giải thích kinh, nguyện vọng này lớn vô cùng, không phải chuyện đơn giản, nếu không có sự cố gắng nỗ lực phi thường thì không làm được.
Mỗi ngày chúng ta chỉ có một buổi nghe pháp nên đại chúng phải cố gắng, thật sự sức Minh Thành có thể làm hơn nữa nhưng đại chúng chịu không nổi, có thể Minh Thành sẽ phải tự làm để tròn tâm nguyện, phải giải thích hết tạng kinh Nikāya trước khi nhắm mắt. Nếu mình không thể làm Tam tạng pháp sư thì mình nguyện làm người giải thích một tạng kinh Nikāya, giải thích hết những ý nghĩa quan trọng trong đó để lại cho Phật giáo sau này.
Thật là khó có người đồng cảm! Hôm qua Minh Thành cầm lên quyển kinh mà cảm xúc dào dạt, có một Phật tử thấy được giá trị của Nikāya nên vị này âm thầm cúng một trăm bộ đại kinh, Minh Thành cầm lên quyển kinh mà xúc động chảy nước mắt. Tất cả những lời của Thế Tôn đều nằm trong đó, tất cả Thánh trí tuệ của bậc Đại Giác nằm trong đây, tất cả chân lý bí mật của vũ trụ vạn vật nằm trong đây, cầm quyển kinh mà hạnh phúc trào dâng muốn tràn nước mắt.
Những bộ này Minh Thành sẽ gửi đến những Tăng Ni thật sự cần thiết, bộ kinh cũ ngày xưa có rất nhiều quyển nhưng bộ mới bây giờ gói một bộ trong một quyển, giấy rất mỏng nhưng rất bền, tất cả những bài kinh Tương Ưng Bộ đều nằm trong một quyển, Tăng Chi Bộ, Trường Bộ hay Trung Bộ cũng nằm gói gọn trong một quyển. Cầm bốn quyển kinh này là đi đến chân trời góc bể tu hành, không còn tìm kiếm gì nữa, tất cả Thánh trí tuệ đều nằm trong đó, trí tuệ của bậc đại Thánh, mật mã của vũ trụ đều nằm trong đó.
Hôm nay chúng ta tâm sự những điều rất gần gũi, thực tế trong đời sống để làm sao chúng ta vận dụng khéo léo tinh thần của giáo pháp vào trong đời sống. Mình phải biết tiết kiệm, tiết phước, phải chú trọng nhân quả từng chút một trong từng suy nghĩ, lời nói, hành động và phải nhớ chánh tri kiến là tuyệt đối quan trọng. Chúng ta đang nói về tâm nguyện giải thích đại tạng kinh, điều này thật sự rất lớn lao nhưng đối với bản thân Minh Thành đã trở thành điều tự nhiên, chỉ còn tùy vào thọ mạng thôi, nếu thọ mạng dài thì cố gắng làm xong, còn thọ mạng ngắn thì phải chịu, đời sau làm tiếp nếu còn trở lại làm người, còn không ai làm tiếp thì hãy làm.
Mình không làm tam tạng pháp sư được như ở bên Myanmar thì chỉ mong giảng giải hết những phần cốt lõi, quan trọng trong tạng kinh Nikāya, muốn làm điều này không phải chỉ một mình Minh Thành có thể làm được mà phải có một đội ngũ, từ các vị quay phim, thính chúng cho đến những cơ duyên mới có thể làm được, nếu làm được thì thật là hy hữu hiếm có của Phật giáo thế giới. Xin thưa với các Phật tử là tất cả những bài giảng đều được đánh máy, ghi chép lại và đang chỉnh lý, khoảng 1000 bài giảng về Nikāya đang được chỉnh lý và sắp sửa ra sách, ví dụ như các chủ đề về Khổ Thánh Trí, làm an tâm người bệnh hay là Tứ Niệm Xứ và những chuyên đề đã học trong mùa dịch này, tất cả sẽ được in ra sách vì nếu để ở trên mạng thì có khi mạng internet bị hư sẽ mất hết.
Sở dĩ đại tạng kinh còn là do các ngài ghi chép lại, thậm chí khắc trên đá, còn giờ chúng ta để trên mạng mà lỡ mạng hư thì mất hết, ban văn hóa của Linh Quy đang âm thầm biên tập tất cả những phần giải thích những bài kinh của Đức Phật để làm thành bộ "Thánh pháp tạng", tức là hậu Nikāya. Bốn quyển đại tạng kinh mới nhất hiện nay là chánh văn, còn bộ mình đang biên tập là giải thích, giảng giải trong kinh ra, có thể mang tên "Thánh pháp tạng".
Mong rằng suốt cuộc đời này chỉ để lại cho thế gian một bộ như vậy là Minh Thành đã mãn nguyện, tất cả những cái khác không quan trọng cũng không quan tâm nhiều, để cho những người tu sau này biết con đường tu hành dù trăm năm sau, nếu họ chịu khó đọc thì họ sẽ biết được đạo lộ tu hành. Nhân dịp này Minh Thành chia sẻ là Minh Thành kính mời các Phật tử trong đạo tràng Nikāya hiểu được pháp, có trình độ viết lách ngoài đời thì mong quý vị cùng chung tay với Minh Thành trong ban văn hóa Linh Quy Pháp Ấn đăng kí cộng tác để phụ giúp chỉnh lý biên tập bộ "Thánh pháp tạng" này.
Hiện tại đang thiếu người sửa chính tả, biên tập bài lại trong ban biên tập, nếu quý vị nào trong đạo tràng của mình có khả năng chữ nghĩa, yêu thích việc này, cùng chung đóng góp pháp thí này thì đây là một điều rất tốt đẹp, phúc lành, cộng tác cùng với Minh Thành, quý thầy và quý Phật tử trong ban văn hóa để chúng ta cố gắng hoàn thành. Nếu được thì mình sẽ làm 10 quyển Thánh pháp tạng, bây giờ đang thiếu người biên tập, chỉnh lý để ra sách cho nên quý Phật tử nào hay là các Tăng Ni có tâm yêu thích công việc này cùng chung tay hoàn thành pháp bảo "Thánh pháp tạng" thì hãy liên hệ qua email hoặc để lại số điện thoại trong phần bình luận để ban văn hóa liên lạc lại để cùng chung tay chuyển chánh pháp luân.
Mình sợ rằng sau này sẽ mai một, không còn nhiều người biết tạng kinh Nikāya nữa, nếu mình không làm cái này thì người ta đọc chánh văn sẽ không hiểu, mà không hiểu thì sẽ để qua một bên và từ từ tạng kinh này sẽ mai một, chánh pháp cũng mai một. Đó là tâm nguyện của Minh Thành, từ xưa đến nay chỉ làm một mình, đã có gợi ý rất nhiều lần chư Tăng Ni, các Phật tử nhưng không thấy có người đồng tâm hoặc là có người đồng tâm nhưng không kiên trì, chỉ làm một thời gian ngắn là bỏ hết, tâm nguyện của Minh Thành chỉ có vậy, làm xong thì Minh Thành giã từ cuộc đời này cũng mãn nguyện. Hiện tại thấy cái gì cũng quá ngao ngán, ngoài cái này ra không muốn làm gì nữa.
Ngoài việc tu học ra thì chúng ta nhớ phải làm các thiện pháp, tùy theo khả năng, năng khiếu cũng như điều kiện, hoàn cảnh của mình thì phải nhớ làm thiện pháp, gọi là phước huệ song tu, bi trí song vận, nghĩa là vừa tu phước vừa tu huệ, vừa tu từ bi vừa tu trí tuệ, kết hợp trong ngoài, tự lợi lợi tha, tự giác giác tha, tự độ độ tha.
./.
Diệu Dụng Trong Sinh Hoạt
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Cẩn trọng trong việc thọ dụng sự cúng dường PAGEREF _Toc177917451 \h 1
II. Cách sống biểu hiện nội tâm PAGEREF _Toc177917452 \h 9
I. Cẩn trọng trong việc thọ dụng sự cúng dường
Kính bạch các bậc Tăng Ni hiền trí cùng quý Phật tử. Một hôm Đức Thế Tôn cúi xuống lấy móng tay ngài khơi lên một chút đất dính trên đầu móng tay, ngài đưa lên hỏi các thầy Tỳ-kheo đất trên móng tay ngài nhiều hay đất dưới quả địa cầu là nhiều, các thầy Tỳ-kheo nói đất trong móng tay Thế Tôn rất ít so với đất của quả địa cầu này. Thế Tôn nói người chết đi được sanh trở lại làm người ít như đất dính trong móng tay, sau khi chết đi đọa địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh nhiều như quả đất, được sanh ra trong cõi trời, cõi người ít như đất dính trong móng tay.
"... Trú ở Sàvatthi.
Rồi Thế Tôn lấy một ít đất trên đầu móng tay và nói với các Tỳ-kheo:
Này các Tỳ-kheo, các Ông nghĩ thế nào? Cái gì nhiều hơn, chút đất này Ta lấy trên đầu móng tay, hay quả đất lớn này?
Cái này, bạch Thế Tôn, là nhiều hơn, tức là quả đất lớn này và ít hơn là chút đất mà Thế Tôn lấy trên đầu móng tay. Không thể đi đến ước tính, không thể đi đến so sánh, không thể đi đến một vi phần, khi so sánh quả đất lớn với chút đất mà Thế Tôn lấy trên đầu móng tay.
-- Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, rất ít là chúng sanh được tái sanh làm người! Còn rất nhiều là những chúng sanh phải tái sanh ra ngoài loài Người!
Do vậy, này các Tỳ-kheo, các Ông cần phải học tập như sau: 'Chúng tôi sẽ sống không phóng dật'.
Như vậy, này các Tỳ-kheo, các Ông cần phải học tập".
(Tương Ưng Bộ, Tập II – Thiên Nhân Duyên, Chương IX. Tương Ưng Thí Dụ, II. Đầu Ngón Tay)
Đọc qua bài kinh này thì thấy thường thôi nhưng khi chiêm nghiệm thì thấy thật sự lo lắng và sợ hãi. Tại sao gần đây chúng ta học nhiều bài về các bậc chân nhân, sự hiếu thảo của con với cha mẹ, tình nghĩa vợ chồng, anh em, cô cháu, huynh đệ, thầy trò? Nhìn kĩ sâu sắc về cuộc đời này sẽ thấy luân lý đạo đức sụp đổ hết, đa số mọi người không có trí tuệ để nhìn ra nền tảng, sự tuần tự của pháp, chỉ thích làm những gì cao siêu, Thánh Phật, Bồ-tát chứ đạo lý làm người lại không chịu tu học. Khi chiêm nghiệm sâu sắc sẽ thấy hỡi ơi, đau lòng và xót xa, thêm lo sợ cho tự thân mình và cho hữu tình chúng sanh, đây là điều đáng để chúng ta lo lắng.
Lúc nào cũng muốn làm Phật, làm La-hán, còn đạo làm người lại không để tâm. Những chuyện xảy ra gần đây làm Minh Thành ngao ngán chưa từng thấy, thật là ê chề, chán chê, yểm ly. Đi vào chùa tu không tu, học không học, thiền không thiền mà chỉ thích làm theo ý mình thôi, xung quanh thì từ trên rừng đến núi bị lấn đất, biết bao mưu sĩ, toan tính hại người khác. Mình nhìn thấy thật sự đúng là địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh trên trái đất, còn nhân thiên chỉ có một chút đất dính trên đầu móng tay.
Thật là xót xa và đau lòng! Đến với đạo không phải bằng tâm chân thành cầu pháp mà đến vì danh, vì lợi, ẩn dương nương Phật để hưởng nhàn, không phải vì tìm con đường thoát khổ cho nên mới xảy ra những tệ nạn trong chùa. Vào chùa để tìm quyền uy, giao cho cái gì là dính mắc cái đó, chỉ muốn làm sếp sòng cái đó, đó là mang tâm bất chánh đi học đạo. Như vậy thì làm sao thành tựu chánh quả? Thành ra Minh Thành chia sẻ trong chúng rằng Minh Thành rất sợ những nhà bếp trong chùa, điều này Minh Thành đã nhắc rất nhiều lần không phải riêng cá nhân người nào, phải cực kì cẩn thận trong nhà bếp, phước ở đó mà đại họa cũng ở đó, nhất là những Phật tử không biết giới luật thì vô cùng nguy hiểm.
Không phải muốn cho ai đồ gì là cho vì đồ đó không phải của mình nên mình không có quyền, đồ đó là của thập phương thường trụ tam bảo, người ta cúng cho tam bảo nên mọi thứ đều phải thưa trình lên, không được tự ý đem cho mà chưa hỏi ý. Những cái này trong kinh nói đều là địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, đụng vào những món đồ đó mà không thưa hỏi, tự ý đem cho là vô cùng nguy hiểm, mỗi một món đồ trong đó phải phổ đồng cúng dường, đầu tiên là những quý thầy lớn, sau đó là những vị thầy trong thất, kế đó là những quý thầy, quý cô, còn dư mới đến Phật tử, sau đó mới đến những người thợ, không phải ở trong bếp rồi thích người nào hoặc thương ai là đem cho người đó, như vậy sẽ bị đọa vì đồ đó không phải của mình. Nếu đồ đó của mình đem lên hoặc ai cho mình thì mình muốn cho ai cũng được, còn đồ cúng tam bảo là của thập phương thường trụ Tăng bảo.
Điểm thứ hai là không được phung phí, hủy phạm của thường trụ. Khi nấu nướng phải xét nét cho kĩ, nếu có dư cũng dư ít thôi, trong chuyện truyền thuyết có kể câu chuyện với tính cách giáo dục cao nên Minh Thành nhắc lại, khi ngài Ananda giặt tấm y thì sóng gió nổi lên, ngài dùng mọi cách để làm tấm y hạ xuống mà không được, vậy mà đem một hạt gạo của Đàn-na tín thí thảy lên là tấm y nằm xuống ngay, điều này nói lên một hạt gạo của Đàn-na tín thí nặng như Tu-di sơn.
Nếu tu không chân chánh, chia không đồng đều thì tâm thương ghét hay cái vô minh không biết giới luật, không biết phép tắc trong chùa sẽ bị đọa nặng, người tu không biết làm đúng bổn phận sẽ mang lông đội sừng. Điều này lâu nay Minh Thành ít nhắc đến nhưng hôm nay có duyên Minh Thành chia sẻ với mọi người, nhất là những thầy làm tri sự, quản chúng, mang trách nhiệm mà không biết giới luật, không cẩn thận chánh niệm lại cẩu thả sẽ bị đọa nặng, cứ bỏ phế mạnh ai muốn làm gì là làm thì trách nhiệm người đó phải chịu.
Vừa rồi là việc mua đồ đem về cúng dường đại chúng, quý thầy lớn không ai có hết, cái này cực kì nguy hiểm, vì vậy chúng ta cần nhớ đồ của người Phật tử cúng dường phải lợi hòa đồng quân, người ta cúng hai mươi trái cam nếu trong chúng có hai mươi vị sẽ được mỗi người một trái, không ai thiếu cả, trừ khi cúng mà người đó không dùng đem cho người khác thì đó là quyền của họ, còn cúng mà đem chia riêng không đến tay người kia thì người chia mắc tội.
Cho nên nhiều lần chia đồ Minh Thành thường hỏi lại vì chia xong là những người kia thường không nhận được đồ cúng, vậy là tội của người chia, trừ khi người đó không nhận. Vì thế không chỉ có học pháp mà còn phải học luật nữa, những cái này rất dễ mà không làm được thì những cái khó thì sao làm được? Lợi hòa đồng quân là những lợi dưỡng mà người ta cúng dường phải được chia đồng đều.
Tiếp theo là không được để đồ quá hạn sử dụng rồi đem bỏ, đó là tội của người tri khố chăm coi cái kho, đó là tội sơ suất, cẩu thả không để tâm. Để đồ ăn, nước tương, đồ đạc các loại quá hạn không dùng được nữa phải quăng bỏ thì cái quăng bỏ đó là tội của người quản lý kho đó. Mình phải kiểm tra thường xuyên, đồ nào phải dùng trước, đồ nào dùng sao, đồ nào đem cúng dường cho các chùa xung quanh hoặc đem chia sẻ cho người nghèo nếu không dùng hết.
Đó là ứng dụng chánh niệm và tỉnh giác của sự tiếc phước, tích phước, không được phung phí vì đó là đồ của Đàn-na tín thí, mồ hôi, nước mắt và máu của họ, đừng thấy cúng sẵn đồ rồi phung phí, đó là tội phải đọa địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh chứ không phải tội bình thường. Đồ vật do mình làm ra thì mình muốn cho ai cũng được, cái đó là do mồ hôi, nước mắt của mình, còn đây là đồ do mồ hôi, nước mắt và máu của bá tánh làm ra đem cúng dường, không phải đồ của mình cho nên mình hoàn toàn không có quyền. Ngay cả thầy trụ trì mà phung phí thì thầy đó cũng phải bị đọa, thầy tri sự cũng đọa, thầy tri khố cũng đọa chứ không phải làm thầy là không bị, nhân quả rất công bằng không phân biệt gì cả.
Những việc này không phải riêng trong bếp mà ngay cả trong phòng máy, ngoài vườn rau, bên Ni xá… Khi làm việc, khi đi chợ đều phải ứng dụng nguyên lý đó, không phải cứ cầm tiền chùa là dùng thoải mái, nguy hiểm vô cùng, nhân quả rất kinh hãi và khiếp sợ vô cùng. Khi thấy những người ăn trộm tiền trong thùng công đức thì quả thật không biết nói gì ngoài lắc đầu vì chắc chắn phía trước là địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, ăn cắp bên ngoài cũng có tội nhưng còn đỡ, còn ăn cắp của tam bảo thì tội gấp ngàn vạn lần.
Khi đi một vòng là lúc nào Minh Thành cũng có chuyện để nhắc nhở đại chúng, dùng cái gì là bỏ cái đó, dùng cuốc là quăng cuốc, dùng dao là quăng mất dao, vào bếp thấy tấm Bồ-đoàn quăng đó nên Minh Thành cầm lên phủi bụi đem vào để dành vì một tấm đó cả trăm ngàn, Phật tử phải để dành tiền cúng cho chùa. Những điều này Minh Thành nhắc nhở trong chùa nhưng các Phật tử nghe thì hãy ứng dụng trong gia đình mình, tấm tọa cụ Minh Thành nhặt ở dưới bếp đem lên, ghế tre mới hư có một thanh tre đã đem quăng ngoài mưa, mình đã không có phước mà còn hủy hoại cái phước cho nên tu thường bị bệnh hoạn, đau ốm, trắc trở, đầy chướng ngại, đó là do thiếu phước, chỉ có phước mới bao bọc, chở che cho mình.
Mình đã không có phước mà còn phung phí phước, hủy hoại phước mà đó là không phải phước của mình, đó là phước của bá tánh vạn dân thì tội nặng nề, người quăng đồ đã tội rồi, còn người nhìn thấy mà không tiếc phước cũng bị đồng tội cho nên Minh Thành đi nhặt từng chút một, có khi nhặt trong thùng rác.
Lúc nhỏ Minh Thành đi bán đá bọc, đi bưng từng tô hủ tiếu chay ngoài chợ, công việc trong gia đình không ai làm thì bản thân Minh Thành làm những việc đó. Ông nội Minh Thành đi nhặt từng bịch đá người ta quăng đi, còn bà nội thì nhặt từng tấm vải vụn để khâu lại từng tấm mền Bá-nạp, những đức tính đó đến giờ Minh Thành vẫn còn giữ, quét nhà thấy sợi thun cũng nhặt lại.
Những cái này khi học sẽ rất chi tiết, nhiều lúc Minh Thành thấy những người đi hái trà cắt luôn một cành trà thì trong người nhói tim, vì chỉ cần hái lá thôi để cành lại cho sống nhưng họ cắt hết cả cành luôn, cắt một thời gian là cây trà chết luôn, sống không nổi, đó là thiếu từ tâm đối với vô tình chúng sanh. Mình chỉ dùng lá để uống trà nhưng tại sao lại cắt luôn cả cành rồi giữ lá bỏ cành? Cành của cây chính là tay chân của cây, nếu thật sự cần thì mới cắt, cho nên dùng chánh niệm tỉnh giác để soi rọi từng việc sẽ rất nhỏ nhiệm.
Có lỗi mà huynh đệ góp ý một chút là bỏ xuống núi thì làm sao học đạo? Nhìn thấy thật là xót xa, vô minh quá dày, bản ngã lại lớn, sân si khủng khiếp, buông lung phóng dật, cẩu thả, qua loa, không sâu sắc, không để tâm, không chú ý những cái nhỏ nhiệm thì làm sao tu được đến chỗ lậu tận? Lậu là chỗ rò rỉ, là chỗ thấm dột nhưng rất khó biết, có khi phải dỡ mái nhà ra mới biết được chỗ nào, rồi phải tìm hiểu kĩ mới sửa được cho nên chữ "lậu" nghĩa là rỉ chảy, thấm ướt, rò rỉ, ở đây chỉ mới nói đến nhân đạo nghĩa là đạo làm người.
Khi ăn cơm, khi uống chung trà, nằm lên gường hay ngồi lên ghế phải nghĩ đến mồ hôi, nước mắt của người cúng dường, mới hư vài thanh tre thôi thì kiếm thanh tre khác vá lại vì ở đây tre rất nhiều, thế là cái ghế còn nguyên, vậy mà chỉ hư một hai thanh tre đem quăng luôn cả cái ghế. Hôm nay mình học đức tánh tiết kiệm, tiếc phước, các Phật tử cũng phải nhớ để ứng dụng cho gia đình của mình, mình để dành phước, có dư phước thì mới đem đi bố thí được.
Mình ở chùa đều là ăn nhờ ở đậu, đều là dân ăn xin, không làm ra đồng tiền thì làm sao dám xài lớn? Tất cả những đồ ở đây đều do người ta cho, mình xài lớn là mình vô minh vì chỉ có vô minh mới làm như vậy, còn có minh, có trí, có sự chánh niệm thấy biết, có sự thấu nhân quả sẽ không dám làm vậy, cho nên phải tiết kiệm từng ly từng tí, tiết kiệm trong từng Bồ-đoàn, từng cái tọa cụ, từng quyển kinh sách. Tất cả những vật trong thường trụ tam bảo đều phải dùng tiết kiệm, vận dụng tâm biết ơn để biết ơn những người cúng dường cho mình, nhớ ơn họ để không phung phí đồ họ cúng.
Phải nuôi lớn cảm thọ biết ơn và nhớ ơn để nó tràn ngập khắp mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý, trong từng ý nghĩa, từng cái nhìn, cái nghe, sự tiếp xúc của mình, chỉ có nhớ ơn mới không dùng phung phí từng tách trà, từng chung nước, từng hạt cơm. Khi tưới rau cũng tưới cố định hai thùng nước chứ không phải tưới phung phí nước, chừa nước lại cho công việc khác, khi làm gì là chỉ biết có mình chứ không nghĩ đến công việc của người khác, đó là tâm nhỏ hẹp. Muốn làm gì cũng phải nhìn toàn thể đại cuộc, mình chỉ là một phần nhỏ trong tập thể thôi, khi Thế Tôn chuẩn bị nhập Niết-bàn thì ngài Ananda thỉnh Thế Tôn lời giáo giới cho Tăng chúng thì Thế Tôn nói rằng ngài không bao giờ xem mình là người lãnh đạo Tăng chúng thì làm sao ngài có lời giáo giới, ngài chỉ xem mình là thành viên trong Tăng chúng. Câu nói này làm rúng động mọi thứ.
"Rồi Tôn giả Ananda đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:
-- Bạch Thế Tôn, con thấy Thế Tôn kham nhẫn! Bạch Thế Tôn, con thấy Thế Tôn chịu đựng! Bạch Thế Tôn, thân con cảm thấy yếu ớt như lau sậy, mắt con mờ mịt không thấy rõ phương hướng. Pháp không được tỏ rõ cho con vì Thế Tôn bị bệnh. Nhưng bạch Thế Tôn, con được chút an ủi rằng Thế Tôn sẽ không diệt độ, nếu Ngài không có lời di giáo lại cho chúng Tỳ-kheo.
-- Này Ananda, chúng Tỳ-kheo còn mong mỏi gì nữa ở nơi Ta. Này Ananda, Ta giảng pháp không có phân biệt trong ngoài. Vì, này Ananda, đối với các pháp, Như Lai không bao giờ là vị Ðạo Sư còn nắm tay. Này Ananda, những ai nghĩ rằng Ta sẽ là vị cầm đầu chúng Tỳ-kheo, hay: Chúng Tỳ-kheo chịu sự giáo huấn của Ta, thời này Ananda, người ấy sẽ có lời di giáo cho chúng Tỳ-kheo. Này Ananda, Như Lai không có nghĩ rằng: 'Ta sẽ là vị cầm đầu chúng Tỳ-kheo", hay 'Chúng Tỳ-kheo chịu sự giáo huấn của Ta', thời này Ananda, làm sao Như Lai lại có lời di giáo cho chúng Tỳ-kheo" (Tương Ưng Bộ, Tập V. Thiên Đại Phẩm, Chương III. Tương Ưng Niệm Xứ (a), I. Phẩm Ambapàli, IX. Bệnh)
Chúng ta phải khắc ghi vào tim những bài học nhỏ này, bà Ma-ha-ba-xà-ba-đề (Mahāpajāpatī Gotamī) là dì mẫu của Thế Tôn đã tự thân mình may hai tấm vải đẹp dâng lên Thế Tôn nhưng Thế Tôn bảo hãy đem y ra cúng dường cho mọi người.
"Một thời, Thế Tôn trú giữa dòng họ Sakka (Thích-Ca), ở Kapilavatthu (Ca-tỳ-la-vệ), tại tinh xá Nigrodha (Ni-câu-luật Thọ Viên).
Rồi Mahapajapati Gotami (Củ đàm Nữ Ma-ha-ba-xà-bà-đề), đem theo một cặp y mới, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Mahapajapati Gotami bạch Thế Tôn:
-- Bạch Thế Tôn, cặp y mới này do con cắt và dệt đặc biệt cho Thế Tôn. Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn vì lòng từ mẫn hãy nhận lấy cho con.
Khi được nghe nói vậy, Thế Tôn nói với Mahapajapati Gotami:
-- Này Gotami, hãy cúng dường Tăng chúng. Bà cúng dường Tăng chúng, thời Ta sẽ được cung kính, và cả Tăng chúng cũng vậy.
Lần thứ hai, Mahapajapati Gotami bạch Thế Tôn:
-- Bạch Thế Tôn, cặp y mới này do con cắt và dệt.. hãy nhận lấy cho con.
Lần thứ hai, Thế Tôn nói với Mahapajapati Gotami:
-- Này Gotami, hãy cúng dường Tăng chúng.. và cả Tăng chúng cũng vậy.
Lần thứ ba, Mahapajapati Gotami bạch Thế Tôn:
-- Bạch Thế Tôn, cặp y mới này do con cắt và dệt ... hãy nhận lấy cho con.
Lần thứ ba, Thế Tôn nói với Mahapajapati Gotami :
-- Này Gotami, hãy cúng dường Tăng chúng... và cả tăng chúng cũng vậy". (Trung Bộ Kinh, 142. Kinh Phân biệt cúng dường)
Trong kinh Thế Tôn dạy như vậy mà mình làm ngược lại, chia sẻ không đồng đều. Thế Tôn không nhận riêng mà ngài bảo chia ra cúng cho mọi người, còn người mẹ lúc nào cũng thương con, tuy rằng hình thức là bậc đạo sư và đệ tử nhưng trong lòng bà là tình mẫu tử vì ngày xưa bà nuôi ngài, còn ngài thì bảo chia đều hai tấm y ra để mỗi người được một tấm khăn hay là tấm tọa cụ, như vậy phước đức sẽ được viên mãn.
Còn tâm của mình lại nhỏ hẹp, khi làm gì đều không nhìn toàn thể trong tòng lâm, tâm nhỏ hẹp nên làm gì chỉ biết cái đó, được cái của mình nhưng mất cái kia cho nên phải làm sao để dung hòa đôi bên hoặc làm sao để ổn định trong chúng, trong đạo tràng, tầm nhìn phải bao phủ trong đại chúng chứ không phải chỉ biết trong phạm vi của mình, làm rau thì chỉ biết vườn rau, làm bếp thì chỉ biết trong bếp là không được. Khi làm bếp phải biết nấu ăn đầy đủ dinh dưỡng nhưng vệ sinh, có đầy đủ sức khỏe chứ không phải chỉ chạy theo hương vị rồi mang bệnh cho nên trong cái ăn là cả một nghệ thuật.
II. Cách sống biểu hiện nội tâm
Muốn tu học trong việc làm của mình thì phải không ngừng nghiên cứu lãnh vực chuyên môn đó về đạo thực dưỡng, muốn làm cái gì cũng phải đầu tư và để tâm vào đó. Ở Nhật người ta bán trái xoài năm ngàn đô la vì người ta trồng bằng cả một công nghệ tiên tiến, họ đầu tư hết tâm sức, tấm lòng trong đó. Ở bên Nhật nâng tầm uống trà thành trà đạo, võ thì thành võ đạo, kiếm thì trở thành kiếm đạo, nghĩa là những cái đó phát huy đến tận cùng thì trở thành đạo, nghệ thuật đó là sự chánh niệm, là nhìn sâu sắc các phương diện trong đó để phát huy đến mức cao của việc làm đó.
Cái ăn không còn chỉ để no nữa mà còn mang lại nhiều giá trị trong cái ăn đó, muốn vậy phải đầu tư tâm huyết vào việc mình làm, quay phim, viết sách, trang trí tòng lâm cũng vậy. Ăn cơm trong chánh niệm gọi là chánh quán thọ thực thì trở thành cơm đạo, uống trà có sự chánh niệm trong đó thì thành trà đạo, tất cả những cái đạo đều có sự chánh niệm và tỉnh thức trong đó, đào sâu vào để thấy được giá trị, lợi ích trong đó. Học kinh là để chiếu phá, nhiếp phục, chế ngự trong tự thân mình, mình phải biết vận dụng ra ngoài thì gọi là diệu dụng của đạo, phải vận dụng ra hết tất cả mọi phương diện trong đời sống.
Mình ở trên núi này gọi là trúc đạo, không tốn một đồng nào để mua bông hoa, mình có sẵn trúc xanh thì đem lên cúng Phật và Tăng làm trang nghiêm thanh tịnh, nhiều người về đây thích thú vì nó lạ. Như vậy mình sử dụng trúc đạo đơn giản, không tốn kém, thanh nhã, thanh thoát, phù hợp với thiên nhiên, cái đó trở thành trúc đạo, ở bên Nhật còn có hoa đạo vô cùng tinh tế, tất cả mọi thứ đều là nghệ thuật nên rất khó, cần để tâm học hỏi rất nhiều, chánh niệm soi vào cái nào thì cái đó thành đạo, thành pháp, thành nghệ thuật, còn không có chánh niệm tỉnh giác sẽ thành bề bộn, lộn xộn.
Nhìn vào bình chưng trúc là người ta biết mình tham vì nhét vào đầy cành trúc không còn chỗ nào trống cả, thành một mớ lộn xộn cho nên tu Nikāya rất đặc biệt, đạo nhãn, pháp nhãn, trí nhãn rất tuyệt vời. Bước đi của mình nhìn vào là biết mình có chánh niệm không, cách nói chuyện nghe là biết có sân, có bản ngã không, cách nói qua điện thoại là biết mình có cung kính không, cái thọ lúc đó đang như thế nào, trong khẩu khí sẽ có cái thọ. Bây giờ đang có trào lưu đem cả vườn cây vào chánh điện, nhìn vào vườn bông chiếm hết nửa chánh điện, nếu không nắm vững pháp thì khi vận dụng sẽ đi trong tham, sân, si, bản ngã, còn khi nắm vững pháp thì lúc vận dụng sẽ tương ứng với ly tham.
Mỗi lần Minh Thành lên Quán Chiếu Đường là đều đem những bình bông cúng Phật xuống đất, dù đã nhắc nhiều lần nhưng lần nào lên cũng phải đem xuống. Chưng bông mà cao che hết Phật, vượt qua mặt Phật là không có sự tôn kính cho nên nhiều khi thấy Phật ngồi trong vườn bông, không còn thấy Phật nữa mà chỉ thấy bông, đó là cái phụ lấn cái chính làm mất đi ý nghĩa tôn kính Phật bảo, tâm tham che mờ hết.
Chỉ cần nhìn lên bàn Phật là biết được ngay tâm của người đó, chưng bông cao che hết mặt Phật thì đó là không thành tựu sự cung kính pháp, không có cái gì được phép cao qua khỏi Phật, tất cả các đồ cúng phải ở phía dưới. Nhìn vào Quán Chiếu Đường chúng ta thấy Phật ngồi trên cỏ. Trong kinh ghi lại Thế Tôn đến thì người giữ vườn không cho ngài vào vì trong này đang có các bậc tôn giả khác đang tu, người ấy nói Thế Tôn đừng đến làm phiền, hoặc là khi Thế Tôn đến lò gạch thì người làm gạch là đệ tử của đệ tử Đức Phật nhưng người đó không biết Thế Tôn, điều này chứng tỏ Phật là con người rất bình dị chứ không phải như bây giờ mình tưởng tượng ngài đi đâu cũng tỏa hào quang sáng chói, ngài giống y hệt mình nhưng chẳng qua ngài có những tướng tốt đặc biệt hơn người bình thường. Đọc trong kinh ghi lại ngài có 32 tướng tốt thì mình bất ngờ nhưng vào thời đó những điều này là một nét đẹp, trong Quán Chiếu Đường của mình làm tượng Phật ngồi trên cỏ chứ không có hào quang, điện xẹt gì cả.
Mình phải vận dụng pháp vào trong sinh hoạt, nếu không là cúng Phật một hồi là chỉ thấy bông chứ không thấy Phật gì nữa. Trước nhất phải đưa chánh niệm tỉnh giác vào chỗ đó để nó thành đạo, nhìn vào chỗ cắm hoa của người Nhật rất thanh thoát, nhẹ nhàng, dễ chịu, còn ở đây có nhiều trường hợp vào chùa lạy Phật từ cổng chính ra sau chùa mà không hề biết tượng Phật đó tên gì, chất bông hoa, trái cây đầy hết giống như hội bàn đào, đó là tâm tham do không nắm vững cái pháp nên sẽ biểu hiện ra như vậy.
Cho nên trong chỗ thờ cúng sẽ biểu hiện ra sự nhận thức của người đó về pháp, trong cách sinh hoạt hằng ngày, từ cách đi, đứng, nói chuyện sẽ thể hiện nội lực công phu, mức độ chánh niệm và tỉnh giác của mình, có trường hợp bước ra khỏi thiền đường là mất hết oai nghi chánh hạnh, trở thành vô văn phàm phu, tu như vậy rất uổng, đó là trí tuệ bắp vế, rơi rớt hết kiến thức giống như bánh kẹo để ở đùi, đứng lên là rớt hết.
"Và này các Tỳ-kheo, thế nào là người với trí tuệ bắp vế? Ở đây, này các Tỳ-kheo, có hạng người đi đến khu vườn (tinh xá). Người ấy, tại chỗ ngồi ấy, đối với bài thuyết giảng ấy, có tác ý đến đoạn đầu, có tác ý đến đoạn giữa, có tác ý đến đoạn cuối. Nhưng khi người ấy từ chỗ ngồi ấy đứng dậy, đối với bài thuyết giảng ấy, người ấy không có tác ý đến đoạn đầu, không có tác ý đến đoạn giữa, không có tác ý đến đoạn cuối. Ví như này các Tỳ-kheo, trên bắp vế của một người, các loại đồ ăn được chồng lên như hạt mè, hột gạo, các loại kẹo và trái táo. Khi từ chỗ ngồi đứng dậy, vì vô ý, người ấy làm đổ vãi tất cả. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, ở đây, có hạng người đi đến khu vườn ... Người ấy, tại chỗ ngồi ấy ... có tác ý đoạn cuối. Nhưng khi người ấy tại chỗ ngồi ấy đứng dậy ... không có tác ý đoạn cuối. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là hạng người với trí tuệ bắp vế". (Tăng Chi Bộ, Chương III - Ba Pháp, III. Phẩm Người, 30 - Lộn Ngược)
Phải thực tập trong từng bước đi của mình, đó là Thân Hành Niệm, phải kiểm soát trong từng lời nói, không phải muốn nói gì là nói. Phải thực tập từ từ lâu ngày dài tháng thì mới thuần thục chứ không phải lúc thì gồng lên chịu trận, lúc thì buông thả, lúc thì hỏi không thèm nói, lúc thì nói vang dội núi đồi cho nên Đức Phật dạy mình kéo dây đàn căng quá thì đứt, còn chùng quá thì không hay, phải căng cho vừa phải thì âm thanh mới vi diệu cho nên phải vận dụng cái pháp vào trong sinh hoạt hằng ngày.
Phải nhớ nhân nghĩa đạo đức là điều trước tiên, không có cái này thì mọi thứ khác đều vô nghĩa, người đời có câu "Dục tu tiên đạo, tiên tu nhơn đạo. Nhơn đạo bất tu, tiên đạo viễn hỹ" nghĩa là muốn tu tiên đạo, trước tu nhân đạo. Nhân đạo không tu, tiên đạo xa vời. Nhân đạo nghĩa là đạo làm người mà đạo làm người là phải sống có trên có dưới, có trước có sau, có tình có nghĩa, có thủy có chung, có hiếu có thảo, có cha có mẹ, có anh có em, có thầy có bạn, có huynh có đệ,… phải làm được những cái này. Phải nhìn ra được những cái tâm bất trắc, những cái tâm phản phúc, phản loạn, nổi loạn, phải diệt tận nó, đang đi chung với thầy qua chùa khác rồi bất thình lình không muốn về nữa, chỉ muốn ở lại thôi, tâm nổi loạn này rất nguy hiểm.
Ngày xưa cho đệ tử qua thăm viếng các chùa, các đạo tràng, đi thăm về rồi xách đồ qua đó ở luôn, chỉ mới đi thăm thôi đã bỏ luôn thầy qua chỗ mới ở. Trong thời đại này mà không kiểm soát được sự nổi loạn đó, không nhiếp phục được những cảm thọ đó sẽ dễ trở thành bất nhân bất nghĩa và bất hiếu, nhiều khi đi tu mười năm, hai mươi năm rồi cuối cùng ra đi lại phỉ báng thầy mình, oán hận thầy, nói xấu thầy.
Thật là đáng thương xót!
Thật là đại bại!
Chúng ta bỏ cha bỏ mẹ, bỏ mọi thứ để tìm thầy cầu pháp nhưng lại không nhìn thấy pháp mà chỉ tìm danh, tìm lợi, tìm địa vị, tìm không được những cái đó thì tức giận, sân hận. Thời đại bây giờ tìm một người chân chánh cầu pháp không hề có, đếm trên đầu ngón tay cũng không đủ, từ ngày Minh Thành lên núi đến bây giờ người thật sự quyết tâm, chân thành để cầu chánh pháp thì đếm trên đầu ngón tay cũng không hết được bàn tay. Từ đâu bị như vậy? Vì không thành tựu chánh kiến, đặt tâm không đúng hướng nên thọ; tưởng; hành dẫn đi sai đường. Minh Thành rất quý trọng các vị Tam tạng pháp, nhất là những vị thuộc được tạng kinh, mình muốn lạy dưới chân các ngài, mình không có khả năng thuộc được hết kinh nhưng có tâm nguyện muốn giải thích kinh, nguyện vọng này lớn vô cùng, không phải chuyện đơn giản, nếu không có sự cố gắng nỗ lực phi thường thì không làm được.
Mỗi ngày chúng ta chỉ có một buổi nghe pháp nên đại chúng phải cố gắng, thật sự sức Minh Thành có thể làm hơn nữa nhưng đại chúng chịu không nổi, có thể Minh Thành sẽ phải tự làm để tròn tâm nguyện, phải giải thích hết tạng kinh Nikāya trước khi nhắm mắt. Nếu mình không thể làm Tam tạng pháp sư thì mình nguyện làm người giải thích một tạng kinh Nikāya, giải thích hết những ý nghĩa quan trọng trong đó để lại cho Phật giáo sau này.
Thật là khó có người đồng cảm! Hôm qua Minh Thành cầm lên quyển kinh mà cảm xúc dào dạt, có một Phật tử thấy được giá trị của Nikāya nên vị này âm thầm cúng một trăm bộ đại kinh, Minh Thành cầm lên quyển kinh mà xúc động chảy nước mắt. Tất cả những lời của Thế Tôn đều nằm trong đó, tất cả Thánh trí tuệ của bậc Đại Giác nằm trong đây, tất cả chân lý bí mật của vũ trụ vạn vật nằm trong đây, cầm quyển kinh mà hạnh phúc trào dâng muốn tràn nước mắt.
Những bộ này Minh Thành sẽ gửi đến những Tăng Ni thật sự cần thiết, bộ kinh cũ ngày xưa có rất nhiều quyển nhưng bộ mới bây giờ gói một bộ trong một quyển, giấy rất mỏng nhưng rất bền, tất cả những bài kinh Tương Ưng Bộ đều nằm trong một quyển, Tăng Chi Bộ, Trường Bộ hay Trung Bộ cũng nằm gói gọn trong một quyển. Cầm bốn quyển kinh này là đi đến chân trời góc bể tu hành, không còn tìm kiếm gì nữa, tất cả Thánh trí tuệ đều nằm trong đó, trí tuệ của bậc đại Thánh, mật mã của vũ trụ đều nằm trong đó.
Hôm nay chúng ta tâm sự những điều rất gần gũi, thực tế trong đời sống để làm sao chúng ta vận dụng khéo léo tinh thần của giáo pháp vào trong đời sống. Mình phải biết tiết kiệm, tiết phước, phải chú trọng nhân quả từng chút một trong từng suy nghĩ, lời nói, hành động và phải nhớ chánh tri kiến là tuyệt đối quan trọng. Chúng ta đang nói về tâm nguyện giải thích đại tạng kinh, điều này thật sự rất lớn lao nhưng đối với bản thân Minh Thành đã trở thành điều tự nhiên, chỉ còn tùy vào thọ mạng thôi, nếu thọ mạng dài thì cố gắng làm xong, còn thọ mạng ngắn thì phải chịu, đời sau làm tiếp nếu còn trở lại làm người, còn không ai làm tiếp thì hãy làm.
Mình không làm tam tạng pháp sư được như ở bên Myanmar thì chỉ mong giảng giải hết những phần cốt lõi, quan trọng trong tạng kinh Nikāya, muốn làm điều này không phải chỉ một mình Minh Thành có thể làm được mà phải có một đội ngũ, từ các vị quay phim, thính chúng cho đến những cơ duyên mới có thể làm được, nếu làm được thì thật là hy hữu hiếm có của Phật giáo thế giới. Xin thưa với các Phật tử là tất cả những bài giảng đều được đánh máy, ghi chép lại và đang chỉnh lý, khoảng 1000 bài giảng về Nikāya đang được chỉnh lý và sắp sửa ra sách, ví dụ như các chủ đề về Khổ Thánh Trí, làm an tâm người bệnh hay là Tứ Niệm Xứ và những chuyên đề đã học trong mùa dịch này, tất cả sẽ được in ra sách vì nếu để ở trên mạng thì có khi mạng internet bị hư sẽ mất hết.
Sở dĩ đại tạng kinh còn là do các ngài ghi chép lại, thậm chí khắc trên đá, còn giờ chúng ta để trên mạng mà lỡ mạng hư thì mất hết, ban văn hóa của Linh Quy đang âm thầm biên tập tất cả những phần giải thích những bài kinh của Đức Phật để làm thành bộ "Thánh pháp tạng", tức là hậu Nikāya. Bốn quyển đại tạng kinh mới nhất hiện nay là chánh văn, còn bộ mình đang biên tập là giải thích, giảng giải trong kinh ra, có thể mang tên "Thánh pháp tạng".
Mong rằng suốt cuộc đời này chỉ để lại cho thế gian một bộ như vậy là Minh Thành đã mãn nguyện, tất cả những cái khác không quan trọng cũng không quan tâm nhiều, để cho những người tu sau này biết con đường tu hành dù trăm năm sau, nếu họ chịu khó đọc thì họ sẽ biết được đạo lộ tu hành. Nhân dịp này Minh Thành chia sẻ là Minh Thành kính mời các Phật tử trong đạo tràng Nikāya hiểu được pháp, có trình độ viết lách ngoài đời thì mong quý vị cùng chung tay với Minh Thành trong ban văn hóa Linh Quy Pháp Ấn đăng kí cộng tác để phụ giúp chỉnh lý biên tập bộ "Thánh pháp tạng" này.
Hiện tại đang thiếu người sửa chính tả, biên tập bài lại trong ban biên tập, nếu quý vị nào trong đạo tràng của mình có khả năng chữ nghĩa, yêu thích việc này, cùng chung đóng góp pháp thí này thì đây là một điều rất tốt đẹp, phúc lành, cộng tác cùng với Minh Thành, quý thầy và quý Phật tử trong ban văn hóa để chúng ta cố gắng hoàn thành. Nếu được thì mình sẽ làm 10 quyển Thánh pháp tạng, bây giờ đang thiếu người biên tập, chỉnh lý để ra sách cho nên quý Phật tử nào hay là các Tăng Ni có tâm yêu thích công việc này cùng chung tay hoàn thành pháp bảo "Thánh pháp tạng" thì hãy liên hệ qua email hoặc để lại số điện thoại trong phần bình luận để ban văn hóa liên lạc lại để cùng chung tay chuyển chánh pháp luân.
Mình sợ rằng sau này sẽ mai một, không còn nhiều người biết tạng kinh Nikāya nữa, nếu mình không làm cái này thì người ta đọc chánh văn sẽ không hiểu, mà không hiểu thì sẽ để qua một bên và từ từ tạng kinh này sẽ mai một, chánh pháp cũng mai một. Đó là tâm nguyện của Minh Thành, từ xưa đến nay chỉ làm một mình, đã có gợi ý rất nhiều lần chư Tăng Ni, các Phật tử nhưng không thấy có người đồng tâm hoặc là có người đồng tâm nhưng không kiên trì, chỉ làm một thời gian ngắn là bỏ hết, tâm nguyện của Minh Thành chỉ có vậy, làm xong thì Minh Thành giã từ cuộc đời này cũng mãn nguyện. Hiện tại thấy cái gì cũng quá ngao ngán, ngoài cái này ra không muốn làm gì nữa.
Ngoài việc tu học ra thì chúng ta nhớ phải làm các thiện pháp, tùy theo khả năng, năng khiếu cũng như điều kiện, hoàn cảnh của mình thì phải nhớ làm thiện pháp, gọi là phước huệ song tu, bi trí song vận, nghĩa là vừa tu phước vừa tu huệ, vừa tu từ bi vừa tu trí tuệ, kết hợp trong ngoài, tự lợi lợi tha, tự giác giác tha, tự độ độ tha.
./.