Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Diệt Tâm Chống Đối- 6 Pháp Trên Tất Cả

2026-03-03 00:54:21
Trình Pháp Nikāya

Diệt Tâm Chống Đối

6 Pháp Trên Tất Cả!

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Chào đón người mới PAGEREF _Toc182842323 \h 1

II. Trình pháp - Chia sẻ PAGEREF _Toc182842324 \h 1

III. Nội quán tự tâm – như lý tác ý PAGEREF _Toc182842325 \h 5

IV. Tàm Quý PAGEREF _Toc182842326 \h 7

V. Như lý tác ý PAGEREF _Toc182842327 \h 9

VI. Mục đích tu hành PAGEREF _Toc182842328 \h 11

VII. Sáu pháp trên tất cả PAGEREF _Toc182842329 \h 14

I. Chào đón người mới

Cảm nhận sự hiền từ trên gương mặt, cảm nhận sự hỷ lạc trên môi mình, cảm nhận sự an tịnh, lắng dịu, hỷ lạc của toàn bộ cơ thể, cảm nhận sự dễ chịu, thanh tịnh, bình an của không gian nơi này, cảm nhận sự hỷ lạc, thanh tịnh và bình an của vùng đất này, vùng trời đất này, cảm nhận sự dễ chịu khắp châu thân, sự lắng dịu toàn cơ thể. Sự dễ chịu của không gian và vùng trời đất này, rõ biết tâm dễ chịu này rộng lớn, cảm nhận tâm dễ chịu này rộng lớn. Cầu mong sự an lạc, bình an, dễ chịu này cũng đến với khắp tất cả hữu tình trong trời đất rộng lớn này, trong tâm dễ chịu rộng lớn này cầu nguyện cho tất cả hữu tình chúng sanh vạn loại đều được sự dễ chịu, bình an, sự hỷ lạc trong chánh pháp tối thượng ngay tại giờ phút này.

Kính lễ ân đức Thế Tôn.

Kính lễ ân đức chánh pháp.

Kính lễ ân đức chúng Tăng.

Kính lễ ân đức bậc đạo sư.

Kính lễ ân đức Thánh giới.

Kính thưa các bậc hiền trí Tăng Ni và quý Phật tử, chào đón quý vị về tới căn nhà chánh pháp, trở về căn nhà của sự bình an, trở về căn nhà của sự hiền thiện, sự hòa kính, trở về căn nhà lắng dịu mọi tham, sân, si của thế tục. Đó là ý nghĩa của chữ "về nhà", hôm nay là buổi đầu tiên chúng ta vào sự hành trì tu học, để quý vị nêu lên những cảm xúc hoặc sự khó khăn trong thực tập thì quý vị cứ chia sẻ tâm tư, nguyện vọng để quý thầy, quý cô cùng soi sáng cho chúng ta trong những ngày tiếp theo. Vào giờ này Minh Thành thấy có nhiều vị đang xúc động, cảm xúc đang trào dâng thì xin mời quý vị chia sẻ

II. Trình pháp - Chia sẻ

Phật tử 1: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Con kính bạch thầy, kính bạch quý thầy, quý sư cô cùng toàn thể đại chúng. Con lên đây ngày hôm qua khi đại chúng đang tu học, lúc ấy con cũng tham dự nên con thấy rất an lạc, hạnh phúc. Lần đầu tiên con đến đây nhưng bao nhiêu phiền muộn, phiền não cũng tan biến mất, bây giờ cảm thọ của con rất vui, rất xúc động. Con cảm nhận được tấm lòng của sư phụ rất từ bi đã tổ chức những khóa tu để chúng con đến đây học hỏi tâm hiền, tâm thiện, học hạnh hiền từ, thanh tịnh. Thật sự chúng con ở ngoài đời rất phiền não, rất khổ đau mà không nói được, con cũng mới biết chánh pháp và kinh Nikāya gần đây thôi, trong thời gian giãn cách con cũng nghe nhưng không hiểu ngũ uẩn là gì, sau khi con tham dự vài khóa của chùa Hoằng Pháp thì con về cố gắng nghe những bài thầy thuyết giảng về ngũ uẩn thì con cũng nhận ra nhiều điều, bản thân mình không tốt, cũng còn sân si vì con sống ngoài chợ. Từ ngày con biết nhận diện ngũ uẩn thì con cũng có nhiều thay đổi, cũng giảm bớt tham, sân, si.

Sư Phụ: Ví dụ cô thay đổi ra sao?

Phật tử 1: Ngày xưa con rất sân, dễ nóng giận, sau khi con nhận diện được thì con thấy cái sân không tốt, cái nóng tánh không tốt, bản thân chưa hiền thiện. Từ ngày con theo dòng pháp này thì con nhìn nhận lại cũng có hiền từ, tâm con dịu lại bớt, hôm qua nay con lên đây thì con thấy rất hạnh phúc, hoan hỉ. Lúc con điện thoại lên đăng kí với thầy Pháp Nghĩa thì ngũ uẩn con nói "đăng kí làm gì, đi làm chi, đã không biết đường, không biết chùa mà còn đi, thôi đừng có đi" nhưng con nghĩ "mày nói kệ mày", thế là con quyết định soạn quần áo để lên đây. Trên đường đi cũng nói "không biết đường mà đi cái gì, không biết chùa mà đi một mình" rồi con nghĩ "kệ tao, tao đi kệ tao".

Sư Phụ: Cái uẩn nào nói vậy cô?

Phật tử 1: Dạ, hành uẩn nói. Khi đặt vé lên xe thì xe chạy lòng vòng rước khách thì con lại thấy mệt thế là ngũ uẩn lại nói "thấy chưa, đi chi cho chạy lòng vòng rồi than mệt" thì con nói "kệ, mệt cũng đi nữa, không biết đường cũng đi nữa, không sao hết á, có Long Thần Hộ Pháp độ mà lo gì. Mày đừng có nói nhiều, tao quyết định đi rồi, tao lên xe rồi". khi lên đây thì con cũng hỏi thăm chứ không rành đường, con đi xe ôm lên đây thì con gọi thầy Pháp Tâm thì thầy nói đại chúng đang tu, chờ chút rồi nghỉ ngơi, con thấy vậy thì cũng vô tu luôn.

Lúc con ngồi thiền nghe thầy giảng trên máy thì con thấy nhẹ nhàng, hoan hỉ, con thấy trong lòng vui. Con hứa với thầy cố gắng tu tập 1 tuần cho được an lạc, khi về gia đình thì cố gắng tu tập thêm. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.

Sư Phụ: Quý Phật tử có thấy không, khi nhận diện được ngũ uẩn là bắt đầu mình có trí tuệ để mình tách mình ra khỏi những suy nghĩ, tách mình ra khỏi những suy nghĩ theo cái làm biếng, tham, sân, si, bản ngã, đó là lợi ích trước khi nhận diện ngũ uẩn, còn nếu không có trí nhận diện ngũ uẩn thì nói gì là mình nghe đó. Qua đây chúng ta thấy được nhiều khía cạnh, trí tuệ, dù chỉ mới nhận diện ngũ uẩn thôi là mình đã thành tựu một trí tuệ đặc biệt bất cộng với người không biết tu, trong kinh Nikāya gọi là trí bất cộng với phàm phu, tức là trí tuệ không chung cùng với người chưa được học trí về ngũ uẩn.

Chúng ta bắt đầu nhìn ra được những sự sanh khởi, vận hành, chuyển biến của nội tâm và chúng ta sẽ nhìn ra được những gì dẫn dắt mình đến cái xấu ác và những gì đưa mình đến thiện lành, chúng ta sẽ nhìn ra được những gì đưa mình đến lười biếng, giải đãi và những gì đưa mình đến tinh cần, tinh tấn, tiến lên, đó là một trong những khía cạnh của lợi ích khi mình biết nhận diện ngũ uẩn.

Phật tử 2: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Con kính bạch thầy, kính bạch quý thầy, quý sư cô cùng toàn thể đại chúng. Con là Phật tử Thiền Âm, Phật tử có thắc mắc muốn được sư thầy và sư cô giải đáp giúp, con đã cùng mẹ dâng hương, hoa đăng và lễ Phật tại nhà được hơn 26 năm, con cũng đến chùa lễ Phật, tụng kinh được 10 năm. Con nghĩ là con đã được chánh niệm trong suy nghĩ và hành động nhưng có lúc con đã hành động suy nghĩ gây tổn thương cho người con quý nhất. Con không biết làm thế nào để con có thể không tiếp tục gây tổn thương trong lời nói và trong hành động cho người con thương nhất, mặc dù con nghĩ là con đã biết Phật pháp lâu như vậy. Con xin hết.

Sư Phụ: Có quý vị nào muốn chia sẻ thêm không ạ?

Phật tử 3: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Con kính bạch thầy, kính bạch quý thầy, quý sư cô cùng toàn thể đại chúng ở nơi đây. Kính bạch sư phụ con lên đây được nửa tháng rồi nhưng lúc trước con lên đây thì chưa hiểu gì cả, khi nghe sư phụ dạy pháp, con được nghe quý thầy, quý sư cho con biết được cách học tâm hiền và con tập nhìn ra được ngũ uẩn nhưng cái thọ của con vừa dễ chịu vừa khó chịu. Dễ chịu là khi con về đây thì con cảm nhận được là về ngôi nhà của mình, con không nghĩ đây là sự thật mà đây là trong mơ thôi nhưng khi về đây con rất hạnh phúc, được nghe những lời giảng của sư phụ đánh động vào tâm con.

Tâm con là tâm vô minh, si mê và khát ái, dục tham của con quá nhiều nên khi con nghe sư phụ giảng bài tham, sân, si thì nó đánh động vào tâm con. Con khó chịu là khi con thâm nhập vào dòng pháp thì ý hành nói rằng "một con người ác độc, ích kỷ như mày mà mày còn được ngồi ở đây hay sao", con thấy xấu hổ, con thấy khó chịu vô cùng vì nghề lúc trước của con là sát sanh hại vật, con cho vay tiền góp nặng lãi. Con không nghĩ rằng con có được ngày hôm nay con lên đây gặp dòng Thánh pháp này, được sư phụ chỉ dạy để nhìn ra con người ghê tởm của con.

Con thấy vi diệu vô cùng, trước kia con không dám đối diện, ai cũng nhìn con nghĩ rằng con hiền, đến khi lên đây sư phụ đặt tên quy y cho con là Hiền thì con thấy "mày hiền ở chỗ nào, nhìn vô lầm tưởng", thật là ghê sợ cho tâm con. Nhờ những sự hoan hỉ trên Linh Quy Pháp Ấn này mà ngày hôm nay con biết được thân tâm con khốn nạn đến mức độ nào, mấy hôm trước nghe sư phụ giảng thì con xấu hổ cho tâm mình, con muốn trốn vì không dám đối diện với mọi người, con thật sự xấu hổ.

Khi con qua đảnh lễ thầy Pháp An thì thầy Pháp An đã cho con lòng tin, cho con nhìn nhận được dòng Thánh pháp này và tất cả các quý hiện tiền nơi đây đã giúp con nhìn nhận được. Con cảm ơn thầy Pháp an, con xin tri ân trên sư phụ, tri ân quý thầy, quý sư cô và đại chúng đã dìu dắt con vào con đường ngay thẳng. Con còn lầm lạc nhiều trong tội lỗi của mình, con chưa nhìn ra được, con kính mong trên sư phụ cùng quý thầy, quý sư cô và đạo hữu chỉ dạy cho con để cho con có đường tinh tấn để nhìn nhận ra lỗi sai của mình, con sẽ cố gắng để học. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.

III. Nội quán tự tâm – như lý tác ý

Sư Phụ: Lành thay! Lành thay! Tốt lắm. Trong sự tu học về Thánh pháp Nikāya thì chúng ta phải để ý một điều rất quan trọng là sau khi chúng ta nhận diện được ngũ uẩn thì điều đầu tiên là tâm chống đối, mình phải chiến đấu với tâm này thì sau đó mới tu được cho nên sẽ có hai dòng suy nghĩ, hai dòng cảm thọ đối lập. Một cái là vui, dễ chịu, một cái là buồn, khó chịu. Vui là vì may mắn quá, hạnh phúc quá, phước báu quá khi mình gặp được chánh pháp vi diệu mà trước nay mình không biết Phật pháp thật sự là như vậy, giúp cho mình nhìn ra sắc; thọ; tưởng; hành; thức, khi đó mình sẽ hân hoan, thích thú.

Có một số vị vừa lên chưa nhận diện được ngũ uẩn thì quý vị cần cố gắng học hỏi và thực tập, nếu không nhận diện ngũ uẩn thì chúng ta sẽ không thực tập được chánh pháp sâu sắc. Tuy thời gian ở đây ngắn nhưng hãy cố gắng nhận diện ngũ uẩn vì đó là phần thân tâm của mình. Sẽ có hai dòng tư tưởng, cảm thọ, một cái là vui vẻ, hân hoan, ngược lại là chống đối, muốn bỏ cuộc. Sau khi mình hân hoan, hoan hỉ, thích thú thì mình phải diệt tâm chống đối đó, giống như cô trình pháp "thôi đi làm chi, đi khó khăn cực khổ lại đi một mình", lên trên xe rồi vẫn nói nhưng "mày nói kệ mày, tao vẫn đi tu".

Khi mình chiến thắng được thì mình mới thành công, mới có mặt ngồi ở Linh Quy, còn nghe theo nó là mình không có mặt ở đây làm mất thiện pháp, không học được Thánh pháp. Cũng vậy, cô trình pháp đã ở đây nửa tháng, nó nói rằng "mày hiền cái gì, mày gây biết bao tội lỗi, biết bao nghiệp", những lời nói đó là những lời nói của tâm mê, tâm ác, tâm ma mà trong phim hay gọi là ma tâm.

Phải nhìn ra được những cái tâm đó vì nó dẫn dắt mình thối đọa, nó dẫn dắt mình trở về đường cũ, đường xấu ác, những tâm đó là tâm hạ liệt, thấp kém, phàm phu, hèn hạ. Phải la mắng những cái tâm đó "mày muốn tao đi chung với mày xuống vực sâu hả? Mày muốn tao mãi mãi làm một kẻ tội lỗi phải không? Mày muốn tao đi theo những thứ xấu xa, tội lỗi này phải không? Mày muốn tao đi vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh hay sao? Bữa nay tao thấy được bộ mặt thật của mày rồi", mình nói với tâm xấu ác đó "mày đừng mong lừa gạt tao nữa, nay tao vạch mặt mày ra được rồi" nhưng muốn vạch mặt nó thì phải nhận diện được ngũ uẩn, vì nếu không nhận diện được ngũ uẩn thì mình sẽ không biết được tâm của mình, không nhận diện được ngũ uẩn giống như người mù thì làm sao đi đến đúng chỗ được.

Khi thấy được những tâm niệm đó phải quở trách, la mắng, phải chiến đấu, lực của mình càng mạnh chừng nào, càng đánh đổ được nó, quật ngã được nó, đập tan được nó, diệt tận được nó thì mình tu mới được. Chúng ta phải nhớ kĩ điều này, nhìn ra được nó, vạch mặt nó ra, đánh đuổi được nó, chiến đấu với nó, diệt tận nó, tẩy sạch nó hoàn toàn thì lúc đó mình bình an để tu, nếu còn những ý nghĩ đó, những suy niệm đó, những tư tưởng đó tiềm ẩn trong ta thì có ngày nó sẽ quật ngã mình bất cứ lúc nào, mình sẽ văng ra khỏi dòng pháp này cho nên đừng vội tu cái gì cao siêu mà cứ dập cái tâm chống đối đó cho tan nát thì đó là tu, trong bước đầu mình dập được ý niệm đó chính là tu.

Mình phải dập liên tục vì mình dập vài ngày rồi nghỉ thì nó sẽ tiếp tục sanh khởi nữa, nó đi từ thô đến tế, lúc đầu là chống đối không cho tu "bắt tôi quỳ lạy hả, thôi không làm", "bắt tôi xin lỗi hả, không làm", lúc đầu bản ngã không chịu nhưng mình bắt nó xin lỗi, mình bắt nó lạy thì bắt đầu nghĩ mình ngon lành rồi, mình hiền rồi thì phải dập nữa cho nên Thánh trí huệ tuyệt vời là nhìn ra được từ cái thô đến tế trong tâm, cứ diệt tận những ý hành ác độc, những suy nghĩ đưa mình về con đường cũ, những suy nghĩ không muốn mình tiến lên, những suy nghĩ ưa thích trạng thái cấu nhiễm của nó.

Trong cảm thọ của mình là yêu thích trạng thái "ngựa quen đường cũ", yêu thích tỏ ra cái tôi, cái ta, yêu thích sân si vì "mình hiền là người ta nói mình ngu", câu này rất ghê gớm, câu đó rất ác độc, ác ma nên chúng ta phải nhìn ra được những cái này. Bậc Thánh là bậc giết những tên giặc phiền não, tham, sân, si ở bên trong nội tâm mình, những cảm xúc, cảm giác, những ý hành, những tâm tư đó phải nhìn ra và phải dập nó, vào lạy sám hối, viết ra nhật kí tu học hoặc trình pháp vạch tội nó ra "con thấy đây là tâm xấu ác", cũng như cô trình pháp như vậy là rất tốt, là lành thay cho cô dám nói ra vì có nhiều người không dám trình pháp vì nói ra mắc cỡ, bây giờ tu thì cứ tu thôi, không nói cũng không ai bắt mình phải nói, còn mình nói ra được thì sự tu tiến của mình sẽ nhanh, mạnh, lớn.

IV. Tàm Quý

Còn nghe người ta nói để mình quay lại nhìn bản thân thì cũng tốt chứ không nhất thiết buộc mình phải nói ra nhưng cái đó là tốt cho mình. Minh Thành nghe nói có một số vị sợ trình pháp nên không dám lại tu thì đó là tổn thất lớn, thiệt thòi lớn lao của mình. Thứ hai là nhìn ra được thói hư tật xấu, tâm cấu nhiễm, nghiệp xấu ác của mình rồi mình xấu hổ, tàm quý là rất tốt, phải như vậy mới tu được, nếu không là không tu được, quý vị về nghe thật kĩ bài "Từ nhục nhã sanh Thánh quả" hoặc những bài có tựa tàm quý, xấu hổ vì Đức Phật nói dòng chảy của sự xấu hổ, tàm quý sẽ đưa mình vào trong biển cả của Thánh trí huệ, dòng chảy của xấu hổ và sợ hãi đối với ác bất thiện pháp của mình , cái tâm đó mình có nhiều chừng nào thì mình càng tu tiến chừng đó.

Nếu mình tu mà không có tâm sợ hãi với tội lỗi, không có tâm hổ thẹn với những cái ác mà mình đã làm thì làm sao tu? Đó là tâm trơ lì, tâm chai sạn nên không thể tu. Khi thấy tội lỗi, thấy những nghiệp ác mình đã làm thì mình phải thấy xấu hổ, thấy lo lắng, sợ hãi, chính những lúc đó là lúc mình tiến bộ và mình tiếp tục tác ý để duy trì, phát triển, tăng trưởng cái sợ hãi, tàm quý đó để chính cái tâm đó gội rửa, tẩy sạch để đưa mình đến sự thanh tịnh, trong sáng, trong sạch nên cần phát triển tâm tàm quý, xấu hổ đó. Có thể cả tuần lễ hoặc cả tháng mình đều tu pháp xấu hổ và sợ hãi "ngươi hãy nhìn lại tâm nhà ngươi đi, những ác nghiệp mà ngươi đã làm, những tội lỗi mà ngươi đã làm, những nghiệp mà ngươi đã tạo, người phải thấy lo sợ". Ngài Maha Kassapa đã nói trong kinh Tỳ-kheo nào không thấy xấu hổ, tội lỗi thì người đó không tiến tu được, không thể đi đến Niết-bàn được.

"Như thế nào, này Hiền giả, là không có nhiệt tâm, không có biết sợ, không thể có giác ngộ, không thể có Niết-bàn, không thể có chứng đạt vô thượng an ổn khỏi các khổ ách? Và như thế nào là có nhiệt tâm, có biết sợ, có thể có giác ngộ, có thể có Niết-bàn, có thể có chứng đạt vô thượng an ổn khỏi các khổ ách?

-- Ở đây, này Hiền giả, vị Tỳ-kheo suy nghĩ: 'Các ác bất thiện pháp không khởi lên nơi ta. Nếu chúng khởi lên, chúng có thể đưa đến bất lợi', vị ấy không khởi nhiệt tâm. 'Các ác bất thiện pháp khởi lên nơi ta. Nếu chúng không bị đoạn diệt, chúng có thể đưa đến bất lợi', vị ấy không khởi nhiệt tâm. 'Các thiện pháp không khởi lên nơi ta. Nếu không khởi lên, có thể đưa đến bất lợi', vị ấy không khởi nhiệt tâm. 'Các thiện pháp khởi lên nơi ta. Nếu chúng bị đoạn diệt, có thể đưa đến bất lợi', vị ấy không khởi nhiệt tâm.

Như vậy, này Hiền giả, là không có nhiệt tâm" (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương V. Tương Ưng Kassapa (Ca-diếp), II. Không Biết Sợ)

Người nào không lo lắng, sợ hãi, xấu hổ thì người đó không thể dập tắt tham, sân, si được, đơn giản là vậy. Cũng như cô Phật tử nói rằng cũng biết đi chùa, biết dâng hương, lễ lạy, cúng dường, niệm Phật hơn 20 năm nhưng vẫn có lời nói, hành động làm tổn thương người mình thương yêu nhất, cô thấy điều đó là điều đáng xấu hổ, đáng lo lắng, chính sự ưu tư đó mới làm cho mình tìm cách để không còn làm những điều sai quấy như vậy nữa, đó chính là thiện pháp.

Câu hỏi này cần rất nhiều pháp thực tập chứ không phải chỉ nói vài lời là được, phải biết nhận diện ngũ uẩn, phải nhìn ra được những ý niệm, cảm thọ cho nên nếu không nhận diện ngũ uẩn sẽ rất khó chỉ dạy vì có chỉ rồi mình cũng quên vì nó ở trên suy nghĩ, chưa nhìn ra được cảm thọ sâu sắc bên trong. Vì thế điều đầu tiên chúng ta cần nhớ là phải diệt tâm chống đối rồi mới tu được, thứ hai là nuôi lớn sự lo lắng, xấu hổ và sợ hãi đối với ác và bất thiện pháp trong con người mình, tức là tăng trưởng tàm quý thì mới tu được.

V. Như lý tác ý

Phật tử 4: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Con kính bạch thầy, kính bạch quý thầy, quý sư cô cùng toàn thể đại chúng ở nơi đây. Con có điều này rất khó đối với con khi con tu dòng pháp này, khi con ngồi thì cái tưởng của con tưởng ra rất nhiều điều, tưởng ra những hình ảnh lung tung, con rất khó để đẩy nó ra. Cái thứ hai là ý hành của con luôn nói vì con chưa diệt được cái tham, con biết cái tham đó là cái xấu nhưng có những cái làm cho con khó bỏ được tham. Cái tham này là con mong mỏi có một số tiền lớn để làm việc thiện, cúng dường hay đi những nơi có người khó khăn để giúp đỡ, ý hành con cứ nói đi nói lại "ước gì mình có tiền nhiều để giúp họ". Mong thầy giúp cho con làm sao để mỗi khi cái hành hay cái tưởng đó khởi lên thì con có thể diệt được nó. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.

Sư Phụ: Mình phải tác ý, phải nhìn ra được những chiều hướng của tâm, những sự suy tầm đó. Phải nhìn ra đó chỉ là tâm hướng ngoại thôi, tâm muốn làm này làm kia, tuy là làm thiện nhưng chính cái thiện làm cho mình bất an, chính cái thiện làm cho tâm mình động loạn, không được an tịnh lắng dịu cho nên phải nhìn ra được đó là dục tầm, là tham tầm, là hướng ngoại tầm, là những sự hướng tâm theo những cái muốn, theo những cái tham nhưng cần nhìn sâu hơn nữa vì có khi còn nhiều cái khác nữa. Mình phải biết đây cũng chỉ là tà tư duy vì chánh tư duy là ly tham tư duy, dù là suy nghĩ tham điều tốt nhưng nó làm cho động loạn tâm mình thì nó vẫn là ác pháp, mình phải chỉ mặt nó nói rằng "đây là ác pháp, là bất thiện pháp, đây là kẻ giặc cướp mất tâm bình yên của mình", cho nên trong bài khuyên mẹ tu tập có câu:

Mẹ nhớ niệm thầm trong tự tâm.

Niệm 'Bỏ hết đi, cảnh vô thường!'

Niệm 'Tâm lặng yên, tâm dễ chịu!'

Niệm 'Ngũ uẩn này, không phải ta'

(Cửa Vào Bất Tử - Chơn Tín Toàn)

Mình phải thường niệm câu "an tịnh, lắng dịu", "tâm lặng yên, tâm dễ chịu", mình niệm thường xuyên như niệm Phật thì từ từ tâm này sẽ nghe lời mình, ngoài ra còn phải tác ý quán chiếu nhìn ra những khía cạnh dục tầm, tham tầm, hướng ngoại tầm, tâm hướng về cái dục, tâm hướng về cái tham, tâm hướng về hướng ngoại, "ngươi đừng làm phiền nhiễu ta nữa, người đừng làm loạn động ta nữa, ngươi hãy lặng yên, hãy tan biến hoàn toàn khỏi tâm ta đi, trả lại sự bình yên cho ta, trả lại dự lắng dịu cho ta, trả lại ta sự lắng dịu hoàn toàn đi". Khi các tưởng sanh khởi nhiều cũng vậy, mình cũng kêu nó an tịnh lắng dịu và mình thực tập quán những cái tưởng trị bệnh, Minh Thành đã chia sẻ 2 buổi về 10 pháp quán tưởng của Đức Phật, mình sẽ lấy những hình ảnh để quán tưởng.

Tùy theo trình độ, căn cơ, sở thích để lấy hình ảnh quán tưởng, ví dụ mình lấy hình ảnh bộ xương, lấy hình tướng về nắm tro tàn sau khi đã hỏa thiêu rồi đem những pháp quán tưởng đó đưa vào tâm, tập cho tâm an trú trong những hình tướng đó thì các tưởng kia sẽ lắng dịu nhưng phải tập thường xuyên. Hoặc là mình tập quán tưởng về ao sen, ao nước xanh trong, mát mẻ, rộng lớn, mình quán tưởng hồ nước dài 100 cây số sạch sẽ, trong sạch, làm cho mình an tịnh, lắng dịu trong tâm từ ái. Mình dùng một tưởng để diệt trừ nhiều tưởng, dùng một tướng để phá tất cả tướng, bên ngoài thì chạy theo dục tham của thế gian, vào chùa tu cũng chạy theo những dục tham của những việc gắn mác thiện pháp nên tâm mình luôn ở trong trạng thái dao động, chạy tìm kiếm hoài cho nên bây giờ mình phải "niệm tâm lặng yên, tâm dễ chịu, niệm ngũ uẩn này không phải ta".

VI. Mục đích tu hành

Phật tử 4: Thưa thầy, con có một điều nữa là con có nghe pháp của một sư Phước Hưng ở Thiền Viện Phước Sơn thuyết giảng như vầy: Sư nói rằng khi mình thiền định đến khi ở một độ tuổi cận tử nghiệp ra đi thì phải luôn có câu tác ý giống như khi niệm Phật để mình có một điểm tựa, ví dụ lấy danh hiệu Phật A-di-đà hay Phật bổn sư thì khi mình nhắm mắt ra đi mình biết được mình đến đó, còn nếu chỉ có thiền không mà không có điểm chính để trút bỏ hơi thở thì rất khó cho người Phật tử đó. Con thấy nếu tu thiền như vậy thì khi chết mình sẽ đi về đâu nếu mình không có câu niệm Phật, có phải như vậy không thưa thầy?

Sư Phụ: Bây giờ cô lo chánh niệm ngay giờ phút, đừng lo lúc chết. Bây giờ cô cứ lo diệt tâm tham, làm cho các tưởng lắng dịu vì ngay trong lúc mình đang tỉnh táo, mình đang có sức khỏe mà các tưởng, các hành sanh khởi mà mình chưa đủ sức làm cho nó lắng dịu thì mình lo đến lúc chết là lo xa lắm. Cho nên bây giờ phải tập bớt suy nghĩ lung tung bằng sự niệm an tịnh lắng dịu, dễ chịu rồi thực tập những hình ảnh Đức Phật dạy quán tưởng trong kinh, cô nghe lời kinh của Đức Phật thôi chứ đừng nghe lời của ai cả, lấy kinh Nikāya làm chuẩn tắc, tất cả sự tu của mình lấy lời của Đức Phật làm chuẩn tắc chứ không lấy lời của bất cứ một ai thì lúc đó tu mới đi đúng lời Đức Phật dạy.

Trong sự tu của mình có hai hướng, một là người tu còn muốn luân hồi cho nên mới hỏi chết đi về đâu, tu mà còn chết đi về đâu tức là còn luân hồi, còn người tu chết mà không đi về đâu tức là hết luân hồi. Người dạy còn luân hồi thì người đó mới dạy tu đi về đâu, còn người dạy chấm dứt luân hồi là không còn đi về đâu cả vì về đâu trong sáu nẻo? Địa ngục, thú vật, cô hồn quỷ đói, A-tu-la, thần không ai muốn về đó ngoại trừ người, đa số mình tu là muốn đời sau tốt hơn đời này, ngay cả người xuất gia nếu không thành tựu chánh kiến hoặc cao hơn là muốn sanh lên chư thiên để hưởng phước.

Tại sao lại có sự muốn đó? Là do chưa thấy khổ, chưa thấy được Khổ Thánh Đế, Khổ Thánh Trí, nếu có thấy khổ là của ba đường ác hoặc là thấy khổ của cảnh nghèo nàn, bệnh tật, đói rách chứ người giàu vẫn còn thích nên mới muốn có nhiều để làm phước để hưởng phước. Ở đây Đức Phật không bắt buộc nên ngài chia ra hai đường tu, một con đường là nhân thiên phước báo, đa số các Phật tử đi con đường này, còn con đường của người xuất gia hoặc của một số Phật tử thấy được khổ là con đường chấm dứt sanh tử, Niết-bàn cho nên muốn đi trong con đường nhân thiên thì Đức Phật dạy có trình tự là năm giới, tám giới, mười giới và bốn tâm vô lượng, nếu tu những cái này thì chắc chắn sanh vào cõi trời, cõi người nhưng là đỉnh cao chứ không phải làm người bình thường, sanh lên cõi trời ít nhất thì một ngày trên đó cũng bằng 50 năm cõi người.

"Năm mươi năm của một đời người, này các Tỳ-kheo, bằng một đêm một ngày của chư Thiên Bốn thiên vương. Ba mươi đêm của đêm ấy làm thành một tháng, mười hai tháng của tháng ấy làm thành một năm. Năm mươi năm chư Thiên của năm ấy làm thành thọ mạng của chư Thiên Bốn thiên vương. Sự kiện này có xảy ra, này các Tỳ-kheo: 'Ở đây, có người đàn bà hay đàn ông, sau khi thực hành trai giới thành tựu tám chi phần, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cọng trú với chư Thiên Bốn thiên vương'. Do vậy, Ta nói: "Nhỏ nhoi thay, này các Tỳ-kheo, là quyền của loài người, so sánh với hạnh phúc chư Thiên ". (Tăng Chi Bộ, Chương VIII – Tám Pháp, V. Phẩm Ngày Trai Giới, (II) Ngày Trai Giới)

Vậy thì trên cõi trời đó chỉ sống có 2 ngày thôi là dưới này đời người đã mãn, ngoài ra còn các tầng trời cao cấp hơn nữa, thậm chí là tám trăm năm ở nhân gian chỉ bằng một ngày trên cõi trời thôi.

"Tám trăm năm của một đời người, này các Tỳ-kheo, bằng một đêm một ngày của chư Thiên cõi trời Hóa lạc. Tám ngàn năm chư Thiên của năm ấy làm thành thọ mạng của chư Thiên cõi trời Hóa lạc. Sự kiện này có xảy ra, ... với hạnh phúc chư Thiên ". (Tăng Chi Bộ, Chương VIII – Tám Pháp, V. Phẩm Ngày Trai Giới, (II) Ngày Trai Giới)

Đó là lý do Đức Phật nói hạnh phúc của con người thật là nhỏ bé, thật là ngắn ngủi, nhiều khổ đau, nhiều ưu não, hãy cố gắng làm điều lành, sống đời phạm hạnh, người đã sanh ra thì chắc chắn phải chết. Cho nên người Phật tử muốn tu nhân thiên thì phải cố gắng giữ giới, làm phước báo và tu tập từ, bi, hỷ, xả, tu tập tâm từ để trị tâm sân, tu tập tâm thương nhưng cái thương này không phải là thương ghét bình thường mà là thương hiểu nỗi khổ của chính mình và chúng sanh cho nên tu tập tâm thương này để trị tâm hận thù, tu tập tâm xót để trị tâm hại người. Tâm thương và tâm xót chính là tâm từ và tâm bi, mình tu tập tâm xót xa khi thấy người khác khổ hoặc là đau xót khi thấy mình tạo ác nghiệp, xót thương cho mình và xót thương cho người tạo nghiệp, tu tâm xót thương để đối trị với tâm hại người, tu tập tâm hỷ để vui trong thiện pháp giống như sáng này chúng ta trải hỷ vô lượng tâm trước khi vào buổi pháp thoại.

Người có tâm nhu nhuyến, tâm mềm mại, tâm có tu tập thì lúc đó sẽ hoan hỉ, nói đến đâu là cảm nhận đến đó, còn tâm cứng cỏi thì nói đến đâu là trơ đến đó, mặt ụ xuống. Tu tâm hỷ để đối trị tâm buồn chán, trong việc tu học hay làm các việc thiện mình dễ buồn chán còn chuyện đời mình rất hứng thú. Cho đi Đà Lạt là mặt mày hân hoan, phấn khởi, sung sướng, còn vào ngồi thiền mặt mày ủ dột muốn bệnh cho nên Đức Phật dạy mình tu tâm hỷ để dạy mình trị cái buồn chán cho nên trong 7 ngày tu tập này lúc nào buồn chán thì lúc đó phải tác ý tâm hỷ "thật là may mắn cho ta, thật là phước báo, công đức cho ta khi giờ này những đất nước chiến tranh, có biết bao người nhà tan cửa nát, sanh ly tử biệt, vợ mất chồng, mẹ mất con, con mất cha, ông bà mất cháu, anh em phải chia ly, phải từ biệt trong lửa đạn, trong khổ đau mà mình được ngồi đây bình an như vậy", suốt buổi thiền phải tác ý như vậy hoặc là tác ý suốt cả ngày, khi nhớ đến là tác ý để hỷ lạc, hạnh phúc trào dâng sung sướng.

Do khóa tu kì này đa số là những người mới thì phải thực tập tâm hỷ cho nhiều, sau đó mới quán chiếu "giờ này có những cụ già đi bán vé số, đi lụm phế liệu, ve chai, có những người mua gánh bán bưng, có những người thức sáng đêm trong lò bánh mì, có những người chạy xe ôm trắng đêm để kiếm đồng tiền bát gạo, có những người đang nằm trong bệnh viện ngay giờ phút này để giành giật từng hơi thở với tử thần, có những người đang đói lạnh cơ hàn, có những đứa trẻ mồ côi bị hành hạ phải đi ăn xin, đi bán vé số", mình vận dụng những hình ảnh đó, những cảm xúc đó, những suy nghĩ đó để tác ý để trân quý giây phút hiện tại, mình thấy bản thân thật may mắn, thật hạnh phúc, thậm chí mình tác ý những người cùng học, cùng tu với mình nhưng tu học theo kiểu hướng ngoại, theo kiểu mê lầm, cầu xin, van xin, học càng lâu hay làm càng nhiều thì bản ngã càng cao.

VII. Sáu pháp trên tất cả

Mình may mắn khi học dòng pháp nhìn ra được những cái tham, không những nhìn thấy cái tham ở ngoài hành động mà còn thấy cái tham trong suy nghĩ. Mình nhìn ra được sự thúc giục trong cảm thọ của mình, mình thấy, mình biết, mình chế ngự, nhiếp phục, mình la rầy, quở trách, mình chiến đấu. Không những mình thấy cơn giận phát ra lời nói, hành động mà mình còn nhìn thấy những mầm móng của những cảm xúc bực bội chưa biểu hiện ra ở bên trong. Thật là hạnh phúc khi gặp được chánh pháp thần diệu, tối thượng, linh thiêng khi có biết bao người tu học đạo Phật trên thế giới không có mấy người được gặp.

Thật là may mắn cho ta!

Thật là hy hữu hiếm có cho ta!

Thật là phước báo công đức vô thượng cho ta!

"Này các Tỳ-kheo, có sáu pháp vô thượng này. Thế nào là sáu?

Thấy vô thượng.

Nghe vô thượng.

Lợi đắc vô thượng.

Học tập vô thượng.

Phục vụ vô thượng.

Tùy niệm vô thượng" (Tăng Chi Bộ, Chương VI – Sáu Pháp, III. Phẩm Trên Tất Cả, (X). Trên Tất Cả)

Mình có được sáu cái vô thượng pháp, thật là phước báo, công đức, hiếm có hy hữu, tối thượng, màu nhiệm và vi diệu. Tác ý như vậy là nước mắt trào dâng vì hạnh phúc.

Cô Ánh: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Con kính thưa sư phụ, con kính thưa quý thầy, quý cô cùng đại chúng. Thật sự khi con nghe sư phụ giảng về sự tối thượng của chánh pháp thì trong lòng con dâng lên cảm xúc khó tả, sự phụ quán tưởng về thời gian mình đang ngồi nơi đây thì ngoài xã hội đang có biết bao mảnh đời bất hạnh, có những vị tu cũng đang chật vật trên con đường đi tìm chánh pháp.

Con nhớ lại hình ảnh ngày trước sư phụ giảng về nghiệp, con rất hạnh phúc vì được nghe về nghiệp quả, lúc đó có xe công nông đi ngang qua thì tâm con bị phóng dật nên con nhìn ra cái xe thì thấy có hai chú, một chú lái xe và một chú ngồi kế bên. Con thấy chú ngồi trên xe nhìn vô thì tự nhiên trong con trào dâng lên sự thương cảm cho chú nhưng lại hạnh phúc cho mình, con càng hạnh phúc cho mình bao nhiêu thì con càng thương cảm cho chú bấy nhiêu.

Khi nhìn ánh mắt của chú thì con tưởng suy nghĩ của chú là "không biết trong đó đang nói cái gì", ý hành của con lại nghĩ "tại sao mình lại hạnh phúc khi được ngồi đây, được nghe những điều mà biết bao người mơ ước được nghe mà cũng không được. Có người đi đến tận Linh Quy, đi ngang qua buổi giảng pháp nhưng họ lại không có may mắn ngồi ở thiền đường nghe pháp. Trong thời gian này có thể có những vị tu sĩ hay cư sĩ nào đó trên thế giới này cũng đang đấm ngực bứt tóc vì không tìm được chánh pháp nên mình ngồi đây thật là hạnh phúc", lúc đó con không nghe sư phụ giảng mà đang đuổi theo ý hành của con, tâm con bị phóng dật lúc đó. Khi xe đi khuất thì con mới đưa tâm con về thân lắng nghe sư phụ giảng lại, bây giờ sư phụ giảng đoạn này thì giống như hình ảnh lúc trước con suy nghĩ nên tự nhiên cảm xúc con vỡ òa. Con cám ơn sư phụ.

Sư Phụ: Trong sáu pháp vô thượng thì đầu tiên là thấy vô thượng, tức là cái thấy mà không có cái gì quý hơn cái thấy đó.

"Ở đây, này các Tỳ-kheo, có người đi xem voi báu, đi xem ngựa báu, đi xem châu báu, hay đi xem các vật lớn nhỏ, hay đi xem Sa-môn, hay Bà-la-môn có tà kiến, có tà hạnh. Này các Tỳ-kheo, đây có phải là thấy không? Ta nói rằng: 'Ðây là không thấy'. Sự thấy ấy, này các Tỳ-kheo, là hạ liệt, là hèn hạ, là phàm phu, không xứng Thánh hạnh, không liên hệ đến mục đích, không đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Này các Tỳ-kheo, ai đi yết kiến Thế Tôn hay đệ tử Thế Tôn, với lòng tin an trú, với lòng ái mộ an trú, nhứt hướng thuần tín, thời này các Tỳ-kheo, đây là thấy vô thượng, đưa đến thanh tịnh cho các loài chúng sanh, vượt qua sầu bi, chấm dứt khổ ưu, đạt được chánh lý, chứng ngộ Niết-bàn, tức là đi yết kiến Như Lai hay đệ tử Như Lai, với lòng tin an trú, với lòng ái mộ an trú, nhứt hướng thuần tín. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là thấy vô thượng, đây là thấy vô thượng" (Tăng Chi Bộ, Chương VI – Sáu Pháp, III. Phẩm Trên Tất Cả, (X). Trên Tất Cả)

Khi gặp được Đức Phật hoặc gặp các đệ tử của ngài là những vị thành tựu chánh kiến, có trí tuệ, có giới đức thì cái thấy đó là cái thấy tối thượng trong những cái thấy. Mình có nhìn hết cảnh trên hành tinh này chỉ làm cho mình tăng thêm tham dục mà thôi, mình có đi Tây, đi Âu, đi Á cũng chỉ tăng thêm tham muốn, chỉ khi nào thấy được Như Lai và đệ tử Như Lai thì cái thấy đó là tối thượng vì cái thấy đó giúp cho mình hoàn thiện thanh tịnh, vượt qua đau khổ, cần phải học tập sự thấy vô thượng đó.

"Ở đây, này các Tỳ-kheo, có người đi nghe tiếng trống, đi nghe tiếng sáo, đi nghe tiếng ca, hay đi nghe tiếng cao thấp khác nhau, hay đi nghe pháp các Sa-môn hay Bà-la-môn có tà kiến, tà hạnh. Này các Tỳ-kheo, đây có phải là nghe không? Ta nói rằng: 'Ðây là không nghe'. Sự nghe ấy, này các Tỳ-kheo, là hạ liệt, là hèn hạ, là phàm phu, không xứng Thánh hạnh, không liên hệ đến mục đích, không đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Này các Tỳ-kheo, ai đi đến để nghe pháp của Như Lai hay của đệ tử Như Lai, với lòng tin an trú, với lòng ái mộ an trú, nhứt hướng thuần tín, thời này các Tỳ-kheo, đây là sự nghe vô thượng, đưa đến thanh tịnh cho các loài chúng sanh, vượt qua sầu bi, chấm dứt khổ ưu, đạt được chánh lý, chứng ngộ Niết-bàn, tức là đi nghe pháp của Như Lai hay của đệ tử Như Lai, với lòng tin an trú, với lòng ái mộ an trú, nhứt hướng thuần tín. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là nghe vô thượng, đây là thấy vô thượng, nghe vô thượng" (Tăng Chi Bộ, Chương VI – Sáu Pháp, III. Phẩm Trên Tất Cả, (X). Trên Tất Cả)

Có nhiều người thích nghe nhạc, nghe chim hót, tiếng suối chảy, mưa rơi hoặc đi xem bói thì Đức Thế Tôn nói những cái nghe đó không đáng nghe. Còn nghe Như Lai và các đệ tử của Như Lai thì đó là cái nghe tối thượng, quý vị được thấy vô thượng, nghe vô thượng thì quý vị có thấy hạnh phúc không? Mình phải tác ý hạnh phúc, dù có nghe hết tất cả điệu nhạc trên thế giới này chỉ làm cho mình sanh khởi lòng tham muốn, tham ái, tham dục, dù cho biết hết tất cả ngôn ngữ trên thế gian này mình vẫn đau khổ, vẫn thiếu thốn, vẫn tìm kiếm, vẫn chạy đuổi, dù mình có nghe hết tất cả lời nói của những vị thầy mê tín, tà kiến thì mình vẫn đi trong vô minh, vẫn tu trong mù lòa.

Chỉ có nghe lời Thánh pháp của Đức Phật mới có khả năng nhìn ra được tham, sân, si, vạch trần được tham, sân, si, phát giác, phát hiện ra tham, sân, si, nhiếp phục, chế ngự, đoạn tận, tẩy sạch tham, sân, si. Đó là cái nghe vô thượng, cái nghe tối thượng, cái nghe tột cùng của tất cả cái nghe cho nên ở đây chỉ nghe Nikāya thôi, ngoài ra không nghe cái gì khác, nhất âm là Phật âm, là Thánh âm, là vô thượng âm, là pháp âm.

"Ở đây, này các Tỳ-kheo, có người được con, được vợ, được tài sản, được các vật cao thấp khác nhau, được lòng tin vào các Sa-môn hay Bà-la-môn có tà kiến, tà hạnh. Này các Tỳ-kheo, đây có lợi đắc hay không? Ta nói rằng: 'Ðây là không lợi đắc'. Lợi đắc ấy, này các Tỳ-kheo, là hạ liệt, là hèn hạ, là phàm phu, không xứng Thánh hạnh, không liên hệ đến mục đích, không đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Này các Tỳ-kheo, ai được lòng tin vào Như Lai hay của đệ tử Như Lai, với lòng tin an trú, với lòng ái mộ an trú, nhứt hướng thuần tín, thời này các Tỳ-kheo, đây là đắc lợi vô thượng, đưa đến thanh tịnh cho các loài chúng sanh, vượt qua sầu bi, chấm dứt khổ ưu, đạt được chánh lý, chứng ngộ Niết-bàn, tức là được lòng tin vào Như Lai hay của đệ tử Như Lai, với lòng tin an trú, với lòng ái mộ an trú, nhứt hướng thuần tín. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là đắc lợi vô thượng, đây là thấy vô thượng, nghe vô thượng, đắc lợi vô thượng" (Tăng Chi Bộ, Chương VI – Sáu Pháp, III. Phẩm Trên Tất Cả, (X). Trên Tất Cả)

Trong kinh thì có chàng Vô Não Angulimala gặp thầy dữ hướng dẫn chặt ngón tay người ta, còn mình thì được người chỉ đi xem bói, ngày đó không được, tháng đó không tốt, có người nói tháng cô hồn này không làm ăn gì được. Gặp những vị thầy đó mình nghĩ là mình có may mắn nhưng Như Lai cho rằng đây không phải là những đối tượng đáng được lợi đắc, tiếng việt là lợi ích. Được chồng, được con, trúng mánh, trúng số… đều được Như lai cho rằng là thấp hèn, là hèn hạ, là phàm phu, không xứng Thánh hạnh, không liên hệ đến mục đích, không đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.

"Này các Tỳ-kheo, có bảy tài sản này. Thế nào là bảy?

Tín tài, giới tài, tàm tài, quý tài, văn tài, thí tài, tuệ tài" (Tăng Chi Bộ, Chương VII - Bảy Pháp, I. Phẩm Tài Sản, (VI). Các Tài Sản Rộng Thuyết)

Nãy giờ mình nói về tàm quý chính là tài sản của bậc Thánh, lòng tin là tài sản của bậc Thánh, giữ giới và nghe pháp, bố thí là tài sản của bậc Thánh. Mình đang nghe pháp là mình đang giữ gìn tài sản của bậc Thánh, những trí tuệ mà Đức Phật truyền trao cho mình rồi mình nghiền ngẫm, quán chiếu. Chúng ta đang ngồi đây là lợi ích tối thượng, văn vô thượng, kiến vô thượng.

"Ở đây, này các Tỳ-kheo, có người học tập về voi, học tập về ngựa, học tập về xe, học tập về cung pháp, học tập về kiếm pháp, học tập về các nghề cao thấp sai biệt hay học tập theo các Sa-môn hay Bà-la-môn có tà kiến, tà hạnh. Này các Tỳ-kheo, đây là có học tập hay không? Ta nói rằng: 'Ðây là không học tập'. Học tập ấy, này các Tỳ-kheo, là hạ liệt, là hèn hạ, là phàm phu, không xứng Thánh hạnh, không liên hệ đến mục đích, không đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Này các Tỳ-kheo, ai học tập Tăng thượng giới, học tập tăng thượng định, học tập tăng thượng tuệ trong Pháp và Luật do Như Lai tuyên thuyết, với lòng tin an trú, với lòng ái mộ an trú, nhứt hướng thuần tín, này các Tỳ-kheo, đây là học tập vô thượng, đưa đến thanh tịnh cho các loài chúng sanh, vượt qua sầu bi, chấm dứt khổ ưu, đạt được chánh lý, chứng ngộ Niết-bàn, tức là học tập Tăng thượng giới, học tập tăng thượng định, học tập tăng thượng tuệ trong Pháp và Luật do Như Lai tuyên thuyết, với lòng tin an trú, với lòng ái mộ an trú, nhứt hướng thuần tín. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là học tập vô thượng, đây là thấy vô thượng, nghe vô thượng, lợi đắc vô thượng, học tập vô thượng" (Tăng Chi Bộ, Chương VI – Sáu Pháp, III. Phẩm Trên Tất Cả, (X). Trên Tất Cả)

Có những người hạnh phúc khi học về sinh vật học, binh pháp học, học về văn học, xã hội học, tôn giáo học, kinh tế học… người ta thấy hãnh diện, vui sướng khi vào trường học những ngành nghề như vậy nhưng Như Lai cho rằng đây không phải là những ngành đáng để học.

Thầy Pháp Tâm: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Con kính bạch trên sư phụ, con kính thưa quý thầy, quý sư cô cùng đại chúng. Khi con được nghe sáu pháp vô thượng thì trong tâm con rất hoan hỉ, rất hân hoan khi được tu học trong dòng Thánh pháp, Thánh trí rất thâm sâu, màu nhiệm. Khi học các ngành thì chuyên sâu vào kiến thức, những cái thấy biết nhưng trong cái thấy biết đó bị chi phối bởi nghiệp, vô minh, tham ái, si mê cùng với sự ham muốn nơi chính tự thân, khi không được thì sanh khởi lên những sầu não, ưu bi bên trong, khi được học tập Thánh pháp, Thánh trí, nhìn nhận thấy rõ trong tâm thì con cảm thấy hạnh phúc, an lạc.

Những kiến thức ở bên ngoài chỉ là cái thấy về những thực tướng qua những màu sắc bởi ngũ uẩn sanh khởi ra, còn khi học về Thánh pháp, Thánh trí thì soi thấu nơi chính căn nguyên nguồn cội bên trong, những lậu hoặc, những cấu nhiễm, những nguyên nhân sanh khởi đau khổ rồi có phương pháp, phương thức để nhiếp phục và đoạn tận. Khi nghe và suy tư đến đây thì tâm con hoan hỉ, hân hoan biểu lộ trào dâng nơi chính tự thân và tâm được an lạc. Con kính trình lên sư phụ, quý thầy, quý sư cô và đại chúng. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.

Sư Phụ: Cái học nào đưa đến ly tham, lìa tham đối với ngũ uẩn thì cái học đó mới là cái học của bậc Thánh, còn cái học nào đưa đến càng tham muốn thêm thì cái học đó là phàm phu pháp, cái học đó đưa đến đấu tranh, giành giật, khổ đau. Mình càng học cái pháp nào mà cái pháp đó đưa đến sự nhàm chán, không tham muốn thì đó mới là chánh pháp của Phật, còn cái pháp nào dù dán nhãn chánh pháp nhưng càng học lại càng tham muốn, càng muốn nhiều thêm thì cái đó không phải là pháp học của Như Lai.

Vì không xa lìa tham chấp nên không đạt được sự an tịnh của thân tâm vì cái đầu cứ phải tính toán, phải nói năng, phải đề ra biết bao kế hoạch, dự định, thậm chí là mánh khóe, lừa gạt thì làm sao thân tâm an tịnh, lắng dịu được cho nên Thế Tôn là bậc an tịnh, nói pháp an tịnh để đưa tất cả chúng sanh đạt đến bến bờ an tịnh. Thế Tôn là bậc hoàn toàn an tịnh, tất cả dục tham trong người ngài đã hoàn toàn tẩy sạch.

Nhìn lại nội tâm sẽ thấy mình khổ là do tham muốn, ví dụ muốn nói mà không cho nói là sân lên, mình thích món đó mà người khác ăn mất thì mình tức, còn bây giờ không muốn gì nữa thì an tịnh, lắng dịu, chỉ muốn có tâm an tịnh thôi, chỉ muốn cái tâm lắng dịu thôi, chỉ muốn cái tâm bất động bình an thôi thì bớt khổ. Nếu không cho ăn món đó thì ăn món khác, không cho nói thì đỡ hao hơi, không cho làm thì đỡ mệt, vô ngồi thiền hoặc đi kinh hành, nghe pháp. Nghe thì đơn giản nhưng sống và thực hành theo thì không hề giản đơn vì thói quen của mình là cứ muốn và muốn, chính cái muốn đó làm cho mình khổ.

Học sửa xe thật giỏi cũng vẫn còn tham, sân, si, học thành bác sĩ giỏi nhất thế giới cũng còn khổ, còn tham, sân, si, cứ hễ còn tham là còn khổ, chỉ có học pháp ly tham là hết khổ. Không có ngành nghề nào dạy ly tham ngoài ngành của Đức Thế Tôn, đây là ngành tối thượng trong tất cả các ngành nghề, môn học trên thế giới nhưng không phải trong một thế giới mà là mười thế giới, cũng không phải trong mười thế giới mà trong trăm thế giới, không phải trong trăm thế giới mà trong ngàn thế giới, không phải trong ngàn thế giới mà trong ba ngàn đại thiên thế giới chỉ có môn học của Như Lai là ly tham, giải thoát.

Mình đang học một ngành tối thượng trong tam thiên đại thiên thế giới, không có ngành học nào có thể so sánh với ngành này cả, vậy mà không thấy hạnh phúc là uổng công. Chúng ta phải nếm được, thưởng thức được hương vị ngọt ngào này, hãy để cảm thọ hạnh phúc này ngấm vào từng lỗ chân lông, từng tế bào, từng thớ thịt, từng làn da của mình, để cái hạnh phúc này ngấm vào trong từng chi phần lục phủ ngũ tạng của mình. Mình học được môn học ly tham tối thượng giải thoát đã bị mai một gần 2600 năm, mình ở một chỗ đáng yêu thay núi rừng.

"Khả ái thay núi rừng,

Chỗ người phàm không ưa,

Vị ly tham ưa thích,

Vì không tìm dục lạc"

(Kinh Pháp Cú 07 – Phẩm A La Hán, kệ 99)

Tiếng chuông gió là tiếng nhạc thiên nhiên, cành trúc không cần ai uốn lượn, nó tự nhiên như vậy, nó đơn sơ như vậy, tất cả kiến trúc ở đây đều thể hiện ly tham bên khóm tre vàng với lá trúc xanh, với không gian mát lạnh thanh lương của núi đồi. Hãy cảm nhận bằng tất cả trái tim, hãy đưa những cảm thọ tuyệt vời này vào trong tâm, quý vị vào tòa nhà cao nhất làm sao bằng được ở đây, muốn vào đó phải tốn tiền vậy mà Phật tử là chủ của tòa nhà đó về đây thỉnh con lên đó để cầu bình an, chủ tịch hội đồng quản trị của tòa nhà cao nhất Sài Gòn lên đây thỉnh con xuống dưới để đem đến sự bình an. Quý vị có cảm nhận được sự bình an ngay trong giờ phút này không? Hãy cảm nhận bằng cả trái tim, bằng mỗi hơi thở, cảm nhận bằng khối óc, từng tế bào để thấy được sự vi diệu tối thượng của nghe vô thượng, thấy vô thượng, lợi đắc vô thượng và học tập vô thượng này. Còn gì bằng được như vậy nữa? Còn cái gì có thể sánh nổi nữa trong sự tu học thần diệu này?

"Ở đây, này các Tỳ-kheo, có người phục vụ Sát-đế-ly, phục vụ Bà-la-môn, phục vụ gia chủ, phục vụ các người cao thấp sai biệt hay phục vụ Sa-môn hay Bà-la-môn có tà kiến, tà hạnh. Này các Tỳ-kheo, đây là có phục vụ hay không? Ta nói rằng: 'Ðây là không phục vụ'. Phục vụ ấy, này các Tỳ-kheo, là hạ liệt, là hèn hạ, là phàm phu, không xứng Thánh hạnh, không liên hệ đến mục đích, không đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Này các Tỳ-kheo, ai phục vụ Như Lai hay đệ tử Như Lai, với lòng tin an trú, với lòng ái mộ an trú, nhứt hướng thuần tín, này các Tỳ-kheo, đây là phục vụ vô thượng, đưa đến thanh tịnh cho các loài chúng sanh, vượt qua sầu bi, chấm dứt khổ ưu, đạt được chánh lý, chứng ngộ Niết-bàn, tức là phục vụ Như Lai hay đệ tự Như Lai, với lòng tin an trú, với lòng ái mộ an trú, nhứt hướng thuần tín. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là phục vụ vô thượng, đây là thấy vô thượng, nghe vô thượng, lợi đắc vô thượng, học tập vô thượng, phục vụ vô thượng" (Tăng Chi Bộ, Chương VI – Sáu Pháp, III. Phẩm Trên Tất Cả, (X). Trên Tất Cả)

Có người hạnh phúc khi phục vụ cho vua chúa hay những giai cấp khác nhau trong xã hội, "tôi là vệ sĩ cho nguyên thủ", "tôi bảo vệ cho người nổi tiếng". Như Lai cho rằng đây không phải là các đối tượng thật sự vì các đối tượng này thuộc về phàm phu, không liên hệ đến mục đích lìa tham. Chỉ khi nào phục vụ Như Lai và đệ tử Như Lai mới là sự phục vụ vô thượng.

"Ở đây, này các Tỳ-kheo, có người tùy niệm được con, tùy niệm được vợ, tùy niệm được tài sản, tùy niệm được cao thấp sai biệt hay phục vụ Sa-môn hay Bà-la-môn có tà kiến, tà hạnh. Này các Tỳ-kheo, đây là có tùy niệm hay không? Ta nói rằng: 'Ðây là không tùy niệm'. Tùy niệm ấy, này các Tỳ-kheo, là hạ liệt, là hèn hạ, là phàm phu, không xứng Thánh hạnh, không liên hệ đến mục đích, không đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Này các Tỳ-kheo, ai tùy niệm Như Lai hay đệ tử Như Lai, với lòng tin an trú, với lòng ái mộ an trú, nhứt hướng thuần tín, này các Tỳ-kheo, tùy niệm ấy là vô thượng, đưa đến thanh tịnh cho các loài chúng sanh, vượt qua sầu bi, chấm dứt khổ ưu, đạt được chánh lý, chứng ngộ Niết-bàn, tức là tùy niệm Như Lai hay đệ tử Như Lai, với lòng tin được an trú, với lòng ái mộ được an trú, nhứt hướng thuần tín. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là tùy niệm vô thượng" (Tăng Chi Bộ, Chương VI – Sáu Pháp, III. Phẩm Trên Tất Cả, (X). Trên Tất Cả)

Khi nhớ đến người bạn đời, con cái, tài sản, nhà cửa, thầy tà bạn xấu, có người thấy hạnh phúc khi nhớ vợ mình, chồng mình, con mình, nhớ tới miếng đất của mình, nhớ tới sổ tiết kiệm trong ngân hàng, nhớ tới thỏi vàng trong két sắt thì thấy vui sướng vì mình có nhiều cục vàng, có nhiều sổ đất nhưng Như Lai cho rằng đây không phải là đối tượng đáng nhớ nghĩ vì sự nhớ nghĩ này không đưa đến ly tham mà chỉ đưa đến ràng buộc, hệ lụy, tham ái, chấp thủ, dính mắc. Ai nhớ nghĩ đến Như Lai và đệ tử Như Lai tức là niệm Phật, nhớ về trí đức của Phật, nhớ về sự tu hành, chỉ những ai nhớ nghĩ về Thánh pháp, chánh pháp, ai biết nhớ nghĩ về Thánh chúng, về chư Tăng thì sự nhớ nghĩ đó mới thật sự cần thiết, mới là sự nhớ nghĩ trong tất cả sự nhớ nghĩ vì sự nhớ nghĩ này giúp cho người phàm phu trở nên thánh thiện, thanh tịnh, vượt qua mọi khổ đau.

Đây là sáu pháp vô thượng mà Thế Tôn đã truyền trao, đó là thấy vô thượng, nghe vô thượng, lợi đắc vô thượng, học tập vô thượng, phụng sự vô thượng, tùy niệm vô thượng. Đức Phật, giáo pháp và chúng Tăng của Đức Phật là ba ngôi cao quý vô thượng, hãy để những cảm thọ này ngấm toàn thân quý vị xuyên suốt cả ngày.

Tâm vui này tỏa rộng

Cùng khắp thế giới này

Tâm vui này tỏa rộng

Khắp trời đất bao la.

./.